TRẦN THỊ THU HIẾUHOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC ĐÀ NẴNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH Đà
Trang 1TRẦN THỊ THU HIẾU
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT
CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ
TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 2TRẦN THỊ THU HIẾU
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT
CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ
TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐINH BẢO NGỌC
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Trần Thị Thu Hiếu
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 7
1.1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 7
1.1.1 Khái niệm chi Ngân sách Nhà nước 7
1.1.2 Quản lý chi Ngân sách Nhà nước, đối tượng, mục tiêu quản lý chi Ngân sách Nhà nước 8
1.1.3 Chu trình quản lý chi Ngân sách Nhà nước 9
1.1.4 Kiểm tra, kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước 10
1.2 KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 11
1.2.1 Một số khái niệm về kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế qua Kho bạc Nhà nước 11
1.2.2 Trách nhiệm và quyền hạn của Kho bạc Nhà nước trong quản lý, kiểm soát thanh toán các khoản chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước 13 1.2.3 Đặc điểm và nguyên tắc kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế qua Kho bạc Nhà nước 14
Trang 51.2.5 Nội dung công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhànước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế qua Kho bạc Nhà nước 181.2.6 Các tiêu chí đánh giá kết quả công tác kiểm soát chi thường
xuyên Ngân sách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế qua Kho bạcNhà nước 231.2.7 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác kiểm soát chi thườngxuyên Ngân sách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế qua Kho bạcNhà nước 26KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN
2.1 KHÁI QUÁT VỀ KHO BẠC NHÀ NƯỚC ĐÀ NẴNG 322.1.1 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Kho bạc Nhà nước ĐàNẵng 322.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy Kho bạc Nhà nước Đà Nẵng 342.1.3 Kết quả hoạt động chủ yếu của Kho bạc Nhà nước Đà Nẵng
trong giai đoạn 2011-2014 352.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊNNGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾTẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC ĐÀ NẴNG 372.2.1 Tổ chức bộ máy thực hiện công tác kiểm soát chi thường xuyênNgân sách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế tại Kho bạc Nhà
nước Đà Nẵng 37
Trang 62.2.3 Nội dung công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhànước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế tại Kho bạc Nhà nước Đà Nẵng 402.2.4 Kết quả kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước đốivới các đơn vị sự nghiệp y tế tại Kho bạc Nhà nước Đà Nẵng 522.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNGXUYÊN Ngân sách Nhà nước ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾTẠI Kho bạc Nhà nước ĐÀ NẴNG 612.3.1 Những kết quả đạt được 612.3.2 Những hạn chế trong công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngânsách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế tại Kho bạc Nhà nước ĐàNẵng 632.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong công tác kiểm soát chi
Ngân sách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế tại Kho bạc Nhà
nước Đà Nẵng 71KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 78
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN
CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC ĐÀ NẴNG 79
3.1 CĂN CỨ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 793.1.1 Chiến lược phát triển hệ thống Kho bạc Nhà nước đến năm
2020 793.1.2 Mục tiêu và định hướng hoàn thiện công tác kiểm soát chi
thường xuyên Ngân sách Nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp y tế tại Khobạc Nhà nước Đà Nẵng 81
Trang 7SỰ NGHIỆP Y TẾ TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC ĐÀ NẴNG 833.2.1 Hoàn thiện tổ chức bộ máy thực hiện công tác kiểm soát chi
thường xuyên Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Đà Nẵng 833.2.2 Hoàn thiện quy trình kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách
Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế tại Kho bạc Nhà nước Đà Nẵng 84
3.2.3 Hoàn thiện thực hiện nghiệp vụ kiểm soát chi thường xuyên
Ngân sách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế tại Kho bạc Nhà
nước Đà Nẵng 853.2.4 Hoàn thiện cơ chế thanh toán không dùng tiền mặt đối với cáckhoản chi Ngân sách Nhà nước 913.2.5 Tăng cường thực hiện công tác thanh tra chuyên ngành Kho bạcNhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế 923.2.6 Hoàn thiện cơ chế kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước đối vớicác đơn vị sự nghiệp y tế theo kết quả đầu ra 923.3 NHỮNG KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM
SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁCĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC ĐÀ NẴNG 933.3.1 Đối với Bộ Tài chính 933.3.2 Đối với Kho bạc Nhà nước cấp trên 963.3.3 Đối với cơ quan Tài chính, cơ quan chủ quản và các đơn vị sựnghiệp y tế 96KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 98
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 8Tabmis Treasury And Budget Management Information System
Hệ thống Thông tin Quản lý Ngân sách và Kho bạc
Trang 9Số hiệu Tên bảng Trangbảng
2.1 Số liệu thu NSNN trên địa bàn TP Đà Nẵng giai đoạn
2.2 Số liệu chi NSNN trên địa bàn TP Đà Nẵng giai đoạn
2.3 Số liệu số lượng đơn vị sự nghiệp y tế do KBNN Đà Nẵng
thực hiện kiểm soát chi theo cấp ngân sách 53
2.4 Số liệu số lượng đơn vị sự nghiệp y tế do KBNN Đà Nẵng
thực hiện kiểm soát chi theo mức tự bảo đảm kinh phí
2.5 Số liệu chi thường xuyên NSNN đối với các đơn vị SNYT
theo cấp ngân sách trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 54
2.6 Số liệu chi thường xuyên NSNN đối với các đơn vị
SNYT theo nguồn kinh phí trên địa bàn thành phố Đà
2.9 Số liệu về số món và số tiền KBNN Đà Nẵng từ chối cấp
phát, thanh toán cho các đơn vị SNYT qua kiểm soát chi 58
Trang 10Số hiệu Tên hình Tranghình
2.1 Mô hình chuyên quản tài khoản dự toán hoặc tài khoản
2.3 Quy trình kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN
3.1 Đề xuất Quy trình kiểm soát thanh toán để cấp Séc lĩnh
tiền mặt cho đơn vị giao dịch lĩnh tiền mặt tại Ngân hàng 84
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đà Nẵng là một trong những thành phố lớn, đóng vai trò là trung tâmkinh tế - xã hội của khu vực miền Trung – Tây Nguyên Trong thời gian gầnđây, thành phố đặc biệt chú trọng việc đầu tư mạnh cho lĩnh vực y tế vớinhiều các bệnh viện lớn, uy tín và hiện đại bậc nhất cả nước nhằm khôngngừng nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đảm bảo an sinh xã hội chongười dân, và xứng đáng là trung tâm y tế chuyên sâu của cả khu vực MiềnTrung – Tây Nguyên Ngân sách chi cho lĩnh vực y tế không ngừng tăng quacác năm, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi ngân sách trên địa bàn thành phố;đòi hỏi công tác kiểm soát chi trong lĩnh vực y tế không ngừng hoàn thiệnnhằm góp phần quan trọng trong việc giám sát sự phân phối và sử dụng nguồnlực tài chính đúng mục đích và hiệu quả
Trong những năm qua, công tác kiểm soát chi đối với các đơn vị sựnghiệp y tế trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã có những chuyển biến tích cựctrên cơ sở Nhà nước ban hành các chính sách nhằm đổi mới cơ chế hoạt độngcủa các đơn vị sự nghiệp công lập và xây dựng cơ chế kiểm soát đối với cácđơn vị tham gia cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, trong đó có các đơn vị sựnghiệp y tế Việc đổi mới cơ chế quản lý đối với các đơn vị sự nghiệp cônghướng tới mục tiêu chất lượng, công bằng và hiệu quả trong cung cấp dịch vụcông phù hợp với lộ trình cải cách hành chính nhà nước và điều kiện thực tếcủa Việt Nam Tuy nhiên công tác kiểm soát chi ngân sách đối với các đơn vị
sự nghiệp y tế trên địa bàn thành phố Đà Nẵng còn tồn tại nhiều bất cập vàhạn chế; đó là hạn chế trong công tác tổ chức thực hiện kiểm soát chi quaKBNN, trong cơ chế chính sách của Nhà nước cũng như ý thức của các đơn
vị sử dụng ngân sách Vì vậy đòi hỏi phải đi sâu phân tích nguyên nhân của
Trang 12những hạn chế để đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chithường xuyên Ngân sách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế.
Xuất phát từ yêu cầu đó, tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện công tác Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế tại KBNN Đà Nẵng” với mong muốn đưa ra những kiến nghị và giải pháp
nhằm giải quyết những vấn đề tồn tại trên
2 Mục tiêu nghiên cứu
• Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp y tế qua Kho bạc Nhà nước
• Đánh giá thực trạng công tác Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế tại Kho bạc Nhà nước Đà Nẵng
• Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác Kiểm soátchi thường xuyên Ngân sách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế tạiKho bạc Nhà nước Đà Nẵng
• Đối tượng nghiên cứu:
Những vấn đề lý luận về công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngânsách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế qua Kho bạc Nhà nước vàthực tiễn công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước đối vớicác đơn vị sự nghiệp y tế tại Kho bạc Nhà nước Đà Nẵng
Trang 134 Phương pháp nghiên cứu
- Trên cơ sở nền tảng lý luận về công tác Kiểm soát chi thường xuyênNgân sách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế qua Kho bạc Nhànước, thu thập số liệu và phỏng vấn trực tiếp công chức làm công tác kiểmsoát chi các đơn vị sự nghiệp y tế tại Kho bạc Nhà nước Đà Nẵng, tác giả đãchọn mẫu một số hồ sơ để phân tích, so sánh nhằm đánh giá thực trạng côngtác Kiểm soát chi thường xuyên NSNN đối với các đơn vị sự nghiệp y tế tạiKBNN Đà Nẵng
- Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp trong quá trình nghiên cứu
* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát chi thường xuyênNSNN đối với các đơn vị sự nghiệp y tế qua KBNN
- Đánh giá và nhận diện những hạn chế của công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN đối với các đơn vị sự nghiệp y tế tại KBNN Đà Nẵng
- Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp mang tính thiết thực nhằm hoànthiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN đối với các đơn vị sựnghiệp y tế tại KBNN Đà Nẵng trong thời gian đến
Trang 146 Tổng quan tài liệu
Để thực hiện đề tài “Hoàn thiện công tác Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế tại KBNN Đà Nẵng”,
tác giả đã tham khảo các luận văn có liên quan, cụ thể như sau:
Luận văn Thạc sĩ kinh tế “Hoàn thiện công tác kiểm soát chi thườngxuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Gia Lai” của tác giả ThânTùng Lâm năm 2012 tại Đại học Đà Nẵng đã trình bày khá đầy đủ những vấn
đề lý luận về kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN Trên cơ sở đó,nghiên cứu đã ch ra những hạn chế, tồn tại và đề xuất một số giải pháp chủyếu nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNNGia Lai Tuy nhiên, các giải pháp được đưa ra còn chung chung, chưa đưa rađược các giải pháp cụ thể hoàn thiện công tác KSC thường xuyên NSNN quaKBNN Gia Lai nhằm đẩy mạnh thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển Khobạc điện tử đến năm 2020, đặc biệt là các giải pháp về công nghệ thông tin
Luận văn “Thực trạng công tác kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước tạiKho bạc Nhà nước Hai Bà Trưng – Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị ThuTrang đã trình bày về thực trạng công tác kiểm soát chi NSNN qua KBNNbao gồm cả kiểm soát chi thường xuyên và chi đầu tư xây dựng cơ bản; trong
đó nêu rõ những hạn chế, vướng mắc trong thực tế công tác đồng thời đề xuấtcác giải pháp về việc hoàn thiện tổ chức bộ máy, con người; phát triển và sửdụng hiệu quả công nghệ và kỹ thuật trong kiểm soát chi NSNN; hiện đại hóa
và nghiên cứu phát triển quy trình, nội dung kiểm soát chi NSNN phù hợp vớithực tiễn; Đặc biệt, luận văn có đề cập đến kinh nghiệm kiểm soát chiNSNN của một số quốc gia trên thế giới mà trên cơ sở đó có thể xem xét đểđưa ra các giải pháp mang tính thiết thực nhằm hoàn thiện hơn nữa kiểm soátchi thường xuyên NSNN đối với các đơn vị sự nghiệp y tế tại KBNN ĐàNẵng Tuy nhiên, với phạm vi nghiên cứu khá rộng là công tác kiểm soát chi
Trang 15NSNN tại KBNN, bao gồm cả kiểm soát chi thường xuyên và kiểm soát chiđầu tư xây dựng cơ bản, vì vậy việc nghiên cứu về công tác Kiểm soát chithường xuyên NSNN qua KBNN chưa được cụ thể, trong đó tác giả đã đềcập đến phương thức kiểm soát chi theo kết quả đầu ra, một phương thức cấpphát NSNN tiên tiến, được áp dụng tại các nước trên thế giới, nhưng tác giảluận văn chưa đưa ra các giải pháp cụ thể để áp dụng phương thức này đểkiểm soát chi tại nước ta.
Luận văn Thạc sĩ kinh tế “Hoạt động kiểm soát chi Ngân sách Nhànước qua Kho bạc Nhà nước tại địa bàn t nh Lâm Đồng” của tác giả Nguyễn
Tố Loan năm 2012 trình bày khá đầy đủ các nội dung, vấn đề cơ bản về kiểmsoát chi NSNN qua KBNN bao gồm KSC thường xuyên và KSC đầu tư xâydựng cơ bản Tuy nhiên, đây cũng là đề tài khá rộng, vì vậy việc trình bày cáchạn chế và giải pháp còn chung chung, chưa đi sâu vào những tồn tại, hạn chếtrong hoạt động kiểm soát chi thường xuyên tại KBNN Lâm Đồng, để từ đóđưa ra các giải pháp cụ thể Luận văn chưa đề cập đến mô hình tổ chức hoạtđộng và quy trình kiểm soát chi; vai trò của công tác thanh tra, kiểm tra nội bộhoạt động Kiểm soát chi tại KBNN Lâm Đồng Đây là những hạn chế của hệthống KBNN, cần thiết phải hoàn thiện để nâng cao chất lượng và hiệu quảcông tác kiểm soát chi NSNN qua KBNN
Luận văn Thạc sĩ kinh tế “Tăng cường kiểm soát chi Ngân sách Nhà nướcđối với các đơn vị sự nghiệp có thu do Kho bạc Nhà nước Đà Nẵng thực hiện”của tác giả Phan Xuân Tường năm 2013 tại Đại học Đà Nẵng đã trình bày kháchi tiết những hạn chế và đề xuất giải pháp trong công tác kiểm soát chi đối vớicác đơn vị sự nghiệp có thu, trong đó đơn vị sự nghiệp y tế là một bộ phận quantrong trong hệ thống các đơn vị sự nghiệp có thu Do vậy, tác giả có thể xem xétnghiên cứu này để kế thừa những giải pháp mang tính thiết thực nhằm hoàn thiệnhơn nữa công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân
Trang 16sách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế tại Kho bạc Nhà nước ĐàNẵng Luận văn đã nêu được những điểm hạn chế trong quy trình kiểm soátchi NSNN, phương thức kiểm soát chi theo “đầu vào”, quá trình thực hiệnnghiệp vụ KSC thường xuyên NSNN Đồng thời đã đưa ra các giải pháp cụthể, thiết thực với tình hình tổ chức thực hiện công tác kiểm soát chi tại đơn
vị Đó là: hạn chế trong quy trình kiểm soát chi thường xuyên NSNN quaKBNN và từ đó xây dựng quy trình thanh toán séc để bổ sung cho quy trìnhkiểm soát chi thường xuyên hiện nay Hạn chế trong phương thức KSCthường xuyên NSNN đối với các tài khoản tiền gửi đối với đơn vị SNCT Yêucầu hồ sơ kiểm soát chặt chẽ đối với các khoản chi từ tài khoản tiền gửi songcác khoản chi này không được quản lý, theo dõi theo mục lục ngân sách Tácgiả đã đưa ra được những bất cập trong các quy định kiểm soát chi đối với 02loại tài khoản này và giải pháp là đưa ra các đoạn mã hỗ trợ việc quản lý cáckhoản chi NSNN từ tài khoản tiền gửi Tuy nhiên, giải pháp này chưa phùhợp với cơ chế nâng cao tinh thần tự chủ tài chính, mang lại tự chủ cho cácđơn vị sự nghiệp, mà thay vào đó, phải có quy định cụ thể và nâng cao tính kỷluật và chịu trách nhiệm của đơn vị tự chủ; đồng thời tăng cường chức năngthanh tra chuyên ngành KBNN, trong đó KBNN thực hiện việc thanh tra,kiểm tra tình hình sử dụng NSNN trực tiếp tại các đơn vị sự nghiệp y tế nhằmnâng cao hiệu quả công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNNđối với các đơn vị sử dụng NSNN
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ
SỰ NGHIỆP Y TẾ QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1 Khái niệm chi Ngân sách Nhà nước
NSNN là một phạm trù lịch sử, phản ánh các quan hệ kinh tế trong điềukiện kinh tế hàng hoá - tiền tệ và được sử dụng như một công cụ để thực hiệnchức năng của Nhà nước Sự ra đời và tồn tại của NSNN gắn liền với sự tồntại và phát triển của Nhà nước
Trong thực tiễn, hoạt động NSNN là hoạt động tạo lập và sử dụng quỹtiền tệ của Nhà nước Trong quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội, nguồntài chính luôn vận động giữa một bên là Nhà nước một bên là các chủ thểkinh tế xã hội Đằng sau các hoạt động đó chứa đựng các mối quan hệ giữaNhà nước với các chủ thể khác, thông qua việc tạo lập sử dụng quỹ tiền tệ tậptrung của Nhà nước, chuyển dịch một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủthể đó thành thu nhập của Nhà nước và Nhà nước chuyển dịch thu nhập đóđến các chủ thể được thụ hưởng để thực hiện các chức năng nhiệm vụ củaNhà nước
Có thể hiểu một cách khái quát, NSNN xét ở thể tĩnh và hình thức biểuhiện bên ngoài là bảng dự toán thu chi bằng tiền của Nhà nước cho mộtkhoảng thời gian nhất định nào đó, phổ biến cho một năm hoặc một số năm;xét ở thể động và trong suốt một quá trình, NSNN là khâu cơ bản, chủ đạo củatài chính Nhà nước, được Nhà nước sử dụng để động viên phân phối một bộphận nguồn lực của xã hội dưới dạng tiền tệ về cho Nhà nước để đảm bảođiều kiện vật chất nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của bộ máy Nhà
Trang 18nước và phục vụ thực hiện các chức năng, nhiệm vụ về kinh tế - xã hội màNhà nước phải gánh vác.
Theo Luật NSNN được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ hai thông quangày 16/12/2002: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi củaNhà nước được cơ quan có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trongmột năm nhằm thực hiện chức năng của Nhà nước” [1, tr.1]
Chi NSNN là việc Nhà nước phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằmđảm bảo điều kiện vật chất để duy trì sự hoạt động và thực hiện chức năng củaNhà nước và đáp ứng nhu cầu đời sống kinh tế xã hội theo các nguyên tắcnhất định
Như vậy, phạm vi chi NSNN rất rộng, bao trùm mọi lĩnh vực đời sống,liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến mọi đối tượng
1.1.2 Quản lý chi Ngân sách Nhà nước, đối tượng, mục tiêu quản
lý chi Ngân sách Nhà nước
Quản lý chi NSNN là quá trình vận dụng các cơ chế, chính sách củaNhà nước trong quản lý kinh tế, đồng thời sử dụng các công cụ và phươngpháp quản lý nhằm tác động đến quá trình sử dụng nguồn vốn NSNN để thựchiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước một cách có hiệu quả nhất
Đối tượng quản lý chi NSNN là toàn bộ các khoản chi của NSNNđược cấp phát, thanh toán để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhànước trong từng thời kỳ nhất định
Mục tiêu cơ bản của quản lý chi NSNN là nâng cao hiệu quả sử dụngcác nguồn vốn NSNN; không để nguồn vốn của Nhà nước bị thất thoát, lãngphí hoặc sử dụng sai mục đích Đồng thời, giải quyết hài hòa mối quan hệ vềlợi ích kinh tế giữa một bên là Nhà nước và một bên là các chủ thể khác trong
xã hội
Trang 191.1.3 Chu trình quản lý chi Ngân sách Nhà
nước a Lập dự toán chi Ngân sách Nhà nước
Lập dự toán chi NSNN là việc các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm chiNSNN phải tổ chức lập dự toán chi Ngân sách trong nhiệm vụ được giao
Dự toán chi NSNN đã được phê chuẩn trở thành các ch tiêu pháp lệnhđối với cơ quan nhà nước và các đơn vị dự toán ngân sách các cấp
Lập dự toán là công việc ban đầu rất quan trọng, đặt cơ sở nền tảng và
có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả của toàn bộ các khâu trongchu trình quản lý chi NSNN
b Chấp hành dự toán chi Ngân sách Nhà nước
Chấp hành dự toán chi NSNN là quá trình sử dụng tổng hợp các biệnpháp kinh tế - tài chính và hành chính nhằm hiện thực hoá các ch tiêu ghitrong dự toán chi NSNN năm Nội dung của quá trình này là việc bố tríNSNN cho các nhu cầu đã được phê chuẩn Việc chấp hành dự toán chiNSNN thuộc về tất cả các pháp nhân và thể nhân dưới sự điều hành củaChính phủ và UBND các cấp, trong đó cơ quan Tài chính có vai trò quantrọng Cũng trong quá trình này, những cơ quan quản lý Nhà nước được phápluật quy định có trách nhiệm kiểm soát mọi khoản chi NSNN đảm bảo đúng
dự toán, đúng chế độ hiện hành của Nhà nước Thực chất của quá trình chấphành dự toán chi NSNN trong chu trình chi NSNN là tổ chức cấp phát và sửdụng kinh phí NSNN sao cho đúng mục đích và có hiệu quả
Trong đó, KBNN có trách nhiệm căn cứ vào dự toán chi NSNN nămđược giao, kiểm tra đầy đủ hồ sơ thanh toán và lệnh chuẩn chi của chủ tàikhoản thực hiện cấp phát, chi trả cho đơn vị
c Quyết toán chi Ngân sách Nhà nước
Quyết toán chi NSNN là khâu cuối cùng trong chu trình quản lý chiNSNN, là quá trình rà soát, ch nh lý để đảm bảo tính chính xác của các số
Trang 20liệu chi NSNN sau một năm thực hiện; trên cơ sở đó tổng hợp và lập các báocáo trình các cơ quan có chức năng của Nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn.
1.1.4 Kiểm tra, kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước
Kiểm tra, kiểm soát chi NSNN không phải là một giai đoạn hay mộtpha của chu trình quản lý chi NSNN mà nó được thực hiện ở tất cả các giaiđoạn của chu trình này
Đối với giai đoạn lập dự toán, kiểm tra NSNN là việc xem xét lại các
dự báo; đánh giá số liệu dự toán của các đơn vị lập đảm bảo phù hợp với thực
tế phát sinh, với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị hoặc của từng cấp từngngành Đây là giai đoạn đầu tiên trong chu trình chi NSNN Nó giúp nâng caochất lượng dự toán, tránh tình trạng giao dự toán quá thấp không đủ kinh phíhoạt động cho đơn vị hoặc giao dự toán quá cao dễ dẫn đến lãng phí trong sửdụng NSNN
Đối với giai đoạn chấp hành NSNN, là việc kiểm tra, kiểm soát việc
thực hiện quản lý chi NSNN nhằm đảm bảo các khoản chi phải đủ điều kiệntheo quy định trước khi xuất quỹ NSNN chi trả cho đối tượng thụ hưởngNSNN Kiểm soát tại giai đoạn chấp hành NSNN giúp ngăn chặn kịp thờinhững khoản chi không đúng chế độ quy định, tránh lãng phí và thất thoát tiền
và tài sản nhà nước
Đối với giai đoạn quyết toán NSNN, là việc kiểm tra tình hình sử dụng
kinh phí của đơn vị sử dụng NSNN nhằm đảm bảo sự đúng đắn, chính xác củacác khoản chi NSNN trước khi NSNN được quyết toán
Như vậy, kiểm tra, kiểm soát chi NSNN là một chức năng của quản lýchi NSNN, gắn liền với quản lý NSNN, đồng thời gắn liền với mọi hoạt độngcủa NSNN
Trang 211.2 KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.2.1 Một số khái niệm về kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách
Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế qua Kho bạc Nhà
nước a Khái niệm đơn vị sự nghiệp y tế
* Khái niệm:
Theo Nghị định 85/2012/NĐ-CP định nghĩa: Đơn vị sự nghiệp y tếcông lập (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp y tế) là tổ chức do cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách phápnhân, con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của phápluật về kế toán để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công hoặc phục vụquản lý nhà nước trong các lĩnh vực chuyên môn y tế như: Y tế dự phòng;khám bệnh, chữa bệnh; điều dưỡng và phục hồi chức năng; giám định y khoa,pháp y, pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; kiểm nghiệm dược, mỹ phẩm,trang thiết bị y tế; an toàn vệ sinh thực phẩm; dân số - kế hoạch hóa gia đình;sức khỏe sinh sản; truyền thông giáo dục sức khỏe [10, tr.1]
Đơn vị sự nghiệp y tế là đơn vị sự nghiệp công lập và có sự khác biệt
về cơ chế quản lý Nhà nước với cơ quan hành chính Nhà nước Cơ quanhành chính Nhà nước là một bộ phận của bộ máy Nhà nước có chức năngquản lý Nhà nước, gồm Chính phủ, các bộ và cơ quan ngang bộ, UBND cáccấp, các cơ quan chuyên môn của UBND các cấp Còn đơn vị sự nghiệpcông là những cơ quan trực thuộc của cơ quan hành chính nhà nước, thựchiện hoạt động sự nghiệp công cộng, không có chức năng quản lý nhà nước
* Phân loại đơn vị sự nghiệp y tế
- Căn cứ vào vị trí, cấp chủ quản:
+ Đơn vị sự nghiệp y tế trung ương
+ Đơn vị sự nghiệp y tế địa phương
Trang 22- Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động cụ
thể: + Y tế dự phòng;
+ Khám bệnh, chữa bệnh;
+ Điều dưỡng và phục hồi chức năng;
+ Giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần;
Tổng nguồn thu sự nghiệp hoạt động
chi phí của đơn vị = x 100%
Tổng nguồn chi hoạt động thường xuyên
(%)
Căn cứ vào mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên, đơn vị
sự nghiệp được phân loại như sau:
+ Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động: là đơn vị có mức tựbảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên xác định theo công thức trên, bằnghoặc lớn hơn 100%
+ Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động: Là đơn vị
có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên xác định theo công thứctrên, từ trên 10% đến dưới 100%
+ Đơn vị sự nghiệp do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động: làđơn vị có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên xác định theocông thức trên, từ 10% trở xuống
Trong các cách phân loại trên, đứng ở giác độ kiểm soát chi NSNN đốivới các đơn vị sự nghiệp y tế, thì việc phân loại căn cứ vào mức tự đảm bảochi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị có ý nghĩa rất quan trọng, ảnhhưởng trực tiếp đến công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN đối với các
Trang 23đơn vị SNYT.
b Khái niệm chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước
Chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối, sử dụng nguồn lực tàichính của Nhà nước nhằm trang trải nhu cầu của các cơ quan Nhà nước, các
tổ chức chính trị - xã hội thuộc khu vực công, qua đó thực hiện nhiệm vụquản lý Nhà nước ở các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y
tế, xã hội, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môitrường và các hoạt động sự nghiệp khác
Nói tóm lại, chi thường xuyên là quá trình phân phối, sử dụng quỹNgân sách Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi gắn với việc thực hiện cácnhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về quản lý kinh tế - xã hội
c Khái niệm kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế qua Kho bạc Nhà nước
Kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN là quá trình KBNNthực hiện thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi thường xuyên NSNNcủa các đối tượng sử dụng NSNN phù hợp với chính sách, chế độ, định mứcchi tiêu do Nhà nước quy định, theo những nguyên tắc, hình thức và phươngpháp quản lý tài chính trong quá trình cấp phát và thanh toán các khoản chithường xuyên NSNN
Kiểm soát chi thường xuyên NSNN đối với các đơn vị sự nghiệp y tếqua KBNN là quá trình KBNN thực hiện thẩm định, kiểm tra, kiểm soát cáckhoản chi thường xuyên NSNN của các đơn vị SNYT phù hợp với chínhsách, chế độ của Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả quản lý NSNN
1.2.2 Trách nhiệm và quyền hạn của Kho bạc Nhà nước trong quản lý, kiểm soát thanh toán các khoản chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước
KBNN tham gia kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại giai đoạn chấp
Trang 24hành NSNN [6, tr.2]:
- KBNN có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ chi và thực hiệnthanh toán kịp thời các khoản chi ngân sách đủ điều kiện thanh toán theo quyđịnh
- Tham gia với cơ quan tài chính, cơ quan quản lý nhà nước có thẩmquyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng ngân sách; xác nhận số thực chi,
số tạm ứng, số dư kinh phí cuối năm ngân sách của các đơn vị sử dụng ngânsách tại Kho bạc Nhà nước
- Kho bạc Nhà nước có quyền tạm đình ch , từ chối thanh toán và thôngbáo bằng văn bản cho đơn vị sử dụng ngân sách biết; đồng thời, chịu tráchnhiệm về quyết định của mình trong các trường hợp không đủ điều kiện chitheo quy định
- Kho bạc Nhà nước không chịu trách nhiệm về những hồ sơ, chứng từ theo quy định không phải gửi đến Kho bạc Nhà nước để kiểm soát
- Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm tạm dừng thanh toán theo yêu cầucủa cơ quan tài chính (bằng văn bản) đối với các trường hợp tồn quỹ ngânsách các cấp không đáp ứng đủ nhu cầu chi
- Cán bộ, công chức Kho bạc Nhà nước không tuân thủ thời gian quyđịnh về kiểm soát chi hoặc cố tình gây phiền hà đối với đơn vị sử dụng NSNNthì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hànhchính theo quy định của pháp luật
1.2.3 Đặc điểm và nguyên tắc kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế qua Kho bạc Nhà nước
a Đặc điểm công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế qua Kho bạc Nhà nước
Đặc điểm chung về công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN quaKBNN:
Trang 25Thứ nhất, hoạt động kiểm soát chi được tiến hành thường xuyên khi phátsinh chi tiêu NSNN và được thực hiện trên từng khoản chi NSNN (không kiểmsoát theo hình thức chọn mẫu) Kiểm soát chi NSNN qua KBNN phải được thựchiện theo đúng quy định của Nhà nước về phạm vi trách nhiệm, quyền hạn củaKBNN trong việc kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN.
Thứ hai, kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN dưới hìnhthức kiểm soát các hồ sơ, chứng từ đề nghị chi của các đơn vị, đảm bảo tuânthủ đúng các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do Nhà nước quy định
Đối với các đơn vị SNYT là các đơn vị sự nghiệp có thu và được giaoquyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính, vì vậy công tác kiểm soát chithường xuyên NSNN đối với các đơn vị SNYT qua KBNN có những đặcđiểm khác biệt như sau:
- Theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP, các đơn vị sự nghiệp công lập, trong
đó có các đơn vị sự nghiệp y tế được trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng củađơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thunhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động, từng bước giảmdần bao cấp từ NSNN Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp công lập được chủ động
bố trí, sử dụng kinh phí chi thường xuyên để thực hiện chế độ tự chủ theo cácnội dung, yêu cầu công việc được giao cho phù hợp để hoàn thành nhiệm vụ,đảm bảo tiết kiệm và có hiệu quả Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khảnăng nguồn tài chính, đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động
và đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động, thủ trưởng đơn
vị được quyết định một số mức chi quản lý hành chính, chi nghiệp vụ chuyênmôn cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyđịnh; đối với đơn vị sự nghiệp do ngân sách bảo đảm toàn bộ chi phí hoạtđộng, Thủ trưởng đơn vị được quy định một số mức chi quản lý, chi hoạt
Trang 26động nghiệp vụ nhưng tối đa không quá mức chi do cơ quan nhà nước cóthẩm quyền quy định Vì vậy, tùy thuộc vào mức độ tự chủ của đơn vị SNYT
mà công tác KSC thường xuyên NSNN đối với các đơn vị SNYT qua KBNN
sẽ khác nhau
- Đơn vị sự nghiệp y tế là đơn vị có nguồn thu thường xuyên từ hoạt động
sự nghiệp; vì vậy, kinh phí hoạt động của các đơn vị SNYT chủ yếu từ 02 nguồngồm: Kinh phí do NSNN cấp được theo dõi trên tài khoản dự toán và kinh phíđược để lại từ số thu phí, lệ phí thuộc NSNN theo quy định của pháp luật đượctheo dõi trên tài khoản tiền gửi Vì vậy, đối với các đơn vị SNYT, KBNN thựchiện kiểm soát chi thường xuyên đồng thời trên cả 02 loại
kinh phí này Mỗi loại kinh phí có tính chất khác nhau vì vậy việc quản lý,kiểm soát và hạch toán theo dõi các khoản chi từ 02 nguồn kinh phí này cũngkhác nhau
- Công tác kiểm soát chi đối với các đơn vị SNYT qua KBNN hiện nayđược thực hiện kiểm soát chi theo đầu vào, có nghĩa là việc lập, chấp hành vàquyết toán ngân sách chủ yếu dựa trên cơ chế kiểm soát chi phí đầu vào.KBNN ch thiên về kiểm soát, khống chế các khoản chi NSNN theo các khoảnmục chi như chi bao nhiêu, định mức tiêu chuẩn có đúng chế độ mà chưathực hiện kiểm soát kết quả đầu ra, tức chất lượng các dịch vụ do các đơn vịSNYT cung cấp
b Nguyên tắc kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế qua Kho bạc Nhà nước [6, tr.1]
- Các đơn vị sự nghiệp y tế phải mở tài khoản tại KBNN để thực hiệnthu, chi qua KBNN đối với các khoản kinh phí thuộc NSNN theo quy địnhcủa Luật NSNN (bao gồm kinh phí NSNN cấp, các khoản thu, chi theo quyđịnh đối với nguồn thu từ phí và lệ phí thuộc NSNN và các khoản khác củaNSNN nếu có); chịu sự kiểm tra, kiểm soát của KBNN trong quá trình tập
Trang 27trung và sử dụng các khoản kinh phí thuộc NSNN.
Đối với các khoản thu, chi dịch vụ, liên doanh, liên kết, đơn vị sựnghiệp y tế có thể mở tài khoản tại KBNN hoặc ngân hàng để giao dịch, thanhtoán KBNN không kiểm soát các khoản thu, chi này của đơn vị (kể cả trườnghợp đơn vị mở tài khoản tại KBNN)
- Tất cả các khoản chi NSNN phải được kiểm tra, kiểm soát trong quátrình chi trả, thanh toán Các khoản chi phải có trong dự toán NSNN được cấp
có thẩm quyền giao; đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN do cơ quannhà nước có thẩm quyền quy định hoặc mức chi theo quy chế chi tiêu nội bộ
do đơn vị quy định; đã được thủ trưởng đơn vị sự nghiệp hoặc người được
uỷ quyền quyết định chi
- Mọi khoản chi NSNN được hạch toán bằng đồng Việt Nam, theo niên
độ ngân sách, cấp ngân sách và mục lục NSNN hiện hành Các khoản chiNSNN bằng ngoại tệ, hiện vật, ngày công lao động được quy đổi và hạchtoán chi bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá hạch toán ngoại tệ, giá hiện vật, ngàycông lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
- Trong quá trình quản lý, thanh toán, quyết toán chi NSNN, các khoảnchi sai phải thu hồi Căn cứ vào quyết định của cơ quan tài chính hoặc quyếtđịnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, KBNN thực hiện việc thu hồi choNSNN
1.2.4 Tổ chức bộ máy thực hiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN đối với các đơn vị sự nghiệp y tế qua Kho bạc Nhà nước
Bộ máy kiểm soát chi thường xuyên không ch đơn thuần gồm các bộphận trực tiếp thực hiện công việc kiểm soát chi mà bao gồm cả các bộ phận
có liên quan trong công tác chi thường xuyên NSNN
- Ban giám đốc KBNN: có quyền quyết định thanh toán hay từ chối thanh toán các khoản chi NSNN theo quy định
Trang 28- Bộ phận Kế toán có trách nhiệm kiểm soát các khoản chi thườngxuyên, thực hiện thanh toán cho đơn vị cung cấp hàng hoá, dịch vụ (đối vớinhững khoản thanh toán không dùng tiền mặt), hạch toán kế toán các khoảnchi theo chế độ kế toán hiện hành Đặc biệt, đối với các đơn vị sự nghiệp cóthu trong đó có các đơn vị sự nghiệp y tế, kiểm soát thanh toán đối với cảnguồn NSNN cấp và nguồn thu sự nghiệp, vì vậy tùy tình hình cụ thể tại đơn
vị mà mô hình tổ chức kiểm soát chi theo cách chuyên quản theo nguồn kinhphí (các khoản chi từ nguồn NSNN cấp hoặc các khoản chi từ nguồn thu sự nghiệp) hoặc quản lý theo đơn vị
- Phòng Kho quỹ: chi tiền mặt cho đơn vị sử dụng NSNN trong trường hợp cấp phát bằng tiền mặt
1.2.5 Nội dung công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế qua Kho bạc Nhà nước
Nội dung KSC thường xuyên NSNN qua KBNN nói chung và đối vớicác đơn vị SNYT nói riêng thể hiện qua ba giai đoạn kiểm soát: kiểm soáttrước thanh toán, kiểm soát trong thanh toán và kiểm soát sau thanh toán
a Kiểm soát trước thanh toán
Đây là khâu đầu tiên trong chu trình kiểm soát chi qua KBNN, gópphần nâng cao chất lượng công tác kiểm soát chi qua KBNN Vào đầu năm,các đơn vị SNYT gửi KBNN hồ sơ một lần gồm: Quyết định giao dự toán chiNSNN, quy chế chi tiêu nội bộ và quyết định giao quyền tự chủ của đơn vị.Khi nhận được hồ sơ, KBNN có trách nhiệm kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ,
sự đầy đủ của hồ sơ và đối chiếu số dự toán được giao với cơ quan tài chínhtrên chương trình Tabmis
b Kiểm soát thanh toán
Kiểm soát quá trình thực hiện dự toán nhằm đảm bảo các khoản chiphải đủ điều kiện theo quy định trước khi xuất quỹ NSNN chi trả cho đối
Trang 29tượng thụ hưởng NSNN Kiểm soát thanh toán là khâu chủ yếu của chu trìnhkiểm soát chi và cũng là nhiệm vụ quan trọng nhất của KBNN trong việc quản
lý chi quỹ NSNN Kiểm soát thanh toán giúp ngăn chặn kịp thời những khoảnchi không đúng chế độ quy định, tránh lãng phí và thất thoát tiền và tài sảnNhà nước
Khi có nhu cầu thanh toán, các đơn vị SNYT gửi KBNN nơi giao dịchcác hồ sơ, chứng từ có liên quan đến từng lần thanh toán KBNN tiến hànhkiểm soát hồ sơ thanh toán của đơn vị như sau:
- Kiểm tra các khoản chi đã có trong dự toán chi NSNN được giao
Dự toán là khâu mở đầu của một chu trình NSNN Những khoản chithường xuyên một khi đã được ghi vào dự toán chi và đã được cơ quanquyền lực nhà nước xét duyệt được coi là ch tiêu pháp lệnh Nó đã được tínhtoán để đảm bảo cân đối giữa nguồn thu NSNN và nhiệm vụ chi NSNN; đượcxây dựng, phê duyệt căn cứ vào nhiệm vụ được giao cho các đơn vị SNYT vàđịnh mức, tiêu chuẩn của các cơ quan chức năng có thẩm quyền ban hành Do
đó, KBNN kiểm tra các khoản chi phải có trong dự toán được giao nhằm đảmbảo các khoản chi được chi đúng mục đích, đối tượng, tránh việc chi quá khảnăng đảm bảo của NSNN
- Kiểm soát các khoản chi đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
Chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi là điều kiện, nguyên tắc, đối tượng,giới hạn các mức chi tiêu cho một mục đích cụ thể của đơn vị SNYT được cơquan chức năng có thẩm quyền ban hành Chế độ, tiêu chuẩn, định mức là căn
cứ quan trọng để lập dự toán chi ngân sách hằng năm và là căn cứ để KSCNSNN của KBNN Có hai loại chế độ, tiêu chuẩn, định mức:
+ Chế độ, tiêu chuẩn, định mức sử dụng chung trong phạm vi toàn quốc
là những chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan chức năng có thẩm quyền
Trang 30ban hành áp dụng cho tất cả t nh, thành phố trong cả nước.
+ Chế độ, tiêu chuẩn, định mức sử dụng trong phạm vi ngành, địaphương (nếu được chính phủ cho phép hoặc có sự thỏa thuận của Bộ chứcnăng) thì loại chế độ, tiêu chuẩn, định mức này được cơ quan có thẩm quyềncủa ngành, địa phương ban hành để đảm bảo phù hợp với tính chất đặc thùcủa ngành kinh tế hoặc địa phương
Trên cơ sở các chế độ, tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước quy định, tùythuộc vào mức độ tự chủ về tài chính, các đơn vị SNYT xây dựng quy chế chitiêu nội bộ cho đơn vị mình sao cho phù hợp với quy định của pháp luật.Những khoản chi đã có chế độ, tiêu chuẩn, định mức trong quy chế chi tiêunội bộ thì KBNN căn cứ vào quy chế chi tiêu nội bộ để kiểm soát khi cấp phátthanh toán cho đơn vị SNYT Những khoản chi chưa có chế độ, tiêu chuẩn,định mức được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì KBNN căn cứ vào dựtoán được cơ quan cấp trên trực tiếp của đơn vị SNYT phê duyệt làm căn cứ
để kiểm soát
Đây là nội dung được xem là quan trọng nhất trong công tác KSCNSNN Các khoản chi NSNN phải đáp ứng yêu cầu đúng mục đích, tiết kiệm
và hiệu quả Trong quá trình KBNN thực hiện KSC NSNN, nếu phát hiện các
vi phạm chính sách, chế độ quản lý tài chính, KBNN có quyền từ chối thanhtoán Để thực hiện được điều này, KBNN phải dựa vào các chế độ, tiêuchuẩn, định mức chi tiêu của Nhà nước quy định để kiểm soát Công việckiểm tra đó được KBNN thực hiện thông qua việc xem xét các hồ sơ, tài liệuchi thường xuyên NSNN của đơn vị gửi đến KBNN
- Kiểm tra các khoản chi đã được thủ trưởng đơn vị SNYT hoặc ngườiđược ủy quyền quyết định chi
Khi thẩm định hồ sơ thanh toán, KBNN phải kiểm tra việc quyết địnhchi của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị hoặc người được ủy quyền (gọi
Trang 31chung là chủ tài khoản) đối với bất kỳ khoản chi nào, hay gọi là kiểm tra lệnhchuẩn chi Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền phê duyệt Chuẩn chi của chủ tài khoản được thể hiện là chủtài khoản ký và đóng dấu của đơn vị vào lệnh chuẩn chi
Chủ tài khoản các đơn vị SNYT có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc
sử dụng kinh phí NSNN đảm bảo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức, tiếtkiệm và hiệu quả KBNN ch là người kiểm soát lại các khoản chi trước khixuất quỹ ngân sách để thanh toán Mọi khoản chi sai chế độ, tiêu chuẩn, địnhmức, chủ tài khoản phải là người chịu trách nhiệm trước pháp luật về cácquyết định chi của mình Vì vậy việc KBNN kiểm tra lệnh chuẩn chi là nhằmđảm bảo tính pháp lý để gắn trách nhiệm của chủ tài khoản đối với các khoảnchi NSNN
Để thực hiện nội dung này, tất cả các chủ tài khoản phải đăng ký chữ
ký, mẫu dấu của cơ quan, đơn vị và các văn bản pháp lý chứng minh quyềnlực (quyết định bổ nhiệm, văn bản uỷ quyền) với cơ quan KBNN nơi giaodịch
Đối với các khoản chi được cơ quan Tài chính cấp trực tiếp bằng
“Lệnh chi tiền” thì cơ quan Tài chính có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát nộidung, tính chất của từng khoản chi đảm bảo các điều kiện cấp phát NSNNtheo quy định KBNN có trách nhiệm thanh toán, chi trả cho đơn vị SNYTtheo nội dung ghi trong “Lệnh chi tiền” của cơ quan Tài chính
- Kiểm tra sự đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ của các hồ sơ, chứng từ thanh toán theo quy định
Các hồ sơ, chứng từ đơn vị gửi đến KBNN là căn cứ pháp lý để KBNNkiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN Vì vậy mỗi khoản chi đều phải lậptheo mẫu chứng từ quy định và hồ sơ chứng từ thanh toán kèm theo phải đầy
đủ và đảm bảo tính hợp pháp, hợp lệ theo quy định KBNN có trách nhiệm
Trang 32kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ và đầy đủ của các hồ sơ, chứng từ đó trước khithanh toán, chi trả kinh phí NSNN cho đơn vị SNYT.
- Đối với các khoản chi bằng tiền mặt, ngoài việc kiểm soát theo cácquy định nêu trên, KBNN còn phải thực hiện kiểm soát, thanh toán bằng tiềnmặt theo đúng quy định tại Thông tư số 164/2011/TT-BTC ngày 17/11/2011của Bộ Tài chính quy định quản lý thu, chi bằng tiền mặt qua hệ thống Kho bạc Nhà nước
Sau khi kiểm soát hồ sơ, chứng từ chi của đơn vị SNYT, KBNN thựchiện:
- Sau khi kiểm tra, kiểm soát các hồ sơ của đơn vị SNYT, nếu đủ điềukiện theo các nội dung như trên, KBNN thực hiện chi trả trực tiếp cho ngườihưởng lương và người cung cấp hàng hoá, dịch vụ; hoặc chi trả qua đơn vịSNYT trong trường hợp không thể chi trả trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng
- Trường hợp chưa đủ điều kiện thanh toán, nhưng thuộc đối tượng được tạm ứng, KBNN làm thủ tục tạm ứng cho đơn vị
- Trường hợp không đủ điều kiện chi theo quy định, KBNN tạm đình
ch , từ chối thanh toán và thông báo bằng văn bản cho đơn vị SNYT biết;đồng thời, chịu trách nhiệm về quyết định của mình
c Kiểm soát sau thanh toán
Kiểm soát sau thanh toán là khâu cuối cùng trong chu trình kiểm soátchi qua KBNN, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng côngtác kiểm soát chi NSNN qua KBNN KBNN được Bộ Tài chính giao chứcnăng thanh tra chuyên ngành KBNN theo Quyết định số 2456/QĐ-BTC ngày24/9/2014 Theo đó KBNN có chức năng thực hiện thanh tra đối với các cơquan, tổ chức, cá nhân sử dụng NSNN về việc chấp hành các quy định củapháp luật về các khoản chi NSNN của trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản
lý nhà nước của KBNN Bên cạnh đó, bộ phận thanh tra thuộc KBNN thường
Trang 33xuyên thực hiện kiểm tra nội bộ việc chấp hành công tác KSC thường xuyênNSNN tại KBNN Việc đồng thời kiểm tra, kiểm soát sau thanh toán đối vớicác đơn vị sử dụng NSNN và KBNN thực hiện kiểm soát chi góp phần tăngcường quản lý chặt chẽ quỹ NSNN.
1.2.6 Các tiêu chí đánh giá kết quả công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế qua Kho bạc Nhà nước
Những tiêu chí thường được quan tâm nhằm đánh giá kết quả công tácKSC thường xuyên NSNN đối với các đơn vị SNYT qua KBNN gồm:
- Doanh số chi thường xuyên NSNN đối với các đơn vị SNYT quaKBNN
Doanh số chi thường xuyên NSNN đối với các đơn vị SNYT quaKBNN cho thấy được quy mô của công tác KSC thường xuyên NSNN đốivới các đơn vị SNYT qua KBNN Cơ cấu của chi thường xuyên thường đượcchia ra theo cấp ngân sách, theo nguồn kinh phí thực hiện chi hoặc theo nhómmục chi Từ đó đánh giá được mức độ bố trí phù hợp các nguồn lực cho côngtác KSC thường xuyên theo từng cấp ngân sách, theo nguồn kinh phí; đồngthời xác định các nhóm mục chi cần được chú trọng để nâng cao chất lượngcông tác KSC
- Số lượng hồ sơ KBNN giải quyết trước hạn, đúng hạn, quá hạn đối với các đơn vị SNYT
KBNN đóng vai trò là người gác cổng cuối cùng trước khi thanh toáncác khoản chi NSNN Do vậy, công tác KSC thường xuyên NSNN quaKBNN đòi hỏi phải đảm bảo chính xác về mặt số liệu, chứng từ; an toàn trongchi trả, thanh toán, tránh để xảy ra tình trạng lợi dụng, chiếm đoạt tiền, tài sảncủa Nhà nước Tuy nhiên, chất lượng công tác KSC còn được thể hiện quaviệc giải quyết thanh toán cho đơn vị sử dụng NSNN kịp thời, theo đúng thời
Trang 34gian quy định Nếu t lệ hồ sơ giải quyết bị quá hạn cao, KBNN cần phân tíchnguyên nhân ảnh hưởng đến thời gian xử lý trong công tác KSC và có biệnpháp bố trí nguồn lực, quy trình nghiệp vụ phù hợp nhằm giải quyết thanhtoán cho đơn vị sử dụng NSNN kịp thời.
- Số món và số tiền KBNN chối cấp phát, thanh toán qua kiểm soát chi đối với các đơn vị SNYT
Tiêu chí này thể hiện sự đóng góp của KBNN trong việc phát hiện,ngăn chặn kịp thời các khoản chi vi phạm chế độ quản lý tài chính NSNNtrước khi xuất quỹ ngân sách để thanh toán, chi trả Đồng thời phản ảnh được
ý thức tuân thủ, chấp hành luật pháp của đơn vị SNYT trong việc sử dụngkinh phí NSNN Ngoài ra tiêu chí này còn phụ thuộc vào các yếu tố như: sựđầy đủ, rõ ràng, dễ hiểu, nhất quán của các văn bản quy định về chế độ, tiêuchuẩn, định mức chi của Nhà nước; trình độ, năng lực của cán bộ làm côngtác kiểm soát chi; chế tài xử lý vi phạm trong lĩnh vực chi NSNN
Vì vậy, khi xem xét, đánh giá kết quả của tiêu chí này cần xem xét toàndiện các yếu tố trên, không nên máy móc ch dựa vào kết quả từ chối thanhtoán để đánh giá chất lượng của công tác KSC qua KBNN
Số món bị KBNN từ chối cấp phát, thanh toán được thống kê theo cácnội dung KSC như: chi vượt dự toán; vi phạm về chế độ chứng từ; sai chế
Trang 35có những đơn vị SNYT không chú trọng đến việc thanh toán tạm ứng vớiKBNN hằng tháng theo quy định mà để đến cuối năm mới thực hiện thanhtoán Bên cạnh đó, trong quá trình KSC, KBNN đã không lưu ý nhắc nhở đơn
vị thanh toán tạm ứng, làm cho số dư tạm ứng chi NSNN hằng tháng quá cao.Đây là tình trạng chiếm dụng vốn NSNN cần phải được chú ý khắc phụctrong công tác KSC, đặc biệt là trong tình hình thu NSNN khó khăn, khôngkịp tiến độ trong những năm gần đây
- Kết quả kiểm toán chi thường xuyên NSNN của Kiểm toán Nhà nướctại các đơn vị SNYT
Kiểm toán Nhà nước ch kiểm toán các đơn vị SNYT theo kế hoạchhằng năm được duyệt hoặc thực hiện kiểm toán theo yêu cầu của Nhà nước
Vì vậy, không phải tất cả các đơn vị SNYT đều được kiểm toán thườngxuyên hằng năm Tuy vậy, kết quả kiểm toán tại một số đơn vị SNYT đượckiểm toán cũng phản ánh được khách quan hơn chất lượng công tác KSC củaKBNN Một khoản chi NSNN của đơn vị SNYT trước khi được thanh toánđến nhà cung cấp đã qua hai cửa KSC, đó là: kiểm soát của chủ tài khoản đơn
vị SNYT trước khi quyết định chuẩn chi và kiểm soát của KBNN trước khithanh toán cho nhà cung cấp Nếu đơn vị SNYT đó được kiểm toán bởi Kiểmtoán Nhà nước thì một lần nữa khoản chi đó được kiểm soát sau khi đã đượcthanh toán Nếu Kiểm toán Nhà nước phát hiện khoản chi thường xuyênNSNN đó vi phạm chế độ quản lý tài chính thì chứng tỏ tại khâu kiểm soátcủa chủ tài khoản đơn vị SNYT và của KBNN còn sơ hở Tùy thuộc vào nộidung, mức độ vi phạm của các khoản chi mà phân tích, đánh giá được chấtlượng KSC thường xuyên NSNN của KBNN Tuy nhiên, trên thực tế việc thuthập dữ liệu về kiểm toán công tác chi NSNN tại các đơn vị SNYT gặp khánhiều khó khăn; vì vậy tiêu chí này mặc dù phản ánh khách quan chất lượngcông tác KSC của KBNN song khó thực hiện được trong điều kiện thông tin
Trang 36kiểm toán chưa được công bộ rộng rãi như hiện nay.
- Mức độ hài lòng của đơn vị SNYT khi thực hiện KSC thường xuyênqua KBNN
Cùng với công cuộc cải cách hành chính trên phạm vi cả nước, côngtác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN cũng ngày càng được cải tiến hoànthiện hơn theo định hướng chung của Nhà nước là xây dựng một nền hànhchính phục vụ Vì vậy, đánh giá kết quả công tác KSC không những trên giác
độ quản lý mà còn trên giác độ phục vụ Do vậy, việc khảo sát mức độ hàilòng của các đơn vị sử dụng NSNN giao dịch tại KBNN nhằm giúp KBNN cóđược những kết luận khách quan từ phía đơn vị sử dụng NSNN trong đánhgiá công tác KSC thường xuyên Những vấn đề đơn vị sử dụng NSNN nóichung và các đơn vị SNYT nói riêng chưa hài lòng có thể là do nguyên nhânchủ quan từ KBNN hoặc do nguyên nhân khách quan từ các cơ quan quản lýcấp trên như về: thời gian, quy trình, thủ tục giải quyết công việc; thái độ làmviệc, tinh thần trách nhiệm hướng dẫn, giải thích cho đơn vị sử dụng NSNNcủa cán bộ KBNN; thành phần hồ sơ, biểu mẫu yêu cầu Từ đó KBNN kịpthời điều ch nh và có những giải pháp hoặc kiến nghị lên cơ quan cấp trênnhằm hoàn thiện chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công và nâng caohiệu quả công tác cải cách hành chính
Tùy điều kiện cụ thể, có thể thực hiện việc khảo sát ý kiến đơn vị sửdụng NSNN thông qua các hình thức như: Phiếu khảo sát trực tiếp; phỏngvấn có kết hợp quan sát thực tế; điện thoại; hộp thư điện tử (email); trangthông tin điện tử
1.2.7 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp y tế qua Kho bạc Nhà nước
Chi thường xuyên ngân sách đối với các đơn vị SNYT là hoạt động liên
Trang 37quan đến nhiều cấp, nhiều ngành và nhiều cá nhân, đơn vị, tổ chức trong xãhội Do đó công tác KSC thường xuyên NSNN đối với các đơn vị SNYT quaKBNN cũng chịu tác động của nhiều nhân tố với mức độ và phạm vi khácnhau Tuy nhiên những nhân tố chủ yếu và có tác động mạnh mẽ trực tiếp đếncông tác KSC thường xuyên NSNN đối với các đơn vị SNYT qua KBNN cóthể chia thành hai nhóm: Nhóm nhân tố bên trong và nhóm nhân tố bên ngoài.
a Nhóm nhân tố bên ngoài
Các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến công tác KSC thường xuyênNSNN qua KBNN như: hệ thống pháp luật, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chitiêu NSNN; cơ chế quản lý NSNN
* Chế độ, chính sách liên quan đến công tác KSC thường xuyên NSNN đối với các đơn vị SNYT qua KBNN
Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn là nhân tố mang tính chất quyết
định đến chất lượng công tác kiểm soát chi Bởi vì, nó là cơ sở pháp lý và lànền tảng cho việc đề ra các cơ chế, quy trình kiểm soát chi phù hợp Phải có
cơ sở pháp lý thì KBNN mới có thể xây dựng được quy trình nghiệp vụ đểthực hiện nhiệm vụ của mình, bảo đảm cho mọi khoản chi NSNN phải đượckiểm soát chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích
Định mức, chế độ chi tiêu ngân sách là mức chuẩn làm căn cứ tính
toán, xây dựng dự toán, phân bổ dự toán và là một trong những căn cứ quantrọng để kiểm soát chi tiêu đối với các đơn vị SNYT Nếu hệ thống định mứcchi tiêu Ngân sách thoát ly thực tế, không phù hợp với đặc điểm hoạt độngcủa các ngành, các địa phương thì việc tính toán, phân bổ dự toán chi khôngkhoa học, không chính xác; đơn vị SNYT thường phải tìm mọi cách để hợp lýhoá các khoản chi cho phù hợp với những định mức đã lạc hậu nên dễ viphạm kỷ luật Tài chính Định mức chi tiêu càng phù hợp sẽ góp phần nângcao hiệu quả quản lý chi NSNN nói chung và hiệu quả công tác kiểm soát chi
Trang 38qua KBNN nói riêng Việc chấp hành định mức chi tiêu của Nhà nước cũng
là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng quản lý và điều hànhNgân sách của các ngành, các cấp
* Cơ chế quản lý Ngân sách Nhà nước của các cơ quan tài chính, cơ quan chủ quản
Cơ chế quản lý chi NSNN gắn liền với sự phân định chức năng, nhiệm
vụ quản lý chi NSNN của các cấp quản lý giúp cho mỗi cấp làm việc có hiệuquả hơn, từ đó tạo nên sự hiệu quả của cả hệ thống quản lý và kiểm soát chiNSNN Khi có sự phân định chức năng sẽ giúp cho các cơ quan biết nhữngcông việc của mình và tự chịu trách nhiệm về những công việc của mình sẽlàm Như vậy, mỗi cơ quan sẽ ý thức tự giác trong công việc và hoàn thànhnhững việc được giao Phân cấp quản lý tránh được sự chồng chéo khi thựchiện nhiệm vụ
Cơ chế phân cấp quản lý và phân định trách nhiệm của các cơ quantrong việc kiểm soát chi NSNN có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượngcông tác kiểm soát chi Nếu có nhiều cơ quan tham gia trong quá trình quản lý
và kiểm soát chi nhưng việc phân định phạm vi, quyền hạn và trách nhiệmpháp lý của các cơ quan đơn vị không rõ ràng, đặc biệt là việc quy định tráchnhiệm của người chuẩn chi đến đâu, trách nhiệm của người kiểm soát chi đếnđâu trước mỗi khoản chi tiêu của đơn vị thì có thể sẽ dẫn đến tình trạng giànhquyền và đùn đẩy trách nhiệm, theo đó là tệ quan liêu, cửa quyền, lãng phí…trong quản lý
* Cơ chế quản lý tài chính và ý thức chấp hành của các đơn vị SNYT
Đối tượng của kiểm soát chi thường xuyên NSNN đối với các đơn vịSNYT qua KBNN là các khoản chi tiêu của các đơn vị SNYT, về cơ bản thểhiện là các khoản chi của NSNN hằng năm được Hội đồng nhân dân các cấpthông qua Mỗi loại hình tổ chức có cơ chế quản lý tài chính riêng thì sẽ có
Trang 39phương thức, thủ tục kiểm soát chi riêng Do đó, cơ chế về Tài chính đối vớiđơn vị SNYT có tác động không nhỏ đến hoạt động kiểm soát chi NSNN củaKBNN Để chủ động sử dụng kinh phí được giao đúng mục đích, tiết kiệm và
có hiệu quả, các đơn vị SNYT có trách nhiệm xây dựng quy chế chi tiêu nội
bộ làm căn cứ để cán bộ, viên chức thực hiện và KBNN có căn cứ thực hiệnkiểm soát chi
b Nhóm nhân tố bên trong
Bao gồm năng lực lãnh đạo, quản lý; năng lực chuyên môn của đội ngũcán bộ; tổ chức bộ máy; quy trình nghiệp vụ; công nghệ quản lý của KBNN
* Năng lực lãnh đạo, quản lý:
Yếu tố con người, cách thức tổ chức, xây dựng chính sách luôn có tầmquan trọng đặc biệt Tất cả quy tụ lại ở năng lực quản lý của người lãnh đạo
và biểu hiện chất lượng quản lý, hiệu quả trong hoạt động thực tiễn, thể hiệnqua các nội dung: Năng lực đề ra các chiến lược, sách lược trong hoạt động,đưa ra các kế hoạch triển khai công việc một cách hợp lý, rõ ràng; Tạo nênmột cơ cấu tổ chức hợp lý, có hiệu quả, có sự phân định rõ ràng trách nhiệm,quyền hạn giữa các thành viên, cũng như giữa các khâu, các bộ phận củaguồng máy Năng lực quản lý của người lãnh đạo có tầm quan trọng đặc biệtđối với hoạt động của KBNN nói chung và công tác KSC thường xuyênNSNN qua KBNN nói riêng Nếu năng lực quản lý yếu, bộ máy tổ chứckhông hợp lý, sách lược không phù hợp với thực tế thì việc KSC thườngxuyên NSNN kém hiệu quả, dễ gây thất thoát, lãng phí và ngược lại
* Năng lực, trình độ và đạo đức của đội ngũ cán bộ:
Con người là nhân tố cơ bản nhất, năng động nhất của mọi tổ chức,chất lượng và trình độ của con người là yếu tố then chốt quyết định sự hoànthành nhiệm vụ của một tổ chức Vì vậy, chất lượng công tác kiểm soát chiphụ thuộc rất lớn vào năng lực, trình độ và đạo đức của đội ngũ cán bộ làm
Trang 40công tác kiểm soát chi NSNN Đội ngũ cán bộ làm công tác KSC NSNNđược đòi hỏi phải có trình độ chuyên sâu về quản lý Tài chính, am hiểu vềcác lĩnh vực chuyên ngành mình quản lý và phải có phẩm chất đạo đức tốt…
* Tổ chức bộ máy:
Đây là vấn đề hết sức quan trọng Trong tổ chức bộ máy phải được sắpxếp, bố trí hợp lý, phù hợp với năng lực và trình độ chuyên môn của từng cánhân, phù hợp với yêu cầu của công việc, đồng thời quy định rõ trách nhiệm,quyền hạn của từng khâu, từng bộ phận, từng vị trí công tác Bộ máy tổ chứcgọn nhẹ, hợp lý vận hành đồng bộ sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soátthanh toán, hạn chế tình trạng sai phạm, rủi ro trong quản lý
* Quy trình nghiệp vụ:
Quy trình nghiệp vụ thực hiện công tác KSC thường xuyên NSNN đốivới các đơn vị SNYT qua KBNN là căn cứ quan trọng trong công tác kiểmsoát chi và phải được tuân thủ tuyệt đối trong quá trình tác nghiệp để đảm bảoquản lý và kiểm soát chặt chẽ các khoản chi thường xuyên NSNN Quy trìnhphải phù hợp với pháp luật, chế độ hiện hành của Nhà nước, đảm bảo quản lýchặt chẽ, hiệu quả Quy trình phải mang tính ổn định, tránh thay đổi nhiều đểthuận lợi cho việc triển khai thực hiện Quy trình nghiệp vụ được xây dựng rõràng, dễ hiểu, đồng bộ theo hướng cải cách thủ tục hành chính, quy định rõtrách nhiệm, mối quan hệ giữa các cá nhân, các bộ phận và thời gian xử lý,đảm bảo vừa kiểm soát chặt chẽ, vừa thuận lợi cho đơn vị SNYT
* Cơ sở vật chất, công nghệ kỹ thuật:
Trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật, mức độ ứng dụng công nghệ hiện đạicũng ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả công tác KSC thường xuyên NSNNđối với các đơn vị SNYT qua KBNN Việc ứng dụng công nghệ tin học trongcông tác KSC thường xuyên NSNN giúp tiết kiệm được thời gian xử lý côngviệc, rút ngắn thời gian thanh toán, cập nhật, tổng hợp số liệu nhanh chóng,