1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý và sử dụng đất đai ở tỉnh Đắk Lắk từ năm 1975 đến năm 2015

193 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 193
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cám ơn các bạn đã quan tâm đến tài liệu! Nếu không thể thanh toán trực tiếp trên 123doc, các bạn có thể lựa chọn hình thức thanh toán bằng THẺ CÀO ĐIỆN THOẠI (sđt/zalo của mình 0353.764.719 ) . hãy liên hệ sd9t , để được hỗ trợ tải tài liệu. Một lần nữa xin cám ơn các bạn. Chúc các bạn học tốt! @@

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư liệu được sử dụng trong luận án hoàn toàn trung thực, khách quan và có nguồn gốc xuất

xứ rõ ràng Những kết quả nghiên cứu của luận án chưa được công bố trong bất kì công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

TRƯƠNG THỊ HẠNH

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án tiến sỹ, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các nhà khoa học, các đồng nghiệp, gia đình và bạn bè Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:

PGS.TS Hà Mạnh Khoa và TS Nguyễn Duy Thụy đã tận tình hướng dẫn, động viên cũng như giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án

Lãnh đạo Viện Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi

để tôi tham gia khoá đào tạo tiến sỹ năm 2015 - 2018 tại Học viện Khoa học xã hội

Các thầy cô giáo, các nhà khoa học của Học viện đã tạo điều kiện thuận lợi, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận án

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan, ban ngành liên quan trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập tài liệu, điền dã tại địa phương

Cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp luôn động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận án

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

TRƯƠNG THỊ HẠNH

Trang 4

TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên

FDI Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Tình hình giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình và nhóm hộ ở tỉnh Đắk Lắk 65 Bảng 3.2 Giao rừng theo nhóm hộ gia đình ở buôn Chàm B, xã Cư Đrăm huyện Krông Bông năm 2001 66 Bảng 3.3 Thống kê kết quả sản xuất lâm trường thời kì 1990 - 1996 của tỉnh Đắk Lắk 76 Bảng 3.4 Bảng so sánh cơ cấu kinh tế của tỉnh và cả nước từ năm 1995 đến 1999 79 Bảng 4.1 Thống kê diện tích giao rừng tỉnh Đắk Lắk đến năm 2013 95 Bảng 4.2 Biểu đồ về cơ cấu sử dụng quỹ đất của tỉnh Đắk Lắk năm 2015 107 Bảng 4.3 Biến động diện tích theo mục đích sử dụng đất phi nông nghiệp tỉnh Đắk Lắk năm 2015 so với năm 2010 và 2005 113

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 8

1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 8

1.1.1 Những công trình nghiên cứu chung về chính sách quản lý và sử dụng đất đai 8

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về chính sách quản lý và sử dụng đất đai ở Tây Nguyên và Đắk Lắk 13

1.2 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước và những vấn đề luận án cần giải quyết 27

1.2.1 Khái quát về tình hình nghiên cứu 27

1.2.2 Những nội dung luận án kế thừa 28

1.2.3 Những vấn luận án tiếp tục giải quyết 29

CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH ĐẮK LẮK VÀ CƠ CHẾ, THỰC TRẠNG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI Ở TỈNH ĐẮK LẮK TỪ NĂM 1975 ĐẾN NĂM 1986 30

2.1 Khái quát tỉnh Đắk Lắk 30

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 30

2.1.2 Dân cư 31

2.2 Cơ chế, thực trạng quản lý và việc sử dụng đất đai ở tỉnh Đắk Lắk trước năm 1975 32

2.2.1 Trong xã hội truyền thống 32

2.2.2 Dưới thời thực dân Pháp 34

2.2.3 Dưới thời đế quốc Mỹ và Chính quyền Việt Nam Cộng hòa ( 1954- 1975) 36

2.3 Cơ chế và thực trạng quản lý đất đai ở tỉnh Đắk Lắk từ năm 1975 đến năm 1986 41

2.3.1 Cơ chế quản lý đất đai ở tỉnh Đắk Lắk 41

2.3.2 Thực trạng quản lý đất đai ở tỉnh Đắk Lắk 45

2.4 Thực trạng sử dụng đất đai ở tỉnh Đắk Lắk 48

Tiểu kết chương 2 54

Trang 7

CHƯƠNG 3 SỰ CHUYỂN ĐỔI CƠ CHẾ VÀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ, SỬ

DỤNG ĐẤT ĐAI Ở TỈNH ĐẮK LẮK TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2003 56

3.1 Những yếu tố tác động đến sự chuyển đổi cơ chế quản lý và việc sử dụng đất đai 56

3.2 Sự chuyển đổi cơ chế và thực trạng quản lý đất đai ở tỉnh Đắk Lắk 59

3.2.1 Cơ chế quản lý đất đai ở tỉnh Đắk Lắk 59

3.2.2 Thực trạng quản lý đất đai ở tỉnh Đắk Lắk 68

3.3 Thực trạng sử dụng đất đai ở tỉnh Đắk Lắk 74

3.3.1 Sử dụng đất nông nghiệp 76

3.3.2 Sử dụng đất lâm nghiệp 80

3.3.3 Sử dụng đất khu dân cư 81

3.3.4 Sử dụng đất đô thị 81

3.3.5 Sử dụng đất chuyên dùng 81

3.3.6 Đất chưa sử dụng và sông suối, núi đá 83

Tiểu kết chương 3 83

CHƯƠNG 4 SỰ CHUYỂN ĐỔI CƠ CHẾ VÀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI Ở TỈNH ĐẮK LẮK TỪ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2015 85

4.1 Những yếu tố tác động đến sự chuyển đổi cơ chế quản lý và việc sử dụng đất đai 85

4.2 Sự chuyển đổi cơ chế và thực trạng quản lý đất đai ở tỉnh Đắk Lắk 88

4.2.1 Cơ chế quản lý đất đai ở tỉnh Đắk Lắk 88

4.2.2 Thực trạng quản lý đất đai ở tỉnh Đắk Lắk 96

4.3 Thực trạng sử dụng đất đai ở tỉnh Đắk Lắk 105

4.3.1 Sử dụng nhóm đất nông nghiệp 107

4.3.2 Sử dụng nhóm đất phi nông nghiệp 113

Tiểu kết chương 4 119

CHƯƠNG 5 NHẬN XÉT VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ, VIỆC SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI Ở TỈNH ĐẮK LẮK VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 120

5.1 Nhận xét về quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý đất đai ở tỉnh Đắk Lắk 120

5.1.1 Thành tựu 120

Trang 8

5.1.2 Hạn chế 125

5.2 Nhận xét về việc sử dụng đất đai ở tỉnh Đắk Lắk 129

5.2.1 Thành tựu 129

5.2.2 Hạn chế 132

5.3 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế 136

5.3.1 Nguyên nhân thành tựu 136

5.3.2 Nguyên nhân hạn chế 137

5.4 Một số khuyến nghị về cơ chế quản lý và việc sử dụng đất đai ở tỉnh Đắk Lắk 139

5.4.1 Đối với cơ chế quản lý đất đai 139

5.4.2 Đối với sử dụng đất đai 143

Tiểu kết chương 5 146

KẾT LUẬN 148

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 150

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

PHỤ LỤC 166

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai có vị trí rất quan trọng đối với bất kì một quốc gia nào:“Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng” [149]

Cùng với lịch sử phát triển đất nước, cơ chế quản lý đất đai cũng dần được hoàn thiện Nội dung cơ bản của cơ chế quản lý đất đai được thể hiện trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Hệ thống văn bản này từ những văn bản dưới luật, những văn bản chỉ quy định tạm thời đến Nhà nước ban hành Luật Đất đai 1987, Luật Đất đai 1993, Luật Đất đai 2003 và Luật Đất đai 2013 Tùy vào mỗi giai đoạn, Nhà nước ban hành những chủ trương, chính sách để phù hợp với xu thế phát triển và yếu tố đặc thù của một số địa phương

Đắk Lắk là tỉnh nằm ở vị trí trung tâm của vùng Tây Nguyên, là địa bàn chiến lược về KT - XH, an ninh, quốc phòng và môi trường sinh thái quan trọng của cả nước,

là nơi cư trú của nhiều thành phần dân tộc Thế mạnh của Đắk Lắk được khẳng định là đất đai Tuy nhiên, đất đai là một dạng tài nguyên đặc biệt, bị giới hạn về diện tích, cố định về mặt không gian nên con người không thể dịch chuyển, làm tăng hay giảm diện tích đất theo ý muốn

Trước năm 1975, tỉnh Đắk Lắk là địa bàn cư trú chủ yếu của một số đồng bào DTTS tại chỗ Các DTTS tại chỗ ở Đắk Lắk mới chỉ có ý thức sở hữu chung của buôn làng về đất đai và quản lý, sử dụng đất theo luật tục, đứng đầu là chủ buôn làng/chủ đất

Từ sau ngày miền Nam giải phóng (1975), Đảng và Nhà nước đã triển khai nhiều chủ trương, chính sách nhằm khai thác tiềm năng và thế mạnh vùng Tây Nguyên nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng Công tác di dân xây dựng vùng kinh tế mới từ các địa bàn khác nhau đến Đắk Lắk đã làm cho dân số tăng lên rất nhiều lần; Hàng loạt nông, lâm trường quốc doanh quy mô lớn được thành lập; Việc thực hiện định canh, định cư cho người dân tại chỗ được đẩy mạnh Phong trào trồng cây công nghiệp và phát triển thủy điện được tiến hành Cùng với đó là việc ban hành Luật Đất đai nhằm trao quyền cho người sử dụng đất, sở hữu toàn dân về đất đai được công bố,… đất đai

Trang 10

đã thay đổi hình thức, chủ thể sở hữu và biến đổi cả về số lượng lẫn chất lượng một cách căn bản

Đến năm 1986, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trước hết là đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế Đắk Lắk là tỉnh

có tiềm năng to lớn về đất đai, nền kinh tế nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo và đổi mới

về cơ chế quản lý, việc sử dụng đất đai đóng vai trò quan trọng Đất đai trong giai đoạn

từ sau năm 1986 không còn là tư liệu sản xuất thuần túy mà trở thành một thứ hàng hóa

có giá trị cao được trao đổi trên thị trường Yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải vừa quản lý chặt chẽ, sử dụng hợp lý đất đai vừa phải quản lý và sử dụng phù hợp với yêu cầu phát triển KT-XH trong bối cảnh mới mà cụ thể là hướng việc quản lý và sử dụng đất đai gắn với với mục tiêu CNH, HĐH đất nước, đáp ứng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong bối cảnh mới

Những chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước và việc triển khai ở tỉnh Đắk Lắk góp phần tích cực vào sự phát triển KT-XH và cải thiện đời sống cho nhân dân

Trong quá trình thực hiện, chúng ta đã chủ quan, nóng vội để khai thác tiềm năng thế mạnh đất đai mà chưa chú ý đến đặc thù KT-XH của địa bàn, nhất là đối với tập quán quản lý, sử dụng đất rừng truyền thống của các dân tộc tại chỗ Mặt khác, việc khai hoang, sử dụng đất chưa tính đến quy hoạch lâu dài và kỹ thuật canh tác nên đất bạc màu, lượng đất bazan thoái hóa ngày càng cao, đất đai trở nên khan hiếm và trở thành vấn đề gay gắt trong những thập niên gần đây Sự gay gắt biểu hiện ở tình trạng tranh chấp đất giữa cá nhân với tập thể, giữa cá nhân với cá nhân, giữa tập thể và tập thể,… Tình trạng lấn chiếm, mua bán, sang nhượng trái phép, sử dụng sai mục đích, thiếu đất canh tác ở một bộ phận lớn người dân các DTTS, sử dụng đất không theo quy hoạch, Những mâu thuẫn và bất cập đó không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển KT-

XH, ổn định an ninh, quốc phòng và trật tự xã hội mà còn là kẻ hở để các thế lực phản động lợi dụng tuyên truyền, xuyên tạc và kích động chống phá cách mạng, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, sự kiện năm 2001 và 2004 diễn ra ở Đắk Lắk đã nói lên điều đó

Khi sự phát triển KT-XH đòi hỏi phải chuyển đổi cơ chế quản lý và việc sử dụng đất là khi xã hội đứng trước những bước chuyển đổi lớn có tính đột phá Vì thế, việc nghiên cứu quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý và sử dụng đất đai là một việc có

Trang 11

tầm quan trọng và có giá trị thực tiễn trong bối cảnh phát triển của địa phương nói riêng

và cả nước nói chung

Xuất phát từ thực tiễn trên, đồng thời nhận thực được sâu sắc về tầm quan trọng của cơ chế quản lý và sử dụng đất đai theo hướng bền vững, đúng pháp luật; sử dụng hiệu quả không lãng phí, đúng mục đích góp phần đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế; đảm bảo yêu cầu xây dựng khối đoàn kết các dân tộc và yêu cầu giải quyết mối quan

hệ giữa lịch sử và phát triển; đảm bảo công bằng xã hội trong sử dụng đất trên địa bàn

có nhiều chủ nhân sinh sống; phục vụ quá trình CNH, HĐH đất nước, đáp ứng nền

kinh tế thị trường định hướng XHCN;… nên chúng tôi chọn vấn đề: “Quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý và sử dụng đất đai ở tỉnh Đắk Lắk từ năm 1975 đến năm 2015” làm luận án tiến sĩ

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ quá trình chuyển đổi cơ chế và thực trạng quản lý, việc sử dụng đất đai tỉnh Đắk Lắk từ năm 1975 đến năm 2015, trên cơ sở đó rút ra nhận xét về sự chuyển đổi cơ chế, thực trạng quản lý, việc sử dụng đất đai; nguyên nhân thành công, hạn chế

và một số khuyến nghị góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất, thúc đẩy

KT-XH phát triển và giữ gìn an ninh, chính trị trên địa bàn

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu các yếu tố tác động đến quá trình chuyển đổi cơ chế, thực trạng quản lý và việc sử dụng đất đai ở tỉnh Đắk Lắk trước năm 1975;

- Phân tích cơ chế quản lý, thực trạng quản lý và việc sử dụng đất đai tỉnh Đắk Lắk từ năm 1975 đến năm 2015 qua 3 giai đoạn:

+ Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1986;

+ Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2003;

+ Giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2015

- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận án đánh giá sự chuyển đổi về cơ chế quản

lý đất đai và những thành tựu, hạn chế trong cơ chế, thực trạng quản lý và việc sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 1975 đến năm 2015; nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế và đưa ra một số khuyến nghị

Trang 12

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình chuyển đổi cơ chế quản lí và việc sử dụng đất đai tỉnh Đắk Lắk từ năm 1975 đến năm 2015

sử dụng đất đai

- Giai đoạn 2004 - 2015: Luật Đất đai 2003 cũng được ban hành và có hiệu lực

từ năm 2004 và ngày 1/1/2004 tỉnh nên cơ chế quản lý và việc sử dụng đất đai tỉnh Đắk Lắk có sự thay đổi Năm 2004 tỉnh Đắk Lắk đã được tách ra thành 2 tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông nên có thay đổi về địa giới hành chính

Về mặt không gian: Phạm vi không gian nghiên cứu trong đề tài là tỉnh Đắk

Lắk Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 2003 theo phạm vi, địa giới hành chính của tỉnh Đắk trước đây (bao gồm tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Đắk Nông hiện nay) và từ năm 2004 đến năm 2015 theo phạm vi của tỉnh Đắk Lắk khi đã tách tỉnh (không bao gồm tỉnh Đắk Nông hiện nay)1

Về mặt nội dung: Nghiên cứu những yếu tố tác động đến quá trình chuyển đổi

cơ chế quản lý đất đai tỉnh Đắk Lắk; Cơ chế quản lý và thực trạng quản lý, việc sử dụng đất đai trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk; nhận xét kết quả, nguyên nhân của những kết quả và đưa ra một số khuyến nghị về cơ chế, thực trạng quản lý và việc sử dụng đất đai ở tỉnh Đắk Lắk

1 Theo nghị quyết số 22/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đắk Lắk được chia thành hai tỉnh: Đắk Lắk và Đắk Nông

Trang 13

4 Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

4.1 Phương pháp luận

Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà

nước về cơ chế quản lý và việc sử dụng đất đai để làm rõ vấn đề nghiên cứu

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận án là phương pháp lịch sử, phương pháp logic và sự kết hợp giữa hai phương pháp này

Sử dụng phương pháp lịch sử trong đề tài là để tái dựng lại một cách toàn diện hệ thống

về cơ chế quản lý và việc sử dụng đất đai ở Đắk Lắk từ năm 1975 đến năm 2015 theo đúng tiến trình lịch sử, thời gian và không gian

Phương pháp logic sử dụng trong đề tài là để xem xét, nghiên cứu các sự kiện, thời điểm, kết quả… về cơ chế quản lý và việc sử dụng đất diễn ra trong không gian nghiên cứu dưới dạng tổng quát, nhằm vạch ra bản chất, khuynh hướng tất yếu, quy luật vận động của lịch sử phát triển Hơn nữa, sử dụng phương pháp logic còn nhằm để lý giải, khái quát, đánh giá và đưa ra những nhận thức khách quan về quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý, việc sử dụng đất đai và chiều hướng phát triển của không gian nghiên cứu trong một thời gian nhất định; trên cơ sở đó nhận xét, đánh giá cơ chế, thực trạng quản lý, sử dụng đất ở tỉnh Đắk Lắk một cách khách quan

để tìm ra cái tất yếu và quy luật vốn có để làm rõ những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân dẫn đến những thành tựu, hạn chế đó và đưa ra một số khuyến nghị từ quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý và việc sử dụng đất ở tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 1975 đến 2015

Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, đồng đại, lịch đại,

so sánh và phương pháp liên ngành

Ngoài ra, các phương pháp điều tra xã hội học, phỏng vấn, điền dã, khảo sát cũng được

áp dụng trong việc thu thập thông tin, kiểm chứng, đối chiếu với những gì chúng tôi đã tiếp cận qua tài liệu thành văn để làm rõ hơn các vấn đề trong luận án

4.3 Nguồn tài liệu

Tài liệu được khai thác trong đề tài chủ yếu gồm các nguồn sau:

- Văn kiện của các kỳ Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc; Nghị quyết các Hội nghị Trung ương; Nghị quyết, Chỉ thị của Chính phủ; Văn bản pháp luật của Quốc hội về Luật Đất đai và

Trang 14

chỉ đạo thực thi; Văn kiện và Nghị quyết của Đảng bộ và các văn bản pháp quy ở địa phương Đắk Lắk có liên quan đến cơ chế, thực trạng quản lý và sử dụng đất đai Nguồn tài liệu này đề cập những chủ trương, định hướng, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và những biện pháp thực thi của các cấp chính quyền địa phương liên quan đến luận án

- Các báo cáo, đánh giá thực hiện quản lý, sử dụng đất tỉnh Đắk Lắk của UBND tỉnh, Trung tâm Lưu trữ tỉnh Đắk Lắk, Sở Tài nguyên & Môi trường, Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Chi cục Lâm nghiệp, Cục Thống kê tỉnh Đắk Lắk và các ban, ngành liên quan

- Các công trình nghiên cứu, các đề tài cấp bộ, cấp Nhà nước và các luận văn, luận án liên quan đến đề tài

- Nguồn tài liệu từ các chuyến khảo sát, điền dã của nghiên cứu sinh

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Luận án là công trình nghiên cứu khoa học tổng hợp một cách hệ thống những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý đất đai trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ sau khi đất nước thống nhất đến năm 2015 và sự áp dụng vào thực tiễn địa phương

- Luận án luận giải về những nhân tố tác động đến cơ chế quản lý và việc sử dụng đất đai

ở tỉnh Đắk Lắk qua 3 thời kì 1975 - 1986; 1986 - 2003; 2004 - 2015;

- Luận án làm rõ cơ chế, thực trạng quản lý và việc sử dụng đất đai tỉnh Đắk Lắk từ năm

1975 đến năm 2015, đánh giá khách quan nguyên nhân dẫn đến những thành công cũng như những hạn chế, bất cập cơ chế và thực tiễn thực hiện;

- Từ việc đánh giá những thành công, hạn chế trong quá trình thực hiện chuyển đổi cơ chế quản lý và thực trạng quản lý, sử dụng đất đai ở Đắk Lắk, luận án đưa ra một số nhận xét, khuyến nghị, gợi mở một số vấn đề tiếp tục bổ sung, phát triển chủ trương, giải pháp cụ thể để thực hiện có hiệu quả hơn về cơ chế và thực trạng quản lý, sử dụng đất đai ở tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới;

- Kết quả của luận án góp phần phục dựng lại quá trình vận hành cơ chế quản lý và việc

sử dụng đất đai ở tỉnh Đắk Lắk, góp phần sinh động hơn bức tranh lịch sử địa phương trong chặng đường quá độ lên Chủ nghĩa xã hội,đáp ứng yêu cầu chung của CNH, HĐH đất nước với tính đặc thù của tỉnh Đắk Lắk

- Luận án là tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về cơ chế quản lý và việc sử dụng đất đai ở những đại phương có điều kiện tự nhiên, xã hội tương đồng với tỉnh Đắk Lắk

Trang 15

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Ý nghĩa lý luận:

Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu như trên, luận án cung cấp thêm cơ sở lý luận

và những luận cứ khoa học về cơ chế quản lý, sử dụng đất đai nói chung và cơ chế, thực trạng quản lý, sử dụng đất đai đối với địa bàn cụ thể nói riêng cũng như góp phần vào việc nghiên cứu, bổ sung lý luận về lịch sử cơ chế quản lý và việc sử dụng đất đai

Ý nghĩa thực tiễn:

- Luận án góp phần tạo ra một cách nhìn toàn diện, khoa học và thực tiễn hơn về cơ

chế và thực trạng quản lý, sử dụng đất nói chung và quản lý, sử dụng đất trên địa bàn tỉnh

Đắk Lắk nói riêng

- Bên cạnh đó, bằng việc phân tích, đánh giá một cách có hệ thống các quy định của pháp luật hiện hành về cơ chế, thực trạng quản lý, sử dụng đất, luận án có khả năng đóng góp những giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này

- Đồng thời, luận án còn là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học liên ngành, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan có thẩm quyền về quản lý và sử dụng đất

7 Cơ cấu của luận án

Cơ cấu luận án ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung được chia làm 5 chương

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 2 Khái quát về tỉnh Đắk Lắk và cơ chế, thực trạng quản lý, sử dụng đất đai

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Những công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Vấn đề cơ chế quản lý và việc sử dụng đất đai trên thực tế cả nước nói chung và

ở các địa phương nói riêng là một nội dung được các nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu, thể hiện ở nhiều công trình nghiên cứu khoa học, các bài viết trên các tạp chí và hội thảo quốc tế, sách chuyên khảo, tham khảo có giá trị cao dưới nhiều hình thức, góc độ khác nhau Tuy nhiên, luận án nghiên cứu về địa bàn một tỉnh cụ thể nên tác giả chỉ chọn lọc một số công trình liên quan trực tiếp đến luận án và xếp thành những nhóm công trình sau:

1.1.1 Những công trình nghiên cứu chung về chính sách quản lý và việc sử dụng đất đai

Cơ chế quản lý, việc sử dụng đất đai được nhiều tác giả hay tổ chức nước ngoài

và trong nước nghiên cứu Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án nên chúng tôi đưa ra một số công trình của các tác giả nước ngoài nghiên cứu mang tính lý luận chung về chính sách quản lý và sử dụng đất đai của Ngân hàng Thế giới World

bank Cụ thể, năm 2003, World bank đã có công trình Land policy - “Chính sách về đất đai” và năm 2004 với công trình nghiên cứu Local land use policy and investment incentives - “Chính sách sử dụng đất của địa phương và sự khuyến khích đầu tư” và Land policies for growth and poperty reduction - “Những chính sách đất đai cho phát triển và xoá giảm đói nghèo”, được đăng trên website: http://www.worldbank.org /urban/housing/diamond.pdf Đây là những nghiên cứu đưa ra chính sách quản lý, sử

dụng đất đai, cảnh báo về những quy định, phương thức quản lý và sử dụng đất của chính quyền địa phương có thể làm ảnh hưởng đến tốc độ và kiểu mẫu phát triển đô thị, cũng như sức ép của các quy định pháp luật đối với các nhà hoạch định chính sách có thể làm thay đổi những tác động được mong đợi trong cơ chế quản lý và việc sử dụng đất đai Mối liên hệ giữa chính sách quản lý đất đai, khuynh hướng sử dụng đất ảnh hưởng đến phát triển và nghèo đói của các nước đang phát triển, các giải pháp khuyến nghị nhằm xóa giảm đói nghèo, thúc đẩy phát triển bền vững

Trang 17

Có thể tóm tắt một số kinh nghiệm chính được các nhà nghiên cứu nước ngoài đưa ra như sau: Người sử dụng đất sẽ đầu tư vào đất đai gia tăng nếu các quyền của họ

về đất được chia nhỏ và tăng lên; Việc cải thiện hệ thống thông tin về đất đai là việc phải làm thường xuyên, ngay cả các quốc gia có thị trường đất phát triển cũng phải trả giá cho việc thiếu thông tin; Cơ chế quản lý và việc sử dụng đất đai đòi hỏi phải được kiểm tra, kiểm soát thường xuyên, chặt chẽ để có quy hoạch sử dụng phù hợp, mang lại hiệu quả cao; Nâng cao vai trò của các cơ quan có thẩm quyền về quản lý đất, đăng ký đất, lập hồ sơ, bản đồ địa chính, cấp giấy CNQSDĐ ,…; Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý đất, giữa Nhà nước và các tổ chức quản lý đất cần phải nhịp nhàng Các chính sách quản lý và sử dụng đất, xây dựng phát triển công trình, đô thị, tín dụng tài chính đều được phát huy nhằm tối đa việc phát triển thị trường bất động sản Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch được tiến hành có sự tham gia phối hợp của nhiều phía, phối hợp giữa các cấp và chính quyền địa phương, được điều chỉnh kịp thời trong quản

lý, sử dụng đất Cần có sự phối hợp của các cơ quan tư pháp như: Tòa án, viện kiểm sát trong quản lý đất, trong kiểm tra thực thi luật, các quyết định quản lý của cơ quan hành pháp tại địa phương,…

Trên thực tế, mỗi quốc gia có sự khác biệt về văn hoá và xã hội, cũng như trình

độ phát triển kinh tế, khoa học nên quan niệm về đất đai, cơ chế, thực trạng quản lý và

sử dụng đất cũng khác nhau Nhưng, những nghiên của các tác giả nước ngoài về đất đai có giá trị khoa học cao và là tư liệu quý để tôi tham khảo, học tập kinh nghiệm về

cơ chế quản lý, việc sử dụng đất đai cho Việt Nam nói chung và Tây Nguyên, Đắk Lắk nói riêng

Bên cạnh một số công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài như trên, ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về chính sách quản lý và sử dụng đất đai được nhiều người quan tâm:

Cuốn sách của tác giả Lâm Quang Huyên (2002), Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam,

Nxb Khoa học xã hội đã trình bày có hệ thống các sử liệu về toàn bộ cách mạng ruộng đất ở Việt Nam (Bắc và Nam) trong 30 năm (1945 - 1975), một cuộc cách mạng ruộng đất triệt để do lãnh đạo Bên cạnh đó, tác giả cũng cho chúng ta thấy cách giải quyết vấn đề ruộng đất trên thế giới của các nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô, Trung Quốc, Cu Ba,… và một số nước tư bản chủ nghĩa như Cộng hòa Pháp, Nhật Bản, lãnh

Trang 18

thổ Đài Loan, Cộng hòa Ấn Độ, Philippin,… Đây là tài liệu giúp tôi có những cơ sở lý luận chung, những kinh nghiệm của một số nước xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa trên thế giới cũng như kinh nghiệm thực tiễn từ Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử

để góp phần thực hiện luận án

Cuốn sách của các tác giả Nguyễn Khắc Thái Sơn (2007), Quản lý nhà nước về đất đai, Nxb Nông Nghiệp Hà Nội và tác giả Nguyễn Đình Bồng (2012), Quản lý đất đai ở Việt Nam (1945 - 2010), Nxb chính trị Quốc gia đã cung cấp những kiến thức cơ

bản về quá trình phát triển của công tác quản lý, sử dụng đất đai ở Việt Nam qua các thời kỳ từ phong kiến và Pháp thuộc cho đến năm 2010, đặc biệt là giai đoạn 1987 - 2010; chỉ rõ phương pháp, nội dung và công cụ quản lý nhà nước về đất đai

Tuy hai cuốn sách đã đề cập đến vấn đề quản lý, sử dụng đất đai ở Việt Nam, nhưng nội dung cơ bản theo luật đất đai năm 2003, trong khi đó, bối cảnh hiện nay khi

mà luật đất đai 2013 đã được thực thi, cần có những nghiên cứu thực tiễn trong điều kiện mới ở một địa phương cụ thể nhằm đạt hiệu quả cao nhất Vì thế, đây là những tư liệu giúp tôi có cái nhìn hệ thống về cơ chế quản lý và việc sử dụng đất đai trước năm

2013, sau đó đối chiếu với luật đất đai mới 2013 để thấy sự khác nhau, sự chuyển đổi

về cơ chế quản lý, sử dụng đất đai ở nước ta

Cuốn sách của các tác giả thuộc Hội Khoa học đất Việt Nam, Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên & Môi trường do Nguyễn Đình Bồng làm chủ biên (2004), Mô hình quản lý đất đai hiện đại ở một số nước và kinh nghiệm cho Việt Nam, Nxb Chính

trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội đã tập trung phân tích hệ thống pháp luật đất đai trên thế giới; quy hoạch sử dụng đất; giao đất, cho thuê đất,… ở các nước Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Thụy Điển, Australia, Nga,… Mặc dầu cơ chế, thực trạng quản lý và sử dụng đất đai ở mỗi nước có nguồn gốc hình thành, phát triển, đặc điểm riêng phù hợp với mỗi nước, nên không có một mô hình được cho là hoàn chỉnh của nước này mà có thể áp dụng nguyên bản với nước khác Tuy nhiên, cuốn sách này được trình bày theo hướng tiếp cận các thành phần chủ yếu của hệ thống quản lý, sử dụng đất đai với kinh nghiệm của các nước được đánh giá cao về mô hình quản lý đất đai một số nước trên thế giới Trong bối cảnh toàn cầu hóa, giao lưu và hội nhập, việc tham khảo mô hình nước ngoài, vận dụng phù hợp vào thực tiễn trong nước là việc làm cần thiết Tôi rất quan

Trang 19

tâm đến việc xem xét, công nhận các mô hình quản lý, sử dụng đất, từ đó tìm ra những

cách giải quyết tốt về nhu cầu đất đai tại Việt Nam nói chung và Đắk Lắk nói riêng

Bên cạnh các tài liệu bằng sách đã xuất bản còn có hệ thống các đề tài cấp bộ, các công trình là luận án tiến sĩ, luận văn cao học nghiên cứu về đất đai ở một số địa phương, vùng miền cụ thể như:

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của tác giả Nguyễn Khắc Thái Sơn (2006),

Đánh giá thực trạng và những giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, lưu tại Thư viện Trường Đại học Nông Lâm

Thái Nguyên đã hệ thống hóa những đặc trưng cơ bản của quản lý nhà nước về đất đai, làm rõ những quan hệ trong quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên; xây dựng và đánh giá quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền huyện Đồng Hỷ bằng hệ thống chỉ tiêu đánh giá, từ đó đề xuất biện pháp quản lý thích hợp

nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền cấp huyện

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước của Phạm Hữu Nghị (2000), Những quy định về chuyển quyền sử dụng đất",lưu tại Thư viện Viện nghiên cứu địa chính -

Tổng cục Địa chính và một số đề tài khoa học cấp Bộ do Viện nghiên cứu Địa chính

thực hiện viết về các vấn đề cụ thể như: thị trường bất động sản, công tác giải phóng mặt bằng, công tác cấp giấy CNQSDĐ, công tác quy hoạch đất nông, lâm trường, công tác

đo đạc lập bản đồ địa chính,… là những tài liệu mang tính cơ sở lý luận chung để chúng tôi tham khảo

Luận án Tiến sỹ Kinh tế của Trần Thế Ngọc (1997) Chiến lược quản lý đất đai thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010, Mã số: 5.02.05, Tp Hồ Chí Minh nghiên cứu

chủ yếu về công tác lập và quản lý quy hoạch sử dụng đất của Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay và hướng phát triển quản lý và sử dụng đất cho những năm tiếp theo; Với thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm kinh tế - chính trị của cả nước Nơi đây thu hút nhiều nguồn dân lao động tự do nhập cư, sau đó có một

bộ phận tìm cách nhập khẩu lại thành phố Nó cũng có nét gần tương đồng với Tây Nguyên nói chung, Đắk Lắk nói riêng khi nguồn dân di cư tự do vào sinh sống lập nghiệp ngày một tăng lên gây nên những xáo trộn trong việc quản lý, sử dụng đất cho nên chúng ta cần nghiên cứu, tham khảo và tìm giải pháp phát triển, làm giảm áp lực

dân số hạn chế những ảnh hưởng đến quản lý đất đai

Trang 20

Luận án tiến sỹ Luật học của Nguyễn Quang Tuyến (2003) Địa vị pháp lý người

sử dụng đất trong các giao dịch dân sự, thương mại về đất đai, lưu tại Thư viện

Trường Đại học Thương mại nghiên cứu về các quy định của pháp luật, địa vị của người sử dụng đất, ảnh hưởng đến các giao dịch về đất đai cũng như việc quản lý và thúc đẩy sự phát triển thị trường bất động sản và hoàn thiện pháp luật đất đai

Một số luận văn chuyên ngành Quản lý đất đai của các tác giả Ngô Văn Thanh

(2012), Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định”, trường Đại học Đà Nẵng và hai Luận văn Thạc sỹ lưu tại thư viện Trường Đại học Thương Mại của Nguyễn Hữu Hoan (2014), Quản lý nhà nước đối với quy hoạch sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Phúc Thọ, Hà Nội và Nguyễn Đức Quý (2014), Quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

đều tập trung nghiên cứu về vấn đề quản lý nhà nước về đất đai trên các địa bàn khác nhau Các tác giả đã chỉ rõ được thực trạng quản lý nhà nước về đất đai, đánh giá được những thành tựu và hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế, từ đó làm cơ sở cho định hướng và những giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý đất đai tại địa phương Tuy các luận văn trên nghiên cứu về những địa bàn khác nhau nhưng từ những phân tích của các tác giả giúp chúng tôi có cái nhìn tư duy về quản lý và sử dụng đất đai giữa các vùng miền để tìm ra những điểm tương đồng, khác biệt và đưa ra những giải pháp thiết thực hơn cho quản lý và sử dụng đất tại địa bàn nghiên cứu

Luận văn thạc sỹ kinh tế của Phan Thị Thanh Tâm, trường Đại học Kinh tế -

Đại học Quốc gia Hà Nội, thực hiện năm 2014 về Quản lý nhà nước về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An lý giải tầm quan trọng của

việc đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận QSDĐ từ đó làm rõ ý nghĩa của việc cấp giấy CNQSDĐ Việc đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận sẽ giúp các cơ quan quản lý thu thập thông tin, giúp nhà nước quản lý được QSDĐ với các đối tượng khác nhau hạn chế tranh chấp, kiện tụng, hỗ trợ các giao dịch về đất đai Tác giả phân tích, đánh giá tình hình công tác đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận trên địa bàn huyện Diễn Châu và đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường công tác đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận trên địa bàn huyện Diễn Châu Đây là một tài liệu quý để chúng tôi tham khảo và tìm những giải pháp hữu hiệu cho việc việc cấp giấy CNQSDĐ trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Trang 21

Luận văn thạc sỹ ngành Quản lý đất đai của Đào Thị Thuý Mai, Trường Đại học

Nông Nghiệp Hà Nội, thực hiện năm 2012 về Đánh giá thực trạng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn thành phố Hưng Yên - Tỉnh Hưng Yên đã làm rõ

hơn cơ sở lý luận và căn cứ pháp lý của công tác cấp giấy CNQSDĐ, tình hình đăng ký đất đai, cấp giấy CNQSDĐ của một số nước trên thế giới Tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về đất đai thông qua kết quả đánh giá thực trạng cấp giấy CNQSDĐ Xác định những thuận lợi và khó khăn của công tác này trên địa bàn thành phố Hưng Yên

Những công trình nghiên cứu về cơ chế, chính sách quản lý và sử dụng đất đai mà chúng tôi tiếp cận được, ngoài việc xây dựng luận cứ khoa học, đã cung cấp thông tin một cách tổng hợp, khái quát những vấn đề lý luận về cơ chế quản lý, việc sử dụng đất; đồng thời, các công trình này cũng là hướng gợi mở các vấn đề cho tôi tiếp tục nghiên cứu

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về chính sách quản lý và sử dụng đất đai

ở Tây Nguyên và Đắk Lắk

1.1.2.1 Những công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

Trong lịch sử hình thành và phát triển, vùng đất Tây Nguyên nói chung, Đắk Lắk nói riêng đã trải qua nhiều biến cố, thăng trầm và những đổi thay lớn lao Trước thế kỉ XV, Tây Nguyên hầu như tách biệt, khép kín với bên ngoài, nhưng cũng có một thời kì dài sau đó chịu ảnh hưởng của phong kiến Chăm, Khơ Me, triều Nguyễn và tiếp đến lại chịu sự áp bức bóc lột của thực dân Pháp và đế quốc Mĩ Vì thế, việc nghiên cứu, tìm hiểu sâu về vùng đất này trước đây chưa được nhiều và sâu sắc như những

vùng miền khác của đất nước

Trong thời kì thực dân Pháp cai trị Việt Nam, đã có những phát hiện điều tra khảo sát thực địa và nhiều công trình nghiên cứu mang tính chất chuyên ngành như khảo cổ học, dân tộc học, địa lí lịch sử của các nhà khoa học và những sĩ quan trong quân đội thực dân về vùng đất và con người Tây Nguyên nhằm mục đích phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp Để thực hiện âm mưu xâm lược nước ta, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, cùng với việc truyền bá Công giáo làm đội quân tiền phong, người Pháp chú ý đến việc nghiên cứu Tây Nguyên Phần lớn những nghiên cứu về Tây Nguyên thời kỳ này là nghiên cứu dạng mô tả, phân tích với mục đích giúp họ hiểu hơn về tự nhiên, văn hóa, KT-XH và con người Tây Nguyên

Trang 22

Tác giả Piere Dourisboure, một nhà truyền giáo đã sống 35 năm ở Tây Nguyên,

viết cuốn sách năm 1929 với tựa đề: Le Sauvages Bahnas (Cochinchine Orientale) souvenirs d’un missionnaire, Missions étrangères, Paris - Ba Na hoang dã (Nam Đông

Dương) - Kỷ niệm về chuyến truyền giáo - Truyền giáo nước ngoài Qua nhiều lần đổi tên2, đến năm 2008, nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản chính thức lấy tên Dân Làng Hồ

Đây là cuốn sách viết về buổi đầu gian khó trong hành trình truyền giáo lên cao nguyên của các giáo sĩ phương Tây, nhưng đã cho người đọc hiểu biết liên quan đến các cộng đồng người tại chỗ Tây Nguyên mà ngày nay không phải muốn là còn có thể tìm thấy, khi các làng buôn ngày càng được hiện đại hóa Trong cuốn sách này có liên quan đến tộc người Ê đê và M’nông, đây là hai tộc người có dân số đông nhất so với các DTTS khác tại Đắk Lắk hiện nay Nhiều người từng biết dân tộc Ê Đê và M’nông có truyền thống quản lý và sử dụng rừng, đất rừng theo phong tục tập quán và luật tục của họ Họ

có những quy định cụ thể từ việc chọn rừng làm rẫy, cách phát rẫy, đốt rẫy đều được quy định cụ thể do ai đảm nhiệm và thực hiện vào thời gian nào thì hợp lý Trong quá trình sử dụng đất làm nương rẫy, có một số loại cây to không được chặt phá, một số địa điểm như rừng đầu nguồn không được khai thác,… Đất đai, rừng núi tuy là của chung buôn làng nhưng không phải mọi người sử dụng một cách tùy tiện, theo ý thích của mình Từ việc quản lý, sử dụng đất đai đều có những quy định cụ thể như đối với đất được canh tác và đất không được canh tác Nếu vi phạm sẽ bị buôn làng xử phạt và mọi người trong buôn đều tuân thủ theo Đây là những qui định bất thành văn nhưng cũng

là sức mạnh “pháp lý” của cộng đồng trước đây Đây là một trog những cuốn hồi kí sớm ghi chép lại rõ ràng phong tục tập quán trong canh tác của các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng như dân tộc Ê đê và M’nông mà tôi sẽ sử dụng làm tư liệu cho phần quản lý, sử dụng đất đai truyền thống ở Đắk Lắk

Cuốn sách của H.Bernard (1907), Les populations Moi du Darlac - Những cư dân Mọi ở Đắk Lắk, Bullentin d’Ecole Francaises d`Extrème Orient, công trình này đã

mang đến cho người đọc một cái nhìn tổng thể về cư dân các tộc người thiểu số ở Đắk Lắk nói chung và tộc người Ê đê nói riêng Đây là một trong những yếu tố tác động đến

2 Gần 40 năm sau ngày tác giả qua đời, năm 1929, cuốn hồi ký đặc sắc được xuất bản tại Paris, thủ đô nước Pháp Bản dịch của một người ẩn danh được in tại Sài Gòn năm 1972 là ấn bản đầu tiên ở Việt Nam được mang tên Dân Làng Hồ Sau đó, dựa trên văn bản này, có ít nhất hai lần sách được “tái bản” không chính thức, lần lượt dưới các tên gọi Truyền giáo Tây Nguyên (bản copy cuốn in năm 1972) và Lửa thiêng Tây Nguyên (nhóm Alpha - 2007)

Trang 23

quản lý, sử dụng đất hiện nay ở Đắk Lắk khi mà bên cạnh cơ chế quản lý đất đai quan phương thì trên địa bàn còn tồn tại quản lý đất đai phi quan phương thể hiện ở sự lồng ghép giữa Luật Đất đai hiện nay và Luật tục tại các DTTS tại chỗ Đắk Lắk trong xử lý các vụ tranh chấp, lấn chiếm, kiện tụng về đất đai

Những thập niên tiếp theo, một số công trình sưu tầm và nghiên cứu phản ánh những vấn đề cụ thể về địa lý, văn hóa, xã hội tộc người được công bố như:

“Monographie de province du Darlac, Extrême - Orient” (Chuyên khảo về tỉnh Đắk Lắk, Viễn Đông), Hanoi, của Mus P, xuất bản năm1931 và công trình “L’habitation Rhade” (Nhà ở của Ra Đê) của M.Ner nghiên cứu về nhà ở, kiến trúc của người Ê đê, công bố trên Tạp chí Cahiers de l’Ecole Fracaise d’Etrême- Orient, Supplément 2, Hà

Nội, năm 1942 Trong các công trình này có đề cập đến vấn đề nhà ở, từ mảnh đất để cất nhà đến nguyên vật liệu làm nhà được lấy từ rừng Đấy là một trong những quy tắc buôn làng đề ra để bảo vệ rừng, liên quan đến quản lý rừng và đất rừng của người Ê Đê tại tỉnh Đắk Lắk

Từ những năm 1920, người Pháp đã quan tâm đến luật tục của các dân tộc Tây Nguyên Người đầu tiên sưu tầm và dịch ra tiếng Pháp luật tục của người Ê đê là Léopold Sabatier, Công sứ Pháp ở Darlac, công bố bộ sưu tập luật tục bằng chữ Ê đê là

“Palapre du Sermen au Darlac” (Luật tục người Ê Đê ở Đắk Lắk), Bulletin de la

Société, de Etudes Indochinois, Hanoi, 1927 Đến năm 1940, ông Dominique Antomarchi dịch công trình này qua tiếng Pháp và được in trên tạp chí Trường Viễn Đông Bác Cổ Sau năm 1975, nhà dân tộc học Nguyễn Hữu Thấu căn cứ vào bản Pháp ngữ, công bố bản dịch tiếng Việt, dưới dạng tài liệu nghiên cứu; năm 1996, sách được

in chính thức, sau khi đã có sự bổ sung về nội dung Luật tục Ê đê gồm 11 chương và

236 điều, trong đó cuốn sách đã dành trọn chương XI gồm 8 điều đã khái quát rất rõ những quy định và cấm kị trong việc sử dụng, quản lí đất đai, trong đó có đất rừng của người Ê đê Những quy định từ việc chọn rẫy, cách phát rẫy, đốt rẫy cho đến những quy định về đất ở, đất nghĩa địa, đất canh tác và đất cấm canh tác Nếu ai vi phạm vào những điều cấm kị ấy thì bị trừng phạt;…

Giai đoạn sau có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả liên quan đến quản

lý, sử dụng đất ở Tây Nguyên và Đắk Lắk

Trang 24

Trước hết, phải kể đến các công trình của Georges Condominas, người đã trở

nên nổi tiếng với hai tác phẩm về người M’nông Gar: Chúng tôi ăn rừng đá - thần Gôo

và Cái xa lạ là cái hàng ngày Chúng tôi ăn rừng đá - thần Gôo (Nous avons mangé la Forêt de la Pierre Génie Gôo) được xuất bản đầu tiên vào năm 1957, sau đó được tái

bản nhiều lần vào các năm 1974, 1982 Năm 2003, nhà xuất bản Thế giới và Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ấn hành bằng tiếng Việt do Trần Thị Lan Anh, Phan Ngọc Hà, Trịnh Thu Hồng, Nguyễn Thu Phương dịch, Nguyên Ngọc hiệu đính Nội dung chính của cuốn sách là các ghi chép hết sức cụ thể, chi tiết về không gian địa lý, không gian

xã hội và không gian văn hoá của người Mnông Gar ở làng Sar Luk, xã Krông Nô, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk Trong cuốn sách tác giả dùng chữ “Ăn rừng” ở đây là một động từ dùng để mô tả hoạt động làm nương rẫy, tương tác với rừng của của người M’nông Gar, đó là một nét văn hóa trong ứng xử với rừng, cách khai thác nhưng vẫn bảo vệ được rừng và vốn đất rừng của người M’nông trước đây

Trong các công trình viết về tộc người Ê đê, tác phẩm Le cerf au sud du Vietnam - Người Ra Đê ở Nam Việt Nam, Báo cáo sơ bộ của J D Donoghe (1963)

trình bày một cách toàn diện về tộc người Ê Đê trên các lĩnh vực văn hóa, kinh tế, xã hội Jacques Dournes là một trong những nhà dân tộc học người Pháp, ông sống ở Tây Nguyên gần suốt ba mươi năm, am hiểu sâu sắc hàng chục các tộc người thiểu số ở đây, nói thành thạo ngôn ngữ của họ và đã viết hàng chục công trình có thể coi thuộc

số những công trình nghiên cứu cơ bản nhất về Tây Nguyên cho đến nay Mùa Xuân

năm 1950, với bút danh Dam Bo, ông đã giới thiệu công trình nghiên cứu về Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương trên tạp chí Pháp Á Tiếp đó, Jacques Dournes cho ra đời một số công trình như: Pötao, một lý thuyết về quyền lực ở người Gia rai Đông Dương”; “Lần theo vết chân những người trên Cao nguyên ở Việt Nam và cuốn sách cuối cùng của ông “Rừng, Đàn bà, Điên loạn” Những công trình này không chỉ giới

thiệu về Tây Nguyên nói chung mà còn giúp cho người đọc hiểu rõ hơn về các dân tộc tại chỗ Đắk Lắk như người Gia Rai, Ê đê và M’nông trong tất cả chiều sâu lịch sử - văn

hóa của họ Trong cuốn sách cuối cùng ông viết về Tây Nguyên Rừng, đàn bà, điên loạn ông đã viết về hiện thực đời sống người Gia Rai, một tộc người thiểu số sinh sống

ở tỉnh Gia Rai và huyện Ea H’leo tỉnh Đắk Lắk Theo quan sát và nhận thức của ông, đối với người Gia Rai nói riêng, các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên nói chung, rừng là

Trang 25

một thực tại kép, nước đôi, lưỡng nghĩa Con người nơi đây sống trong rừng, cùng với rừng, hòa (tan) với rừng “Nền văn minh Gia Rai là một nền văn minh thảo mộc” Rẫy

và làng là một phần cắt ra từ rừng, lấy đi của rừng bằng rìu và lửa: Không hề lãng phí

và cũng chẳng tàn phá, đúng vừa để sinh tồn, bên cạnh và cùng các giống loài khác, động vật và thực vật” Rừng có tầm quan trọng như vậy nên từ xa xưa người Gia Rai nói riêng, các dân tộc tại chỗ Đắk Lắk nói chung đã hình nên một phương cách quản lý, bảo vệ rừng Đây là những nguồn tư liệu quý để chúng tôi xem xét, so sánh với phương thức quản lý hiện nay để thấy được những biến đổi trong việc quản lý, sử dụng đất đai

và từ đó chúng ta có hành động đúng trên vùng đất này, ở bất cứ lĩnh vực nào, trong bất

cứ thời gian và hoàn cảnh nào

Giai đoạn 1954 - 1975, để thực hiện chủ nghĩa thực dân mới, Mỹ tăng cường nghiên cứu, tìm hiểu về dân tộc học, văn hóa, xã hội Tây Nguyên Một số công trình về các dân tộc ở Tây Nguyên đã được xuất bản Đáng chú ý là các công trình của

G.Hickey (1966): Minority Groups in the Republic of Vietnam, US Headquartes, Departmen of the Army (Những nhóm tộc người chính ở Việt Nam Cộng hoà); tướng Westmoreland (1967) chủ biên Sau năm 1975, G.Hickey còn công bố công trình Tự

do trên miền rừng, nguyên bản Free in the the forest Ethnohistory of the Vietnamese Central Highlans 1954 - 1976, New Haven and London Yale University Press, 1982

(Nguyễn Tấn Đắc dịch ra tiếng Việt) Những công trình này đã giới thiệu cho chúng ta biết về các tộc người chính ở Tây Nguyên nói chung, Đắk Lắk nói riêng như Gia Rai, Ê

Đê, M’nông, … và những sinh hoạt đời sống hàng ngày của họ gắn với núi rừng Tây Nguyên Cách họ khai thác những nguyên vật liệu từ rừng phục vụ cho nhu cầu cuộc sống tự cung tự cấp và gìn giữ môi trường, rừng núi, đất đai cho các thế hệ con cháu sau này có đất để dựng buôn làng, canh tác, có cái ăn từ rừng để sinh sống,…

Những công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về Tây Nguyên nói chung, Đắk Lắk nói riêng đã trải qua một thời gian dài Từ đó đến nay, trên vùng đất này đã có nhiều yếu tố tác động mạnh mẽ đến toàn bộ cuộc sống và con người Bên cạnh đó, một số cuốn sách với mục đích phục vụ cho mưu đồ xâm lược, khai thác nên trong quá trình sử dụng làm tư liệu tôi đã có những chọn lọc để tham Nhiều sự kiện đã được soi sáng dưới những góc nhìn mới, do đó có thể được nhìn nhận và giải thích theo những cách mới, sáng rõ và chân xác hơn Một số nhận định, ước thuyết của các tác giả

Trang 26

đã bị vượt qua, hoặc được đính chính lại, một số hiểu biết mới được bổ sung, do những nghiên cứu mới trong suốt thời gian từ đó đến nay Những công trình này không tập trung nghiên cứu trực tiếp đến vấn đề chuyển đổi cơ chế quản lí và sử dụng đất đai ở Đắk Lắk nhưng ít nhiều cho cung cấp nguồn tư liệu để giúp tôi thấy được các tộc người tại chỗ Đắk Lắk họ đã có những luật tục, quy tắc trong vấn đề quản lý và sử dụng đất đai truyền thống Đó sẽ là nguồn tư liệu quý giá cho tôi tiếp cận nghiên cứu và so sánh giữa quá khứ - hiện tại

1.1.2.2 Những công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước

Trước năm 1975, có một số công trình của các nhà khoa học nghiên cứu về Tây Nguyên, trong đó liên quan đến vấn đề sở hữu, quản lí và sử dụng đất rừng của người

dân các dân tộc Tây Nguyên Có một số công trình như: Paul Nur (1966), Sơ lược về chính sách Thượng vụ trong lịch sử Việt Nam, Xuất bản tại Sài gòn; Bộ phát triển sắc tộc (1974), Thành quả công tác kiến điền Thượng, Sở Kiến điền ấn hành, tài liệu Trung

tâm Dân tộc học và Tôn giáo, Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh, kí hiệu: BV - 087;… Tác giả của những cuốn sách này đã giới thiệu một số chính sách về quản lý, sử dụng đất đai của các dân tộc Tây Nguyên và Đắk Lắk, những thành tựu đạt được đối với công tác kiến điền đối với các dân tộc Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng Đây là những tư liệu để tôi tiếp cận và xem xét những kinh nghiệm đối với quản lý và sử dụng đất ở địa bàn mang nhiều tính đặc thù như tỉnh Đắk Lắk

Từ năm 1975 về sau, những vấn đề về đất và người Tây Nguyên nói chung đã được nhiều tác giả nghiên cứu Nhiều công trình đã xuất bản đề cập tới các khía cạnh,

góc độ khác nhau của vùng Tây Nguyên như: Bế Viết Đẳng (chủ biên) (1982), Đại cương về các dân tộc Ê Đê, M’nông ở Dak Lak, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (2002) Một số vấn đề phát triển kinh tế, xã hội buôn làng các dân tộc Tây Nguyên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Đây là những công

trình nghiên cứu làm cơ sở ban đầu để tìm hiểu về văn hoá, KT-XH của các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên trong sự phát triển chung của địa phương Nó được xem như là nền tảng đầu tiên cho những nghiên cứu sâu hơn về từng dân tộc, và từng mặt phong phú và hết sức đa dạng trong đời sống của các dân tộc có lịch sử lâu đời và có truyền thống văn hóa đặc sắc này Một số nội dung của các tác phẩm này có liên quan đến luận án và có thể được tham khảo như đời sống kinh tế, tập quán sinh hoạt, đời sống văn hóa xã hội

Trang 27

của tộc người Ê đê, M’nông Trong đề tài luận án tôi sẽ sử dụng tư liệu này để tìm hiểu

về quản lý và sử dụng đất truyền thống của các tộc người tại chỗ Đắk Lắk

Từ những năm 1980 đến nay, vấn đề đất đai ở vùng đất Tây Nguyên nói chung, Đắk Lắk nói riêng - nơi mảnh đất có nhiều chủ nhân sinh sống ngày càng diễn biến phức tạp và gây ra những mâu thuẫn Vì vậy, ngày càng có nhiều tác giả chú tâm nghiên cứu

Cuốn sách của Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1989), Một số vấn đề phát triển kinh tế xã hội Tây Nguyên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội là một cuốn sách tổng hợp những kết quả nghiên cứu của chương trình Tây Nguyên II với tựa đề Điều tra cơ bản kinh tế xã hội Tây Nguyên (mã số 48C) với nhiều báo cáo tham luận của nhiều nhà

nghiên cứu được trình bày trong các cuộc hội thảo Nội dung của cuốn sách đã đưa ra những lo ngại và khuyến cáo hậu quả khó lường của tình trạng di dân và tăng dân số cơ học đối với việc phá rừng, tác động tiêu cực tới đời sống và văn hóa của các tộc người tại chỗ Những ưu và nhược điểm của hệ thống sở hữu đất đai cổ truyền của các dân tộc tại chỗ, việc sử dụng đất lãng phí của nông, lâm trường và lo ngại về việc bảo tồn văn hóa truyền thống và phát triển xã hội ở các cộng đồng dân cư tại chỗ

Cuốn sách Vấn đề phát triển kinh tế, xã hội các DTTS ở Đắk Lắk (1990) do Ủy

ban Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với Tỉnh ủy và UBND tỉnh Đắk Lắk nghiên cứu và ấn hành đã bước đầu nghiên cứu về những điều kiện KT-XH của các DTTS Đắk Lắk như sở hữu đất đai, công tác định canh định cư, phát triển kinh tế gia đình, một số vấn đề về văn hóa xã hội, giáo dục và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là cơ sở

để chúng tôi tham khảo để góp phần xác định những quy tắc, chuẩn mực quản lý, sử dụng đất đai trong xã hội cổ truyền của người Ê đê, M’nông và một số yếu tố tác động đến quản lý và sử dụng đất đai hiện nay trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Cuốn sách của Vũ Đình Lợi - Bùi Minh Đạo - Vũ Thị Hồng (2000), Sở hữu và

sử dụng đất đai ở các tỉnh Tây Nguyên, Nxb, Khoa học xã hội, Hà Nội đã đề cập đến

những vấn đề cấp bách cần được giải quyết và vấn đề sở hữu và sử dụng đất đai ở các tỉnh Tây Nguyên Tác động của những chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước và một số yếu tố khác như vấn đề di cư, đến sở hữu và sử dụng đất đai đối với các tỉnh Tây Nguyên, nhất là đối với các đồng bào DTTS Những mâu thuẫn giữa một bên là sở hữu và sử dụng cộng đồng truyền thống của các dân tộc tại chỗ và một bên là

Trang 28

luật đất đai mới dẫn đến một số hệ lụy kéo theo liên quan đến vấn đề đất đai cũng như ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc Từ thực tế đó, các tác giả cũng đưa ra những kiến nghị và giải pháp để góp phần giải quyết những mâu thuẫn cũng như đưa Tây Nguyên đi theo hướng phát triển bền vững Đáng chú ý là lời cảnh báo mạnh mẽ đã được nêu ra nhưng không được lưu ý đúng mức và gần đây một phần đã trở thành hiện thực: “Sẽ là không quá sớm khi đưa ra lời cảnh báo rằng nếu không kịp thời có giải pháp khắc phục những khiếm khuyết của quá trình khai thác và sử dụng đất đai thì ‘vấn

đề dân tộc’ sẽ rất có thể phát sinh trong thực tế nay mai ở Tây Nguyên, chí ít là mất ổn định, nghiêm trọng là máu lại đổ, với sự can thiệp vừa kín đáo, vừa trắng trợn của kẻ thù dưới chiêu bài bảo vệ người dân tộc, bảo vệ quyền tự do tôn giáo Một khi vấn đề dân tộc và tôn giáo quyện vào nhau thì nguy cơ tới thật khó lường”

Cuốn sách Một số vấn đề phát triển kinh tế, xã hội buôn làng các dân tộc Tây Nguyên, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, năm 2002 do Ngô Đức Thịnh và Võ Quang

Trọng tổ chức bản thảo và biên tập, cuốn sách này đã tập hợp nhiều bài viết của một số nhà nghiên cứu khoa học về Tây Nguyên một số nhà quản lý các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Lâm Đồng Nội dung cuốn sách tái hiện về luật tục, hương ước và quản

lý cộng đồng đối với một số lĩnh vực ở một số dân tộc Tây Nguyên; những vấn đề phát triển KT-XH của buôn, làng Điều mà tôi quan tâm trong cuốn sách này là một số bài viết liên quan đến vấn đề đất đai ở Tây Nguyên, trong đó có Đắk Lắk:

- Tác giả Ngô Đức Thịnh với bài viết dưới tựa đề “Buôn làng, luật tục và vấn đề quản lý cộng đồng của các tộc người Tây Nguyên hiện nay” nói về một số dân tộc tại chỗ Tây Nguyên, trong đó tác giả nói đến sở hữu công cộng của buôn làng về rừng và đất rừng mà mỗi người dân chỉ có quyền chiếm dụng trong thời hạn canh tác và thể hiện qua luật tục Ê đê,… Từ bài viết này cho tôi thấy cách thức quản lý và sử dụng rừng, đất rừng của một số đồng bào DTTS như Ê đê, M’nông tỉnh Đắk Lắk trước đây

Đó là cơ sở để tôi xem xét dưới tác động của những yếu tố mới thì việc quản lý, sử dụng đất đai hiện nay đã có những thay đổi như thế nào so với xã hội truyền thống và chúng ta cần có những điều chỉnh như thế nào để dung hòa giữa luật tục và luật pháp

về giải quyết vấn đề tranh chấp đất đai;

- Tác giả Phan Đăng Nhật với “Vai trò của buôn - plei trong việc phát triển Tây Nguyên với việc quản lý tài nguyên và việc điều hành bằng luật tục” Từ tài liệu này và

Trang 29

trên cơ sở thực tiễn tôi nhận thấy vấn đề quản lý và sử dụng đất đai của nông, lâm trường hiện nay ở Đắk Lắk là một vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu và điều chỉnh Giải quyết thấu đáo vấn đề đất đai giữa một số nông, lâm trường và một số hộ đồng bào DTTS trên địa bàn sẽ góp thêm những kinh nghiệm thực tiễn để Nhà nước tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh về cơ chế quản lý, sử dụng đất đai ở một tỉnh có nhiều đặc thù như Đắk Lắk nói riêng và Tây Nguyên nói chung;

- Bài viết “Vấn đề đất đai ở các tỉnh Tây Nguyên” của tác giả Đặng Nghiêm Vạn đã cho tôi thấy việc thực hiện quyền sở hữu và sử dụng đất đai ở Tây Nguyên diễn

ra như thế nào Bài viết này tác giả chỉ trình bày những nét lớn, chú trọng đến giải pháp, kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, trong đó có tác giả và của một số nhà quản lý theo 2 giai đoạn 1975 - 1990 và 1990 - 2001 với mục đích đưa ra những kiến nghị tháo gỡ cho vấn đề đất đai ở Tây Nguyên Tác giả khẳng định về nguyên tắc đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước quản lý là không sai, nhưng việc thực hiện lại có nhiều khiếm khuyết, thiếu sót, lớn nhất là không tính đến thực tiễn xã hội và con người Tây Nguyên, thiên về lợi ích các quốc doanh, các cư dân mới đến, vô hình chung, do sự thiếu hiểu biết, coi nhẹ lợi ích của các dân tộc tại chỗ Mặc dù tài liệu chưa cụ thể hóa chính sách về quản lý và sử dụng đất đai ở Đắk Lắk, tuy nhiên đã nói lên quan điểm cốt lõi, chính sách chung của Nhà nước về quản lý và sử dụng đất Tôi

sẽ sử dụng những luận điểm về quan điểm, chủ trương, chính sách chung của Nhà nước

để đưa vào nghiên cứu vấn đề đất đai ở Đắk Lắk;

- Tác giả Vương Xuân Tình với “Tái lập quản lý cộng đồng về đất đai ở các buôn làng Tây Nguyên” (Trong bối cảnh thực hiện Luật Đất đai 1993) đã chỉ ra trong lịch sử các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên, chưa bao giờ vấn đề đất đai lại đặt ra nóng bỏng như vậy Tình trạng mất đất, mua bán đất, tranh chấp đất đai, thiếu đất canh tác đang diễn ra ngày càng phổ biến, từ đó kéo theo hàng loạt những tác động tiêu cực như phá rừng, suy thoái môi trường và xung đột sắc tộc Đấy là hệ quả của những chính sách đất đai của Nhà nước, của các yếu tố lịch sử, của đặc điểm phát triển KT-XH Tây Nguyên,… Trong đó, tính không phù hợp của chính sách đất đai của Nhà nước với truyền thống sở hữu cộng đồng của các dân tộc tại chỗ được xem như vấn đề xuyên suốt Qua đó, tác giả đưa ra kiến nghị cần có sự điều chỉnh chính sách đất đai để phù hợp với tình hình thực tế ở Tây Nguyên bằng cách công nhận và tái lập sự quản lý cộng

Trang 30

đồng về đất đai Tuy nhiên, theo tác giả, trong bối cảnh mới, việc xác định khái niệm cộng đồng cũng phải linh hoạt để phù hợp với sự quản lý của Nhà nước, với xu thế dân

cư, dân tộc đang xen cài ở Tây Nguyên Đây là một việc làm cần thiết vì Tây Nguyên

là địa bàn có nhiều dân tộc cư trú Giữa các dân tộc có những quan niệm khác nhau Trên cơ sở của bàn viết này, tôi sẽ liên hệ giữa vùng Tây Nguyên và tỉnh Đắk Lắk trong vấn đề quản lý đất đai;

- Tác giả Đỗ Hồng Kỳ với bài viết “Một số hiện tượng về đất đai và vấn đề công giáo ở vùng người Ê đê, M’nông cư trú trên địa bàn tỉnh Đak Lak” đề cập đến quan niệm của đồng bào về đất đai, rừng núi, sông suối thông qua Luật tục Ê Đê, M’nông Trong bài viết này, tác giả đã mạnh dạn nói rằng: “chúng ta chưa thật sự bám chắc vào thực tế, chưa tìm hiểu sâu về thế giới quan, nhân sinh quan của đồng bào để đưa ra những biện pháp cách thức làm việc phù hợp” Tác giả luận giải Luật tục Ê Đê, M’nông và nhiều luật tục khác nữa được hình thành trên nền tảng xã hội truyền thống với những phong tục tập quán mang tính đặc thù Luật pháp Nhà nước được xây dựng trên nền tảng hiện đại, phải đảm bảo tính phổ quát nên có những điều không phù hợp với phong tục người đồng bào, nếu cứ áp dụng máy móc, không linh hoạt với tình hình thực tế sẽ phản tác dụng, có khi gây tác hại khó mà lường hết được và tác giả đã đưa ra một số dẫn chứng về sự tranh chấp đất đai giữa đồng bào DTTS và Lâm trường trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Như vậy, Cuốn sách Một số vấn đề phát triển kinh tế, xã hội buôn làng các dân tộc Tây Nguyên đã tập hợp các bài viết của các tác giả nói về cơ chế, thực trạng quản lý

đất đai ở Tây Nguyên trong xã hội truyền thống cũng như khi có Luật Đất đai 1993 Đây là một tài liệu quý để tôi có cái nhìn tổng quát về lịch sử phát triển của cơ chế quản lý đất đai trên địa bàn Tây Nguyên, trong đó có Đắk Lắk

Ban Chỉ đạo Tây Nguyên và Công ty Tư vấn Đào tạo & Phát triển Đông Dương

(2006) đồng xuất bản Cuốn sách Tây Nguyên trên đường phát triển bền vững, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội đã dành 34 trang thông qua một số chủ đề (từ trang 175 đến trang 207) đã giới thiệu về tỉnh Đắk Lắk mới sau khi chia cắt thành 2 tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông theo Nghị quyết số 22/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cuốn sách này tập hợp nhiều bài viết của các tác giả làm công tác quản lý các ban, ngành trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Nội dung những bài

Trang 31

viết này cho chúng ta nhìn thấy tổng thể về tài nguyên và con người Đắk Lắk, trong đó

có bài viết của tác giả Nguyễn Văn Sinh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn tỉnh Đắk Lắk dưới tựa đề “Yêu cầu cấp thiết chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp” đã xác định hướng chuyển dịch nhanh cơ cấu nông nghiệp liên quan đến vấn

đề giao đất, cho thuê đất, giao rừng để giữ gìn môi trường sinh thái” - bài viết này chỉ dừng lại ở định hướng cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp mà chưa đưa

ra giải pháp cụ thể Trên cơ sở của bài viết này, tôi sẽ nghiên cứu và đưa ra những giải pháp để đảm bảo vấn đề giao đất, cho thuê đất, giao rừng cho người dân ở tỉnh Đắk Lắk phát huy được hiệu quả

Nguyễn Văn Tiệp (2010), “Phân tích tác động của di dân đến sự suy giảm tài

nguyên môi trường ở Tây Nguyên", trong cuốn sách Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận Nhân học, Quyển 1, Nxb Đại học Quốc gia

Tp Hồ Chí Minh; Nguyễn Duy Thụy (2016), Di cư của người DTTS đến Tây Nguyên

từ năm 1975 đến năm 2015, Nxb Khoa học xã hội,… Trong các cuốn sách này tôi sẽ

kế thừa và tìm hiểu yếu tố di dân đã tác động như thế nào đến quản lý và sử dụng đất đai ở Đắk Lắk Chính di dân với số lượng lớn theo kế hoạch nhà nước và di dân tự do

đã có tác động mạnh mẽ tới quản lý và sử dụng đất đai tỉnh Đắk Lắk bởi vì dân di cư đến đây khai thác đất canh tác, lấn chiếm đất rừng, mua bán, tranh chấp đất đai đối với các DTTS tại chỗ gây áp lực cho quản lý, sử dụng đất

Năm 2011, Nguyễn Văn Tiệp (chủ biên) đã xuất bản cuốn sách Một số vấn đề kinh tế, xã hội và quan hệ dân tộc ở tỉnh Đăk Lăk nói lên những tác động về mặt tích

cực cũng như tiêu cực của ba chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước như phát triển Nông, lâm trường quốc doanh, di dân kinh tế mới, định canh định cư cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số Bên cạnh những thành tựu to lớn đạt được thì cũng nảy sinh và tiềm ẩn những nguy cơ, trong đó có vấn đề quản lí và sử dụng đất rừng giữa người Kinh kinh tế mới hay nông, lâm trường quốc doanh với đồng bào DTTC về quản lí và

sử dụng đất đai làm ảnh hưởng tới mối đại đoàn kết dân tộc;

Vũ Văn Phúc (chủ biên) (2014) trong cuốn sách “Quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai gắn với xây dựng nông thôn mới ở các tỉnh Tây Nguyên”, Nxb Chính trị Quốc gia -

Sự thật, Hà Nội được biên soạn trên cơ sở các tham luận tại Hội thảo khoa học của Đề

tài khoa học cấp Nhà nước KX.04 - 09/11.15: “Sở hữu, quản lý và sử dụng đất đai

Trang 32

trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” Trong cuốn sách này,

được chia làm 3 phần: Phần 1, các tác giả đã nghiên cứu các vấn đề lý luận, những tư tưởng, quan điểm của Đảng và những chính sách, pháp luật Nhà nước về quản lý, sử dụng đất đai Trong phần 2,3 của cuốn sách, các tác giả tập trung giới thiệu thực trạng quản lý, sử dụng đất đai gắn với xây dựng nông thôn mới ở Tây Nguyên, nêu ra các bất cập, thách thức trong vấn đề này và đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện chính sách pháp luật về đất đai nói chung cũng như quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong công cuộc xây dựng nông thôn mới ở Tây Nguyên Đây là một trong những tư liệu cần thiết để tôi tiếp cận về một số bài học kinh nghiệm về quản lý, sử dụng đất trong quá trình CNH, HĐH đất nước

Đối với tỉnh Đắk Lắk, trong cuốn sách “Quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai gắn với xây dựng nông thôn mới ở các tỉnh Tây nguyên” nêu trên, vấn đề quản lý, sử dụng

đất đai được một số ban, ngành và tác giả quan tâm như: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đắk Lắk với bài viết “Công tác tuyên truyền góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất gắn với nông thôn mới ở Đắk Lắk”; tác giả Vũ Văn Đông với bài viết “Sử dụng hiệu quả đất đai với xây dựng nông thôn mới đối với kinh tế trang trại tại tỉnh Đắk Lắk”; Sở Tài nguyên & Môi trường Đắk Lắk với bài viết “Sử dụng hiệu quả đất đai gắn với xây dựng nông thôn mới ở Đắk Lắk”,… Các bài viết này đã cho chúng tôi một cái nhìn tổng quan về hiện trạng sử dụng đất và tình hình quản lý đất đai của một số tổ chức trong nước và cộng đồng DTTS tại tỉnh Đắk Lắk

Năm 2016, Phạm Thế Trịnh đã xuất bản cuốn sách Sử dụng tài nguyên đất ở

Đắk Lắk, hiện trạng và tiềm năng, Nxb Nông nghiệp với nội dung liên quan đến các

nhóm đất và đặc điểm sử dụng các nhóm đất ở Đắk Lắk; hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp và tiềm năng, định hướng sử dụng trong tương lai Đây là một cuốn sách thiên

về phân tích đặc tính của đất hơn là thực trạng sử dụng và nội dung sách đề cập đến sử dụng đất trong những năm gần đây Tôi sẽ dựa trên nguồn tư liệu này để bổ sung một

số số liệu cho hiện trạng sử dụng đất hiện nay ở Đắk Lắk

Ngoài các công trình nghiên cứu được xuất bản thành sách như các công trình trên, liên quan đến cơ chế quản lý và việc sử dụng đất đai ở Tây Nguyên và Đắk Lắk còn có hệ thống các đề tài cấp Nhà nước, cấp bộ do các nhà nghiên cứu ở các Viện nghiên cứu thực hiện như:Khổng Diễn (1999), Di dân tự phát của các DTTS miền núi

Trang 33

phía Bắc vào Tây Nguyên,Báo cáo tổng hợp đề tài cấp Bộ,Hà Nội; Đặng Nguyên Anh

(2014), Dân số và di dân trong phát triển bền vững Tây Nguyên - Chương trình Tây

Nguyên III, Hà Nội, 12/2014 có đề cập đến những tác động của di dân, di dân tự do của người Kinh và các người dân một số DTTS miền núi phía Bắc như người Tày, Nùng, Thái, Mường vào Tây Nguyên và có một lực lượng lớn đến cư trú tại địa bàn tỉnh Đắk Lắk Những cư dân đến đây chủ yếu là làm nông nghiệp, do thiếu đất đai canh tác nên một bộ phận lớn dân cư đã xâm chiếm đất rừng để canh tác, điều này ảnh hưởng đến quản lý đất đai ở Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng

Báo cáo kết quả đề tài trọng điểm cấp bộ: Thực trạng đất đai ở Tây Nguyên và

những kiến nghị, giải pháp, Cơ quan chủ trì Viện Khoa học xã hội Việt Nam, 2005;

Báo cáo tổng hợp kết quả điều tra Nghiên cứu điểm về quyền sử dụng đất của người vùng cao và dân tộc ít người tại tỉnh Đăk Lăk thuộc dự án Sáng kiến khu vực về tăng

cường đối thoại chính sách về quyền của người dân vùng cao và dân tộc ít người (RAS 04/001) năm 2006 của Ủy ban Dân tộc học - Hai đề tài này đã tập trung làm rõ thực trạng đất đai và một số mâu thuẫn nổi cộm liên quan đến sử dụng đất đai ở các đối tượng dân tộc tại chỗ như thiếu đất sản xuất, phân hóa đất sản xuất, hiệu quả sử dụng đất, tranh chấp đất đai chủ yếu tồn tại ở 4 tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk, Đăk Nông và Lâm Đồng Trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị giải pháp làm cơ sở khoa học để Đảng và Nhà nước có những chủ trương, chính sách ổn định KT-XH và sử dụng hợp lí, bền vững nguồn tài nguyên đất rừng ở Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng

Trong giai đoạn 2011 đến năm 2015, với Chương trình Khoa học & Công nghệ

trọng điểm cấp nhà nước “Khoa học & Công nghệ phục vụ phát triển kinh tế, xã hội

vùng Tây Nguyên” (gọi tắt là Chương trình Tây Nguyên III) cũng đã diễn ra nhiều đề

tài bàn về vấn đề đất đai nói chung ở Tây Nguyên, trong đó có đề tài “Vấn đề sử dụng

và quản lý đất đai ở Tây Nguyên” do tác giả Vũ Tuấn Anh làm chủ nhiệm Đề tài nêu

lên những vấn đề cần ưu tiên giải quyết trong thể chế quản lý đất đai ở Tây Nguyên: (i) đổi mới phương thức quản lý nhà nước đối với đất đai cho phù hợp với sự vận hành của nền kinh tế thị trường; (ii) tái cơ cấu hệ thống chiếm hữu và quản lý đất đai, sắp xếp lại các công ty nông lâm nghiệp nhà nước, giao quyền sử dụng đất cho người trực canh; (iii) phát huy tính tích cực của truyền thống chiếm hữu và quản lý cộng đồng đối với rừng, đất và nước; (iv) giải quyết tình hình thiếu đất sản xuất của nhân dân, đặc biệt

Trang 34

của đồng bào các DTTS tại chỗ, theo cách thức bền vững lâu dài;…nguồn tài liệu này giúp ích cho luận án trong việc rút ra những kinh nghiệm về việc sử dụng đất đai đối với các tổ chức kinh tế tại tỉnh Đắk Lắk

Luận án của Phạm Ngọc Đại (2017), Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2003 đến năm 2015, chuyên ngành Lịch sử , Học

viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã đề cập đến nguyên nhân dẫn đến tình trạng tranh chấp và khiếu kiện đất đai ngày càng nhiều và kéo dài ở tỉnh Đắk Lắk giữa các cộng đồng tại chỗ với nông - lâm trường, với chính quyền địa phương, giữa cá nhân người DTTS với cá nhân người dân tộc Kinh; tình trạng nông, lâm trường dựa vào quyền sở hữu toàn dân, trưng dụng đất sản xuất hưu canh thuộc quyền quản lý của các DTTS tại chỗ; quá trình công nhân hóa, rồi lại đưa đồng bào ra khỏi nông lâm trường, cũng như quá trình hợp tác hóa nông nghiệp rồi lại giải thể HTX nông nghiệp dẫn đến người dân mất đi phần đất rẫy hưu canh hoặc đất ruộng nước quan trọng vốn có của mình; sự phát triển của hàng chục dự án thủy điện, dự án nông, lâm nghiệp trên khắp Đắk Lắk đã ảnh hưởng đến đất đai của người dân,…

Một số bài Tạp chí của các tác giả: Đặng Nghiêm Vạn (1975), Vài ý kiến về vấn đề nương rẫy trong thời kì quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, tạp chí Dân tộc học

số 1; Phan An (1983), Quyền sử dụng và quyền sở hữu đất đai của Tây Nguyên trong lịch sử, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 6; Nguyễn Văn Nhật (1994), Chính sách ruộng đất của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở Tây Nguyên, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (số 5 (276)); Nguyễn Duy Thụy (2010), Vài nét về thực trạng quản lí

và sử dụng ruộng đất ở Đăk Lăk từ năm 1986 đến năm 2000, Tạp chí Lịch sử Đảng,

số 4; Nội dung của những bài báo này có liên quan đến vấn đề quản lý, việc sử dụng đất đai ở Tây Nguyên và Đắk Lắk; vấn đề canh tác đất nương rẫy của đồng bào các DTTS; quyền chiếm hữu, sở hữu và sử dụng đất đai; một số chính sách về đất đai trong lịch sử,… và những vấn đề này cho đến hiện nay vẫn còn tác động đến

cơ chế và việc sử dụng đất đai hiện tại trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Trên cơ sở nội dung của những bài báo này, luận án sẽ có những nhìn nhận và rút ra những kinh nghiệm góp phần cho việc quản lý, sử dụng đất đai ở tỉnh Đắk Lắk hợp lý hơn, hiệu quả hơn

Trang 35

Báo cáo của Lưu Đức Hồng (1990), chuyên gia phân vùng, quy hoạch của

Ủy ban Kế hoạch Nhà nước tại Hội thảo quốc gia “Xác định các vấn đề ưu tiên cho

sử dụng đất lâu bền ở Việt Nam” với báo cáo “Những vấn đề kinh tế, xã hội với

hướng sử dụng đất liên tục ở Tây Nguyên” đã phân tích tình hình sử dụng đất Tây Nguyên trong thời kỳ từ 1976 đến 1988 Tác giả nhận xét rằng bên cạnh những thành tựu đạt được về việc khai hoang, mở rộng diện tích, phát triển sản xuất, đặc biệt là một số loại cây hàng hóa quy mô lớn, thì “khuyết điểm bao trùm là sử dụng quỹ đất lãng phí, kém hiệu quả, hiện tượng toàn dân phá rừng chưa được ngăn chặn Mất rừng làm cho cân bằng sinh thái biến đổi theo chiều hướng xấu không những đối với Tây Nguyên mà cả Duyên hải Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ Sự mất mát

là to lớn và hậu quả lâu dài, việc khắc phục nó sẽ tốn kém nhiều hơn là kết quả thu được” Đối với sở hữu và sử dụng đất, tác giả nhận xét rằng trong khi “các cộng đồng dân cư tại chỗ có ý thức bảo vệ mạnh đất của mình”, thì cộng đồng những người mới đến thiếu vốn, thiếu cả kinh nghiệm canh tác trên đất dốc lại “coi đất là tài sản quốc gia, là tài nguyên vô tận nên đã khai thác đất, rừng theo phương thức quảng canh, bóc lột đất tối đa mà không cải tạo, bảo vệ làm cho đất kiệt quệ” Các nông lâm trường quốc doanh “được nhà nước ưu tiên nhất, nhưng cũng lại là các cơ

sở sử dụng đất lãng phí nhất, kém hiệu quả nhất và góp phần to lớn nhất vào tăng quỹ đất trống đồi trọc ở Tây Nguyên”;

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, đề tài cấp bộ, cấp Nhà nước, luận án, luận văn, các bài báo đăng trên các tạp chí hay bài viết trong các hội thảo trên, do mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu khác nhau đã có những cách tiếp cận trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề đất đai tỉnh Đắk Lắk trong một thời kỳ lịch sử nhất định Đó là nguồn tài liệu đáng quý giúp tôi có được những số liệu và thông tin cần thiết để kế thừa và phát triển trong luận án của mình

1.2 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước và những vấn đề

luận án cần giải quyết

1.2.1 Khái quát về tình hình nghiên cứu

Từ việc tổng quan các công trình nghiên cứu trên, có thể rút ra một số khái quát như sau:

Trang 36

Thứ nhất, qua các công trình đã công bố mà chúng tôi tiếp cận được, có thể

thấy lĩnh vực nghiên cứu mang tính chất lý luận về cơ chế quản lý, sử dụng đất đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều tác giả, với nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

Thứ hai, nguồn tài liệu khá phong phú về số lượng và nội dung tập trung phản

ánh phần lớn vào việc trình bày hiện trạng, những thành tựu, hạn chế trong quản lý, sử dụng đất dưới dạng viết lịch sử hay tài liệu chuyên khảo Tuy nhiên phần nhiều mang tính chất liệt kê mô tả mà chưa tập trung vào sự phân tích, so sánh, đánh giá không mang tính tổng hợp một cách có hệ thống

Thứ ba, các công trình mà tác giả tiếp cận được chỉ dừng lại ở thực trạng quản

lý, sử dụng đất đai mà chưa tập trung nghiên cứu về sự chuyển đổi cơ chế quản lý và sử dụng đất

Thứ tư, các công trình tiếp cận không chỉ về lĩnh vực đất đai trong mối quan hệ

tổng hòa là chủ yếu, tuy nhiên, về lĩnh vực chuyển đổi cơ chế quản lý đất đai…kết quả còn rất khiêm tốn và vẫn chưa được đề cập đến nhiều

Trước những nguồn tài liệu thu thập được chứng tỏ lĩnh vực đất đai rất được quan tâm vì nó không chỉ có giá trị khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn để định hướng phát triển cho mục tiêu CNH, HĐH đất nước, giúp ổn định tình hình an ninh, chính trị và phát triển kinh tế Các công trình nói trên, ở mức độ khác nhau, ở thời điểm khác nhau đã giúp chúng tôi có một số tư liệu cần thiết để có thể hình thành sự hiểu biết chung, là những gợi mở quý giá có tác dụng tham khảo bổ ích, bổ sung cho quá trình thực hiện luận án

1.2.2 Những nội dung luận án kế thừa

Là một công trình nghiên cứu khoa học, trước hết tôi dựa vào những công trình

đã công bố của các tác giả, các nhà khoa học đi trước và các tài liệu gốc để nghiên cứu các vấn đề đặt ra của luận án, cụ thể có những nội dung kế thừa như sau:

Một là, về điều kiện tự nhiên như vị trí địa lí, địa hình đất đai, khí hậu là những

vấn đề đã được các nhà khoa học khảo sát nghiên cứu trong nhiều năm qua và kết quả

đã được thừa nhận

Trang 37

Hai là, một số đặc điểm về KT-XH của vùng đất và con người Đắk Lắk,

đây cũng là những yếu tố tác động đến cơ chế quản lý và việc sử dụng đất đai tỉnh Đắk Lắk

Ba là, quản lý và sử dụng đất đai ở tỉnh Đắk Lắk qua một số giai đoạn lịch sử Bốn là, một số số liệu về đất đai và một số công trình nghiên cứu về đất đai liên

quan trực tiếp đến Đắk Lắk mà các công trình đã đề cập đến trong từng vấn đề cụ thể

Năm là, một số đề xuất và kiến nghị trên nhiều lĩnh vực của đất đai mà các công

trình nghiên cứu đã đề ra, đặc biệt là các công trình công bố giai đoạn gần đây

1.2.3 Những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết

Trên cơ sở kế thừa và phát triển những thành quả nghiên cứu của người đi trước, tác giả sẽ sử dụng một cách phù hợp vào việc làm rõ thêm những luận điểm, những nội dung mà luận án hướng tới về chuyển đổi cơ chế quản lý và sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong phạm vi thời gian nghiên cứu mà luận án đề cập

Thứ nhất, thông qua các nguồn tư liệu hiện có tác giả phục dựng lại bối cảnh

lịch sử về cơ chế quản lý và việc sử dụng đất đai trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm

Thứ tư, từ việc nghiên cứu sự chuyển đổi về cơ chế, thực trạng quản lý, sử dụng

đất ở tỉnh Đắk Lắk, nhận xét những thành tựu, hạn chế; nguyên nhân;

Thứ năm, nhận xét về cơ chế quản lý đất đai; đưa ra một số khuyến nghị góp

phần quản lý, sử dụng hiệu quả hơn về đất đai trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk hiện nay

Trang 38

CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH ĐẮK LẮK VÀ CƠ CHẾ, THỰC TRẠNG QUẢN LÝ,

SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI Ở TỈNH ĐẮK LẮK TỪ NĂM 1975 ĐẾN NĂM 1986 2.1 Khái quát tỉnh Đắk Lắk

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý: Tỉnh Đắk Lắk nằm trên cao nguyên phía Tây miền Trung của Việt

Nam, là một cao nguyên thấp, độ cao trung bình là 500 mét so với mặt biển, trải dài từ

11045’ đến 13025’ vĩ độ Bắc, trải rộng từ 107012’ đến 108054’ kinh độ Đông, với diện tích tự nhiên khoảng 19.530 km2

Đến năm 2003, tỉnh Đắk Lắk chia thành 2 tỉnh nên vị trí địa lý cũng có sự thay đổi, trải dài từ 11044’ đến 13032’ ( vĩ độ Bắc ); từ kinh độ 107023’ đến 109006’ ( kinh

độ Đông ) Diện tích tự nhiên giảm xuống còn 13.123 km2, chiếm 27,6% diện tích vùng Tây Nguyên Phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai, phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng và Đắk Nông, phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, phía Tây giáp tỉnh Moldolkiri (Campuchia), có đường biên giới chung dài 73 km

Địa hình: Đắk Lắk là tỉnh có địa hình tương đối phức tạp bao gồm địa hình

vùng núi cao nằm ở phía Đông Nam của tỉnh với diện tích gần bằng ¼ diện tích tự nhiên của toàn tỉnh; Địa hình vùng núi thấp và trung bình về phía Tây Bắc của tỉnh; Địa hình cao nguyên chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh; Địa hình bán bình nguyên và địa hình vùng đồng bằng, trũng giữa núi ở vị trí phía Nam của tỉnh

Tài nguyên

Đất đai: Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng năm 1978 và kết quả điều tra bổ sung chuyển đổi tên loại đất theo hệ thống phân loại của FAO - UNESSCO năm 1979, tỉnh Đắk Lắk có 8 nhóm đất chính với 18 đơn vị đất khác nhau, trong đó đất đỏ bazan chiếm 36,52% diện tích tự nhiên của tỉnh và 55,6% quỹ đất bazan của toàn vùng Tây Nguyên Đến năm 2005, theo kết quả điều tra, chỉnh lý bổ sung bản đồ đất tỉnh Đắk Lắk của Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, toàn tỉnh có 8 nhóm đất, với 23 đơn vị đất Nguồn tài nguyên đất của Đắk Lắk khá đa dạng với sự góp mặt hầu hết của các nhóm đất có ở Việt Nam, trong đó nhóm đất bazan 345.001ha, chiếm 26% diện tích toàn tỉnh, 27% tổng diện tích vùng Tây Nguyên và chiếm khoảng 14% quỹ đất bazan toàn quốc [144, tr.4] Đây là loại đất phù hợp với nhiều loại cây công nghiệp dài ngày, trong đó cây cà phê

Trang 39

Robusta cho năng suất cao và phẩm chất tốt Ngoài ra các loại đất khác cũng thích hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau Tiềm năng đất cho phép đất Đắk Lắk phát triển nông nghiệp khá toàn diện tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu,…

Rừng: Đắk Lắk là một trong những tỉnh có tiềm năng lớn về rừng Năm 2015, Đắk Lắk có 1,14 triệu ha đất nông, lâm nghiệp, trong đó 507.247ha có rừng, độ che phủ của rừng (tính cả cây cao su là 39,3%) [144, tr.5]

Sông ngòi và khí hậu: Đắk Lắk có hệ thống sông suối khá phong phú, lớn nhất

là hệ thống sông Sêrêpôk, sông Ba và có nhiều hồ tự nhiên, hồ nhân tạo có diện tích lưu vực rộng, năng lực tưới lớn ,… có tầm quan trọng trong sản xuất nông nghiệp cũng như đời sống của nhân dân

Khí hậu Đắk Lắk chia thành hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5, cũng có khi vào tháng 4 và chấm dứt vào tháng 10 hay tháng 11

2.1.2 Dân cư

Cũng như các tỉnh khác ở Tây Nguyên, trước năm 1975, Đắk Lắk là vùng dân

cư thưa thớt Trong thời kì thực dân Pháp thống trị, năm 1907, H.Bernard ước đoán có khoảng 80.000 dân, trong đó 40.000 người Ê đê và 20.000 người M'nông[203, tr.23] Đến năm 1943 - 1944, khi công bố tài liệu thống kê dân số, bác sĩ B.Y.Jouin đã đưa ra con số về dân số tỉnh Đắk Lắk là 79.632 người gồm 58.473 người Ê đê, 17.496 người M'nông, 3.240 người Gia Rai, 144 người Ba Na [202, tr.56]

Năm 1954, Mỹ và Chính quyền Việt Nam Cộng hòa thực hiện cuộc cưỡng ép 715.000 người miền Bắc, trong đó, đại bộ phận là người Việt theo đạo Thiên chúa và một

số người DTTS di cư vào miền Nam nhằm làm hậu thuẫn chính trị cho chính sách thực dân mới và một lực lượng đông chuyển đến tỉnh Đắk Lắk sinh sống

Sau năm 1975, thực hiện chủ trương phân bố lại lực lượng lao động, giãn dân vùng đồng bằng, nhất là vùng đồng bằng Bắc Bộ; Khai thác tiềm năng đất đai rộng lớn

ở Tây Nguyên cho nên khá đông cư dân người Việt ở các tỉnh miền Bắc, miền Trung được chuyển cư đến Đắk Lắk

Cuối năm 1975, dân số của tỉnh là 350.000 người, năm 1979 tăng lên 500.000 người và đến năm 1990 có khoảng 900.000 người, tăng 2,5 lần so với năm 1975, trong

Trang 40

đó, người Việt khoảng 630.000 người, chiếm 70% dân số toàn tỉnh Các dân tộc Ê đê, M'nông có khoảng 200.000 người, chiếm gần 30% dân số của tỉnh và tăng 22% so với năm 1975 [66, tr.17]

Do tách tỉnh nên từ năm 2003, dân số Đắk Lắk giảm về mặt cơ học Tuy nhiên, tình trạng di cư tự do đến tỉnh Đắk Lắk vẫn tiếp tục diễn ra làm cho dân số của tỉnh không ngừng tăng lên Đến cuối năm 2003 dân số toàn tỉnh có 2.003.520 người, tăng 5,68 lần so với năm 1976 gồm 43 dân tộc sinh sống Riêng đồng bào DTTS tại chỗ như

Ê đê, Jarai, M’nông có 59.332 hộ với 349.954 khẩu, chiếm hơn 18,60% dân số toàn tỉnh, tăng 2,13 lần so với năm 1976 [25]

Năm 2015 dân số tỉnh Đắk Lắk có 1.840.000 người với 47 dân tộc và có thể chia làm 03 bộ phận: DTTS tại chỗ (Ê đê, Gia Rai, M’nông, ) có 135.388 hộ, chiếm khoảng 33% dân số toàn tỉnh; DTTS từ nơi khác đến (Tày, Nùng, Thái, Mông,…) chiếm khoảng 11% dân số của tỉnh; Dân tộc Kinh chiếm khoảng 66% dân số của tỉnh [27, tr.1]

Sự biến động về mặt dân số và thành phần dân tộc ở Đắk Lắk là một trong những yếu tố tác động đến một số cơ chế, chính sách cũng như việc quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn này

2.2 Cơ chế và thực trạng quản lý, sử dụng đất đai ở tỉnh Đắk Lắk trước năm 1975

2.2.1 Trong xã hội truyền thống

Trong xã hội truyền thống, các DTTS tại chỗ Đắk Lắk còn mang tính tự do tiếp cận với đất rừng Họ là những cư dân nông nghiệp nương rẫy luân khoảnh khép kín dựa vào đất rừng là chính Diện tích rừng còn lớn và phủ lấy môi trường sống, mọi thứ đều từ rừng, nương rẫy cũng là một phần từ rừng cắt ra Vì thế, trong một chừng mực nhất định, khái niệm đất đai và đất rừng được đồng nhất với nhau và chia thành 3 loại: đất canh tác nương rẫy; đất ở và đất cấm

- Đất canh tác nương rẫy được chia làm 2 loại: đất đương canh và đất hưu canh Đất đương canh là phần đất đang được canh tác

Đất hưu canh là mảnh đất mà họ đã canh tác một thời gian, đất bị bạc màu nên được đưa vào chế độ hưu canh, tạm thời không được canh tác nữa Tuy nhiên, chờ một thời gian, khi mảnh đất này được phục hồi, họ quay trở lại canh tác Vì thế, trước đây, mỗi gia đình các DTTS tại chỗ thường có 2 mảnh rẫy để luân phiên cho nhau trong sản xuất gieo trồng Mặc dù thời gian bỏ hóa khoảng 3 đến 4 năm và thậm chí là 7 đến 10

Ngày đăng: 28/05/2019, 15:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan An (1983), Quyền sử dụng và quyền sở hữu đất đai của Tây nguyên trong lịch sử, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền sử dụng và quyền sở hữu đất đai của Tây nguyên trong lịch sử
Tác giả: Phan An
Năm: 1983
2. Đặng Nguyên Anh (2006), Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội ở các tỉnh miền núi, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội ở các tỉnh miền núi
Tác giả: Đặng Nguyên Anh
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2006
3.Đặng Nguyên Anh (2014), Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài Dân số và di dân trong phát triển bền vững Tây Nguyên. Chương trình Tây Nguyên III, Hà Nội, 12/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số và di dân trong phát triển bền vững Tây Nguyên
Tác giả: Đặng Nguyên Anh
Năm: 2014
4. Nguyễn Huy Anh (1998), Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về sở hữu ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về sở hữu ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huy Anh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
5. Vũ Tuấn Anh (2015), Vấn đề sử dụng và quản lý đất đai Tây Nguyên”, Chương trình Tây Nguyên III, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề sử dụng và quản lý đất đai Tây Nguyên”
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 2015
6.Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk (1977), Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk tại Đại hội đại biểu lần thứ VII, Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk tại Đại hội đại biểu lần thứ VII
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk
Năm: 1977
7. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk (1979), Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII, Xí nghiệp in Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk
Năm: 1979
8. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk (1983), Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IX, Xí nghiệp in Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IX
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk
Năm: 1983
9. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk (1986), Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk tại Đại hội đại biểu lần thứ X, Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk tại Đại hội đại biểu lần thứ X
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk
Năm: 1986
10. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk (1992), Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk tại Đại hội đại biểu lần thứ XI, Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk tại Đại hội đại biểu lần thứ XI
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk
Năm: 1992
11.Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk (1996), Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk tại Đại hội đại biểu lần thứ XII, Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk tại Đại hội đại biểu lần thứ XII
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk
Năm: 1996
12. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk (2001), Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk tại Đại hội đại biểu lần thứ XIII, Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk tại Đại hội đại biểu lần thứ XIII
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk
Năm: 2001
13. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk (2005), Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk tại Đại hội đại biểu lần thứ XIV, Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk tại Đại hội đại biểu lần thứ XIV
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk
Năm: 2005
14. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk (2010), Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk tại Đại hội đại biểu lần thứ XV, Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk tại Đại hội đại biểu lần thứ XV
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk
Năm: 2010
15. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk (2015), Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk tại Đại hội đại biểu lần thứ XVI, Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk tại Đại hội đại biểu lần thứ XVI
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk
Năm: 2015
16. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk (2002), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk 1930 - 1954, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk 1930 - 1954
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
17. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk (2002), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk 1954 - 1975, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk 1954 - 1975
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
18. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk (2012), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk 1975 - 2005, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk 1975 - 2005
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2012
19. Ban chỉ đạo Tây Nguyên (2006), Tây Nguyên trên đường phát triển bền vững, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tây Nguyên trên đường phát triển bền vững
Tác giả: Ban chỉ đạo Tây Nguyên
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
20. Ban Dân tộc tỉnh Đắk Lắk (2015), Báo cáo về Tình hình thực hiện giải quyết đất ở, đất sản xuất cho các hộ DTTS tỉnh Đắk Lắk, Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình thực hiện giải quyết đất ở, đất sản xuất cho các hộ DTTS tỉnh Đắk Lắk
Tác giả: Ban Dân tộc tỉnh Đắk Lắk
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w