1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hành vi khách hàng sử dụng dịch vụ bảo hiểm y tế tự nguyện trên địa bàn tỉnh kon tum

100 107 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo luật BHYT hiện nay quy định có 25 nhóm đối tượng và được xếp thành 5 nhóm theo trách nhiệm đóng BHYT thì trong 17,5% dân số trên địa bàn tỉnh chưa tham gia BHYT tập trung chủ yếu và

Trang 1

–––––––––––––

HUỲNH THANH LIÊM

NGHIÊN CỨU HÀNH VI KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG

DỊCH VỤ BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng – Năm 2014

Trang 2

–––––––––––––

HUỲNH THANH LIÊM

NGHIÊN CỨU HÀNH VI KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG

DỊCH VỤ BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 60.34.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học : TS LÊ DÂN

Đà Nẵng – Năm 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu hành vi khách hàng

sử dụng dịch vụ BHYT tự nguyện trên địa bàn tỉnh Kon Tum” là kết quả

của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập và nghiêm túc Các số liệu trong luận văn đƣợc thu thập từ thực tế có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy, đƣợc xử lý trung thực và khách quan

Tác giả

Huỳnh Thanh Liêm

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 3

4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 3

5 Bố cục của luận văn 3

6 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ BHYT VÀ MÔ HÌNH HÀNH VI MUA BHYT 9

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI NGƯỜI TIÊU DÙNG 9

1.1.1 Khái niệm hành vi người tiêu dùng 9

1.1.2 Các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng 10

1.1.3 Các nhân tố bên trong ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng 12

1.1.4 Quá trình ra quyết định của người mua 14

1.2 KHÁI NIỆM, TÍNH CHẤT, SỰ CẦN THIẾT, VAI TRÕ CỦA DỊCH VỤ BHYT 17

1.2.1 Khái niệm dịch vụ 17

1.2.2 Dịch vụ xã hội 18

1.2.3 Khái niệm BHYT 20

1.2.4 Tính chất BHYT 21

1.2.5 Sự cần thiết của BHYT 21

1.2.6 Vai trò của BHYT 21

1.3 CHÍNH SÁCH BHYT TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM 23

1.3.1 Khái niệm chính sách BHYT 23

1.3.2 Đối tượng tham gia BHYT tự nguyện 24

Trang 6

1.3.3 Quyền lợi tham gia BHYT tự nguyện 24

1.3.4 Quỹ BHYT tự nguyện 26

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 29

2.1 THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI BHYT TỰ NGUYỆN TẠI TỈNH KON TUM 29

2.1.1 cơ cấu bộ máy BHXH tỉnh Kon Tum 29

2.1.2 Sự ra đời của BHYT tự nguyện ở tỉnh Kon Tum 30

2.1.3 Tình hình triển khai BHYT tự nguyện trên địa bàn tỉnh Kon Tum 30 2.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 32

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 36

3.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 37

3.3 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 37

3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CHỌN MẪU: 37

3.4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 37

3.4.2 Kỹ thuật chọn mẫu 38

3.4.3 Phương pháp thiết kế bảng câu hỏi 38

3.4.4 Phương pháp đánh giá tiêu chí, phân tích nghiên cứu 41

Tóm tắt chương 3 47

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48

4.1 TỔNG QUAN MẪU NGHIÊN CỨU 48

4.2 ĐÁNH GIÁ THANG ĐO BẰNG HỆ SỐ TIN CẬY CRONBACH’S ALPHA 53

4.2.1 Đánh giá thang đo của nhóm 1 54

4.2.2 Đánh giá thang đo của nhóm 2 55

4.2.3 Đánh giá thang đo của nhóm 3 56

4.2.4 Đánh giá thang đo của nhóm 4 57

Trang 7

4.2.5 Đánh giá thang đo của nhóm 5 (Ý định sử dụng dịch vụ BHYT tự

nguyện) 58

4.3 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ KHÁM PHÁ EFA 59

4.3.1 Kết quả EFA nhân tố Thái độ 59

4.3.2 Kết quả EFA nhân tố Chuẩn chủ quan 63

4.3.3 Kết quả EFA nhân tố Ý định hành vi 68

4.4 PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHẲNG ĐỊNH (CFA-CONFIRMATORY FACTOR ANALYSIS) 70

4.4.1 Kết quả CFA nhân tố Thái độ 70

4.4.2 Kết quả CFA các nhân tố Chuẩn chủ quan 71

4.4.3 Kết quả CFA mô hình tới hạn (saturated model) 72

4.5 MÔ HÌNH SEM (STRUCTURAL QUATION MODELING) 73

4.5.1 Mô hình chưa chuẩn hóa 73

4.5.2 Mô hình chuẩn hóa 75

4.5.3 Kết quả phân tích Bootstrap 76

4.6 KIỂM ĐỊNH CÁC GIẢ THUYẾT CỦA MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 77

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78

5.1 KẾT QUẢ CHÍNH VÀ ĐÓNG GÓP CỦA NGHIÊN CỨU 78

5.2 Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU 84

5.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 85

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)

PHỤ LỤC

Trang 8

4.7 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha sau khi loại biến

NT6

55

Trang 9

4.21 Kết quả kiểm định các khái niệm nghiên cứu (chƣa chuẩn

hóa)

75

5.1 Đánh giá chung về Ý định hành vi dịch vụ BHYT tự

nguyện

80

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hiệu

5.1 Mô hình đánh giá Ý định sử dụng dịch vụ BHYT tự

Trang 11

an sinh xã hội Song nếu so với các quốc gia trên thế giới, chính sách BHYT Việt Nam vẫn là một chính sách non trẻ, còn gặp nhiều khó khăn trong công tác mở rộng đối tượng và cân đối quỹ, xuất phát bởi nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan

Kon Tum là một tỉnh nằm phía cực bắc Tây nguyên với dân số đến cuối năm 2012 khoản 473.680 người với mức thu nhập trung bình thấp nên công tác triển khai BHYT còn gặp nhiều khó khăn Hiện nay tỉnh Kon Tum có gần 390.790 người tham gia BHYT, chiếm khoảng 82,5% dân số toàn tỉnh, còn 17,5% số dân trong tỉnh chưa tham gia BHYT Theo luật BHYT hiện nay quy định có 25 nhóm đối tượng và được xếp thành 5 nhóm theo trách nhiệm đóng BHYT thì trong 17,5% dân số trên địa bàn tỉnh chưa tham gia BHYT tập trung chủ yếu vào nhóm đối tượng tự đóng toàn bộ mức đóng BHYT (tự nguyện tham gia BHYT) bao gồm nông dân, thân nhân người lao động, lao động trong các hợp tác xã với khoản 55.000 người

Với bản chất của BHYT là vì cộng đồng, trong khi đó tình hình thực tế triển khai BHYT tại tỉnh Kon Tum lại gặp khó khăn ở nhóm đối tượng tham gia BHYT tự nguyện Đặc biệt, nhóm đối tượng này thường chưa có, không

có hoặc có thu nhập thấp không ổn định Người già và trẻ em lại có nguy cơ

Trang 12

bệnh tật cao, chi phí khám chữa bệnh lại vượt qua khả năng tài chính của họ Thậm chí, trong số những người trong độ tuổi lao động trong nhóm này thì không phải ai cũng có điều kiện thuận lợi Một số bộ phận thất nghiệp, mất việc làm, tàn tật; một số khác có việc làm nhưng thu nhập rất thấp Mức thu nhập đôi khi chỉ vượt qua mức tối thiểu một chút và do vậy hầu như không có tích lũy phòng ngừa trường hợp rủi ro xảy ra Chính vì vậy triển khai tốt BHYT tự nguyện trên địa bàn tỉnh Kon Tum là rất và cần thiết nhằm từng bước góp phần thực hiện mục tiêu tiến đến BHYT toàn dân, góp phần đưa BHYT đến mọi người dân Là một trong chín chế độ của BHXH, BHYT ngày càng cho thấy tính nhân đạo và nhân văn cao cả trong việc thực hiện BHXH

vì mọi người Tuy nhiên việc hiểu biết chính sách, pháp luật về BHYT trong nhân dân cũng như các tổ chức, đơn vị còn nhiều hạn chế Rất nhiều người vẫn cho rằng BHYT là việc của Nhà nước, nhân dân thích thì tham gia, không thích thì thôi Cùng với đó, những tồn tại (thủ tục hành chính phiền hà, dịch

vụ khám chữa bệnh không thuận lợi ) trong hoạt động khám chữa bệnh BHYT nhiều năm qua cũng làm nảy sinh tư tưởng ngại tham gia BHYT tự nguyện Trước thực tế đó, để có sự hiểu biết sâu và đưa ra những giải pháp để phát triển đối tượng tham gia BHYT tự nguyện trên địa bàn tỉnh Kon Tum,

em chọn đề tài “Nghiên cứu hành vi khách hàng sử dụng dịch vụ BHYT tự

nguyện trên địa bàn tỉnh Kon Tum”

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

- Đề tài nghiên cứu với mục đích làm rõ sự cần thiết, bản chất của BHYT

so với các loại bảo hiểm khác, vai trò của dịch vụ BHYT

- Tìm hiểu kinh nghiệm thực hiện BHYT tự nguyện của các quốc gia trên thế giới cũng như các địa bàn khác trên toàn quốc

- Dựa vào các phân tích hành vi để nhận diện các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi khách hàng và đánh giá thực trạng thực hiện BHYT tự nguyện tại tỉnh

Trang 13

Kon Tum để từ đó nêu ra các thành tựu, tồn tại và hạn chế trong thời gian thực qua và cuối cùng là rút ra những giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách phát triển đối tượng tham gia BHYT tự nguyện trên địa bàn tỉnh Kon Tum

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

a Đối tượng nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu các đối tượng nằm trong nhóm đối tượng tham gia BHYT tự nguyện, bao gồm các đối tượng hiện đang tham gia BHYT tự nguyện và các đối tượng chưa tham gia BHYT tự nguyện

- Các cơ quan hữu quan bao gồm : Cơ quan Bảo hiểm xã hội, Các cơ cở

y tế có ký hợp đồng khám chữa bệnh y tế

b Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Đề tài thực hiện nghiên cứu hành vi các đối tượng của dịch vụ BHYT tự nguyện

- Về không gian: Đề tài nghiên cứu tại tỉnh Kon Tum

- Về thời gian: Các cơ cở để nghiên cứu dựa trên tình hình thực tế về triển khai BHYT tự nguyện từ năm 2012 trở vể trước và các giải pháp được

đề xuất trong luận văn có ý nghĩa trong những năm tới

4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên đề tài được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu kết hợp cả định lượng và định tính

- Nghiên cứu sơ bộ thông qua việc nghiên cứu tài liệu về chính sách BHYT, và sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và hệ thống hoá lý luận

- Nghiên cứu chính sử dụng phương pháp kinh tế học bằng cách xây dựng hệ thống thang do và biến quan sát cho các nhân tố trong phân tích và tổng hợp dữ liệu, chọn mẫu khảo sát, thống kê làm cơ sở đưa ra kết luận

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,

Trang 14

Luận văn gồm 5 Chương

Chương 1: Tổng quan lý luận về BHYT và mô hình hành vi mua

BHYT

Chương 2: Thực trạng BHYT tự nguyện và mô hình nghiên cứu

Chương 3: Thiết kế nghiên cứu

Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu

Chương 5 : Kết luận và kiến nghị

6 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu

BHYT là một vấn đề xã hội lớn, vì vậy đã được nhiều người quan tâm

nghiên cứu Đến nay về lĩnh vực chính sách BHYT đã có nhiều công trình

nghiên cứu ở phạm vị lớn trên quy mô cả nước, với nhiều gốc độ khác nhau

Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu tác giả đã tham khảo các nghiên cứu đi

trước trước về hành vi người tiêu dùng đối với sản phẩm, dịch vụ và các

nghiên cứu về lĩnh vực BHYT

a) Nhóm các công trình nghiên cứu về hành vi người tiêu dùng

- Thuyết hành động hợp lý (TRA )

Được phát triển bởi Martin Fishbein và Icek Ajzen (1975-1980) TRA

gần như là xuất phát điểm của các lý thuyết về thái độ, góp phần trong việc

nghiên cứu về thái độ và hành vi, nói lên hành vi sử dụng của người tiêu dùng

là dựa trên lý lẽ TRA cho thấy dự định hành vi là yếu tố dự đoán tốt nhất về

hành động tiêu dùng Ngoài ra để đi sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến dự

định hành vi thì xem xét hai yếu tố là thái độ và chuẩn chủ quan của khách

hàng Trong đó thái độ đối với một hành động là bạn cảm thấy như thế nào

khi làm việc gì đó Chuẩn chủ quan là người khác cảm thấy như thế nào khi

bạn làm việc đó

Trang 15

Thuyết hành động hợp lý TRA ( Nguồn: Fishbein & Ajzen, 1975)

- Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB)

Thuyết hành vi có kế hoạch ( Nguồn: Ajzen, 1985)

Theo TPB dự định hành vi không chỉ bị tác động bởi hai nhân tố là thái

độ, chuẩn chủ quan mà còn bị tác động bởi nhân tố thư ba – sự kiểm soát hành vi cảm nhận, nó đại diện cho các nguồn lực cần thiết của một người để thực hiện một công việc bất kỳ, đề cập đến nguồn tài nguyên sẵn có, những

kỹ năng, cơ hội cũng như nhận thức riêng của từng người hướng tới việc đạt kết quả

Mô hình TPB được coi là tối yêu hơn mô hình TRA trong việc dự đoàn

và giả thích hành vi của người tiêu dùng trong cùng một nội dung và hoàn cảnh nghiên cứu

Dự định hành vi

Hành động thực sự

Trang 16

b) Nhóm các công trình nghiên cứu về BHYT

- “Các giải pháp tài chính y tế cho người nghèo”, Báo cáo nghiên cứu

của nhóm nghiên cứu: Dương Huy Liệu; Nguyễn Hoàng Long; Phan Thanh Thuỷ; Đặng Bội Hương và cộng sự, năm 2005 Nội dung báo cáo đã đánh giá thực trạng nghèo đói và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người nghèo tại Việt Nam Đánh giá các kết quả và hạn chế của các giải pháp tài chính y tế cho người nghèo đã được thực hiện tại Việt Nam Đề xuất các giải pháp có tính khả thi về cơ chế cung cấp tài chính chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo

- Luận văn thạc sĩ kinh tế “Phát triển và hoàn thiện hệ thống BHYT tại

Việt Nam” mã số 60.31.12 của tác giả Nguyễn Thị Tứ năm 2007 Kết quả để

tài tác giả đã đưa ra các cơ sở khoa học từ đó đã khẳng định được sự ưu việt, tính hợp lý, song cũng bộc lộ những vấn đề cần được hoàn thiện cả về chính sách cũng như tổ chức thực hiện Để phấn đấu đạt được mục tiêu tiến tới BHYT toàn dân thì phải kết hợp nhiều yếu tố về chính sách, mối quan hệ giữa các cơ quan, ban ngành liên quan, nhân sự thực hiện công tác BHYT

- Luận án tiến sỹ y học “Nghiên cứu thực trạng và góp phần hoàn

thiện mô hình khám chữa bệnh BHYT tại trạm y tế xã Phù Linh và Đức Hoà huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội”, của Lương Ngọc Khuê, lưu tại

Thư viện Quốc gia, năm 2005 Trong công trình này tác giả đã mô tả kiến thức, thái độ và thực hành của người dân, các cấp chính quyền, đánh giá những kết quả, tồn tại, các yếu tố ảnh hưởng và những thách thức đối với các

cơ sở y tế thực hiện nhiệm vụ khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT Đánh giá bước đầu hiệu quả của một số biện pháp can thiệp khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT tại hai xã Phù Linh và Đức Hoà huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội

- Luận văn thạc sĩ y học “Thực trạng tham gia BHYT của sinh viên một

số trường đại học, cao đẳng tại tỉnh Thái Nguyên 2006-2008” của tác giả

Trang 17

Mai thị Thu Nga năm 2009 Kết quả đề tài tác giả đã đưa ra các cơ sở khoa học đánh giá thực trạng tham gia BHYT, hiểu biết, thái độ và nguyện vọng của sinh viên tại các trường học trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên về Bảo hiểm y

tế, từ đó đưa ra các giải pháp tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, tăng cường củng cố hệ thống tổ chức y tế tại cơ sở nhằm tiếp tục mở rộng, đưa khám chữa bệnh y tế về các trường đại học, cao đẳng tại tỉnh Thái Nguyên

- Luận văn thạc sĩ kinh tế “Bảo hiểm y tế cho người nghèo ở Hà Nội”

mã số 60.31.01 của tác giả Nguyễn Thanh Bình năm 2010 Trong đề tài nghiên cứu này tác giả đã nêu rõ các cơ sở lý luận của chính sách BHYT so với thực tiễn từ đó phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện bảo hiểm y tế cho người nghèo tại Hà Nội, nêu ra các thành tựu và hạn chế trong công tác này Tìm ra nguyên nhân nguyên nhân về kinh tế - xã hội dẫn đến tình trạng đó, đưa ra một số giải pháp để thực hiện tốt hơn trong thời gian sau

- “Thực trạng tham gia Bảo hiểm y tế tự nguyện ở thành phố Hà

Tĩnh” của nhóm tác giả Chu Thị Kim Loan, Nguyễn Hồng Ban được đăng

trên Tạp trí khoa học và phát triển năm 2013 tập số 11 Trong nghiên cứu này nhóm tác giả đã kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ người tham gia BHYT TN ở thành phố Hà Tĩnh có xu hướng tăng lên, những chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn trong tổng số người tham gia BHYT; người tham gia BHYT TN tiếp cận dịch

vụ y tế tốt hơn người chưa tham gia BHYT Tuy nhiên vẫn còn những bất cập trong hiện trạng tham gia BHYT TN của người dân như: Có hiện tượng “lựa chọn ngược” trong tham gia BHYT TN, tức là những gia đình có người đau lâu ốm dài mới thường nhiệt tình tham gia BHYT TN; Trong khám chữa bệnh BHYT TN vẫn còn những phiền hà, đặc biệt là hiện tượng “quá tải” phải chờ đợi lâu, nhân viên y tế chưa nhiệt tình, thủ tục hành chính chưa cải tiến; Người tham gia BHYT TN khi đi KCB vẫn còn phải chi thêm tiền cho một số

Trang 18

nội dung khác như: mua thuốc ngoài danh mục thuốc BHYT, bồi dưỡng nhân viên y tế

Ngoài ra còn nhiều nghiên cứu khác đề cập đến chính sách BHYT Nhìn chung các nghiên cứu trên đã nêu lên rất nhiều khía cạnh khác nhau của BHYT Đó là nguồn tài liệu quý giá để tác giả kế thừa trong quá trình thực hiện luận văn Tuy nhiên về khía cạnh nghiên cứu hành vi của nhóm đối tượng tham gia BHYT tự nguyện, đặc biệt trên địa bàn tỉnh Kon Tum với những đặc thù riêng về vị trí đại lý, môi trường tự nhiên, văn hóa, cơ sở hạ tầng về giao thông, về trang thiết bị y tế thì chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về hành vi người sử dụng dịch vụ BHYT tự nguyện Vì vậy việc tìm hiểu, nghiên cứu hành vi nhóm đối tượng tham gia BHYT tự nguyện trên địa bàn tỉnh Kon Tum dưới giác độ nghiên cứu của một luận văn thạc sỹ là hết sức cần thiết

Trang 19

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ BHYT VÀ MÔ HÌNH

HÀNH VI MUA BHYT

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI NGƯỜI TIÊU DÙNG

1.1.1 Khái niệm hành vi người tiêu dùng

Hành vi mua của người tiêu dùng là toàn bộ hành động mà người tiêu dùng bộc lộ ra trong quá trình trao đổi sản phẩm, bao gồm: điều tra, mua sắm,

sử dụng, đánh giá và chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ Cũng có thể coi hành vi người tiêu dùng là cách thức mà người tiêu dùng sẽ thực hiện để đưa ra các quyết định sử dụng tài sản của mình (tiền bạc, thời gian, công sức…) liên quan đến việc mua sắm và sử dụng hàng hóa, dịch

vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân

Hình 1.1 Mô hình về hành vi mua của người tiêu dùng

Trang 20

1.1.2 Các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng

a Văn hóa

Văn hóa là hệ thống bao gồm kiến thức, tín ngưõng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục tập quán và những năng lực cũng như thói quen khác được hình thành bởi con người trong một xã hội

Văn hóa là yếu tố cơ bản, đầu tiên dẫn dắt hành vi của con người nói chung và hành vi tiêu dùng nói riêng, nó bao gồm hầu hết các khía cạnh ảnh hưởng tới quá trình suy nghĩ và hành vi của một con người Nên việc xây dựng dịch vụ cũng cần phù hợp với giá trị văn hóa

b Nhóm văn hóa

Nhánh văn hóa là một phân đoạn của một nền văn hóa lớn mà trong đó chứa những đặc điểm riêng biệt khác với những nhóm văn hóa khác Các giá trị văn hóa đó được chia sẻ bởi các thành viên trong nhóm và được xây dựng dựa trên lịch sử xã hội cũng như tình hình hiện tại của nhóm Các thành viên trong nhóm văn hóa cũng là một phần của nền văn hóa lớn, tuy nhiên phần lớn họ chỉ chia sẻ suy nghĩ, thái độ, niềm tin với nhóm văn hóa của mình

c Địa vị xã hội

Các tầng lớp xã hội có một số đặc điểm: Thứ nhất là những người thuộc mỗi tầng lớp xã hội đều có khuynh hướng hành động giống nhau hơn so với những người thuộc hai tầng lớp xã hội khác Thứ hai là một người được xem

là có địa vị thấp hay cao tuỳ theo tầng lớp xã hội của họ Thứ ba là tầng lớp

xã hội của một người được xác định theo một số yếu tố, như nghề nghiệp, thu nhập, của cải, học vấn, và định hướng giá trị chứ không phải chỉ theo một yếu

tố Thứ tư là, các cá nhân có thể di chuyển từ tầng lớp xã hội này sang tầng lớp xã hội khác, lên hoặc xuống, trong đời mình Nên cần phải tìm hiểu rõ về địa vị xã hội của khách hàng để xây dựng hình tượng sản phẩm của mình sao cho thể hiện phù hợp với địa vị đó

Trang 21

d Gia đình

Gia đình là một thành phần tiêu dùng quan trọng nhất trong xã hội Phần lớn các sản phẩm được tiêu dùng chung bởi các hộ gia đình hơn là bởi một cá nhân độc lập Các thành viên trong gia đình là nhóm tham khảo quan trọng có ảnh hưởng lớn nhất tới quyết định tiêu dùng của cá nhân, hơn nữa việc tiêu dùng của các cá nhân trong gia đình thường ít khi độc lập với các cá nhân khác trong gia đình đó

e Nhân khẩu học

Các yếu tố kích thước, phân bổ dân cư hiển nhiên ảnh hưởng tới văn hóa của mỗi cá nhân và do đó nó ảnh hưởng tới hành vi tiêu dùng của họ Yếu tố cấu trúc cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hành vi tiêu dùng cá nhân bởi nó cũng tác động đến quyết định mua sắm một cách gián tiếp

Thu nhập, tình trạng kinh tế là điều kiện tiên quyết để người tiêu dùng có thể mua được hàng hóa, dịch vụ Khi ngân sách tiêu dùng càng cao thì tỷ lệ phân bố tiêu dùng cho các mặt hàng cao cấp càng tăng và ngược lại Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của mình mà người tiêu dùng có thể đưa ra các lựa chọn khác nhau

Trình độ học vấn cũng ảnh hưởng tới quyết định tiêu dùng bởi một phần nào đó nó tác động tới nghề nghiệp và thu nhập Những người có trình độ học vấn cao thường có thu nhập, nghề nghiệp ổn định, xu hướng tiêu dùng của họ tiên tiến và hiện đại, chú ý nhiều đến hình thức bên ngoài và chất lượng bên trong

Trang 22

người trong gia đình, bạn bè, những người đã từng sử dụng sản phẩm mà họ đang định mua Những hàng hóa càng có giá trị, càng có nhiều sự lựa chọn khác nhau thì người tiêu dùng càng chịu nhiều tác động của các nhóm tham khảo, hàng hóa giá trị thấp hơn thì mức độ ảnh hưởng của nhóm tham khảo cũng thấp hơn

g Các hoạt động marketing

Hoạt động Marketing tác động không nhỏ tới hành vi của người tiêu dùng Đứng trước một quyết định mua, người tiêu dùng sẽ cần tìm kiếm nhiều thông tin để lựa chọn các sản phẩm với nhau, đặc biệt là đối với những sản phẩm có giá trị và có sự khác biệt Khi đó, việc cung cấp thông tin, quảng bá hình ảnh về sản phẩm, tổ chức các hoạt động xây dựng niềm tin cho khác hàng là hết sức cần thiết

1.1.3 Các nhân tố bên trong ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng

a Nhận thức

Nhận thức là một quá trình thông qua đó con người chọn lọc, tổ chức và giải thích các thông tin nhận được để tạo ra một bức tranh về thế giới xung quanh, qua năm giác quan của mình: thị giác, thính giác, khứu giác, xúc giác

và vị giác Sau đó mỗi người chúng ta lại suy xét, tổ chức và giải thích thông tin về các cảm giác đó theo một cách riêng như: sự quan tâm có chọn lọc, sự bóp méo có chọn lựa và sự ghi nhớ có chọn lọc

b Học hỏi, tiếp thu

Quá trình sử dụng sản phẩm, đánh giá, tiếp nhận nhiều sản phẩm khác nhau làm cho người dùng có những kinh nghiệm về sản phẩm Người tiêu dùng tiếp thu một cách có ý thức và vô thức từ các nguồn thông tin khác nhau, họ tiếp thu từ các kinh nghiệm trước, từ bạn bè, phương tiện truyền thông, gia đình hoặc đồng nghiệp Quá trình tiếp thu này còn làm cho người tiêu dùng có những cảm nhận khách biệt trong quá trình tiếp nhận những tác

Trang 23

nhân kích thích và từ đó đưa ra những phản ứng tiêu dùng khác biệt Người tiêu dùng có thể tích lũy thêm những quan điểm tiêu cực hoặc tích cực trong quá trình này

c Sự ghi nhớ

Trải qua quá trình nhận thức, học hỏi, tiếp thu, con người sẽ dần ghi nhớ các sự vật, sự việc Theo yếu tố thời gian, sự ghi nhớ được chia thành hai loại:

sự ghi nhớ ngắn hạn và sự ghi nhớ dài hạn

Thông thường khi tiếp nhận một thông tin, bộ nhớ ngắn hạn được con người sử dụng để lưu trữ các thông tin đó một cách tạm thời trước khi đưa ra

xử lý, phân tích Thông tin đó có thể được chuyển sang một hệ thống lưu trữ khác (giấy tờ, máy tính…), hoặc được đưa vào bộ nhớ dài hạn sau khi đã xử

d Động cơ

Tại bất kỳ một thời điểm nhất định nào con người cũng có nhiều nhu cầu Một số nhu cầu có nguồn gốc sinh học Chúng nảy sinh từ những trạng thái căng thẳng về sinh lý như đói, khát, khó chịu Một số nhu cầu khác có nguồn gốc tâm lý Chúng nảy sinh từ những trạng thái căng thẳng về tâm lý, như nhu cầu được thừa nhận, được kính trọng hay được gần gũi về tinh thần Hầu hết những nhu cầu có nguồn gốc tâm lý đều không đủ mạnh để thúc đẩy con người hành động theo chúng ngay lập tức Một nhu cầu sẽ trở thành động

cơ khi nó tăng lên đến một mức độ đủ mạnh Việc thỏa mãn nhu cầu sẽ làm giảm bớt cảm giác căng thẳng

e Cá tính

Mỗi người đều có một cá tính khác biệt có ảnh hưởng đến hành vi của người đó Theo Kotler: “Cá tính là những đặc tính tâm lý nổi bật của mỗi con người tạo ra thế ứng xử (những phản ứng đáp lại) có tính chất ổn định và nhất quán với môi trường xung quanh”

Trang 24

Trong cuộc sống hàng ngày, tính cách chúng ta được người khác mô tả lại cho nhau, nhưng bản thân chúng ta lại là những thực thể có tính cách và cá tính rất khác nhau Mỗi người đều có một cá tính riêng của mình, và cá tính ảnh hưởng lớn đến hành vi tiêu dùng của khách hàng Hiểu rõ cá tính của khách hàng có thể xây dựng các chiến lược hiệu quả tạo lòng tin trong người tiêu dùng

f Cảm xúc

Cảm xúc khi sử dụng dịch vụ cũng là tác nhân tác động đến hành vi tham gia BHYT tự nguyện Khi tham gia cảm xúc thoải mái sẽ khiến người mua có tâm lý muốn mua và ngược lại Nắm bắt được các yếu tố này và biết cách vận dụng nó một cách thích hợp, phần nào có thể thúc đẩy được người tham gia mua dịch vụ BHYT tự nguyện

g Thái độ

Thái độ cũng giống như cảm xúc, có cả tích cực và tiêu cực Sau quá trình nhận thức, tìm kiếm thông tin về sản phẩm, người tiêu dùng sẽ hình thành nên những thái độ tốt, xấu, thích hay không thích sản phẩm đó Những sản phẩm gây được ấn tượng tốt đối với người tiêu dùng sẽ được chú ý đến trước tiên trong khi người tiêu dùng ra quyết định mua và ngược lại

1.1.4 Quá trình ra quyết định của người mua

Người tiêu dùng có những cách thức mua khác nhau đối với bất kỳ một sản phẩm nhất định nào Thông thường khi mua sắm, người tiêu dùng thường trải qua năm giai đoạn: Nhận biết vấn đề, tìm kiếm thông tin, đánh giá các lựa chọn, quyết định mua và hành động mua, phản ứng sau khi mua

Hình 1.2: Quá trình ra quyết định của người tiêu dùng

Trang 25

b Tìm kiếm thông tin

Người tiêu dùng có nhu cầu sẽ bắt đầu tìm kiếm thêm thông tin Nhu cầu càng cấp bách, thông tin ban đầu càng ít, sản phẩm cần mua có giá trị lớn thì càng thôi thúc con người tìm kiếm thông tin

Mối quan tâm then chốt ở đây là những nguồn thông tin chủ yếu mà người tiêu dùng tìm đến và ảnh hưởng tương đối đến quyết định mua tiếp sau Các nguồn thông tin của người tiêu dùng được chia thành ba nhóm

+ Nguồn thông tin cá nhân: Gia đình, bạn bè, hàng xóm, người quen + Nguồn thông tin công cộng: Các phương tiện thông tin đại chúng, các

tổ chức nghiên cứu người tiêu dùng

+ Nguồn thông tin thực nghiệm: Sờ mó, nghiên cứu và sử dụng sản phẩm

c Đánh giá lựa chọn

Từ các sản phẩm khác nhau đã biết qua giai đoạn tìm kiếm thông tin, khách hàng bắt đầu đánh giá để chọn ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu của mình Nhưng điều quan trọng ở đây là họ dùng tiêu chuẩn gì để lựa chọn? Chất lượng hay giá cả quan trọng hơn? Để hiểu rõ việc đánh giá của khách hàng như thế nào, chúng ta cần quan tâm đến các thuộc tính của sản phẩm mà khách hàng quan tâm, mức độ quan trọng của các thuộc tính đối với khách

Trang 26

hàng, niềm tin của khách hàng đối với sản phẩm, độ hữu dụng của các thuộc tính

d Quyết định mua và hành động mua

Ở giai đoạn đánh giá, người tiêu dùng đã hình thành sở thích đối với những nhãn hiệu trong tập lựa chọn Người tiêu dùng cũng có thể hình thành

ý định mua nhãn hiệu ưa thích nhất Tuy nhiên còn hai yếu tố nữa có thể xen vào giữa ý định mua và quyết định mua hàng

Hình 1.3: Yếu tố ảnh hưởng tới quyết định mua hàng

Yếu tố thứ nhất là thái độ của người khác (bạn bè, gia đình, hàng xóm…) Trước khi quyết định mua hàng, bao giờ người tiêu dùng cũng có xu hướng tham khảo ý kiến từ người thân, hoặc ý kiến những người xung quanh đánh giá về sản phẩm đó Thái độ của người tiêu dùng có bị tác động bởi thái độ của người xung quanh

Yếu tố thứ hai là các yếu tố tình huống bất ngờ Người tiêu dùng hình thành ý định mua nhưng khi người tiêu dùng sắp sửa hành động thì những yếu

tố tình huống bất ngờ có thể xuất hiện đột ngột và làm thay đổi ý định mua hàng, họ nhận thức được những rủi ro có thể gặp phải, không dám chắc về quyết định của mình dẫn đến băn khoăn lo lắng khi mua, họ có thể sẽ hủy bỏ quyết định, hoặc thu thập thêm thông tin hoặc các yếu tố hỗ trợ tích cực để tăng độ tin tưởng vào quyết định của mình Vì vậy những sở thích và thậm chí

cả những ý định mua hàng cũng không phải là những dấu hiệu hoàn toàn tin

Trang 27

cậy báo trước hành vi mua của khách hàng

e Phản ứng sau mua

Sự hài lòng hay không của khách hàng sau khi mua phụ thuộc vào mối tương quan giữa sự mong đợi của khách hàng trước khi mua và sự cảm nhận của họ sau khi mua và sử dụng sản phẩm

Khi khách hàng hài lòng, họ sẽ chia sẻ tâm trạng hưng phấn đó cho nhiều người khác Như vậy, có thể nói khách hàng hài lòng là người quảng cáo miễn phí và hiệu quả nhất và ngược lại

1.2 KHÁI NIỆM, TÍNH CHẤT, SỰ CẦN THIẾT, VAI TRÕ CỦA DỊCH

VỤ BHYT

1.2.1 Khái niệm dịch vụ

Trong cuộc sống ngày nay chúng ta biết đến rất nhiều hoạt động trao đổi được gọi chung là dịch vụ và ngược lại dịch vụ bao gồm rất nhiều các loại hình hoạt động và nghiệp vụ trao đổi trong các lĩnh vực và ở cấp độ khác nhau Đã có nhiều khái niệm, định nghĩa về dịch vụ nhưng để có hình dung về dịch vụ, tác giả tham khảo một số khái niệm dịch vụ cơ bản

Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công [Từ điển Tiếng Việt, 2004, NXB Đà Nẵng, tr256]

Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất [Từ điển Wikipedia] Theo quan điểm kinh

tế học, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ

du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ và mang lại lợi nhuận

Philip Kotler định nghĩa dịch vụ: Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất

Trang 28

Tóm lại, có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu dưới những góc

độ khác nhau nhưng tựu chung thì:

Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội

Chính sách xã hội là sự cụ thể hoá, thể chế hoá các đường lối, chủ trương

để giải quyết những vấn đề xã hội dựa trên những tư tưởng, quan điểm phù hợp với bản chất xã hội-chính trị phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung và của từng nhóm xã hội nói riêng nhằm tác động trực tiếp vào con người và điều chỉnh các quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, hướng tới mục đích cao nhất là thoả mãn những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân [Bùi Đình Thanh, Xã hội học và Chính sách xã hội, NXB KHXH, Hà Nội, 2004, tr 290]

Như vậy, mục đích của chính sách xã hội có điểm giống nhau với dịch

vụ là đáp ứng nhu cầu của con người trong các xã hội cụ thể và chính sách là

sự thể chế hoá các đường lối, chủ trương của nhà nước (vĩ mô)

Một số quan điểm cho rằng dịch vụ xã hội là những hình thức cụ thể hoá của các chính sách xã hội Nên hiểu khái niệm dịch vụ xã hội như là những phương thức nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội, đặc biệt là các nhóm đối tượng yếu thế mà nhà nước và các tổ chức chính phủ và phi chính phủ (NGO) thực

Trang 29

hiện và cung cấp [social networks]

Và dịch vụ xã hội được Liên hợp quốc định nghĩa như sau: Dịch vụ xã hội cơ bản là các hoạt động dịch vụ cung cấp những nhu cầu cho các đối tượng nhằm đáp ứng những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống (UN - Africa Spending Less on Basic Social Services)

Nếu như dịch vụ là một khái niệm đơn lẻ thì dịch vụ xã hội lại là một khái niệm kép Thuật ngữ “xã hội” trong khái niệm này có thể được hiểu theo hai nghĩa

Thứ nhất là tính mục tiêu, nghĩa là dịch vụ hướng tới phát triển xã hội (theo nghĩa này thì bất kỳ dịch vụ nào đóng góp vào mục tiêu phát triển xã hội đều được coi là dịch vụ xã hội)

Thứ hai là về chuẩn mực hay tính xã hội, nghĩa là dịch vụ để bảo đảm các giá trị, chuẩn mực xã hội Theo nghĩa này thì dịch vụ xã hội cung cấp những hỗ trợ cho các thành viên trong xã hội được chủ động phòng ngừa khả năng xảy ra rủi ro để dẫn đến không bảo đảm giá trị và chuẩn mực xã hội; chủ động tiếp cận hạn chế ảnh hưởng của rủi ro dẫn đến không bảo đảm giá trị và chuẩn mực xã hội; khắc phục rủi ro và hòa nhập cộng đồng trên cơ sở các giá trị, chuẩn mực xã hội

Trong chuyên đề nghiên cứu này, quan niệm về dịch vụ xã hội (social services) được hiểu theo nghĩa là thứ hai tức là các dịch vụ để bảo đảm các giá trị, chuẩn mực có tính xã hội Từ cách tiếp cận đó, khái niệm dịch vụ được phát biểu như sau:

Dịch vụ xã hội là hoạt động cung cấp, đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân, nhóm người nhất định nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội

Quan niệm này cũng tương đồng với khái niệm về dịch vụ xã hội trong tài liệu “good practices in social services delivery in SEE” theo đó: dịch vụ xã hội là các sáng kiến, can thiệp nhằm vào các nhu cầu và vấn đề của hầu hết

Trang 30

nhóm đối tượng dễ tổn thương, bao gồm cả việc ngăn chặn bạo lực, nghèo đói, tan vỡ gia đình, tàn tật (tinh thần và thể chất) và tuổi già

Bên cạnh cách hiểu trên, một cách hiểu khác nhìn từ vai trò của người cung cấp dịch vụ và khách hàng cho rằng: dịch vụ xã hội là các dịch vụ do nhà nước, tập thể cung cấp cho thành viên xã hội Tuy nhiên cách hiểu này ít nhiều “máy móc”, thiếu tính bao quát và cũng không phổ biến

Một khái niệm thống nhất về dịch vụ xã hội cho người yếu thế là rất cần thiết và đó cũng là cơ sở để thiết kế hệ thống dịch vụ xã hội cho các nhóm đối tượng này Dựa vào những lý giải về dịch vụ, chính sách xã hội, dịch vụ xã hội được hiểu là:

Dịch vụ xã hội là các hoạt động có chủ đích của con người nhằm phòng ngừa-hạn chế và khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu cơ bản và thúc đẩy khả năng hoà nhập cộng đồng, xã hội cho nhóm đối tượng yếu thế Dịch vụ xã hội cung cấp và hỗ trợ thông qua các dịch vụ đặc thù giúp các công dân trong xã hội có thể xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn bằng sự độc lập về kinh tế, sự khẳng định quyền con người được hòa nhập và tham gia vào thị trường lao động cũng như các hoạt động cộng đồng, xã hội

1.2.3 Khái niệm BHYT

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam xuất bản năm 1995: "BHYT" là loại bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân

Chính sách BHYT ở Việt Nam bắt đầu được thực hiện từ năm 1992 bằng

sự ra đời của Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Điều lệ BHYT và tiếp tục được Chính phủ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung thông qua việc ban hành Nghị định số 58/1998/NĐ-CP ngày 13/8/1998, Nghị định 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005

Trang 31

Sau 17 năm thực hiện chính sách bảo hiểm y tế, ngày 14/11/2008 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XII, kỳ họp thứ tư đã thông qua Luật bảo hiểm y tế, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2009 Theo Bảo hiểm xã Việt Nam thì BHYT là một loại hình bảo hiểm mà cơ quan Bảo hiểm chi trả các chi phí y tế do các nguyên nhân hoặc tai nạn đã được bảo hiểm cho người được BHYT khi người được BHYT bị ốm đau.[16]

1.2.4 Tính chất BHYT

BHYT ra đời trên cơ sở chia sẻ rủi ro Do vậy BHYT mang tính chất cộng đồng xã hội tương ái tương thân, đùm bọc lẫn nhau được đặt lên hàng đầu Ngoài ra để phát triển hệ thống y tế, chia bớt gánh nặng về bệnh tật của bản thân mỗi người và xã hội thì sự ra đời của chính sách BHYT là bức thiết

1.2.5 Sự cần thiết của BHYT

Nền kinh tế muốn phát triển một cách bền vững đòi hỏi phải có một xã hội ổn định và công bằng Do đó, tái phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong xã hội là điều cần thiết Cùng với việc tái phân phối lại thu nhập thông qua chính sách thuế thì BHYT cũng được coi là một công cụ hữu hiệu Bởi vì, trong thực tế con người ai cũng mong muốn có được cuộc sống khỏe mạnh, ấm no, hạnh phúc Nhưng không phải lúc nào con người cũng gặp điều kiện thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và một cuộc sống bình thường Trái lại, có rất nhiều khó khăn, bất lợi phát sinh Chẳng hạn như bất ngờ ốm đau hay bị tai nạn Khi đó các nhu cầu cần thiết cho cuộc sống không mất đi mà trái lại còn tăng lên Thậm chí, còn xuất hiện thêm nhiều nhu cầu mới như: cần được khám và điều trị khi ốm đau, cần được nghỉ ngơi và dưỡng sức để phục hồi sức khỏe,

1.2.6 Vai trò của BHYT

BHYT là một trong 9 nội dung của BHXH Khi nói tới BHYT cần hiểu

đó là BHXH về y tế hay là BHYT xã hội, nó khác với bảo hiểm y tế tư nhân

Trang 32

trong bảo hiểm thương mại Từ những khái quát trên cùng với lịch sử phát triển hơn 100 năm BHYT thế giới và 20 năm BHYT Việt Nam ta có thể thấy

rõ hơn vai trò của BHYT BHYT là một phạm trù kinh tế tất yếu của xã hội phát triển đóng vai trò quan trọng không những đối với người tham gia bảo hiểm, các cơ sở y tế mà còn là thành tố quan trọng trong việc thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác y tế nhằm huy động nguồn tài chính ổn định, phát triển đa dạng các thành phần tham gia khám, chữa bệnh cho nhân dân

a Phục vụ xã hội

Với mục tiêu là chính sách an sinh xã hội nên thiết yếu là phục vụ xã hội, phục vụ người dân trong cả nước, những người có hoàn cảnh khó khăn, tương thân tương ái lẫn nhau, chia sẻ gánh nặng cho nhau Tham gia BHYT là quyền lợi của mình chứ không phải là nghĩa vụ, với mệnh giá như hiện nay thì gói dịch vụ bảo hiểm y tế của chúng ta khá ưu việt vì có sự hỗ trợ Nhà nước và cả hệ thống y tế Đồng thời giảm bớt tiền chi cho người dân, có nghĩa

là khi tham gia bảo hiểm y tế thì các dịch vụ y tế cơ bản sẽ được bảo hiểm y

tế thanh toán

b Bảo vệ sức khỏe cộng đồng

BHYT là một chính sách an sinh xã hội, góp phần bảo vệ sức khỏe cho nhân dân: BHYT sẽ đảm bảo cho những người tham gia BHYT và các thành viên gia đình họ những khả năng đề phòng, ngăn ngừa bệnh tật, phát hiện sớm bệnh tật để chữa trị và khôi phục lại sức khỏe sau bệnh tật Vì khi lâm bệnh người bệnh buộc phải đến các cơ sở y tế để khám chữa bệnh Từ những bệnh chưa nghiêm trọng đến những bệnh hiểm nghèo với các khoản chi phí khám

chữa bệnh cực kỳ lớn

c Góp phần thực hiện chính sách an sinh

Khi đề ra chính sách nào đó Nhà nước sẽ thông qua nó để thực hiện những mục đích chính trị tùy theo điều kiện từng quốc gia Vì vậy, chính sách

Trang 33

khám chữa bệnh cho nhân dân hay chính sách BHYT là chính sách thông qua

đó Nhà nước thực hiện mục tiêu an sinh xã hội của mình Thông qua chính sách BHYT, những đối tượng, người lao động gặp khó khăn như người nghèo, thương bệnh binh, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, những người có công, thân nhân sỹ quan, lực lượng vũ trang,…cũng nhận đựơc những phần ưu đãi

d Góp phần thực hiện điều tiết thu nhập

Nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro với ý tưởng nhân văn cao cả của nó

đã loại trừ mục tiêu lợi nhuận thương mại của cộng đồng những người tham gia BHYT Do vậy, BHYT không có khỏan thu lợi nhuận và không vì mục đích lợi nhuận Phương thức đoàn kết, tương trợ chia sẻ rủi ro phải đựơc thực hiện bằng sự điều tiết nhằm cân bằng mang tính xã hội Do thế, đối tượng tham gia BHYT không ngừng được mở rộng, phát triển và định hướng cho những đối tượng khác nhau, không phân biệt giữa người lao động có thu nhập cao với người lao động có thu nhập thấp, giữa người đi làm việc với người thất nghiệp hoặc đã nghỉ hưu

e BHYT là một trong những nguồn cung cấp tài chính ổn định cho các cơ sở y tế

Trong những năm qua, nguồn thu viện phí do Quỹ BHYT thanh toán chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng nguồn chi thường xuyên của các cơ sở y tế (khoảng trên 30%) Nguồn thu này đã góp phần cho các cơ sở y tế chủ động trong việc phục vụ người bệnh, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế Vì vậy, hiện nay ngoài cơ sở y tế công lập ký hợp đồng với cơ quan BHYT, còn cả các cở

sở y tế dân lập cũng tham gia

1.3 CHÍNH SÁCH BHYT TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM

1.3.1 Khái niệm chính sách BHYT

BHYT là một chính sách an sinh xã hội, là một hệ thống các quan điểm, chủ trương, phương hướng, biện pháp phòng ngừa, giảm thiếu và khắc phục

Trang 34

rủi ro, đảm bảo một số điều kiện thiết yếu về kinh tế và sức khỏe cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trước những biến động về ốm đau và bệnh tật

Hiện ở Việt Nam đang thực hiện hai hình thức BHYT là: BHYT tự nguyện và BHYT bắt buộc Nhằm tiến đến lộ trình BHYT toàn dân, thì việc nâng cao số đối tượng tham gia BHYT tự nguyện là vô cùng quan trọng vì số người tham gia BHYT bắt buộc đã ở gần mức tối đa [16]

1.3.2 Đối tượng tham gia BHYT tự nguyện

BHYT tự nguyện là loại hình BHYT áp dụng với mọi đối tượng có nhu cầu tự nguyện tham gia BHYT, kể cả đối tượng đã tham gia BHYT bắt buộc

cụ thể như sau:

- Thành viên trong hộ gia đình, gồm những người có tên trong sổ hộ khẩu và cùng sống trong một gia đình; trường hợp không có tên trong sổ hộ khẩu , nhưng có đăng ký tạm trú với thời hạn ít nhất một năm và cùng chung sống trong một hộ gia đình thì được tham gia cùng hộ gia đình đó nếu có nhu cầu

- Học sinh, sinh viên đang theo học tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân

- Cán bộ dân số, gia đình và trẻ em ở xã, phường, thị trấn (gọi là cấp xã) theo Quyết định số 240/2006/QĐ-TTg ngày 24/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chế độ bảo hiểm y tế tự nguyện đối với cán bộ dân số, gia đình và trẻ em ở xã , phường, thị trấn.[16]

1.3.3 Quyền lợi tham gia BHYT tự nguyện

- Được cấp thẻ BHYT và có giá trị sử dụng sau một tháng kể từ ngày phát hành

- Được lựa chọn nơi đăng ký KCB ban đầu tại cơ sở y tế có hợp đồng KCB BHYT thuận lợi và gần nơi cư trú nhất;

- Được thanh toán 100 % chi phí khám chữa bệnh tại tuyến xã

Trang 35

- Được hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh trong trường hợp tổng chi phí của một lần khám bệnh, chữa bệnh thấp hơn 15 % mức lương tối thiểu

- Được thanh toán 80 % chi phí khám chữa bệnh nội trú, ngoại trú

- Được thanh toán 80 % chi phí sử dụng dịch vụ kỷ thuật cao, nhưng không vượt quá 40 tháng lương tối thiểu cho một lần sử dụng dịch vụ

- Đối tượng tham gia BHYT khi đi khám chữa bệnh không đúng cơ sở khám chữa bệnh đăng ký ban đầu, hoặc không theo tuyến chuyên môn kỷ thuật do Bộ Y tế quy định ( trừ trường hợp cấp cứu ) thì được quỹ BHYT thanh toán chi phí KCB như sau:

+ 70% chi phí đối với bệnh viện hạng III và chưa xếp hạng;

+ 50% chi phí đối với bệnh viện hạng II;

+ 30% chi phí đối với bệnh viện hạng I và hạng đặc biệt

- Trường hợp sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn được thanh toán theo ba mức chi phí ở trên nhưng không vượt quá 40 tháng lương tối thiểu cho mỗi lần sử dụng dịch vụ Phần chênh lệch do đối tượng chi trả

- Đối tượng tham gia BHYT khi đi khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở không

ký hợp đồng khám chữa bệnh BHYT; người có thẻ BHYT tự thanh toán chi phí với cơ sở KCB và được cơ quan Bảo hiểm xã hội thanh toán theo mức:

+ Một đợt điều trị ngoại trú tối đa không vượt quá: 55.000 đồng đối với bệnh viện hạng III và chưa xếp hạng; 120.000 đồng đối với bệnh viện hạng II; 340.000 đồng đối với bệnh viện hạng I và hạng đặc biệt

+ Một đợt điều trị nội trú tối đa không vượt quá: 450.000 đồng đối với bệnh viện hạng III và chưa xếp hạng; 1.200.000 đồng đối với bệnh viện hạng II; 3.600.000 đồng đối với bệnh viện hạng I và hạng đặc biệt

+ Một đợt khám chữa bệnh ở nước ngoài tối đa không vượt quá 4.500.000 đồng

- Trường hợp cấp cứu, đối tượng được khám chữa bệnh tại bất kỳ cơ sở

Trang 36

nào có hợp đồng khám chữa bệnh BHYT và phải xuất trình thẻ BHYT trước khi ra viện để được hưởng quyền lợi BHYT Trong trường hợp cấp cứu tại cơ

sở y tế không ký hợp đồng khám chữa bệnh BHYT, thì cơ sở y tế cung cấp đầy đủ xác nhận tình trạng bệnh lý và chứng từ hợp lệ về chi phí khám chữa bệnh để thanh toán với BHXH

- Đối với học sinh, sinh viên tham gia BHYT tự nguyện còn được hưởng thêm quyền lợi về chi chăm sóc sức khỏe ban đầu tại trường học theo quy định hiện hành [16]

1.3.4 Quỹ BHYT tự nguyện

a Nguồn hình thành quỹ

Là hoạt động phúc lợi xã hội nên BHYT không phải tổ chức nhằm mục tiêu lợi nhuận mà với mục đích nhân đạo Nguồn chủ yếu để hình thành quỹ tài chính BHYT là từ sự đóng góp của người tham gia bảo hiểm Mức đóng hàng tháng của đối tượng tự nguyện tham gia BHYT tự nguyện là 4,5% lương tối thiểu hiện hành Đối với tham gia BHYT theo hộ gia đình thì người thứ nhất trong hộ gia đình mỗi tháng đóng bằng 4,5% lương tối chung; từ người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lần lượt bằng 90%, 80%,70% mức đóng của người thứ nhất; từ người thứ năm trở đi mức đóng bằng 60% của người thứ nhất Mức đóng thay đổi khi lương tối thiểu chung thay đổi Lương tối thiểu chung từ tháng 5/2012 là 1.050.000 đồng/tháng

Ngoài nguồn đóng góp chủ yếu trên, Qũy BHYT còn được bổ sung bằng các nguồn khác như : sự hỗ trợ của Ngân sách Nhà nước (đối với một số đối tượng ưu tiên), lãi đầu tư phần quỹ nhàn rỗi theo quy định, sự hảo tâm của các

cá nhân và tổ chức trong và ngoài nước,và các nguồn thu hợp pháp khác

b Mục đích sử dụng quỹ

Quỹ BHYT tự nguyện được quản lý tập trung, thống nhất, dân chủ và công khai theo quy chế quản lý tài chính hiện hành đối với BHXH Việt Nam

Trang 37

Tiền tạm thời chưa sử dụng (nếu có) của Quỹ BHYT tự nguyện được huy động để thực hiện các biện pháp nhằm bảo tồn và tăng trưởng quỹ theo quy định BHYT bắt buộc và tự nguyện có đối tượng tham gia bảo hiểm khác nhau, do vậy, phạm vi và các khoản chi cũng có những nét khác biệt Các khoản chi cụ thể như sau :

- Chi thanh toán chi phí khám chữa bệnh cho người được hưởng BHYT chiếm 87% quỹ khám BHYT tự nguyện Đây là khoản chi lớn và thường xuyên của quỹ BHYT tự nguyện nên mức phí khám chữa bệnh của BHYT tự nguyện cũng được xác định giới hạn theo hợp đồng giao kết với cơ sở khám chữa bệnh

- Chi lập quỹ dự phòng khám chữa bệnh BHYT tự nguyện : Khoản chi này là 2% tổng số quỹ và thường được tồn tích lại trong một thời gian dài nhằm đảm bảo quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm;

- Chi quản lý chiếm 8% số quỹ: Để có thể vận hành được hoạt động của

cả một hệ thống cần phải có nguồn chi cho hành chính hay nói khác đi đó là chi cho việc quản lý Chính khoản chi này đó giúp cho bộ máy được vận hành một cách bình thường

- Chi 3% số quỹ cho công tác đào tạo đại lý, bổ sung cho công tác tuyên truyền, vận động, khen thưởng và nâng cao năng lực cán bộ

Quỹ KCB BHYT tự nguyện hàng năm không chi hết được chuyển vào Quỹ dự phòng KCB BHYT tự nguyện Ngược lại nếu số chi KCB BHYT tự nguyện vượt quá quỹ KCB BHYT tự nguyện được sử dụng trong năm, Bảo hiểm xã hội Việt Nam được sử dụng kinh phí của quỹ dự phòng KCB BHYT

tự nguyện hoặc quỹdự phòng KCB BHYT bắt buộc hoặc nguồn hỗ trợ khác theo quy định để bảo đảm chi trả đầy đủ, kịp thời các chế độ cho đối tượng.[16]

Trang 38

Tóm tắt chương 1

Trong chương 1, tác giả đã trình bày tóm tắt cơ sở lý thuyết về mô hình nghiên cứu hành vi người tiêu dùng đi trước và những cơ sở lý thuyết về chính sách BHYT tại Việt Nam Đây được xem như là nền tảng lý thuyết quan trọng cho đề tài nghiên cứu này Để từ đó tạo ra cơ sở giúp tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu cho đề tài tại chương sau

Trang 39

2.1.1 cơ cấu bộ máy BHXH tỉnh Kon Tum

Cùng với hệ thống BHXH trong cả nước, năm 1995 BHXH tỉnh Kon Tum được thành lập Hiện nay BHXH tỉnh Kon Tum có 09 đơn vị BHXH huyện, thị trực thuộc và 09 phòng nghiệp vụ được thể hiện qua sơ đồ:

Phòng chế độ chính sách

Phòng công nghệ thông tin

Phòng kiểm tra

Phòng

tổ chức – hành chính

Phòng

kế hoạch – tài chính

Phòng thu

Trang 40

* Phòng Kiểm tra;

* Phòng Quản lý hồ sơ (một cửa)

2.1.2 Sự ra đời của BHYT tự nguyện ở tỉnh Kon Tum

Trước yêu cầu của thực tế khách quan, năm 1992 BHYT Việt Nam đã được thành lập Cũng như các tỉnh trong cả nước, nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, Kon Tum cũng bắt tay vào tổ chức thực hiện BHYT Công tác BHYT ở Kon Tum được triển khai thực hiện trên phạm vi toàn tỉnh

và đã đạt được những kết quả nhất định Ngay từ khi bắt đầu triển khai BHYT, bên cạnh đối tượng bắt buộc BHYT Kon Tum triển khai ngay với đối tượng tự nguyện nhưng kết quả thực hiện BHYT tự nguyện vẫn ở mức rất khiêm tốn Cùng là chính sách lớn của Nhà nước thực hiện nhằm nâng cao quyền lợi cho người dân song BHYT và BHXH lại thuộc sự quản lý của các

cơ quan khác nhau do đó đã bộc lộ nhiều vướng mắc trong quản lý Xuất phát

từ những bất cập trong quá trình quản lý và triển khai thực hiện chính sách BHYT nên năm 2002 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg ngày 21/01/2002 của Thủ tướng chính phủ về việc chuyển BHYT Việt Nam sang BHXH Việt Nam Từ đó BHXH tỉnh Kon Tum đã tiếp nhận BHYT tỉnh Kon Tum và bắt đầu hoạt động theo mô hình mới Lúc này, BHXH tỉnh Kon Tum thực hiện thêm một nhiệm vụ mới là quản lý quỹ và chi trả chế độ BHYT cho người tham gia BHYT từ ngày 01/01/2003

2.1.3 Tình hình triển khai BHYT tự nguyện trên địa bàn tỉnh Kon Tum

có khoảng 162.470 người, chiếm 69% tổng số người trong độ tuổi lao động Để Khái quát về tình hình tham gia BHYT tự nguyện cũng như số thu

Ngày đăng: 28/05/2019, 09:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w