1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán ở các DN trên địa bàn tỉnh gia lai

141 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 9,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính điều này đã thúc đẩy tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán ở các DN trên địa bàn tỉnh Gia Lai”, từ đó giúp nhà quản trị trong việc đề ra các c

Trang 1

NGUYỄN TIẾN PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LẬP DỰ TOÁN Ở CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Đà Nẵng- Năm 2017

Trang 2

NGUYỄN TIẾN PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LẬP DỰ TOÁN Ở CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Mã số: 60.34.03.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐOÀN NGỌC PHI ANH

Ðà Nẵng – Năm 2017

Trang 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

6 Kết cấu đề tài 3

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP DỰ TOÁN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LẬP DỰ TOÁN TRONG CÁC DN 10

1.1 TỔNG QUAN VỀ DỰ TOÁN TỔNG THỂ TRONG DN 10

1.1.1 Khái niệm về dự toán 10

1.1.2 Phân loại dự toán 10

1.1.3 Tầm quan trọng của lập dự toán tổng thể DN 12

1.1.4 Nội dung dự toán tổng thể DN 15

1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC LẬP DỰ TOÁN 28

1.2.1 Qui mô DN 28

1.2.2 Thời gian hoạt động của DN 29

1.2.3 Cạnh tranh 29

1.2.4 Phân cấp quản lý trong DN 29

1.2.5 Công nghệ sản xuất 30

1.2.6 Giáo dục 30

1.2.7 Lĩnh vực hoạt động 31

1.2.8 Ứng dụng công nghệ thông tin trong lập dự toán 31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33

Trang 5

2.1.1 Câu hỏi nghiên cứu 34

2.1.2 Xây dựng giả thuyết 34

2.1.3 Mô hình nghiên cứu 38

2.2 ĐO LƯỜNG NHÂN TỐ 39

2.2.1 Mức độ vận dụng công cụ lập dự toán 40

2.2.2 Quy mô DN 40

2.2.3 Thời gian hoạt động 41

2.2.4 Lĩnh vực hoạt động 41

2.2.5 Cạnh tranh 41

2.2.6 Sự phân cấp quản lý 42

2.2.7 Trình độ của nhân viên kế toán 42

2.2.8 Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc lập dự toán 42

2.2.9 Công nghệ sản xuất 42

2.3 THU THẬP DỮ LIỆU 43

2.3.1 Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát 43

2.3.2 Thu thập dữ liệu 43

2.3.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 44

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 50

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51

3.1 ĐẶC ĐIỂM MẪU NGHIÊN CỨU 51

3.1.1 Số lượng, quy mô DN 51

3.1.2 Phân bố DN theo ngành nghề, địa bàn 52

3.1.3 Đóng góp của các DN 52

Trang 6

3.2.2 Mức độ vận dụng công cụ lập dự toán xét theo thời gian hoạt động

của DN 56

3.2.3 Mức độ vận dụng công cụ lập dự toán xét theo lĩnh vực hoạt động 59 3.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC LẬP DỰ TOÁN 62

3.3.1 Phân tích hệ số tin cậy Cronbach‟s alpha 62

3.3.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 64

3.3.3 Phân tích tương quan và hồi qui tuyến tính bội 66

3.3.4 Tổng kết kết quả kiểm định các giả thuyết 73

3.4 TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 73

3.4.1 Mức độ vận dụng công cụ lập dự toán ở các DN trên địa bàn tỉnh Gia Lai 73

3.4.2 Các nhân tố tác động đến việc lập dự toán 74

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 79

CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 80

4.1 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 80

4.1.1 Kết luận 80

4.1.2 Hàm ý chính sách 82

4.2 ĐÓNG GÓP CỦA NGHIÊN CỨU, HẠN CHẾ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỀ TÀI 83

4.2.1 Đóng góp của nghiên cứu 83

4.2.2 Hạn chế và phương hướng phát triển đề tài 84

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

BIÊN BẢN HỌP HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN VĂN THẠC

SĨ BẢN NHẬN XÉT LUẬN VĂN THẠC SĨ

BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN

VĂN PHỤ LỤC

Trang 8

DN Doanh nghiệp

Trang 9

Bảng 2.1 Mô hình nghiên cứu 39Bảng 2.2 Phân loại doanh nghiệp 40Bảng 3.1 Thống kê mẫu nghiên cứu 53Bảng 3.2 Kiểm định Levene theo quy mô 54Bảng 3.3 Mức độ vận dụng công cụ lập dự toán 55Bảng 3.4 Kiểm định Anova theo quy mô DN 56Bảng 3.5 Kết quả kiếm định sự khác biệt về vận dụng công 58

cụ lập dự toán theo số năm hoạt độngBảng 3.6 Trung bình giữa các yếu tố 59Bảng 3.7 Kiểm định Levene theo lĩnh vực hoạt động 60Bảng 3.8 Kiểm định Anova theo lĩnh vực hoạt động 61Bảng 3.9 Hệ số tin cậy Cronbach‟s alpha của các nhân tố 63Bảng 3.10 Tổng hợp kết quả phân tích EFA lần 1 64Bảng 3.11 Tổng hợp kết quả phân tích EFA lần 2 65Bảng 3.12 Kết quả phân tích nhân tố các nhân tố ảnh hưởng 66

đến mức độ vận dụng công cụ lập dự toánBảng 3.13 Ma trận tương quan Pearson 67Bảng 3.14 Tóm tắt mô hình 68

Bảng 3.16 Kết quả hồi qui 69Bảng 3.17 Ma trận tương quan Spearman giữa phần dư với 71

các biến độc lậpBảng 3.18 Kết quả kiểm định các giả thuyết 73

Trang 10

Hình 3.1 Biểu đồ phân tán phần dƣ 70Hình 3.2 Biểu đồ tần số Histogram 72

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam đã và đang đặt ra chocác DN nói chung và DN tỉnh Gia Lai nói riêng nhiều cơ hội song cũng xuấthiện nhiều khó khăn, thách thức Để tồn tại và phát triển trong điều kiện mới,đòi hỏi các DN Gia Lai cần cải tiến, đổi mới phương thức quản lý, sử dụng cóhiệu quả các công cụ quản trị, giúp cho nhà quản trị thực hiện chiến lược kinhdoanh, mở rộng thị trường phù hợp với xu thế hội nhập, phát triển bền vững

Kế toán nói chung và KTQT nói riêng là một trong những công cụ quan trọngtrong cung cấp thông tin hữu ích để các nhà quản trị có thể đưa ra các quyếtđịnh điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong DN Trong các chức năngcủa quản trị, lập kế hoạch là chức năng quan trọng không thể thiếu đối vớimọi DN Kế hoạch là xây dựng mục tiêu của DN và vạch ra các bước thựchiện để đạt được mục tiêu đã đặt ra Dự toán cũng là một loại kế hoạch nhằmliên kết các mục tiêu cụ thể, chỉ rõ các tài nguyên phải sử dụng, đồng thời dựtính kết quả thực hiện trên cơ sở các kỹ thuật dự báo

Hiện nay, KTQT trong các DN trên địa bàn tỉnh Gia Lai chưa đượcthực hiện một cách đầy đủ, khoa học và hệ thống Bên cạnh đó, chưa có mộtnghiên cứu nào liên quan đến thực trạng vận dụng công cụ lập dự toán trongcác DN trên địa bàn tỉnh Chính điều này đã thúc đẩy tôi thực hiện đề tài

“Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán ở các DN trên địa

bàn tỉnh Gia Lai”, từ đó giúp nhà quản trị trong việc đề ra các chính sách kế

toán thúc đẩy việc vận dụng công cụ này, nâng cao năng lực quản trị của DNmình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn hướng đến các mục tiêu nghiên cứu sau:

- Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận về dự toán tổng thể trong DN, các nhân

Trang 12

tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán trong các DN.

- Thứ hai, thông qua kết quả điều tra thực nghiệm, xác định mức độ áp dụng công cụ lập dự toán ở các DN trên địa bàn tỉnh Gia Lai

- Thứ ba, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán ở các

DN trên địa bàn tỉnh Gia Lai, qua đó đề xuất các hàm ý chính sách phù hợpgóp phần thúc đẩy việc vận dụng công cụ lập dự toán trong các DN trên địabàn tỉnh Gia Lai

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Công cụ lập dự toán và các nhân tố ảnh hưởng

đến việc vận dụng công cụ này trong các DN

Phạm vi nghiên cứu: Các DN hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau

trên địa bàn tỉnh Gia Lai, không khảo sát các DN hoạt động ở các lĩnh vựcnhư: tài chính, bảo hiểm, ngân hàng, các DN siêu nhỏ

4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính và địnhlượng Phương pháp định tính được sử dụng trong giai đoạn xây dựng bảng câuhỏi Phương pháp định lượng được sử dụng thông qua bảng câu hỏi thu thậpthông tin được thu thập dựa trên phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông quabảng câu hỏi bằng giấy gửi đến đối tượng trả lời là kế toán của DN, thông tin thuthập được xử lý bằng phần mềm SPSS16.0 Thang đo được sử dụng là thang đođịnh danh và thang đo điểm Likert Thang đo định danh dùng để đánh giá vềthông tin của DN Thang đo điểm Likert dùng để đánh giá mức độ sử dụng công

cụ lập dự toán, các nhân tố ảnh hưởng đến lập dự toán ở các DN Thống kê mô

tả được sử dụng để so sánh mức độ vận dụng công cụ lập dự toán cũng như mức

độ hữu ích của công cụ lập dự toán Kiểm định T-test và ANOVA được sử dụng

để kiểm định sự khác biệt trong việc vận dụng công cụ lập dự toán của các nhómđối tượng khác nhau Mô hình hồi quy tuyến tính

Trang 13

bội được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố đến việc vận dụng công cụ lập dự toán.

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu

Nghiên cứu sẽ cung cấp bằng chứng thực nghiệm về việc sử dụng công

cụ dự toán trong các DN trên địa bàn tỉnh Gia Lai Đồng thời nghiên cứu này

sẽ đóng góp vào việc bổ sung những nhân tố ảnh hưởng đến lập dự toán củacác DN trên địa bàn tỉnh trong bối cảnh hiện nay, đây là đóng góp quan trọng

vì chưa có một nghiên cứu nào về việc đánh giá các nhân tố tác động đến việclập dự toán của các DN trên địa bàn tỉnh Gia Lai

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Các nhà quản lý trong các DN trên địa bàn tỉnh Gia Lai sẽ nhận thứcđược tầm quan trọng của công cụ lập dự toán như là phương tiện để cải thiệnthành quả hoạt động và duy trì khả năng cạnh tranh trên thị trường Đồngthời, kết quả của nghiên cứu sẽ hỗ trợ cho các nhà nghiên cứu trong việchoạch định chính sách bao gồm mức độ vận dụng công cụ lập dự toán trongcác DN trên địa bàn và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ vận dụng này đểUBND tỉnh, các tổ chức tài chính, các đối tượng quan tâm đến các DN trênđịa bàn có các quyết định chính sách trong tương lai

6 Kết cấu đề tài

Đề tài gồm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về lập dự toán và các nhân tố ảnh hưởng tới

việc lập dự toán trong các DN

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 4: Hàm ý chính sách

Trang 14

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT:

Đã có một số nghiên cứu việc vận dụng kế toán quản trị nói chung trong các DN, trong đó công cụ lập dự toán như nghiên cứu của Joshi (2001)

ở 60 DN vừa và lớn ở Ấn Độ Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ áp dụng cáccông cụ KTQT truyền thống cao hơn so với các công cụ KTQT hiện đại.Công cụ liên quan đến việc lập dự toán theo cách truyền thống và hệ thốngđánh giá thành quả được áp dụng rộng rãi, trong khi đó các công cụ KTQThiện đại được áp dụng với tỷ lệ khá thấp và tỷ lệ áp dụng tăng lên khá chậm.[33]

El-Ebaishi và cộng sự (2003) tiến hành khảo sát thực trạng áp dụngKTQT ở 121 DN vừa và lớn ở Saudi 15 công cụ được đưa vào khảo sát gồmphân bổ chi phí bộ phận, phân bổ chi phí sản xuất chung, chi phí tiêu chuẩn,

dự toán sản xuất, dự toán vốn bằng tiền, dự toán doanh thu, dự toán chi phínguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp, dự toán chi phísản xuất chung, dự toán vốn, chu kỳ sống sản phẩm, quản trị hàng tồn kho kịpthời, tính giá dựa trên hoạt động và sử dụng công cụ dự toán hồi quy Kết quảkhảo sát cho thấy các DN cho rằng các công cụ KTQT truyền thống đượcxem là hữu dụng và quan trọng đối với DN, các công cụ KTQT hiện đại nhưABC chỉ được áp dụng trong một số DN [22]

Wu và cộng sự (2007) tiến hành khảo sát ở 64 DN liên doanh và 115

DN nhà nước ở Trung Quốc Kết quả cho thấy, các DN Trung Quốc chủ yếu

sử dụng các công cụ KTQT truyền thống Cụ thể, các nhà quản trị DN nhànước cho rằng họ sẽ tập trung vào các công cụ KTQT truyền thống, ngượclại, các nhà quản trị DN liên doanh có xu hướng sử dụng công cụ KTQT hiệnđại [54]

Horngen và cộng sự (2008) trong nghiên cứu “tầm quan trọng của

Trang 15

KTQT chi phí”, đã đề cập đến việc lập dự toán tổng quát trong DN Xuất phát

từ chiến lược chung của DN kế toán quản trị sẽ lập dự toán tổng quát, sau đó

từ dự toán tổng quát sẽ lập các dự toán cụ thể, bao gồm: (1) Dự toán hoạtđộng (Dự toán sản xuất, dự toán doanh thu, dự toán mua vào, dự toán giá vốn,

dự toán chi phí hoạt động, dự toán báo cáo kết quả kinh doanh); (2) Dự toánvốn; (3) Dự toán tài chính (Dự toán dòng tiền, dự toán bảng cân đối, dự toánbáo cáo lưu chuyển tiền) Nghiên cứu cũng chỉ rõ dự toán có thể lập chungcho các hoạt động hoặc dự toán riêng cho các bộ phận tùy thuộc vào nhà quảntrị DN Bên cạnh việc xây dựng dự toán linh hoạt trong các DN sản xuất,Horngen và các cộng sự còn đề cập đến dự toán linh hoạt và vai trò của dựtoán linh hoạt trong các DN dịch vụ [31]

Catapan và cộng sự (2012) nghiên cứu việc áp dụng các công cụ KTQTtrong 14 DNVVN kinh doanh trong ngành vật liệu xây dựng ở miền NamBrazil Kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ có 37,73% số công ty có đội ngũ kếtoán nội bộ, trong số đó 35,72% số công ty được khảo sát sử dụng công cụlập dự toán và 64,28% sử dụng công cụ lưu chuyển tiền tệ [16]

Kamilah Ahmad (2012) cũng tiến hành nghiên cứu “việc áp dụng trongcác DNVVN trong lĩnh vực sản xuất ở Malaysia” Kết quả nghiên cứu từ 160

DN cho thấy tỷ lệ áp dụng các công cụ KTQT truyền thống cao hơn so vớicác công cụ KTQT hiện đại Nghiên cứu cũng cho thấy rằng, 4 nhân tố ảnhhưởng đến mức độ vận dụng KTQT ở DNVVN ở Malaysia gồm: quy mô DN,mức cạnh tranh trên thị trường, sư tham gia của nhà quản lý và công nghệ sảnxuất [34]

Đoàn Ngọc Phi Anh (2012), nghiên cứu “về mức độ vận dụng và cácnhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong các DN Việt Nam”, baogồm các nhân tố mang đặc tính của DN như hình thức sở hữu của DN, quy

mô DN, thời gian hoạt động, định hướng thị trường, lĩnh vực hoạt động và

Trang 16

nhân tố ngữ cảnh như nhân tố cạnh tranh, phân cấp quản lý Nghiên cứu đãchỉ ra rằng các công cụ KTQT truyền thống được áp dụng nhiều hơn các công

cụ KTQT hiện đại, cụ thể là dự toán doanh thu, dự toán lợi nhuận, dự toán sảnxuất, tính giá theo phương pháp toàn bộ có tỷ lệ áp dụng khá cao so với cáccông cụ liên quan đến chức năng chiến lược, đánh giá thành quả [1]

Nguyễn Phú Giang (2013), nghiên cứu về “Xây dựng mô hình kế toánquản trị chi phí trong các DN sản xuất thép trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”,cho rằng lập dự toán cần xét theo quy mô của DN, cụ thể: (1) Đối với DNthép siêu nhỏ không cần lập dự toán; (2) Đối với DN thép quy mô nhỏ nên lập

dự toán tĩnh với mô hình dự toán ấn định thông tin từ trên xuống; (3) Đối với

DN có quy mô lớn lập cả dự toán tĩnh và dự toán linh hoạt và có thể áp dụngcác mô hình dự toán: mô hình dự toán từ trên xuống, mô hình dự toán từ dướilên và mô hình kết hợp Tuy nhiên tác giả cho rằng xây dựng dự toán cần thiếtcho các đơn vị kể cả DN siêu nhỏ, đồng thời xây dựng dự toán cần xuất phát

từ nhu cầu quản trị DN trong việc cụ thể hóa các mục tiêu của DN [3]

Các nghiên cứu về công cụ lập dự toán:

Bên cạnh các nghiên cứu về việc vận dụng công cụ kế toán quản trị,cũng đã có những nghiên cứu chuyên biệt về công cụ lập dự toán MoolchandRaghunandan và cộng sự (2012) trong bài báo “Xem xét các khía cạnh hành

vi lập dự toán, chú trọng đặc biệt vào khu vực công/dự toán Dịch vụ”, nhómtác giả đã đưa ra nhận định rằng: Lập dự toán là một khâu của kế toán quảntrị, chất lượng của dự toán không chỉ phụ thuộc vào phương pháp lập dự toán

mà còn ảnh hưởng bởi hành vi của những người lập dự toán Việc lập dự toángắn liền với mục tiêu của DN, chính thức hóa các mục tiêu của DN Quá trìnhlập dự toán thúc đẩy sự phối hợp, hợp tác của các bộ phận với những thôngtin liên quan nhằm đạt được mục tiêu cụ thể của từng bộ phận, có 3 mô hìnhlập dự toán ngân sách: (1) mô hình lập dự toán từ trên xuống; (2) mô hình lập

Trang 17

dự toán từ dưới lên; (3) mô hình thỏa thuận Nhóm tác giả khẳng định việc lập

dự toán còn là kênh kiểm soát chi phí và đánh giá kết quả hoạt động của từng bộphận thông qua việc xác định mức độ sai lệch giữa thực tế và dự toán để kiểmtra Tuy nhiên nghiên cứu mới chỉ để cập đến việc lập dự toán ở lĩnh vực dịch vụcông mà chưa đề cập đến các ngành sản xuất công nghiệp Bên cạnh đó bài báo

đề cập đến dự toán tĩnh mà chưa đề cập đến dự toán linh hoạt [42]

Nghiên cứu của Vũ Thị Kim Anh (2012), “Hoàn thiện kế toán quản trịchi phí vận tải tại các DN vận tải đường sắt Việt Nam trong điều kiện hộinhập kinh tế quốc tế”, đã xác định nội dung lập định mức và dự toán là quantrọng và cần thiết trong các DN vận tải đường sắt Theo đó mô hình lập dựtoán trong các DN này là mô hình từ dưới lên (xuất phát từ đơn vị cơ sở) vớicác loại dự toán: Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phínhân công trực tiếp, dự toán chi phí sản xuất chung, dự toán chi phí quản lý

DN Tác giả cũng cho rằng việc xây dựng dự toán linh hoạt cho ngành đườngsắt hiện nay là cần thiết nhằm kiểm soát chi phí đồng thời giúp các nhà quảntrị xác định sự thay đổi các mức vận chuyển tác động đến như thế nào đến chiphí cũng như đánh giá được kết quả hoạt động [2]

Barrett, M E và cộng sự (1977) trong nghiên cứu về “vai trò tác độngcủa việc lập dự toán ngân sách cho các hoạt động”, cho thấy dự toán có thể lànhững công cụ hữu ích để đánh giá hiệu suất của các nhà quản lý và nhân viênthông qua kết quả của họ trong việc đạt được các mục tiêu của dự toán Nóicách khác, dự toán có thể được xem là thước đo đánh giá hiệu quả công việccủa các nhà quản lý và các nhân viên trong DN [13]

Uyar, A và cộng sự (2011) trong nghiên cứu “Vận dụng dự toán trong ngànhkhách sạn Thổ Nhĩ Kỳ” cho thấy chức năng kiểm soát là một trong những lý

do chính của việc lập dự toán chứ không phải là mục đích khác [50] Trần Thị

Thủy Vân (2015) trong nghiên cứu “vận dụng lập dự toán ở

Trang 18

Việt Nam” khảo sát thực hiện tại Đà nẵng cho thấy việc áp dụng các kế hoạchdài hạn ở Việt Nam thấp hơn nhiều Hiện nay, dự toán hoạt động và dự toántiền là dự toán thường xuyên được sử dụng trong các DN được khảo sát.Ngược lại, dự toán đầu tư và dự toán linh hoạt dường như ít sử dụng Có lẽ,lập dự toán trong các DN Việt Nam chủ yếu phục vụ vào hoạt động hàng ngàynhiều hơn về chiến lược, kế hoạch dài hạn Ngoài ra, các DN có xu hướng sửdụng dự toán truyền thống hơn so với dự toán hiện đại [51]

Lê Thị Quyên (2015) nghiên cứu “các nhân tố ảnh hưởng đến việc việclập dự toán ở các DN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” bao gồm các nhân tốmang đặc tính của DN như quy mô DN; lĩnh vực hoạt động; thời gian hoạtđộng và nhân tố ngữ cảnh như nhân tố cạnh tranh; phân cấp quản lý; trình độnhân viên kế toán; ứng dụng công nghệ thông tin trong việc lập dự toán.Nghiên cứu cho thấy nhân tố cạnh tranh; phân cấp quản lý; trình độ nhân viên

kế toán; ứng dụng công nghệ thông tin trong việc lập dự toán có tác độngmạnh đến việc vận dụng công cụ lập dự toán Cụ thể, khi yếu tố cạnh tranhcàng cao các DN cần có nhiều thông tin để có thể ứng phó, trong đó các DN

có sử dụng thông tin dự toán như là nguồn thông tin đáng tin cậy để phục vụcho các mục đích quản trị khác nhau Tương tự, khi phân cấp quản lý cànglớn, đòi hỏi việc kiểm soát quản lý phải được thực hiện tốt hơn; dự toán đượcxem như công cụ giúp đo lường trách nhiệm của các cấp quản trị khác nhautrong doanh nghiệp Bên cạnh đó, khi trình độ nhân viên kế toán càng cao sẽthúc đẩy việc vận dụng kế toán quản trị, do đó công cụ lập dự toán cũng sẽđược sử dụng rộng rãi để cung cấp thông tin cho nhà quản trị Ngoài ra, việcvận dụng công cụ lập dự toán cũng sẽ thuận lợi và nhanh chóng hơn khidoanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin; nói cách khác, ứng dụng côngnghệ thông tin sẽ thúc đẩy việc lập và sử dụng công cụ dự toán trong doanhnghiệp [5]

Trang 19

Tóm lại, các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việcvận dụng KTQT cũng như các nhân tố ảnh hưởng về công cụ lập dự toán đãđược các tác giả nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau từ tổng quát đến từnglĩnh vực, từng phương pháp vận dụng cụ thể Qua phần tổng quan ở trên, tathấy rằng còn nhiều khoảng trống trong các nghiên cứu ở trong nước và trênthế giới Trong nghiên cứu của tác giả Kamilah Ahmad (2012) đã đánh giá vềmức độ vận dụng KTQT và các nhân tố ảnh hưởng tới mức độ vận dụng ở

DN nhỏ và vừa ở lĩnh vực sản xuất ở Malaysia, nhưng chưa đề cập đến lĩnhvực khác như thương mại, dịch vụ Trong các nghiên cứu về dự toán ở trongnước, chỉ tập trung nghiên cứu tại một DN cụ thể, nội dung nghiên cứu chỉmới khái quát được nội dung và phương pháp lập dự toán như một số đề xuấtgiải pháp hoàn thiện cho chính đơn vị đó Còn quá ít các nghiên cứu về cácnhân tố tác động hay kiềm hãm sự vận dụng công cụ lập dự toán ở Việt Namnói chung và trong một địa bàn cụ thể nói riêng, đặc biệt chưa có một nghiêncứu nào về công tác lập dự toán ở các DN trên địa bàn tỉnh Gia Lai Cácnghiên cứu trước đây chỉ khảo sát từ các DN vừa và lớn, do đó kết quả củanghiên cứu không khái quát được cho tất cả các DN, đặt biệt là cho các DNnhỏ Trong nghiên cứu KTQT của tác giả Đoàn Ngọc Phi Anh (2012) đã đánhgiá về công cụ dự toán và các công cụ KTQT khác trong các DN vừa và lớn ởViệt Nam, không tiến hành khảo sát ở các DN nhỏ [1]; [34]

Trang 20

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP DỰ TOÁN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LẬP DỰ TOÁN TRONG CÁC

DN 1.1 TỔNG QUAN VỀ DỰ TOÁN TỔNG THỂ TRONG DN

1.1.1 Khái niệm về dự toán

Theo Marginson và Ogden (2005), dự toán là một biểu thức định lượngcủa một kế hoạch cho một thời gian xác định Dự toán có thể bao gồm: doanh

số bán hàng theo kế hoạch và các khoản thu, số lượng tài nguyên, biến phí vàđịnh phí, tài sản, công nợ và dòng tiền Lập dự toán bị ảnh hưởng bởi phongcách quản lý của DN và có thể thay đổi đáng kể, nhưng về mặt lý thuyết làchung cho tất cả [40]

1.1.2 Phân loại dự toán

Tuỳ theo nhu cầu cung cấp thông tin của nhà quản lý cũng như mụcđích phát triển của DN trong tương lai, khi xây dựng dự toán các nhà quản trị

có thể lựa chọn các loại dự toán khác nhau Căn cứ vào từng tiêu thức phânloại cụ thể, dự toán có thể được phân thành các nhóm khác nhau:

a Phân loại theo chức năng

Theo tiêu thức này thì dự toán gồm 2 loại: đó là dự toán hoạt động và

dự toán tài chính

Dự toán hoạt động là dự toán phản ánh mức thu nhập và chi phí đòi hỏi

để đạt mục tiêu lợi nhuận Dự toán tài chính là dự toán phản ánh tình hình tàichính theo dự kiến và cách thức tài trợ cần thiết cho các hoạt động đã lập dựtoán Mỗi loại dự toán trên gồm nhiều dự toán bộ phận liên quan [7]

Trong một DN sản xuất, dự toán tổng thể thường bao gồm những nộidung sau:

- Dự toán hoạt động, bao

gồm: Dự toán sản xuất

Trang 21

Dự toán chi phí vật tư và cung ứng vật tư cho sản xuất

Dự toán chi phí nhân công rực tiếp

Dự toán chi phí sản xuất chung

Dự toán giá vốn hàng bán

Dự toán chi phí bán hàng

Dự toán chi phí quản lý DN

Dự toán chi phí tài chính

- Dự toán tài chính, bao gồm:

Dự toán vốn (dự toán đầu tư)

Dự toán vốn bằng tiền

Báo cáo kết quả kinh doanh dự toán

Bảng cân đối kế toán dự toán

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ dự toán

b Phân loại theo mối quan hệ với mức độ hoạt động

Theo cách phân loại này thì dự toán gồm 2 loại: dự toán tĩnh và dự toánlinh hoạt

- Dự toán tĩnh: là dự toán được lập theo một mức độ hoạt động nhấtđịnh Dự toán tĩnh sẽ không bị điều chỉnh hay thay đổi kể từ khi được lập ra;bất kể có sự thay đổi về doanh thu tiêu thụ, các điều kiện kinh doanh xảy ratrong kỳ dự toán Nhưng trong thực tế, sự biến động của các yếu tố chủ quan

và khách quan thường xuyên như: sự lên xuống của giá cả thị trường, biếnđộng về sản lượng tiêu thụ, thay đổi các chính sách kinh tế…Do đó, dự toántĩnh thường phù hợp với những DN sản xuất sản phẩm theo đơn đặt hàng,tình hình sản xuất kinh doanh ổn định

- Dự toán linh hoạt: là dự toán được lập với nhiều mức độ hoạt độngnhất định trong cùng một phạm vi hoạt động Dự toán linh hoạt giúp nhà quảntrị thấy được sự biến động chi phí khi mức độ hoạt động thay đổi Do đó, nó

Trang 22

có ý nghĩa trong việc đánh giá hiệu quả kiểm soát chi phí thực tế của DN vàphù hợp với những DN sản xuất theo nhu cầu của thì trường.

c Phân loại theo thời gian

Bao gồm dự toán ngắn hạn và dự toán dài hạn:

- Dự toán ngắn hạn: là dự toán chủ đạo được lập trong một năm tàichính hoặc dưới 1 năm, và được chia thành từng kỳ ngắn hơn là từng quý,tháng, từng tuần phù hợp với kỳ kế toán của DN nhằm thuận tiện cho việcđánh giá giữa kết quả thực hiện và kế hoạch Dự toán ngắn hạn thường liênquan đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của DN như: tiêu thụ, sản xuất,bán hàng, thu, chi… Dự toán này thường được lập hàng năm trước khi kếtthúc niên độ kế toán nhằm hoạch định kế hoạch kinh doanh của DN trongnăm kế hoạch tiếp theo Như vậy, để cung cấp thông tin đáng tin cậy cho việclập dự toán ở các kỳ tiếp theo đòi hỏi các nhà quản lý phải luôn luôn đánh giáđúng tình hình thực hiện dự toán

- Dự toán dài hạn: còn được gọi là dự toán vốn hoặc dự toán đầu tư, dựtoán này liên quan đến tài sản cố định Dự toán vốn là việc sắp xếp các nguồnlực về tiền để thu được số lợi nhuận dự kiến trong tương lai trung hoặc dàihạn Dự toán vốn liên quan đến việc ra quyết định đầu tư dài hạn nên cần phải

có một sự phân tích, thẩm định hiệu quả tài chính dự án đầu tư một cách khoahọc [7]

1.1.3 Tầm quan trọng của lập dự toán tổng thể

DN a Mục đích lập dự toán

Mục đích cơ bản của dự toán tổng thể DN là phục vụ cho việc hoạchđịnh và kiểm tra hoạt động kinh doanh Thông qua đó mà người quản lý đạtđược mục tiêu của các tổ chức kinh doanh là tối đa hoá lợi nhuận

 Hoạch định

Dự toán ngân sách buộc người quản lý phải dự tính những gì sẽ xảy ra

Trang 23

trong tương lai Chẳng hạn như, thay vì chờ đợi việc bán hàng xảy ra, ngườiquản lý cần biết trước vấn đề, giải quyết vấn đề trước khi có những biến cốxảy ra.

 Kiểm tra

Kiểm tra là quá trình so sánh kết quả thực hiện với kế hoạch và đánhgiá việc thực hiện đó Kiểm tra phụ thuộc vào kế hoạch, không có kế hoạchthì không có cơ sở để so sánh kết quả và đánh giá việc thực hiện Nếu không

có kiểm tra, dự toán ngân sách sẽ không phát huy hết tác dụng vốn có của nó.Việc đánh giá các mục tiêu đề ra được cung cấp bởi báo cáo thực hiện Báocáo thực hiện là tài liệu trình bày số liệu dự toán và kết quả thực hiện, so sánh

để thấy được sự thay đổi giữa thực hiện và dự toán Nếu sự thay đổi đó lớn,vượt quá mức cho phép, người quản lý sẽ điều tra nguyên nhân của sự thayđổi, thấy được những hoạt động đúng đắn cần phải phát huy và những hoạtđộng sai lầm cần loại bỏ

Báo cáo thực hiện thông tin cho người quản lý thấy được những mặthoạt động không xảy ra theo kế hoạch Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, sailầm nằm ngay trong dự toán, do dự toán không sát thực tế

Tóm lại, so sánh kết quả thực hiện với dự toán ngân sách được xem là

kỹ thuật kiểm soát trong quản lý Người quản lý không chỉ biết dự tính cái gì

mà còn phải biết những dự tính đó được hoàn thành như thế nào Nếu kết quảxảy ra không theo dự tính, người quản lý phải có những biện pháp để điềuchỉnh hoạt động ngày càng tốt hơn

b Vai trò

Dự toán là cơ sở định hướng và chỉ đạo mọi hoạt động kinh doanh cũngnhư phối hợp các chương trình hành động ở các bộ phận, là cơ sở để kiểm trakiểm soát các nội dung chi phí cũng như nhiệm vụ từng bộ phận Thực hiệnchức năng này, KTQT phải tổ chức việc thu thập các thông tin cần thiết để lập

Trang 24

dự toán bao gồm thông tin về tổ chức, về định mức, về chi phí tiêu chuẩn, cácthông tin kế toán tài chính, thống kê cũng như kỹ thuật tính toán, ước tínhphục vụ cho việc lập dự toán ở DN Qua các dự toán này, nhà quản trị dự tínhđược những gì sẽ xảy ra trong tương lai, kể cả những điều bất lợi, thuận lợicho các DN trong quá trình thực hiện dự toán Các dự toán này đóng vai tròhạt nhân quan trọng trong việc thực hiện các chức năng hoạch định, kiểm tra,kiểm soát của quản trị Thực hiện mục tiêu này, KTQT phải đảm bảo truyềnđạt các thông tin dự toán và thông tin khác cho bọ phận liên quan trong nội bộ

DN Dự toán này phải được lập một cách toàn diện, đầy đủ tất cả các bộ phậnbao gồm cả dự toán tổng thể và dự toán đầu tư

c Sự hữu ích của công cụ lập dự toán

Trong các nghiên cứu trước đây, sự hữu ích của công cụ lập dự toán được

đo lường thông qua nhận thức của người sử dụng, tức là nó được đo dựa trêncảm nhận của người được phỏng vấn về việc lập dự toán hỗ trợ trong hoạt độngcủa mình [19] Lợi ích dựa trên nhận thức trong những nghiên cứu này được đolường dựa trên thang đo Likert từ không có ích đến rất có ích Kết quả cácnghiên cứu này cho thấy rằng các công cụ KTQT truyền thống được nhận thức

là đem lại nhiều lợi ích hơn các công cụ hiện đại ở Úc Kết quả tương tự nhưvậy trong nghiên cứu của Joshi (2001) tại Ấn Độ [33]

Tuy nhiên, có một số nghiên cứu khác lại đưa ra những kết luận khác

về sự hữu ích của công cụ lập dự toán Họ cho rằng việc lập dự toán có thểdẫn đến những hành vi bất thường phục vụ cho lợi ích nhóm hoặc cá nhân, vàtốn một lượng lớn thời gian quản lý Ngoài ra, chúng còn cản trở DN về sưlinh động và thích nghi trong môi trường ngày càng khó lường, do đó khôngđồng bộ với yêu cầu cạnh tranh [28]

Trong một cuộc khảo sát nghiên cứu về sự hữu ích của việc lập dự toán

ở Malaysia (Nik Ahmad và cộng sự, 2003), tác giả đã đưa ra kết luận rằng

Trang 25

nhiều công ty ở nước này sử dụng công cụ lập dự toán Nó là một phần quantrọng trong khâu lập kế hoạch và kiểm soát Theo nghiên cứu này thì dự toán

sẽ trở nên không còn có ý nghĩa quan trọng nữa khi DN ở trong môi trườnghoạt động có sự thay đổi nhanh chóng [43]

1.1.4 Nội dung dự toán tổng thể DN

Dự toán tổng thể là tổ hợp của nhiều dự án của mọi hoạt động của DN,

có liên hệ với nhau trong một thời kỳ nào đó Dự toán tổng thể có thể lập chonhiều thời kỳ như tháng, quý, năm Hình thức và số lượng các dự toán thuộc

dự toán tổng thể tuỳ thuộc từng loại hình DN

Dự toán được xây dựng dựa trên cơ sở của dự báo Kết quả của quátrình xây dựng dự toán là các báo cáo nội bộ và các báo cáo đó không thểcung cấp cho người ngoài DN Dự toán tổng thể chính là kỳ vọng hoặc mongmuốn của nhà quản lý về những công việc mà DN dự tính hành động cũngnhư kết quả tài chính của các hoạt động đó

Do hoạt động của DN sản xuất thường đa dạng và phức tạp nhất nêntrình tự xây dựng dự toán tổng thể ở DNSX được xét đến nội dung này

a Dự toán tiêu thụ

Dự toán tiêu thụ là nền tảng của dự toán tổng thể DN, vì dự toán này sẽxác lập mục tiêu của DN so với thị trường , với môi trường Tiêu thụ đượcđánh giá là khâu thể hiện chất lượng hoạt động của DN Hơn nữa, về mặt lýthuyết tất cả các dự toán khác của DN suy cho cùng đều dựa vào loại dự toántiêu thụ Dự toán tiêu thụ chi phối đến các hoạt động khác, nếu xây dựngkhông phù hợp sẽ ảnh hưởng đến chất lượng dự toán tổng thể DN Dự toántiêu thụ được lập dựa trên dự báo tiêu thụ Dự toán tiêu thụ bao gồm nhữngthông tin về chủng loại, số lượng hàng bán, giá bán và cơ cấu sản phẩm tiêuthụ

Trang 26

Dự toán Dự toán sản phẩm Đơn giá bán

= tiêu thụ x

Ngoài ra, dự toán tiêu thụ còn dự báo cả mức bán hàng thu bằng tiền vàbán hàng tín dụng, cũng như các phương thức tiêu thụ Khi lập dự toán tiêuthụ, các nhà quản lý cần xem xét ảnh hưởng chi phí marketing đến hoạt độngtiêu thụ tại DN Trong DN, bộ phận kinh doanh hoặc marketing có tráchnhiệm trực tiếp cho việc lập dự toán tiêu thụ

Sau khi xác lập mục tiêu chung của dự toán tiêu thụ, dự toán còn cótrách nhiệm chi tiết hoá nhiệm vụ cho từng thời kỳ, từng bộ phận Việc xemxét khối lượng tiêu thụ theo thời kỳ còn dựa vào chu kỳ sống của sản phẩm.Nếu sản phẩm của DN bị ảnh hưởng bởi tính thời vụ thì khi xây dựng dự toánphải tính đầy đủ múc ảnh hưởng này, và có phương pháp tính đến tính thời

vụ trong các phương pháp dự báo Một trong những phương tiện giúp đỡ chocác dự báo này là việc phân tích dữ liệu quá khứ theo luồng được thành lậpdựa trên nhiều thời kỳ khác nhau

Trên cơ sở mục tiêu theo từng thời kỳ của DN, dự toán tiêu thụ phảiđược lập cụ thể theo từng vùng, theo từng bộ phận, từng sản phẩm Như vậy,

nó không những giúp đỡ nhà quản trị trong việc tổ chức thực hiện mà còn chophép đánh giá kết quả và thành tích của các vùng khi so sánh kết quả thựchiện và mục tiêu đạt được

Khi lập dự toán tiêu thụ cũng cần quan tâm đến chính sách bán hàngcủa DN để ước tính các dòng tiền thu vào liên quan đến bán hàng trong cácthời kỳ khác nhau

Trang 27

lệ phần trăm nhu cầu tiêu thụ của kỳ sau.

 Khả năng sản xuất của đơn vị

Như vậy, số lượng sản phẩm sản xuất yêu cầu trong kỳ là :

Số lượng sản Nhu cầu sản Số sản

Số sản phẩmphẩm cần sản = phẩm tồn kho phẩm tồn

+ tiêu thụ trong xuất trong kỳ cuối kỳ đầu kỳ theo

-kỳ

dự toánTuy nhiên không phải DN nào cũng có thể đảm nhận tất cả nhu cầu,điều đó còn tuỳ thuộc khả năng sản xuất trên cơ sở năng lực hiện tại củachúng Do vậy Khối lượng sản xuất dự toán = Min {Khối lượng sản xuất yêucầu, Khối lượng sản xuất theo khả năng}

Khi lập dự toán sản xuất cần chú ý đến việc phân chia công việc chocác đơn vị cũng như theo thời gian thực hiện từng công đoạn Việc phân bố

cụ thể công việc cho phép DN tổ chức thực hiện công việc tốt hơn, đồng thờikiểm tra kiểm soát được công việc một cách dễ dàng

Phân bổ công việc theo thòi gian thường là hằng tháng cho phép chọnlựa các cách thức điều chỉnh tuỳ thuộc vào nội dung DN và bản chất của sảnphẩm

Phân bổ công việc theo bộ phận nhằm lập dự toán nội bộ là công việcrất quan trọng vì nó là cơ sở để lập dự toán chi phí sản xuất theo bộ phận cũng

Trang 28

như theo thời gian Thường công việc này khá đơn giản đối với các DN chỉsản xuất một loại sản phẩm, nhưng khá phức tạp đối với DN có nhiều đơn vị,nhiều loại sản phẩm.

Phân bổ công việc vừa theo thời gian vừa theo bộ phận trước hết phảiquan tâm đến cấu trúc tổ chức của DN để qua đó xem xét tiềm năng của từng

bộ phận Các nhân tố quan trọng cần xem xét khi thực hiện công việc này làkhả năng dự trữ tồn kho, lực lượng lao động chủ yếu của DN, sự phù hợpgiữa mức trang bị tài sản cố định Đối với một số loại hình sản xuất có ảnhhưởng của yếu tố thiên nhiên khi lập dự toán còn phải chú ý đến tính thời vụcủa sản phẩm trong việc phân bố công việc

c Dự toán chi phí sản xuất

Trong giai đoạn này, việc dự toán chi phí sản xuất nhằm xác định toàn

bộ chi phí để sản xuất một khối lượng sản xuất đã được xác định trước Quátrình sản xuất nào cũng luôn gắn với một trình độ kỹ thuật trong một thời kỳnhất định Do vậy khó có thể có một phương pháp dự toán chung cho tất cảmọi loại hình khác nhau Trong giáo trình này chúng ta chỉ đề cập đếnphương pháp tổng quát nhất Chi phí để sản xuất sản phẩm bao gồm 3 khoảnmục là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phísản xuất chung; nên dự toán chi phí sản xuất phải thể hiện đầy đủ ba loại chiphí này Nhiệm vụ đặt ra trong phần này không chỉ xác định chi phí sản xuất

cụ thể cho từng loại mà còn phải chú ý đến nhiệm vụ cắt giảm chi phí mà DN

Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phản ánh tất cả chi phí nguyên

vật liệu trực tiếp cần thiết để đáp ứng yêu cầu sản xuất đã được thể hiện trên

dự toán khối lượng sản phẩm sản xuất Để lập dự toán nguyên vật liệu trựctiếp cần xác định:

 Định mức tiêu hao nguyên vật liệu để sản xuất một sản phẩm

Trang 29

 Đơn giá xuất nguyên vật liệu Thông thường đơn giá xuất ít thay đổi.Tuy nhiên để có thể phù hợp với thực tế và làm cơ sở cho việc kiểm tra, kiểmsoát khi dự toán đơn giá này cần phải biết DN sử dụng phương pháp tính giáhàng tồn kho nào: phương pháp LIFO, FIFO, giá đích danh hay giá bình quân.

 Mức độ dự trữ nguyên vật liệu trực tiếp vào cuối kỳ dự toán được tínhtoán trên cơ sở lý thuyết quản trị tồn kho

Như vậy:

Dự toán lượng nguyên Định mức tiêu hao Số lượng sản phẩm sản

= x xuất theo dự toánvật liệu sử dụng nguyên vật liệu

Và dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp xuất dùng cho sản xuất sẽlà:

Dự toán chi phí nguyên Dự toán lượng nguyên Đơn giá xuất

= vật liệu sử dụng xvật liệu trực tiếp nguyên vật liệu

Dự toán cung cấp nguyên vật liệu

Dự toán cung cấp nguyên vật liệu được lập cho từng loại nguyên vậtliệu cần thiết để thực hiện quá trình sản xuất trên cơ sở số lượng nguyên vậtliệu dự toán cần thiết sử dụng và chính sách dự trữ tồn kho của DN theo côngthức sau:

dự toán

Số lượng nguyên+ liệu tồn cuối kỳ

theo dự toán

-Số lượngnguyên liệu tồnthực tế đầu kỳ

Số tiền cần thiết phải chuẩn bị để mua nguyên vật liệu được tính toándựa vào việc dự báo đơn giá mua nguyên vật liệu và dự toán mua nguyên vậtliệu trực tiếp được xây dựng Đơn giá nguyên vật liệu là giá thanh toán vớinhà cung cấp

Trang 30

Dự toán tiền mua nguyên Dự toán lượng nguyên Đơn giá nguyênvật liệu trực tiếp = x

vật liệu mua vào vật liệu

Dự toán mua nguyên vật liệu còn tính đến thời điểm, và mức thanh toántiền mua nguyên liệu căn cứ vào chính sách bán hàng của nhà cung cấp Đây

là cơ sở để lập dự toán vốn bằng tiền tại DN

Dự toán chi phí nhân công trực tiếp

Dự toán chi phí nhân công trực tiếp được xây dựng từ dự toán sản xuất

Dự toán này cung cấp những thông tin quan trọng liên quan đến quy mô củalực lượng lao động cần thiết cho kỳ dự toán Mục tiêu cơ bản của dự toán này

là duy trì lực lượng lao động vừa đủ để đáp ứng yêu cầu sản xuất, tránh tìnhtrạng lãng phí sử dụng lao động Dự toán lao động còn là cơ sở để DN lập dựtoán về đào tạo, tuyển dụng trong qúa trình hoạt động sản xuất

Chi phí nhân công trực tiếp thường là biến phí trong mối quan hệ vớikhối lượng sản phẩm sản xuất, nhưng trong một số ít các trường hợp chi phínhân công trực tiếp không thay đổi theo mức độ hoạt động Đó là trường hợp

ở các DN sử dụng công nhân có trình độ tay nghề cao, không thể trả côngtheo sản phẩm hoặc theo thời gian Để lập dự toán chi phí này, DN phải dựavào số lượng nhân công, quỹ lương, cách phân phối lương và nhiệm vụ củaDN

Đối với biến phí nhân công trực tiếp, để lập dự toán DN cần xây dựng

- Định mức lao động để sản xuất sản phẩm

- Tiền công cho từng giờ lao động hoặc từng sản phẩm nếu DN trả lương theo sản phẩm

Dự toán chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất chung là các chi phí liên quan đến phục vụ và quản lýhoạt động sản xuất, phát sinh trong phân xưởng Chi phí sản xuất chung baogồm cả yếu tố chi phí biến đổi và chi phí cố định Dự toán chi phí sản xuất

Trang 31

chung phải tính đến cách ứng xử chi phí để xây dựng mức phí dự toán hợp lýtrong kỳ Cũng có thể dự toán chi phí sản xuất chung theo từng nội dung kinh

tế cụ thể của chi phí Tuy nhiên cách làm này khá phức tạp, tốn nhiều thờigian không phù hợp đối với các DN vừa và nhỏ như ở nước ta hiện nay Dovậy trong giáo trình này chỉ quan tâm đến việc phân biệt biến phí và định phísản xuất chung trong dự toán

Dự toán này ở các DN thường được xem là một nhiệm vụ cơ bản nhằm giảm thấp chi phí và giá thành sản phẩm Tuy nhiên với xu hướng giá thành ngày càng giảm, việc đấu tranh chống sự tăng chi phí dẫn đến nhiệm vụ khá quan trọng Các chi phí này thường không liên quan trực tiếp đến sản phẩm cụ thể Nếu sử dụng cách tính toán giá thành toàn bộ, việc tăng giảm của các chi phí này thuộc về trách nhiệm của nhà quản trị từng khu vực, từng trung tâm Các chi phí này thường độc lập tương đối với mức độ hoạt động, nó liên quan chủ yếu với cấu trúc của phân xưởng, phải sử dụng chi phí hỗn hợp và các kỹ thuật tách biệt phần biến phí và định phí Như vậy chi phí sản xuất chung

hoàn toàn có thể kiểm tra được

Dự toán chi phí sản Dự toán định phí sản Dự toán biến phí

xuất chung sản xuất chung

Biến phí sản xuất chung có thể được xây dựng theo từng yếu tố chi phí cho một đơn vị hoạt động (chi phí vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp, ) Tuy nhiên thường cách làm này khá phức tạp, tốn nhiều thời gian Do vậy khi dự toán chi phí này, người ta thường xác lập biến phí sản xuất chung cho từng đơn vị hoạt động.

Dự toán biến phí sản Dự toán biến phí đơn Sản lượng sản

= vị sản xuất chung xxuất chung xuất theo dự toán

Dự toán biến phí cũng có thể được lập theo tỷ lệ trên biến phí trực tiếp,khi đó biến phí SXC dự toán sẽ xác định:

Trang 32

Dự toán biến phí sản Dự toán biến phí Tỷ lệ biến phí

trực tiếp theo dự kiến

Dự toán định phí sản xuất chung cần thiết phải phân biệt định phí bắtbuộc và định phí tùy ý Đối với định phí bắt buộc, trên cơ sở định phí chung

cả năm chia đều cho 4 quý nếu là dự toán quý, hoặc chia đều cho 12 thángnếu là dự toán tháng Còn đối với định phí tùy ý thì phải căn cứ vào kế hoạchcủa nhà quản trị trong kỳ dự toán Dự toán định phí hằng năm có thể được lậpdựa vào mức độ tăng giảm liên quan đến việc trang bị, đầu tư mới ở DN

Dự toán định phí Dự toán định phí Tỷ lệ % tăng (giảm)

sản xuất chung x định phí sản xuất theo

=sản xuất chung thực tế kỳ trước dự dự kiến

d Dự toán giá vốn hàng bán

Giá vốn hàng bán thực chất là tổng giá thành của khối lượng sản phẩmtiêu thụ trong kỳ tính theo phương pháp giá toàn bộ Như vậy trên cơ sở sốlượng sản phẩm sản xuất theo dự toán, giá thành dự toán để sản xuất sảnphẩm, số lượng sản phẩm dự trữ dự toán vào cuối kỳ, dự toán giá vốn hàngxuất bán được xây dựng như sau:

Dự toán Giá vốn thành Tổng giá thành Giá vốn thànhgiá vốn = phẩm tồn kho+ sản phẩm sản - phẩm tồn khohàng bán đầu kỳ xuất trong kỳ cuối kỳNếu đơn vị không có tồn kho sản phẩm hoặc chi phí đơn vị tồn khotương tự nhau thì giá vốn hàng bán có thể tính bằng tích của sản lượng tiêuthụ nhân với giá thành sản xuất đơn vị sản phẩm

e Dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý DN

Dự toán chi phí bán hàng

Các loại chi phí này được lập tương tự như chi phí sản xuất chung Tuynhiên, chi phí bán hàng có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động tiêu thụ của

Trang 33

DN và ngược lại nên khi lập dự toán chi phí bán hàng phải tính đến mối liên

hệ với dự toán tiêu thụ của DN

Dự toán chi phí bán hàng phản ánh các chi phí liên quan đến việc tiêuthụ sản phẩm dự tính của kỳ sau Dự toán này nhằm mục đích tính truớc vàtập hợp các phương tiện chủ yếu trong quá trình bán hàng Khi xây dựng dựtoán cho các chi phí này cần tính đến nội dung kinh tế của chi phí cũng nhưyếu tố biến đổi và yếu tố cố định trong thành phần chi phí

Dự toán chi phí bán hàng = Dự toán định phí bán

hàng

Dự toán biến phí+

bán hàng

Dự toán định phí bán hàng

Yếu tố định phí thường ít biến đổi trong một phạm vi phù hợp gắn vớicác quyết định dài hạn, và có thể dự báo một cách dễ dàng dựa vào chức năngkinh doanh của DN Các chi phí này cũng có thể thay đổi trong trường hợpphát triển thêm mạng phân phối mới, thêm các dịch vụ mới sau bán hàng, dịch

vụ nghiên cứu phát triển thị trường,

Dự báo các yếu tố này cần phân tích đầy đủ các dữ liệu quá khứ của

DN Thông thường các mô hình hồi quy cho phép ta tách biệt công cụ địnhphí, và biến phí bán hàng của DN, đồng thời làm cơ sở tính toán tỷ lệ thay đổi

dự kiến

Dự toán định phí bán hàng = Định phí bán hàng

thực tế kỳ trước

Tỷ lệ % tăng (giảm)x

theo dự kiến

Dự toán biến phí bán hàng

Các biến phí bán hàng của DN có thể là biến phí trực tiếp như hoahồng, lương nhân viên bán hàng…Biến phí gián tiếp là những chi phí liênquan đến từng bộ phận bán hàng như chi phí bảo trì, xăng dầu, hỗ trợ bánhàng và thường được dự toán trên cơ sở số lượng bán hàng dự toán hoặcxác định một tỷ lệ % theo thống kê kinh nghiệm

Trang 34

Dự toán biến phí bán Dự toán biến phí đơn Sản lượng tiêu

Dự toán chi phí quản lý DN

Dự toán chi phí quản lý thường phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức của DN.Chi phí này liên quan đến toàn bộ DN, mà không liên quan đến từng bộ phậnhoạt động nào Tương tự như dự toán bán hàng, việc lập dự toán biến phíquản lý này thường dựa vào biến phí quản lý đơn vị nhân với sản lượng tiêuthụ dự kiến

Dự toán biến phí đơn Sản lượng tiêu

Dự toán biến phí QLDN = x

vị QLDN thụ theo dự toánhoặc sử dụng phương pháp thống kê kinh nghiệm, trên cơ sở tỷ lệ biếnphí QLDN trên biến phí trực tiếp trong và ngoài khâu sản xuất ở các kỳ kếtoán trước để xác định tỷ lệ biến phí bình quân giữa các kỳ Công thức để xácđịnh biến phí này như sau:

Dự toán biến phí QLDN = Dự toán biến phí trực x Tỷ lệ biến phí

Trang 35

f Dự toán chi phí tài chính

Thu nhập và chi phí tài chính liên quan đến kết quả kinh doanh của

DN Nội dung của thu nhập và chi phí tài chính bao gồm rất nhiều nội dung.Theo chế độ kế toán hiện nay, chi phí và thu nhập tài chính phải được tínhtoán đầy đủ trong kết quả hoạt động kinh doanh của DN

Dự toán chi phí tài chính trong phần này ta cần quan tâm đến chi phí lãivay mà DN phải trả Cơ sở để lập dự toán chi phí tài chính là số tiền cần vaydài hạn và ngắn hạn trong mỗi kỳ lập dự toán cũng như lãi suất vay phải trảcho từng khoản vay

g Dự toán báo cáo kết quả kinh doanh

Trên cơ sở các dự toán bộ phận đã lập, bộ phận KTQT lập các báo cáokết quả kinh doanh dự toán Số liệu dự toán trên các báo cáo tài chính này thểhiện kỳ vọng của các nhà quản lý tại DN và có thể được xem như một công

cụ quản lý của DN cho phép ra các quyết định về quản trị, nó cũng là cơ sở đểđánh giá tình hình thực hiện dự toán đã đề ra

Dự toán này được lập căn cứ vào các dự toán doanh thu, dự toán giávốn, và các dự toán chi phí ngoài sản xuất đã được lập Dự toán này có thểđược lập theo phương pháp toàn bộ hoặc theo phương pháp trực tiếp

h Dự toán vốn bằng tiền

Dự toán vốn bằng tiền được tính bao gồm việc tính toán các luồng tiềnmặt và tiền gửi ngân hàng thu vào và chi ra liên quan đến các mặt hoạt độngcủa DN trong các thời kỳ Dự toán này có thể được lập hằng năm, hằng quý

và nhiều khi cần thiết phải lập hằng tháng, tuần, ngày

Dự toán vốn bằng tiền là một trong những dự toán quan trọng của DN

Vì qua đó nó thể hiện khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán bằng tiền chongười lao động, các nhà cung cấp và đáp ứng các nhu cầu chi tiêu khác Dựtoán vốn bằng tiền là cơ sở để DN có dự toán vay mượn, phát hành trái phiếu,

Trang 36

cổ phiếu, kịp thời khi lượng tiền mặt thiếu hoặc có kế hoạch đầu tư sinh lợikhi lượng tiền mặt tồn quỹ thừa.

Khi lập dự toán vốn bằng tiền , DN cần chú ý đến các điểm sau :

 Dự toán vốn bằng tiền được lập từ các khoản thu nhập và chi phí của

dự toán hoạt động, dự toán vốn và dự toán chi phí tài chính

 Phải dự đoán khoản thời gian giữa doanh thu được ghi nhận và thời điểm thu tiền bán hàng thực tế

 Phải dự đoán khoản thời gian giữa chi phí đã ghi nhận và thời điểm thực tế trả tiền cho các khoản chi phí

 Phải loại trừ các khoản chi không tiền mặt Ví dụ : chi phí khấu haotài sản cố định hoặc chi phí dự phòng nợ khó đòi phải loại bỏ khi lập dự toánvốn bằng tiền

 Phải xây dựng số dư tồn quỹ tiền tối thiểu tại đơn vị Tồn quỹ tiền tốithiểu và các kết quả dự báo về luồng tiền thu chi là cơ sở để DN sử dụng hợp

lý tiền của mình

Công tác lập dự toán vốn bằng tiền giữ vai trò quan trọng trong hoạtđộng của DN Dự toán vốn bằng tiền là cơ sở để các nhà quản lý có dự toánvay nợ thích hợp, kịp thời, đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh Dự toán vốnbằng tiền cũng là cơ sở để DN sử dụng tài nguyên của mình có hiệu quả nhất.Trong điều kiện tin học hóa hiện nay trong kế toán, dự toán vốn bằng tiền cóthể lập cho từng ngày, tuần, tháng, nhờ vậy công tác quản lý tiền tại đơn vịđược chặt chẽ hơn

i Dự toán Bảng cân đối kế toán

Trên cơ sở các dự toán về vốn bằng tiền, về tồn kho, mà các bộ phận

đã lập, phòng kế toán lập dự toán bảng cân đối kế toán Dự toán này được lậpcăn cứ vào bảng cân đối kế toán của thời kỳ trước và tình hình nhân tố củacác chỉ tiêu được dự tính trong kỳ

Trang 37

Ở các DN thương mại, việc lập dự toán cũng chủ yếu dựa vào dự báonhu cầu thị trường Đây là công việc khó khăn và quan trọng nhất mà DNphải tiến hành Điểm khác biệt trong qúa trình xây dựng dự toán ở DNthương mại so với DN sản xuất là DN không quan tâm đến chi phí sản xuất

mà chỉ lập dự toán mua vào và dự toán dự trữ cuối kỳ Dự toán mua hàng cònphản ảnh các khoản phải trả và thời điểm thanh toán thực tế trong kỳ

Quá trình xây dựng dự toán ở các DN du lịch dịch vụ có những đặc thùriêng Các DN này không bán sản phẩm hàng hóa mà chỉ cung cấp dịch vụnhư giặt ủi, lưu trú, lữ hành, ăn uống Do vậy, qúa trình xây dựng dự toánbắt đầu từ công tác dự báo doanh thu đạt được từ hoạt động cung cấp dịch vụ

Ở các DN này, quá trình xây dựng dự toán đơn giản hơn vì các DN này không

có nhu cầu về sản xuất hoặc mua một khối lượng lớn sản phẩm hàng hóa.Việc lập dự toán chủ yếu quan tâm đến chi phí hoạt động của DN

Dự toán linh hoạt

Khi DN lập dự toán dựa trên một mức hoạt động cụ thể thì dự toán nàyđược gọi là dự toán tĩnh Dự toán tĩnh không phù hợp với việc phân tích vàkiểm soát chi phí, nhất là chi phí sản xuất chung, bởi vì mức hoạt động thực

tế thường có sự khác biệt so với mức hoạt động dự toán Chính vì vậy, cầnxây dựng một loại dự toán có thể đáp ứng được yêu cầu phân tích trongtrường hợp mức hoạt động thực tế khác với mức hoạt động mà dự toán tĩnh

đã lập, đó chính là dự toán linh hoạt Dự toán linh hoạt là dự toán được xâydựng dựa trên một phạm vi hoạt động thay vì một mức hoạt động

Dự toán linh hoạt khác với dự toán tĩnh ở hai điểm cơ bản Thứ nhất,

dự toán linh hoạt không dựa trên một mức hoạt động mà dựa trên một phạm

vi hoạt động Thứ hai là kết quả thực hiện không phải so sánh với số liệu dựtoán ở mức hoạt động dự toán Nếu mức hoạt động thực tế khác với mức hoạtđộng dự toán, một dự toán mới sẽ được lập ở mức hoạt động thực tế để so

Trang 38

sánh với kết quả thực hiện.

Dự toán linh hoạt được xây dựng dựa trên mô hình “ứng xử” của chiphí Cách “ứng xử” của chi phí là thuật ngữ để biểu thị sự thay đổi của chi phítương ứng với các mức độ hoạt động đạt được Các chỉ tiêu thể hiện mức độhoạt động cũng rất đa dạng Trong DN sản xuất ta thường gặp các chỉ tiêu thểhiện mức độ hoạt động như: khối lượng công việc đã thực hiện, khối lượngsản phẩm sản xuất, số giờ máy hoạt động Khi xem xét cách ứng xử của chiphí, cũng cần phân biệt rõ phạm vi hoạt động của DN với mức độ hoạt động

mà DN đạt được trong kỳ Phạm vi hoạt động chỉ rõ các năng lực hoạt độngtối đa như công suất máy móc thiết bị, số giờ lao động của công nhân mà

DN có thể khai thác, còn mức độ hoạt động chỉ các mức hoạt động cụ thể mà

DN thực hiện trong một kỳ trong giới hạn của phạm vi hoạt động đó

1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC LẬP DỰ TOÁN

Trang 39

1.2.2 Thời gian hoạt động của DN

Thời gian hoạt động của DN được tính từ khi DN thành lập đến thờiđiểm nghiên cứu O‟Connor và cộng sự (2004) cho rằng các công cụ cần thờigian để vận dụng, nhưng ngược lại, thời gian hoạt động có thể là rào cản choviệc sử dụng những công cụ KTQT mới vì không muốn sự thay đổi Tuynhiên, kết quả nghiên cứu của họ cho thấy các DN có thời gian hoạt độngcàng lâu sử dụng càng nhiều KTQT [45] Nghiên cứu của Đoàn Ngọc PhiAnh (2012) cho thấy ảnh hưởng của nhân tố thời gian hoạt động không có sựtác động lớn đến với việc áp dụng công cụ KTQT trong các DN vừa và lớn ởViệt Nam [1]

1.2.3 Cạnh tranh

Mức độ cạnh tranh của một DN thường được đo lường dựa trên mức

độ cạnh tranh về nguyên liệu, về nhân sự, bán hàng và phân phối, chất lượngsản phẩm, sự đa dạng các sản phẩm, giá cả Firth (1996) tìm thấy tỷ lệ ápdụng các công cụ KTQT ở các DN Trung Quốc tăng lên cùng với sự tăng lêncủa mức độ cạnh tranh [23] Mia và Clarke (1999) cũng cho rằng cạnh tranhtạo ra sự hỗn độn, không chắc chắn cũng như rủi ro cho DN Do đó, trongđiều kiện cạnh tranh, các DN sẽ điều chỉnh hệ thống kiểm soát của họ để đáplại sự đe dọa và những cơ hội từ môi trường cạnh tranh [41] Theo nghiên cứucủa Libby và Waterhouse (1996), Granlund và Lukka (1998), Hoque (2008),Đoàn Ngọc Phi Anh (2012) cho thấy mức độ cạnh tranh càng cao sẽ góp phầnlàm gia tăng việc sử dụng KTQT [38], [24], [30], [1] Ngược lại, nghiên cứucủa Williams và Seaman (2001) cho mức độ cạnh tranh tỷ lệ nghịch với sựthay đổi của KTQT [52]

1.2.4 Phân cấp quản lý trong DN

Phân cấp quản lý đề cập đến mức độ tự chủ của nhà quản trị các cấp,cung cấp cho nhà quản trị các cấp trách nhiệm lớn hơn trong việc hoạch định

Trang 40

và các hoạt động kiểm soát cũng như khả năng tiếp cận các nguồn thông tincủa tổ chức Williams và Seaman (2001) cho rằng, giữa quản lý tập trung và

sự thay đổi của hệ thống KTQT có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau [52].Ngược lại, Soobaroyen và Poorundersing (2008), Đoàn Ngọc Phi Anh (2012)lại tìm thấy có mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa phân cấp quản lý và việc áp dụng

hệ thống KTQT [47], [1] Trong khi đó, Libby và Waterhouse (1996),Chenhall và Morris (1986) lại không tìm thấy bằng chứng về sự tác động củaphân cấp quản lý lên sự thay đổi của KTQT [38], [17]

1.2.5 Công nghệ sản xuất

Công nghệ được đo lường dựa trên các khía cạnh về công nghệ sảnxuất linh hoạt; máy móc công nghệ số và các loại công nghệ khác nói chung.Nghiên cứu tác động của công nghệ sản xuất tiến tiến (AMTs) đối với hệthống KTQT, Tayles và Drury (1994) nhận thấy rằng các công nghệ này cómột ảnh hưởng quan trọng hoặc rất quan trọng vào việc thay đổi hệ thốngKTQT của công ty trong việc đo lường hiệu suất và kiểm soát [49] Abdel –Maksoud và cộng sự (2005) phát hiện ra rằng các công cụ KTQT tương đốiphức tạp thường tồn tại trong các DN đã đầu tư đáng kể AMTs [10] Đồngthuận với quan điểm này, Al-Omiri và Drury (2007) cũng tìm thấy mức độphức tạp của hệ thống chi phí có sự liên kết với mức độ sử dụng các kỹ thuậtsản xuất tinh gọn [12] Kết quả nghiên cứu của Szychta (2002) cũng chỉ rarằng công nghệ là một trong những động lực đằng sau sự thay đổi trong việc

sử dụng các công cụ KTQT Ba Lan [49]

1.2.6 Giáo dục

Libby và Waterhouse (1996) đo lường năng lực học tập thông qua sốlượng hệ thống KTQT tồn tại trong DN Họ tìm thấy mối quan hệ tỷ lệ thuậngiữa năng lực của một tổ chức với sự thay đổi của hệ thống KTQT [38].O‟Connor và cộng sự (2004) cho rằng việc vận dụng KTQT lệ thuộc vào vấn

Ngày đăng: 28/05/2019, 15:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[11] Al-Omiri, M. (2003), The diffusion of management accounting innovations: a study of the factors influencing the adoption, implementation levels and success of ABC in UK companies, University of Huddersfield, United Kingdom Sách, tạp chí
Tiêu đề: The diffusion of management accounting innovations: a study of the factors influencing the adoption, implementation levels and success of ABC in UK companies
Tác giả: Al-Omiri, M
Năm: 2003
[12] Al-Omiri, M., and Drury, C. (2007), “A survey of factors influencing the choice of product costing systems in UK organizations”, Management Accounting Research, 18(4), 399-424 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A survey of factors influencing thechoice of product costing systems in UK organizations”,"Management Accounting Research
Tác giả: Al-Omiri, M., and Drury, C
Năm: 2007
[13] Barrett, M. E. & Fraser, L. (1977). Conflicting roles in budgeting for operations. Harvard business review 55(4), 137-146 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Harvard business review
Tác giả: Barrett, M. E. & Fraser, L
Năm: 1977
[14] Bjornenak, T. (1997), “Diffusion and accounting: the case of ABC in Norway”, Management Accounting Research, 8(1), 3-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diffusion and accounting: the case of ABC in Norway”, "Management Accounting Research, 8
Tác giả: Bjornenak, T
Năm: 1997
[16] Catapan et al (2012), “Management accounting: An analysis of its use in small and medium-size building materials companies in Southern Brazil”, Basic Research Journal of Business Management and Accounts ISSN 2315-6899, Vol. 1(4), 72-77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Management accounting: An analysis of its use insmall and medium-size building materials companies in SouthernBrazil”, "Basic Research Journal of Business Management and Accounts ISSN
Tác giả: Catapan et al
Năm: 2012
[17] Chenhall, R. H., and Morris, D. (1986), “The impact of structure, environment, and interdependence on the perceived usefulness of management accounting systems”, The Accounting Review, LXI(1), 16-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The impact of structure, environment, and interdependence on the perceived usefulness of management accounting systems”, "The Accounting Review
Tác giả: Chenhall, R. H., and Morris, D
Năm: 1986
[18] Chenhall, R. H., and Langfield-Smith, K. (1998), “Adoption and benefits of management accounting practices: an Australian study”, Management Accounting Research, 9(1), 1-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Adoption and benefitsof management accounting practices: an Australian study”,"Management Accounting Research
Tác giả: Chenhall, R. H., and Langfield-Smith, K
Năm: 1998
[20] Chia, Y. M. (1995), “Decentralization, management accounting system (MAS) information characteristics and their interaction effects on managerial performance: a Singapore study”, Journal of Business Finance and Accounting, 22(6), 811-830 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Decentralization, management accounting system (MAS) information characteristics and their interaction effects on managerial performance: a Singapore study”, "Journal of Business Finance and Accounting
Tác giả: Chia, Y. M
Năm: 1995
[21] Cronbach, L.J. (1951), “Coefficient alpha and the internal structure of tests”, Psychometrika, 16(3), 297–334 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Coefficient alpha and the internal structure of tests”, "Psychometrika
Tác giả: Cronbach, L.J
Năm: 1951
[22] El-Ebaishi, M., Karbhari, Y. and Naser, K. (2003), “Empirical evidence on the use of management accounting techniques in a sample of Saudi manufacturing companies”, International Journal of commerce and management, 13(2), 74-101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Empirical evidence on the use of management accounting techniques in a sample of Saudi manufacturing companies”, "International Journal of commerce and management
Tác giả: El-Ebaishi, M., Karbhari, Y. and Naser, K
Năm: 2003
[23] Firth, M. (1996), “The diffusion of managerial accounting procedures in the People„s Republic of China and the influence of foreignpartnered joint ventures”, Accounting, Organizations and Society, vol. 21, no. 7/8, 629-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The diffusion of managerial accounting procedures in the People„s Republic of China and the influence of foreign partnered joint ventures”, "Accounting, Organizations and Society
Tác giả: Firth, M
Năm: 1996
[24] Granlund, M., Lukka, K. (1998), “Towards increasing business orientation: Finnish management accountants in a changing cultural context” Management Accounting Research, 9(2), 185-211 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Towards increasing business orientation: Finnish management accountants in a changing culturalcontext” "Management Accounting Research
Tác giả: Granlund, M., Lukka, K
Năm: 1998
[25] Gordon, L. A., and Narayanan, V. K. (1984), “Management accounting systems, perceived environmental uncertainty and organization structure: an empirical investigation”, Accounting, Organization and Society, 9(1), 33-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Management accounting systems, perceived environmental uncertainty and organization structure: an empirical investigation”, "Accounting, Organization and Society
Tác giả: Gordon, L. A., and Narayanan, V. K
Năm: 1984
[26] Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., and Anderson, R. E. (2010), Multivariate Data Analysis, New Jersey, Pearson Academic Sách, tạp chí
Tiêu đề: Multivariate Data Analysis
Tác giả: Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., and Anderson, R. E
Năm: 2010
[28] Hope, J. & Fraser, R. (2003), Beyond budgeting, Harvard Business School Press, Boston Sách, tạp chí
Tiêu đề: Beyond budgeting
Tác giả: Hope, J. & Fraser, R
Năm: 2003
[29] Hoque, Z., and James, W. (2000), “Linking balanced scorecard measures to size and market factors: impact on organizational performance”, Journal of Management Accounting Research, 12, 1-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Linking balanced scorecard measuresto size and market factors: impact on organizational performance”,"Journal of Management Accounting Research
Tác giả: Hoque, Z., and James, W
Năm: 2000
[30] Hoque, Z. (2008), “Predicting change in management accounting and control systems: additional evidence from Australia”, Social Science Research Network Sách, tạp chí
Tiêu đề: Predicting change in management accounting and control systems: additional evidence from Australia”
Tác giả: Hoque, Z
Năm: 2008
[31] Horngen, Foster, Datar, Rajan, Ittner (2008), Cost Accounting Managerial Emphasis, Amazon Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cost Accounting Managerial Emphasis
Tác giả: Horngen, Foster, Datar, Rajan, Ittner
Năm: 2008
[32] Ismail, N.A. and King, M. (2007), “Factors influencing the alignment of accounting information systems in small and medium sized Malaysian manufacturing firms”, Journal of Information Systems and Small Business, vol. 1, no. 1/2, . 1-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Factors influencing the alignment ofaccounting information systems in small and medium sizedMalaysian manufacturing firms”, "Journal of Information Systems and Small Business
Tác giả: Ismail, N.A. and King, M
Năm: 2007
[33] Joshi, P. L. (2001), “The international diffusion of new management accounting practices: The case of India”, Journal of International Accounting Auditing and Taxation,10(1), 85-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The international diffusion of new management accounting practices: The case of India”, "Journal of International Accounting Auditing and Taxation
Tác giả: Joshi, P. L
Năm: 2001

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w