Phạm vi nghiên cứu của luận án Phạm vi nghiên cứu của luận án được xác định là mạch lạc và một số biểu hiện của mạch lạc trong VBNL tiếng Việt, cụ thể là hai biểu hiện: Mạch lạc trong
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TỐNG THỊ HƯỜNG
MẠCH LẠC TRONG VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TIẾNG VIỆT
Ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 9.22.90.20
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI, 2018
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC XÁC HỘI ỆTNAM Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Văn Tình
Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
Vào hồi giờ ngày tháng năm 201
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Liên kết (cohesion) và mạch lạc (coherence) là hai vấn đề liên quan
tới mọi loại thể văn bản Một văn bản "chính danh" muốn đạt được hiệu quả giao tiếp tốt nhất phải có mạch lạc Mạch lạc có vai trò vô cùng quan trọng, quyết định
“chất văn bản” của văn bản Mạch lạc là yếu tố quyết định việc tạo thành văn bản, trong đó nổi rõ lên việc tạo thành tính thống nhất chủ đề của văn bản Mạch lạc tuy là yếu tố khó xác định rạch ròi nhưng việc thể hiện nó ở những loại hình văn bản khác nhau có những điểm đặc trưng đáng chú ý Vì thế, việc hiểu rõ về mạch lạc (về vai trò và những biểu hiện) gắn với đặc trưng loại hình là vô cùng cần thiết khi tạo lập hay tiếp nhận một văn bản nào đó
1.2 Văn bản nghị luận (VBNL) là loại văn bản dùng để trình bày, bình luận, đánh giá theo một quan điểm nhất định các vấn đề trong các lĩnh vực chính trị - xã hội, thực hiện chức năng thuyết phục, lôi cuốn, động viên VBNL thể hiện quan điểm, “bản lĩnh” của người viết khi trình bày, bình giá về một sự kiện, một vấn đề chính trị - xã hội cụ thể và thể hiện rất rõ ràng tính bình giá công khai, tính lập luận chặt chẽ và tính truyền cảm mạnh mẽ VBNL là loại văn bản quan trọng trong xã hội xưa
và thường gặp trong cuộc sống hàng ngày ở xã hội nay và có ví trí quan trọng trong nhà trường Việc tìm hiểu mạch lạc và những biểu hiện của nó gắn với đặc trưng thể loại trong VBNL, theo chúng tôi, là một việc làm hết sức cần thiết cho những ai quan tâm đến VBNL, đặc biệt là giáo viên, học sinh và sinh viên
Đó là những lí do trên mà chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Mạch lạc trong văn bản nghị luận tiếng Việt”
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu: là mạch lạc và biểu hiện của mạch lạc trong
VBNL tiếng Việt
2.2 Phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
2.2.1 Phạm vi nghiên cứu của luận án
Phạm vi nghiên cứu của luận án được xác định là mạch lạc và một số biểu
hiện của mạch lạc trong VBNL tiếng Việt, cụ thể là hai biểu hiện: Mạch lạc
trong sự thống nhất đề tài-chủ đề và mạch lạc trong quan hệ lập luận
Trang 42.2.2 Phạm vi về nguồn ngữ liệu
Để đảm bảo tính đại diện, tính chọn lọc và độ tin cậy, luận án xác định
ngữ liệu nghiên cứu là 326 VBNL được lấy từ các nguồn: Sách giáo khoa Ngữ
văn lớp 7, 8.9.10.11.12, tập 1+2, (2008), Nxb Giáo dục, Hà Nội; Tập nghiên cứu
và bình luận văn học chọn lọc (2000), tập I + II + III + IV + V + VI, Đỗ Quang
Lưu tuyển chọn và giới thiệu, Nxb Hà Nội; Tuyển tập văn chính luận Hồ Chí
Minh, (1997), Lữ Huy Nguyên tuyển chọn và giới thiệu, Nxb Giáo dục, Hà Nội; Văn học Việt Nam thế kỉ XX (Văn chính luận - quyển V) (2003), Mai Quốc Liên -
Nguyễn Văn Lưu (chủ biên), Nxb Văn học, Hà Nội và Xã luận báo Nhân dân, từ
số thứ sáu, ngày 18/11/2013 đến số thứ bảy, ngày 13/6/2017
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu: Qua việc khảo sát, thống kê, phân tích, đánh
giá biểu hiện của mạch lạc trong VBNL tiếng Việt, luận án nhằm mục đích làm
rõ một số biểu hiện nổi trội của mạch lạc gắn với đặc trưng thể loại VBNL tiếng Việt, qua đó góp phần khẳng định vai trò của mạch lạc trong việc tiếp nhận và tạo lập loại văn bản này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống lại một cách khái quát những vấn đề lí thuyết liên quan đến nội dung của đề tài luận án
- Khảo sát, thống kê, phân loại, phân tích, đánh giá biểu hiện của mạch lạc trong sự thống nhất đề tài-chủ đề ở phương diện kết cấu và các phép liên kết ở VBNL tiếng Việt
- Khảo sát, thống kê, phân loại, phân tích, đánh giá biểu hiện của mạch lạc trong quan hệ lập luận ở phương diện: kiểu lập luận, đặc điểm các thành phần lập luận, ở VBNL tiếng Việt
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu là phân tích diễn ngôn, miêu tả và phân tích ngữ nghĩa
Bên cạnh đó, luận án cũng sử dụng một số thủ pháp như: thống kê, phân loại, so sánh và phân tích, tổng hợp
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Thông qua việc vận dụng lí thuyết về mạch lạc vào nghiên cứu biểu hiện của mạch lạc trong sự thống nhất đề tài-chủ đề và trong quan hệ lập luận ở VBNL tiếng Việt, luận án góp phần khẳng định vai trò quan trong của mạch lạc trong văn bản
Trang 5- Khảo sát, phân tích, đánh giá biểu hiện của mạch lạc trong quan hệ lập luận qua kết cấu và các phép liên kết, ở VBNL và chỉ ra được những điểm nổi bật của mạch lạc trong loại văn bản này
- Khảo sát, phân tích, đánh giá biểu hiện của mạch lạc trong quan hệ lập luận ở kiểu lập luận, đặc điểm các thành phần lập luận, tính đa thanh ở VBNL
và chỉ ra đặc điểm nổi bật mang tính đặc trưng của mạch lạc ở loại văn bản này
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
6.1 Đóng góp về phương diện lí luận: góp phần làm rõ hơn những vấn
đề lí luận của ngôn ngữ học văn bản và lí thuyết phân tích diễn ngôn dựa vào kết quả nghiên cứu về mạch lạc trong VBNL tiếng Việt, từ đó khẳng định tầm quan trọng của mạch lạc trong việc tạo lập và phân tích văn bản nói chung và VBNL nói riêng
6.2 Đóng góp về phương diện thực tiễn: góp phần chỉ ra một số biểu
hiện quan trọng, nổi bật của mạch lạc trong VBNL tiếng Việt là mạch lạc trong sự thống nhất đề tài-chủ đề và mạch lạc trong quan hệ lập luận, từ đó mong muốn góp phần vào việc làm cho quá trình tiếp nhận và tạo lập VBNL đạt hiệu quả giao tiếp tốt nhất Luận án là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu, phân tích VBNL về phương diện ngôn ngữ
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 2 Mạch lạc trong sự thống nhất đề tài-chủ đề ở văn bản nghị luận tiếng Việt
Chương 3 Mạch lạc trong quan hệ lập luận ở văn bản nghị luận tiếng Việt
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
Trang 61.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về mạch lạc trong văn bản
1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu mạch lạc trên thế giới
Trên thế giới, mạch lạc được nghiên cứu trong các công trình của T
Todorov, V Dijk, M.A.K Halliday & R Hasan, H.G Widdowson, G Llian
Brown & George Yule, G.M Green, D Nunan, …
Tuy không phải là những công trình nghiên cứu riêng biệt về mạch lạc song đây là những cuốn sách thể hiện quan điểm của các tác giả về vai trò và các biểu hiện của mạch lạc trong văn bản/diễn ngôn Điểm đồng nhất giữa các nhà nghiên cứu là đều khẳng định vai trò quan trọng, tính chất quyết định của mạch lạc trong việc làm cho một chuỗi câu thành một thể thống nhất - văn bản
1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu mạch lạc ở Việt Nam
Ở Việt Nam, mạch lạc được nghiên cứu muộn hơn Đó là các nghiên cứu Trần Ngọc Thêm 1985 trong[111] Đỗ Hữu Châu (1996) trong [18] và [22], đặc biệt là các nghiên cứu về mạch lạc của Diệp Quang Ban từ 1985 trong [5], [6],
[7], [8], [11], [12], Mạch lạc được tác giả khẳng định là cái làm cho văn bản là
một văn bản và được trình bày rõ ràng, chi tiết từ khái niệm đến các biểu hiện của
nó trong văn bản, đồng thời mạch lạc cũng được phân biệt với liên kết hình thức Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu khác cũng đề cập đến mạch lạc
như [28] [40], [41], [95], [55] , Hay các luận văn, luận án vận dụng lí thuyết về
mạch lạc để nghiên cứu một vấn đề cụ thể nào đó như [1], [4], [39], [66]
1.1.2 Tình hình nghiên cứu mạch lạc trong văn bản nghị luận
Các luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ chủ yếu tập trung nghiên cứu biểu hiện của mạch lạc qua quan hệ lập luận hay một phương diện nào đó của mạch lạc trong phân tích diễn ngôn như: [45], [80], [81], [104],
Những nội dung và kết quả nghiên cứu về mạch lạc nói chung và mạch lạc trong một số VBNL nói riêng giúp chúng tôi có một cái nhìn hệ thống, toàn diện về mạch lạc, đặc biệt là vai trò của nó trong văn bản, đồng thời gợi mở việc xác định những nội dung nghiên cứu về mạch lạc trong luận án này
1.2 Cơ sở lí thuyết
Để phục vụ cho mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận án đã xác định những cơ sở lí thuyết cơ bản là văn bản, mạch lạc và văn bản nghị luận
1.2.1 Văn bản và một số vấn đề liên quan
1.2.1.1 Văn bản và diễn ngôn Phân tích văn bản và phân tích diễn ngôn
Trang 7a Văn bản và diễn ngôn
Phần này luận án hệ thống lại cách hiểu và sử dụng hai thuật ngữ văn bản
và diễn ngôn của các nhà nghiên cứu, từ đó có thể hiểu diễn ngôn là thuật ngữ chỉ
sự kiện giao tiếp có mục đích, thống nhất, có mạch lạc được ghi lại bằng văn
bản Cách hiểu này cho thấy rõ sự gắn bó chặt chẽ giữa văn bản và diễn ngôn
Luận án, sử dụng thuật ngữ văn bản để chỉ các sự kiện nói và viết được ghi lại bằng chữ viết, như tên gọi của văn bản ở giai đoạn đầu và theo thói quen hiện
nay ở Việt Nam
Luận án cũng đưa ra định nghĩa về văn bản như sau: Văn bản là sản
phẩm giao tiếp bằng ngôn ngữ được ghi lại bằng chữ viết, có cấu trúc hoàn chỉnh và truyền tải một nội dung ngữ nghĩa trọn vẹn
b Phân tích diễn ngôn và phân tích văn bản
Trong luận án, do cách sử dụng thuật ngữ “văn bản” ở giai đoạn đầu và theo thói quen ở Việt Nam nên mạch lạc mà chúng tôi nghiên cứu trong VBNL
sẽ thuộc về vấn đề cốt yếu của phân tích diễn ngôn
1.2.1.2 Đặc trưng của văn bản
Theo Diệp Quang Ban, văn bản có sáu đặc trưng là: mục đích sử dụng văn
bản, yếu tố nội dung, yếu tố cấu trúc, mạch lạc và liên kết, yếu tố chỉ lượng và
yếu tố định biên, trong đó yếu tố mạch lạc được coi là đặc trưng quan trọng, quyết định đối với việc làm cho một chuỗi câu nào đó trở thành văn bản
1.2.1.3 Đề tài-chủ đề và kết cấu của văn bản
a Đề tài-chủ đề của văn bản
Đề tài của văn bản là nội dung hiện thực được phản ánh trong văn bản
Chủ đề của văn bản được hiểu là "ý đồ của người viết hay đích hướng tới của văn bản " [103, tr.38], được coi là sợi chỉ đỏ, là hạt nhân ngữ nghĩa xâu chuỗi các câu tạo thành một mạng lưới Chủ đề văn bản là hệ quy chiếu lớn cho toàn bộ các thành tố ở các cấp độ khác nhau trong văn bản như câu, đoạn, mục,
chương, phần, tập, chụm lại với nhau [18, tr.19]
Sự thống nhất chủ đề được đảm bảo bởi sự đồng nhất về quy chiếu của
các từ tương ứng [78; tr 30-31] và kết cấu có chức năng bộc lộ chủ đề, tư tưởng
của tác phẩm [44, tr 44] Đề tài và chủ đề văn bản là hai khái niệm khác nhau, ở
đây, luận án ghép hai tên gọi này (đề tài-chủ đề) để thuận tiện cho việc sử dụng
1.2.1.4 Kết cấu của văn bản
Kết cấu (cấu trúc) của văn bản được hiểu là sự tổ chức, sắp xếp các phần, các thành tố nội dung ở các cấp độ khác nhau (các luận điểm lớn nhỏ) trong văn
Trang 8bản để tạo thành một thể thống nhất, hợp lí, mạch lạc theo một ý đồ nào đó để thể
hiện chủ đề và nội dung văn bản Chính kết cấu của văn bản đảm bảo tính liên
kết, tính thống nhất, tính hoàn chỉnh cho nội dung Tất cả sự phức tạp của vấn
đề trình bày nhờ được triển khai theo một kết cấu nhất định mà trở nên rõ ràng, rành mạch [18, tr.81] Như vậy chính kết cấu là một yếu tố để tạo mạch lạc trong
sự thống nhất đề tài-ch ủ đề văn bản
Có hai kiểu quan hệ đặc trưng cho kết cấu là kết cấu chuỗi (các yếu tố có quan hệ ngữ nghĩa và logic được thể hiện nối tiếp liên tục, yếu tố trước tạo tiền đề xuất hiện cho yếu tố sau, cứ tiếp nối quan hệ như vậy cho đến hết) và kết cấu song song (các yếu tố có quan hệ nghĩa và logic được thể hiện trong sự đối chiếu, phát triển song song với nhau, có sự móc nối, chồng chéo các nội dung)
1.2.1.5 Liên kết trong văn bản
a Khái niệm liên kết: "Liên kết là kiểu quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố
ngôn ngữ nằm trong hai câu (hai mệnh đề) theo cách giải thích nghĩa cho nhau Nói rõ hơn liên kết là kiểu quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai câu mà muốn hiểu nghĩa cụ thể của yếu tố này thì phải tham khảo nghĩa của yếu tố kia, và trên cơ sở đó, hai câu (mệnh đề) chứa chúng liên kết được với nhau." [12, tr 347]
b Các phép liên kết
Trong luận án, về cơ bản, chúng tôi dựa trên lý thuyết về liên kết của Halliday và Hasan mà Diệp Quang Ban đã vận dụng vào tiếng Việt Theo
đó, các phép liên kết được chia thành: phép quy chiếu, phép nối, phép tỉnh
lược, phép thế, phép liên kết từ vựng (lặp từ ngữ; dùng từ đồng nghĩa, từ
ngữ gần nghĩa và từ ngữ trái nghĩa; phối hợp từ ngữ)
1.2.1.6 Lập luận trong văn bản
a Khái niệm lập luận
Luận án đưa ra cách hiểu về lập luận: lập luận cách đưa ra luận cứ (lí lẽ
và dẫn chứng) nhằm dẫn dắt người nghe/ người đọc đến một kết luận nào đó mà người nói/ người viết muốn đạt tới một cách thuyết phục nhất
b Các thành phần của lập luận
Trong một lập luận, có ba bộ phận là luận cứ, kết luận và quan hệ lập luận Luận cứ là những căn cứ (tiền đề, cơ sở) được dùng làm chỗ dựa cho một mệnh đề hay một lí thuyết (giữ vai trò kết luận) hoặc dùng để phản bác lại mệnh
đề hay lí thuyết đó, gồm có lí lẽ và dẫn chứng
Kết luận là mệnh đề hay lí thuyết được chứng minh bằng các luận cứ
Trang 9Quan hệ lập luận được hiểu là quan hệ giữa luận cứ với kết luận
d Tác tử, kết tử lập luận và các dấu hiệu có giá trị lập luận khác
Trong một lập luận, ngoài những luận cứ xác đáng, tin cậy, ngoài quan hệ lập luận logic, chặt chẽ thì một số yếu tố khác cũng có vai trò quan trọng tạo nên sức thuyết phục cho lập luận Đó chính là tác tử, kết tử lập luận, các yếu tố miêu
tả được lựa chọn, các từ ngữ xưng hô, các biện pháp tu từ và các từ đồng nghĩa,
e Lập luận và logic
Trong lập luận, tam đoạn luận là cấu trúc điển hình của lập luận diễn dịch logic Một kết luận logic chỉ có hai khả năng: hoặc đúng hoặc sai, đúng hay sai không thể bác bỏ Tam đoạn luận đời thường có đại tiền đề không phải là một chân lí khách quan, khoa học mà là một lẽ thường, là những chân lí thông thường có tính kinh nghiệm, không có tính tất yếu, bắt buộc như các tiền đề logic [23, tr 187]
g Lập luận và hiện tượng đa thanh
Hiện tượng đa thanh trong lập luận được hiểu là có một thành phần nào đó của lập luận là của chủ ngôn được thuyết ngôn đưa vào làm cơ sở cho lập luận
1.2.2 Mạch lạc
1.2.2.1 Quan niệm về mạch lạc Vai trò của mạch lạc
Phân này luận án hệ thống các quan niệm về mạch lạc của Halliday & Hasan (1976),T.A Van Dijk (1977), I.R Gal'perin (1981), G Brown & G Yulle (1983), Georgia M Green (1989), D Nunan (1993), K Wales (1994), D Togeby (1994)
Trong luận án, chúng tôi chọn cách hiểu về mạch lạc của Diệp Quang Ban
(được sử dụng trong phạm vi trường học): Mạch lạc là sự nối kết có tính chất
hợp lí về mặt nghĩa và về mặt chức năng, được trình bày trong quá trình triển khai một văn bản (như một truyện kể, một cuộc thoại, một bài nói hay bài viết…) nhằm tạo ra những sự kiện nối kết với nhau hơn là sự kiện liên kết câu với câu
[12, tr 297]
Trang 101.2.2.2 Mạch lạc và liên kết
Phân này, luận án dựa trên quan điểm của các nhà nghiên cứu, đặc biệt là Diệp Quang về mạch lạc và liên kết, mối quan hệ giữa mạch lạc và liên kết Mạch lạc là sợi dây nối các yếu tố mang nghĩa trong văn bản, còn liên kết là việc
sử dụng các phương tiện từ ngữ để nối kết các câu với nhau Mạch lạc sẽ tạo ra
sự rõ ràng, logic về mặt nội dung nghĩa của văn bản, còn liên kết có chức năng nối nghĩa của câu với câu trong văn bản theo những cấu hình nghĩa xác định, tức liên kết là phương tiện tạo mạch lạc cho văn bản
1.2.2.3 Các biểu hiện của mạch lạc
Luận án đã hệ thống nghiên cứu về các biểu hiện của mạch lạc qua các công trình của M.A.K Halliday và R.Hasan, D Nunan, Trần Ngọc Thêm, đặc biệt là trong các nghiên cứu [6], [7], [12] của Diệp Quang Ban Luận án đã phân tích các biểu hiện mạch lạc của Diệp Quang Ban và cho rằng có một số biểu hiện còn có sự chồng chéo và hơi rối nên theo chúng tôi, các biểu hiện của mạch lạc
sẽ là sáu biểu hiện sau: Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các từ ngữ trong một câu, trong quan hệ giữa các phần nêu đặc trưng ở những câu có quan hệ nghĩa với nhau, trong sự thống nhất đề tài-chủ đề văn bản, trong quan hệ thích hợp giữa các hành động nói, trong quan hệ ngoại chiếu, trong quan hệ lập luận Luận án cũng căn cứ vào đặc trưng thể loại, căn cứ vào sự khảo sát ngữ liệu đưa ra nhận xét về các biểu hiện của mạch lạc trong các loại văn bản nói chung và VBNL nói riêng, từ đó có cơ sở lựa chọn nghiên cứu biểu hiện nổi trội
của mạch lạc trong VBNL là: mạch lạc trong sự thống nhất đề tài-chủ đề và
mạch lạc trong quan hệ lập luận
1.2.3 Văn bản nghị luận
1.2.3.1 Khái niệm văn bản nghị luận
Ở phần này, luận án đã hệ thống quan điểm của các nhà từ điển, các nhà phương pháp, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, đặc biệt là các nhà phong cách học
về nghị luận và văn bản nghị luận Từ đó, có thể quan niệm VBNL như sau:
VBNL là loại văn bản dùng để trình bày, bình luận, đánh giá theo một quan điểm nhất định các vấn đề về chính trị, xã hội, tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật, nhằm thuyết phục người khác nghe theo ý kiến của mình
1.2.3.2 Phân loại văn bản nghị luận
Căn cứ vào nội dung - đề tài, phạm vi hoạt động, VBNL được chia thành
hai loại chính: là văn bản nghị luận xã hội và văn bản nghị luận văn học
1.2.3.3 Chức năng của văn bản nghị luận:
Trang 11VBNL hướng tới thực hiện các chức năng là: chức năng thông báo và chức năng tác động
1.2.3.4 Đặc trưng của văn bản nghị luận: đó là tính bình giá công khai,
tính lập luận chặt chẽ và tính truyền cảm mạnh mẽ
1.2.3.5 Đặc điểm ngôn ngữ của văn bản nghị luận
Ngôn ngữ của VBNL có năm đặc điểm: một là giàu tính lí luận kết hợp với biểu cảm; hai là ngôn ngữ khúc triết và giàu tính thuyết phục; ba là ngôn ngữ
có tính trong sáng và thẩm mĩ cao; bốn là ngôn ngữ có tính trang trọng và tính đại chúng; năm là từ ngữ, cú pháp trong VBNL đa dạng, sinh động, mang tính biểu cảm cao
1.3 Tiểu kết
Phần tổng quan tình hình nghiên cứu, luận án đã hệ thống lại các nghiên cứu về mạch lạc của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước nói chung và các nghiên cứu về mạch lạc trong VBNL nói riêng Các nghiên cứu về mạch lạc của các nhà phân tích văn bản và phân tích diễn ngôn đều thừa nhận, khẳng định vai trò quan trọng của mạch lạc trong văn bản, đồng thời làm rõ các phương diện của mạch lạc là: khái niệm, vai trò, các phương tiện tạo mạch lạc, cách nhận diện và biểu hiện của nó trong văn bản
Phần cơ sở lí thuyết, luận án đã hệ thống một số vấn đề về văn bản như khái niệm, đặc trưng, đề tài-chủ đề, kết cấu của văn bản Luận án cũng
đã hệ thống các nghiên cứu về mạch lạc của các tác giả trong và ngoài nước
ở các phương diện: định nghĩa, vai trò và các biểu hiện, phân biệt mạch lạc với liên kết Đặc biệt, ở phần các biểu hiện của mạch lạc, luận án đưa ra nhận xét về các biểu hiện này trong các loại văn bản nói chung và trong VBNL nói riêng, để từ đó khẳng định rằng: một VBNL mạch lạc phải có đủ các biểu hiện của mạch lạc lựa, tuy nhiên có hai biểu hiện được cho là tiêu
biểu, mang tính đại diện cho mạch lạc trong VBNL là mạch lạc trong sự
thống nhất đề tài-chủ đề và mạch lạc trong quan hệ lập luận Đây chính là
cơ sở để luận án chọn hai biểu hiện mang tính đại diện nói trên của mạch lạc trong VBNL để nghiên cứu Luận án cũng hệ thống một số vấn đề lí thuyết về VBNL như định nghĩa, phân loại, chức năng, đặc trưng và đặc điểm ngôn ngữ Cơ sở về lí thuyết về lập luận như khái niệm, các thành phần lập luận, các kiểu lập luận, các yếu tố có giá trị lập luận cũng được luận án hệ thống vì lập luận là yếu tố mang tính đặc trưng của VBNL Ở
chương này, luận án cũng đã xác định rõ các khái niệm công cụ như văn
Trang 12bản (được hiểu như "văn bản" ở giai đoạn đầu, như "diễn ngôn" trong giai
đoạn hiện nay), mạch lạc (là vấn đề quan trọng trong phân tích văn bản/diễn ngôn) và văn bản nghị luận
CHƯƠNG 2 MẠCH LẠC TRONG SỰ THỐNG NHẤT
ĐỀ TÀI - CHỦ ĐỀ Ở VĂN BẢN NGHỊ LUẬN
Một văn bản mạch lạc trước hết phải có đề tài-chủ đề thống nhất,
nghĩa là đề tài-chủ đề phải được duy trì và được triển khai một cách hợp lí,
logic từ đầu đến cuối văn bản Nếu đảm bảo được yêu cầu này, văn bản
đang xét được coi là mạch lạc - mạch lạc ở sự thống nhất đề tài-chủ đề - và ngược lại Đánh giá được biểu hiện này của mạch lạc phải dựa vào những yếu tố có tác dụng tạo mạch lạc như kết cấu của văn bản và các phương tiện liên kết
2.1 Mạch lạc trong sự thống nhất đề tài-chủ đề ở văn bản nghị luận thể hiện qua kết cấu văn bản
2.1.1 Đảm bảo yêu cầu chung về kết cấu của văn bản nghị luận
2.1.1.1 Mô hình kết cấu chung của văn bản nghị luận
Từ việc phân tích kết cấu VBNL và các yếu tố của nó, có thể rút ra
nhận xét: một VBNL nào đó có một kết cấu mà các phần, các luận điểm ở
các cấp độ được xác lập và sắp xếp hợp lí, logic, làm sáng tỏ được luận đề, đảm bảo yêu cầu của thể loại thì văn bản đó đã mạch lạc - mạch lạc trong
sự thống nhất đề tài-chủ đề văn bản
Dựa vào số liệu khảo sát, luận án đã đưa ra nhận xét về các phần
trong kết cấu của VBNL là: Tiêu đề phong phú, đa dạng về hình thức cấu tạo và về mục đích nói; Phần mở có cấu tạo là một câu, một đoạn, có khi nhiều đoạn, có 4 văn bản khuyết phần mở đầu; Phần triển khai, các luận điểm được xác lập và được sắp xếp hợp lí, logic; Phần kết luận kết luận lại
vấn đề đã đưa ra bàn luận và có khi kêu gọi hành động, có 6 văn bản khuyết phần kết luận Như vậy, các VBNL trong ngữ liệu đáp ứng được yêu cầu cụ thể về kết cấu chung của VBNL tức là có sự mạch lạc - mạch lạc trong việc thống nhất đề tài-chủ đề văn bản
2.1.1.2 Các kiểu kết cấu của văn bản nghị luận
a Kết cấu đầy đủ: có 316/326 VBNL
Trang 13b Kết cấu không đầy đủ: có 10/326 VBNL
2.1.2 Sử dụng kiểu quan hệ kết cấu phù hợp
2.1.2.1 Kết cấu ở cấp độ văn bản
a Kết cấu chuỗi: Số liệu khảo sát cho thấy kết cấu chuỗi chiếm số lượng nhiều nhất, 307/326 VBNL Kết cấu chuỗi giúp cho việc trình bày vấn đề được tuần tự, logic, giống như kiểu quan hệ nhân quả tất yếu Kết cấu này được thực hiện dựa vào các thủ pháp như hỏi-đáp, liệt kê, Chẳng
hạn bản Cần, kiệm, liêm, chính của Hồ Chủ tịch đã sử dụng hai thủ pháp
tiêu biểu là hỏi-đáp và liệt kê Kết cấu chuỗi với các thủ pháp đặc thù giúp cho việc duy trì và triển khai đề tài một cách hợp lí, logic, tạo được mạch lạc trong sự thống nhất đề tài-chủ đề văn bản
b Kết cấu song song: Kết cấu song song ở cấp độ văn bản chiếm số lượng không nhiều, chỉ trong trường hợp cần xây dựng trong thế đối chiếu
hai đối tượng, hai sự vật nào đó.Ví dụ một số văn bản Mỹ Diệm sẽ thua,
nhân dân sẽ thắng, Quân Mỹ chết nhăn răng, tướng Mỹ nhăn răng cười, 2.1.2.2 Kết cấu ở cấp độ đoạn văn
a Kết cấu chuỗi: thường gặp ở cấp độ đoạn văn trong VBNL Kiểu quan hệ kết cấu này sử dụng các thủ pháp là móc xích, lập luận ba đoạn, liệt
kê tích lũy và hỏi đáp, có khi đan xen các thủ pháp Chẳng hạn, trong văn
bản Cách viết (Hồ Chủ tịch), thủ pháp hỏi đáp là thủ pháp chủ đạo để xây
dựng kết cấu chuỗi trong văn bản theo kiểu tự đặt câu hỏi và tự trả lời
b Kết cấu song song: ở cấp đoạn văn, VBNL ưu tiên sử dụng các thủ pháp song hành như song hành đơn thuần, song hành diễn dịch, song hành
quy nạp và song hành phối hợp diễn dịch-quy nạp và tương phản, sóng đôi 2.2 Mạch lạc trong sự thống nhất đề tài-chủ đề ở văn bản nghị luận thể hiện qua các phép liên kết
Nội dụng nghiên cứu phần này nhằm chỉ ra được điểm nổi bật của liên kết gắn với đặc trưng thể loại , đồng thời thấy được mối quan hệ giữa mạch lạc và liên kết Luận án đưa ra bảng thống kê về sự xuất hiện của các
phép liên kết trong 326 VBNL tiếng Việt
Luận án cũng đưa ra bảng số liệu thống kê so sánh tần suất xuất hiện của các phép liên kết trong 326 VBNL với 586 bài báo Khoa học xã hội & Nhân văn ở [45] và 50 Hợp đồng kinh tế tiếng Việt ở [38] để thấy sự khác biệt trong việc sử dụng một số phép liên kết ở 326 VBNL
2.2.1 Các phép liên kết duy trì đề tài-chủ đề tạo mạch lạc cho văn bản