1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng chế biến của việt nam sang thị trường liên minh châu âu tt

27 160 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 575,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vũ Thị Mai Anh 2018, Một số yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường Liên minh Châu Âu, Tạp chí Công Thương, số 1 3.. Xuất phát từ ý nghĩa và bối cảnh đ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ THỊ MAI ANH

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XUẤT KHẨU

HÀNG CHẾ BIẾN CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG

LIÊN MINH CHÂU ÂU

Ngành: Kinh tế quốc tế

Mã số: 9.31.01.06

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Hà Nội - 2019

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn KHXH Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS Lưu Ngọc Trịnh

2 PGS.TS Nguyễn Khánh Doanh Phản biện 1: PGS.TS Bùi Tất Thắng

Phản biện 2: PGS.TS Trịnh Thị Hoa Mai

Phản biện 3: PGS.TS Trần Quang Lâm

Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện,

họp tại Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Có thể tìm luận án tại:

-Thư viện Quốc gia;

-Thư viện Học viện Khoa học xã hội

Trang 3

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1 Vũ Thị Mai Anh (2018), Xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường

Liên minh Châu Âu, Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, số 509+510

2 Vũ Thị Mai Anh (2018), Một số yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng chế biến của

Việt Nam sang thị trường Liên minh Châu Âu, Tạp chí Công Thương, số 1

3 Vũ Thị Mai Anh (2018), Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng chế biến của

Việt Nam sang thị trường Liên minh Châu Âu: Tiếp cận mô hình trọng lực, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 27

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Những năm qua, quan hệ thương mại song phương Việt Nam - EU vẫn không ngừng phát triển và có nhiều chuyển biến tích cực EU là một thị trường lý tưởng cho tất cả các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2017, tổng kim ngạch thương mại song phương Việt Nam - EU đã tăng hơn 12 lần từ mức 4,1 tỷ USD năm 2000 lên 50,3 tỷ USD năm 2017 Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang thị trường EU hiện nay đó là điện thoại các loại và linh kiện, giầy dép các loại, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, hàng dệt, may Ngoài ra, còn một số mặt hàng khác như: Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác, hàng thủy sản, cà phê, hạt điều, túi xách, ví,vali, mũ,

Nhiều năm trở lại đây, hàng chế biến là nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Giá trị xuất khẩu của ngành này đóng góp không nhỏ vào tổng kim ngạch của cả nước nói riêng và sự tăng trưởng kinh tế của đất nước nói chung Tốc độ tăng trưởng bình quân trong xuất khẩu hàng chế biến sang thị trường EU giai đoạn 1997

- 2016 là 18,83% Tuy nhiên, tính riêng trong giai đoạn 2007-2011, tốc độ tăng trưởng là 14,21% và giai đoạn 2012 - 2016 gần đây, tốc độ này chỉ đạt 12,31% Điều này cho thấy rằng, xuất khẩu hàng chế biến có xu hướng chững lại, không phải lúc nào cũng thuận lợi, còn nhiều vấn đề đang phát sinh trong quá trình xuất khẩu Nhìn nhận thực tế cho thấy, hàng chế biến xuất khẩu sang EU những năm gần đây cũng phụ thuộc phần lớn vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó, khả năng tiếp cận thị trường của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế Do vậy, Việt Nam chưa khai thác hiệu quả lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu nhóm hàng này dựa vào trình độ công nghệ kỹ thuật, trình độ người lao động, lãnh đạo, quản lý, để sản xuất ra các sản phẩm xuất khẩu với khả năng cạnh tranh, có hàm lượng khoa học công nghệ cao, có khả năng tham gia vào khâu tạo ra giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu Hơn nữa, EU là một thị trường có nhiều rào cản thương mại nên mức xuất khẩu hiện tại của Việt Nam vẫn nằm dưới mức xuất khẩu tiềm năng

Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt trên toàn cầu, để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc và vượt qua được rào cản trên, đòi hỏi chúng ta phải cải thiện các yếu tố tác động đến xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) chính thức có hiệu lực thời gian gần đây cùng Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) dự kiến sắp phê chuẩn được coi như chất xúc tác quan trọng đối với hoạt động thương

Trang 5

Xuất phát từ ý nghĩa và bối cảnh đó, tác giả tập trung nghiên cứu, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU Trên cơ sở đó, sử dụng mô hình định lượng phù hợp để phân tích những nhân tố tác động chi phối đến xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường này Chính

vì lý do đó, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: ”Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất

khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường Liên minh Châu Âu” làm đề

tài luận án tiến sĩ của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

- Mục đích nghiên cứu là tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường

EU đến năm 2025

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia

+ Phân tích thực trạng xuất khẩu hàng chế biến và thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU

+ Xác định chiều hướng tác động và mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU sử dụng mô hình trọng lực

+ Lập luận và đưa ra các giải pháp phù hợp đối với nhà nước và doanh nghiệp

để tận dụng những tác động thuận lợi và hạn chế những tác động ngược chiều nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

- Đối tượng nghiên cứu của luận án là các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia

+ Về mặt hàng: Các mặt hàng chế biến bao gồm 4 nhóm theo phương pháp phân loại tiêu chuẩn thương mại quốc tế (SITC): SITC 5: Hóa chất và sản phẩm liên

Trang 6

quan; SITC 6: Hàng chế biến chủ yếu phân loại theo nguyên vật liệu (trừ mặt hàng

667 và 68); SITC 7: Máy móc, phương tiện vận tải, phụ tùng; SITC 8: Hàng chế biến khác

+ Về nội dung: nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang 28 quốc gia thành viên EU với 4 nhóm hàng thuộc hàng chế biến

4 Câu hỏi nghiên cứu

Để giải quyết tốt các mục tiêu nghiên cứu trên, cần trả lời được các câu hỏi nghiên cứu sau: Tại sao Việt Nam cần đẩy mạnh xuất khẩu hàng chế biến sang EU?; Thực trạng xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU trong thời gian qua như thế nào?; Các nhân tố nào ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU?; Nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu nào

để xây dựng mô hình các yếu tố tác động đến xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU, qua đó xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố; Để có thể cải thiện năng lực và đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU trong giai đoạn tới, Việt Nam cần có những giải pháp nào để tận dụng những tác động thuận lợi và hạn chế những tác động ngược chiều?

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

5.1 Cách tiếp cận

Phương pháp tiếp cận suy diễn; kết hợp tiếp cận định lượng và định tính; tiếp cận hệ thống; tiếp cận kế thừa tri thức; tiếp cận điển hình

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Chọn mẫu: tác giả lựa chọn số liệu xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang các nước EU (gồm 28 quốc gia thành viên)

- Thu thập số liệu: Để thực hiện đề tài này tác giả sẽ tiến hành thu thập số liệu

trong giai đoạn 2000-2016 Riêng đối với số liệu sử dụng chạy mô hình hồi quy, số liệu được thu thập trong giai đoạn 2006-2016

Luận án sẽ thu thập nguồn tài liệu thứ cấp gồm tư liệu, tài liệu, sách, số liệu thống kê từ Tổng cục Thống kê Việt Nam, một số cơ quan thống kê quốc tế và các công trình nghiên cứu khoa học được đăng tải trên các tạp chí khoa học chuyên ngành

5.2.2 Phương pháp phân tích số liệu

5.2.2.1 Phân tích định tính: sử dụng để phân tích các yếu tố như quy mô sản

xuất, quy mô nền kinh tế, chất lượng nguồn nhân lực, thể chế, cơ sở hạ tầng, công nghệ, môi trường kinh tế vĩ mô, rào cản kỹ thuật, hiệp định thương mại tự do Việt

Trang 7

Nam - EU, chất lượng hàng hóa tác động đến xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam

sang EU

5.2.2.2 Phân tích định lượng

- Phân tích hồi quy: Để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu của VN sang EU tác giả sử dụng mô hình Gravity (mô hình trọng lực) và có bổ sung thêm một số yếu tố mới vào mô hình Mô hình phân tích của đề tài có dạng sau đây:

Trong đó: + Ln là logarít tự nhiên, i là nước i (Việt Nam); j là nước j (quốc gia thành viên EU); t là năm t (t=2006 2016)

+ X ijt , X ijt-1 là giá trị xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang từng quốc gia

thành viên của EU tại năm t và năm t-1 (Đơn vị tính: triệu USD)

+ GDP ijt là tổng sản phẩm quốc nội gộp của Việt Nam và các nước thành

viên EU tại năm t (Đơn vị tính: Triệu USD).

+ GDPC ijt là tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người gộp của Việt

Nam và các nước thành viên EU tại năm t (Đơn vị tính: Triệu USD)

+ WDist ij là khoảng cách địa lý trung bình tính theo đường chim bay giữa thủ

đô Hà Nội và thủ đô của nước đối tác thương mại (Đơn vị tính: km)

+ Landlocked j là biến giả, xác định xem quốc gia j có tiếp giáp với biển hay

không

+ ID ijt , TD ijt lần lượt là khoảng cách thể chế, khoảng cách công nghệ giữa Việt

Nam và từng quốc gia thành viên của EU tại năm t

+ HC it đo lường nguồn vốn con người của Việt Nam

+ TF jt là chỉ số đo lường mức độ tự do thương mại của từng quốc gia thành

viên của EU tại năm t.

+ ASMTM jt là mức thuế bình quân gia quyền áp dụng đối với hàng chế biến của Việt Nam xuất khẩu sang EU (Đơn vị tính: %)

+ ME ijt là chỉ số đo lường môi trường kinh tế vĩ mô của Việt Nam và từng

quốc gia thành viên của EU tại năm t

+ CFI it là chỉ tiêu đo lường khả năng đổi mới công nghệ của Việt Nam tại năm t

+

Trang 8

Tác giả sử dụng phương pháp ước lượng GMM để ước lượng mô hình trên Để kiểm định tính phù hợp của phương pháp GMM trong hồi quy, luận án áp dụng hai kiểm định Sargan và Arellano-Bond

- Phân tích biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Analysis): Đây là phương pháp phân tích được sử dụng để tính toán hiệu quả kỹ thuật trong xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU Sau đó hiệu quả kỹ thuật được sử dụng

để tính toán tiềm năng xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU

Mô hình phân tích biên ngẫu nhiên có thể được biểu diễn dưới dạng sau đây:

Mô hình giới hạn ngẫu nhiên nêu trên có thể được biểu diễn như sau:

v ijtu ijt

Để ước tính tiềm năng xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường

EU, tác giả sử dụng công thức sau:

1 0

), exp(

Trong đó:TE ij là hiệu quả kỹ thuật; Y , Yij* là mức xuất khẩu thực tế và mức

xuất khẩu tiềm năng (tối đa) của nước i sang nước j

- Dự báo về xu hướng xuất khẩu: có thể được tính toán theo phương trình sau đây: ̂

Trong đó: ̂ là giá trị dự báo xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị

trường EU (ĐVT: Triệu USD); a là hệ số chặn; b mức thay đổi giá trị xuất khẩu hàng chế biến bình quân khi t tăng lên một đơn vị; t là năm t

Trong đề tài này giá trị xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường

EU được biểu diễn dưới dạng logarith: ̂

Do vậy, dự báo giá trị xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường

EU (ĐVT: Triệu USD) được tính toán như sau: ̂

5.2.2.3 Một số phương pháp khác: Phương pháp thống kê mô tả, phương pháp

so sánh

5.2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

Trang 9

Để phân tích thực trạng xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang EU luận

án sử dụng một số chỉ tiêu nghiên cứu sau đây:

5.2.3.1 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá thực trạng về mặt hàng xuất khẩu: Cơ cấu

mặt hàng xuất khẩu; Tốc độ tăng trưởng bình quân; Mức độ đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu: sử dụng kết hợp hệ số Gini-Hirschman (GH) và chỉ số Theil Entropy

5.2.3.2 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá thực trạng về thị trường xuất khẩu:

Cơ cấu thị trường xuất khẩu; Mức độ đa dạng hóa thị trường xuất khẩu

5.2.3.3 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá tiềm năng xuất khẩu: Gia tăng xuất khẩu

theo chiều rộng và theo chiều sâu; Chỉ số bổ trợ thương mại; Chỉ số đo lường mức

độ lợi thế so sánh

6 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Luận án bổ sung các yếu tố tác động mới đó là khoảng cách thể chế, khoảng cách công nghệ, môi trường kinh tế vĩ mô, tự do hoá thương mại, thuế quan, nguồn vốn con người, khả năng đổi mới công nghệ vào mô hình nghiên cứu đối với hoạt động xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam

- Ứng dụng mô hình động (mô hình GMM) trong phân tích xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU

- Sử dụng kết hợp 3 chỉ số bổ trợ thương mại (TCI), chỉ số đo lường mức độ lợi thế so sánh (RCA) và hiệu quả kỹ thuật (TE) để xác định triển vọng xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Luận án góp phần hệ thống hoá và bổ sung các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam thông qua xây dựng khung phân tích

- Xây dựng mô hình Gravity phục vụ cho phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU

- Xây dựng mô hình sản xuất biên ngẫu nhiên áp dụng cho phân tích tiềm năng xuất khẩu hàng hoá

- Luận án đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU Trên cơ sở đó, gợi ý giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU

- Các kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tư liệu khoa học để tham khảo cho việc xây dựng các chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường thế giới nói chung và thị trường EU nói riêng

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan những công trình nghiên cứu có liên quan

- Về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa: Các công trình nghiên

cứu đã phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu Các yếu tố này có thể được chia thành 3 nhóm, bao gồm nhóm các yếu tố về phía cung, nhóm các yếu tố

về phía cầu và các yếu tố cản trở/hấp dẫn Nhóm các yếu tố về phía cung đại diện cho cung xuất khẩu, bao gồm: quy mô kinh tế nước xuất khẩu (thường đại điện bởi

GDP hay GNP), quy mô thị trường nước xuất khẩu (thường đại diện bởi dân số), yếu tố thể hiện năng lực sản xuất (thường đại biện bởi GDP bình quân đầu người)

Nhóm các yếu tố thuộc về phía cầu đại diện cho cầu nhập khẩu, bao gồm quy mô

kinh tế nước nhập khẩu (thường đại điện bởi GDP hay GNP), quy mô thị trường nước nhập khẩu (thường đại diện bởi dân số), yếu tố thể hiện sức mua (thường đại

biện bởi GDP bình quân đầu người) Nhóm các yếu tố cản trở/hấp dẫn gồm có

khoảng cách địa lý giữa nước nhập khẩu và nước xuất khẩu, cơ sở hạ tầng, các yếu

tố thuộc về lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ, cùng tham gia vào các hiệp định thương mại tự do, khoảng cách công nghệ, khoảng cách thể chế, độ mở nền kinh tế, môi trường kinh tế vĩ mô, chất lượng nguồn nhân lực, rào cản kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, hiệp định thương mại tự do Ngoài các yếu tố trên còn có một số yếu tố khác như đầu tư trực tiếp nước ngoài, biến trễ xuất khẩu,

Tuy nhiên, nhiều công trình nghiên cứu nói trên chưa đánh giá được tác động của khoảng cách thể chế, khoảng cách công nghệ, khả năng đổi mới công nghệ, môi trường kinh tế vĩ mô, chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng sản phẩm, rào cản kỹ thuật, thuế quan, hiệp định thương mại tự do đối với xuất khẩu Vì vậy, vấn đề luận án đưa ra vẫn còn khe hở cần quan tâm nghiên cứu Do đó, luận án sẽ

bổ sung và tập trung nghiên cứu những vấn đề mới sau: Tác động của của khoảng cách thể chế, khoảng cách công nghệ, cơ sở hạ tầng, tự do thương mại, sự sẵn sàng

về công nghệ, môi trường kinh tế vĩ mô, chất lượng nguồn nhân lực, rào cản kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU đối với xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU

- Về phương pháp nghiên cứu: Hầu hết các nghiên cứu trước đây sử đều dụng

số liệu hỗn hợp Trên cơ sở số liệu hỗn hợp, các tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp ước lượng khác nhau, bao gồm phương pháp ước lượng OLS (Rahman, 2009;

Xu và Sheng, 2009), hiệu ứng cố định, ngẫu nhiên (Chẳng hạn, Gani, 2006; Bac, 2010; Hatab và các cộng sự, 2010) Phương pháp ước lượng OLS là phương pháp

Trang 11

lượng OLS được dựa trên khá nhiều giả định Để khắc phục những hạn chế đó, các nghiên cứu sau này đã sử dụng mô hình hiệu ứng cố định (fixed effects model) hoặc

mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (random effects model) Tuy nhiên, các mô hình này đây đều là mô hình tĩnh Trong khi đó, trên thực tế giá trị xuất khẩu của năm sau có quan hệ mật thiết với giá trị xuất khẩu của năm trước Vì vậy, để giải quyết vấn đề này thì nhiều tác giả sử dụng phương pháp ước lượng GMM Ưu điểm của phương pháp ước lượng GMM là ngay cả khi một số giả định bị vi phạm (đặc biệt là hiện tượng nội sinh) thì ước lượng GMM vẫn cho kết quả ước lượng vững, không chệch, phân phối chuẩn và hiệu quả

Có thể nói, cho đến thời điểm này, đã có nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu nói chung và xuất khẩu hàng chế biến nói riêng Đồng thời đã

có nhiều nghiên cứu sử dụng mô hình tĩnh và một số nghiên cứu sử dụng mô hình động Tuy nhiên, theo sự hiểu biết của tác giả thì chưa có nghiên cứu nào sử dụng phương pháp ước lượng GMM hệ thống để lượng hóa các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA MỘT QUỐC GIA 2.1 Các khái niệm liên quan

- Khái niệm xuất khẩu: xuất khẩu được hiểu là hoạt động trao đổi hàng hoá và

dịch vụ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới thông qua mua bán nhằm

khai thác triệt để lợi thế của quốc gia trong phân công lao động quốc tế

- Khái niệm về hàng chế biến: hàng chế biến được hiểu là những mặt hàng

được chế tạo từ nguyên liệu thô với quy mô lớn sử dụng máy móc Hàng chế biến bao gồm 4 nhóm theo phương pháp phân loại tiêu chuẩn thương mại quốc tế, bản

sửa đổi lần thứ 3 (SITC - Rev 3): SITC 5, SITC 6 (trừ mặt hàng 667 và 68), SITC 7, SITC 8

- Khái niệm về công nghiệp chế biến, chế tạo:

Công nghiệp chế biến, chế tạo đó là hoạt động làm thay đổi về chất của các nguyên liệu nguyên thủy (là những sản phẩm có được từ việc khai thác) thành các sản phẩm trung gian và tiếp tục biến đổi, chế biến thành sản phẩm cuối cùng

2.2 Thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế xuất hiện từ cách đây hàng ngàn năm nhưng việc giải thích nguồn gốc và lợi ích mà thương mại quốc tế đem lại mới thực sự bắt đầu từ thế

kỷ 16 Trải qua nhiều thế kỷ, các lý thuyết đã lần lượt ra đời từ quan điểm của chủ nghĩa trọng thương (giữa thế kỷ 16), tiếp theo đó là lý thuyết lợi thế tuyệt đối của

Trang 12

Adam Smith (1776) Phát triển quan điểm của Adam Smith, hai lý thuyết khác tiếp tục được xây dựng đó là lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo (1817) và lý thuyết Heckscher-Ohlin, một công trình nghiên cứu sâu hơn lý thuyết của Heckscher (1919) và Ohlin (1933) Trước những biến đổi liên tục của thực tiễn, các lý thuyết này không phải là những giải thích luôn đúng cho các mô hình thương mại Lý thuyết chu kỳ sống của sản phẩm do Raymond Vernon (1966) phát triển đã cho thấy sự thất bại của lý thuyết Heckscher-Ohlin trong việc giải thích các mô hình thương mại trên thực tế Không chỉ vậy, trong các công trình nghiên cứu liên quan tới lý thuyết thương mại mới, Michael Porter (1990) đã đưa ra lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia (mô hình kim cương)

Trong những năm gần đây, mô hình Gravity đã được sử dụng rất nhiều trong phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thương mại quốc tế Mô hình gravity áp dụng trong thương mại song phương có dạng như sau (Krugman và Maurice, 2005):

ij

j i

Tij là luồng chảy thương mại từ địa điểm i sang địa điểm j Yi và Yj là quy mô

nền kinh tế của địa điểm i và địa điểm j Nếu T được đo lường bởi luồng tiền (giá trị

xuất khẩu) thì Y thường là tổng sản phẩm quốc nội hoặc tổng thu nhập quốc dân của mỗi địa điểm Dij là khoảng cách giữa hai địa điểm (thường là khoảng cách giữa hai

trung tâm của i và của j)

2.3 Các yếu tố tác động đến xuất khẩu hàng hoá của một quốc gia

2.3.1 Các yếu tố tác động đến cung xuất khẩu: Quy mô sản xuất của nước xuất

khẩu; Sự sẵn sàng về công nghệ ; Đổi mới công nghệ; Chất lượng nguồn nhân lực

2.3.2 Các yếu tố tác động đến cầu nhập khẩu: Quy mô nền kinh tế của nước

nhập khẩu; Chất lượng hàng hoá

2.3.3 Các yếu tố cản trở/ hấp dẫn: Khoảng cách địa lý; Khoảng cách công

nghệ; Khoảng cách thể chế; Tiếp giáp với biển; Môi trường kinh tế vĩ mô; Tự do hoá thương mại; Rào cản kỹ thuật; Hiệp định thương mại tự do, cơ sở hạ tầng

2.4 Khung phân tích về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hoá của một quốc gia

Trang 13

Sơ đồ 2.1: Khung phân tích của luận án

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)

NƯỚC XUẤT KHẨU

(Năng lực sản xuất)

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN

CUNG XUẤT KHẨU

- Quy mô sản xuất (GDP, GDP bình

quân đầu người)

- Sự sẵn sàng về công nghệ

- Đổi mới công nghệ

- Chất lượng nguồn nhân lực

CÁC YẾU TỐ CẢN TRỞ, HẤP DẪN

NƯỚC NHẬP KHẨU

(Sức mua của thị trường)

- Môi trường kinh

tế vĩ mô của nước xuất khẩu

- Môi trường kinh tế vĩ

mô của nước nhập khẩu

- Vị trí tiếp giáp biển

- Tự do hóa thương mại

- Rào cản kỹ thuật

- Thuế quan

- Hiệp định thương mại tự do

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẦU NHẬP KHẨU

- Quy mô nền kinh tế (GDP, GDP bình quân đầu người)

- Chất lượng hàng hóa

Ngày đăng: 28/05/2019, 15:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm