xuất các chính sách giải quyết việc làm cho lao động nữ ở tỉnh Quảng Nam.Tuy nhiên, công trình này phần lớn tập trung chủ yếu giải quyết việc làm cholao động nữ ở khu vực nông thôn và th
Trang 2LUẬN VĂN THẠ C SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THẾ GIỚI
MỞ ĐẦU
Đà Nẵng - Năm 2014
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
Nguyễn Ngọc Vinh
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM 6
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM 6
1.1.1 Khái niệm thất nghiệp và việc làm 6
1.1.2 Phân loại việc làm 13
1.1.3 Khái niệm tạo việc làm 20
1.1.4 Ý nghĩa của tạo việc làm cho thanh niên 22
1.2 NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN 23
1.2.1 Tạo việc làm thông qua Quỹ quốc gia giải quyết việc làm 23
1.2.2 Định hướng nghề nghiệp, đào tạo, dạy nghề và giới thiệu tham gia học nghề cho thanh niên 24
1.2.3 Khuyến khích TN lập nghiệp, tự tạo việc làm cho bản thân 25
1.2.4 Thực hiện hiệu quả, đồng bộ các chính sách tạo việc làm cho TN26 1.3 CÁC NHÂN TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN 30
1.3.1 Thanh niên và đặc điểm của thanh niên ảnh hướng đến tạo việc làm cho thanh niên 30
1.3.2 Các chính sách của Đảng và Nhà nước 34
1.3.3 Chính quyền, đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội 35
Trang 5NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THANH KHÊ 37
2.1 CÁC ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA QUẬN THANH KHÊ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN 37 2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 37
2.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 39
2.1.3 Quy mô, chất lượng lao động thanh niên 49
2.1.4 Tình trạng lao động thanh niên có việc làm và thất nghiệp 54
2.1.5 Nhận thức của thanh niên, xã hội về học nghề, việc làm 58
2.1.6 Cơ chế chính sách của quận Thanh Khê 59
2.2 TÌNH HÌNH TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THANH KHÊ 60
2.2.1 Quy mô tạo việc làm qua các năm 60
2.2.2 Tình hình tăng trưởng kinh tế tạo mở việc làm 61
2.2.3 Tình hình tạo việc làm thông qua Quỹ quốc gia giải quyết việc làm 64
2.2.4 Tình hình tạo việc làm gắn với công tác đào tạo, dạy nghề, các hoạt động dịch vụ và giới thiệu việc làm cho thanh niên 66
2.2.5 Tình hình hoạt động định hướng nghề nghiệp và khuyến khích thanh niên lập nghiệp 69
2.2.6 Đánh giá chung về tình hình tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn quận Thanh Khê 70
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 75
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THANH KHÊ ĐẾN NĂM 2020 77
Trang 63.1.1 Một số định hướng cơ bản 77
3.1.2 Mục tiêu giải quyết việc làm đến năm 2020 78
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THANH KHÊ ĐẾN NĂM 2020 79
3.2.1 Phát triển kinh tế - xã hội để tạo thêm nhiều việc làm 79
3.2.2 Xã hội hoá vấn đề tạo việc làm 88
3.2.3 Nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành, xã hội và nhất là thanh niên về nghề nghiệp, việc làm 89
3.2.4 Nâng cao hiệu quả hoạt động của các dịch vụ giới thiệu việc làm 92 3.2.5 Khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn vay hỗ trợ thanh niên tạo việc làm 93
3.2.6 Đẩy mạnh công tác giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng lực lượng lao động thanh niên trên địa bàn 95
3.2.7 Tăng cường các hoạt động tư vấn, định hướng nghề nghiệp, việc làm cho thanh niên 97
3.2.8 Tăng cường tạo việc làm cho thanh niên thông qua xuất khẩu lao động 101
3.2.9 Tăng khả năng tự tạo việc làm cho thanh niên 103
3.2.10 Tăng cường vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên 104
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 106
KẾT LUẬN 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 7: Cơ sở dữ liệu: Đại học: Kinh tế Nhà nước: Lao động
: Lực lượng lao động
: Lao động Thương binh và Xã hội
: Thanh niên: Số lượng: Trung cấp chuyên nghiệp: Trung học cơ sở
: Trung học phổ thông: Uỷ ban nhân dân: Văn hóa thông tin
Trang 8Số hiệu Tên bảng Trangbảng
2.1 Diện tích, dân số năm 2012 chia theo phường 382.2 Giá trị sản xuất công nghiệp chia theo thành phần kinh tế 412.3 Số cơ sở, lao động ngành thương mại, dịch vụ trên địa
2.9 Số việc làm mới tạo ra trên địa bàn quận Thanh Khê 602.10 Lao động thanh niên trên địa bàn quận Thanh Khê có việc
2.11 Tổng số lao động thanh niên có việc làm (2009 – 2012) 622.12 Tạo việc làm cho thanh niên phân theo thành phần kinh tế 64
Trang 9Số hiệu Tên hình Tranghình
2.1 Cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hoá, dịch vụ xã hội 422.2 Lực lượng lao động thanh niên chia theo quận/huyện 51
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Có việc làm luôn là nhu cầu, mối quan tâm hàng đầu của thanh niênhiện nay, đây cũng là nội dung quan trọng, không thể thiếu trong chính sáchphát triển kinh tế, ổn định xã hội của nước ta Nhận thức rõ tầm quan trọngcủa vấn đề tạo việc làm, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ chương,đường lối, chính sách thiết thực, hiệu quả nhằm phát huy tối đa nội lực, nângcao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi cơ cấu lao động, đáp ứng yêu cầucủa quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo nhiều việc làm cho người laođộng, giảm tỷ lệ thất nghiệp, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sốngnhân dân, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Trong nhiều năm qua, cùng với sự phát triển của đất nước, thành phố
Đà Nẵng đã có những chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế, chính trị ổn định, anninh luôn được giữ vững, đời sống của người dân từng bước được nâng lên
Là một quận trung tâm của Thành phố Đà Nẵng, cùng với 7 quận, huyện khác,quận Thanh Khê đã đóng góp đáng kể trong kết quả phát triển kinh tế - xã hộicủa Thành phố Trong đó, thanh niên là lực lượng tiên phong trong phát triểnkinh tế và xã hội, đồng thời cũng là lực lượng mang lại sự thay đổi và đổi mớitrong nền kinh tế Trong những năm qua, công tác an sinh xã hội, tạo việc làmcho người lao động nói chung, thanh niên nói riêng luôn được toàn hệ thốngchính trị của quận quan tâm, triển khai nhiều biện pháp, qua đó tạo càng nhiềuviệc làm cho thanh niên, nhằm sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực to lớn củaquận, hướng đến sự phát triển bền vững Tuy nhiên, so với nhu cầu thực tếhiện nay, việc tạo việc làm cho thanh niên vẫn còn nhiều bất cập, tỷ lệ thiếuviệc làm, thất nghiệp trong thanh niên còn khá cao Vì vậy, vấn đề tạo nhiềuviệc làm cho thanh niên trên địa bàn quận Thanh Khê là một yêu
Trang 11cầu cấp thiết hiện nay Với lý do đó, tôi chọn đề tài “Tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu làm
luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Kinh tế phát triển
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận và
thực tiễn của vấn đề việc làm, tạo việc làm cho thanh niên trong điều kiệnkinh tế thị trường ở thành phố Đà Nẵng nói chung và quận Thanh Khê nóiriêng Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp tạo việc làm cho thanh niên trênđịa bàn quận Thanh Khê
Đạt được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
- Hệ thống hoá và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về việc làm, tạo việc làm cho thanh niên
- Phân tích thực trạng tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn quậnThanh Khê giai đoạn 2009 - 2012, chỉ ra những mặt làm được và những vấn
đề tồn tại
- Đề xuất giải pháp tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn quận Thanh Khê trong giai đoạn từ nay đến năm 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: những vấn đề lý luận, thực tiễn liên quan đếnviệc làm và tạo việc làm cho thanh niên (từ 15 đến 29 tuổi) trên địa bàn quậnThanh Khê
- Phạm vị nghiên cứu: luận văn đi sâu nghiên cứu vấn đề tạo việc làmcho thanh niên trên địa bàn quận Thanh Khê giai đoạn 2009 - 2012, đề xuấtcác giải pháp tạo việc làm đến năm 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa LeNin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối và chủ trương của Đảng, chính sách
Trang 12Mác-pháp luận của nhà nước, lý luận về thất nghiệp, việc làm trong kinh tế họchiện đại Coi trọng phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê, hệthống, nghiên cứu lý thuyết và tổng kết thực tiễn nhằm phân tích thực trạngviệc làm và tạo việc làm cho thanh niên.
Số liệu thu thập từ niên giám thống kê của Chi cục Thống kê quậnThanh Khê, từ các báo cáo của phòng LĐ-TB&XH quận Thanh Khê, QuậnĐoàn Thanh Khê từ năm 2009 đến 2012 và từ biểu tổng hợp cơ sở dữ liệu thịtrường lao động - phần cung lao động thành phố Đà Nẵng của Sở LĐ-TB&XH thành phố Đà Nẵng có liên quan đến đề tài nghiên cứu
* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn góp phần phân tích và làm rõ những vấn đề cơ bản về việclàm, tạo việc làm cho thanh niên, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm chothanh niên trên địa bàn quận Thanh Khê, giai đoạn 2009 - 2012 Trên cơ sở đó
đề xuất giải pháp nhằm tạo việc làm hiệu quả cho thanh niên trên địa bàn quậnThanh Khê đến năm 2020
Kết quả nghiên cứu của luận văn được dùng làm tài liệu tham khảo chocác cơ quan quản lý nhà nước ở các phường và quận Thanh Khê trong việcnghiên cứu, hoạch định chính sách và chỉ đạo thực tiễn đối với vấn đề tạo việclàm cho thanh niên trên địa bàn quận
5 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về việc làm và tạo việc làm.
Chương 2: Thực trạng về tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn quận
Thanh Khê, giai đoạn 2009 – 2012
Chương 3: Các giải pháp tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn quận
Thanh Khê đến năm 2020
Trang 136 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Vấn đề việc làm và tạo việc làm được nhiều tác giả và cơ quan nghiêncứu dưới nhiều góc độ khác nhau Để nghiên cứu đề tài, tác giả đã nghiên cứucác đề tài có liên quan của các tác giả sau:
Giáo trình Kinh tế lao động của TSKH Phạm Đức Chính, Trường ĐHKinh tế Luật, Đai học Quốc gia TP.HCM (2008) Tác giả đã làm rõ nhữngkhái niệm về lao động và nguồn lao động, việc làm, thất nghiệp, tiền lương
Nghiên cứu của TS Nguyễn Hữu Dũng về “Chính sách giải quyết việc
làm ở Việt Nam” Tác giả đi sâu phân tích các chính sách giải quyết việc làm
trong nền kinh tế trong những năm cuối thế kỷ 20 Nghiên cứu này đã trìnhbày tổng quát về phương pháp luận và phương pháp tiếp cận chính sách việclàm, làm rõ thực trạng vấn đề việc làm ở Việt Nam hiện nay Từ đó khuyếnnghị định hướng một số chính sách cụ thể về việc làm trong thời kỳ côngnghiệp hoá, hiện đại hoá Tuy vậy, nghiên cứu này chưa đi sâu nghiên cứu vềvấn đề việc làm và tạo việc làm cho đối tượng thanh niên
Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Quỳnh An “Tăng cường khả năng tự
tạo việc làm cho thanh niên Việt Nam” (được bảo vệ ngày 29/11/2012 tại
trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội) Luận án đã hệ thống hoá và bổsung cơ sở lý luận nghiên cứu về tự tạo việc làm nói chung, tự tạo việc làmcủa thanh niên nói riêng và các yếu tố ảnh hưởng thông qua xây dựng lần đầutiên khái niệm sâu và đầy đủ về “tự tạo việc làm”, “khả năng tự tạo việc làm”
và “tăng cường khả năng tự tạo việc làm” Luận án đề ra các giải pháp để tăngkhả năng tự tạo việc làm cho thanh niên nói chung Tuy vậy, nghiên cứu nàychưa chỉ rõ các biện pháp để thanh niên ở từng khu vực như thành thị, nôngthôn tự tạo việc làm phù hợp với đặc điểm vùng, miền
Nghiên cứu của tác giả Lưu Bích Ngọc (2011): “Giải quyết việc làm
cho lao động nữ ở tỉnh Quảng Nam” Nghiên cứu này đi sâu phân tích và đề
Trang 14xuất các chính sách giải quyết việc làm cho lao động nữ ở tỉnh Quảng Nam.Tuy nhiên, công trình này phần lớn tập trung chủ yếu giải quyết việc làm cholao động nữ ở khu vực nông thôn và thành thị chưa đề cập riêng vấn đề tạoviệc làm cho đối tượng có những nét đặc thù riêng là thanh niên.
Tại Đà Nẵng, đã có những bài viết, tham luận, đề án về việc làm và tạoviệc làm cho người lao động như bài viết của tác giả Lê Minh Hùng đăng trên
tạp chí Lao động và xã hội số 26, tháng 4/2005 có tựa đề “Đà Nẵng nỗ lực
chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm cho lao động diện giao đất”; Đề
án “Giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
giai đoạn 2012 – 2015” (Ban hành kèm theo Quyết định số: 2644/QĐ-UBND ngày 09 tháng 4 năm 2012 của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng) Đề án
Quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội quận Thanh Khê đến năm 2020
Hầu hết các công trình nghiên cứu đã được công bố chủ yếu tập trungnghiên cứu vấn đề đào tạo nghề, việc làm, tạo việc làm cho người lao độngnói chung Giá trị lớn nhất của những công trình nghiên cứu này là phân tíchthực trạng và đề xuất những giải pháp mang tính thực tiễn nhằm giải quyếtcác vấn đề có liên quan đến đào tạo nghề, tạo việc làm cho người lao động,chưa có nghiên cứu nào đi sâu phân tích thực trạng việc làm và tạo việc làmcho thanh niên trên địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng Nghiên cứucác công trình đã công bố, tôi cũng tham khảo được nhiều vấn đề lý luận vàthực tiễn rất có giá trị đối với đề tài của mình Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọcnhững vấn đề được nghiên cứu trong các công trình khoa học đó, kết hợp vớiviệc tìm hiểu tình hình thực tế trên địa bàn quận Thanh Khê, tôi có thể rút ra
và kiến nghị những giải pháp tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn quậnThanh Khê
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM
1.1.1 Khái niệm thất nghiệp và việc làm
a Thất nghiệp
Thất nghiệp là một biểu hiện kinh tế xã hội khi mà con người có khảnăng làm việc, muốn làm việc mà không thể tìm được việc làm Đó là hiệntượng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động mong muốn và có khảnăng làm việc, rất tích cực tìm kiếm nhưng không tìm được việc làm vì lý dokhông có chỗ làm việc hoặc trình độ chuyên môn không phù hợp
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho rằng, thất nghiệp là tình trạng tồntại khi một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng khôngthể tìm được việc làm ở mức tiền công thịnh hành Và để xác định rõ nhữngngười thất nghiệp, tổ chức này đưa ra những tiêu chí cụ thể Họ cho rằng, xéttrong một khoảng thời gian nhất định, những người thất nghiệp là nhữngngười đang ở trong các tình trạng sau: 1) không có việc làm; 2) có khả nănglàm việc; 3) tích cực tìm việc làm
Theo quan điểm này thì thất nghiệp là tình trạng người lao động cónguyện vọng tìm việc làm nhưng đang ở vị trí không có việc làm Phần lớncác nước trên thế giới sử dụng quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế(ILO) để xác định người thất nghiệp, nhưng mỗi nước xác định khoảng thờigian thất nghiệp có khác nhau Ở Úc cho rằng: người thất nghiệp là nhữngngười không có việc làm trong tuần lễ điều tra và đã chủ động tìm việc làm cảngày hoặc nửa ngày tại bất kỳ thời điểm nào trong 4 tuần, bao gồm cả tuầnđiều tra và sẵn sàng làm việc khi có việc làm; ở Thái Lan quy định, trong cáccuộc điều tra xác định người thất nghiệp là những người không có việc làm
Trang 16trong 7 ngày trước lúc điều tra…
Việc phân loại thất nghiệp là một yếu tố quan trọng để xác định tínhchất thất nghiệp, nhằm làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách chốngthất nghiệp Tổ chức ILO cũng đã phân thất nghiệp thành 3 loại: thất nghiệp
do mức cầu lao động không đủ; thất nghiệp do thiếu thiết bị hoặc thiếu nhữngnguồn lực bổ sung; thất nghiệp do cung và cầu lao động không ăn khớp vớinhau Sự phân loại này đến nay cho thấy, xét trên nhiều khía cạnh, mặc dùđúng nhưng không chính xác hoàn toàn, nhất là đối với những quốc gia đangtrong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế như nước ta
Cũng theo ILO thì “Người thất nghiệp là những người có thể và muốnlàm việc, chủ động và tích cực đi tìm kiếm việc làm, nhưng không thể tổ chứcđược lao động vì không có chỗ làm việc trống hoặc là vì nghề nghiệp khôngphù hợp”
Bộ luật Lao động sửa đổi và bổ sung của Việt Nam năm 2002 quy định:
“Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưngchưa tìm được việc làm”
Nhìn chung, trên cơ sở quan điểm của Tổ chức ILO, mỗi nước có mộtquan niệm khác nhau về người thất nghiệp phù hợp với điều kiện của quốc giamình Song, để quan niệm người thất nghiệp phù hợp với điều kiện thức tếcủa Việt Nam hiện nay, tác giả đồng ý với quan điểm “người thất nghiệp lànhững người lao động trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, đang ởtrong tình trạng không có việc làm và đang đi tìm việc làm, đồng thời sẵnsàng đi làm ngay nếu được chấp nhận” Với quan điểm này, người thất nghiệp
có thể là học sinh, sinh viên tốt nghiệp các trường chuyên nghiệp, công nhântrong các doanh nghiệp, bộ đội xuất ngũ nhưng chưa có việc làm Nhữngngười trong độ tuổi lao động
Các định nghĩa tuy có khác nhau về mức độ, giới hạn (tuổi, thời gian
Trang 17mất việc) nhưng đều thống nhất người thất nghiệp ít nhất phải có 3 đặc trưng:
có khả năng lao động, đang không có việc làm, đang đi tìm việc làm
Có 3 nguyên nhân gây thất nghiệp là: do chu kỳ sản xuất kinh doanhthay đổi, do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và do sự gia tăng dân số vànguồn nhân lực là áp lực đối với việc giải quyết việc làm
b Việc làm
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế thì khái niệm việc làm chỉ đề cập đếntrong mối quan hệ với lực lượng lao động Khi đó, việc làm được phân thànhhai loại: có trả công (những người làm thuê, học việc…) và không được trảcông nhưng vẫn có thu nhập (những người như giới chủ làm kinh tế giađình…) Vì vậy, “việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng trong đó
có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có một sự tham gia tích cực, có tínhchất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất” [5] Theo khái niệm này, người
có việc làm là người làm việc gì đó để được trả công, lợi nhuận được thanhtoán bằng tiền hoặc hiện vật, hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất
tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập của gia đình (không được nhận tiềncông hay hiện vật) Với quan niệm này, có rất nhiều người thuộc diện có việclàm, bao gồm: những hoạt động mang tính hợp pháp và những hoạt độngmang tính chất phi pháp hoặc bị cho là vi phạm đạo đức xã hội và bị ngăncấm ở một số nước Như vậy, khái niệm này chỉ mang tính chất khái quát, là
cơ sở nghiên cứu vấn đề chung cho các nước trên thế giới
Quan niệm về việc làm đã được cụ thể hoá tại Điều 19, chương II của
Bộ luật Lao động (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2012) quy định “Việc làm làhoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” Quan niệmnày có thể hiểu dưới ba hoạt động sau:
- Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằng tiền mặt hoặc hiện vật
- Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân
Trang 18- Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó.
Theo quan niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn hai tiêu thức:
Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động
và cho các thành viên trong gia đình Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấnmạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm
Hai là, hoạt động không bị pháp luật cấm Điều này chỉ rõ tính pháp lý
của việc làm, quan niệm đã rõ ràng hơn so với quan niệm của tổ chức ILO.Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, ngành nghề và hoàn toàn phùhợp với sự phát triển của thị trường lao động Việt Nam trong quá trình pháttriển nền kinh tế nhiều thành phần Người lao động hợp pháp ngày nay đượcđặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do hành nghề, tự do liên kết kinh doanh, tự
do tìm kiếm việc làm, tự do thuê mướn lao động trong khuôn khổ của phápluật, không bị phân biệt đối xử dù làm việc trong hay ngoài khu vực Nhànước Điều này khẳng định tính chất pháp lý trong hoạt động của người laođộng thuộc khu vực ngoài Nhà nước và các khu vực phí chính phủ
Hai điều kiện này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện cần và
đủ để một hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm Nếu một hoạt độngtạo ra thu nhập, nhưng vi phạm pháp luật như trộm cắp, buôn bán ma tuý…thìkhông được thừa nhận là việc làm Mặt khác, một hoạt động là hợp pháp và
có ích, nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là việc làm
Quan niệm về việc làm nêu trên đã mang tính khái quát cao, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế, cụ thể là:
Thứ nhất, xét trên phạm vi rộng thì tính hợp pháp của một hoạt động
lao động được thừa nhận là việc làm tuỳ theo luật pháp của mỗi quốc gia vàmỗi thời kỳ Có hoạt động là việc làm ở nước này nhưng lại không được thừa
Trang 19nhận là việc làm ở nơi khác.
Thứ hai, không phải mọi hoạt động có ích và cần thiết cho gia đình và
xã hội đều tạo ra thu nhập mặc dù nó góp phần làm giảm chi tiêu cho gia đìnhthay vì thuê người làm công
Theo giáo trình Kinh tế Lao động của Khoa Kinh tế Lao động và Dân
số - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, khái niệm việc làm được hiểu
“là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện
cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó.
Trạng thái phù hợp được thể hiện thông qua quan hệ tỷ lệ giữa chi phíban đầu (C) như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu…và chi phí vềsức lao động (V) Quan hệ tỷ lệ biểu diễn sự kết hợp giữa sức lao động vớitrình độ công nghệ sản xuất Khi công nghệ thay đổi thì sự kết hợp đó cũngthay đổi theo, có thể công nghệ sử dụng nhiều vốn hoặc công nghệ sử dụngnhiều sức lao động Còn trong điều kiện tự động hoá, sản xuất theo dâychuyền hiện đại thì chi phí về vốn, thiết bị, công nghệ rất cao, nhưng chỉ đòihỏi sức lao động với tỉ và lệ thấp Do đó, tuỳ từng điều kiện cụ thể mà lựachọn phương án phù hợp để có thể tạo việc làm cho người lao động
Trong điều kiện của tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự áp dụng các thànhtựu của khoa học công nghệ vào sản xuất mạnh mẽ như hiện nay, quan hệ tỉ lệgiữa V và C thường xuyên có sự biến đổi
- Sự phù hợp giữa sức lao động và chi phí ban đầu có nghĩa là mọingười có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc đều có việc làm Nếu chỉxem xét trên phương diện sử dụng hết thời gian lao động có nghĩa là việc làmđầy đủ Trong trường hợp sự phù hợp của mối quan hệ này cho phép sử dụngtối đa tiềm năng về tư liệu sản xuất, vốn và sức lao động ta có khái niệm việclàm hợp lý
- Sự không phù hợp giữa sức lao động và chi phí ban đầu sẽ dẫn đến
Trang 20thiếu nguồn nhân lực tức thiếu việc làm và thất nghiệp.
Theo khái niệm được đưa ra trong từ điển tiếng Việt thì “Việc làm là côngviệc được giao cho làm và được trả công” Khái niệm này tương đối rộng, nóchưa đề cập đến tính chất công việc được giao Mặt khác, người lao động có thể
tự tạo ra việc làm để có thu nhập mà không cần ai phải giao việc cho
Những đặc trưng của việc làm:
+ Về mặt chính trị: việc làm thể hiện rõ những quan điểm, đường lối
lãnh đạo của nhà cầm quyền
+ Về mặt xã hội: việc làm phải phù hợp với phong tục tập quán, truyền
thống văn hoá, đạo đức và công bằng xã hội
+ Về mặt pháp lý: việc làm chịu sự điều chỉnh của pháp luật về độ tuổi,
phải hợp pháp, có quy định về những ngành nghề được làm và không được làm
+ Về mặt kinh tế: việc làm phải đáp ứng lợi ích kinh tế của người lao
động, người sử dụng lao động và đóng góp cho tăng trưởng và phát triển kinh tế
+ Về mặt cá thể: việc làm thể hiện những tri thức, phẩm chất, năng lực
của người lao động khi tham gia làm việc ở những ngành cụ thể
Từ các quan điểm trên, tác giả thống nhất với quan điểm: “Việc làm làhoạt động lao động của các cá nhân trong xã hội nhằm mục đích tạo ra thunhập mà không bị pháp luật cấm” (được trả công bằng tiền, hiện vật, trao đổicông, tự làm để tạo ra thu nhập, tạo lợi ích cho gia đình không hưởng tiềncông/lương) Việc làm là một phạm trù kinh tế - xã hội và nó chịu sự chi phốicủa nhiều mối quan hệ Quan niệm đúng về việc làm sẽ là cơ sở khoa học đểtạo việc làm cho người lao động
c Các lý thuyết liên quan đến việc làm
Cơ chế quản lý lao động, việc làm là một bộ phận cấu thành của cơ chếquản lý kinh tế, trong đó Nhà nước kết hợp với thị trường nhằm thiết lập quan
hệ cung cầu về lao động, việc làm Để điều tiết, tạo lập việc làm nhằm thực
Trang 21hiện mục tiêu kinh tế - xã hội đã hoạch định, các nhà nghiên cứu kinh tế đã phân tích một số lý thuyết kinh tế trong lĩnh vực việc làm.
- Lý thuyết của John Maynard Keynes - nhà kinh tế người Anh cho
rằng: trong một nền kinh tế, khi sản lượng tăng, thu nhập tăng, đầu tư tăng thìviệc làm tăng và ngược lại Để tăng việc làm, giảm thất nghiệp, phải tăng tổngcầu của nền kinh tế Chính phủ có vai trò kích thích tiêu dùng (tiêu dùng sảnxuất và phi sản xuất) để tăng tổng cầu thông qua tăng trực tiếp các khoản chitiêu của chính phủ, hoặc thông qua các chính sách của Chính phủ nhằmkhuyến khích đầu tư của tư nhân, của các tổ chức kinh tế xã hội
- Lý thuyết của Athur Lewis - nhà kinh tế học Jamaica cho rằng: quá
trình chuyển số lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp sang khu vực côngnghiệp hiện đại do hệ thống tư bản nước ngoài đầu tư vào các nước lạc hậu,quá trình này sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển Việc di chuyển lao
động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp có hai tác dụng: Một
là, chuyển bớt lao động ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp, chỉ để lại lượng lao
động đủ để tạo ra sản lượng cố định Từ đó nâng cao sản lượng theo đầu
người đồng thời tạo việc làm cho số lao động dôi dư trong nông nghiệp Hai
là, việc di chuyển này sẽ làm tăng lợi nhuận trong lĩnh vực công nghiệp, tạo
điều kiện nâng cao sức tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung
- Nhà khoa học nổi tiếng trong kinh tế lao động người Nga Kotlia A đãđưa ra khái niệm việc làm như phạm trù kinh tế nói chung tồn tại ở mọi hìnhthái xã hội Đồng thời, việc làm là phạm trù tái sản xuất xã hội, mà không thểđồng nhất với lao động và sử dụng sức lao động Nó định rõ đặc tính dân sốhoạt động kinh tế so với những yếu tố sản xuất vật chất thể hiện quan hệ giữacon người về việc tham gia của họ vào trong sản xuất xã hội
- Các nhà khoa học kinh tế Anh thì lại cho rằng “việc làm theo nghĩarộng là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩa là tất cả những gì
Trang 22quan hệ đến cách kiếm sống của một con người, kể cả các quan hệ xã hội vàcác tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình kinh tế” Theo quanđiểm này thì tất cả những việc làm tạo ra thu nhập mà không cần phân biệt cóđược pháp luật thừa nhận hay ngăn cấm đều được gọi là việc làm.
- Các nhà kinh tế Sônhin và Grincốp của Liên xô lại cho rằng, “việclàm là sự tham gia của người có khả năng lao động vào một hoạt động xã hội
có ích trong khu vực xã hội hoá của sản xuất, trong học tập, trong công việcnội trợ, trong kinh tế phụ của các nông trang viên” Theo khái niệm này thìnhững người đang đi học, đang tham gia hoạt động trong các lực lượng vũtrang, những người nội trợ đều coi là người có việc làm Ngày nay, ở LiênBang Nga khái niệm này được quy định rõ trong Bộ luật Việc làm của dân cưLiên bang Nga như sau: “việc làm là hoạt động của công dân nhằm thoả mãnnhững nhu cầu xã hội và của cá nhân, đem đến cho họ thu nhập và không bịpháp luật Liên bang ngăn cấm”
Nhìn chung các lý thuyết về việc làm này đều tập trung nghiên cứu, xácđịnh mối quan hệ cung cầu lao động tác động đến việc làm Những lý luận đótuy chưa làm rõ vai trò của Chính phủ thông qua hệ thống các chính sách kinh
tế kết hợp với chính sách xã hội để tạo việc làm ổn định cho nền kinh tế,nhưng có tác dụng gợi mở cho chúng ta khi phân tích thực trạng việc làm và
đề ra những giải pháp phù hợp tạo việc làm cho người lao động ở Việt Nam
1.1.2 Phân loại việc làm
Có nhiều cách nhìn nhận và phân loại việc làm, nhưng cơ bản là đứngtrên góc độ chủ thể hoạt động của việc làm là người lao động Những hoạtđộng của người lao động thể hiện hình thức, tính chất, đặc điểm, yêu cầu và
cả xu hướng của việc làm Việc làm vì thế có thể phân loại theo chủ thể hoạtđộng là người lao động và chủ thể tạo ra việc làm trong nền kinh tế
Người có việc làm, theo ILO: “người có việc làm là những người đang
Trang 23làm một việc gì đó được trả tiền công hoặc những người tham gia vào cáchoạt động mang tính chất tự thoả mãn lợi ích thay thế thu nhập của gia đình”.
Theo Tổng cục Thống kê: “người có việc làm là những người đang làmviệc trong thời gian quan sát và những người trước đó có việc làm nhưng hiệnđang nghỉ tạm thời vì các lý do như ốm đau, đình công, nghỉ hè, lễ, trong thờigian sắp xếp lại sản xuất, do thời tiết xấu, do máy móc hư hỏng…”
Người có việc làm là người đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong cácngành kinh tế quốc dân mà trong tuần lễ liền kề, trước thời điểm điều tra (gọitắt là tuần lễ tham khảo) có thời gian làm việc không ít hơn mức chuẩn quyđịnh (trường hợp của Việt Nam, mức chuẩn này là 8 giờ) đối với người đượccoi là có việc làm Người có việc làm có thể chia thành 2 nhóm là người đủviệc làm và người thiếu việc làm
- Người đủ việc làm là người có số giờ làm việc trong tuần lễ tham
khảo lớn hơn hoặc bằng 36 giờ; hoặc những người có số giờ làm việc nhỏ hơn
36 giờ nhưng bằng hoặc lớn hơn giờ chế độ qui định đối với các công việcnặng nhọc, độc hại
- Người thiếu việc làm là người có số giờ làm việc trong tuần lễ tham
khảo dưới 36 giờ; hoặc ít hơn giờ theo chế độ qui định đối với các công việcnặng nhọc, độc hại mà vẫn có nhu cầu làm đủ giờ
Theo hoạt động của mỗi cá thể người lao động, việc làm có thể chia ra thành các hình thức sau:
- Việc làm chính: là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian
nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với các công việc khác Như vậy, những hoạtđộng lao động của con người mang lại nguồn thu nhập chính cho bản thân và giađình họ thì đó là việc làm chính Hiện nay, các hoạt động lao động được coi làviệc làm chính, ví dụ những người lao động làm việc trong các doanh nghiệp,các cơ quan đơn vị bởi vì thời gian và nguồn thu nhập của họ lại chiếm cao hơn
Trang 24so với các công việc làm thêm ngoài giờ của họ Mặc dù hiện nay, vấn đề làmthêm giờ hoặc làm ở nhà do có cửa hàng của gia đình nhưng số thời gian mà
họ làm việc trong một ngày vẫn chiếm tỉ lệ cao tại các doanh nghiệp, cơ quan.Mặt khác, những hộ gia đình có cơ sở sản xuất kinh doanh dựa vào nguồn sẵn
có của mình để mở một cửa hiệu mà nguồn thu nhập lại phụ thuộc rất lớn vàocửa hiệu thì khi đó, công việc mà họ làm tại cửa hàng đó cũng được coi làviệc làm chính
- Việc làm phụ là việc làm thêm theo nhu cầu hoặc mong muốn của
người lao động để kiếm thêm thu nhập ở một công sở khác hoặc là ngay tạichính nơi mình đang làm việc Việc làm phụ được xếp vào nhóm những côngviệc kiêm nhiệm cả ở những công sở khác và cả ở nơi đang làm việc; nhữngcông việc dịch vụ vào những lúc nhàn rỗi; buôn bán lặt vặt Trong số nhiềuhình thức việc làm khác nhau thì việc làm phụ chiếm một vị trí đặc biệt Nógắn với đặc thù bản chất việc làm và với tác động mà nó ảnh hưởng tới hoạtđộng của thị trường lao động Việc làm phụ là hình thức sử dụng lực lượng laođộng bổ sung vào hoạt động lao động, hay nói cụ thể là việc làm có thu nhậpthêm ở doanh nghiệp (công sở) khác hoặc là ngay tại nơi đang làm việc, màđang được sử dụng rộng rãi trên thế giới, trong đó có Việt Nam
Việc làm thêm là nhu cầu chính đáng của người lao động để tăng thunhập trong điều kiện mức sống còn thấp như ở Việt Nam, đồng thời còn làmong muốn thể hiện khả năng cạnh tranh của chính bản thân người lao độngtrên thị trường lao động và cũng là một “cầu nối đặc biệt” đảm bảo thay thếchỗ làm việc mới trong tương lai mà không phải trải qua thời kỳ thất nghiệp.Hiện nay, việc làm thêm ở một số ngành (như giáo dục, y tế), sự khác biệt quálớn giữa tiền lương và thu nhập của một bộ phận công chức dưới danh nghĩaviệc làm thêm của khu vực nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay lạiảnh hưởng rất tiêu cực đến tình hình kinh tế - xã hội nói chung và sự phát
Trang 25triển đồng bộ thị trường lao động nói riêng.
Cùng với chính sách mới cho người lao động được tự do lựa chọn côngviệc và nghề nghiệp thì việc làm phụ là một biểu hiện hợp lý Tuy nhiên, ở ViệtNam, biểu hiện này về cơ bản nó gắn với những xuất hiện tiêu cực như: việc làmkhông đầy đủ, thu nhập của người lao động thấp, tăng trưởng kinh tế chưa bềnvững Xét từ góc độ này thì phát triển việc làm phụ rộng rãi chỉ là biểu hiện tạmthời và nó sẽ giảm khi nền kinh tế - xã hội của đất nước phát triển ổn định
- Việc làm không trọn ngày hay việc làm dở dang có đặc điểm công việc
trong chế độ thời gian làm việc không trọn ngày làm việc hoặc tuần làm việckhông đầy đủ, nghỉ phép bắt buộc không hưởng lương theo chủ động của lãnhđạo công sở (doanh nghiệp), có thể được ấn định từ phía công ty, người thuêlao động và thậm chí có thể từ sự thoả thuận đồng ý của người lao động, đó làviệc làm không trọn ngày tự nguyện Hình thức này được sử dụng rộng rãi ởcác nước có nền kinh tế thị trường phát triển
Đối với người lao động, việc làm không trọn ngày hoàn toàn có thể chấpnhận được trong hàng loạt các trường hợp: phụ nữ có con nhỏ, những laođộng lớn tuổi, những người tàn tật, thanh niên vừa đi học, vừa đi làm đều cólợi thế với loại hình việc làm này
- Việc làm độc lập: là công việc độc lập theo chủ động cá nhân không
thu nhận lao động làm thuê khi sản xuất những hàng hoá tiêu dùng và các dịch
vụ khác nhau Đồng thời người lao động làm chủ những phương tiện sản xuấtnhất định và tự tổ chức công việc cho mình Trong giới hạn nhất định, việclàm độc lập là tình thế phải chọn của người lao động thất nghiệp (có thể dodoanh nghiệp không đủ năng lực đảm bảo khả năng với mức lương đầy đủ)nhưng điều đó không thể phủ nhận vai trò tích cực chủ động của nó
- Việc làm tổng thể: là việc làm trong tất cả các lĩnh vực hoạt động lao
động, cả trong nền kinh tế của đất nước, cả trong các hệ thống giáo dục và
Trang 26đào tạo chuyên nghiệp, trong dịch vụ quốc phòng, kinh tế gia đình, trong các công sở, tôn giáo và trong cả trong các dạng khác hoạt động công ích xã hội.
- Việc làm linh hoạt (thời gian linh hoạt): là việc làm tồn tại dưới nhiều
dạng, hình thức phổ biến là khi người lao động thoả thuận với người sử dụnglao động có thể tự lựa chọn thời gian bắt đầu và kết thức công việc, đồng thờibắt buộc người lao động phải tuân theo chế độ ngày làm việc hoặc quỹ thờigian theo tuần (tháng) đã quy định
- Việc làm tạm thời: là những công việc theo hợp đồng hoặc là công việc
khoán Các công ty quan tâm tới loại hình công việc này vì họ có thể tự dothay đổi số lượng lao động làm thuê, giảm chi phí cho nhân viên bằng cách trảlương tạm thời thấp hơn cho người đang làm việc, thay thế linh hoạt nhữngngười thường xuyên vắng mặt vì lý do nào đó, tăng nhanh chóng số người làmviệc Việc làm tạm thời được sử dụng rộng rãi trong các ngành thương mại,dịch vụ và xây dựng
- Việc làm theo thời vụ: là loại hình việc làm gắn với những công việc
theo thời vụ trong nông nghiệp, xây dựng, khai thác rừng, ở các khu nghỉ mát,trong các ngành mía đường, đánh bắt hải sản và nhiều ngành khác với côngviệc không đều trong năm Với loại hình này phần thời gian còn lại đáng kểtrong năm người lao động không có việc làm Về bản chất nó là biến thể củaviệc làm tạm thời, nhưng có điểm khác ở chỗ là việc làm thời vụ có thể lặp lạihàng năm ở chỗ này hay chỗ khác
-Việc làm không tiêu chuẩn hoá: là loại việc làm bao gồm rất nhiều hình
thức, một trong số đó là làm việc tại nhà, khi người lao động nhận nguyên vậtliệu, máy móc, công cụ từ công ty rồi thường kỳ trao trả thành phẩm hoặc bánthành phẩm Không ít người quan tâm tới loại hình công việc này, bởi vì chính
họ tự xác định được thời gian, khối lượng công việc và có thể kết hợp với việckhác như: chăm sóc con cái, vừa làm, vừa học thêm, làm các việc lặt vặt
Trang 27trong gia đình Mặt khác, công ty lại giảm được diện tích sản xuất, tiết kiệmchi phí lương mà những người làm ở nhà thường được nhận ít hơn nhữngngười làm chính.
Hình thức quan trọng của việc làm không theo tiêu chuẩn hoá là những công việc xã hội, được tổ chức bởi các dịch vụ việc làm và chính quyền địa phương dành riêng cho những người thất nghiệp Đó là những công việc tạm thời ít cần đến chuyên môn như: thu dọn địa hạt, tham gia vào xây dựng đường giao thông
- Việc làm năng suất có nghĩa là việc làm tạo ra những phúc lợi và dịch
vụ hữu ích cả cho xã hội và cả cho từng người lao động
- Việc làm hiệu quả là việc làm trong sản xuất sinh lợi nhuận được trang
bị kỹ thuật với tổ chức lao động tiên tiến, năng suất lao động cao và đảm bảochất lượng sản phẩm Nó dự đoán sự hiện có những cán bộ và đội ngũ nhữngnhà quản lý có trình độ chuyên nghiệp cao và hướng tới công việc có hiệuquả Khái niệm việc làm hiệu quả này thường hướng vào sự phát triển toàndiện con người và hoàn toàn chấp nhận được, nhưng nó khá rộng và không cókhả năng đo được bằng một chỉ tiêu Tuy nhiên có thể đưa ra tính chất địnhlượng để đánh giá qua hệ thống chỉ tiêu như:
+ Mức độ việc làm của cư dân bằng lao động chuyên nghiệp trên tổngdân số, thể hiện dưới dạng phần trăm (gọi là hệ số việc làm) Hệ số này chothấy sự phụ thuộc mức độ việc làm vào yếu tố nhân khẩu, có nghĩa là hệ sốsinh, chết và tốc độ tăng trưởng dân số, được tính toán trên các con số thống
kê, hệ số đó là một trong những con số biểu hiện sự phồn vinh của xã hội.+ Mức độ việc làm của dân số có khả năng lao động trong nền kinh tế -
xã hội Về quan điểm kinh tế học, mức độ việc làm của dân số có khả nănglao động thể hiện, một mặt là đòi hỏi của kinh tế-xã hội đối với người laođộng, mặt khác là đòi hỏi của người lao động về chỗ làm việc Nó được tínhtheo hệ số phần trăm giữa tổng số dân cư đang hoạt động chuyên nghiệp với
Trang 28số lượng toàn bộ dân số có khả năng lao động (nguồn nhân lực).
+ Tỷ lệ phân chia nguồn lao động xã hội theo lĩnh vực công ích xã hội.Khi tính được hệ số việc làm bằng lao động chuyên nghiệp ta có thể xác địnhđược hệ số việc làm bởi việc học hành cũng như các dạng hoạt động công ích
xã hội khác Điều đó cho phép làm rõ những tỉ lệ cần thiết
+ Cấu trúc phân bố người lao động hợp lý theo ngành và theo khu vựckinh tế Chỉ tiêu này, thường được gọi là chỉ tiêu hợp lý, tỉ lệ phân chia tiềmnăng lao động theo dạng việc làm, ngành, khu vực kinh tế
+ Chỉ tiêu gắn với việc tối ưu hoá cấu trúc chuyên môn nghề nghiệp củangười lao động, cho phép làm rõ ràng sự phù hợp cấu trúc chuyên môn nghiệp
vụ của dân số lao động với cấu trúc chỗ làm việc, đồng thời cũng xác định hệthống đào tạo cán bộ là phù hợp với đòi hỏi của nền kinh tế
Về hiệu quả việc làm có thể theo chỉ tiêu định mức thất nghiệp Hiệnnay, ở phương Tây, việc làm đầy đủ và có hiệu quả đạt được khi có sẵn địnhmức thất nghiệp tự nhiên Định mức thất nghiệp tự nhiên là mức độ của nó màkiềm chế mức lương thực tế và giá cả không thay đổi với mức tăng trưởngnăng suất lao động bằng không Trong thực tế định mức thất nghiệp được tínhbằng cách tính tổng thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cấu trúc Phương phápđơn giản nhất để tính định mức thất nghiệp tự nhiên là tính theo mức độ của
nó trong điều kiện lạm phát ở mức vừa phải Vì vậy, không nên đánh giá việclàm đầy đủ và có hiệu quả chỉ theo một phương pháp, mà để nhận được thôngtin chính xác thì nên sử dụng hệ thống các chỉ tiêu đã nêu trên
- Việc làm hợp lý: là sự thoả mãn nhu cầu làm việc cho bất cứ ai có khả
năng lao động trong nền kinh tế quốc dân và phù hợp với trình độ, nguyệnvọng của họ
Việc làm hợp lý không những hàm chứa nội dung việc làm đầy đủ màcòn nói rõ việc làm đó phải phù hợp với khả năng và nguyện vọng của người
Trang 29lao động Việc làm hợp lý, do vậy có năng suất lao động và hiệu quả kinh
tế-xã hội cao hơn so với việc làm đầy đủ Trong quá trình thực hiện việc làm đầy
đủ, cần từng bước, từng bộ phận thực hiện việc làm hợp lý Việc làm hợp lýphản ánh sự phù hợp về mặt số lượng và chất lượng của các yếu tố con ngườivới điều kiện vật chất của sản xuất và xã hội, hợp lý giữa lợi ích cá nhânngười lao động với lợi ích của xã hội Việc làm hợp lý dự đoán sự phân chiamột cách tối ưu người đang làm việc theo các ngành sản xuất và các khu vựclãnh thổ của đất nước với mục đích sản xuất ra những sản phẩm và sử dụngnhững dịch vụ phục vụ cho nhu cầu
Khái niệm việc làm đầy đủ và việc làm hợp lý cũng chỉ mang ý nghĩatương đối Vì trong nền kinh tế thị trường có điều tiết thì việc làm đầy đủ vàviệc làm hợp lý không có nghĩa là không có người thất nghiệp Mục tiêu phấnđấu của chúng ta là việc làm, tiến tới việc làm đầy đủ, việc làm hợp lý và tự
do lựa chọn việc làm
Việc làm cũng có thể phân loại theo nhiều hình thức như làm công ănlương, tự tạo việc làm Ở nước ta, thống kê lao động có việc làm phân rathành 5 nhóm: việc làm được trả công khu vực công và khu vực tư nhân(người đang làm việc và người học tự tạo việc làm cho mình); những ngườilàm việc trong gia đình không được trả công; những người tham gia sản xuấtcho tiêu dùng của bản thân
1.1.3 Khái niệm tạo việc làm
Theo khái niệm việc làm nêu ở phần trên, việc làm là phạm trù để chỉtrạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệusản xuất, công nghệ ) để sử dụng sức lao động đó Rõ ràng tạo được việc làmcho người lao động hoặc tạo nhiều việc làm luôn gắn với quá trình phát triểnkinh tế xã hội, phát huy sức mạnh tiềm năng của con người, phát huy trí tuệngười lao động để tạo ra nhiều của cải cho xã hội Chính vì vậy, Văn kiện
Trang 30Đại hội X của Đảng đã nêu rõ “Tạo việc làm là yếu tố quyết định để phát huynhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đápứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân” Vấn đề tạoviệc làm cho người lao động là cần thiết, không những mang tầm quốc gia màvượt ra bên ngoài khu vực và thế giới.
Theo Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của Khoa Kinh tế và quản lý
nguồn nhân lực – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội thì: “Tạo việc
làm là quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất, số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động, đem lại thu nhập cho người lao động”
Tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm việc đểtạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng hoá
và dịch vụ theo yêu cầu thị trường
Thực chất của tạo việc làm cho người lao động là tạo ra trạng thái phùhợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất gồm cả về chất lượng và số lượng.Môi trường cho sự kết hợp giữa các yếu tố này là hết sức quan trọng, nó baogồm các chính sách, điều kiện khuyến khích người lao động cũng như người
sử dụng lao động trong công việc Thị trường lao động chỉ có thể được hìnhthành khi người lao động với người sử dụng lao động gặp gỡ trao đổi đi đếnnhất trí vấn đề sử dụng sức lao động, do vậy vấn đề tạo việc làm phải đượcnhìn nhận ở cả người lao động và người sử dụng lao động, đồng thời khôngthể không kể đến vai trò của Nhà nước
Người sử dụng lao động là người chủ yếu tạo ra chỗ làm việc cho ngườilao động, bao gồm các doanh nghiệp có vốn trong và ngoài nước Để có quan
hệ lao động thì giữa người lao động và người sử dụng lao động phải có nhữngđiều kiện nhất định, đó là người sử dụng lao động cần có vốn, công nghệ, kinhnghiệm và thị trường lao động Người lao động phải luôn
Trang 31học hỏi, trau dồi kiến thức để đáp ứng yêu cầu công việc, có việc làm ổn định
và được trả công
Tạo việc làm cho thanh niên tức là tạo ra số lượng và chất lượng việclàm cho thanh niên, kết nối và làm cho mối quan hệ cung cầu công việc gầnnhau hơn, làm cho người lao động tìm được việc làm phù hợp với năng lực vànhà tuyển dụng tuyển được lao động đáp ứng yêu cầu vị trí công việc
1.1.4 Ý nghĩa của tạo việc làm cho thanh niên
Thanh niên có vai trò to lớn trong xã hội, để đảm bảo sự phát triển bềnvững của đát nước thì vấn đề giải quyết cho thanh niên là một điều tất yếu vàcần thiết Tạo việc làm cho người lao động nói chung và thanh niên nói riêng
có hiệu quả sẽ sử dụng được tối đa lực lượng lao động vào sự nghiệp pháttriển kinh tế - xã hội, phát huy được tiềm năng của lực lượng thanh niên
Trước hết, tạo việc làm cho thanh niên là tạo cơ hội cho thanh niên thamgia hoạt động kinh tế, kết nối họ vào các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, tạo khảnăng cho họ nhận được những khoản thu nhập thiết yếu để tái sản xuất sức laođộng của chính bản thân mình, cũng như nuôi sống gia mình Tạo nhiều việclàm tạo điều kiện cho thanh niên dễ dàng lựa chọn công việc phù hợp, tạonăng suất cao hơn và có cơ hội nhận được thu nhập cao hơn
Thông qua tạo việc làm cho thanh niên, các doanh nghiệp, công ty,người sử dụng lao động được lựa chọn sức lao động trẻ cần thiết theo khốilượng và chất lượng đòi hỏi của doanh nghiệp Nhưng không phải lúc nàocũng sẵn có lực lượng thanh niên cần thiết trong một khu vực, chính vì vậynhờ việc giải quyết việc làm sẽ cung cấp đầy đủ các thông tin về ngành nghề,nơi nào đang dư thừa lao động thanh niên và nơi nào thì khan hiếm lao độngtrẻ, cũng như việc thanh niên cần phải trang bị những kiến thức và kỹ năngnghề nghiệp gì để có thể kiếm được việc làm
Tạo việc làm cho thanh niên có quy hoạch, kế hoạch sẽ giúp cho cả cho
Trang 32người sử dụng lao động trẻ cũng như bản thân thanh niên có những kế hoạchhoạt động trong tương lai của họ Trong thực tế, những năm vừa qua đã chochúng ta thấy rằng, lao động trẻ có tay nghề cao, có óc sáng tạo, năng động,biết thích ứng nhanh với môi trường mới thì sẽ không bao giờ thiếu việc làm.Mặt khác, tạo việc làm cho thanh niên sẽ tạo ra môi trường làm việc thuận lợi,thể hiện sự quan tâm nhất định về thoả mãn cần thiết và đảm bảo quan hệ qualại trong tập thể lao động , cũng như giữa chủ doanh nghiệp với lao động trẻ.Tạo việc làm cho thanh niên còn đảm bảo việc phân chia, sắp xếp lại laođộng trẻ hoạt động kinh tế thường xuyên trong trường hợp cải cách, sắp xếplại các doanh nghiệp Bên cạnh đó, cũng cho phép thành lập nhiều doanhnghiệp mới đã giải quyết nhiều chỗ việc làm mới cho lao động trẻ Tỷ trọnglao động trẻ trong các thành phần kinh tế, các ngành nghề, các khu vực dầnthay đổi theo hướng hợp lý, thích ứng và phù hợp.
Tóm lại, tạo việc làm cho thanh niên có quy hoạch, kế hoạch hợp lý thì
sẽ có tác động tích cực đến kinh tế - xã hội nói chung và bản thân thanh niênnói riêng Nhưng, nếu không có sự sắp xếp, giải quyết hợp lý, thì giải quyếtviệc làm cho thanh niên sẽ tạo cho bản thân thanh niên tính ỷ lại, trông chờvào sự sắp xếp công việc của Nhà nước, là thói quen ăn sâu vào tiềm thức củanhiều thế hệ người Việt Nam
1.2 NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN
1.2.1 Tạo việc làm thông qua Quỹ quốc gia giải quyết việc làm
Tạo việc làm thông qua Quỹ quốc gia giải quyết việc làm đóng vai tròđặc biệt quan trọng đối với thanh niên Thông qua nguồn vốn vay này đã giảiquyết vấn đề khó khăn do thiếu vốn sản xuất, là phương tiện thúc đẩy có hiệuquả để thanh niên có điều kiện lập thân, lập nghiệp, vươn lên làm giàu hoặcvươn lên để hoà nhập vào thị trường lao động chung
Quỹ quốc gia giải quyết việc làm thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà
Trang 33nước đối với công tác xóa đói, giảm nghèo, tạo thêm nhiều việc làm mới chohàng nghìn người lao động, tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao chất lượngcuộc sống Đây vừa là chỗ dựa tinh thần, vừa là chỗ dựa trong lúc khó khăn
về đời sống cho người lao động
+ Giáo dục hướng nghiệp: đối với thanh niên là học sinh THPT, thông quacác hoạt động định hướng, tư vấn từ nhà trường và tổ chức Đoàn thanh niên để
có thông tin và hình thành những quan niệm ban đầu về nghề nghiệp, việc làm,
từ đó có định hướng lựa chọn nghề, học nghề hoặc việc làm phù hợp, tự trang bịnhững kiến thức, kỹ năng cần thiết để sau này có việc làm phù hợp
+ Chọn nghề để học: với những thông tin cụ thể về ngành nghề, yêu cầucủa thị trường lao động, hệ thống giáo dục đạo tạo và tổ chức đoàn thanh niên
sẽ đánh giá hoặc giúp thanh niên đánh giá đúng khả năng, phù hợp với nguyệnvọng cá nhân và nhu cầu của thị trường, từ đó thanh niên sẽ quyết định nghề
để học ở các cấp, các bậc học
+ Chọn nghề để làm: sau khi được đào tạo, với những kiến thức, kỹnăng được đào tạo, thanh niên có năng lực nghề nghiệp nhất định, hiểu rõ nhucầu của thị trường lao động và xét khả năng của bản thân để lựa chọn công
Trang 34việc, vị trí làm việc phù hợp với trình độ, khả năng của bản thân và gia đình.
Công tác dạy nghề và giới thiệu thanh niên tham gia học nghề có ýnghĩa lớn đối với thanh niên, giúp thanh niên có cơ hội được đào tạo, có việclàm và thu nhập ổn định Dạy nghề cho thanh niên là một khâu quan trọngtrong tạo và giải quyết việc làm cho thanh niên và cần phải được quan tâm.Phải đa dạng hóa phương thức dạy nghề phù hợp với khả năng, đặc điểm, nhucầu của thanh niên, lứa tuổi, yêu cầu nghề nghiệp, công việc Tăng cườnggiới thiệu các ngành nghề và cơ sở dạy nghề cũng nhu hỗ trợ các điều kiện vềpháp lý, kinh phí để thanh niên có cơ hội được tham gia các lớp học nghề.Cần có sự liên kết chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp để thanhniên có cơ hội có việc làm nhanh, ổn định sau khi được đào tạo nghề
Các hoạt động dịch vụ và giới thiệu việc làm là cầu nối giữa cung vàcầu lao động, trên cơ sở nắm vững thông tin về cầu lao động, hệ thống dịch vụviệc làm có nhiệm vụ tạo ra sự gặp nhau giữa cung và cầu lao động Tham giachợ việc làm định kỳ hàng tháng, hàng quý; thông tin về thị trường lao động
và các hình thức giao dịch trên thị trường lao động giúp cho người lao độngnói chung và thanh niên nói riêng có được thông tin và có sự lựa chọn nghềnghiệp thích hợp với trình độ, năng lực và sở thích của bản thân
1.2.3 Khuyến khích TN lập nghiệp, tự tạo việc làm cho bản thân
Tranh thủ các nguồn vốn của trung ương và địa phương về giải quyếtviệc làm để tạo điều kiện cho thanh niên vươn lên lập thân, lập nghiệp Bêncạnh đó, đẩy mạnh triển khai các chính sách hỗ trợ việc học nghề và tự tạoviệc làm cho các đối tượng thanh niên như bộ đội xuất ngũ, dân tộc thiểu số,
Trang 35thanh niên yếu thế Thực hiện tốt chính sách tín dụng học tập cho học sinh,sinh viên…Nâng cao hiệu quả của các mô hình hoạt động của Đoàn thanhniên như “Thanh niên giúp nhau làm kinh tế”, CLB “Thanh niên làm kinh tếgiỏi”, “Khởi sự doanh nghiệp”, “Chương trình đồng hành với thanh niên lậpthân, lập nghiệp”…tạo điều kiện cho thanh niên lập thân, lập nghiệp, vươn lênlàm giàu chính đáng.
Tiêu chí:
- Số thanh niên được khuyến khích lập nghiệp, tự tạo việc làm
- Tỷ lệ thanh niên có việc làm thông qua hoạt động khuyến khích lập nghiệp, tự tạo việc làm
1.2.4 Thực hiện hiệu quả, đồng bộ các chính sách tạo việc làm cho
TN Trong hoạt động tạo việc làm cho thanh niên yếu tố chính sách là vô cùng
quan trọng và có tính quyết định Mỗi chính sách cụ thể, thích hợp mangtính thực tiễn và kịp thời sẽ đưa ra định hướng đúng đắn, tạo ra động lực thúcđẩy mạnh mẽ cho sự phát triển ở cả bề rộng lẫn bề sâu, cả trước mắt và lâudài Trong việc tạo việc làm cho thanh niên, chính sách là một yếu tố quantrọng hành đầu, có tính xuyên suốt và rất quyết định cho sự thành công Songyếu tố chính sách lại cần rất cụ thể, rất thiết thực, phải đồng bộ và phải kịpthời Để tạo việc làm cho thanh niên, cần phải có cả một hệ thống chính sáchđược thực hiện đồng bộ
* Tạo việc làm mới cho thanh niên thông qua các chính sách phát triển kinh tế, xã hội và chính sách hỗ trợ cho thanh niên
+ Phát triển sản xuất, kinh doanh, phát triển nghề truyền thống, chuyểnđối cơ cấu kinh tế tạo việc làm cho thanh niên, tạo điều kiện vay từ Quỹ Quốcgia giải quyết việc làm Chính sách thị trường giúp cho việc sản xuất kinhdoanh của thanh niên phát triển thuận lợi như giúp quảng bá, trưng bày sảnphẩm, giới thiệu ấn phẩm, tham gia hội chợ
Trang 36+ Tạo điều kiện về thủ tục đầu tư và xây dựng, đền bù giải phóng mặtbằng, ưu đãi về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất đối với các tổchức, cá nhân có các dự án xây nhà cho thuê, bán cho thanh niên theo phươngthức trả góp với thời hạn và giá cả hợp lý
+ Tư vấn, hỗ trợ thanh niên lập nghiệp, khởi sự doanh nghiệp, đào tạo,bồi dưỡng về khởi sự doanh nghiệp, chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật,biểu dương, tôn vinh các doanh nghiệp trẻ tiêu biểu, làm kinh tế giỏi
+ Khuyến khích thanh niên đi lao động có thời hạn ở nước ngoài
+ Chính sách thuế, tín dụng ưu đãi để đào tạo bồi dưỡng doanh nhân trẻ
và khởi sự doanh nghiệp, mở rộng làng nghề, phát triển sản xuất kinh doanh;
tự tạo việc làm, xây dựng xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh thu hút thanhniên vào làm việc
+ Hướng dẫn hỗ trợ thanh niên lập dự án, Ngân hàng Chính sách Xãhội có trách nhiệm thẩm định dự án; Đoàn Thanh niên phối hợp với ngànhLĐ-TB&XH và các doanh nghiệp có chức năng xuất khẩu lao động để vậnđộng, tư vấn, hướng dẫn thanh niên vay vốn xuất khẩu, tham gia hỗ trợ ngânhàng trong quá trình thu hồi vốn vay
Tiêu chí: tổng số thanh niên được hỗ trợ tạo việc làm mới thông qua thực hiện các cơ chế phát triển kinh tế, xã hội, hoạt động xuất khẩu lao động
* Hỗ trợ kết nối thanh niên với các cơ sở sử dụng lao động
Hình thành các Trung tâm giới thiệu, xúc tiến việc làm cho thanh niên Hướng dẫn, định hướng các Trung tâm này trong việc:
+ Thu thập, phân tích và cung ứng thông tin về thị trường lao động,bao gồm: nhu cầu tuyển lao động, tiêu chuẩn lao động, nhu cầu cần việc làm,tiền lương, tiền công trên địa bàn quận Thanh Khê và thành phố Đà Nẵng chothanh niên
+ Tư vấn về việc làm, học nghề, chính sách có liên quan đến quan hệ
Trang 37lao động cho thanh niên
+ Tổ chức các chương trình kết nối giữa nhà trường với doanh nghiệp
để giới thiệu việc làm cho thanh niên; cung ứng và tuyển dụng lao động trẻtheo yêu cầu của doanh nghiệp
+ Cung ứng các dịch vụ lao động là thanh niên cho các văn phòng đạidiện, tổ chức, cá nhân nước ngoài theo quy định của pháp luật và định hướngcủa quận cũng như thành phố Cung cấp các thông tin cần biết cho thanh niênmuốn đi lao động ở nước ngoài cũng như thanh niên của thành phố, của quậnđang lao động tại nước ngoài
+ Thực hiện tư vấn quan hệ lao động, tuyên truyền phổ biến pháp luật lao động, tư vấn pháp luật cho thanh niên và người sử dụng lao động
+ Tổ chức dạy nghề và liên kết dạy nghề cho thanh niên
+ Tham mưu, đề xuất với Thành phố để nhận được sự quan tâm, tạođiều kiện về kinh phí để tổ chức các hội chợ việc làm tạo điều kiện cho thanhniên có nhiều cơ hội gặp gỡ với người sử dụng lao động Đảm bảo việc tiếpcận hàng ngày của thanh niên với thông tin về việc làm Liên kết giữa côngtác giới thiệu việc làm - bảo hiểm thất nghiệp và hội chợ việc làm đảm bảocập nhật thông tin hàng ngày về thị trường lao động cho thanh niên Chínhquyền thành phố và quận nên tạo điều kiện để xã hội hoá hội chợ việc làm,hợp đồng với các tổ chức, cá nhân có đủ năng lực để tổ chức Chợ việc làm
+ Định hướng các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài,internet về việc giới thiệu việc làm, kết nối giữa thành niên với những nhàtuyển dụng Hỗ trợ tư vấn trực tuyến qua các phương tiện này vào thời giannhất định (hàng tháng), để doanh nghiệp có thể tuyển dụng ở nhiều vị trí vìcông việc, thanh niên có thêm nhiều cơ hội việc làm nếu không có điều kiệnđến trực tiếp
Tiêu chí: tổng số thanh niên được hỗ trợ kết nối với các cơ sở sử dụng
Trang 38lao động.
* Hỗ trợ nâng cao chất lượng lao động thanh niên
+ Hỗ trợ trong việc đào tạo, hướng nghiệp, dạy nghề, đặc biệt là đối vớinhưng thanh niên có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông và trung học cơsở; tạo điều kiện cho thanh niên có cơ hội lựa chọn các ngành, nghề đào tạo 2-
3 năm hoặc những khoá ngắn hạn để nâng cao trình độ
+ Hỗ trợ để chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tổ chức sản xuất kinh doanh cho thanh niên
+Tập trung dạy nghề cho thanh niên, bộ đội xuất ngũ Khuyến khích đàotạo nghề tại doanh nghiệp, cơ sở sản xuất như có chế độ ưu đãi đối với doanhnghiệp đã tạo điều kiện để người lao động được nâng cao trình độ tay nghề
+ Chú trọng giáo dục ý thức kỷ luật, kỹ năng lao động, tay nghề chothanh niên đi lao động có thời hạn ở nước ngoài; đồng thời có biện pháp quản
lý, giáo dục, giúp đỡ họ
+ Bảo đảm cơ cấu hợp lý trong đào tạo công nhân kỹ thuật, trung cấpchuyên nghiệp, cao đẳng, đại học Có chính sách khen thưởng, sử dụng và đãingộ hợp lý để thu hút tài năng trẻ cống hiến cho sự phát triển chung của quận
và thành phố
Tiêu chí: tổng số thanh niên được hỗ trợ nâng cao chất lượng lao động
* Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng dịch vụ thị trường lao động
+ Thúc đẩy hoàn thiện thể chế thị trường lao động, tạo hành lang pháp
lý phù hợp, đảm bảo đối xử bình đẳng giữa người sử dụng lao động và ngườilao động
+ Phát triển sản xuất kinh doanh, nhất là những ngành, lĩnh vực có khảnăng thu hút nhiều lao động trẻ như: phát triển ngành thương mại, dịch vụ,phát triển mạnh khu vực dân doanh, phát triển kinh tế trang trại, hợp tác xã,khôi phục và phát triển các làng nghề tiểu thủ công, mỹ nghệ sản xuất sảnphẩm cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Trang 39+ Phát triển mạnh hệ thống dạy nghề với đa cấp trình độ, chuyển từ dạynghề trình độ thấp sang trình độ cao, mở rộng và nâng cấp hệ thống dạy nghềcho người lao động ở 3 cấp trình độ (sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳngnghề) và liên thông giữa các cấp trình độ; đào tạo theo định hướng gắn vớicầu lao động, quy hoạch hệ thống các trường dạy nghề, trung tâm dạy nghề
+ Hoàn thiện hệ thống giao dịch của thị trường lao động ở quận vàthành phố: đầu tư nâng cao năng lực hoạt động cho các Trung tâm giới thiệuviệc làm; xây dựng cơ sở dữ liệu lao động-việc làm; điều tra thực trạng việclàm và thất nghiệp đồng thời đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cho độingũ cán bộ làm công tác lao động - việc làm, cho cán bộ các Trung tâm giớithiệu việc làm
+ Mở rộng và phát triển thị trường lao động ngoài nước: mở rộng thịtrường xuất khẩu lao động sang các khu vực, các nước phù hợp với lao độngViệt Nam; ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về xuất khẩu lao động,tập trung đào tạo nghề cho xuất khẩu lao động, nâng cao tay nghề, ngoại ngữ,
ý thức chấp hành pháp luật, tác phong công nghiệp cho thanh niên
Tiêu chí: số lao động thanh niên được tạo việc làm thông qua thông quaviệc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng dịch vụ thị trường lao động
1.3 CÁC NHÂN TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN
1.3.1 Thanh niên và đặc điểm của thanh niên ảnh hướng đến tạo việc làm cho thanh niên
a Quan điểm về thanh niên và lực lượng lao động thanh niên
Theo N O’Higgins, thanh niên là lứa tuổi đang trong thời gian chuyểntiếp giữa thời thiếu niên và trưởng thành [8] Tuy nhiên, theo cơ cấu lứa tuổicủa dân số các nước trên thế giới có những quy định khác nhau về độ tuổithanh niên, thông thường từ 15 đến 24, 25, 29 hoặc 34 tuổi Theo Liên HợpQuốc lứa tuổi 15-34 là thuộc cơ cấu lao động trẻ, thanh niên thường tính trong
Trang 40độ tuổi 15-24 hàm ý ở độ tuổi này thanh niên gồm những người rời ghế nhàtrường sớm nhất từ 15 tuổi (kết thúc THCS khi 15 tuổi) và kết thúc việc đàotạo nghề nghiệp ở cấp ĐH lúc 24 tuổi Nhưng các nước trên thế giới cũng cónhững quy định khác nhau về độ tuổi thanh niên, thường thì từ 15 đến 24, 25,
29 tuổi, 18 đến 24 tuổi, có nước như Trung Quốc quy định tuổi trần của thanhniên là 29 tuổi hoặc 35 tuổi (Bangladesh), thậm chí đến 40 tuổi (Malaysia).Theo Điều 1, Luật Thanh niên Việt Nam (2005) thì: “Thanh niên quy địnhtrong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi”
Tuy nhiên, để đảm bảo cho việc phân tích được thống nhất, chính xác,phù hợp với các nhóm lứa tuổi theo quy định trong thống kê, điều tra hằngnăm tại Đà Nẵng, trong phạm vi đề tài này, thanh niên được hiểu là công dânViệt Nam trong độ tuổi từ đủ 15 tuổi đến 29 tuổi, có thể chia thành các nhóm:
- Nhóm sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở hoặc trung học phổ thôngkhông có điều kiện học lên, tham gia ngay vào thị trường lao động Đó là laođộng phổ thông, chưa có nghề;
- Nhóm sau khi tốt nghiệp các trường CĐ, ĐH, dạy nghề sẵn sàng tham gia vào thị trường lao động Đó là lao động có chuyên môn kỹ thuật (có nghề);
- Nhóm bị mất việc làm hoặc thất nghiệp đang có nhu cầu việc làm, sẵn sàng tham gia hoặc trở lại thị trường lao động
b Những đặc điểm của thanh niên ảnh hưởng đến tạo việc làm cho thanh niên
Thanh niên là lực lượng lao động trẻ có tiềm năng rất lớn Tiềm năng laođộng thanh niên thể hiện ở thể chất, trí tuệ và tinh thần của từng cá nhân vàcộng đồng thanh niên đang độ sung sức và phát triển nhanh Tiềm năng đóphụ thuộc vào các nhân tố bên trong và bên ngoài rất đa dạng, tác động qua lạiđan xen nhau, có thể mô tả bằng hình như sau: