Nằm ở khu vực có điều kiện tự nhiên và văn hóa đa dạng, Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới có mức độ đa dạng sinh học cao, nguồn tài nguyên cây thuốc phong phú với hơn 5.000 loài loài cây thuốc 51. Nguồn tài nguyên này là một phần quan trọng trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, trong hoạt động phát triển kinh tế qua các thời kỳ lịch sử khác nhau cũng như trong công cuộc xây dựng, phát triển và hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, cũng giống như các nước khác trên thế giới, nguồn tài nguyên cây thuốc ở nước ta đang bị đe dọa do thảm thực vật bị tàn phá; cây thuốc bị khai thác quá mức và bị sử dụng một cách lãng phí; tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc bị mai một do sự xói mòn đa dạng các nền văn hóa; giới trẻ ở nhiều cộng đồng ít quan tâm đến học tập kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc của thế hệ trước; tính khó sử dụng của dược liệu,… 59. Cho đến nay mới có hơn 20 dân tộc khác nhau ở Việt Nam được nghiên cứu tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc 1, 2, 3, 4, 13, 21, 22, 23, 29, 34, 37, 39, 43, chiếm chưa đến 40% số dân tộc hiện có ở Việt Nam. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mỗi cộng đồng (mặc dù cùng 1 dân tộc) lại có tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc rất khác nhau. Chính vì vậy, việc điều tra tài nguyên cây thuốc vẫn luôn là một việc cấp thiết ở Việt Nam hiện nay. Xã Lăng (diện tích 223,39 km2) nằm sát biên giới Việt Lào, là xã trọng điểm phát triển kinh tế, du lịch của huyện Tây Giang 20. Xã nằm trong lòng chảo được bao bọc bởi những dãy núi có rừng xanh với hàng trăm cây cổ thụ được bảo vệ bởi cộng đồng dân tộc Cơ Tu (chiếm khoảng 95% dân số 66), đồng thời cũng là đầu mối giao thương thu mua, buôn bán dược liệu giữa Lào Việt Nam và các khu vực lân cận. Hiện nay, trước sự phát triển của du lịch, quá trình đô thị hóa, nhu cầu thu mua của thương lái, xã Lăng đang phải đối mặt với áp lực khai thác tài nguyên sinh vậtcây cỏ nói chung và tài nguyên cây thuốc nói riêng để phục vụ du khách đi du lịch thập phương. Những cánh rừng của người Cơ Tu tại đây đang dần thu hẹp cả về diện tích và số lượng cây thuốc. Đồng thời, việc thay đổi thói quen khám chữa bệnh hiện đại có thể dẫn tới tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc dần mai một và biến mất. Do đó, nghiên cứu và tư liệu hóa tài nguyên cây thuốc của người Cơ Tu trong khu vực xã Lăng là điều cần thiết phải thực hiện. Về lĩnh vực phát triển kinh tế từ nguồn tài nguyên cây thuốc ở xã Lăng, hiện nay một số dược liệu không chỉ khai thác tự nhiên mà đã có chính sách phát triển, được đầu tư xây dựng vùng trồng như Ba kích, Đảng sâm,… góp phần không nhỏ trong công tác xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập bình quân trên địa bàn xã Lăng 20. Trong đó dược liệu Ba kích (Morinda officinalis F.C.How) hiện đang được chính quyền địa phương tập trung phát triển vùng trồng và xúc tiến thương mại các sản phẩm 18, 46, 47. Tuy nhiên tình trạng trồng trọt buôn bán của dược liệu này lại chưa được nghiên cứu. Việc phân phối lợi ích tài chính, quan hệ giữa các tác nhân, vai trò và mức độ ảnh hưởng của các tác nhân trong chuỗi giá trị của dược liệu Ba kích vẫn là những câu hỏi chưa có lời giải đáp, là điểm vướng mắc trong công tác quản lý, quy hoạch phát triển dược liệu của xã Lăng hiện nay. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Điều tra tài nguyên cây thuốc của người Cơ Tu và chuỗi giá trị dược liệu Ba kích ở xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam”. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 1. Xác định đa dạng sinh học cây thuốc và tri thức sử dụng cây thuốc của cộng đồng người Cơ Tu ở xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam. 2. Xác định chuỗi giá trị dược liệu Ba kích tại xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LÊ THIÊN KIM
ĐIỀU TRA TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC CỦA
NGƯỜI CƠ TU VÀ CHUỖI GIÁ TRỊ DƯỢC LIỆU BA KÍCH Ở XÃ LĂNG, HUYỆN TÂY GIANG, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
HÀ NỘI 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LÊ THIÊN KIM
ĐIỀU TRA TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC CỦA
NGƯỜI CƠ TU VÀ CHUỖI GIÁ TRỊ
DƯỢC LIỆU BA KÍCH Ở XÃ LĂNG,
HUYỆN TÂY GIANG, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
CHUYÊN NGÀNH: DƯỢC LIỆU - DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN
MÃ SỐ: 8720206
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Văn Ơn
HÀ NỘI 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân
thành tới PGS TS Trần Văn Ơn, người thầy đã trực tiếp giao đề tài, hướng dẫn,
tận tình chỉ bảo và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này Những kinh nghiệm, tư tưởng mà thầy truyền đạt kể từ khi tôi theo học hỏi thầy vẫn sẽ luôn là kim chỉ nam trong các hoạt động học tập, nghiên cứu, và cống hiến của tôi sau này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng chân thành cảm ơn tới:
TS Hoàng Quỳnh Hoa, ThS Nghiêm Đức Trọng đã hướng dẫn, chỉ bảo
cho tôi rất nhiều kinh nghiệm trong quá trình thực hiện đề tài tại Bộ môn Thực vật, cũng như trong quãng thời gian học tập, công tác từ khi tôi còn là sinh viên nghiên cứu tại Bộ môn
UBND huyện Tây Giang, phòng NN&PTNT huyện Tây Giang, Trung tâm KT nông nghiệp huyện Tây Giang đã cho phép và tạo điều kiện giúp đỡ tốt
nhất cho tôi thực hiện nghiên cứu tại xã Lăng, huyện Tây Giang
Tôi xin cảm ơn Anh Nguyễn Bá Hiển - Chủ tịch HĐQT HTX Nông lâm
nghiệp Thiên Bình (Tây Giang, Quảng Nam) đã giúp tôi không chỉ cung cấp thông tin, dữ liệu nghiên cứu, mà còn cho tôi có cơ hội trải nghiệm cuộc sống với người đồng bào Cơ Tu, có phương tiện đi lại, nơi ăn chốn ở và nhiều giá trị tinh thần khác
Tôi cũng xin cảm ơn Chị Nguyễn Thị Ngọc Trâm - Chuyên viên phòng
NN&PTNT huyện Tây Giang không chỉ giúp tôi trong việc giới thiệu các đầu mối
để phỏng vấn, thu thập số liệu
Xin cảm ơn các cô, các chú, các anh, các chị đã cho phép tôi thực hiện phỏng vấn thu thập những dữ liệu chân thực, cũng như những câu chuyện bên lề, các món
ăn dân tộc hay chén rượu nồng để tôi hiểu hơn về con người Cơ Tu chất phác, giản
dị lại vô cùng hiếu khách, giỏi giang Đặc biệt, tôi xin cám ơn bác Klâu trô, bác
Bhling Đhốch, anh Bhling Môn, anh Alăng Bôn, em Huỳnh Thanh Nhàng, bác Bòng, chị Thảo, và các em: Phạm Minh Hiền, Bùi Thị Phượng, Bùi Thị Phương Phan Đình Vũ, Phạm Việt Hùng, Hà Thị Huệ, Phạm Huy Hà, Hoàng Ngọc Anh, Trịnh Thị Huyền Trang đã luôn giúp đỡ tận tình
Trang 4Cảm ơn DS Phạm Thị Linh Giang, DS Chu Thị Thoa, chị Phạm Mỹ
Hạnh, chị Đỗ Thu Hiền đã giúp đỡ, tạo điều kiện và truyền đạt cho tôi nhiều kinh
nghiệm trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban giám hiệu, các thầy cô phòng sau đại học, các thầy cô giáo của trường Đại học Dược Hà Nội, những người đã dìu dắt tôi trong những năm học tập và nghiên cứu khoa học tại trường
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn bố mẹ, các chị, và WB của tôi đã luôn ở bên động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành chặng đường gian khó này
Hà Nội, 14 tháng 03 năm 2019
Học viên
LÊ THIÊN KIM
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam 3
1.1.1 Điều kiện tự nhiên và văn hóa 3
1.1.2 Cây thuốc ở Việt Nam 3
1.1.3 Khai thác, sử dụng cây thuốc ở Việt Nam 4
1.1.4 Điều tra cơ bản tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam 5
1.1.5 Bảo tồn Tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam 6
1.1.6 Phát triển Tài nguyên cây thuốc 9
1.2 Khu vực xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam 10
1.2.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội của huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam 10
1.2.2 Điều kiện tự nhiên và xã hội của xã Lăng (Tây Giang, Quảng Nam) 12
1.3 Dân tộc Cơ Tu 13
1.4 Dược liệu Ba kích xã Lăng 14
1.5 Cơ sở lý luận về nghiên cứu chuỗi giá trị 16
1.5.1 Định nghĩa 16
1.5.2 Hình thức và nội dung một sơ đồ chuỗi giá trị 16
1.5.3 Giá trị gia tăng 17
1.5.4 Vai trò của nghiên cứu chuỗi giá trị và một số nghiên cứu chuỗi giá trị ở Việt Nam 19
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.2 Phương pháp nghiên cứu 20
2.2.1 Điều tra tính đa dạng sinh học của cây thuốc 20
Trang 62.2.2 Tư liệu hóa tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc 20
2.2.3 Thu mẫu và làm tiêu bản thực vật 21
2.2.4 Giám định tên khoa học của cây thuốc 21
2.2.5 Điều tra chuỗi giá trị dược liệu Ba kích tại xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam 21
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23
3.1 Cây thuốc ở khu vực xã Lăng, huyện Tây Giang (Quảng Nam) 23
3.1.1 Tính đa dạng sinh học cây thuốc ở khu vực xã Lăng 23
3.1.2 Thảm thực vật và phân bố của cây thuốc ở khu vực xã Lăng 30
3.2 Tri thức sử dụng cây thuốc của cộng đồng người Cơ Tu ở khu vực xã Lăng32 3.2.1 Các mục đích sử dụng cây thuốc điều tra được ở khu vực xã Lăng 32
3.2.2 Danh mục các bệnh, chứng có thể chữa trị bằng cây thuốc ở khu vực xã Lăng 33
3.2.3 Bộ phận sử dụng của cây thuốc 34
3.2.4 Cách sử dụng cây làm thuốc 35
3.2.5 Cách thức truyền lại tri thức 36
3.3 Chuỗi giá trị của dược liệu Ba kích tại xã Lăng 36
3.3.2 Sơ đồ tổng quát chuỗi giá trị dược liệu Ba kích xã Lăng 36
3.3.3 Thực trạng các tác nhân tham gia chuỗi giá trị dược liệu Ba kích xã Lăng 44
3.3.4 Các tác nhân hỗ trợ, thúc đẩy chuỗi 64
3.3.5 Phân tích giá trị gia tăng chuỗi giá trị dược liệu Ba kích xã Lăng 65
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 68
4.1 Cây thuốc ở khu vực xã Lăng (Tây Giang) 68
4.1.1 Sự đa dạng của cây thuốc và phương pháp nghiên cứu 68
Trang 74.1.2 Phân bố của thảm thực vật và đa dạng theo dạng sống của cây thuốc ở
khu vực xã Lăng 71
4.1.3 Tiềm năng, giá trị của cây thuốc ở khu vực xã Lăng 72
4.1.4 Tri thức sử dụng cây thuốc 72
4.2 Chuỗi giá trị dược liệu Ba kích xã Lăng 75
4.2.1 Bàn luận về mối quan hệ liên kết trong chuỗi giá trị 75
4.2.2 Nhận định về chuỗi giá trị dược liệu Ba kích xã Lăng 76
4.2.3 Phân tích SWOT chuỗi giá trị dược liệu Ba kích xã Lăng và vấn đề nâng cấp chuỗi giá trị 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu Viết đầy đủ
B Botanischer Garten und Botanisches Museum Berlin-Dahlem,
Freien Universität Berlin (Vườn thực vật và Bảo tàng thực vật Berlin - Dahlem, Freie Đại học Berlin)
BVTV Bảo vệ thực vật
CB-SX Chế biến - Sản xuất
GPS Global Positioning System (Hệ thống Định vị Toàn cầu)
GTGT Giá trị gia tăng
HN Herbarium code: Herbarium of Vietnam Academy of Science and
Technology (Phòng tiêu bản - Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật)
HNIP The herbarium of Hanoi University of Pharmacy (Phòng tiêu bản
Trường Đại học Dược Hà Nội) HNU Phòng tiêu bản - Khoa Sinh học - Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại
học Quốc gia Hà Nội IPNI The International Plant Names Index (Danh mục tên thực vật quốc
tế)
K Herbarium, Royal Botanic Gardens, Kew (Phòng tiêu bản thực vật,
Vườn bách thảo Hoàng gia, Kew) KIP Key important person (Người cung cấp tin quan trọng)
KBTTN Khu bảo tồn Thiên nhiên
KRQG Khu rừng Quốc gia
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NXB Nhà xuất bản
NY Herbarium, New York Botanical Gardens (Phòng tiêu bản thực vật,
Vườn bách thảo New York)
P, PC Herbier Muséum Paris - Muséum National d’Histoire Naturelle
(Phòng tiêu bản thực vật bảo tàng Paris - Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia)
OCOP One commune, one product (Mỗi xã, phường một sản phẩm)
Trang 9TAI Herbarium of National Taiwan University (Phòng tiêu bản đại học
Quốc Gia Đài Loan) UBND Ủy ban Nhân dân
WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
WWF World Wide Fund For Nature (Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên)
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1 Một số vườn quốc gia ở Việt Nam và số lượng cây thuốc được bảo vệ
trong đó [24] 7
Bảng 1.2 Giá bán một số dược liệu trên thị trường xã Lăng 12
Bảng 1.3 Danh sách dược liệu chú trọng phát triển ở huyện Tây Giang trong giai đoạn 2016-2020 theo Quyết định 2950/QĐ-UBND 15
Bảng 2.1 Cơ cấu điều tra và cỡ mẫu 21
Bảng 3.1 Sự phân bố cây thuốc trong các ngành thực vật ở xã Lăng, huyện Tây Giang (Quảng Nam) 23
Bảng 3.2 So sánh sự phân bố cây thuốc được người Cơ Tu, ở xã Lăng sử dụng làm thuốc/chăm sóc sức khỏe trong các ngành thực vật so với tổng số loài được phát hiện trong khu vực 24
Bảng 3.3 Danh mục các họ cây thuốc có số lượng loài lớn (xếp theo thứ tự tên khoa học) 25
Bảng 3.4 Danh mục các chi có từ 3 loài cây thuốc trở lên (xếp theo thứ tự tên khoa học) 27
Bảng 3.5 Danh sách các cây thuốc có trong Nghị định 06, Sách đỏ Việt Nam 2007 và Sách đỏ IUCN 2019 ở khu vực xã Lăng (xếp theo thứ tự tên khoa học) 27
Bảng 3.6 Danh sách các cây thuốc có trong Danh mục thuốc thiết yếu, Quyết định 206 và Quyết định 1976 ở khu vực xã Lăng (xếp theo thứ tự tên khoa học) 28
Bảng 3.7 Danh mục các dạng sống của cây thuốc ở xã Lăng, huyện Tây Giang (Quảng Nam) 30
Bảng 3.8 Một số cây thuốc ở xã Lăng có phân bố sinh thái rộng 31
Bảng 3.9 Danh mục các nhóm bệnh, chứng bệnh, nhóm thuốc sử dụng cây thuốc khu vực xã Lăng 33
Bảng 3.10 Danh mục các bộ phận dùng của cây thuốc ở khu vực xã Lăng 34
Bảng 3.11 Danh mục các cách dùng thuốc ở xã Lăng huyện Tây Giang (Quảng Nam) 35
Bảng 3.12 Các tác nhân tham gia chuỗi giá trị dược liệu Ba kích xã Lăng 39
Bảng 3.13 Quy tắc, ràng buộc giữa các tác nhân chính 39
Bảng 3.14 Chi phí đầu tư ban đầu cho hoạt động trồng dược liệu Ba kích 47
Trang 11Bảng 3.15 Chi phí đầu tư ban đầu cho hoạt động trồng dược liệu Ba kích trong 4
năm 48
Bảng 3.16 Tính toán lợi nhuận cho hoạt động trồng dược liệu Ba kích 49
Bảng 3.17 Tóm tắt một số khó khăn trong trồng dược liệu Ba kích 51
Bảng 3.18 Phân loại dược liệu Ba kích khi thu mua 54
Bảng 3.19 Phân loại dược liệu Ba kích khi bán 55
Bảng 3.20 Giá trị gia tăng khi qua tác nhân thương lái 55
Bảng 3.21 Chi phí sản xuất 1.000 sản phẩm rượu Ba kích chai thủy tinh 500ml 57
Bảng 3.22 Giá bán một số sản phẩm rượu Ba kích 59
Bảng 3.23 Hoạch toán lợi nhuận sản xuất 1000 chai thủy tinh rượu Ba kích 500ml 60
Bảng 3.24 Giá trị gia tăng của dược liệu rễ Ba kích khi sản xuất rượu 61
Bảng 3.25 Tổng hợp giá bán các sản phẩm từ dược liệu Ba kích tại các đại lý 62
Bảng 3.26 Một số tác nhân hỗ trợ, thúc đẩy chuỗi 64
Bảng 3.27 Bảng phân tích giá trị gia tăng chuỗi giá trị dược liệu Ba kích theo kênh 2 tại xã Lăng 66
Bảng 3.28 Bảng phân tích giá trị gia tăng chuỗi giá trị dược liệu Ba kích theo kênh 6 tại xã Lăng 66
Bảng 3.29 Bảng phân tích giá trị gia tăng chuỗi giá trị dược liệu Ba kích theo kênh 7 tại xã Lăng 66
Bảng 3.30 Bảng phân tích giá trị gia tăng chuỗi giá trị dược liệu Ba kích theo kênh 8 tại xã Lăng 67
Bảng 4.1 So sánh hệ cây thuốc ở xã Lăng và hệ cây thuốc ở Việt Nam 68
Bảng 4.2 So sánh số loài cây thuốc ở khu vực xã Lăng với một số vườn quốc gia và khu vực khác khác ở Việt Nam (xếp theo thứ tự tăng dần của hệ số diện tích/số loài) 68
Bảng 4.3 So sánh số loài cây thuốc được cộng đồng người Cơ Tu ở khu vực xã Lăng sử dụng so với số loài cây thuốc ở các cộng đồng khác ở Việt Nam sử dụng (xếp theo nhóm dân tộc) 69
Bảng 4.4 Phân tích SWOT 78
Bảng 4.5 Các chiến lược đề xuất 79
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Bản đồ huyện Tây Giang 10
Hình 1.2 Dược liệu Ba kích xã Lăng 15
Hình 1.3 Sơ đồ chuỗi giá trị [16] 16
Hình 1.4 Nguyên tắc tính giá trị gia tăng 18
Hình 1.5 Phân bổ giá trị gia tăng qua mỗi giai đoạn của chuỗi giá trị 19
Hình 3.1 Phân bố số lượng họ cây thuốc ở khu vực xã Lăng theo số loài 25
Hình 3.2 Phân bố số lượng chi cây thuốc ở khu vực xã Lăng theo số loài 26
Hình 3.3 Mức độ đa dạng cây thuốc theo loại thảm thực vật 32
Hình 3.4 Các mục đích sử dụng của 319 cây thuốc đã được phát hiện ở khu vực xã Lăng 33
Hình 3.5 Chuỗi giá trị dược liệu Ba kích tại xã Lăng, huyện Tây Giang (Quảng Nam) 37
Hình 3.6 Sơ đồ chuỗi giá trị đối với Cơ sở trồng Ba kích tại xã Lăng 45
Hình 3.7 Cơ cấu chi phí đầu vào các loại hình cơ sở trồng Ba kích (đơn vị %) 47
Hình 3.8 So sánh chi phí đầu tư trong 4 năm trồng Ba kích xã Lăng 49
Hình 3.9 Sơ đồ chuỗi giá trị đối với Thương lái 53
Hình 3.10 Sơ đồ chuỗi giá trị đối với cơ sở chế biến, sản xuất 56
Hình 3.11 Sơ đồ quy trình sản xuất rượu Ba kích Chính châu 57
Hình 3.12 Cơ cấu chi phí sản xuất rượu Ba kích 58
Hình 3.13 Sơ đồ chuỗi của đại lý bán lẻ 62
Hình 3.14 Sơ đồ biểu thị chi phí đầu vào của các tác nhân trong chuỗi giá trị dược liệu Ba kích xã Lăng 65
Hình 4.1 Đường cong loài 71
Hình 4.2 Các cây “tâm linh” được trồng trước nhà 74
Hình 4.3 Lá Náng (Crinum asiaticum) được để lên kèo nhà để đuổi tà ma 74
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Nằm ở khu vực có điều kiện tự nhiên và văn hóa đa dạng, Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới có mức độ đa dạng sinh học cao, nguồn tài nguyên cây thuốc phong phú với hơn 5.000 loài loài cây thuốc [51] Nguồn tài nguyên này là một phần quan trọng trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, trong hoạt động phát triển kinh tế qua các thời kỳ lịch sử khác nhau cũng như trong công cuộc xây dựng, phát triển và hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, cũng giống như các nước khác trên thế giới, nguồn tài nguyên cây thuốc ở nước ta đang
bị đe dọa do thảm thực vật bị tàn phá; cây thuốc bị khai thác quá mức và bị sử dụng một cách lãng phí; tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc bị mai một do sự xói mòn đa dạng các nền văn hóa; giới trẻ ở nhiều cộng đồng ít quan tâm đến học tập kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc của thế hệ trước; tính khó sử dụng của dược liệu,… [59] Cho đến nay mới có hơn 20 dân tộc khác nhau ở Việt Nam được nghiên cứu tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc [1], [2], [3], [4], [13], [21], [22], [23], [29], [34], [37], [39], [43], chiếm chưa đến 40% số dân tộc hiện có ở Việt Nam Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mỗi cộng đồng (mặc dù cùng 1 dân tộc) lại có tri thức
sử dụng cây cỏ làm thuốc rất khác nhau Chính vì vậy, việc điều tra tài nguyên cây thuốc vẫn luôn là một việc cấp thiết ở Việt Nam hiện nay
Xã Lăng (diện tích 223,39 km2) nằm sát biên giới Việt - Lào, là xã trọng điểm phát triển kinh tế, du lịch của huyện Tây Giang [20] Xã nằm trong lòng chảo được bao bọc bởi những dãy núi có rừng xanh với hàng trăm cây cổ thụ được bảo vệ bởi cộng đồng dân tộc Cơ Tu (chiếm khoảng 95% dân số [66]), đồng thời cũng là đầu mối giao thương thu mua, buôn bán dược liệu giữa Lào - Việt Nam và các khu vực lân cận Hiện nay, trước sự phát triển của du lịch, quá trình đô thị hóa, nhu cầu thu mua của thương lái, xã Lăng đang phải đối mặt với áp lực khai thác tài nguyên sinh vật/cây cỏ nói chung và tài nguyên cây thuốc nói riêng để phục vụ du khách đi du lịch thập phương Những cánh rừng của người Cơ Tu tại đây đang dần thu hẹp cả về diện tích và số lượng cây thuốc Đồng thời, việc thay đổi thói quen khám chữa bệnh hiện đại có thể dẫn tới tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc dần mai một và biến mất
Trang 14Do đó, nghiên cứu và tư liệu hóa tài nguyên cây thuốc của người Cơ Tu trong khu vực xã Lăng là điều cần thiết phải thực hiện
Về lĩnh vực phát triển kinh tế từ nguồn tài nguyên cây thuốc ở xã Lăng, hiện nay một số dược liệu không chỉ khai thác tự nhiên mà đã có chính sách phát triển, được đầu tư xây dựng vùng trồng như Ba kích, Đảng sâm,… góp phần không nhỏ trong công tác xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập bình quân trên địa bàn xã Lăng
[20] Trong đó dược liệu Ba kích (Morinda officinalis F.C.How) hiện đang được
chính quyền địa phương tập trung phát triển vùng trồng và xúc tiến thương mại các sản phẩm [18], [46], [47] Tuy nhiên tình trạng trồng trọt - buôn bán của dược liệu này lại chưa được nghiên cứu Việc phân phối lợi ích tài chính, quan hệ giữa các tác nhân, vai trò và mức độ ảnh hưởng của các tác nhân trong chuỗi giá trị của dược liệu Ba kích vẫn là những câu hỏi chưa có lời giải đáp, là điểm vướng mắc trong công tác quản lý, quy hoạch phát triển dược liệu của xã Lăng hiện nay
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Điều tra tài nguyên cây thuốc của người Cơ Tu và chuỗi giá trị dược liệu Ba kích ở xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam”
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
1 Xác định đa dạng sinh học cây thuốc và tri thức sử dụng cây thuốc của cộng đồng người Cơ Tu ở xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
2 Xác định chuỗi giá trị dược liệu Ba kích tại xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam
1.1.1 Điều kiện tự nhiên và văn hóa
Đất nước Việt Nam có diện tích phần lục địa rộng 35 triệu ha, hẹp nhưng dài, kéo dài từ Bắc xuống Nam hơn 1.800 km, có địa hình đa dạng với hai vùng đồng bằng châu thổ lớn là sông Hồng ở phía Bắc và sông Cửu long ở phía Nam, có hai dãy núi lớn là Hoàng Liên Sơn và Trường Sơn với nhiều vùng có độ cao trên 2.000m, và các cao nguyên nhỏ như Đồng Văn, Mộc Châu, Sơn La, Gia Lai - Kon Tum, Đắk Lắk, Di Linh, Việt Nam nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nhiệt độ trung bình năm khác nhau giữa miền Bắc và miền Nam, lượng mưa trung bình lớn nhưng phân bố không đều trong năm Các yếu tố địa hình và khí hậu đa dạng như vậy dẫn đến Việt Nam có thảm thực vật phong phú, từ rừng rậm nhiệt đới
ẩm xanh quanh năm, rừng rậm nhiệt đới mưa mùa nửa rụng lá đến rừng á nhiệt đới
ẩm xanh quanh năm, á nhiệt đới hơi khô, savan nhiệt đới khô, truông nhiệt đới khô, rừng ngập mặn, rừng lá kim, rừng lùn núi cao, Điều này làm cho đất nước chúng
ta có nguồn tài nguyên thực vật đa dạng, với khoảng 12.000 loài cây cỏ khác nhau
và dự đoán có thể đến 13.000 - 15.000 loài nếu được nghiên cứu đầy đủ [53]
Việt Nam là nơi giao lưu của các dân tộc và các nền văn hoá, trong đó quan trọng nhất là hai luồng văn hoá Trung Hoa và Ấn Độ Việt Nam là ngôi nhà chung của 54 dân tộc, thuộc 3 họ và 8 nhóm ngôn ngữ khác nhau, trong đó có nhiều dân tộc có quan hệ gần gũi với các quốc gia trong khu vực Các dân tộc sinh sống ở Việt Nam tạo nên một hình ảnh thu nhỏ của khu vực Đông Nam Á Để tồn tại và phát triển đến ngày nay, các thế hệ trước của mỗi cộng đồng đã phải trả giá bằng cuộc sống và sức khỏe để tích lũy tri thức và kinh nghiệm sử dụng những cây cỏ làm thuốc, tạo nên nền tảng tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc ngày nay Mỗi dân tộc có tập quán, niềm tin, tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc khác nhau, vì vậy tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc là đa dạng [53]
1.1.2 Cây thuốc ở Việt Nam
Đến nay, chúng ta đã phát hiện có 5.117 loài và dưới loài, thuộc 1.823 chi, 360
họ của 8 ngành Thực vật bậc cao có mạch, cùng với một số taxon thuộc nhóm Rêu, Tảo và Nấm lớn [51] Mỗi loài lại có bộ gen đa dạng riêng của mình Điều này làm cho kho tàng nguồn gen cây thuốc ở Việt Nam vô cùng đa dạng, từ cấp hệ sinh thái đến cấp loài và phân tử Dự đoán số loài cây thuốc ở Việt Nam có thể lên đến 6.000
Trang 16loài nếu được nghiên cứu đầy đủ trong tương lai Có tới 87,1% số cây thuốc đã biết
là các cây hoang dã, chủ yếu ở vùng đồi núi, từ vùng trung du đến núi cao Chỉ có 12,9% cây trồng (kể cả bản địa và nhập nội) Các loài cây thuốc phân bố ở 8 vùng sinh thái trong nước là Đông Bắc - Bắc bộ, Việt Bắc - Hoàng Liên Sơn, Tây Bắc, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ, Đông Trường Sơn và Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long; tập trung chủ yếu ở các trung tâm đa dạng sinh vật chính là Đông Bắc (Phia Bjóoc - Ba Bể), Hoàng Liên Sơn, Cúc Phương - Pù Luông, Quảng Nam - Kon Tum (Ngọc Linh), Lâm Viên - Di Linh Phần lớn số loài cây thuốc ở Việt Nam được ghi nhận dựa trên tri thức và kinh nghiệm sử dụng của các cộng đồng dân tộc ở khắp các địa phương trên toàn quốc Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc ở Việt Nam tồn tại ở 2 nền y học chính là (i) Y học Cổ truyền chính thống, có nguồn gốc từ Trung y, với các hệ thống lý luận và thực hành được tư liệu hoá trong sách vở như các học thuyết Âm - dương, Ngũ hành, Tạng tượng,…; (ii) các nền Y học nhân dân hay Y học Cổ truyền Dân tộc, thường được gọi là Thuốc nam Điều này đã tạo nên một kho tàng tri thức sử dụng cây thuốc của các dân tộc ở Việt Nam vô cùng phong phú [53] Hội nghị toàn quốc của Chính phủ về phát triển dược liệu Việt Nam diễn ra sáng ngày 12 tháng 4 năm
2017 tại Lào Cai, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã xác nhận Y học Cổ truyền Dân tộc là một kho báu và ngành Dược liệu Việt Nam có khả năng phát triển rất to lớn
1.1.3 Khai thác, sử dụng cây thuốc ở Việt Nam
Theo thống kê, đến năm 2015, ở Việt Nam có 153 doanh nghiệp sản xuất thuốc Tân dược, 80 doanh nghiệp sản xuất thuốc Đông dược, ngoài ra có trên 300
cơ sở sản xuất thuốc Đông dược (trong số hơn 1.200 công ty trên cả nước) [64]; 1.180 bệnh viện y tế công cộng các cấp; 170 bệnh viện tư nhân (chủ yếu nằm ở các thành phố lớn) và 54.250 cửa hàng thuốc bán lẻ [54] Nhu cầu dược liệu cho khối công nghiệp Dược ở Việt Nam ước tính khoảng 60.000 tấn hàng năm [64] Tiềm năng cung cấp dược liệu chỉ riêng cho thuốc Đông dược có thể đạt 12 ngàn tỷ VNĐ (tức khoảng 10% tỷ trọng khoảng 10% tổng doanh thu ngành dược - theo thống kê năm 2017) [14] Dự báo Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa, nhận thức về vấn đề sức khỏe của người dân dần được cải thiện đồng thời mức thu nhập bình quân đầu người tiếp tục duy trì ở mức cao vì vậy nhu cầu về các sản phẩm dược phẩm và dịch vụ y tế sẽ ngày càng mở rộng, quy mô thị trường dược Việt Nam sẽ
có mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2019 - 2022 là 10,6%/năm [14], [38], [54]
Trang 17Các doanh nghiệp sản xuất Đông dược tại Việt Nam từ lâu đã triển khai hoạt động trồng trọt tạo vùng nguyên liệu, chủ động sản xuất Có khoảng 50 loài cây thuốc bản địa đã được trồng trọt ở Việt Nam Nhiều loài được trồng trên quy mô lớn
ở các tỉnh miền núi, hằng năm cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu từ
vài trăm cho đến hằng nghìn tấn sản phẩm như: Quế (Cinnamomum cassia) ở Yên Bái, Thanh Hoá, Lào Cai,… ; Hồi (Illicium verum) ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh; Thảo quả (Amomum aromaticum) ở Lào Cai, Lai Châu Nhiều loài được trồng cả ở các vùng trung du và đồng bằng như: Hoa hoè (Styphnolobium
japonicum), Địa liền (Kaempferia galanga), Hương nhu (Ocimum gratissimum), Cúc hoa (Chrysanthemum indicum), Ích mẫu (Leonurus japonicus) Hoạt động
trồng cây thuốc đã được phát động và triển khai ở nhiều cộng đồng miền núi như
Hà Giang (Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc, Hoàng Su Phì), Lạng Sơn (Mẫu Sơn), Yên Bái (Văn Chấn, Lục Yên), Lai Châu (Sìn Hồ), Lào Cai (Sa Pa, Bát Xát, Bắc Hà), Quảng Nam (Trà My), Lâm Đồng (Đà Lạt),… và đồng bằng như làng Nghĩa Trai (Văn Lâm, Hưng Yên), vùng Mễ Sở, Đa Ngưu (Khoái Châu),… [53]
Có khoảng 300 loài thuộc hơn 40 họ thực vật đã được nhập vào Việt Nam từ nhiều vùng khác nhau trên thế giới Trong số đó có trên 20 loài có thể trồng trọt
hàng hóa như Actisô (Cynara scolymus), Đương quy (Angelica sinensis), Địa hoàng (Rehmannia glutinosa), Bạch chỉ (Angelica dahurica), Bạch truật (Atractylodes
macrocephala), Bạc hà (Mentha spp.) Một số loài đã được phát triển để cung cấp
dược liệu cho công nghiệp dược như Actisô (Cynara scolymus) [53]
Nhiều cây thuốc đã được các trường đại học, viện, công ty dược nghiên cứu
phát trển thành công thành các dạng bào chế bán rộng rãi trên thị trường như Bình
vôi (Stephania spp.), Chè dây (Ampelopsis cantoniensis), Chó đẻ răng cưa
(Phyllanthus urinaria), Ích mẫu (Leonurus japonicus), Kim tiền thảo (Desmodium
styracifolium), Mướp đắng (Momordica chrantia), Ngưu tất (Achyranthes bidentata), Thanh cao hoa vàng (Artemisia annua), Ý dĩ (Coix-lacryma jobi), Dây thìa canh (Gymnema sylvestre), Theo thống kê của Cục Quản lý Dược Việt Nam,
đến tháng 4 năm 2018, có 1.844 chế phẩm Đông dược trong và ngoài nước, thuộc
34 dạng bào chế, sử dụng 549 thành phần dược liệu khác nhau, hiện đang lưu thông trên thị trường Việt Nam
1.1.4 Điều tra cơ bản tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam
Đây là hoạt động được tiến hành rộng rãi nhất trong toàn quốc, được thực hiện bởi hàng chục trường đại học, viện nghiên cứu, vườn quốc gia,… trong đó có một
Trang 18số cơ quan thực hiện nhiều là Viện Dược liệu, Trường Đại học Dược Hà Nội, Viện Dân tộc học, nổi bật là các hoạt động điều tra tổng thể về tình hình khai thác và sử dụng dược liệu làm thuốc tại Việt Nam của Viện Dược liệu trong các giai đoạn: trước 1973, từ 1978 đến 1984; từ 2001 đến 2005, từ 2007 đến 2012 [53] Hoạt động điều tra tài nguyên cây thuốc thường được thực hiện trong một phạm vi cụ thể (thường là một cộng đồng cấp xã, vườn quốc gia) Các hoạt động chính là điều tra tại cộng đồng và/hoặc tại thực địa (có hay không có sự tham gia của thầy lang), ghi chép thông tin về sử dụng cây thuốc, thu mẫu cây thuốc, xử lý mẫu và xác định tên khoa học, phân tích dữ liệu Đến nay, phần lớn các vườn quốc gia và các tỉnh thành trong cả nước đã được điều tra về tài nguyên cây thuốc Các điều tra này đã tạo nền tảng cơ bản để xây dựng Danh lục cây thuốc ở Việt Nam [53]
Về tài nguyên cây thuốc của các cộng đồng dân tộc tại Việt Nam, đã có trên
20 dân tộc khác nhau ở Việt Nam được điều tra, bao gồm các dân tộc: Tày, Nùng, Dao, Giáy, Mông, Sán Chay, Sán Dìu, Mường, Rục, Vân Kiều, Thái, Chăm, Lô Lô,
Pà Thẻn, Xinh Mun, La Ha, Kháng, Cơ Tu, Lào, Hoa, Ê Đê, Ba Na, [1], [2], [3], [4], [13], [21], [22], [23], [29], [34], [37], [39], [43] Các dân tộc được tập trung nghiên cứu nhiều nhất là Tày, Thái, Dao, Mông, Mường
1.1.5 Bảo tồn Tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam
Các hoạt động bảo tồn diễn ra đầu tiên và được thực hiện một cách có hệ thống là Đề án Bảo tồn nguồn gen và giống cây thuốc, vào thời điểm trước khi có hướng dẫn bảo tồn của WHO Phần lớn các hoạt động bảo tồn ở các cơ quan/tổ chức còn lại được triển khai từ giai đoạn 1995 đến nay, tập trung vào cộng đồng, chủ yếu là điều tra cơ bản cây thuốc các dân tộc, một số tổ chức có triển khai các hoạt động can thiệp tại cộng đồng Hoạt động của các tổ chức ngoài chính phủ rất
đa dạng nhưng nhìn chung có tính chất can thiệp, bao gồm các hoạt động bảo tồn tri thức, trồng cây thuốc, nâng cao nhận thức cộng đồng, xây dựng vườn thuốc Nam, xây dựng mô hình bảo tồn thông qua phát triển,…
Các hệ thống bảo tồn cây thuốc đã được xây dựng bao gồm:
- Hệ thống các cơ quan/tổ chức tham gia Đề án Bảo tồn nguồn gen và giống cây thuốc, bao gồm: Viện Dược liệu, Trường Đại học Dược Hà Nội, Viện Sinh thái
và Tài nguyên Sinh vật, Trung tâm nghiên cứu Bảo tồn và phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười và Học viện Quân Y Ngoài các hoạt động riêng rẽ theo mục tiêu của cơ quan, các cơ quan này tham gia các hoạt động trong khuôn khổ của Đề án, dưới sự điều phối của Viện Dược liệu từ năm 1988 đến nay Các hoạt động của hệ thống
Trang 19này khá rộng, bao gồm: điều tra và thu thập nguồn gen, bảo tồn nguồn gen theo cách hình thức nguyên vị, chuyển vị, trên trang trại, xây dựng lý lịch giống, cơ sở
dữ liệu, khai thác nguồn gen, đào tạo nhân lực, Hệ thống này, cùng với các hoạt động của nó tồn tại với nguồn kinh phí thường niên từ ngân sách
- Mạng lưới Thực vật dân tộc học và Bảo tồn cây thuốc, được xây dựng với sự khởi xướng của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển cây thuốc Dân tộc cổ truyền (một tổ chức ngoài chính phủ), Công ty cổ phần Traphaco, với sự tham gia của 21
cơ quan, tổ chức là các trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức ngoài chính phủ, vườn quốc gia, công ty dược Nhìn chung, mạng lưới này không có tổ chức chặt chẽ, không phụ thuộc vào ngân sách và chủ yếu hoạt động dưới dạng trao đổi thông tin và nguồn nhân lực trong bảo tồn
- Hệ thống bảo tồn nguyên vị, gồm 30 vườn quốc gia, 60 khu bảo tồn thiên nhiên, 38 khu bảo vệ cảnh quan với tổng diện tích hơn 2,4 triệu ha, bao phủ khoảng 90% số loài có trong Sách đỏ Việt Nam và bảo tồn chuyển vị Có 4 vườn quốc gia trong số đó tham gia Đề án Bảo tồn nguồn gen và giống cây thuốc Nhiều vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên đã tích cực tham gia vào hoạt động bảo tồn cây thuốc Các hoạt động khá đa dạng, phần lớn là điều tra cơ bản và lập danh mục cây thuốc, thực hiện các hoạt động bảo tồn tại cộng đồng (như VQG Ba Bể, Ba Vì, Cúc Phương, Tam Đảo, Xuân Sơn, Bến En, Bạch Mã, Cát Tiên) và xây dựng vườn thực vật (trong đó có cây thuốc) Hệ thống này tồn tại lâu dài nhờ ngân sách nhà nước,
do đó có tiềm năng rất lớn trong các hoạt động bảo tồn nguyên vị [53]
Bảng 1.1 Một số vườn quốc gia ở Việt Nam và số lượng cây thuốc được bảo vệ
trong đó [24]
Số loài cây thuốc
Trang 20TT Tên Vườn Quốc gia, Khu Bảo tồn Thiên
Số loài cây thuốc
- Xây dựng được hệ thống bảo tồn chuyển vị tại 13 đơn vị thành viên trên toàn
bộ các vùng sinh thái khác nhau, lập danh mục, điều tra, thu thập và lưu giữ 730
loài trong các đơn vị thành viên tham gia đề án, tại các vườn cây thuốc (bảo tồn Ex
situ) và trên trang trại (On farm) Trong đó có 630 loài đã được xếp vào 4 nhóm ưu
tiên bảo tồn; 250 loài đã được đánh giá ở các mức độ khác nhau; 200 loài bảo tồn an toàn đã được xác định chuyển sang đánh giá lập lý lịch giống giai đoạn 2 phục vụ tư liệu hoá nguồn gen cây thuốc Ngoài ra, hoạt động bảo tồn chuyển vị còn được thực hiện dưới dạng các vườn thực vật ở các vườn quốc gia (như Ba Bể, Tam Đảo, Ba
Vì, Cúc Phương,…), tại các vườn cây thuốc Nam tại các Trạm y tế xã trong cả nước
và tại rất nhiều vườn thuốc tại gia đình các thầy lang tại các cộng đồng Mặc dù chưa có thống kê chính thức nhưng có điều chắc chắn rằng, việc trồng và sử dụng cây thuốc ở các vườn thuốc Nam tại trạm y tế và vườn gia đình của các thầy lang chính là hoạt động bảo tồn chuyển vị lớn nhất và bền vững đang được thực hiện trên phạm vi toàn quốc [53]
Bên cạnh đó, Sách đỏ Việt Nam (Red Data Book) [5] đã công bố 448 loài thực vật thuộc loại quý hiếm tại Việt Nam đang bị đe dọa giảm sút số lượng hoặc đã có nguy cơ bị tuyệt chủng cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển Đây là cơ sở khoa học, tạo cơ sở pháp lý cho việc đề xuất, quyết định các biện pháp bảo vệ, phục hồi đồi với từng đối tượng thuộc loại này, đồng thời cũng là căn cứ đề xử lý các hành vi phá hoại thiên nhiên, gây tác hại cho sự tồn tại, phát triển của các loài sinh vật cần được bảo vệ trong hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên sinh vật ở nước ta Tương tự Sách đỏ, IUCP 2019 [68] cũng đưa ra danh sách các loài cây thuốc cần bảo tồn
Chính phủ cũng ban hành Nghị định 06/2019/NĐ-CP về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp [11], trong đó có 55 thực vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại và 39 thực vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại Đồng thời, Nhà nước cũng khuyến khích, hỗ trợ, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đầu tư quản lý, bảo vệ và phát triển thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
Trang 211.1.6 Phát triển Tài nguyên cây thuốc
Hiện nay ở Việt Nam các văn bản pháp lý liên quan đến phát triển tài nguyên cây thuốc bao gồm: (1) Quyết định 1976 [35] do Thủ tướng ban hành năm 2013, là Quyết định phê duyệt "Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030" Quyết định quy hoạch phát triển 54 loài dược liệu thế mạnh của 8 vùng sinh thái phù hợp với điều kiện sinh trưởng và phát triển của cây thuốc để tập trung phát triển quy mô lớn, mục tiêu đến năm 2020 đáp ứng được 60% và đến năm 2030 là 80% tổng nhu cầu sử dụng dược liệu trong nước, tăng cường khả năng xuất khẩu dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu trong nước Trong đó, vùng Nam Trung Bộ (gồm Quảng Nam, Khánh Hòa) quy hoạch phát triển trồng 10 loài dược liệu bao gồm các loài bản địa: Bụp giấm, Diệp hạ châu đắng, Dừa cạn, Đậu ván trắng, Củ mài, Nghệ vàng, Quế, Râu mèo, Sa nhân tím, Sâm ngọc linh với diện tích trồng khoảng 3.200 ha; (2) Quyết định 206/QĐ-BYT do
Bộ Y tế ban hàng năm 2015 về "Danh mục cây dược liệu ưu tiên phát triển giai đoạn 2015-2020" [6], gồm có 54 loài cây thuốc, làm cơ sở cho các tỉnh, thành phố làm căn cứ lựa chọn để phát triển dược liệu tại địa phương Việc trồng trọt dược liệu theo tiêu chuẩn cũng được đẩy mạnh Tính đến ngày ngày 4 tháng 7 năm 2018, có
23 vùng trồng của 17 loại dược liệu đã được Cục Quản lý Y, Dược Cổ truyền cấp phiếu tiếp nhận công bố sản xuất dược liệu đạt GACP-WHO, từng bước chuẩn hóa, nâng cao chất lượng các sản phẩm đông dược ngay từ nguồn nguyên liệu đầu vào Ngoài ra, Luật Dược sửa đổi đã đưa ra một loạt các chính sách, giải pháp nhằm khôi phục lại vị thế cho dược liệu, thuốc dược liệu và thuốc cổ truyền Việt Nam, trong đó có vấn đề hỗ trợ phát triển nuôi trồng, quản lý chặt chẽ hơn về nhập khẩu dược liệu, đồng thời cho phép chỉ định thầu để ngành dược trong nước có điều kiện phát triển [30] Đây chính là cơ hội cho những doanh nghiệp nội địa hoạt động sản xuất trong mảng Đông dược
Căn cứ trên các văn bản trên, tỉnh Quảng Nam cũng có những chính sách phát triển dược liệu: (1) Nghị quyết 202/2016/NQ-HĐND của Hội đồng Nhân dân tỉnh Quảng Nam về cơ chế khuyến khích bảo tồn và phát triển một số dược liệu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, giai đoạn 2016-2020 [18], và quyết định 2950/QĐ-UBND của
Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam năm 2016 về việc triển khai nghị quyết trên [46], theo đó tập trung 03 cây dược liệu được khuyến khích bảo tồn và phát triển trên địa
bàn huyện Tây Giang là: Ba kích tím (Morinda officinalis F.C.How), Đảng sâm (Codonopsis javanica (Blume) Hook.f), Sa nhân tím (Amomum longiligulare
T.L.Wu); và (2) Quyết định số 301/QĐ-UBND của Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam tháng 1 năm 2018 [48], quyết định phê duyệt "Quy hoạch bảo tồn và phát triển cây dược liệu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2018-2025, định hướng đến
Trang 22năm 2030" ban hành ngày 22 tháng 1 năm 2018 Theo đó 09 cây dược liệu Đảng sâm, Ba kích tím, Sa nhân, Đương quy, Giảo cổ lam, Lan kim tuyến, Nghệ, Cà gai leo và Đinh lăng được ưu tiên bảo tồn, phát triển và ổn định vùng trồng
Các văn bản trên đã góp phần không nhỏ trong công cuộc phát triển dược liệu nói chung, tài nguyên cây thuốc nói riêng, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của nước ta hiện nay
1.2 Khu vực xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
1.2.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội của huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Huyện Tây Giang là một huyện miền núi tỉnh Quảng Nam, được thành lập vào ngày 25 tháng 12 năm 2003 trên cơ sở tách huyện Hiên tỉnh Quảng Nam thành huyện Đông Giang và Tây Giang theo nghị định số 72/2003/NĐ-CP của Thủ tướng chính phủ Huyện Tây Giang nằm trong Trung tâm đa dạng sinh học Quảng Nam - Kon Tum, có một vị trí đặc biệt trong phát triển kinh tế, bảo tồn văn hóa, cảnh quan
và du lịch Phía tây của huyện giáp Lào, phía bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía đông giáp huyện Đông Giang, phía nam giáp huyện Nam Giang cùng tỉnh Toàn huyện gồm có 10 xã: Ch’ơm, A Xan, Tr’Hy, Lăng, A Tiêng, Bha Lê, Ga Ri, A Nông, Dang, và A Vương [66]
Hình 1.1 Bản đồ huyện Tây Giang
Tổng diện tích tự nhiên của Tây Giang là 902,97 ha, với 41.923,15 ha rừng nguyên sinh, rừng sản xuất: 1.114,39 ha và rừng phòng hộ: 279 ha; trồng rừng thay
Trang 23thế 72,42 ha; khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng: 734,3 ha 100% đất lâm nghiệp đã được giao cho tổ chức, cá nhân, cộng đồng làng quản lý, bảo vệ, chăm sóc và phát triển rừng Độ che phủ rừng toàn huyện đạt 65% [20]
Với diện tích rừng lớn, tiềm năng về đa dạng sinh học của Tây Giang rất cao, đặc biệt là các cánh rừng nguyên sinh, với nhiều thác ghềnh đẹp, đỉnh núi cao, khí hậu quanh năm mát mẻ Nhiều cánh rừng quý hiếm như Lim xanh, Thông đỏ, Giổi, rừng hoa Đỗ quyên đã được công nhận Riêng khu rừng di sản Pơ mu với trên 2.011 cây, có 725 cây là cây di sản Việt Nam [66] Tuy nhiên cho đến nay, chưa có nghiên cứu thống kê đầy đủ các giống/loài cây nói chung, cây thuốc nói riêng trong toàn vùng
1.2.1.2 Điều kiện xã hội
Về nông - lâm nghiệp, các cây trồng hiện nay đang được phát triển tại huyện Tây Giang bao gồm: Cao su (2.120,17 ha), Keo lai (1.704,6 ha), Đảng sâm (288,13 ha), Ba kích (262,91 ha), Sâm ngọc linh (200 ha), Ngô lai (200 ha), Cam (91 ha), Mắc ca (19 ha), Huyện Tây Giang có chính sách phát triển kinh tế kêu gọi đầu tư, quy hoạch mở rộng diện tích các cây trồng có giá trị cao Tuy nhiên theo báo cáo tổng kết của huyện Tây Giang, kết quả kêu gọi, thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông - lâm - dược liệu chưa đạt yêu cầu, đến nay chưa có doanh nghiệp đầu tư quy mô lớn; tiềm năng, giá trị dưới tán rừng rất lớn nhưng khai thác chưa nhiều Trong khi đó, công tác quản lý, bảo vệ rừng, tài nguyên khoáng sản có lúc chưa chặt chẽ, còn để xảy ra một số trường hợp khai thác lâm, khoáng sản trái phép Hoạt động khai thác cây thuốc của người dân và thu mua của thương lái cũng đang ngày càng gia tăng [20]
Về văn hóa - du lịch, huyện Tây Giang có nhiều chứng tích độc đáo, cổ xưa như: chữ cổ khắc trên đá khu vực Achia, trống đồng Đông Sơn, ruộng bậc thang, nghề gốm, đan lát, dệt, ẩm thực Trong kháng chiến, Tây Giang là vùng căn cứ địa cách mạng nên còn có đoạn đường nguyên sơ của Đường Trường Sơn huyền thoại, địa đạo,… Tây Giang có nhiều làng bản độc đáo theo văn hóa làng truyền thống Cơ
Tu, tạo cho du khách thuận lợi sinh hoạt cộng đồng (homestay) có tiềm năng phát triển du lịch rất lớn [66] Huyện Tây Giang cũng chú trọng bảo tồn, gìn giữ, phát triển các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Cơ Tu như: tổ chức lễ hội khai năm tạ ơn rừng, lễ hội mừng lúa mới, nói lý, hát lý, điêu khắc, và được công nhận
di sản văn hóa cấp quốc gia như: điệu múa Tân’tung - Da’dă, nói lý, hát lý, dệt thổ cẩm của người Cơ Tu (2018); làng truyền thống Cơ Tu huyện được Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam chứng nhận bảo trợ Các điểm dừng chân du lịch sinh thái Azứt (xã Bha Lê), làng du lịch sinh thái di sản Pơ mu (xã A Xan) và điểm du lịch Aliêng là các điểm dừng nghỉ, tham quan du lịch sinh thái nổi tiếng trên địa bàn
Trang 24[20] Với các công tác trên, du lịch Tây Giang hiện đang phát triển mạnh Kèm theo
đó là việc mở rộng diện tích sinh sống của người dân địa phương, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường tự nhiên và khiến những cánh rừng của người Cơ Tu đang dần thu hẹp cả về diện tích và số lượng cây thuốc, làm giảm đa dạng sinh học của vùng
1.2.2 Điều kiện tự nhiên và xã hội của xã Lăng (Tây Giang, Quảng Nam)
1.2.2.1 Điều kiện tự nhiên
Xã Lăng thuộc huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam, có diện tích 223,39 km2 Phía Tây Bắc của xã giáp biên giới Việt - Lào, phía Đông Bắc tiếp giáp xã A Tiêng
- Tây Giang, phía Đông giáp xã Dang - Tây Giang, phía Nam giáp xã Zuôih - Nam Giang, phía Tây giáp xã Tr’Hy - Tây Giang Xã Lăng gồm 7 thôn: A Ró, A Rớh, Bha Lừa, Jơ Da, Nal, Pơrning và Tà Ri Diện tích rừng tự nhiên chiếm hơn 50%
1.2.2.2 Điều kiện xã hội
Xã Lăng được coi là trung tâm của huyện Tây Giang, với dân cư khoảng 1.864 người, trong đó trên 80% là người Cơ Tu [20] Đến cuối năm 2015, xã Lăng là xã thứ 2 của huyện Tây Giang đạt chuẩn nông thôn mới (cùng với xã A Nông), được định hướng là xã trọng điểm phát triển kinh tế, du lịch của huyện Tây Giang [20] Con đường qua trung tâm xã đã được nhựa hóa từ năm 2004, đây là xã đầu tiên được ưu tiên bố trí vốn đầu tư đạt tiêu chí đường bê tông hóa giao thông nông thôn của huyện Tây giang Trung tâm xã Lăng cũng được huyện chú trọng quy hoạch sớm, nhưng không làm phá vỡ văn hóa làng Bởi vậy, du lịch ở xã Lăng phát triển từ rất sớm so với các khu vực khác trong huyện, nhưng luôn gắn liền với công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa bản địa [20], [66]
Xã Lăng đồng thời cũng là đầu mối giao thương thu mua - buôn bán dược liệu giữa Lào - Việt Nam và các khu vực lân cận, như: Đảng sâm, Ba kích, Tiêu rừng, Táo mèo, Ngọc cẩu,… có giá trị kinh tế cao (Bảng 1.2) Trong đó, một số dược liệu không chỉ khai thác tự nhiên mà còn được đầu tư phát triển vùng trồng trong khu vực như Đảng sâm, Ba kích [20] Cho đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu nào về chuỗi giá trị của các dược liệu trên tại xã Lăng nói riêng, huyện Tây Giang nói chung, công tác quản lý, kiểm soát chất lượng dược liệu còn gặp nhiều khó khăn
Bảng 1.2 Giá bán một số dược liệu trên thị trường xã Lăng
Trang 25TT Dược liệu Giá thị trường (VNĐ/1kg dược liệu tươi)
Người Cơ Tu tự gọi mình là “Cơ Tu” Trong tiếng Cơ Tu, “cơ” là người, “tu”
là ngọn, nguồn đầu suối Theo cách hiểu chung, “Cơ Tu” là người ở đầu ngọn nước Người Cơ Tu thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, ngữ hệ Nam Á Ngoài tộc danh
Cơ Tu, người Cơ Tu còn được gọi là Catu, C’tu, Katu, K’tu, Phương, Hạ,… Họ sống tập trung chủ yếu ở các huyện Đông Giang, Tây Giang và Nam Giang (Quảng Nam); một bộ phận cư trú ở huyện Nam Vang (Đà Nẵng), huyện Nam Đông và A Lưới (Thừa Thiên Huế) Ngoài ra, người Cơ Tu còn sinh sống ở tỉnh Sêkông, Saravan, Champasak (Lào) [26], [42] Người Cơ Tu ở huyện Tây Giang - Quảng Nam chiếm khoảng 95% dân số (theo thống kê năm 2015) [66] Tại Xã Lăng, người
Cơ Tu chiếm hơn 80% dân số
Cũng như các tộc người sinh sống dọc dãy Trường Sơn, canh tác nương rẫy và chăn nuôi gia súc vẫn được xem là hoạt động sản xuất chủ đạo của người Cơ Tu Thế nhưng, nguồn lợi từ hoạt động sản xuất này không đủ đáp ứng nhu cầu sống cho người dân Chính vì vậy, việc khai thác và sử dụng các sản vật từ núi rừng cho đến nay vẫn được đồng bào tiến hành một cách thường xuyên Nếu săn bắt là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu cho cuộc sống hàng ngày và lễ hội, thì hái lượm là hình thức người Cơ Tu dùng để khai thác và sử dụng thực vật nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của cuộc sống, từ ăn, mặc, ở đến chữa bệnh, làm công cụ lao động và các nghề thủ công truyền thống [26], [42]
Người Cơ Tu tin rằng bà con sinh ra từ rừng và khi chết đi thành cát bụi cũng trở lại với rừng Chính đời sống phụ thuộc chủ yếu vào rừng nên đồng bào luôn ý thức việc giữ rừng như giữ nguồn sống của chính mình [28] Người dân Cơ Tu có nhiều tập quán, phong tục liên quan việc bảo vệ và khai thác rừng Tri thức của đồng bào Cơ Tu tích lũy được cho phép họ khai thác và sử dụng có hiệu quả những nguồn tài nguyên của rừng bền vững [28] Phần lớn diện tích rừng tự nhiên hiện nay tại Tây Giang còn giữ được là nhờ công sức của người Cơ Tu Tuy nhiên, hiện nay môi trường sống của người Cơ Tu có nhiều thay đổi, rừng tự nhiên không còn nhiều như trước nữa, cùng với những chính sách của nhà nước trong bảo vệ rừng, đã dẫn đến sự thay đổi trong tập quán sinh hoạt của người Cơ Tu [26] Điều đó, khiến cho
Trang 26tri thức của người Cơ Tu đang ngày một thay đổi, thậm chí có những tri thức đã bị mất đi, trong đó có tri thức về sử dụng cây thuốc chữa bệnh
Do biến đổi là xu hướng phát triển tất yếu của xã hội, nên việc nghiên cứu, bảo tồn, phát triển những tri thức địa phương của người Cơ Tu và đa dạng sinh học cây thuốc ở xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam là việc cần thiết và nên được tiến hành một cách có hệ thống Mặc dù đã có một số điều tra ban đầu về tri thức địa phương của người Cơ Tu như: nghiên cứu người Cơ Tu ở khu vực Nam Đông và Phú Lộc - Thừa Thiên Huế (với số cây thuốc lần lượt là 137 và 249 loài cây thuốc) [4], [39]; Nghiên cứu người Cơ Tu trong khai thác và sử dụng thực vật rừng (tập quán hái lượm cho văn hóa ẩm thực, thủ công mỹ nghệ) [42] Nhưng chưa
có nghiên cứu nào về người Cơ Tu và tài nguyên cây thuốc tại Tây Giang nói chung, xã Lăng nói riêng Chi Cục Kiểm Lâm tỉnh Quảng Nam cũng đã có điều tra
về chủng loại các loài cây, con trong khu vực toàn tỉnh Quảng Nam [65], tuy nhiên điều tra này mới chỉ dừng lại ở mức thống kê và điều tra ban đầu ở mức tư liệu hóa, chưa cung cấp đủ cơ sở khoa học cho hoạt động bảo tồn, phát triển cây thuốc ở khu vực này Trong khi hàng ngày, người dân sống ở khu vực xã Lăng nói riêng, huyện Tây Giang nói chung vẫn tiến hành khai thác, mua bán các loài cây thuốc để phục
vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe, cũng như phục vụ khách du lịch, đặc biệt là trong mùa lễ hội Do vậy, để có thể bảo tồn và phát triển bền vững cây thuốc ở khu vực này, cần thiết phải có một nghiên cứu về các cây thuốc ở khu vực, cũng như tình trạng thị trường dược liệu, nhằm xác định mức độ đa dạng sinh học, giá trị sử dụng, phân bố cây thuốc, và các hoạt động trồng trọt, mua bán dược liệu có tác động như thế nào đến kinh tế, xã hội của địa phương
1.4 Dược liệu Ba kích xã Lăng
Dược liệu Ba kích hay còn gọi là dây ruột gà, là rễ đã phơi hay sấy khô của
cây Ba kích (Morinda officinalis How), họ Cà phê (Rubiaceae) [27] Tại khu vực xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam, cây Ba kích (Morinda officinalis How) là
một cây bản địa, được chính quyền địa phương ưu tiên phát triển thông qua các văn bản: Quyết định 206/QĐ-BYT của Bộ Y tế (2015) [6]; Nghị quyết 202/2016/NQ-HĐND của Hội đồng Nhân dân tỉnh Quảng Nam (2016) [18], và Quyết định 2950/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam (2016) [46] Đối với chính sách phát triển dược liệu trên địa bàn Xã Lăng, tỉnh Quảng Nam chỉ tập trung hỗ trợ phát triển diện tích trồng cây Ba kích (Bảng 1.3) [46], trong khi các dược liệu khác (Đảng sâm và Sa nhân) không ưu tiên phát triển tại xã Lăng trong giai đoạn hiện nay
Trang 27Hình 1.2 Dược liệu Ba kích xã Lăng Bảng 1.3 Danh sách dược liệu chú trọng phát triển ở huyện Tây Giang trong
giai đoạn 2016-2020 theo Quyết định 2950/QĐ-UBND
Kết quả thực hiện Quyết định 2950/QĐ-UBND tính đến tháng 11 năm 2018,
đã có tổng cộng 35 ha trồng mới cây Ba kích trên địa bàn huyện Tây Giang, trong
đó tại xã Lăng là 14 ha (40% tổng diện tích trồng mới của toàn tỉnh), vượt 12% so với kế hoạch đề ra [45] (Phụ lục 3.3)
Mặt khác, thực hiện Quyết định 1599 của UBND tỉnh ngày 22/5/2018 phê duyệt đề án “Mỗi xã một sản phẩm” (gọi tắt là chương trình OCOP) giai đoạn 2018
- 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 [47], sản phẩm rượu từ Ba kích của xã Lăng đã
Trang 28được đưa vào “Danh mục sản phẩm hiện có dự kiến lựa chọn hoàn thiện, nâng cấp trong chương trình OCOP giai đoạn 2018 - 2020”
Từ những thông tin trên, đề tài lựa chọn dược liệu Ba kích (hay rễ Ba kích) là đối tượng chính để điều tra chuỗi giá trị trên địa bàn xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
1.5 Cơ sở lý luận về nghiên cứu chuỗi giá trị
- Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng: là một tập hợp những hoạt động do nhiều tác nhân khác nhau tham gia thực hiện (nhà cung cấp đầu vào, người thu gom, nhà chế biến, công ty, người bán buôn, người bán lẻ,…) để sản xuất ra một sản phẩm sau đó bán cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu [60]
Trong đề tài này, định nghĩa chuỗi giá trị được hiểu theo nghĩa rộng Ý tưởng
về chuỗi giá trị hoàn toàn mang tính trực giác Chuỗi giá trị nói đến tất cả những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm hoặc một dịch vụ từ lúc sơ khai, được thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, đến khi phân phối tới tay người tiêu dùng cuối cùng và được loại bỏ sau khi sử dụng [60]
1.5.2 Hình thức và nội dung một sơ đồ chuỗi giá trị
Sơ đồ chuỗi giá trị (Hình 1.3) là một sơ đồ có thể quan sát bằng mắt thường về
hệ thống chuỗi giá trị của một sản phẩm/ngành hàng cụ thể
Hình 1.3 Sơ đồ chuỗi giá trị [16]
Trang 29Sơ đồ hình 1.3 định dạng các hoạt động kinh doanh (chức năng chuỗi), thứ tự các nhà vận hành chuỗi (tác nhân hay chủ thể chuỗi), những mối liên kết của họ (kênh thị trường chuỗi) và các nhà hỗ trợ chuỗi giá trị
- Bước đầu tiên trong việc lập sơ đồ chuỗi là xác định thị trường mà sản phẩm
sẽ phục vụ, nó là nơi đến cuối cùng của sản phẩm và là điểm kết thúc của sơ đồ chuỗi giá trị Nói cách khác, cần chỉ ra được đâu là sản phẩm hay dòng sản phẩm
mà chuỗi giá trị đang hướng tới, từ đó xác định thị trường cuối cùng/nhóm khách hàng cuối cùng
- Tiếp theo là mô tả quy trình sản xuất, chế biến và phân phối sản phẩm, hoặc
mô tả các hoạt động kinh doanh còn được gọi là chuỗi chức năng Các chuỗi chức năng này được mô tả dưới dạng có thể nhìn thấy thông qua các hộp hình mũi tên rỗng (Hình 1.3) mô tả giai đoạn chính trong một chuỗi giá trị bắt đầu từ mua các đầu vào chuyên biệt cho một sản phẩm cụ thể đến sản xuất ban đầu, chế biến, marketing và tiêu dùng cuối cùng Các mũi tên rỗng chỉ các giai đoạn trong chuỗi giá trị Mỗi mũi tên ám chỉ một vài quy trình sản xuất được nêu trong dòng thứ hai, bên dưới Để xác định chuỗi chức năng, cần lập danh sách các hoạt động đang được thực hiện để đưa sản phẩm cuối cùng ra thị trường Có bao nhiêu khâu (chức năng) trong chuỗi là tùy thuộc vào chuỗi giá trị thực tế của sản phẩm đó
- Sơ đồ cũng mô tả các tác nhân tham gia Các tác nhân này được đặt chính xác dưới các chức năng để chỉ rõ mối quan hệ tương thích giữa các chức năng của chuỗi và các nhóm tác nhân chuỗi khác nhau, tạo thành các chuỗi chủ thể Cũng cần lưu ý rằng, trong thực tế có các tác nhân thực hiện nhiều khâu trong một chuỗi giá trị, nghĩa là mỗi chức năng có ít nhất một tác nhân tham gia chuỗi Các tác nhân kết nối với nhau bằng các mũi tên (không có mũi tên lên, xuống hoặc đường chéo) và hình thành kênh thị trường chuỗi
Bên cạnh đó, sơ đồ chuỗi giá trị cũng có sự tham gia của các thể chế hỗ trợ (tác nhân hỗ trợ chuỗi) bên ngoài, ví dụ như: chính phủ, các cơ quan tài trợ đang triển khai một chương trình phát triển,… Các thể chế hỗ trợ bên ngoài không trực tiếp tham gia vào quá trình nâng cấp, tạo giá trị sản phẩm Họ chỉ tạo điều kiện thuận lợi và trợ giúp cho quá trình này, chứ bản thân họ không phải là các chủ thể tham gia chuỗi giá trị Hoạt động này được gọi là “thúc đẩy chuỗi giá trị” và liên quan về mặt hậu cần tới chiến lược nâng cấp mà các nhà vận hành đang theo đuổi
1.5.3 Giá trị gia tăng
Phân tích kinh tế bao gồm đánh giá: (1) Toàn bộ giá trị gia tăng được sản sinh
ra bởi chuỗi giá trị và tỷ trọng của các giai đoạn khác nhau; (2) Chi phí marketing
và chi phí sản xuất tại mỗi giai đoạn trong chuỗi, cấu trúc của chi phí trong các giai
Trang 30đoạn của chuỗi; (3) Năng lực của các nhà vận hành (năng lực sản xuất, sản lượng, lợi nhuận) Trong đó, phân tích giá trị gia tăng là khâu quan trọng nhất [16]
Giá trị gia tăng (GTGT) là thước đo về giá trị được tạo ra trong nền kinh tế Khái niệm này tương đương với tổng giá trị được tạo ra bởi những người vận hành chuỗi (doanh thu của chuỗi = giá bán cuối cùng x số lượng bán ra) Giá trị gia tăng trên một đơn vị sản phẩm là hiệu số giữa giá mà người vận hành chuỗi bán được trừ
đi giá mà người vận hành chuỗi đó đã bỏ ra để mua những nguyên liệu đầu vào mà những người vận hành chuỗi ở công đoạn trước cung cấp, và giá của những hàng trung gian mua từ những nhà cung cấp hàng hoá và dịch vụ không được coi là mắt xích trong chuỗi Nói tóm lại, GTGT là “giá trị được cộng thêm vào hàng hóa hay dịch vụ tại mỗi khâu của quá trình sản xuất hay tiêu thụ mặt hàng đó” Một phần của giá trị gia tăng được tạo ra được giữ lại trong chuỗi (bằng giá trị được giữ lại), còn một phần khác thì được giữ lại bởi những nhà cung cấp nằm ngoài chuỗi
Để tính được giá trị gia tăng trong một chuỗi giá trị cụ thể, thì các chi phí mua nguyên vật liệu, các bộ phận và dịch vụ phải được khấu trừ từ giá trị bán (Hình 1.4)
Hình 1.4 Nguyên tắc tính giá trị gia tăng
Nguyên tắc tính toán này có thể được áp dụng cho mỗi giai đoạn của chuỗi giá trị (Hình 1.5) Tổng giá trị trả cho và được tiêu thụ bởi khách hàng cuối cùng được chia ra giữa giá trị gia tăng và các hàng hoá trung gian Hàng hoá trung gian lại được phân chia cụ thể hơn nữa thành bán thành phẩm (sản phẩm trung gian) và sản phẩm cuối cùng được cung cấp bởi các nhà vận hành trong phân đoạn trước đó trong cùng một chuỗi giá trị, và các đầu vào (khác) được cung cấp bởi các nhà cung cấp bên ngoài Như vậy, biểu đồ Hình 1.5 mô tả xem giá trị gia tăng được phân phối
Trang 31như thế nào giữa các giai đoạn trong chuỗi, và giữa các nhà vận hành chuỗi với các nhà cung cấp bên ngoài
Hình 1.5 Phân bổ giá trị gia tăng qua mỗi giai đoạn của chuỗi giá trị
1.5.4 Vai trò của nghiên cứu chuỗi giá trị và một số nghiên cứu chuỗi giá trị ở Việt Nam
Việc nghiên cứu chuỗi giá trị có vai trò quan trọng trong quy hoạch, định hướng phát triển một sản phẩm, hoặc một ngành hàng:
- Bằng cách lập sơ đồ chi tiết các hoạt động trong chuỗi, phân tích chuỗi giá trị
sẽ thu thập được thông tin, phân tích được những khoản thu nhập của các bên tham gia trong chuỗi, đưa đến bức tranh toàn cảnh về tình trạng chuỗi
- Phân tích chuỗi giá trị làm sáng tỏ việc các cá nhân, vùng, công ty,… được kết nối với nhau như thế nào Hình thức phân tích sẽ giúp xác định được kết quả phân phối của hệ thống sản xuất chung, đánh giá được cần cải thiện khâu nào để tạo năng suất và hiệu quả các hoạt động, nâng cấp chuỗi tăng trưởng, thu nhập bền vững
Hiện nay, đã có nhiều đề tài nghiên cứu chuỗi giá trị các sản phẩm khác nhau tại Việt Nam như: chuỗi giá trị Táo Ninh Thuận [31], chuỗi giá trị dược liệu Diệp
hạ châu [44], chuỗi giá trị Dừa Bến Tre [25],… Kết quả các nghiên cứu trên góp phần tháo gỡ khó khăn, giải quyết tính không ổn định, giảm thiểu rủi ro và nâng cao giá trị gia tăng của các sản phẩm trong chuỗi, cũng là các căn cứ để quy hoạch phát triển vùng và nâng cấp chuỗi
Với các chính sách bảo vệ, phát triển tài nguyên cây thuốc ở nước ta nói chung, ở xã Lăng, huyện Tây Giang nói riêng, việc nghiên cứu về chuỗi giá trị dược liệu điển hình là cần thiết Nhưng đến nay, chưa có hoạt động điều tra chuỗi giá trị dược liệu hay sản phẩm từ dược liệu ở xã Lăng, Tây Giang
Trang 32CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Cây thuốc ở khu vực xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
- Tri thức sử dụng cây thuốc chung và tri thức của cộng đồng người Cơ tu ở khu vực xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
- Các đối tượng thuộc các tác nhân tham gia, hỗ trợ chuỗi giá trị dược liệu Ba kích tại khu vực xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Điều tra tính đa dạng sinh học của cây thuốc
Điều tra tính đa dạng sinh học của cây thuốc được thực hiện theo phương pháp điều tra theo tuyến Hoạt động điều tra được thực hiện với những người Cơ Tu am hiểu cây thuốc ở khu vực xã Lăng (thầy lang, người thu hái cây thuốc,…) được gọi
là người cung cấp tin cốt yếu (KIP), thông qua các chuyến điều tra thực địa [15] để quan sát, phỏng vấn và thu thập mẫu tiêu bản Mục tiêu điều tra là xác định thành phần loài, cách sử dụng cây thuốc trong khu vực Các bước thực hiện bao gồm:
(i) Xác định tuyến điều tra: Xác định dựa trên thực trạng thảm thực vật, địa
hình hoặc phân bố cây thuốc trong khu vực Để đảm bảo tính khách quan trong quá trình điều tra, tuyến điều tra được thiết kế theo các địa hình và thảm thực vật khác nhau (tuyến núi cao, rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh, ven suối, ven đường,…) Tổng cộng có 7 tuyến điều tra đã được thực hiện cùng với 08 KIP (Phụ lục 1.1)
(ii) Thu thập thông tin tại thực địa: Phỏng vấn bất kỳ cây nào gặp trên đường
Thông tin được thu thập bao gồm: tên cây tiếng địa phương (Cơ Tu), bộ phận dùng, công dụng, cách dùng, cách thức lưu truyền tri thức Thu mẫu tiêu bản và chụp ảnh cây thuốc Với các cây không có tri thức sử dụng của KIP trong tuyến điều tra, tiến hành thu mẫu dựa trên kinh nghiệm, ưu tiên thu mẫu các cây có hoa hoặc quả, có khả năng giám định được tên khoa học Các mẫu này sau đó được phỏng vấn lại thông tin trên KIP khác (sử dụng mẫu tươi và hình ảnh chụp tại thực địa)
(iii) Xử lý thông tin: Thông tin mang tính chất định tính, lập danh mục loài,
bao gồm: tên địa phương, tên thường dùng, tên khoa học, công dụng, cách dùng, bộ phận dùng Sử dụng phần mềm Microsoft excel 2013 để tính toán
2.2.2 Tư liệu hóa tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc
Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc được thu thập qua phỏng vấn theo tuyến tại thực địa, sau đó đối chiếu và chuẩn hóa thuật ngữ theo các tài liệu khoa học thứ cấp:
Từ điển cây thuốc Việt Nam [9]; Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam [50]; Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam [27];…
Trang 332.2.3 Thu mẫu và làm tiêu bản thực vật
Mẫu tiêu bản thu tại thực địa được xử lý bằng phương pháp ướt: Mẫu cây được xông hơi cồn trong túi nilon kín, sau đó được ép và sấy khô [15] theo các kỹ thuật tiêu bản thông thường và lưu trữ tại Phòng tiêu bản của Trường Đại học Dược
Hà Nội (HNIP)
2.2.4 Giám định tên khoa học của cây thuốc
Tên khoa học của các mẫu được giám định theo phương pháp so sánh hình thái dựa trên các mẫu tiêu bản, mẫu tiêu bản chuẩn (type) tại các phòng tiêu bản trong nước: Phòng tiêu bản - Trường Đại học Dược Hà Nội (HNIP); Phòng tiêu bản
- Khoa Sinh học - Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội (HNU); Phòng tiêu bản - Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (HN);… và bộ ảnh mẫu tiêu bản online quốc tế: Herbarium of National Taiwan University (TAI); Herbier Muséum Paris - Muséum National d’Histoire Naturelle (P, PC); Royal Botanic Gardens, Kew (K); New York Botanical Gardens (NY); Botanischer Garten und Botanisches Museum Berlin-Dahlem, Freien Universität Berlin (B);… [69] Ngoài
ra, tên khoa học được xác định và chỉnh lý theo các tài liệu Thực vật chí Việt Nam [52]; Cây cỏ Việt Nam [17]; Từ điển Thực vật thông dụng [8]; Từ điển Cây thuốc Việt Nam [10]; Thực vật chí Trung Quốc (Flora of China) [57]; Thực vật chí Đài Loan (Flora of Taiwan) [55]; Thực vật chí Thái Lan (Flora of Thailand) [58]; Thực vật chí Malesiana (Flora Malesiana) [56]; Danh lục các loài thực vật Việt Nam [40]; Sách tra cứu tên cây cỏ Việt Nam [9]; The International Plant Names Index (IPNI) [67]; The Plant List [70]
2.2.5 Điều tra chuỗi giá trị dược liệu Ba kích tại xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
Chuỗi giá trị được xác định theo phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị Eschborn GTZ [16], là một phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị khả thi với đối tượng nghiên cứu là dược liệu [44] Quá trình nghiên cứu được thực hiện tuần tự qua 2 bước:
2.2.5.1 Thu thập dữ liệu
Phạm vi nghiên cứu chuỗi giá trị giới hạn là dược liệu Ba kích xuất phát từ xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam Dữ liệu được thu thập qua phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc dựa trên bảng kiểm (Phụ lục 3.2)
Đối tượng cung cấp thông tin bao gồm: đơn vị cung cấp đầu vào sản xuất; các
cơ sở trồng trọt; hộ gia đình/cá nhân thu hái dược liệu; thương lái; đơn vị chế biến, sản xuất; đại lý bán lẻ và chuyên gia trong ngành (Bảng 2.1 và Phụ lục 3.1)
Bảng 2.1 Cơ cấu điều tra và cỡ mẫu
1 Đơn vị cung cấp đầu vào Cung ứng giống, vật tư đầu vào 3
Trang 34TT Tác nhân Chức năng chính Cỡ mẫu điều tra
sản xuất
3 Hộ gia đình/cá nhân thu
hái
Thu hái dược liệu Ba kích từ tự nhiên 14
bán dược liệu Ba kích đã sơ chế
- Lập sơ đồ chuỗi giá trị: Xây dựng bức tranh tổng quát về chuỗi nghiên cứu
đề phân tích mối quan hệ, dòng chảy thông tin giữa các tác nhân và khâu trong chuỗi
- Xác định các quy tắc - sự quản lý và sự hỗ trợ chuỗi từ các tác nhân: Xác
định cơ chế vận hành chuỗi, các quy định, nguyên tắc, tiêu chuẩn và mức độ tuân thủ của từng tác nhân
- Xác định mối quan hệ giữa các liên kết trong chuỗi: Xác định cách tác nhân
tiếp cận với sự hỗ trợ của thành phần bên ngoài chuỗi nhằm xác định các mối liên kết riêng lẻ theo 2 mặt xã hội và địa lý
- Phân tích các lựa chọn về kỹ năng - công nghệ và dịch vụ hỗ trợ: Phân tích
hiệu quả, phân loại và mức độ thích hợp của các công nghệ, kỹ thuật đang được sử dụng
- Phân tích chi phí và lợi nhuận của các tác nhân tham gia chuỗi: Xác định
giá trị gia tăng của từng giai đoạn trong chuỗi giá trị thông qua xác định giá thành,
cơ cấu doanh thu và chi phí của từng tác nhân Sử dụng phần mềm Microsoft excel
2013 để tính toán
Trang 35CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Cây thuốc ở khu vực xã Lăng, huyện Tây Giang (Quảng Nam)
3.1.1 Tính đa dạng sinh học cây thuốc ở khu vực xã Lăng
3.1.1.1 Tính đa dạng theo các bậc phân loại
Tổng số 319 loài cây thuốc đã được phát hiện ở khu vực xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam (Phụ lục 2.1) Trong đó có 72 loài được người dân ở đây sử dụng làm thuốc, 247 loài cây thuốc (được ghi nhận trong các sách thuốc) nhưng không được người dân sử dụng làm thuốc Trong số 319 loài cây thuốc này, có 286 loài đã được xác định tên khoa học đến loài, 33 loài xác định được đến chi
Các cây thuốc được xác định thuộc 5 ngành thực vật là: Lycopodiophyta (Thông đất), Magnoliophyta (Ngọc lan), Gnetophyta (Dây gắm), Pinophyta (Thông)
và Polypodiophyta (Dương xỉ),121 họ, 244 chi khác nhau
Nhìn chung, hệ cây thuốc ở khu vực xã Lăng đa dạng về các bậc phân loại Trong các ngành thực vật, ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) có số họ, chi và loài lớn nhất, lần lượt là 108 họ, 230 chi và 304 loài, chiếm 95,30% tổng số loài, trong
đó lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) có nhiều cây thuốc nhất (85 họ, 192 chi, 245 loài, chiếm 76,80% tổng số loài) Số loài của các ngành thực vật còn lại chỉ chiếm 4,7% (Bảng 3.1) Trong tổng số 121 họ cây thuốc ở khu vực xã Lăng, không có họ nào có
số chi và số loài đến 10% Họ có nhiều chi và nhiều loài nhất là (họ Cúc, Asteraceae) chỉ có số chi (18 chi) chiếm 7,38% và số loài chiếm 7,21% Ở taxon bậc chi, chỉ có 27 họ (22,31%) có số chi từ 3 (1,23%) trở lên, trong khi đó có đến 82
họ (67,77%) chỉ có một chi Ở taxon bậc loài, có 24 họ (19,83%) có số loài từ 4 loài (1,25%) trở lên, nhưng có đến 75 họ (61,98%) chỉ có một loài Phân bố loài của cây thuốc theo họ được trình bày ở Hình 3.1 và Phụ lục 2.2
Bảng 3.1 Sự phân bố cây thuốc trong các ngành thực vật ở xã Lăng, huyện
Tây Giang (Quảng Nam)
Trang 36TT Tên ngành Số Họ Số Chi Số Loài
Tổng (1-5) 114 100 246 100 325 100
72 loài được người Cơ Tu ở xã Lăng sử dụng làm thuốc/chăm sóc sức khỏe (chiếm 22,57% tổng số loài ghi nhận), thuộc cả 5 ngành thực vật (100%), 49 họ (chiếm 40,50% tổng số họ ghi nhận), và 60 chi (24,59% tổng số chi ghi nhận) Tỉ lệ phân bố của 72 loài này trong các bậc phân loại cho thấy ngành Ngọc Lan có số họ, chi và loài lớn nhất, lần lượt là 43 họ, 53 chi và 64 loài, chiếm 88,89% tổng số loài dùng làm thuốc, trong đó lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) có nhiều cây thuốc nhất (32
họ, 42 chi, 50 loài, chiếm 69,44% tổng số loài) (Bảng 3.2)
Bảng 3.2 So sánh sự phân bố cây thuốc được người Cơ Tu, ở xã Lăng sử dụng làm thuốc/chăm sóc sức khỏe trong các ngành thực vật so với tổng số loài được
phát hiện trong khu vực
Cơ Tu*: là số lượng các loài được người Cơ Tu dùng làm thuốc/chăm sóc sức khỏe
24 họ có số loài từ 4 loài trở có tổng số loài là 191 loài, chiếm 59,87% số loài cây thuốc điều tra được ở khu vực xã Lăng (Hình 3.1, Bảng 3.3 và Phụ lục 2.2) Trong đó, các họ có số loài cây thuốc tại xã Lăng nhiều nhất là họ Cúc (Asteraceae -
23 loài), họ Đậu (Fabaceae - 18 loài) Đây cũng là hai họ có số chi và số loài nhiều nhất (lần lượt là 6 loài họ Asteraceae và 4 loài họ Fabaceae) trong 49 họ thực vật của 72 cây thuốc được người Cơ Tu ở xã Lăng sử dụng làm thuốc/chăm sóc sức khỏe (Phụ lục 2.2)
Trang 37Hình 3.1 Phân bố số lượng họ cây thuốc ở khu vực xã Lăng theo số loài Bảng 3.3 Danh mục các họ cây thuốc có số lượng loài lớn (xếp theo thứ tự tên
khoa học)
Trang 38TT Tên họ Số chi Số loài
Phân bố 319 loài cây thuốc ở khu vực xã Lăng theo chi được trình bày ở Hình
3.2 và Phụ lục 2.3 Có một chi nhiều loài nhất (chi Ardisia - 6 loài) có số loài chỉ
chiếm 1,88% Có 194 chi chỉ có 1 loài cây thuốc (chiếm 79,51%) Với 72 cây được người Cơ Tu ở xã Lăng dùng làm thuốc/chăm sóc sức khỏe, chỉ có 1 chi có 3 loài
(chi Curcuma), 10 chi có 2 loài, còn lại 49 chi chỉ có một loài được sử dụng (chiếm
68,06%)
Hình 3.2 Phân bố số lượng chi cây thuốc ở khu vực xã Lăng theo số loài
Trang 39Bảng 3.4 Danh mục các chi có từ 3 loài cây thuốc trở lên (xếp theo thứ tự tên
Về mức độ nguy cấp, quý, hiếm, cần được bảo tồn, trong số 319 loài cây thuốc
đã được phát hiện ở khu vực xã Lăng, có 06 loài trong Sách đỏ Việt Nam 2007 [5],
07 loài có trong Nghị định 06 [11] (Nghị định 06/2019/NĐ-CP là nghị định về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp), và 03 loài có trong Sách đỏ IUCN 2019 [68] ở mức VU (Vulnearble) - Sắp bị đe dọa (2 loài) và NT -
Sẽ nguy cấp (1 loài) (Bảng 3.5)
Bảng 3.5 Danh sách các cây thuốc có trong Nghị định 06, Sách đỏ Việt Nam
2007 và Sách đỏ IUCN 2019 ở khu vực xã Lăng (xếp theo thứ tự tên khoa học)
Việt Nam
Sách
đỏ IUCN
Nghị định
06
tuyến tơ
Anoectochilus setaceus Blume Orchidaceae EN A1a,c,d IA
2 Dó đất
hoa thưa
Balanophora laxiflora Hemsl Balanophoraceae
EN B1+2b,c,e
Trang 40Việt Nam
Sách
đỏ IUCN
Nghị định
giang
Fibraurea recisa
9 Sao đen Hopea odorata
10 Trường
sơn
Mouretia tonkinensis Pit Rubiaceae VU
Bảng 3.6 Danh sách các cây thuốc có trong Danh mục thuốc thiết yếu, Quyết định 206 và Quyết định 1976 ở khu vực xã Lăng (xếp theo thứ tự tên khoa học)
Quyết định
206
Quyết định
1976
1 Sa nhân
lưỡi dài
Amomum longiligulare T.L.Wu Zingiberaceae x