1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) Bảo đảm quyền con người của bị cáo dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

92 107 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo đảm quyền con người của bị cáo dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà NẵngBảo đảm quyền con người của bị cáo dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà NẵngBảo đảm quyền con người của bị cáo dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà NẵngBảo đảm quyền con người của bị cáo dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà NẵngBảo đảm quyền con người của bị cáo dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà NẵngBảo đảm quyền con người của bị cáo dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà NẵngBảo đảm quyền con người của bị cáo dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà NẵngBảo đảm quyền con người của bị cáo dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà NẵngBảo đảm quyền con người của bị cáo dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà NẵngBảo đảm quyền con người của bị cáo dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà NẵngBảo đảm quyền con người của bị cáo dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà NẵngBảo đảm quyền con người của bị cáo dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN LÊ MINH HIẾU

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA BỊ CÁO DƯỚI 18 TUỔI THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN LÊ MINH HIẾU

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA BỊ CÁO DƯỚI 18 TUỔI THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số : 838.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS ĐINH THỊ MAI

HÀ NỘI, năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong Luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Lê Minh Hiếu

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA BỊ CÁO LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI 8

1.1 Những khái niệm liên quan đến bảo đảm quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi 8 1.2 Nội dung bảo đảm quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 17 1.3 Các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền của bị cáo là người dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 23

Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA BỊ CÁO

LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 27

2.1 Thực trạng quy định về bảo đảm quyền con người của bị cáo là người dưới 18

tuổi theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam 27 2.2 Thực trạng bảo đảm quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 39 2.3 Thực trạng các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 43 2.4 Những kết quả, vi phạm, sai lầm và nguyên nhân 47

Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA BỊ CÁO

LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI 57

3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự và tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi 57 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi 72 3.3 Một số giải pháp khác 79

KẾT LUẬN 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS : Bộ luật hình sự

BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự

TTHS : Tố tụng hình sự

CQĐT : Cơ quan điều tra

VKS/VKSND : Viện kiếm sát nhân dân

TA/TAND : Tòa án nhân dân

QCN : Quyền con người

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quyền con người là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử xã hội loài người, là một trong những giá trị tinh thần quý báu và cao cả nhất của nền văn minh nhân loại trong thời đại hiện nay Bảo đảm quyền con người là một trong những nội dung và cũng là mục đích của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta Quyền con người bao gồm những quyền không thể tước bỏ, do đó, bảo vệ quyền con người chính là những bảo đảm pháp lý toàn cầu, có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến quyền con người Ở Việt Nam, bảo vệ quyền con người đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm, chú trọng Điều này được thể hiện ở thành quả về xây dựng lý luận về bảo vệ quyền con người cũng như thực tiễn bảo đảm quyền con người

Hoạt động tố tụng hình sự liên quan chặt chẽ đến quyền con người Hoạt động tố tụng hình sự là nơi các biện pháp cưỡng chế Nhà nước được áp dụng phổ biến nhất; và vì vậy là nơi quyền con người của các chủ thể tố tụng, đặc biệt, quyền của bị cáo dưới 18 tuổi dễ bị lạm dụng, vi phạm Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử trong những năm qua cho thấy rằng cũng có nhiều trường hợp vi phạm quyền con người đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi trong quá trình tiến hành tố tụng Những vi phạm đó xảy ra do nhiều nguyên nhân, trong đó có bất cập, hạn chế của pháp luật, cơ chế, nhận thức, thái độ của người tiến hành tố tụng, các quy định về chế độ trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng đối với công dân… Có thể nói, vấn đề bảo đảm quyền con người đang là yêu cầu cấp thiết trên cả phương diện lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn Do đó, để góp phần bảo đảm hơn nữa về quyền con người nói chung và bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự đối với bị

cáo là người dưới 18 tuổi nói riêng, tác giả chọn đề tài: "Bảo đảm quyền con

người của bị cáo dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng" làm đề tài luận văn Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá

toàn diện các quy định về bảo đảm quyền con người đối với bị cáo là người

Trang 7

dưới 18 tuổi và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, tác giả đưa

ra một số phương hướng để hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của bị cáo

là người dưới 18 tuổi và một số giải pháp để thực thi một cách hiệu quả bảo đảm quyền này trong thực tiễn với mong muốn có những đóng góp không chỉ cho việc bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích chính đáng của bị cáo là người dưới

18 tuổi mà còn thực hiện thắng lợi công cuộc cải cách tư pháp, góp phần xây dựng thành công nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong khoa học pháp lý nước ta cũng như quốc tế, vấn đề bảo đảm quyền con người nói chung, quyền con người trong hoạt động tư pháp cũng như quyền con người trong tố tụng hình sự đã được nhiều tác giả nghiên cứu từ các góc độ và với các mức độ khác nhau

+ Từ góc độ nghiên cứu về bảo đảm quyền con người nói chung trong Nhà nước pháp quyền có các khái niệm và các đặc điểm Nhà nước pháp quyền nói chung, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói riêng; nghiên cứu về mối quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân; nghiên cứu vấn đề bảo đảm quyền con người từ góc độ triết học, xã hội học hoặc lí luận chung về Nhà nước và pháp luật Tuy có cách nhìn không hoàn toàn giống nhau và nghiên cứu ở các mức độ khác nhau nhưng các khái niệm và đặc điểm đều đưa ra các

cơ chế bảo đảm quyền con người trong Nhà nước pháp quyền

+ Từ góc độ pháp luật chuyên ngành, cũng đã có nhiều công trình về việc bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp nói chung, kể cả hình sự, dân

sự Một số công trình nghiên cứu vấn đề từ góc độ tư pháp hình sự, bao gồm cả luật hình sự và luật tố tụng hình sự Số công trình khác thì nghiên cứu từ góc độ

tố tụng hình sự Phạm vi nghiên cứu chủ yếu xuất phát từ phân tích quyền và nghĩa vụ tố tụng của người tham gia tố tụng mà chưa đi sâu nghiên cứu các chế định liên quan khác nhau như các nguyên tắc tố tụng hình sự, các thủ tục tố tụng hình sự, các biện pháp cưỡng chế tố tụng liên quan đến quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi…

+ Trên thế giới cũng có một số tác giả nghiên cứu về quyền con người của

Trang 8

bị cáo là người dưới 18 tuổi Có thể kể đến các công trình sau: Human rights:

Judicial system (Bảo đảm quyền con người trong hệ thống tư pháp của Saudi

Arabia), 2000 [31]; "The guarantee for accused persons under Article 6 of the

European Convention on Human Rights" (Bảo đảm quyền con người của bị

cáo của Stephanos Stavros), Nhà xuất bản Martinas Ni, 1992 [52] Như vậy,

đã có một số công trình nghiên cứu cơ bản về bảo đảm quyền con người

Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào mang tính toàn diện, hệ thống và đồng bộ về vấn đề bảo đảm quyền con người, nhất là của bị cáo là người dưới 18 tuổi

Do vậy, việc nghiên cứu đề tài "Bảo đảm quyền con người của bị cáo

dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố

Đà Nẵng" là cần thiết về cả lí luận và thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Mục đích tổng quan: Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lí luận và thực tiễn

về bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự đối với bị cáo là người dưới

18 tuổi theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Luận văn giải quyết toàn diện, đầy đủ sâu sắc và có hệ thống những vấn đề lý luận về quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự; thông qua việc phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn hoạt động tố tụng hình sự liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi và đề ra các giải pháp nhằm làm sáng tỏ những vướng mắc hạn chế, đưa ra được những giải pháp nâng cao hiệu quả việc bảo đảm quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự Việt Nam Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự, tố tụng hình sự; nâng cao nhận thức của các chủ thể tiến hành

tố tụng, cũng như toàn xã hội trong việc bảo vệ tốt hơn quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

- Mục tiêu cụ thể: Hướng tới việc hoàn thiện hệ thống tư pháp trong việc

bảo vệ quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi Chỉ ra những yêu cầu của việc bảo vệ quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi trong điều kiện

Trang 9

xây dựng xã hội công bằng, tất cả vì giá trị của con người Theo đó đề xuất kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật thực định trong lĩnh vực tư pháp hình sự bảo vệ quyền quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi tại Việt Nam và những giải pháp hoàn thiện hệ thống tư pháp hình sự bảo vệ quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi của Việt Nam và các thiết chế gia đình - xã hội bảo đảm khác.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể, đề tài hướng tới các

nhiệm vụ sau:

Một là, làm rõ những vấn đề lý luận của quyền con người và bảo đảm

quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi trong pháp luật quốc tế và

pháp luật Việt Nam;

Hai là, phân tích các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam và

các văn bản khác liên quan đến bảo đảm quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi; tìm ra những hạn chế và bất cập về bảo đảm quyền con người

của bị cáo là người dưới 18 tuổi;

Ba là, nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật một số nước về bảo đảm

quyền con người trong tố tụng hình sự;

Bốn là, nghiên cứu làm rõ tình hình thực tế việc bảo đảm quyền con

người trong tố tụng hình sự đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Năm là, Đánh giá thực tiễn việc bảo đảm quyền con người đối với bị

cáo dưới 18 tuổi từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Sáu là, đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả việc bảo

đảm quyền con người đối với bị cáo dưới 18 tuổi từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thứ nhất, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ quyền

con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Thứ hai, nghiên cứu về cơ chế bảo vệ quyền con người của bị cáo là người

Trang 10

dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam để từ đó tìm ra những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế để kiến nghị những giải pháp hoàn thiện luật thực định và nâng cao hiệu quả việc bảo đảm quyền con người của

bị cáo là người dưới 18 tuổi

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Tác giả nghiên cứu về quyền con người của người dưới 18 tuổi trong phạm vi các quy định của Việt Nam, bao gồm: các quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề quyền con người, quyền của người dưới 18 tuổi, quyền con người của người của bị cáo là người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự; về vai trò, nhiệm vụ bảo vệ quyền con người của pháp luật tố tụng hình sự trong nhà nước pháp quyền…; những quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự về vấn đề bảo vệ quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi, cũng như các vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn áp dụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng khi giải quyết các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định về bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự đối bị cáo dưới 18 tuổi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2017

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp

luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách Hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng khóa VIII, khóa IX, khóa X và các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm

2020 của Bộ Chính trị

5.2 Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác

giả luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật

tố tụng hình sự như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp

Trang 11

thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học về luật tố tụng hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:

6.1 Ý nghĩa về lý luận: Tổng hợp các quan điểm khoa học về quyền

con người nói chung, quyền con người và bảo đảm quyền con người của bị cáo dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự Việt Nam nói riêng Nghiên cứu các quy định của pháp luận hiện hành về bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự đối với bị cáo dưới 18 tuổi Kết quả nghiên cứu của luận văn làm giàu thêm lý luận nhằm góp phần luận giải tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người, đó là: đồng thời với việc coi quyền con người là giá trị được thừa nhận chung, thì nó cũng được cụ thể hóa trong các lĩnh vực của đời sống xã hội (như tố tụng hình sự), với từng đối tượng cụ thể (người dưới 18 tuổi) và ở từng quốc gia (Việt Nam)

6.2 Ý nghĩa về thực tiễn: Thực tiễn công tác tư pháp hình sự của chúng

ta trong thời gian qua cho thấy, quyền con người của người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự vẫn chưa được bảo vệ tốt nhất Điều này xuất phát từ việc xã hội, nhà nước nói chung và các nhân viên tư pháp hình sự chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ quyền của người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình

sự Với việc đưa ra nhận thức đầy đủ, toàn diện, có hệ thống lý luận về quyền của bị cáo dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự và phân tích thực trạng của vấn đề này sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự, đem đến sự nhận thức đúng đắn đối với các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm mục đích cuối cùng là bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong thực tế Nghiên cứu các quy định của pháp luận hiện hành về bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự đối với bị cáo dưới 18 tuổi Đánh giá làm sáng tỏ bức tranh về tình hình áp dụng các quy định về bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự đối với bị cáo dưới 18 tuổi của các cơ quan tiến hành tố tụng; những tồn tại, hạn chế của thực tiễn áp dụng pháp luật trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đã đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao hiệu

Trang 12

quả áp dụng pháp luật trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp hiện nay ở Việt Nam

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:

- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo đảm quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi

- Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

- Chương 3: Các giải phải bảo đảm quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI

CỦA BỊ CÁO LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI

1.1 Những khái niệm liên quan đến bảo đảm quyền con người của

bị cáo là người dưới 18 tuổi

1.1.1 Khái niệm quyền con người và bảo đảm quyền con người

Quyền con người là một trong những quyền tự nhiên của con người và

là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người, không bị tước bỏ và được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các văn bản pháp lý quốc

tế Quyền con người bắt đầu từ khi con người được sinh ra và đồng thời cũng phải bảo đảm thực hiện như một lẽ tự nhiên Vì vậy đây chính là quyền thiêng liêng, cơ bản nhất của mỗi con người và không thể bị tước bỏ một cách tùy tiện, trái pháp luật Cho nên, nó không chỉ là vấn đề trọng yếu trong luật pháp quốc tế mà còn là chế định pháp lý cơ bản trong pháp luật của các quốc gia

Quyền con người cũng được xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ mang tính phổ biến, tính không thể tước bỏ, tính không thể phân chia và tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau Nhờ có những chuẩn mực này, nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người

Quyền con người vốn là một vấn đề rất tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực trong xã hội như đạo đức, chính trị, pháp lý Đó là thành quả của sự phát triển lịch sử, là đặc trưng của xã hội văn minh Quyền con người cũng là một quy phạm pháp luật, đương nhiên nó đòi hỏi tất cả mọi thành viên của xã hội, không loại trừ bất cứ ai, đều có quyền và nghĩa vụ phải tôn trọng các quyền

và tự do của mọi người

Khái niệm quyền con người có nguồn gốc từ thời Hy Lạp cổ dưới dạng các quyền tự nhiên như quyền được sống Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ, người nô lệ không được coi là con người và sống với tình trạng vô quyền Chế

độ phong kiến so với chế độ nô lệ đã là một bước tiến trong việc giành lại quyền tự do và giải phóng con người Giai cấp tư sản là người đầu tiên nêu

Trang 14

ngọn cờ nhân quyền với các tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, công lý, vốn là yêu cầu bức thiết của nhân dân lao động, tuyệt đối hoá tự do cá nhân, nhấn mạnh yếu tố cá nhân trong khái niệm quyền con người Lần đầu tiên các quyền con người được chính thức ghi trong các văn kiện quan trọng như Tuyên ngôn độc lập của Mỹ 1776, Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của Pháp 1789 Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về quyền con người thì quyền con người là những bảo đảm pháp lý mang tính toàn cầu xác định trách nhiệm của mỗi quốc gia bảo vệ các cá nhân chống lại

sự thờ ơ của mỗi quốc gia gây tổn hại nhân phẩm và các quyền tự do cơ bản của con người Trong tài liệu mang tính giáo dục phổ cập của Liên hợp quốc

về quyền con người thì quyền con người là những nhu cầu tự nhiên cơ bản gắn liền với mỗi cá nhân được các quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế tôn trọng bảo đảm và bảo vệ Theo đó, quyền con người là những giá trị chung của loài người, mang ý nghĩa chính trị, lịch sử, xã hội sâu sắc; nó là sự thừa nhận phẩm chất vốn có và bình đẳng không thể thay thế được của mỗi thành viên, mọi gia đình, con người, là cơ sở của tự do, công bằng và hòa bình trên thế giới [56]

Chúng ta có thể tìm thấy quyền con người trong tố tụng hình sự trong các văn kiện quốc tế về như : Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 (UHDR); Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR) [56][40]; Những nguyên tắc cơ bản trong việc đối xử với tù nhân; Công ước chống tra tấn, đối xử vô nhân đạo và hạ nhục con người năm 1985… Quyền con người trong tố tụng hình sự chính là sự cụ thể quyền được sống, quyền được tự do trong lĩnh vực tố tụng hình sự Đây được coi là tiêu chuẩn về nhân quyền trong tố tụng hình sự Theo đó, quyền con người trong tố tụng hình sự bao gồm những quyền sau “Điều 10, 11 UHDR và Điều 14, 15 ICCPR”: Quyền được xét xử công bẳng bởi một thủ tục tố tụng hình sự; Quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và quyền tự do cá nhân khác Mọi trường hợp áp dụng các biện pháp cưỡng chế trách nhiệm hình sự phải trên cơ sở luật định; Quyền được suy đoán vô tội; Quyền được bào chữa và biện hộ, quyền không bị xét xử quá mức chậm trễ; Người chưa thành niên

Trang 15

phải được áp dụng thủ tục tố tụng hình sự đặc biệt; Quyền kháng cáo bản án

để xét xử phúc thẩm, quyền được nhanh chóng minh oan, quyền không bị kết tội hai lần về cùng một hành vi…; Những quyền trên là những quyền của bị cáo là đối tượng quan trọng nhất cần bảo vệ trong tố tụng hình sự [56][40]

Theo giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, các tác giả

định nghĩa quyền con người là “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của

con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” Còn học giả Nguyễn Bá Diến cho rằng: "Quyền con người là các khả năng của con người được đảm bảo bằng pháp luật (luật quốc gia và luật quốc tế) về sử dụng và chi phối các phúc lợi xã hội, các giá trị vật chất, văn hóa và tinh thần, sử dụng quyền tự do trong xã hội trong phạm vi luật định và quyền quyết định các hoạt động của mình và của người khác trên cơ sở pháp luật” [19]

Ngoài ra, có một định nghĩa đang được sử dụng phổ biến trong giảng

dạy, nghiên cứu về nhân quyền ở nước ta hiện nay: "Nhân quyền (hay quyền

con người) là những năng lực và nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người, với tư cách là thành viên cộng đồng nhân loại, được thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế" [29]

Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau, mỗi định nghĩa tiếp cận quyền con người theo những góc độ khác nhau, nhưng theo quan niệm chung của cộng đồng quốc tế và ở Việt Nam, quyền con người được xác định dựa trên hai bình diện chủ yếu là giá trị đạo đức và giá trị pháp luật Dưới bình diện đạo đức, quyền con người là giá trị xã hội cơ bản, vốn có (những đặc quyền) của con người như nhân phẩm, bình đẳng xã hội, tự do ; dưới bình diện pháp lý, để trở thành quyền, những đặc quyền phải được thể chế hóa bằng các chế định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Như vậy, dù ở góc

độ nào hay cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là chuẩn mực được kết tinh từ những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, áp dụng cho tất cả mọi người

Tại Việt Nam, thuật ngữ quyền con người lần đầu tiên được hiến định

trong Hiến pháp năm 1992 “ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các

Trang 16

quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng” [42] Trên cơ sở đó, nhiều quy định về quyền công dân (thể hiện sự cụ

thể hóa quyền con người) được ban hành và chi tiết Năm 2013, Hiến pháp ban hành đã quy định chi tiết hơn và làm rõ nội dung quyền con người, quyền công dân, trách nhiệm của Nhà nước và xã hội trong việc tôn trọng, bảo đảm và bảo

vệ quyền con người, quyền công dân; bổ sung một số quyền mới là kết quả của quá trình đổi mới 25 năm qua ở nước ta, phù hợp với các điều ước quốc tế về quyền con người mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

Trải qua rất nhiều giai đoạn quá trình lịch sử lâu dài, Việt Nam bắt đầu coi quyền con người cũng là vấn đề quan trọng, Hiến pháp 2013 coi trọng quyền con người hơn thể hiện ở chỗ đẩy quy định từ Chương V thành Chương

II quy định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Cho đến nay, Việt Nam đã tham gia phần lớn và cam kết thực hiện ở cả hai phương diện lập pháp và cam kết thực hiện thực tiễn các văn kiện về quyền con người, điều đó được thể hiện trong Bộ Luật Tố tụng hình sự của nước ta ở mức độ khác nhau Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có các nguyên tắc như: Thừa nhận Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử các vụ án hình sự; Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; Bảo

đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể; Bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh

dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân, suy đoán vô tội; Bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự… [6][42]

Từ việc nghiên cứu quyền con người trong tố tụng hình sự có thể đưa ra định nghĩa về quyền con người trong tố tụng hình sự như sau: Quyền con người trong tố tụng hình sự là những bảo đảm pháp lý xác định trách nhiệm của quốc gia bảo vệ các cá nhân, pháp nhân chống lại sự gây tổn hại nhân phẩm và các quyền tự do cơ bản của cá nhân, pháp nhân đó khi họ tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự mà nhà nước có nghĩa vụ phải ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm thực hiện trên thực tế

1.1.2 Khái niệm bị cáo là người dưới 18 tuổi

Theo Điều 61 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định như sau:“ Bị

Trang 17

cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này” [6] Theo khoản

1 điều luật bị cáo là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử Từ khi có quyết định của Toà án đưa bị can ra xét xử thì người đó được gọi là bị cáo Nếu chưa có quyết định của Toà án đưa ra xét xử thì bị can vẫn chưa được gọi là bị cáo, mặc dù hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng quyết định truy tố người đó đã được gửi cho Toà án Bị cáo là người tham gia tố tụng Bộ luật tố tụng hình sự quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của họ trong tố tụng hình sự

Năng lực trách nhiệm hình sự chỉ hình thành khi con người đạt đến một

độ tuổi nhất định và năng lực đó sẽ được hoàn thiện ở một độ tuổi tiếp theo Người chưa thành niên, hay vị thành niên hoặc có nơi coi là trẻ em về thể chất và tâm sinh lý đã có sự phát triển đáng kể, có khả năng hiểu biết nhất định để có những xử sự phù hợp với quy định của pháp luật Theo nguyên tắc công bằng của pháp luật, họ phải chịu trách nhiệm về hành vi do chính mình thực hiện

Người chưa thành niên là thuật ngữ phổ biến được sử dụng trong đời sống cũng như trong các ngành khoa học nghiên cứu

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Vị thành niên là người chưa đến tuổi được pháp luật công nhận là công dân với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ hay nói cách khác là người chưa đủ 18 tuổi” [38] Định nghĩa này phù hợp với tinh thần của Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em thông qua ngày

20/11/1989: “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là những

người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [45] Theo cách hiểu thông thường, từ “trẻ em”

nghĩa là người chưa thành niên, hay vị thành niên Thế nhưng trong Công ước này trẻ em lại bao gồm tất cả những người chưa phải người lớn Công ước nhấn mạnh rằng tất cả những ai dưới 18 tuổi thì được hưởng mọi quyền lợi đã được ghi nhận trong Công ước

Trong phạm vi một quốc gia, thì tùy vào từng ngành khoa học mà người ta cũng có khái niệm khác nhau về người chưa thành niên Ở Việt Nam,

Điều 1 Luật Giáo dục, chăm sóc và bảo vệ trẻ em Việt Nam quy định rõ: “Trẻ

Trang 18

em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi Bộ luật dân sự

năm 2005 cũng có quy định tương tự: “Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa

động chưa thành niên là người dưới 18 tuổi"

Tuy nhiên, những quy định khác nhau về khái niệm người chưa thành niên lại nằm trong các văn bản pháp luật truyền thống của các quốc gia trên thế giới Sở dĩ có sự quy định khác nhau như vậy là do xuất phát từ truyền thống lịch sử văn hóa cũng như các quan niệm về đạo đức, phong tục tập quán của các quốc gia khác nhau Mặt khác, còn do điều kiện kinh tế - xã hội sự phát triển về sinh học của con người, đặc biệt là chính sách pháp luật và yêu cầu của thực tiễn công tác đấu tranh phòng chống tội phạm của mỗi quốc gia cũng có sự khác nhau

Như vậy, có thể thống nhất một quan điểm là người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi Quan niệm này cũng hoàn toàn phù hợp với Công ước quốc tế về quyền trẻ em ngày 20/2/1990 mà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Ở độ tuổi này, người dưới 18 tuổi có những đặc điểm tâm sinh lý đặc trưng và chính vì thế mà bất cứ ngành luật nào cũng dành những quy định đặc biệt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ

Khái niệm về người chưa thành niên phạm tội do BLHS quy định có ý nghĩa pháp lý sâu sắc Đó là cơ sở xác định tính chất tội phạm đối với những hành vi do người chưa thành niên thực hiện và tạo điều kiện cho việc áp dụng hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi trên

cơ sở những đặc điểm tâm sinh lý vào thời điểm họ phạm tội Không những thế, khái niệm trên còn mang ý nghĩa chính trị - xã hội bởi nó phù hợp với nội dung điều ước quốc tế, tiến bộ của nhân loại mà chúng ta đã gia nhập vừa phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội, sự phát triển về thể chất, tinh thần con người Việt Nam và kinh nghiệm đấu tranh phòng chống tội phạm ở nước ta

1.1.3 Khái niệm quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi

Quyền cơ bản của người dưới 18 tuổi được luật pháp quốc tế quy định tại Công ước quốc tế về quyền trẻ em thông qua ngày 20/11/1989, các bản Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hợp quốc về việc áp dụng pháp luật với

Trang 19

người chưa thành niên năm 1985 (gọi tắt là Quy tắc Bắc Kinh), Hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên năm

1990 (gọi tắt là Hướng dẫn Riát), Quy tắc của Liên Hợp Quốc về việc bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do năm 1991 (gọi tắt là Quy tắc 1991) mà Việt nam là một trong các thành viên đã tham gia ký kết Nội dung các quy định nêu trong các Công ước, quy tắc có tính đến sự đa dạng và cơ cấu pháp luật của các quốc gia, phản ánh mục đích và tinh thần của tư pháp người chưa thành niên, đề ra những nguyên tắc mong muốn và thông lệ đối với việc quản lý người chưa thành niên phạm tội; đồng thời bảo đảm rằng, trong quá trình thực thi và áp dụng pháp luật thì quyền của người chưa thành niên, kể cả trong trường hợp họ là đối tượng thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không bị vi phạm Trên cơ sở những văn bản pháp lý quốc tế nêu trên, có thể khái quát về các quyền cơ bản của người dưới 18 tuổi phạm tội như sau:

quy định thông qua các nguyên tắc sau:

Trong bất kỳ hoàn cảnh, điều kiện nào, sự an toàn của người dưới 18 tuổi phải được đặt lên hàng đầu; Không bị phân biệt đối xử - tất cả các em đều được đối xử công bằng, không thiên vị, bất kể giới tính, độ tuổi, dân tộc, tôn giáo…; Người dưới 18 tuổi phải được đối xử một cách lịch sự, tôn trọng phẩm giá và chuyên nghiệp; Trước khi xét xử, người dưới 18 tuổi luôn luôn được suy đoán vô tội; người dưới 18 tuổi được đối xử theo những quy định

đã nêu trong hệ thống pháp luật của quốc gia

Hai là, quyền cơ bản của người dưới 18 tuổi phạm tội trong giai đoạn

Trang 20

tục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội), trong mọi trường hợp, quyền riêng

tư của các em phải được bảo vệ; Những thông tin cá nhân và mang tính nhạy cảm liên quan đến người dưới 18 tuổi phải được xử lý cẩn thận và được bảo đảm bí mật; Người dưới 18 tuổi có quyền được bảo vệ khỏi vũ lực và các hình thức lạm dụng của các cơ quan công quyền; Việc giam giữ người dưới

18 tuổi phạm tội cần phải cân nhắc kỹ lưỡng nếu mục đích chỉ là để phục vụ công tác xét xử

Ba là, quyền của người dưới 18 tuổi khi bị xét xử và tuyên án:

Giam giữ chỉ là biện pháp cuối cùng và nếu có chỉ áp dụng trong một khoảng thời gian ngắn nhất; Người dưới 18 tuổi có quyền giữ im lặng và quyền được chuyển đến những dịch vụ hỗ trợ phù hợp; áp dụng xử lý theo hướng không giam giữ để tránh các thủ tục xét xử chính thức và chuyển sang các chương trình hoà nhập cộng đồng phù hợp

Như vậy, có thể thấy khái niệm quyền của bị cáo là người dưới 18 tuổi

là: “ Những bảo đảm pháp lý có tác dụng bảo vệ bị cáo là người chưa thành

niên khi tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử của Tòa án nhân dân” [50]

1.1.4 Khái niệm bảo đảm quyền con người của bị cáo là người dưới

18 tuổi

Từ trước đến nay thì quyền con người và bảo đảm quyền con người luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia Và trong lĩnh vực tố tụng hình sự cũng vậy, việc giải quyết vụ án hình sự không thể tách rời vấn đề bảo đảm quyền con người, đặc biệt là quyền của bị cáo là người dưới 18 tuổi Bởi

lẽ để buộc tội và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người phải dựa trên những căn cứ luật định và phải do những người, những cơ quan có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định để nhằm mục đích không để lọt tội phạm đồng thời đảm bảo không làm oan người vô tội, vi phạm quyền con người của người dưới 18 tuổi phạm tội

Trong lĩnh vực pháp luật, vấn đề quyền con người làm nền tảng trong việc nghiên cứu và ban hành các quy phạm Bảo đảm quyền con người xét cho cùng chính là việc ghi nhận và thực hiện những cam kết trong pháp luật

Trang 21

quốc tế về các quyền con người vào trong pháp luật mỗi quốc gia Không thể bảo đảm quyền con người nếu chỉ dựa vào quyền tự nhiên của con người, bởi

tự thân những quyền tự nhiên không thể tự mình vận hành trong một xã hội rộng lớn ở phạm vi quốc tế và phạm vi quốc gia Phải thông qua Nhà nước, thì những cam kết quốc tế về quyền con người mới hình thành nên những địa

vị pháp lý của con người, đồng thời quyền con người chỉ được bảo đảm khi được quy định bằng pháp luật và có cơ chế bảo đảm, vận hành bởi pháp luật

Do đó, bảo đảm quyền con người của người dưới 18 tuổi là sự kết hợp địa vị pháp lý và địa vị thực tế của con người trong xã hội, là một trong những biểu hiện tự do xã hội, trách nhiệm và tính tích cực công dân Các quyền kinh tế, chính trị, xã hội chưa phải là cơ sở để thực hiện quyền và tự do của con người Chúng chỉ trở thành những bảo đảm quyền con người qua hình thức pháp lý và những nỗ lực tổ chức bảo đảm thực hiện của Nhà nước Bảo đảm quyền con người của người bị cáo là người dưới 18 tuổi là đảm bảo cho những người đó có địa vị pháp lý phù hợp để bảo vệ mình trước việc bị truy

tố và những điều kiện pháp lý cũng như thực tế để họ thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định

Ở Việt Nam, bảo đảm quyền con người của bị cáo dưới 18 tuổi là bảo đảm cho những quy định của pháp luật về quyền con người được thực hiện trên thực tế, phù hợp với thông lệ quốc tế; đồng thời bảo vệ quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi khi có sự xâm hại, sự vi phạm quyền của họ

từ các cơ quan, các chủ thể thực hiện việc xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên Pháp luật tuy là yếu tố quan trọng không thể thiếu, nhưng không phải là yếu tố duy nhất bảo đảm cho họ được hưởng thụ các quyền, cũng như bảo đảm không bị tước mất quyền của họ trong hoàn cảnh đối mặt với pháp luật và là đối tượng xem xét của pháp luật Trên cơ sở các văn bản pháp luật quốc tế nêu trên, hệ thống tư pháp người dưới 18 tuổi ở Việt Nam

đã được quan tâm nghiên cứu và ngày càng hoàn thiện Việc bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội nói chung và bị cáo là người dưới 18 tuổi nói riêng phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế -

Trang 22

xã hội và văn hóa hiện có của Việt Nam Sự phù hợp này thể hiện trên cả hai phương diện đó là xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật Quyền con người của người dưới 18 tuổi pham tội trong giai đoạn xét xử của Tòa án nhân dân được thể hiện trong Bộ luật TTHS thông qua các nguyên tắc như: Thừa nhận Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử các vụ án hình sự; nguyên tắc bảo

vệ quyền cơ bản của công dân; Bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, suy đoán vô tội, quyền bào chữa, quyền kháng cáo, quyền minh oan [49]

Tuy nhiên, bảo đảm quyền con người trong TTHS không chỉ là sự ghi nhận về mặt pháp lý các quyền con người trong TTHS, bảo vệ và bảo đảm thực thi các quyền đó trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự Bảo đảm quyền con người của người phải là sự bảo đảm cho các chủ thể mang quyền được thực hiện đầy đủ và hợp pháp các quyền được đề cập trong các quy định của pháp luật [39]

Vì vậy, bảo đảm quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi theo pháp luật TTHS là sự bảo đảm cho bị cáo được thực hiện trên thực tế một cách đầy đủ và hợp pháp các quyền được đề cập trong các quy định của BLTTHS Điều này đảm bảo cho hoạt động tố tụng hình sự phù hợp với các

nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự hiện nay

1.2 Nội dung bảo đảm quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

1.2.1 Bảo đảm các quyền con người, quyền công dân chung của bị cáo là người dưới 18 tuổi

Các quyền cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật chuyên ngành khác Bị cáo là người dưới 18 tuổi cũng

là một công dân, vì vậy họ có quyền được tôn trọng và bảo đảm các quyền được pháp luật quy định, trừ các trường hợp BLTTHS quy định khác nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ tố tụng hình sự

Tố tụng hình sự là hoạt động đặc biệt liên quan đến việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự liên quan đến việc phát hiện, xử lý hành vi nguy

Trang 23

hiểm cho xã hội được quy định là tội phạm và xử phạt người phạm tội Vì vậy,

để đạt được mục đích của tố tụng hình sự, pháp luật tố tụng hình sự của bất kỳ một quốc gia nào cũng có quy định về những biện pháp cưỡng chế tố tụng, các hành vi, quyết định tố tụng đụng chạm đến quyền, lợi ích của công dân Hay nói cách khác, cưỡng chế tố tụng hình sự, khả năng ảnh hưởng của hoạt động

tố tụng hình sự tới các quyền con người của công dân là tất yếu [49]

Việc bảo đảm các quyền công dân chung của bị cáo trong tố tụng hình

sự chủ yếu tập trung vào một số nội dung sau đây:

Một là, quy định đúng đắn, hợp lý về nội dung và thực hiện các nguyên

tắc tố tụng hình sự Trong khoa học luật tố tụng hình sự, các nguyên tắc tố tụng hình sự cần được phân chia thành các nhóm khác nhau để nghiên cứu, bao gồm: 1/ Các nguyên tắc bảo đảm pháp chế trong hoạt động tố tụng; 2/ Các nguyên tắc liên quan đến xác định sự thật khách quan của vụ án; 3/ Các nguyên tắc thể hiện tính dân chủ trong hoạt động tố tụng; 4/ Các nguyên tắc bảo đảm quyền con người của người tham gia tố tụng [55][21][46]

Trong số các nguyên tắc tố tụng hình sự cơ bản được quy định trong BLTTHS 2003, các nguyên tắc thuộc nhóm thứ tư được thể hiện rõ nhất quan điểm của người làm luật liên quan đến bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Đó là: nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân (điều 4), nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật (điều 5), nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân (điều 6), nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh

dự, nhân phẩm, tài sản của công dân (điều 7), nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân (điều 8), nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (điều 9), nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội (điều 11), nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án (điều 19), nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan (điều 29) và nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại do cơ quan hoặc người

Trang 24

có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự gây ra (điều 30) v.v Ngoài ra, các nguyên tắc tố tụng khác ở mức độ này hay mức độ khác, góc độ này hay góc

độ khác đều trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến việc bảo đảm quyền con người của người tham gia tố tụng nói chung, của bị cáo nói riêng trong tố tụng hình sự [54]

Hai là, quy định đầy đủ, hợp lý địa vị pháp lý của các chủ thể tố tụng

hình sự Việc quy định đầy đủ các quyền tố tụng của bị cáo là người dưới 18 tuổi là bảo đảm pháp lý quan trọng để họ sử dụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; đồng thời cũng là cơ sở pháp lý làm phát sinh trách nhiệm của các cơ quan, người tiến hành tố tụng bảo đảm cho việc thực hiện các quyền của bị cáo là người dưới 18 tuổi cũng như trách nhiệm pháp lý khi các cơ quan, người tiến hành tố tụng vi phạm quyền của người tham gia tố tụng

Ba là, quy định hợp lý các biện pháp cưỡng chế tố tụng Tính cưỡng

chế trong tố tụng hình sự hiển diện ở nhiều hình thức, biện pháp tố tụng khác nhau như các biện pháp ngăn chặn, thủ tục tiến hành các biện pháp điều tra (khám xét, xem xét dấu vết, thu giữ vật chứng…) Tuy nhiên, việc quy định

và áp dụng các biện pháp ngăn chặn là ảnh hưởng lớn nhất đến quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi Thực tiễn tố tụng những năm qua cho thấy rằng các vấn đề như thẩm quyền, căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn cụ thể, thời hạn tạm giữ, tạm giam… là những vấn đề đang có ý kiến khác nhau và cũng gây không ít bức xúc trong dư luận xã hội trong việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng ở nước ta;

Bốn là, quy định các thủ tục tố tụng hình sự dân chủ, công khai Dân

chủ hóa các mặt đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tố tụng là xu thế tất yếu của Nhà nước pháp quyền Dân chủ hóa quá trình tố tụng hình sự, đảm bảo cho những người tham gia tố tụng, nhất là bị cáo là người dưới 18 tuổi thực hiện các quyền tố tụng của mình là những biện pháp hiệu quả bảo đảm quyền công dân của bị cáo là người dưới 18 tuổi;

Năm là, quy định và thực hiện việc giám sát việc tuân theo pháp luật

trong hoạt động của cơ quan, người tiến hành tố tụng;

Trang 25

Sáu là, quy định cụ thể quyền khiếu nại của bị cáo đối với hành vi,

quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng;

Bảy là, quy định đầy đủ và chặt chẽ chế độ trách nhiệm đối với việc vi

phạm quyền con người trong tố tụng hình sự v.v… [49]

1.2.2 Bảo đảm các quyền tố tụng của bị cáo là người dưới 18 tuổi

Một trong những điều kiện bảo đảm quyền con người, Bảo đảm các quyền tố tụng của bị cáo nói chung và bị cáo là người dưới 18 tuổi nói riêng

là quy định của pháp luật về quyền của họ trong quá trình tố tụng hình sự

Việc bảo đảm quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi trong TTHS là xây dựng cơ sở pháp lý và tạo điều kiện trên thực tế nhằm bảo đảm:

- Bị cáo dưới 18 tuổi có khả năng chứng minh bác bỏ sự nghi ngờ phạm tội, sự buộc tội từ phía cơ quan có thẩm quyền và làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với tội phạm mà người đó thực hiện;

- Những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng xác định chính xác, khách quan tội phạm, người phạm tội và áp dụng đúng đắn các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án

Quyền công dân, quyền tố tụng đều là các nội dung có quan hệ mật thiết, biện chứng lẫn nhau của quyền con người của bị cáo trong TTHS Bị cáo chỉ có thể thực hiện đầy đủ các quyền tố tụng của mình nếu quyền công dân của họ được tôn trọng và bảo đảm; và ngược lại, bị cáo không thể được bảo đảm quyền công dân nếu các quyền tố tụng quan trọng của bị cáo không được bảo đảm thực hiện Vì vậy, việc nghiên cứu cũng như thực hiện việc bảo đảm quyền công dân chung của bị cáo kết hợp với nghiên cứu các quyền tố tụng của bị cáo là điều cần thiết Có như vậy, quyền con người của bị cáo trong TTHS mới được bảo đảm một cách toàn diện hiệu quả, góp phần không chỉ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, mà còn lợi ích Nhà nước, cộng đồng và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của TTHS [49]

Vì vậy, vấn đề bảo đảm quyền con người của bị cáo dưới 18 tuổi trong TTHS là cần tập trung nghiên cứu, phân tích các nội dung quy định của BLTTHS và việc thực hiện các quy định đó trên thực tế, cụ thể như sau:

Trang 26

- Các nguyên tắc cơ bản TTHS liên quan đến bảo đảm quyền con người trong TTHS như tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân; bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân; nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án; nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo dưới 18 tuổi; nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự… Các nguyên tắc cơ bản tố tụng hình sự là tư tưởng chỉ đạo được quy định trong BLTTHS cần được tuân thủ trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự nhằm việc bảo vệ quyền tự do, dân chủ của công dân, đến quyền tố tụng của những người tham gia tố tụng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người của bị cáo dưới 18 tuổi;

- Địa vị tố tụng của người tiến hành tố tụng và bị cáo trong TTHS Đặc biệt, cần tập trung vào việc nghiên cứu trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng hình sự đặt trong mối quan hệ với bị cáo và quyền tố tụng của bị cáo trong TTHS Điều đó thể hiện rõ nhất tính chất dân chủ trong xã hội trong quá trình tố tụng hình sự Tăng cường trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng, quyền của người tham gia tố tụng là điều kiện rất quan trọng để đảm bảo quyền con người của bị cáo dưới 18 tuổi trong TTHS [49];

- Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng hình sự để đảm bảo tính chính xác, khách quan của quá trình tố tụng Quy định một cách chặt chẽ về chứng

cứ, các đặc điểm của chứng cứ và thủ tục chứng minh (thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ) có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc đảm bảo cho việc xử lý chính xác, khách quan vụ án, đảm bảo cho Tòa án ra bản án, quyết định đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm cũng như không để oan sai; từ đó là việc bảo đảm quyền con người của bị cáo dưới 18 tuổi [49];

- Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Đặc biệt, chú trọng đến thẩm quyền (áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp), căn cứ áp dụng, thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế tố tụng được người có thẩm quyền áp dụng đối với người bị nghi thực hiện tội phạm, bị can, bị cáo khi có đủ căn cứ luật định nhằm ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh

Trang 27

pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án [49];

- Các thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử là cách thức, trình tự thực hiện hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thủ tục tố tụng một mặt bảo đảm cho hoạt động tố tụng tiến hành được chính xác, khách quan; một mặt đảm bảo không xâm phạm quyền công dân cũng như bảo đảm cho bị cáo dưới 18 tuổi thực hiện đầy đủ các quyền tố tụng, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án dân chủ, công khai, khách quan Quy định thủ tục tố tụng chặt chẽ tức là đã giới hạn để người tiến hành tố tụng thực hiện những hành vi tố tụng được BLTTHS quy định, từ đó tránh được việc xâm phạm quyền con người [49];

- Các quy định về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự Bảo đảm cho

bị cáo dưới 18 tuổi quyền khiếu nại, tố cáo đối với hành vi của người tiến hành

tố tụng vi phạm pháp luật nói chung, xâm phạm quyền con người nói riêng và trình tự, thủ tục giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo đó là một trong những biện pháp quan trọng để bảo vệ quyền con người của họ trong TTHS Xác minh và giải quyết đúng đắn các khiếu nại tư pháp, một mặt nhằm ngăn chặn kịp thời các vi phạm pháp luật xảy ra trong quá trình tố tụng, kịp thời bảo vệ quyền con người của người tham gia tố tụng; mặt khác đảm bảo cho hoạt động

tố tụng hình sự được thực hiện chính xác, khách quan [49]

Quyền tố tụng của bị cáo là người dưới 18 tuổi sẽ bảo đảm cho bị cáo

có phương tiện để bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước các hành vi xâm phạm của các chủ thể khác bằng việc tham gia tố tụng tại Tòa án Với các quyền năng được pháp luật trao cho, cho phép các chủ thể có thể sử dụng quyền năng đó như một công cụ hữu hiệu để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của mình, chống lại các hành vi vi phạm của chủ thể khác Khi bị cáo là người dưới 18 tuổi cho rằng có quyền và lợi ích bị xâm phạm thì quyền

tố tụng đầu tiên được thực hiện đó là quyền khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu thực thi công lý

Quy định về các quyền tố tụng còn góp phần nâng cao ý thức pháp luật

bị cáo và các chủ thể khi tham gia quan hệ tố tụng dân sự nói riêng Qua đó,

bị cáo là người dưới 18 tuổi có thể nhận thức được các quyền tố tụng của

Trang 28

mình và tôn trọng quyền tố tụng của các chủ thể khác đồng thời có ý thức hơn

về việc tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thông qua các hoạt động tố tụng dân sự tại Tòa án

1.3 Các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền của bị cáo là người dưới

18 tuổi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

1.3.1 Bảo đảm về mặt pháp lý

Quyền con người trong TTHS được phát sinh khi nhà nước tiến hành hoạt động TTHS Chính vì vậy, bảo vệ quyền con người trong TTHS trước hết đòi hỏi một hệ thống pháp luật không chỉ giúp nhà nước phát hiện xử lý tội phạm mà còn không làm oan người vô tội

Dưới góc độ bảo đảm quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi, quy định pháp luật TTHS cần ghi nhận đầy đủ các quyền con người của

bị cáo dưới 18 tuổi trong TTHS trên cơ sở các chuẩn mực trong nước và quốc

tế về quyền con người trong tố tụng hình sự Bên cạnh việc ghi nhận những quyền của bị cáo là người dưới 18 tuổi, cần phải có một cơ chế để bảo đảm, bảo vệ các quyền con người đó Trong thực thế hiện nay một số quyền của bị cáo là người dưới 18 tuổi đã được pháp luật ghi nhận nhưng lại chưa có cơ chế nào để bảo vệ nó Chẳng hạn như quyền bào chữa, quyền thu thập đưa ra chứng cứ của người bào chữa, bị cáo, quyền im lặng…được ghi nhận nhưng

cơ chế để những người này thực hiện thì hiện chưa được quy định rõ ràng

Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự cũng có nghĩa là nếu người nào có những hành vi xâm phạm đến quyền con người trong tố tụng hình sự thì có chế tài nghiêm khắc để xỷ lý Trong thực tiễn tố tụng hình sự, một vụ án bị chậm trễ đưa ra xét xử, một quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn không hợp lý và hợp pháp…đều chưa có chế tài cụ thể Bên cạnh đó, việc bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng trong vụ án hình sự chưa được quan tâm đúng mức nên vẫn có những trường hợp họ bị trù dập, bị trả thù, bị đe dọa Do vậy, quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi vẫn chưa được bảo đảm trong một số trường hợp nhất định và kéo theo đó chính là chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp hình sự vẫn còn chưa cao [52]

Trang 29

1.3.2 Bảo đảm về mặt tổ chức, cơ chế thực hiện

Về mặt tổ chức, các cơ quan tiến hành tố tụng phải đáp ứng các yêu cầu

cơ bản sau đây:

- Cần kịp thời đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp theo hướng phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự; tăng quyền hạn, trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán Có như vậy, hoạt động tố tụng mới chủ động, khách quan, hiệu quả; người tiến hành tố tụng mới phản ứng kịp thời với tình hình và dám tự mình chịu trách nhiệm về các quyết định của mình [22]

- Đảm bảo quyền hạn phải đi đôi với trách nhiệm trong hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng Không để xảy ra tình trạng quyền hạn của một người, còn trách nhiệm lại thuộc về người khác hoặc tình trạng quyền hạn thì quy định cụ thể nhưng trách nhiệm thì chung chung Chỉ khi quyền hạn đi liền với trách nhiệm thì người tiến hành tố tụng mới thận trọng hơn trong thực hiện nhiệm vụ tố tụng của mình góp phần xử lý vụ án đúng đắn, khách quan;

- Tuân thủ nguyên tắc độc lập trong tố tụng hình sự Người trực tiếp tiến hành các hoạt động tố tụng phải là người được quyết định các vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án;

- Các quy định phải đảm bảo tính khả thi Nhiệm vụ, quyền hạn được quy định phải được bảo đảm thực hiện bằng các quy định của pháp luật, bằng các biện pháp tổ chức và có cơ chế kiểm tra, giám sát cụ thể, chặt chẽ v.v…

1.3.3 Bảo đảm về mặt nhận thức, năng lực thực hiện của các chủ thể bảo đảm quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi

Tạo điều kiện tốt nhất để bị cáo là người dưới 18 tuổi có thể tiếp cận các dịch vụ pháp lý thực hiện quyền bào chữa của mình trong quá trình tố tụng như yêu cầu được có người bào chữa đối với trường hợp bị cáo thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý theo quy định; thuê người bào chữa, thu thập chứng cứ…đối với bị cáo, cần nâng cao khả năng nhận thức tự bảo vệ quyền con người của họ bằng việc

Cần nâng cao nhận thức về quyền con người, hay nói cách khác là tăng

Trang 30

cường giáo dục quyền con người cho những người tiến hành tố tụng là các Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, bởi một điều mà người ta lo ngại nhất khi nói đến vấn đề bảo vệ quyền ocn người trong TTHS đó chính là sự xâm phạm quyền con người từ phía các cơ quan có thẩm quyền, sự xâm phạm này không chỉ thể hiện ở việc pháp luật còn nhiều lỗ hổng mà phần nhiều nằm

ở chính hoạt động cụ thể của những người tiến hành tố tụng

Kết luận chương 1

Quyền con người là thành tựu của nhân loại nên được các quốc gia tiến

bộ trên thế giới đặc biệt coi trọng Đó là những năng lực, nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người với tư cách là thành viên của cộng đồng nhân loại, được thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thoả thuận pháp lý quốc tế

Nước ta luôn coi con người là vị trí trung tâm trong mọi chính sách kinh tế, xã hội và tạo mọi điều kiện để con người phát triển Nhà nước bảo đảm thực hiện quyền con người bằng các biện pháp liên quan đến hoạt động lập pháp và hoạt động thi hành pháp luật của Nhà nước, các biện pháp liên quan đến chế độ trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức trong việc bảo vệ các quyền con người, các biện pháp xử lý vi phạm quyền con người, các biện pháp bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân và các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ trong hoạt động của Nhà nước Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ chính trị “Về chiến lược cải cách

tư pháp đến năm 2020” khẳng định: “Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với

cơ quan tư pháp ngày càng cao; các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm” [8] Nhà nước bảo đảm thực hiện quyền con người bằng các biện pháp liên quan đến hoạt động lập pháp và hoạt động thi hành pháp luật của Nhà nước, các biện pháp liên quan đến chế độ trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức trong việc bảo vệ các quyền con người, các biện pháp xử lý vi phạm quyền con người, các biện

Trang 31

pháp bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân và các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ trong hoạt động của Nhà nước Hoạt động tố tụng hình sự liên quan rất lớn tới việc bảo đảm quyền con người nói chung, đặc biết là bị cáo là người dưới 18 tuổi nói riêng

Trong tố tụng hình sự, bị cáo là người bị cơ quan tiến hành tố tụng coi

là người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được BLHS quy định là tội phạm Như vậy, bị cáo đều chỉ là những người bị nghi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được BLHS quy định là tội phạm ở các mức độ khác nhau Tuy nhiên, vì chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án đối với họ, cho nên bị cáo chưa phải là người phạm tội Cho nên, từ góc độ bảo đảm quyền con người, các biện pháp cưỡng chế tố tụng, các hạn chế tố tụng đối với họ chỉ ở mức cần và đủ để đạt được mục đích tố tụng là phát hiện nhanh chóng, xử lý công minh tội phạm và người phạm tội

Trang 32

Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA BỊ CÁO LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1 Thực trạng quy định về bảo đảm quyền con người của bị cáo là

người dưới 18 tuổi theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam

2.1.1 Thực trạng quy định về các quyền con người, quyền công dân của bị cáo là người dưới 18 tuổi

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, các quyền con người được tôn trọng và bảo vệ Nhà nước không chỉ quy định các quyền con người,

mà quan trọng là có hệ thống các bảo đảm để công dân thực hiện các quyền

đó trên thực tế; đồng thời áp dụng các biện pháp khác nhau để xử lý các hành

vi vi phạm quyền con người;

Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân Pháp luật không chỉ quy định quyền mà cả quy định nghĩa vụ của công dân Nhà nước một mặt bảo đảm để công dân thực hiện các quyền của mình trên thực tế; nhưng Nhà nước cũng có quyền đòi hỏi công dân phải thực hiện nghĩa vụ của mình trước Nhà nước, trước xã hội, cộng đồng Công dân không thực hiện nghĩa vụ của mình phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước Mối quan hệ qua lại này đảm bảo một xã hội có trật tự, kỷ cương, có nền pháp chế nghiêm minh; đảm bảo cho việc Nhà nước quả lý xã hội bằng pháp luật Đây cũng là một trong những biểu hiện quan trọng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được khẳng định

Hiến pháp và các văn bản pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của công dân Trong một Nhà nước mà pháp luật có vị trí tối cao, quan hệ giữa Nhà nước và công dân phải được điều chỉnh bằng pháp luật Các quyền và nghĩa vụ công dân được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao là Hiến pháp và Luật Không một cơ quan, cá nhân nào ngoài cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất là Quốc hội có quyền quy định quyền, đặc biệt là nghĩa vụ của công dân

Quyền con người là quyền được áp dụng cho tất cả nhân loại thuộc mọi

Trang 33

dân tộc đang sinh sống trên thế giới, không phân biệt sắc tộc, màu da, quốc tịch, tôn giáo không bị giới hạn bởi biên giới quốc gia Quyền công dân là tập hợp những quyền con người được pháp luật của mỗi quốc gia ghi nhận cho mỗi công dân mang quốc tịch của nước đó được hưởng và được bảo hộ, bảo đảm thực thi bằng công cụ hiệu lực hiệu quả nhất đó là pháp luật Quyền công dân gắn với Nhà nước, thể hiện mối quan hệ giữ công dân với nhà nước được xác định bằng chế định quốc tịch [62]; Tại Điều 14 Hiến pháp 2013 quy

định:“Ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người,

quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”, đồng thời quy định

rõ: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định

của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.” [42]

Tuy nhiên họ bị hạn chế hoặc bị mất một phần hoặc toàn bộ quyền dưới góc độ nhất định các quyền con người, quyền công dân Khi con người, công dân bị vướng vào sự kiện pháp lý trong tố tụng hình sự và được pháp luật tố tụng hình sự và các quy định pháp luật có liên quan điều chỉnh trong trường hợp trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ

đã có quyết định tạm giữ; bị khởi tố hình sự; hoặc bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử thì họ bị coi là bị cáo Trong những trường hợp này, bị cáo trước hết là con người, đặc biệt là người dưới 18 tuổi, là công dân nên họ có đầu đủ các quyền con người, quyền công dân được pháp luật công nhận và bảo vệ

Quyền con người của bị cáo được thể chế hóa trong BLTTHS 2015 như sau:

a) Quy định các quyền của bị cáo là người dưới 18 tuổi

Điều 59 BLTTHS 2015 quy định: Quyền của người bị tạm giữ được quy định liên quan đến hai yếu tố cấu thành của tạm giữ: tính có căn cứ của việc tạm giữ và tính hợp pháp của thủ tục tạm giữ Mục đích của việc tạm giữ nhằm cách ly người bị nghi thực hiện tội phạm một cách cấp thiết trong một thời gian ngắn Người bị tạm giữ có quyền bảo vệ mình khỏi việc tạm giữ bất

Trang 34

hợp pháp Việc tạm giữ đối với người bị tạm giữ, ngoài việc phải có căn cứ, cần phải được thực hiện đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thời hạn Vì thế, người bị tạm giữ có quyền khiếu nại về việc tạm giữ, quyết định, hành vi của cơ quan, người tiến hành tố tụng liên quan đến việc đảm bảo thực hiện các quyền tố tụng được quy định trên Ngoài ra, như bất kỳ người công dân khác, bị cáo là người dưới 18 tuổi bị tạm giữ có quyền được tôn trọng và bảo

vệ các quyền con người khác không bị pháp luật hạn chế do bị tạm giữ như quyền được bảo hộ tính mạng, sức khỏe, quyền chính trị

Đặc biệt, là người bị tạm giữ là bị cáo dưới 18 tuổi nên rất dễ bị xâm phạm các quyền tự do dân chủ như quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, quyền bảo vệ lợi ích chính đáng… mà việc xâm phạm này lại thường xuất phát từ người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng Việc bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ là bị cáo dưới 18 tuổi tức là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi công dân khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại, đó chưa phải là quyền bào chữa từ góc độ tố tụng hình sự

Từ góc độ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của con người, là bị cáo

vì có căn cứ xác định là đã thực hiện tội phạm, là người dễ có nguy cơ bị xâm phạm các quyền tự do dân chủ, nhất là quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm… Các xâm phạm này có thể xuất phát từ cơ quan, người tiến hành tố tụng (như bức cung, dùng nhục hình trong điều tra…) hoặc từ cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân (trả thù của người bị hại, quyết định tạm đình chỉ công tác của cơ quan, tổ chức…) [49]

Theo quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự Việt Nam 2015, quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi được thể hiện thông qua hệ thống các nguyên tắc và được cụ thể hóa trong các chế định chứng minh, chứng cứ, các biện pháp ngăn chặn, nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng; trong các quy định về xét xử của Tòa án và vấn đề minh oan cho người bị oan…

Về quyền của bị cáo là người dưới 18 tuổi đã được BLTTHS nước ta quy định khá đầy đủ các quyền của bị cáo như: quyền được biết mình bị buộc tội về tội gì; Quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình; Quyền được chứng minh sự vô tội của mình bằng việc đưa ra tài liệu, đồ vật,

Trang 35

yều cầu; Quyền được khiếu nại các quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng; Quyền được tham gia phiên tòa và tranh luận tại phiên tòa; Quyền không bị xét xử một cách quá chậm trễ thể hiện các quy định về thời hạn tạm giữ để khởi tố vụ án, thời hạn điểu tra, thời hạn truy tố, thời hạn xét xử…ví dụ như: hết thời hạn tạm giữ nếu cơ quan điều tra không có căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do cho người bị tạm giữ; nếu hết thời hạn điều ta không chứng minh được tội phạm thì phải đình chỉ điều tra, hủy bỏ quyết định khởi tố bị can, trả lại cho họ trạng thái bình thường của người vô tội và xin lỗi công khai, bồi thường nhà nước…

- Đối với bị cáo, khi đã là một bị cáo thì họ phải được xét xử tại tòa án độc lập, công khai và công bằng Cụ thể hóa nguyên tắc này, Hiến pháp cũng như BLTTHS nước ta có những quy định chặt chẽ về thủ tục xét xử vụ án hình sự tại Tòa án trong đó ghi nhận vai trò của Tòa án trong việc xét xử, đồng thời quy định các quyền của bị cáo tại giai đoạn xét xử Đó là việc quy định cụ thể thời hạn xét xử cho từng loại tội cụ thể Quy định quyền của bị cáo trước tòa như: tự mình bào chữa, nhờ người bào chữa, tranh tụng bình đẳng với bên buộc tội … Quy định quyền kháng cáo và nguyên tắc hai cấp xét

xử Những quy định này nhằm đảm bảo quyền được xét xử công bằng và có một bản án công bằng của bị cáo là người dưới 18 tuổi

b) Quy định quyền và nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng

Để tạo điều kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng phát hiện, xử lý tội phạm, pháp luật cho phép họ được áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong đó hạn chế một số quyền tự do của bị cáo Tuy nhiên, sự hạn chế tự do của bị cáo phải đảm bảo nguyên tắc pháp chế, tránh sự lạm quyền Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định khá chặt chẽ các căn cứ để áp dụng biện pháp ngăn chặn như tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú…cũng như các biện pháp cưỡng chế trách nhiệm hình sự khác như khám người, khám chỗ ở…Tất cả các biện pháp cưỡng chế trách nhiệm hình sự trên đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng không được áp dụng tùy tiện, lạm dụng

mà chỉ được thực hiện khi có căn cứ và theo đúng trình tự, thủ tục luật định Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và cưỡng chế tố tụng hình sư đòi hỏi các

Trang 36

cơ quan tiến hành tố tụng vừa đảm bảo nhiệm vụ phát hiện, xử lý tội phạm, vừa không xâm phạm đến quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi

BLTTHS quy định nguyên tắc suy đoán vô tội chỉ rõ trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về bên buộc tội Điều đó cũng có nghĩa bên buộc tội nếu không chứng minh được một người nào đó phạm tội thì phải tha bổng

và tuyên bố người đó vô tội

Tuy nhiên, không phải khi đã tuyên bố trách nhiệm chứng minh thuộc

về bên buộc tội thì bên này có thể dùng mọi biện pháp để thu thập chứng cứ, mọi biện pháp điều tra để phục vụ cho việc chứng minh của mình, kể cả những biện pháp xâm phạm đến quyền con người Hoạt động chứng minh nói riêng và thu thập chứng cứ nói chung cần phải tuân thủ nghiêm ngặt trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật [52]

2.1.2 Thực trạng quy định về các quyền tố tụng của bị cáo là người dưới 18 tuổi

Quy định về quyền của bị cáo (Điều 61 BLTTHS 2015) Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị tòa án quyết định đưa ra xét xử

Đối với bị cáo, khi là bị cáo thì họ phải được xét xử tại tòa án độc lập, công khai và công bằng Cụ thể hóa nguyên tắc này, Hiến pháp cũng như BLTTHS nước ta có những quy định chặt chẽ về thủ tục xét xử vụ án hình sự tại Tòa án trong đó ghi nhận vai trò của Tòa án trong việc xét xử, đồng thời quy định các quyền của bị cáo tại giai đoạn xét xử Đó là việc quy định cụ thể thời hạn xét xử cho từng loại tội cụ thể Quy định quyền của bị cáo trước tòa như: tự mình bào chữa, nhờ người bào chữa, tranh tụng bình đẳng với bên buộc tội … Quy định quyền kháng cáo và nguyên tắc hai cấp xét xử Những quy định này nhằm đảm bảo quyền được xét xử công bằng và có một bản án công bằng đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi

Để tạo điều kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng phát hiện, xử lý tội phạm, pháp luật cho phép họ được áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong đó hạn chế một số quyền tự do của bị cáo Tuy nhiên, sự hạn chế tự do của bị cáo phải đảm bảo nguyên tắc pháp chế, tránh sự lạm quyền Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định khá chặt chẽ các căn cứ để áp

Trang 37

dụng biện pháp ngăn chặn như tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú…cũng như các biện pháp cưỡng chế trách nhiệm hình sự khác như khám người, khám chỗ ở…Tất cả các biện pháp cưỡng chế trách nhiệm hình sự trên đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng không được áp dụng tùy tiện, lạm dụng

mà chỉ được thực hiện khi có căn cứ và theo đúng trình tự, thủ tục luật định Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và cưỡng chế tố tụng hình sư đòi hỏi các

cơ quan tiến hành tố tụng vừa đảm bảo nhiệm vụ phát hiện, xử lý tội phạm, vừa không xâm phạm đến quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi

BLTTHS quy định nguyên tắc suy đoán vô tội chỉ rõ trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về bên buộc tội Điều đó cũng có nghĩa bên buộc tội nếu không chứng minh được một người nào đó phạm tội thì phải tha bổng

và tuyên bố người đó vô tội Tuy nhiên, không phải khi đã tuyên bố trách nhiệm chứng minh thuộc về bên buộc tội thì bên này có thể dùng mọi biện pháp để thu thập chứng cứ, mọi biện pháp điều tra để phục vụ cho việc chứng minh của mình, kể cả những biện pháp xâm phạm đến quyền con người Hoạt động chứng minh nói riêng và thu thập chứng cứ nói chung cần phải tuân thủ nghiêm ngặt trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật

Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất được giao chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Hoạt động công tố và kiểm sát điều tra được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án hình sự và trong suốt quá trình điều tra các vụ án hình sự Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội; không để người nào bị khởi tố,

bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật; việc điều tra được khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, đúng pháp luật; những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra được phát hiện kịp thời; khắc phục và xử lý nghiêm minh; việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bi phải có căn cứ và đúng pháp luật

Khi thực hiện công tác kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát có nhiệm vụ,

Trang 38

quyền hạn: Kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập

hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng; giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra; yêu cầu

Cơ quan điều tra khắc phục vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp tài liệu cần thiết về vi phạm pháp luật của Điều tra viên; yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra xử lý nghiêm minh Điều tra viên vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra; kiến nghị với cơ quan, tổ chức và đơn vị hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật

Ngoài ra, pháp luật TTHS có cơ chế bảo vệ đặc biệt đó là bị cáo là dưới

18 tuổi phạm tội Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, bình đẳng trước tòa và bảo đảm quyền xét xử công bằng, là nguyên tắc của tố tụng hình sự Tuy nhiên, công bằng có thể hiểu theo chiều ngang và chiều dọc Theo chiều ngang là đối xử như nhau với những người có hoàn cảnh và điều kiện như nhau Theo chiều dọc là đối xử khác nhau với những người có hoàn cảnh khác nhau BLTTHS hiện hành đã giành cho người chưa thành niên bị buộc tội một thủ tục tố tụng hình sự riêng Đó là những quy định hạn chế tối đa việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, tạm giữ, tạm giam Quy định việc có mặt của người đại diện trong quá trình tố tụng hình sự, quy định thành phần Hội đồng xét xử phải có Hội thẩm nhân dân là cán bộ Đoàn, giáo viên…

Ngoài những quyền đã được ghi nhận trong BLTTHS 2003 như: Được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định tố tụng khác; Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; nói lời sau cùng trước khi nghị án; kháng cáo bản án, quyết định của tòa án; quyền xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa và các quyền khác theo quy định của pháp luật; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng

của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng BLTTHS 2015 không

chỉ quy định rõ ràng hơn mà còn bổ sung thêm một số quyền như: (1)

Quyền được “Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu

Trang 39

cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá” Thường thì

những chứng cứ, tài liệu, đồ vật này có ý nghĩa gỡ tội cho bị cáo, chứng minh

bị cáo không phạm tội hoặc chứng minh những tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Do vậy, Hội đồng xét xử khi nhận được các chứng cứ, tài liệu, đồ vật do bị cáo cung cấp thì phải tiến hành kiểm tra, đánh giá khách quan để xác định các chứng cứ, tài liệu, đồ vật đó có phải là chứng cứ trong vụ án hay không và giá trị của nó trong việc xác định sự thật của vụ án (2) Quyền

được “Trình bày lời khai, …, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính

mình hoặc buộc phải nhận mình có tội” Tại phiên toà trước Hội đồng xét xử,

bị cáo có quyền được trình bày về lời khai của mình, hoặc họ có thể không buộc phải khai báo cũng như không buộc phải nhận mình có tội trước Hội

đồng xét xử (3) Quyền “Đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi

người tham gia phiên tòa nếu được chủ tọa đồng ý; tranh luận tại phiên tòa”.Việc đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi người tham gia

phiên tòa sẽ làm tăng tính chủ động cho bị cáo, giúp bị cáo thực hiện quyền bào chữa của mình được tốt hơn, việc hỏi cũng như đối chất trực tiếp tại phiên tòa sẽ là căn cứ quan trọng làm cho việc xét xử được khách quan hơn cũng

như tăng tính thuyết phục hơn (4) Quyền được “Xem biên bản phiên tòa, yêu

cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa” Để tránh sai sót

trong việc ghi chép lại quá trình diễn ra tại phiên tòa, bị cáo có quyền xem biên bản phiên tòa và yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản đó, điều này đồng nghĩa với việc bị cáo đồng ý với quá trình xét xử nếu không có

những yêu cầu bổ sung hoặc thay đổi khác (5) Bị cáo còn có “Các quyền

khác theo quy định của pháp luật”

Như vậy, những quy định về quyền của bị cáo là người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy

tố, xét xử; nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng Mọi hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải được đảm bảo thực hiện khách quan, công tâm, đúng trình

tự, thủ tục pháp luật quy định, bảo đảm việc xét xử đối với bị cáo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và làm oan người vô tội, tôn

Trang 40

trọng và bảo đảm quyền con người, quyền của bị cáo là người dưới 18 tuổi

2.1.3 Một số quy định mới liên quan tới quyền con người của bị cáo

là người dưới 18 tuổi theo Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam 2015

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định một điều luật mới trên cơ

sở pháp điển hóa các văn bản hướng dẫn hiện hành để xác định tuổi của bị cáo

là người dưới 18 tuổi theo hướng quy định chặt chẽ, cụ thể cách xác định tuổi của bị cáo là người dưới 18 tuổi bảo đảm phù hợp với nguyên tắc có lợi cho người bị cáo là người dưới 18 tuổi Trước đó, do Bộ luật tố tụng hình sự năm

2003 không quy định về cách xác định tuổi của người bị bị cáo là người dưới

18 tuổi dẫn đến trong thực tiễn giải quyết vụ án hình sự đã gặp một số khó khăn khi không có đủ căn cứ xác định tuổi của bị cáo là người dưới 18 tuổi làm

cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong vụ án

Đến nay theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 vấn đề

này đã được quy định mới, rất rõ tại Điều 417, đó là: “Việc xác định tuổi của

bị cáo, người bị hại là người dưới 18 tuổi do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật (Khoản 1 Điều 417) Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó là ngày sinh; trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh; trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh; trường hợp xác định được năm nhưng không xác định ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh (Khoản 2 Điều 417) Trong mọi trường hợp nếu không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi (Khoản 3 Điều 417)” [6]

đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi

Trách nhiệm giám sát đối với bị cáo đã được quy định tại Điều 304 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Tuy nhiên, quy định này chưa đầy đủ và chặt

Ngày đăng: 28/05/2019, 07:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thư Trung ương Đảng (1992), Chỉ thị số 12/CT/TW “Về vấn đề quyền con người và quan điểm chủ trương của Đảng ta”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề quyền con người và quan điểm chủ trương của Đảng ta
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng
Năm: 1992
9. Nguyễn Hòa Bình (2016), Những nội dung mới trong Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nội dung mới trong Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015
Tác giả: Nguyễn Hòa Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2016
10. Lê Văn Cảm (2010), “Những vấn đề chung về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự” Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam (5-26), Nxb Đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chung về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự” "Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam (5-26)
Tác giả: Lê Văn Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2010
11. Lê Cảm, Nguyễn Ngọc Chí, Trịnh Quốc Toản (2005), Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoan xây dựng Nhà nươc pháp quyền Việt Nam, Đề tài nghiên cứu Khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoan xây dựng Nhà nươc pháp quyền Việt Nam", Đề tài nghiên cứu Khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả: Lê Cảm, Nguyễn Ngọc Chí, Trịnh Quốc Toản
Năm: 2005
14. Nguyễn Ngọc Chí (2013), Bảo đảm thực hiện quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm theo Hiến pháp 2013, Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội củ nghĩa Việt Nam, NXB Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm thực hiện quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm theo Hiến pháp 2013
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2013
15. Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên) (2013), Giáo trình Luật TTHS Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật TTHS Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
16. Nguyễn Tiến Đạt (2006), Bảo đảm quyền con người trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, Tạp chí KHPL Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam
Tác giả: Nguyễn Tiến Đạt
Năm: 2006
17. Nguyễn Văn Động (2005), Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, tr.52-53, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: n con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Động
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2005
19. Nguyễn Bá Diến (1993), Về quyền con người-trong tập chuyên khảo “Quyền con người, quyền công dân” Tập 1, Trung tâm nghiên cứu quyền con người – Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quyền con người-trong tập chuyên khảo "“Quyền con người, quyền công dân”
Tác giả: Nguyễn Bá Diến
Năm: 1993
20. Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Lê Văn Cảm, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (Đồng chủ biên) (2011), Bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương trong tố tụng hình sự, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương trong tố tụng hình sự
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Lê Văn Cảm, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
21. Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa luật (2006), Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, đề tài khoa học cấp Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
Tác giả: Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa luật
Năm: 2006
22. Đỗ Văn Đương, Phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp và sửa đổi, bổ sung chế định chứng cứ trong Bộ luật tố tụng hình sự, Bài đăng trên tạp chí Thông tin khoa học, Trường Đại học kiểm sát, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp và sửa đổi, bổ sung chế định chứng cứ trong Bộ luật tố tụng hình sự
23. Trần Ngọc Đường (2004) Bàn về quyền con người, quyền công dân, Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quyền con người, quyền công dân
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội
24. Trần Ngọc Đường (2011), Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc Gia – Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia –
Năm: 2011
25. Đoàn Thị Ngọc Hải (2015), Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự - một số vấn đề cần trao đổi, Nghiên cứu trao đổi – Bài đăng trên trang báo điện tử của Bộ Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự - một số vấn đề cần trao đổi, Nghiên cứu trao đổi
Tác giả: Đoàn Thị Ngọc Hải
Năm: 2015
26. Phạm Hồng Hải (2012), Bàn về sự tham gia của người bào chữa trong giai đoạn điều tra, Tạp chí luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về sự tham gia của người bào chữa trong giai đoạn điều tra
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Năm: 2012
27. Nguyễn Như Hiển (2014), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ, trường đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Như Hiển
Năm: 2014
29. Học viện CTQG Hồ Chí Minh (1993), Tập bài giảng lý luận về quyền con người, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng lý luận về quyền con người
Tác giả: Học viện CTQG Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1993
30. Phan Trung Hoài (2016), Những điểm mới về chế định bào chữa trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nxb Chính trị Quốc Gia – Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới về chế định bào chữa trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Tác giả: Phan Trung Hoài
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia – Sự thật
Năm: 2016
31. Human rights: Judicial system (Bảo đảm quyền con người trong hệ thống tư pháp của Saudi Arabia), 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human rights: Judicial system (

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm