1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Yếu tố khoa học trong lực lượng sản xuất với việc phát triển khoa học công nghệ ở thành phố đà nẵng

114 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, vấn đề cấp thiết đượcđặt ra hiện nay là phải nghiên cứu một cách có hệ thống và sâu sắc vấn đề yếu tố khoa học trong lực lượng sản xuất, vai trò của khoa học - công nghệ trong sự

Trang 1

PHẠM ĐỨC THỌ

YẾU TỐ KHOA HỌC TRONG LỰC LƯỢNG

SẢN XUẤT VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN

KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ Ở

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Đà Nẵng – Năm 2015

Trang 2

PHẠM ĐỨC THỌ

YẾU TỐ KHOA HỌC TRONG LỰC LƯỢNG

SẢN XUẤT VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN

Người hướng dẫn khoa học: TS DƯƠNG ANH HOÀNG

Đà Nẵng – Năm 2015

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận văn

Phạm Đức Thọ

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6

5 Kết cấu của luận văn 6

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 7

CHƯƠNG 1: KHOA HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC TRONG LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT 11

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 11

1.1.1 Các khái niệm về khoa học, công nghệ 11

1.1.2 Khái niệm lực lượng sản xuất theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin 16

1.2 VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT 23

1.2.1 Khoa học - công nghệ trong sự phát triển của xã hội loài người 23

1.2.2 Vai trò của khoa học - công nghệ đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất 26

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY 33 2.1.TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 33

2.1.1 Vị trí địa lý, kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng 33 2.1.2 Vị trí và lợi thế của khoa học - công nghệ ở thành phố Đà Nẵng.36

Trang 5

2.2.1 Thực trạng nguồn nhân lực khoa học - công nghệ ở thành phố ĐàNẵng 382.2.2 Khoa học - công nghệ, nhu cầu tất yếu của sự phát triển thành phốhiện đại 512.2.3 Nhận xét, đánh giá việc phát triển khoa học - công nghệ ở thànhphố Đà Nẵng 552.3 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ Ở THÀNHPHỐ ĐÀ NẴNG 63TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 71

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ Ở THÀNH PHỐ

ĐÀ NẴNG 72

3.1 QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ

Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 723.1.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến phát triển khoa học –công nghệ 723.1.2 Quan điểm cơ bản về phát triển khoa học và công nghệ của Đảng

và Nhà nước đến năm 2020 753.1.3 Quan điểm cơ bản phát triển khoa học và công nghệ của thành phố

Đà Nẵng 5 năm 2016- 2020 793.1.4 Định hướng phát triển khoa học – công nghệ ở thành phố Đà Nẵngđến năm 2020 803.2 NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC –CÔNG NGHỆ Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY 823.2.1 Nhóm giải pháp đổi mới, đào tạo, thu hút nguồn nhân lực chấtlượng cao 82

Trang 6

3.2.3 Nhóm giải pháp hoàn thiện môi trường pháp lý, đổi mới tổ chức,quản lý hoạt động khoa học và công nghệ 923.2.4 Nhóm giải pháp nghiên cứu và ứng dụng, phát triển chuyển giaocông nghệ phục vụ việc phát triển kinh tế - xã hội 953.2.5 Nhóm giải pháp hội nhập, giao lưu hợp tác nghiên cứu đào tạonguồn nhân lực, hội nghị, hội thảo, tư vấn, trao đổi, học hỏi chuyển giao, pháttriển chính sách công nghệ 97TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 100

KẾT LUẬN 101 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

Trang 7

Số hiệu Tên bảng Trang bảng

2.1 Biến đổi cơ cấu dân số, lao động và việc làm của Đà Nẵng 392.2 Lực lượng lao động ở Đà Nẵng giai đoạn 1997 – 2009 402.3 Lực lượng lao động phân theo trình độ giai đoạn 1997 - 2011 422.4 Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan 45

hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc thành phố Đà Nẵng

2.5 Chuyển đổi về chất lượng của công chức hành chính 462.6 Sự thay đổi về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức 47

phường, xã

2.7 Cơ cấu nhân lực theo ngành nghề ở Đà Nẵng 1997 - 2011 49

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong sự phát triển của nhân loại, chúng ta đã và đang chứng kiếnnhiều về sự thay đổi lớn trong toàn bộ đời sống xã hội, từ thay đổi lớn về kinh

tế, chính trị, xã hội cho đến nhận thức khoa học Đặc biệt vào những thập niêncuối của thế kỷ XX, sự phát triển hùng mạnh của các nước công nghiệp mới(NICs) nói chung và Nhật Bản nói riêng, đó là một sự tăng trưởng về kinh tếhết sức lớn mạnh, điều mà trong lịch sử chưa từng thấy Điều đó đã đặt ranhiều câu hỏi nguyên nhân nào làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế ngạcnhiên ấy? Chắc chắn sẽ có nhiều câu trả lời để giải thích về sự thay đổi lớnmạnh đó Tuy nhiên cách thay đổi phương thức sản xuất hay nói đúng hơn là

sự áp dụng khoa học vào lực lượng sản xuất để tạo ra một lượng tài sản khổng

lồ và giữ mức tăng trưởng là câu trả lời xứng đáng nhất để chứng minh cho sựphát triển không ngừng của thế giới Chính vì vậy khoa học đã và đang tácđộng ngày càng mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống nhân loại, mà kết quảquan trọng nhất đó là tạo được bước ngoặt phát triển về chất của lực lượngsản xuất Vì vậy, khoa học chính là nguyên nhân đầu tiên tạo ra sự thay đổi,thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt của nhân loại Điều đó đã chứng minh được

những dự báo của Mác: Khoa học- kỹ thuật sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp - điều mà C.Mác đã phát biểu từ những năm giữa của thế kỷ XIX.

Toàn cầu hóa đang mở ra nhiều cơ hội cho tất cả các nước trên thế giới,

ở đó các nước đang được học hỏi và cạnh tranh nhau nhằm để tránh khỏi nguy

cơ tụt hậu Trước sự phát triển không ngừng ấy, khoa học trở thành như mộtkim chỉ nam tiểu biểu nhất mà các nước đều phải ứng dụng nó vào cho sựphát triển chung của mình, bằng cách này hay cách khác mọi sự phát triển

Trang 9

chung của các nước, khoa học trở thành một nấc thang quan trọng không thểthiếu cho sự phát triển chung của mọi quốc gia.

Nhìn từ mọi phương diện hay mức độ khác nhau, khoa học - công nghệ

đã có tầm ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển chung của mọi quốc gia trênthế giới trong đó có Việt Nam Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay - khi nước tađang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Khoahọc - công nghệ được Đảng và Nhà nước ta chú trọng đầu tư phát triển mộtcách chú trọng nhất, đó là yếu tố quan trọng đảm bảo cho thắng lợi của sựnghiệp xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trong các văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là trong các

kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII đến nay, vấn đề giáo dục - đào tạo;khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu được Đảng ta nhấn mạnh và đưa

ra chính sách nâng cao dân trí để tiếp thu khoa học và công nghệ tiên tiến,từng bước tiến vào hội nhập nền văn minh quốc tế Văn kiện Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ VIII của Đảng khẳng định: “Khoa học và công nghệ là độnglực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Tại Đại hội IX, văn kiện Đại hộiĐảng ta lại khẳng định: “Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt”việc phát triển khoa học công nghệ là nền tảng và động lực của công nghiệphóa hiện đại hóa” Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X Đảng ta đề cập vấn đềkhoa học công nghệ một cách sâu sắc hơn: “Phát triển mạnh khoa học và côngnghệ, giáo dục và đào tạo; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêucầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và phát triển kinh tế tri thức” Đặcbiệt trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI gần đây vấn đề khoahọc và công nghệ được Đảng và Nhà nước ta đề cập một cách cụ thể sâu, sắctrong từng chi tiết đó là:

“Phát triển mạnh khoa học, công nghệ làm động lực đẩy nhanh quátrình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế tri thức”[26; tr.78]

Trang 10

Trong đó góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranhcủa nền kinh tế, sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước; nâng tỉ lệ đónggóp của yếu tố năng suất tổng hợp vào tăng trưởng Thực hiện đồng bộ banhiệm vụ chủ yếu: Nâng cao năng lực khoa học, công nghệ; đổi mới cơ chếquản lý; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng.

“Phát triển năng lực khoa học, công nghệ có trọng tâm, trọng điểm, tậptrung cho những ngành, lĩnh vực then chốt, mũi nhọn, đảm bảo đồng bộ về cơ

sở vật chất, nguồn nhân lực Nhà nước tăng mức đầu tư và ưu tiên đầu tư chocác nhiệm vụ, các sản phẩm khoa học, công nghệ trọng điểm quốc gia, đồngthời đẩy mạnh xã hội hoá, huy động mọi nguồn lực, đặc biệt là của các doanhnghiệp cho đầu tư phát triển khoa học, công nghệ”[26; tr.218]

“Đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý, tổ chức, hoạt động khoa học, côngnghệ, xem đó là khâu đột phá để thúc đẩy phát triển và nâng cao hiệu quả củakhoa học, công nghệ Chuyển các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng sang cơ chế tựchủ, tự chịu trách nhiệm; phát triển các doanh nghiệp khoa học và công nghệ,thị trường khoa học, công nghệ Đổi mới căn bản cơ chế sử dụng kinh phí nhànước; xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả các chương trình, đề tàikhoa học và công nghệ theo hướng phục vụ thiết thực mục tiêu, nhiệm vụ pháttriển kinh tế - xã hội, lấy hiệu quả ứng dụng làm thước đo chủ yếu đánh giáchất lượng công trình Thực hiện đồng bộ chính sách đào tạo, thu hút, trọngdụng, đãi ngộ xứng đáng nhân tài khoa học, công nghệ ”[26; tr.219]

Và cuối cùng là “đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng; phát triển đồng bộkhoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ Khoahọc xã hội làm tốt nhiệm vụ tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, dự báo xuhướng phát triển, cung cấp luận cứ cho việc xây dựng đường lối, chính sáchphát triển đất nước trong giai đoạn mới Hướng mạnh nghiên cứu, ứng dụngkhoa học, công nghệ phục vụ các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế, xã

Trang 11

hội, đặc biệt là trong những ngành, những lĩnh vực then chốt, mũi nhọn Ưutiên phát triển công nghệ cao, đồng thời sử dụng hợp lý công nghệ sử dụngnhiều lao động Nhanh chóng hình thành một số cơ sở nghiên cứu - ứng dụngmạnh, gắn với các doanh nghiệp chủ lực, đủ sức tiếp thu, cải tiến và sáng tạocông nghệ mới Xây dựng và thực hiện chương trình đổi mới công nghệ quốcgia; có chính sách khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc mọi thànhphần kinh tế đổi mới công nghệ Kết hợp chặt chẽ nghiên cứu và phát triểntrong nước với tiếp nhận công nghệ nước ngoài”[26; tr.220].

Đà Nẵng là một trong những đô thị lớn của đất nước, là trung tâm kinh

tế, văn hóa, giáo dục, khoa học…của các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.Trong những năm gần đây, Đà Nẵng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọngtrên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội nói chung, điều đó khẳng định được vịthế vai trò của Đà Nẵng trong khu vực miền Trung và Tây Nguyên, góp phầncùng cả nước tạo tiền đề vững chắc để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thànhmột nước công nghiệp hiện đại Tuy nhiên bên những thành tựu đáng biểudương ấy thì vấn đề phát triển và áp dụng khoa học - công nghệ vào phát triểncông nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung ở Đà Nẵng còngặp nhiều khó khăn Dù vậy chúng ta vẫn có thể khẳng định phát triển khoahọc - công nghệ góp phần vào nâng cao cho sự phát triển của lực lượng sảnxuất, mục đích phát triển nhanh công nghiệp hóa hiện đại hóa và phát triểnkinh tế xã hội là cách tất yếu mà hiện nay không chỉ Đà Nẵng mà nhiều thànhphố tỉnh thành trong cả nước đều phải thực hiện Do đó, vấn đề cấp thiết đượcđặt ra hiện nay là phải nghiên cứu một cách có hệ thống và sâu sắc vấn đề yếu

tố khoa học trong lực lượng sản xuất, vai trò của khoa học - công nghệ trong

sự phát triển của lực lượng sản xuất; qua đó tìm ra những biện pháp, phươnghướng để phát triển khoa học - công nghệ ở thành phố Đà Nẵng góp phần vào

sự phát triển chung của thành phố

Trang 12

Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề phát triển khoa học - công nghệ ở thànhphố Đà Nẵng là hết sức cần thiết, có tính cấp bách về ý nghĩa khoa học và giá

trị thực tiễn Đó là lý do tôi chọn đề tài “ Yếu tố khoa học trong lực

lượng sản xuất với việc phát triển khoa học - công nghệ ở thành phố Đà Nẵng” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục tiêu: Từ sự phân tích vai trò của yếu tố khoa học trong lực lượngsản xuất, luận văn đưa ra một số định hướng và xây dựng các giải pháp nhằmphát triển khoa học - công nghệ ở thành phố Đà Nẵng hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phát triển khoa học - công nghệ

Trang 13

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủnghĩa Mác - Lênin về lực lượng sản xuất Chủ trương của Đảng Cộng sản ViệtNam về phát triển khoa học - công nghệ cùng các lý thuyết kinh tế liên quanđến đề tài

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được thực hiện trên cơ sở phươngpháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp cụ thể như: Phân tích tổng hợp, diễn dịch – quy nạp, kết hợp lôgich và lịch sử, thống kê, so sánh,tổng kết thực tiễn, kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã dự báo

-* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

- Là luận cứ khoa học cho các chủ trương, chính sách, các quy hoạch,

kế hoạch và chương trình phát triển của thành phố

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm về việcphát triển khoa học - công nghệ của Đà Nẵng

- Cơ sở lý luận và thực tiễn của luận văn sẽ đóng góp vào việc pháttriển khoa học - công nghệ ở thành phố Đà Nẵng, góp phần vào công cuộc đổimới và phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn thành phố

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và mục lục, luận văn gồm có 3 chương và 7 tiết:

Chương 1: Khoa học và vai trò khoa học trong lực lượng sản xuất.Chương 2: Thực trạng và xu hướng phát triển của khoa học - công nghệ

ở thành phố Đà Nẵng hiện nay

Chương 3: Quan điểm, mục tiêu và những giải pháp chủ yếu để phát triển khoa học - công nghệ ở thành phố Đà Nẵng

Trang 14

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Do tầm quan trọng của yếu tố khoa học và công nghệ đã tác động mạnh

mẽ đến sự phát triển của nhân loại Thành tựu của cuộc cách mạng khoa học –công nghệ đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội, điều này đã làm chonhiều nhà nghiên cứu kinh tế trong và ngoài nước quan tâm sâu sắc Đã cómột số công trình nghiên cứu, sách và bài báo, bài tham luận ở nhiều cuộc hộithảo liên quan đến đề tài luận văn từ nhiều góc độ khác nhau

- “Khoa học và công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững” ( Bộ khoa học và công nghệ, cục thông tin khoa học và

công nghệ quốc gia, năm 2012), nội dung đã đề cập rất rõ bối cảnh và xuhướng phát triển khoa học và công nghệ trên thế giới, ngoài ra tác giả đã trìnhbày về thực trạng phát triển khoa học và công nghệ của Việt Nam trong giaiđoạn 1996 - 2011 Từ đó đề ra các định hướng và gải pháp phát triển khoa học

và công nghệ đến năm 2020

- “Khoa học và công nghệ thế giới – thách thức và vận hội mới” ( Bộ

khoa học và công nghệ, Trung tâm thông tin khoa học và công nghệ quốc gia,năm 2005), nội dung công trình nghiên cứu đến các xu hướng phát triển khoahọc và công nghệ hiện nay, coi khoa học và công nghệ là động lực phát triểncủa toàn thể nhận loại Vô số các ngành công nghệ mới được tạo ra trong cácngành công nghệ cao như “công nghệ nanô, công nghệ thông tin, công nghệvật liệu, công nghệ sinh học, công nghệ năng lượng mới… lực lượng sản xuất

đã thực sự có bước phát triển nhảy vọt và đạt tới trình độ chưa từng có tronglịch sử phát triển của nhân loại”

- “Để khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực then chốt của

sự phát triển kinh tế - xã hội” (Trần Đắc Hiến tạp chí triết học tháng 6/ 2012),

tác giả đã đưa ra những đánh giá khái quát về thành tựu cũng như hạn chế củakhoa học và công nghệ ở nước ta thời gian qua Trên cở sở đó, luận giải một

Trang 15

số giải pháp cơ bản nhằm tạo ra sự phát triển mang tính đột phá của khoa học

và công nghệ, phát huy vai trò động lực của khoa học và công nghệ đối với sựphát triển kinh tế - xã hội của đất nước

- “Để khoa học và công nghệ thực sự là nền tảng và động lực trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (Hoàng Văn Phong, Bộ trưởng bộ

Khoa học công nghệ và môi trường tạp chí Cộng sản tháng 10/2003), nộidung bài viết đã đề cập đến vai trò khoa học công nghệ là nền tảng, động lựccủa công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, qua đó nêu ra một số giải pháp

để phát triển khoa học - công nghệ

- “Vai trò của khoa học - công nghệ đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất ở thành phố Đà Nẵng hiện nay” (Trương Thị Lan, năm 2014), nội

dung luận văn, tác giả đã trình bày về vai trò của khoa học - công nghệ đối với

sự phát triển của lực lượng sản xuất và vai trò của khoa học - công nghệ đốivới sự phát triển của lực lượng sản xuất ở thành phố Đà Nẵng, qua đó tác giả

đã nêu ra một số giải pháp nhằm áp dụng khoa học - công nghệ để thúc đẩy sựphát triển của lực lượng sản xuất ở Đà Nẵng

Bên cạnh đó có các công trình nghiên cứu như: “Vai trò của tri thức khoa học trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay” (Trần Hồng Lưu, Nxb Chính trị quốc gia – Sự Thật năm 2009 ), đề cập

đến bản chất, cấu trúc tri thức khoa học, đồng thời làm rõ vai trò quan trọngcủa tri thức khoa học trong đời sống xã hội và quá trình công nghiệp hóa, hiện

đại hóa của Việt Nam Công trình nghiên cứu“Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Đà Nẵng” (Dương Anh

Hoàng, Nxb Chính trị quốc gia - Sự Thật năm 2012 ), tác giả đề cập rất rõ vềnội dung cơ bản về nguồn nhân lực, những đặc điểm của quá trình côngnghiệp hóa ở Đà Nẵng, đồng thời tác giả đưa ra giải pháp phát triển nguồnnhân lực phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đà Nẵng

Trang 16

Đặc biệt, chủ trương của Đảng và Nhà nước về khoa học - công nghệ, banhành trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 BCH TW Đảng khóa XI ngày1.1.2012 Nghị quyết đã nêu rõ định hướng phát triển khoa học - công nghệ đếnnăm 2020 và tầm nhìn 2030 Với việc phát triển và ứng dụng khoa học – côngnghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để

phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc Bên cạnh đó có: Luật khoa học và

công nghệ được kỳ họp thứ 7 Quốc Hội khóa X thông qua tháng 6 năm 2000 là

bộ luật của Nhà nước Việt Nam về các vấn đề khoa học - công nghệ

Đối với địa phương Đà Nẵng, tiếp cận bản báo cáo của Sở Khoa học và

công nghệ thành phố Đà Nẵng số 32/BC- SKHCN “Đánh giá tình hình hoạt động khoa học và công nghệ 5 năm 2011 - 2015 và phương hướng phát triển

5 năm 2016 – 2020”, báo cáo đã trình bày tình hình thực hiện kế hoạch 5 năm

2011- 2015 và chiến lược phát triển khoa học công nghệ đến năm 2020, qua

đó báo cáo đề ra phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển khoa học công

nghệ 5 năm 2016- 2020 Và công trình: Nghị quyết Đại hội Đại biểu lần thứ

IX (nhiệm kỳ 2005 – 2010), thứ XX (nhiệm kỳ 2010 – 2015) của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng; Báo cáo quy hoạch tổng thể ngành khoa học và công nghệ thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 Ngoài việc đánh giá tình hình và phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố, các công trình này

đã đi sâu nghiên cứu sự tác động của khoa học – công nghệ dưới nhiều góc độ

và phương diện khác nhau Tuy nhiên chưa làm rõ được sự thay đổi lớn vềchất của sự lực lượng sản xuất dưới tác động của khoa học và công nghệ

Như vậy cho đến nay, do những góc độ khác nhau trong mục đích,phương pháp tiếp cận, thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình nào nghiên

cứu chuyên sâu như luận văn này về đề tài “Yếu tố khoa học trong lực lượng

sản xuất với việc phát triển khoa học - công nghệ ở thành phố Đà Nẵng”

một cách có hệ thống cả về cơ sở lý luận thực tiễn, dưới góc độ triết học,

Trang 17

nhằm làm rõ lý luận về khoa học – công nghệ và học thuyết triết học Mác –Lênin về lực lượng sản xuất, đặc biệt hơn, đề tài này còn làm rõ vai trò củakhoa học - công nghệ ảnh hưởng đến sự phát triển của lực lượng sản xuất.Ngoài ra, luận văn này còn đề xuất và phân tích những giải pháp cần thiết,mang tính đặc thù, để phát triển khoa học và công nghệ của thành phố ĐàNẵng trong giai đoạn hiện nay.

Trong luận văn này, tác giả đã kế thừa những thành quả nghiên cứu củanhững công trình trong nước, đồng thời xây dựng hệ thống hóa những vấn đề

cơ bản về khoa học và công nghệ của thành phố Từ đó đánh giá thực trạng vàlàm rõ định hướng, phân tích sâu hệ thống nhóm giải pháp cơ bản để pháttriển khoa học - công nghệ của thành phố Đà Nẵng

Trang 18

CHƯƠNG 1KHOA HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC

TRONG LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

1.1.1 Các khái niệm về khoa học, công nghệ

* Khái niệm khoa học

Khái niệm khoa học đã xuất hiện từ rất sớm, đó là một quá trình nhằmnghiên cứu, khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới…về tự nhiên

và xã hội Trong lịch sử có rất nhiều quan niệm khác nhau về khoa học

Trong từ điển Triết học, Nhà xuất bản Tiến bộ 1975 viết: “Khoa học lĩnh vực hoạt động nghiên cứu nhằm mục đích sản xuất ra những kiến thức mới về tự nhiên, xã hội và tư duy bao gồm tất cả những điều kiện và những yếu tố của sản xuất này”

-Trong từ điển Bách khoa Việt Nam, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa

Hà Nội 2002 viết: “Khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy được tích lũy trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, được thể hiện bằng khái niệm phán đoán, học thuyết”.

Ngoài ra, theo quan điểm triết học Mác - Lênin, khoa học được hiểu làmột hình thái ý thức xã hội

Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu một cách khái quát về khoa học: Khoa học là một hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội.

Ngoài ra tùy vào mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận của từng ngành,

bộ môn khác nhau thì khái niệm khoa học cũng được tìm hiểu ở các góc độkhác nhau:

Trang 19

- Xem xét khoa học là một hoạt động đặc thù.

Trước đây, hoạt động khoa học còn mang tính đơn lẻ, cá biệt của một cánhân hay một nhóm trong xã hội kém phát triển Nhưng ngày nay khoa học đãtrở thành một hoạt động nghề nghiệp được xã hội hóa cao Đó là một dạng xãhội đặc biệt, hướng vào những việc tìm kiếm những điều chưa biết, là hoạtđộng gian khổ, có nhiều rủi ro

Trong xã hội phát triển hiện nay, hệ thống, mức độ phát triển khoa họcngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng Khoa học đã trở thành một lĩnhvực không thể thiếu trong đời sống xã hội, mà nó còn là điều kiện tiên quyếtgiúp cho quá trình phát triển xã hội ngày một hiện đại hơn Khoa học đã sángtạo ra các tri thức mới về quy luật của thế giới, về giải pháp, phương hướngtác động vào thế giới khách quan, sáng tạo ra các sự vật mới, phục vụ vàomục tiêu tồn tại và phát triển bản thân con người và xã hội loài người

- Xem xét khoa học là một hệ thống tri thức của nhân loại về tự nhiên,

xã hội và con người.

Ngay từ khi xuất hiện, nhu cầu duy trì sự sống và nhận thức thế giớixung quanh con người phải lao động chính vì thế sự hiểu biết của con người

về thế giới khách quan và về chính bản thân mình ngày càng phong phú nó trởthành một hệ thống tri thức về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Khoa học được xem xét với tư cách là hoạt động tinh thần của conngười hướng đến việc sản xuất tri thức về tự nhiên, xã hội và về chính bảnthân nhận thức Nhưng mục tiêu là đạt tới chân lý, khám phá các quy luậtkhách quan nhờ khái quát các sự kiện hiện thực trong mối liên hệ qua lại củachúng, đoán nhận xu hướng phát triển của hiện thực trên những quy luật vềkhám phá đó, chính vì vậy nó còn là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tưduy được đem lại bởi hoạt động nhận thức của con người

Trang 20

Tóm lại trong quan niệm hiện nay, khoa học vừa là một loại hình hoạtđộng tinh thần sáng tạo vừa là kết quả của hoạt động này Với tính cách làhoạt động tinh thần, khoa học là quá trình con người hướng vào việc sản xuất

ra tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy Với tính cách kết quả của hoạt độngtinh thần, khoa học là tổng thể tri thức dưới dạng các khái niệm kết thành hệthống có tính toàn vẹn trên cơ sở những nguyên tắc xác định Tập hợp nhữngthông tin rời rạc, lộn xộn mà chưa được tổ chức mức ở độ nhất định và chưa

có tính hệ thống, thì chưa phải là khoa học

Trong mỗi bộ môn khoa học nó được thống nhất với nhau giữa các yếu

tố: Khách thể và chủ thể Trong đó khách thể khoa học tức là đối tượng là cái

mà nhà khoa học nghiên cứu nhằm vạch ra tính chất, cấu trúc, xu hướng của

nó bao gồm hệ thống, phương pháp và thủ thuật chủ yếu do đối tượng quy

định Còn chủ thể khoa học tức nhà khoa học là thành tố chủ yếu dưới các cấp

độ như cá nhân, nhóm hay là cộng đồng Sự tồn tại của một khoa học được thểhiện ở các phương diện: Một lĩnh vực hoạt động sản xuất tri thức của conngười ngày càng thâm nhập và trở thành yếu tố quan trọng của văn hóa; mộtthiết chế xã hội cùng toàn bộ cơ sở hạ tầng của nó như tổ chức khoa học,nguồn tài chính, thiết bị và phương tiên nghiên cứu; một quá trình nhận thức

mà kết quả của nó là những tri thức hợp nhất thành hệ thống hữu cơ đang pháttriển

Một khoa học nó bao gồm năm tiêu chí sau: Thứ nhất, lý thuyết khoa

học là hệ thống tri thức dưới dạng phạm trù, khái niệm quy luật gồm bộ phận

riêng và bộ phận tiếp nhận từ tri thức khác; thứ hai, có một phương pháp luận

và lý thuyết về phương pháp và hệ thống phương pháp chỉ đạo việc lựa chọn,xây dựng, sử dụng phương pháp gồm phương pháp luận riêng và phương

pháp luận tiếp nhận từ khoa học khác; thứ ba, có mục đích ứng dụng trực tiếp hoặc gián tiếp, xác định hoặc chưa xác định; thứ tư, có một lịch sử nghiên

Trang 21

cứu, chính thức xuất hiện và đi vào phát triển song không phải khoa học nào

cũng thế; và thứ năm, có đối tượng nghiên cứu là những thuộc tính, yếu tố,

quan hệ bản chất của khách thể mà khoa học đó quan tâm phát hiện và cảibiến

Như vậy với tính cách là lĩnh vực hoạt động tinh thần sản xuất ra hệthống các tri thức, khoa học có thể phân chia thành từng nhóm, ngành khácnhau theo tiêu chí nhất định

- Xem xét khoa học là một hình thái ý thức xã hội.

Khoa học được quy định bởi các yếu tố của tồn tại xã hội, đồng thời nó

có tác động mạnh mẽ trở lại đối với đời sống kinh tế xã hội và tồn tại xã hộinói chung Chẳng hạn như, sự thay đổi của khoa học chính là nguyên nhânban đầu của sự thay đổi về phương thức sản xuất trong một xã hội, mỗi thờiđại có một phương thức sản xuất đặc trưng nhất định, chính khoa học lại làtiền đề tiên quyết cho phương thức đặc trưng của thời đại đó Hay nói cáchkhác thúc đẩy khoa học chính là thúc đẩy phương thức sản xuất mới tiến bộhơn

Ngoài mối quan hệ biện chứng với tồn tại xã hội, khoa học còn có mốiquan hệ biện chứng với các hình thái ý thức xã hội khác nhau Chính khoa học

là tiền đề cơ sở cho việc hình thành và phát triển các hình thái ý thức xã hộikhác nhau đó Ngược lại, chính các hình thái ý thức xã hội khác nhau đó lạitác động ngược vào việc khám phá, truyền bá, ứng dụng các tri thức khoa họcvào sự phát triển chung của xã hội

Ngoài ra xét về khoảng cách với thực tiễn xã hội hay là đối tượng và phương pháp tri nhận tri thức thì có những cách đánh giá khác nhau qua các cách nhìn nhận đó Chẳng hạn như xét về khoảng cách với thực tiễn xã hội có

thể chia thành những khoa học lý thuyết nhằm vạch ra những quy luật và cácnguyên tắc cơ bản của hiện thực mà không định hướng trực tiếp vào xã hội

Trang 22

Còn việc xét về đối tượng và phương pháp tri nhận tri thức chúng ta có thể

chia khoa học thành các khoa học về tự nhiên, các khoa học về xã hội, cáckhoa học về nhận thức tư duy, các khoa học về công nghệ Mỗi nhóm lại chiathành các nhóm nhỏ để tiện trong việc thực hiện phương pháp tri nhận tri thứctrong khoa học

* Khái niệm công nghệ

Công nghệ (có nguồn gốc từ technologia, hay τεχνολογια, trong tiếng

Hy Lạp; techne có nghĩa là thủ công và logia có nghĩa là “châm ngôn”) là một

thuật ngữ rộng ám chỉ đến các công cụ và mưu mẹo của con người Tùy vàotừng ngữ cảnh mà thuật ngữ công nghệ có thể hiểu được: Công cụ hoặc máymóc giúp con người giải quyết các vấn đề; các kỹ thuật bao gồm các phươngpháp, vật liệu, công cụ và các tiến trình để giải quyết một vấn đề; các sảnphẩm được tạo ra phải hàng loạt và giống nhau; sản phẩm có chất lượng cao

và giá thành hạ

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về thuật ngữ công nghệ, cụ thể:

Theo định nghĩa của tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc

(UNIDO) viết: “Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng các công trình nghiên cứu, và sử dụng nó có hệ thống, có phương pháp Công nghệ là sản phẩm tinh hoa của trí tuệ mà con người sáng tạo ra cho xã hội và là công cụ chủ yếu để con người đạt được mục đích cần thiết, là cơ sở để nâng cao năng suất lao động, tận dụng tài nguyên thiên nhiên, cải thiện điều kiện làm việc”.

Theo định nghĩa của Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực Châu Á - Thái

Bình Dương viết: “Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỷ thuật

để chế biến nguyên vật liệu và thông tin Nó bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng chúng trong sản xuất, trong chế biến thông tin, trong dịch vụ công nghiệp và trong quản lý”.

Trang 23

Ngoài ra theo từ điển tiếng việt viết: “Công nghệ là tổng thể nói chung các phương pháp gia công, chế tạo, làm thay đổi trạng thái, tính chất, hình dáng nguyên vật liệu hay bán thành phẩm sử dụng trong quá trình sản xuất

để tạo ra sản phẩm”.

Như vậy, từ những định nghĩa trên, có thể rút ra khái niệm cơ bản như

sau: Công nghệ là tổng hợp các hệ thống kiến thức khoa học được áp dụng vào trong đời sống sản xuất vật chất nhằm đạt được mục đích cần thiết cho con người Công nghệ là nấc thang quan trọng không thể thiếu trong sự tiến

bộ của nhân loại.

Công nghệ được thể hiện qua hai bộ phận phần cứng và phần mềm cấu

Trong quá trình sản xuất của một quy trình tạo ra sản phẩm, đó là sự kết

hợp chặt chẽ của phần mềm và phần cứng đó là điệu kiện cần và đủ cho một

quy trình sản xuất, sự kết hợp chặt chẽ này tạo ra hiệu quả cao, nó là điều kiệnkhông thể thiếu trong giai đoạn hiện nay khi mà khoa học - công nghệ trởthành một nhân tố quyết định cho một chất lượng sản phẩm cạnh tranh trên thịtrường Như vậy, lựa chọn phát triển công nghệ trở thành cấp thiết trong chiếnlược phát triển xã hội của tất cả các quốc gia trên thế giới

1.1.2 Khái niệm lực lượng sản xuất theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin

Lực lượng sản xuất chính là toàn bộ các nhân tố vật chất, kỹ thuật của

Trang 24

quá trình sản xuất, chúng tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau tạo rasức sản xuất làm cải biến các đối tượng trong quá trình sản xuất, tạo ra nănglực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của tự nhiên theo nhu cầunhất định của con người và xã hội.

Trong mỗi phương thức sản xuất thì lực lượng sản xuất là yếu tố động

và đóng vai trò quyết định Lực lượng sản xuất là thước đo năng lực thực tiễncủa con người trong quá trình cải tạo tự nhiên nhằm đảm bảo cho sự tồn tạicủa xã hội loài người, làm thay đổi giữa mối quan hệ người với người từ đó

dẫn tới sự thay đổi các mối quan hệ xã hội Trong tác phẩm: “Sự khốn cùng của triết học”, Mác viết: “Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay đổi tất cả những mối quan hệ của mình” Khi lực lượng sản xuất thay đổi và phát triển thì quan hệ sản xuất tất

yếu củng thay đổi và phát triển theo, khi đó bắt đầu thời đại của một cuộccách mạng xã hội

Còn trong tác phẩm: “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị và Tư bản”, Mác đã chỉ rõ năng lực của con người đó chính là sức lao động Và sức lao động theo Mác là: “Toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị thặng dư nào đó Sức lao động là khả năng lao động của con người, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất và lực lượng sản xuất sáng tạo chủ yếu của xã hội”.

Trong hoạt động sản xuất vấn đề sức lao động của con người hoàn toànphụ thuộc vào mục đích, nhu cầu, trình độ, cách thức tổ chức và còn phụthuộc vào các vấn đề khách quan trong quá trình sản xuất vật chất Ngoài ra

đó chưa phải là nguyên nhân đầu tiên ảnh hưởng đến chất lượng về sức laođộng của con người trong quá trình sản xuất vật chất, ở đó còn có sự phụ

Trang 25

thuộc vào yếu tố tinh thần của con người trong quá trình hoạt động sản xuất,chẳng hạn như: Tinh thần, kỹ năng, thị hiếu, kinh nghiệm… những yếu tố nàytuy không giữ vai trò nòng cốt nhưng có ảnh hưởng ít nhiều trong quá trìnhsản xuất vật chất.

Như trong mọi hoạt động khác, con người lấy vật chất làm đối tượngtrực tiếp tạo ra sản phẩm, đây chính là kết quả trong quá trình hoạt động sảnxuất vật chất của con người Thông qua hoạt động sản xuất, con người đã làmthay đổi một phần nội dung và hình thức để tạo thành sản phẩm Đối tượngsản xuất vật chất đầu tiên mà con người làm chủ thể đó là tự nhiên, tự nhiên làtrung tâm để con người tác động vào để tạo ra sản phẩm trong quá trình sảnxuất vật chất Về sau, khi khoa học càng phát triển, thứ mà con người hướngđến lại là những thứ không có trong tự nhiên, con người tìm đến những đốitượng mới để hoạt động sản xuất vật chất, phục vụ nhu cầu của con người và

xã hội

Tóm lại, con người đã dựa vào tự nhiên và những đối tượng do conngười tạo ra bằng chính lao động của mình để biến thành sản phẩm Đặc biệtngày nay nhóm đối tượng do con người tạo ra bằng chính lao động của mình,ngày càng tăng dần và chiếm đa số, nhưng tự nhiên vẫn là chủ thể không thểthiếu trong hoạt động sản xuất vật chất của con người

Hoạt động sản xuất vật chất phải có những đối tượng vật chất và tư liệulao động Thông qua hoạt động của chủ thể người lao động, tác động vào đốitượng lao động thông qua tư liệu và cách thức sản xuất, con người đã làm thayđổi tính chất, kết cấu, trạng thái và sẽ trở thành sản phẩm Những hành độngsản xuất vật chất đầu tiên của con người chỉ có thể lấy được những đối tượngkhách quan ấy từ giới tự nhiên Một hàng hóa bất kỳ luôn có sự kết tinh bêntrong nó là sức lao động của con người, nhưng nếu mổ xẻ hàng hóa này ra thì

ta không thấy một gam hay một tinh thể sức lao động nào ở trong

Trang 26

đó Cho nên sức lao động không tự hoạt động để đến với đối tượng lao động,nếu thiếu tư liệu lao động Tư liệu lao động của sản xuất vật chất có hai phầnchủ yếu: Công cụ lao động và các phương tiện lao động khác hỗ trợ cho conngười khi sử dụng công cụ cũng như tiến hành lao động nói chung Chínhnhững tư liệu lao động là chỉ tiêu nói lên trình độ phát triển của sản xuất.

Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ laođộng và người lao động với kỹ năng lao động của con người Cụ thể:

Về tư liệu sản xuất: Trong quá trình sản xuất để cải biến đối tượng lao

động thành sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của mình, con người phải sử dụng tưliệu sản xuất Tư liệu sản xuất là yếu tố không thể thiếu trong quá trình sảnxuất, thiếu nó thì con người không thể tiến hành sản xuất được Tư liệu sảnxuất được cấu thành từ hai bộ phận căn bản là tư liệu lao động và đối tượnglao động Mác viết: “Cả tư liệu lao động và đối tượng lao động đều biểu hiện

ra ở tư liệu sản xuất” [9;tr.17]

Đối tượng lao động là vật thể tự nhiên mà con người tác động vào, cải

tạo chúng thành những của cải vật chất khác nhau Vật thể đó có thể nằm sẵntrong giới tự nhiên bao quanh con người Trong trường hợp này, nó còn đượctách ra khỏi giới tự nhiên và là đối tượng lao động của ngành công nghiệpkhai thác Đối tượng lao động là nguyên liệu, nguyên liệu này là cơ sở tựnhiên chủ yếu của sản phẩm đã được sản xuất ra Mác phân biệt hai loại đốitượng này như sau: “Mọi nguyên liệu đều là đối tượng, nhưng không phải mọiđối tượng đều là nguyên liệu, đối tượng lao động chỉ trở thành nguyên liệu saukhi đã trải qua một sự biến đổi nào đó do lao động gây ra” [9; tr.232]

Vậy, từ những lý luận đã phân tích trên đây chúng ta có thể thấy rõ, đốitượng lao động chính là những cái mà con người sử dụng công cụ làm phươngtiện tác dụng vào nó, sau đó trở thành những sản phẩm có ích phục vụ cho xãhội

Trang 27

Tư liệu lao động, là khâu trung gian làm nhiệm vụ truyền dẫn sự tác

động của con người lên đối tượng lao động, nhằm biến đổi đối tượng lao độngthành sản phẩm đáp ứng yêu cầu sản xuất của con người Tư liệu lao độnggồm công cụ lao động và phương tiện lao động trong đó công cụ lao động giữvai trò quyết định đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Trình độcủa công cụ sản xuất là một tiêu chí biểu hiện trình độ phát triển của nền sảnxuất xã hội Mác cho rằng: "Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ởchỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, vớinhững tư liệu lao động nào” [15; tr.269]

Người lao động, đối tượng lao động không phải là toàn bộ giới tự

nhiên, mà chỉ có một bộ phận của giới tự nhiên được đưa vào sản xuất Conngười không chỉ tìm trong giới tự nhiên những đối tượng có sẵn, mà con sángtạo ra những đối tượng mới Trong đó tư liệu lao động là vật thể hay phức hợpvật thể mà con người đặt giữa mình với đối tượng lao động, chúng dẫn chuyền

sự tác động của con người vào đối tượng lao động Đối tượng lao động và tưliệu lao động là những yếu tố vật chất của quá trình lao động sản xuất hợpthành tư liệu sản xuất Đối với mỗi thế hệ mới tư liệu lao động do thế hệ trước

để lại trở thành điểm xuất phát cho thế hệ tương lai Vì vậy những tư liệu laođộng đó là cơ sở kế tục lịch sử Tư liệu lao động chỉ trở thành lực lượng tíchcực cải biến đối tượng lao động, khi chúng kết hợp với đời sống Tư liệu laođộng dù có ý nghĩa lớn lao đến đâu, nhưng nếu tách khỏi người lao động thìcũng không còn tác dụng, không thể trở thành lực lượng sản xuất của xã hội

Các yếu tố hợp thành lực lượng sản xuất thường xuyên có quan hệ chặtchẽ với nhau Trong sự phát triển của hệ thống công cụ lao động và trình độkhoa học kỹ thuật, kỹ năng lao động của con người đóng vai trò quyết định.Con người là nhân tố trung tâm và là mục đích của nền sản xuất xã hội

Trang 28

V.I.Lênin đã viết: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại làcông nhân và người lao động”[35; tr.38,430].

Công cụ lao động chỉ có thể tác động được vào đối tượng lao động khi

nó kết hợp với sức lao động của con người, nếu tách khỏi con người thì bảnthân công cụ sản xuất không thể trở thành lực lượng sản xuất của xã hội được.Công cụ sản xuất và tất cả các tư liệu lao động đều là sự nghiệp của bàn taycon người, là sự vật chất hóa kinh nghiệm, và kiến thức đã tích lũy được, làchỉ số nói lên những thành công của họ trong việc chinh phục giới tự nhiên, vìthế con người là lực lượng sản xuất chủ yếu

Con người bằng sức lực và trí tuệ của mình chế tạo ra công cụ lao động

và dùng công cụ đó tác động vào tự nhiên để tạo ra những sản phẩm vật chấtnhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân và xã hội Trong quá trình sản xuất, bảnthân con người đối diện với thực tế của tự nhiên với tư cách là một lực lượngcủa tự nhiên Để chiếm hữu được thực thể tự nhiên, cải tạo tự nhiên bắt chúngphục vụ nhu cầu mục đích của mình Trong quá trình làm thay đổi tự nhiên

đó, chính con người cũng tự làm thay đổi bản thân mình ngày một hoàn thiệnhơn trong trí tuệ lẫn tâm hồn

Công cụ lao động được xem là yếu tố động của lực lượng sản xuất Nóluôn luôn được cải tiến cho phù hợp với điều kiện mới, không ngừng đượcsáng tạo ra và chính sự phát triển của công cụ lao động đã tạo ra nhiều biếnchuyển kỳ diệu trong nền sản xuất xã hội Công cụ lao động càng tinh vi, điều

đó chứng tỏ con người càng hiện đại càng tách xa thế giới tự nhiên Công cụlao động là yếu tố quan trọng không thể thiếu được trong quá trình sản xuất, làthước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người, dấu ấn của nó đã để lạitrên tất cả mọi chặng đường lịch sử - xã hội loài người

Công cụ lao động là “khí quan của bộ óc con người”, “là sức mạnh củatri thức đã được vật thể hóa có tác dụng nối dài bàn tay và nhân lên sức mạnh

Trang 29

trí tuệ của con người” Chính vì vậy khi khoa học - công nghệ đạt tới trình độ

tự động hóa, tin học hóa, thì vai trò khí quan vật chất của nó trở nên hết sức

kỳ diệu Do vậy trình độ phát triển của công cụ lao động chính là thước đotrình độ chinh phục tự nhiên của con người

Khoa học ngày càng phát triển, phát triển đến mức trở thành nguyênnhân trực tiếp của những biến đổi to lớn trong sản xuất và trong đời sống.Ngày nay, cách thức mà khoa học thể hiện trong hiện thực khách quan nhiều

so với trước kia Mác đã chỉ ra rằng khoa học sẽ trở thành “lực lượng sản xuấttrực tiếp” Tư tưởng này có dấu hiệu tích cực đối với người hoạt động sảnxuất lẫn hoạt động khoa học

Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên,thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người, do đó trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất thường được sử dụng để xác định trình độ phát triểncủa nền sản xuất Lịch sử loài người đã trải qua nhiều giai đoạn, từ xã hộinguyên thủy đến CNCS Qua các giai đoạn đó, con người từ chỗ ăn lông ở lỗ,đến biết săn bắt hái lượm, trồng trọt, chăn nuôi cho tới biết sản xuất công cụ

để phục vụ trong quá trình sản xuất của mình Như vậy con người từ chỗ phụthuộc vào tự nhiên dần dần chinh phục, cải tạo tự nhiên để phục vụ nhu cầumục đích của mình

Lực lượng sản xuất của một xã hội là sự tiếp tục lực lượng sản xuất đã

có trong lịch sử

Như vậy các yếu tố hợp thành lực lượng sản xuất có quan hệ chặt chẽvới nhau trong quá trình sản xuất, trong đó người lao động là yếu tố giữ vaitrò quyết định còn tư liệu sản xuất giữ vai trò quan trọng Ngoài ra lực lượngsản xuất chính là toàn bộ các nhân tố vật chất, kỹ thuật của quá trình sản xuất,chúng tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau tạo ra sức sản xuất cảibiến các đối tượng trong quá trình sản xuất, tạo ra năng lực thực tiễn làm biến

Trang 30

đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của conngười và xã hội.

1.2 VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

1.2.1 Khoa học - công nghệ trong sự phát triển của xã hội loài người

Cuối thế kỷ XX, nền sản xuất xã hội biến đổi sâu sắc, mạnh mẽ cả về

cơ cấu, chức năng và phương thức hoạt động tạo nên sự phát triển nhảy vọt,bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại sang một thời đại kinh tế mới, đó lànền kinh tế tri thức, một nền văn minh mới, trí tuệ, mà nguyên nhân và độnglực chính là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ mới, được hình thành từmấy chục năm qua

* Cách mạng khoa học - công nghệ

Thuật ngữ khoa học - công nghệ thể hiện sự đồng hành gắn bó giữa lýluận, lý thuyết và thực tiễn, thực hành, giữa nghiên cứu và ứng dụng thực tế.Nhân loại đã trải qua ba cuộc cách mạng công nghệ Cuộc cách mạng khoahọc - công nghệ lần nhất (thế kỷ XVIII), bắt nguồn từ giai đoạn thay thế laođộng thủ công bằng lao động cơ giới, lần thứ hai (thế kỷ XIX) tiêu biểu là sảnxuất điện năng và nền sản xuất đại cơ giới và lần thứ ba, động lực chính làkhoa học - công nghệ, hình thành từ giữa thế kỷ XX Nội dung cơ bản củamỗi cuộc cách mạng là sự thay thế công cụ sản xuất thô sơ, thủ công, quátrình sản xuất lạc hậu, đơn biệt bằng áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuậtmới vào sản xuất, tiến dần lên cơ khí hoá, tự động hoá, sản xuất dây chuyềnhiện đại với những nguồn năng lượng mới, đó là cải tiến, thay thế, sáng chế

ra những hệ thống công cụ mới, trên cơ sở đó nâng cao năng suất lao động,tăng của cải cho xã hội

Ngày nay, kinh tế tri thức đóng vai trò cực kỳ quan trọng quyết địnhđến sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống Đặc

Trang 31

điểm của kinh tế tri thức là những đổi mới liên tục về khoa học - công nghệtrong sản xuất và vai trò chủ đạo của thông tin và tri thức với tư cách là nguồnlực cơ bản tạo nên sự tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Làmcho quyền lực đang dịch chuyển từ sức mạnh của bạo lực, vũ khí, tiền bạcthuộc hai nền văn minh nông nghiệp, công nghiệp, sang sức mạnh của trithức, trí tuệ Trong nền văn minh mới này, quyền lực không còn phụ thuộcvào sức mạnh vật chất và của cải sẵn có trong tay mà chủ yếu phụ thuộc vàonhững nguồn tri thức nắm được Tài nguyên tri thức - trí tuệ cơ bản khác vớitài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động ở chỗ khi sử dụng hoặc trao đổi nókhông mất đi mà được bảo tồn hoặc bổ sung phong phú thêm, chi phí cho sửdụng, trao đổi, phổ biến ít tốn kém Tri thức là thứ “của cải” mà bất cứ ngườinào, dân tộc nào, dù yếu, nghèo nhất, nếu có quyết tâm học hỏi đều có thểgiành, chiếm đoạt được.

* Tác động của khoa học - công nghệ trong sự phát triển xã hội

Khoa học - công nghệ là động lực phát triển kinh tế - xã hội được đánhgiá bởi hai tiêu chí cơ bản: Sự đóng góp của khoa học - công nghệ đối với sựphát triển đất nước; hoạt động khoa học - công nghệ có bước tiến bộ về tiềmlực, quản lý Nhà nước, hệ thống pháp luật, thị trường khoa học - công nghệ ,hợp tác quốc tế

Khoa học - công nghệ mang lại nhiều lợi ích đối với sự phát triển quốcgia, giúp đẩy nhanh công nghiệp hóa và hiện đại hóa, thay thế công nghệ cũbằng công nghệ mới hiện đại, nâng cao năng suất lao động, hàng hóa, của cảivật chất tăng cao, đất nước ngày càng phát triển và có vị thế về kinh tế trongquá trình hội nhập Ngoài ra, khoa học - công nghệ giúp nâng cao chất lượng

y tế, quốc phòng, an ninh, về máy móc, phương tiện Đời sống nhân dântừng bước cải thiện, quốc phòng an ninh ngày càng hiện đại Tăng cường sứcmạnh phòng thủ đất nước, hiện đại hóa máy móc, công nghệ trong các lĩnh

Trang 32

vực như: Văn hóa, giáo dục Rút ngắn thời gian thực hiện ý tưởng, vòng đờicác sản phẩm khoa học - công nghệ, giải phóng người lao động khỏi quá trìnhsản xuất trực tiếp, thay đổi các quan hệ xã hội, thể hiện hào khí dân tộc.

Ngày nay khoa học - công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp,thúc đẩy tốc độ phát triển công nghiệp ngày càng nhanh như thế kỷ XVIIIphải mất 100 năm, đầu thế kỷ XX khoảng 30 năm, vào thập niên 70 -

80 còn 20 năm, thập niên 90 chỉ còn trên dưới 10 năm Vì vậy, “tốc độ tăngtrưởng kinh tế thế giới năm 1990 so với 1982 tăng 28,5% - khối lượng thươngmại thế giới tăng 57,9% (IMF 10/1990) Trong 5 năm đầu thế kỷ XXI, GDPcủa thế giới tăng 40,5% Chu kỳ thay thế sản phẩm trước đây từ 15 - 20 năm,ngày nay chỉ còn 3 - 5 năm Cho nên, quãng thời gian cần thiết để tăng gấpđôi GDP theo đầu người đã được rút ngắn một cách ổn định Nếu như Anhmất 58 năm (từ 1780), Mỹ 47 năm (từ 1839), Nhật 34 năm (từ 1880) thì sauĐại chiến thế giới thứ hai, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ lần thứ bacòn đẩy tốc độ này lên nhanh hơn như: Braxin 18 năm, Indonesia 17 năm,Hàn Quốc 11 năm, Trung Quốc 10 năm Trong vòng 20 năm (từ 1970 - 1990)sản xuất của cải trên thế giới đã tăng 2 lần, vượt khối lượng được sản xuất ratrong 230 năm trước (1740 - 1970)[54]

Như vậy từ khi xuất hiện, con người không ngừng nổ lực cải thiện đờisống vật chất và tinh thần của mình Với sự lao động sáng tạo con người đangdần dần khám phá, nghiên cứu và phát triển, và ứng dụng nhiều công cụ máymóc, quy trình công nghệ để áp dụng vào sản xuất trong cuộc sống Đem lạinhiều hiệu quả đáng ghi nhận Trải qua sự phát triển thăng trầm của lịch sử xãhội, nhiều công cụ mới được tạo ra Đặc biệt vào thế kỷ 18, Cuộc cách mạngkhoa học lần thứ nhất, khoa học của nhân loại có một bước tiến vượt bậctrong lịch sử đó là máy hơi nước được chế tạo ra, nó tạo ra một bước ngoặtlớn cho xã hội loài người, hay nói đúng hơn, xuất hiện máy hơi nước nó đã

Trang 33

thể hiện rõ vai trò của khoa học ứng dụng vào cuộc sống xã hội loài người Từ

đó tạo ra nhiều công cụ máy móc thay thế cho sức lao động của súc vật và conngười Năng suất lao động được nâng lên vượt bậc Tuy nhiên qua đến cuộccách mạng lần thứ II, sự xuất hiện của động cơ đốt thay thế cho động cơ hơinước đã tạo ra một sự đột phá trong lĩnh vực sản xuất

Tới đầu thế kỷ XX, sự kết hợp giữa khoa học với công nghệ đã tạo ramột cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại của xã hội loài người, đánhdấu quá trình khoa học công nghệ biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp làđiều kiện cần để đưa lực lượng sản xuất lên một bước phát triển Cuộc cáchmạng khoa học hiện đại là sự thay đổi căn bản trong bản thân lĩnh vực khoahọc công nghệ, cũng như mối quan hệ và chức năng của chúng, khiến cho cơcấu và động thái phát triển của các lực lượng sản xuất cũng được phát triển

Có thể nói sự phát triển của khoa học đã đưa văn minh nhân loại sang mộtbước phát triển mới về chất Đó là kết quả của quá tình phát triển lâu dài cáckiến thức khoa học của việc đổi mới kỹ thuật sản xuất, và việc tăng quy môsản xuất mới Ngày nay khoa học công nghệ đã không ngừng phát triển tạo rabước đột phát trong nhiều lĩnh vực giúp ích rất lớn cho con người như: Lĩnhvực năng lượng; lĩnh vực sản xuất; trong sản xuất vật liệu;v,v…

Tóm lại, với việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào nhiều lĩnh vực, conngười ngày càng phát triển văn minh, tiến bộ hơn, đó chính là nhờ vào ý nghĩa

to lớn của khoa học - công nghệ

1.2.2 Vai trò của khoa học - công nghệ đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất

Theo học thuyết Mác - Lênin lực lượng sản xuất bao gồm con người lao

động và tư liệu sản xuất, trong đó, nhân tố “người lao động” giữ vai trò quyết

định Còn tư liệu sản xuất bao gồm đối tượng lao động, công cụ lao động, các

tư liệu phụ trợ của quá trình sản xuất…

Trang 34

Về mặt “người lao động” trong thời kỳ đầu của loài người, đặc biệt

trong thời kỳ xã hội nguyên thủy cho tới xã hội phong kiến, khoa học chưaphát triển cho nên sức lao động của con người vẫn chiếm một vị trí quan trọngtrong quá trình sản xuất phục vụ xã hội Tuy nhiên, sau thế kỷ XVIII cho tớinay khoa học kỹ thuật đã từng bước phát triển, nhiều máy móc công cụ laođộng ra đời nó đã dần thay thế cho sức lao động của con người trong quá trìnhtạo ra của cải vật chất trong xã hội là rất lớn Điều đó có thể nói rằng vai tròcủa công cụ lao động đang ngày càng thay thế cho sức lao động của con ngườingày càng lớn

Sử dụng sức lao động trong sản xuất vật chất, chủ thể con người đã tácđộng vào khách thể Sức lao động là năng lực người thoát ra bên ngoài thôngqua mỗi hành động, mỗi thao tác của họ làm thay đổi, tính chất, cấu trúc, cuốicùng ở mỗi quá trình sản xuất nó chính là yếu tố xã hội kết tinh trong mỗi sảnphẩm - bao gồm những tư liệu tiêu dùng, những yếu tố cấu thành lực lượngsản xuất, kể cả con người là sản phẩm cuối cùng là sản phẩm của chính laođộng của họ

Lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong quátrình sản xuất ra của cải vật chất Lực lượng sản xuất bao gồm người lao độngvới kỹ năng lao động của họ và tư liệu sản xuất mà trước hết là công cụ laođộng Trong quá trình sản xuất, sức lao động của con người và tư liệu sảnxuất, trước hết là công cụ lao động, kết hợp với nhau tạo thành lực lượng sảnxuất Trong các yếu tố của lực lượng sản xuất thì “lực lượng sản xuất hàngđầu của toàn thể nhân loại, người lao động” Chính người lao động là chủ thểcủa quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và kỹ thuật lao động của mình,

sử dụng tư liệu lao động, trước hết là công cụ lao động, tác động vào đốitượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất Cùng với quá trình lao độngsản xuất, sức mạnh và kỹ năng lao động của con người ngày càng được tăng

Trang 35

lên, đặc biệt là trí tuệ lao động ngày càng cao Ngày nay với sự phát triểnkhông ngừng của khoa học - công nghệ, con người trở thành lao động chínhyếu và không thể thiếu trong quá trình sản xuất đó Theo đó công cụ lao độngcũng là một yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết địnhtrong tư liệu sản xuất Công cụ lao động do con người sáng tạo ra là “sứcmạnh của tri thức đã được vật thể hóa” Công cụ lao động là yếu tố động nhất,cách mạng nhất của lực lượng sản xuất Cùng với quá trình phát triển, phátminh sáng chế kỹ thuật, công cụ lao động không ngừng được cải tiến và hoànthiện Chính sự cải tiến và hoàn thiện không ngừng của công cụ lao động đãlàm biến đổi toàn bộ tư liệu sản xuất Xét đến cùng, đó là nguyên nhân sâu xacủa biến đổi xã hội.

Con người đã đi vào sản xuất và sản xuất làm nên con người, ở đâychúng ta thấy được tiến trình vận động mang tính vòng tròn của nhân loại.Trong tiến trình phát triển đó, sức lao động của con người thâm nhập hết vàomọi khâu của quá trình sản xuất, làm cho các yếu tố của quá trình sản xuất trởnên mang tính xã hội và tất cả làm nên một thế giới người khác biệt với thếgiới tự nhiên mang tính thuần túy

Theo Mác sức lao động là một thể thống nhất giữa thể lực và trí lực, nótác động vào mọi khâu của quá trình sản xuất, làm cho các yếu tố khác tronglực lượng sản xuất đều trở thành hình thức vật thể hóa của sức lao động, tínhchất, trình độ, sức mạnh và vai trò của chúng cũng do sức lao động quy định.Chính việc con người sử dụng, rồi chiếm hữu trở lại sức lao động được vật thểhóa và trở nên phong phú thêm đó ở mức độ, trình độ nhất định đã tạo ranhững giá trị làm thành nội dung cơ bản của các nền văn minh trong lịch sửcủa họ, những nền văn minh nông nghiệp, công nghiệp, đều mang những giátrị mang tính căn bản ấy

Trang 36

Những phương tiện lao động cơ khí truyền thống mà trước kia Mác gọi

là hệ thống xương cốt hoặc cơ bắp của sản xuất thì ngày nay trong một chừngmực đáng kể đã nhường chỗ cho các phương pháp điện vật lý, điện hóa học vàđiện tử trong gia công vật liệu, cho hệ thống tự động hóa và những thiết bịđiều khiển với một quy trình công nghệ liên tục

Trong sản xuất có tự động hóa và điều khiển từ xa, các máy tính điện

tử, các cơ cấu điều khiển và người máy được sử dụng ngày càng rộng rãi Cáccông nghệ mới về nguyên tắc có áp lực siêu cao và chân không đang được sửdụng Những máy tạo sóng lượng tử và công nghệ la-de trong gia công chínhxác các vật liệu siêu cứng và giòn cũng đang được áp dụng Đối với việc tạodạng các thành phẩm từ các vật liệu phi công nghệ, không thích hợp với việcgia công bằng các vật liệu truyền thống, người ta dùng phương pháp mới vềnguyên tắc là dựa trên sự nâng cao mang tính mềm dẻo của các vật liệu rắndưới tác dụng của áp lực cao khoảng vài chục nghìn atmophe Trong nhiềunhà máy đã sử dụng phương pháp cắt thép bằng ngọn lửa với nhiệt độ 20nghìn độ, các phương pháp hàn và cắt kim loại bằng tia lửa điện… đang đượcứng dụng rộng rãi

Việc sản xuất và ứng dụng những máy gia công kim loại có năng suấtcao với sự điều khiển theo chương trình số tăng lên với nhịp độ nhanh chóng

So với máy vạn năng, năng suất làm việc ở những máy này tăng lên từ 2,5 tới

5 lần Tình hình đó, làm giảm nhu cầu về thợ đứng máy, tăng nhu cầu về thợđiều chỉnh và thợ sủa chữa, thợ lập chương trình công nghệ có tay nghề cao

mà nội dung lao động của nó khác xa với thợ đứng máy trước kia Như vậy,thợ có tay nghề cao trở thành một lực lượng lao động chất lượng cao phù hợpvới nền sản xuất hiện đại, trong nông nghiệp và công nghiệp

Các nhà khoa học chỉ ra rằng, sự bão hòa sản xuất bằng các công cụdựa trên sự ứng dụng điện tử học khoa học, điều khiển từ xa và thủy lực học

Trang 37

đang làm thay đổi về tính chất và nội dung lao động của người thợ, đề ra yêucầu ngày càng cao đối với trình độ học vấn phổ thông, kỹ thuật cơ sở và kỹthuật chuyên môn của họ Lao động của người thợ trong sản xuất cơ khí hóaliên hợp, tự động hóa cao độ, ngày càng mang tính chất lao động trí óc của kỹthuật viên và kỹ sư Thành phần lao động trí óc của thợ điều chỉnh các dâychuyền tự động chiếm quá nửa thời gian làm việc của họ.

Sự thay đổi tính chất và nội dung lao động lại dẫn đến những chuyểnbiến cơ bản trong cấu trúc nghề nghiệp - tay nghề của đội ngũ công nhân, điềuchỉnh một cách đáng kể sự phân công lao động lâu nay đã hình thành tronglịch sử Lao động chân tay đã đi vào quá khứ Nhu cầu xã hội về các nghề laođộng chân tay có tay nghề thấp hoặc không có tay nghề với năng suất thấpgiảm đi rõ rệt Những nghề thủ công truyền thống mà cơ sở của nó là những

kỹ xảo, kỹ năng có tính chất công nghiệp, khéo léo, sử dụng điêu luyện công

cụ lao động bằng tay không còn thịnh hành nữa, nó đã được cơ khí hóaV.I.Lênin đã nhấn mạnh rằng : “Thay lao động chân tay bằng lao động máymóc…đó là việc làm tiến bộ của kỹ thuật loài người Kỹ thuật ngày càng pháttriển cao thì lao động chân tay của con người càng bị loại trừ và thay vào đó làhàng loạt máy móc ngày càng phức tạp”[36; tr.352]

Như vậy, việc gạt bỏ những nghề lao động chân tay nặng nhọc và cácloại lao động không có tay nghề ra khỏi lĩnh vực sản xuất xã hội, đồng thờihình thành những nghề mới, trí tuệ cao là xu thế mới của tiến bộ khoa học –công nghệ, là quy luật phát triển của sự phân công lao động nghề nghiệp trongđiều kiện phát triển của khoa học - công nghệ hiện đại Trong hoàn cảnh ấy,tính chất của việc đầu tư cũng khác trước: “Tổng sản phẩm quốc nội là 100%thì đầu tư vào tiến bộ kỹ thuật nói chung đã đem lại hiệu quả 71,4% cao hơn

so với đầu tư mở rộng sản xuất đơn thuần là 28,6%” [33; tr.33]

Cơ cấu nhân lực luôn luôn có sự thay đổi và chuyển biến mạnh mẽ dướitác động của sự phát triển khoa học - công nghệ Trong khu vực công

Trang 38

nghiệp bao giờ cũng có những yêu cầu gay gắt nhất và nhiều biến động vànhân lực so với các khu vực khác trong nền kinh tế.

Có thể thấy, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, lực lượng sản xuấtngày càng được cải thiện nâng cao, từ đó giúp tăng năng suất lao động, tạo ranhiều của cải vật chất cho xã hội

Nhờ những thành tựu to lớn của khoa học và công nghệ, đặc biệt làcông nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ sinh học, công nghệ vậtliệu… xã hội loài người đang trong quá trình chuyển đổi từ văn minh nôngnghiệp sang thời đại thông tin, từ nền kinh tế dựa vào nguồn lực tự nhiên sangnền kinh tế dựa vào tri thức, mở ra cơ hội mới cho các nước đang phát triển,rút ngắn quá tình công nghiệp hóa hiện đại hóa

Khoa học và công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp,hàng đầu Sức mạnh của mỗi quốc gia đang tùy thuộc vào năng lực khoa họccông nghệ Lợi thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên, giá lao động rẻ đangngày càng ít quan trọng hơn Vai trò của nguồn nhân lực có trình độ chuyênmôn, có năng lực sáng tạo đang là vất đề quan trọng nhất cho các nước trongquá trình xây dựng và phát triển đất nước

Như vậy, có thể khẳng định rằng: Khoa học đóng vai trò hết sức to lớntrong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất Sự phát triển của khoa họcgắn liền với sản xuất và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển.Ngày nay khoa học trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều thay đổi to lớntrong xã hội Những phát minh khoa học trở thành lực lượng sản xuất trựctiếp Có thể nói khoa học và công nghệ hiện đại đang nắm vai trò chủ đạo cho

sự phát triển của văn minh nhân loại

Trang 39

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Chương 1 của luận văn đã nêu rõ một số vấn đề lý luận chung về khoahọc – công nghệ, trong đó đã trình bày đầy đủ các khái niệm về khoa học vàcông nghệ Đặc biệt trong chương đầu tiền của luận văn, nội dung về lựclượng sản xuất theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin đã được trình bàykhá rõ, đó chính là tiền đề cơ sở lý luận thực tiễn để phát triển khoa học –công nghệ trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Việt Nam nóichung và ở thành phố Đà Nẵng nói riêng Đây là cơ sở để đi vào phân tíchthực trạng của sự phát triển khoa học – công nghệ ở Đà Nẵng hiện nay

Bên cạnh đó vai trò to lớn của khoa học – công nghệ trong lực lượngsản xuất và đối với sự phát triển chung của xã hội loài người, đã được trìnhbày đầy khá đủ Như vậy, nội dung của chương này chính là tiền đề lý luậnsắc bén, có giá trị khoa học hết sức bổ ích để làm luận chứng xây dựng vàphát triển nội dung luận văn trong chương 2 và chương 3

Trang 40

CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ Ở THÀNH

Đó là một thuận lợi lớn nhất cho việc phát triển kinh tế toàn diện mà vị trí địa

lý đã mang lại cho thành phố

Hệ thống sông ngòi ngắn và dốc là một đặc trưng không riêng Đà Nẵng

mà đó còn là đặc trưng chung của cả nước về hệ thống sông ngòi Đồng bằngven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của ngập mặn, nơi đây tập trungnhiều cơ sở công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và là nơi tập trung đông dân

cư của thành phố

Ngày đăng: 28/05/2019, 15:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[12] C.Mác và Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
[13] C.Mác và Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
[14] C.Mác và Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
[15] C.Mác và Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật
Năm: 1993
[16] Lê Thị Kim Chi (2009), “Cách mạng khoa học – công nghệ và nền kinh tế tri thức”, Tạp chí Triết học, (Số 3), tr.5-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng khoa học – công nghệ và nền kinh tế tri thức”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Lê Thị Kim Chi
Năm: 2009
[17] Nguyễn Ngọc Chinh, Trương Lê Bích Trâm, Trần Thị Như Quỳnh, Đinh Thị Phương Anh (2013), “Nghiên cứu khoa học, ứng dụng, chuyển giao công nghệ và thực thi quyền sỡ hữu trí tuệ tại Đại học Đà Nẵng”, Tạp chí Khoa học và phát triển, (số 174), tr.27-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khoa học, ứng dụng, chuyển giao công nghệ và thực thi quyền sỡ hữu trí tuệ tại Đại học Đà Nẵng”, "Tạp chí Khoa học và phát triển
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chinh, Trương Lê Bích Trâm, Trần Thị Như Quỳnh, Đinh Thị Phương Anh
Năm: 2013
[18] Nguyễn Trọng Chuẩn (1994), “Nguồn nhân lực công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước”, Tạp chí Triết học (số 3), tr.3-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn nhân lực công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước”", Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1994
[19] Cục thống kê Đà Nẵng (2012), Niên giám thống kê Đà Nẵng 2011, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Đà Nẵng 2011
Tác giả: Cục thống kê Đà Nẵng
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2012
[20] Cục thống kê Đà Nẵng (2013), Niên giám thống kê Đà Nẵng 2012, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Đà Nẵng 2012
Tác giả: Cục thống kê Đà Nẵng
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2013
[21] Vũ Đình Cự (1997), Khoa học và công nghệ lực lượng sản xuất hàng đầu, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và công nghệ lực lượng sản xuất hàngđầu
Tác giả: Vũ Đình Cự
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
[22] Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
[23] Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
[26] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
[27] Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XX Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XX Đà Nẵng
Tác giả: Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng
Năm: 2010
[28] Phạm Minh Hạc, Phan Huy Lê, Vũ Văn Tảo, Lê Hữu Tầng (1996), Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấnđề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc, Phan Huy Lê, Vũ Văn Tảo, Lê Hữu Tầng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
[29] Trần Đắc Hiến (2012), “Để khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực then chốt của sự phát triển kinh tế - xã hội”, Tạp chí Triết học, (số 6), tr.26-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực then chốt của sự phát triển kinh tế - xã hội”", Tạp chí Triết học
Tác giả: Trần Đắc Hiến
Năm: 2012
[30] Nguyễn Đình Hòa, Phạm Văn Đức (2012), “Phát triển khoa học và công nghệ - chìa khóa thực hiện chiến lược phát triển nhanh và bền vững ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học, (số 6), tr.3-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển khoa học và công nghệ - chìa khóa thực hiện chiến lược phát triển nhanh và bền vững ở nước ta hiện nay”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Đình Hòa, Phạm Văn Đức
Năm: 2012
[31] Dương Anh Hoàng (2012), Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Đà Nẵng, Nxb Chính trị Quốc gia - sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Đà Nẵng
Tác giả: Dương Anh Hoàng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - sự thật
Năm: 2012
[32] Đặng Hữu (2002), “Thực hiện định hướng phát triển chiến lược khoa học công nghệ 5 năm nhìn lại”, Tạp chí Cộng Sản, (số 17), tr.14-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện định hướng phát triển chiến lược khoa họccông nghệ 5 năm nhìn lại”, "Tạp chí Cộng Sản
Tác giả: Đặng Hữu
Năm: 2002
[33] Trương Thị Lan (2014), Vai trò của khoa học - công nghệ đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất ở thành phố Đà Nẵng hiện nay, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của khoa học - công nghệ đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất ở thành phố Đà Nẵng hiện nay
Tác giả: Trương Thị Lan
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w