1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Bài giảng môn học Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình nâng cao

173 277 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 855,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤT KHOA KINH TẾ QUẢN TRỊ KINH DOANH TS. Phan Thị Thái BÀI GIẢNG QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH NÂNG CAO (DÀNH CHO HỌC VIÊN CAO HỌC QUẢN LÝ KINH TẾ) Hà Nội, 2016 MỞ ĐẦU Đầu tư là một hoạt động kinh tế có vị trí quan trọng đói với quốc gia cũng như của mỗi địa phương. Từ góc độ các tổ chức, doanh nghiệp, đầu tư là một bộ phận hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị, doanh nghiệp. Đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng tiềm lực của nền kinh tế nói chung, tiềm lực sản xuất kinh doanh của các đơn vị nói riêng. Mỗi hoạt động đầu tư được tiến hành với rất nhiều công việc có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật đa dạng. Nguồn lực về tài chính và nhân lực cần huy động cho hoạt động đó thường rất lớn. Thời gian thực hiện và kết thúc đầu tư, nhất là việc thu hồi đầu tư vốn đã bỏ ra, hoặc đem lại những lợi ích cho xã hội, là một quá trình có thời gian dài và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau trong từng thời kỳ. Do đó, để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đã chi cho công cuộc đầu tư, đem lại lợi ích kinh tế xã hội lớn nhất cho đất nước, ngành và các đơn vị, một trong những vấn đề quan trọng có tính chất quyết định của mọi công cuộc đầu tư là những người trực tiếp quản lý điều hành quá trình đầu tư và thực hiện đầu tư phải được trang bị đầy đủ các kiến thức về hoạt động đầu tư và quản lý dự án đầu tư. Để đáp ứng yêu cầu quản lý dự án đầu tư trong nền kinh tế nói chung, trong các đơn vị, doanh nghiệp nói riêng, bài giảng môn học “Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình nâng cao” đã ra đời và được giảng dạy cho học viên cao học ngành quản lý kinh tế. Cùng với quá trình giảng dạy, tài liệu môn học ngày càng được hoàn thiện và được đánh giá là rất cần thiết và bổ ích phục vụ việc quản lý hiệu quả đầu tư. Đồng thời bài giảng môn học này cũng là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này. Nội dung cuốn bài giảng gồm 4 chương đề cập những kiến thức thiết thực về quản lý dự án đầu tư. Trong đó : Chương 1. Những vấn đề chung về dự án đầu tư và quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Chương 2. Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư Chương 3. Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình trong giai đoạn thực hiện đầu tư Chương 4: Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình trong giai đoạn kết thúc xây dựng, đưa công trình vào khai thác sử dụng Trong lần viết này, nội dung bài giảng được hoàn thành trên cơ sở kế thừa, chỉnh sửa, bổ sung một số nội dung giáo trình “Quản trị dự án đầu tư” xuất bản năm 2008 tại nhà xuất bản Giao thông vận tải của TS. Phan Thị Thái chủ biên; tham khảo giáo trình “Quản lý dự án đầu tư” của tác giả Nguyễn Thị Bạch Nguyệt, giáo trình “Quản trị dự án đầu tư” của tác giả Bùi Xuân Phong, cập nhật sự thay đổi chính sách quản lý đầu tư của Nhà nước trong các năm qua và một số tài liệu khác, đồng thời tiếp thu ý kiến đóng góp quý báu của các đồng nghiệp nhằm đạt tới mục đích nội dung bài giảng dễ hiểu, vận dụng đúng các đường lối chính sách của Nhà nước hiện nay và phù hợp với yêu cầu của thực tế. Chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến nhiều hơn nữa của các đồng nghiệp để chất lượng bài giảng ngày một nâng cao phục vụ cho công tác giảng dạy ngày càng tốt hơn. Xin chân thành cám ơn Hà Nội ngày 17122016 Tác giả Phan Thị Thái CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1.1. Khái niệm và phân loại dự án đầu tư 1.1.1. Khái niệm về đầu tư a. Khái niệm chung về đầu tư Đầu tư là một quá trình có thời gian nhất định nhằm biến một nguồn lực nào đó (tiền, tài nguyên, sức lao động...) hiện tại thành những lợi ích kinh tế xã hội trong một khoảng thời gian nhất định ở tương lai. Theo quan điểm này, hiểu rằng: Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra. Nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động, là trí tuệ. Các kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm tài sản tài chính, tài sản vật chất và nguồn lực khác. Đầu tư không bó hẹp trong ngữ nghĩa “bỏ vốn” mặc dầu bỏ vốn là một nội dung quan trọng của đầu tư. Mục đích của đầu tư không chỉ đem lại lợi ích kinh tế cho nhà đầu tư mà còn đem lại lợi ích cho xã hội trong tương lai. Cụ thể, mục tiêu của đầu tư bao gồm các vấn đề về lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội như bảo vệ môi trường môi sinh, tạo cơ sở hạ tầng công cộng và các vấn đề xã hội khác mà cả cộng đồng xã hội được hưởng. Thậm chí có những quá trình đầu tư công ích không nhằm mục đích lợi ích kinh tế mà chỉ mang lại các lợi ích xã hội. b. Khái niệm về đầu tư kinh doanh Trên thực tế hầu hết các quá trình đầu tư đều là quá trình bỏ vốn (bao gồm tiền đã tích lũy được hoặc huy động bên ngoài) vào hoạt động kinh doanh nhằm thu được lợi ích kinh tế xã hội nhất định trong tương lai, trong đó lợi ích kinh tế là động lực quan trọng nhất. Vì vậy, theo quan điểm của các nhà kinh tế cho rằng: + Từ góc độ của Nhà nước : Đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển, để từ đó thu được các hiệu quả kinh tế xã hội vì mục tiêu phát triển quốc gia. + Từ góc độ của doanh nghiệp : Đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh doanh với mục tiêu thu được số tiền lớn hơn số tiền vốn đã bỏ ra thông qua lợi nhuận. Theo Điều 3, Luật đầu tư số 672014QH13 quy định: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư” Như vậy, từ góc độ kinh doanh ta hiểu rằng, đầu tư là việc sử dụng tiền nhằm mục đích thu được lợi ích kinh tế là quan trọng nhất và đòi hỏi phải cân nhắc giữa lợi ích thu được với vốn đầu tư đã bỏ ra để quyết định có đầu tư hay không. Theo khái niệm này, nhận thấy đầu tư có 3 đặc điểm cơ bản sau: + Một là: Đầu tư là hoạt động sử dụng vốn nhằm mục đích sinh lợi. Không thể coi là đầu tư nếu việc sử dụng vốn không nhằm mục đích thu được số tiền lớn hơn số vốn bỏ ra ban đầu hay đầu tư với bất cứ giá nào. Mặc dầu ngoài mục đích này đầu tư còn mang lại các mục đích xã hội khác nữa. + Hai là: Đầu tư được thực hiện trong một thời gian dài. Vì vậy, hoạt động đầu tư không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của các yếu tố không ổn định về tự nhiên, chính trị, xã hội, kinh tế... + Ba là: Mọi hoạt động đầu tư đều liên quan đến lượng vốn lớn và nằm khê đọng trong suốt quá trình đầu tư. Bao gồm nhiều loại khác nhau: Vốn bằng tiền (Đồng nội tệ, ngoại tệ và các tài sản có giá trị tương đương tiền như vàng, bạc, đá quý…); Vốn bằng tài sản hữu hình, vô hình và các tài sản đặc biệt khác. Dòng vốn đó được vận động như sau: Sản xuất Vốn Đầu tư kinh doanh Thu hồi Thu hồi Thu hồi từ từ vôn từ đầu tư sản xuất kinh doanh Hình 11. Dòng vận động của vốn đầu tư 1.1.2. Khái niệm, đặc điểm và yêu cầu của dự án đầu tư a. Khái niệm về dự án đầu tư Theo Ngân hàng Thế giới: Dự án đầu tư là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt những mục tiêu nào đó trong một thời gian nhất định. Theo điều 3 của Luật đầu tư số 672014QH13: Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định. Theo điều 3 của Luật Xây dựng số 502014QH13: Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế kỹ thuật đầu tư xây dựng. Những hoạt động cấu thành được nêu trong nội dung một dự án đầu tư có thể bao gồm một số hoặc toàn bộ các công việc sau: Việc nghiên cứu hoạch định các chính sách, các chuẩn mực, các quy hoạch, kế hoạch, chương trình. Việc thiết kế, chế tạo, mua sắm trang thiết bị, dụng cụ. Việc xây dựng, lắp đặt thiết bị. Việc đổi mới tổ chức và phương thức quản trị điều hành. Việc đào tạo nhân lực. Việc chuyển giao phần mềm để cải tiến, đổi mới công nghệ. b. Đặc điểm của dự án đầu tư Về mặt hình thức, dự án đầu tư là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động, chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định. Trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế – xã hội trong một thời gian dài. Trên góc độ kế hoạch, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế – xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ. c. Yêu cầu của dự án đầu tư Để đảm bảo tính khả thi, dự án đầu tư phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau: Tính khoa học: Thể hiện người soạn thảo dự án đầu tư phải có một quá trình nghiên cứu tỷ mỷ kỹ càng, tính toán thận trọng, chính xác từng nội dung của dự án đặc biệt là nội dung về tài chính, nội dung về công nghệ kỹ thuật. Tính khoa học còn thể hiện trong quá trình soạn thảo dự án đầu tư cần có sự tư vấn của các cơquan chuyên môn. Tính thực tiễn: Các nội dung của dựán đầu tư phải được nghiên cứu, xác định trên cơ sở xem xét, phân tích, đánh giá đúng mức các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể liên quan trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động đầu tư. Tính pháp lý: Dự án đầu tư cần có cơ sở pháp lý vững chắc tức là phù hợp với chính sách và luật pháp của Nhà nước. Muốn vậy phải nghiên cứu kỹchủ trương, chính sách của Nhà nước, các văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động đầu tư. Tính đồng nhất: Các dự án đầu tư phải tuân thủ các quy định chung của các cơ quan chức năng về hoạt động đầu tư, kể cả các quy định về thủ tục đầu tư. Với các dự án đầu tư quốc tế còn phải tuân thủquy định chung mang tính quốc tế. 1.1.3. Phân loại dự án đầu tư Phân loại dự án đầu tư là chia tổng thể các hình thức dự án đầu tư thành các nhóm, loại căn cứ vào một tiêu thức nhất định để hiểu rõ đặc điểm của từng loại dự án, làm cơ sở cho công tác quản lý đầu tư của Nhà nước cũng như mục đích khác nhau của người sử dụng. Bảng 11. đưa ra một số cách phân loại dự án đầu tư. Bảng 11. Phân loại các dự án đầu tư Theo nguồn vốn đầu tư Theo lĩnh vực đầu tư Theo phân nhóm quản lý của Nhà nước DAĐT sử dụng vốn NSNN DAĐT sản xuất kinh doanh DAĐT quan trọng quốc gia DAĐT sử dụng vốn NN ngoài NS DAĐT xây dựng cơ bản DAĐT nhóm A DAĐT sử dụng vốn khác DAĐT dịch vụ xã hội DAĐT nhóm B DAĐT sử dụng vốn viện trợ DAĐT nhóm C DADT sử dụng vốn hỗn hợp a.Theo nguồn vốn đầu tư + Dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách Nhà nước: Là dự án có nguồn vốn đầu tư nằm trong dự toán ngân sách Nhà nước được Quốc hội, Hội đồng nhân dân quyết định chi hàng năm cho đầu tư xây dựng công trình. Được hình thành từ nguồn thu ngân sách hàng năm và vốn trái phiếu Chính phủ. + Dự án đầu tư sử dụng vốn Nhà nước ngoài ngân sách: Là dự án có nguồn vốn đầu tư không nằm trong dự toán ngân sách Nhà nước được Quốc hội, Hội đồng nhân dân quyết định, gồm vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn nhà nước tại doanh nghiệp,... + Dự án đầu tư sử dụng vốn khác: Là dự án có nguồn vốn do tư nhân quản lý. Tư nhân bao gồm cá nhân hay tập thể góp vốn, của công ty trong nước hoặc nước ngoài. + Dự án đầu tư sử dụng vốn viện trợ ODA (Oficial Development Asistance Viện trợ phát triển chính thức): Là dự án có nguồn vốn do các tổ chức nước ngoài viện trợ cho các nước chậm phát triển. Các nước được viện trợ cần có chương trình giải ngân hợp lý và được các tổ chức này đồng ý mới đựơc sử dụng nguồn vốn này. + Dự án đầu tư sử dụng vốn hỗn hợp Hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC (Business Cooperation Contract): Là dự án đầu tư được ký hợp đồng giữa các nhà đầu tư nhằm góp vốn hợp tác kinh doanh, phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân. Hợp đồng đối tác công tư – PPP ((Public Private Partnership): Là dự án đầu tư được ký kết hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để thực hiện dự án đầu tư. Các dạng cụ thể của hợp đồng PPP gồm: Hợp đồng xây dựng vận hành và chuyển giao BOT (Building Operating Transfer): Là dự án đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư. Chủ đầu tư chủ yếu là tư nhân tự bỏ vốn đầu tư xây dựng, sau đó vận hành dự án để thu hồi vốn cũng như lợi nhuận trong một khoảng thời gian nhất định và khi hết thời hạn vận hành được phép theo quy định thì chuyển giao không bồi hoàn toàn bộ công trình đó cho Nhà nước Việt Nam. Hợp đồng xây dựng, chuyển giao và vận hành BTO (Building Transfer Operating): Là dự án đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó hoặc công trình khác trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận. Hợp đồng xây dựng, chuyển giao BT (Building Transfer): Là dự án đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng. b. Theo lĩnh vực đầu tư + Dự án đầu tư sản xuất kinh doanh: Là loại dự án nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hoá dịch vụ trong các ngành kinh tế quốc dân. Các dự án này có đặc điểm chung là chủ đầu tư quan tâm chủ yếu đến lợi ích kinh tế mà dự án sẽ mang lại như lợi nhuận cao, chi phí thấp, lượng hàng hoá tăng trưởng cao... Vì vậy, quản lý Nhà nước cần phải xem xét thẩm định kỹ các lợi ích xã hội mà dự án mang lại như sử dụng nguồn lực lao động trong nước, chuyển dịch cơ cấu, bảo vệ môi trường sinh thái... + Dự án đầu tư xây dựng cơ bản: Là loại dự án nhằm tạo ra các sản phẩm như cầu, cảng, đường giao thông công cộng, chợ, sân bay, công trình trị thuỷ, tải điện... phục vụ chung cho nền kinh tế quốc dân. Các dự án này có đặc điểm chung là sử dụng nguồn vốn đầu tư lớn, không mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp nhiều cho chủ đầu tư nhưng mang lại lợi ích cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân như tạo đà tăng trưởng chung cho nền kinh tế, tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh quốc phòng. Vì vậy, dự án loại này thường là dự án đầu tư của Nhà nước đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ nguồn vốn đầu tư và đánh giá đúng đối tượng đầu tư để đảm bảo phát huy cao nhất hiệu quả đồng vốn đầu tư. + Dự án đầu tư dịch vụ xã hội: Là loại dự án nhằm tạo ra các sản phẩm như trường học, bệnh viện, viện nghiên cứu, trụ sở làm việc của các cơ quan quản lý Nhà nước. Đặc điểm của dự án loại này cũng tương tự dự án xây dựng cơ bản. c. Theo nhóm quản lý của Nhà nước Tuỳ theo tính chất, quy mô đầu tư và tầm quan trọng của dự án đầu tư mà Nghị định 592015NĐCP quy định chia ra các nhóm trong bảng 12. Bảng 12. Phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình theo nhóm quản lý của Nhà nước TT LOẠI DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TỔNG MỨC ĐT (tỉ đồng) I DỰ ÁN QUAN TRỌNG QUỐC GIA I.1 Theo tổng mức đầu tư: Dự án sử dụng vốn đầu tư công ≥10.000 I.2 Theo mức độ ảnh hưởng đến môi trường hoặc tiềm ẩn khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, bao gồm: a) Nhà máy điện hạt nhân; b) Sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học từ 50 héc ta trở lên; rừng phòng hộ đầu nguồn từ 50 héc ta trở lên; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay, chắn sóng, lấn biển, bảo vệ môi trường từ 500 héc ta trở lên; rừng sản xuất từ 1.000 héc ta trở lên; c) Sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa nước từ hai vụ trở lên với quy mô từ 500 héc ta trở lên; d) Di dân tái định cư từ 20.000 người trở lên ở miền núi, từ 50.000 người trở lên ở các vùng khác; đ) Dự án đòi hỏi phải áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt cần được Quốc hội quyết định. Không phân biệt tổng mức đầu tư II DỰ ÁN PHÂN THEO CÁC NHÓM Nhóm A Nhóm B Nhóm C II.1 1. Dự án tại địa bàn có di tích quốc gia đặc biệt. 2. Dự án tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh. 3. Dự án thuộc lĩnh vực bảo vệ quốc phòng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT

KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

TS Phan Thị Thái

BÀI GIẢNG QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

CÔNG TRÌNH NÂNG CAO

(DÀNH CHO HỌC VIÊN CAO HỌC QUẢN LÝ KINH TẾ)

Hà Nội, 2016

Trang 2

MỞ ĐẦU

Đầu tư là một hoạt động kinh tế có vị trí quan trọng đói với quốc gia cũng như của mỗi địa phương Từ góc độ các tổ chức, doanh nghiệp, đầu tư là một bộ phận hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị, doanh nghiệp Đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng tiềm lực của nền kinh tế nói chung, tiềm lực sản xuất kinh doanh của các đơn vị nói riêng Mỗi hoạt động đầu tư được tiến hành với rất nhiều công việc có những đặc điểm kinh tế - kỹ thuật đa dạng Nguồn lực về tài chính và nhân lực cần huy động cho hoạt động đó thường rất lớn Thời gian thực hiện và kết thúc đầu tư, nhất là việc thu hồi đầu tư vốn đã bỏ ra, hoặc đem lại những lợi ích cho

xã hội, là một quá trình có thời gian dài và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau trong từng thời kỳ Do đó, để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đã chi cho công cuộc đầu tư, đem lại lợi ích kinh tế xã hội lớn nhất cho đất nước, ngành và các đơn vị, một trong những vấn đề quan trọng có tính chất quyết định của mọi công cuộc đầu tư

là những người trực tiếp quản lý điều hành quá trình đầu tư và thực hiện đầu tư phải được trang bị đầy đủ các kiến thức về hoạt động đầu tư và quản lý dự án đầu tư

Để đáp ứng yêu cầu quản lý dự án đầu tư trong nền kinh tế nói chung, trong các đơn vị, doanh nghiệp nói riêng, bài giảng môn học “Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình nâng cao” đã ra đời và được giảng dạy cho học viên cao học ngành quản lý kinh tế Cùng với quá trình giảng dạy, tài liệu môn học ngày càng được hoàn thiện và được đánh giá là rất cần thiết và bổ ích phục vụ việc quản lý hiệu quả đầu tư Đồng thời bài giảng môn học này cũng là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này

Nội dung cuốn bài giảng gồm 4 chương đề cập những kiến thức thiết thực về quản lý dự án đầu tư Trong đó :

Chương 1 Những vấn đề chung về dự án đầu tư và quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

Chương 2 Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư

Chương 3 Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình trong giai đoạn thực hiện đầu tư

Chương 4: Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình trong giai đoạn kết thúc xây dựng, đưa công trình vào khai thác sử dụng

Trong lần viết này, nội dung bài giảng được hoàn thành trên cơ sở kế thừa, chỉnh sửa, bổ sung một số nội dung giáo trình “Quản trị dự án đầu tư” xuất bản năm

2008 tại nhà xuất bản Giao thông vận tải của TS Phan Thị Thái chủ biên; tham khảo giáo trình “Quản lý dự án đầu tư” của tác giả Nguyễn Thị Bạch Nguyệt, giáo trình

“Quản trị dự án đầu tư” của tác giả Bùi Xuân Phong, cập nhật sự thay đổi chính

Trang 3

sách quản lý đầu tư của Nhà nước trong các năm qua và một số tài liệu khác, đồng thời tiếp thu ý kiến đóng góp quý báu của các đồng nghiệp nhằm đạt tới mục đích nội dung bài giảng dễ hiểu, vận dụng đúng các đường lối chính sách của Nhà nước hiện nay và phù hợp với yêu cầu của thực tế Chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến nhiều hơn nữa của các đồng nghiệp để chất lượng bài giảng ngày một nâng cao phục vụ cho công tác giảng dạy ngày càng tốt hơn.

Xin chân thành cám ơn!

Hà Nội ngày 17/12/2016

Tác giả

Phan Thị Thái

Trang 4

CHƯƠNG 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ

XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH1.1 Khái niệm và phân loại dự án đầu tư

1.1.1 Khái niệm về đầu tư

a Khái niệm chung về đầu tư

Đầu tư là một quá trình có thời gian nhất định nhằm biến một nguồn lực nào

đó (tiền, tài nguyên, sức lao động ) hiện tại thành những lợi ích kinh tế - xã hội trong một khoảng thời gian nhất định ở tương lai.

Theo quan điểm này, hiểu rằng:

- Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào

đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra.Nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động, là trí tuệ Các kếtquả đạt được có thể là sự tăng thêm tài sản tài chính, tài sản vật chất và nguồn lựckhác

- Đầu tư không bó hẹp trong ngữ nghĩa “bỏ vốn” mặc dầu bỏ vốn là một nộidung quan trọng của đầu tư

- Mục đích của đầu tư không chỉ đem lại lợi ích kinh tế cho nhà đầu tư mà cònđem lại lợi ích cho xã hội trong tương lai Cụ thể, mục tiêu của đầu tư bao gồm cácvấn đề về lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội như bảo vệ môi trường môi sinh, tạo cơ sở hạtầng công cộng và các vấn đề xã hội khác mà cả cộng đồng xã hội được hưởng Thậmchí có những quá trình đầu tư công ích không nhằm mục đích lợi ích kinh tế mà chỉmang lại các lợi ích xã hội

b Khái niệm về đầu tư kinh doanh

Trên thực tế hầu hết các quá trình đầu tư đều là quá trình bỏ vốn (bao gồm tiền

đã tích lũy được hoặc huy động bên ngoài) vào hoạt động kinh doanh nhằm thu đượclợi ích kinh tế - xã hội nhất định trong tương lai, trong đó lợi ích kinh tế là động lựcquan trọng nhất Vì vậy, theo quan điểm của các nhà kinh tế cho rằng:

+ Từ góc độ của Nhà nước : Đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển, để từ đó thu được các hiệu quả kinh tế - xã hội vì mục tiêu phát triển quốc gia.

+ Từ góc độ của doanh nghiệp : Đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh doanh với mục tiêu thu được số tiền lớn hơn số tiền vốn đã bỏ ra thông qua lợi nhuận.

Theo Điều 3, Luật đầu tư số 67/2014/QH13 quy định:

“Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự

án đầu tư”

Trang 5

Như vậy, từ góc độ kinh doanh ta hiểu rằng, đầu tư là việc sử dụng tiền nhằmmục đích thu được lợi ích kinh tế là quan trọng nhất và đòi hỏi phải cân nhắc giữa lợiích thu được với vốn đầu tư đã bỏ ra để quyết định có đầu tư hay không.

Theo khái niệm này, nhận thấy đầu tư có 3 đặc điểm cơ bản sau:

+ Một là: Đầu tư là hoạt động sử dụng vốn nhằm mục đích sinh lợi Không thể

coi là đầu tư nếu việc sử dụng vốn không nhằm mục đích thu được số tiền lớn hơn sốvốn bỏ ra ban đầu hay đầu tư với bất cứ giá nào Mặc dầu ngoài mục đích này đầu tưcòn mang lại các mục đích xã hội khác nữa

+ Hai là: Đầu tư được thực hiện trong một thời gian dài Vì vậy, hoạt động đầu

tư không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của các yếu tố không ổnđịnh về tự nhiên, chính trị, xã hội, kinh tế

+ Ba là: Mọi hoạt động đầu tư đều liên quan đến lượng vốn lớn và nằm khê

đọng trong suốt quá trình đầu tư Bao gồm nhiều loại khác nhau: Vốn bằng tiền (Đồngnội tệ, ngoại tệ và các tài sản có giá trị tương đương tiền như vàng, bạc, đá quý…);Vốn bằng tài sản hữu hình, vô hình và các tài sản đặc biệt khác Dòng vốn đó đượcvận động như sau:

Sản xuất Vốn Đầu tư kinh doanh

Thu hồi Thu hồi Thu hồi từ

từ vôn từ đầu tư sản xuất kinh doanh

Hình 1-1 Dòng vận động của vốn đầu tư

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và yêu cầu của dự án đầu tư

a Khái niệm về dự án đầu tư

Theo Ngân hàng Thế giới:

Dự án đầu tư là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt những mục tiêu nào đó trong một thời gian nhất định.

Theo điều 3 của Luật đầu tư số 67/2014/QH13:

Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định.

Theo điều 3 của Luật Xây dựng số 50/2014/QH13:

Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định.

Người đầu tư

Người chovay

Người thực hiện đầu tư Người sản xuấtkinh doanh

Trang 6

Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông quaBáo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tưxây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng.

Những hoạt động cấu thành được nêu trong nội dung một dự án đầu tư có thểbao gồm một số hoặc toàn bộ các công việc sau:

- Việc nghiên cứu hoạch định các chính sách, các chuẩn mực, các quy hoạch, kếhoạch, chương trình

- Việc thiết kế, chế tạo, mua sắm trang thiết bị, dụng cụ

- Việc xây dựng, lắp đặt thiết bị

- Việc đổi mới tổ chức và phương thức quản trị điều hành

- Việc đào tạo nhân lực

- Việc chuyển giao "phần mềm" để cải tiến, đổi mới công nghệ

b Đặc điểm của dự án đầu tư

- Về mặt hình thức, dự án đầu tư là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày mộtcách chi tiết và có hệ thống các hoạt động, chi phí theo một kế hoạch để đạt đượcnhững kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai

- Về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quanvới nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kếtquả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xácđịnh

- Trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý sử dụng vốn, vật

tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế – xã hội trong một thời gian dài

- Trên góc độ kế hoạch, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chitiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế – xã hội, làmtiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ

c Yêu cầu của dự án đầu tư

Để đảm bảo tính khả thi, dự án đầu tư phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau:

- Tính khoa học: Thể hiện người soạn thảo dự án đầu tư phải có một quátrình nghiên cứu tỷ mỷ kỹ càng, tính toán thận trọng, chính xác từng nội dung của

dự án đặc biệt là nội dung về tài chính, nội dung về công nghệ kỹ thuật Tính khoahọc còn thể hiện trong quá trình soạn thảo dự án đầu tư cần có sự tư vấn của cáccơquan chuyên môn

- Tính thực tiễn: Các nội dung của dựán đầu tư phải được nghiên cứu, xácđịnh trên cơ sở xem xét, phân tích, đánh giá đúng mức các điều kiện và hoàn cảnh

cụ thể liên quan trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động đầu tư

- Tính pháp lý: Dự án đầu tư cần có cơ sở pháp lý vững chắc tức là phù hợpvới chính sách và luật pháp của Nhà nước Muốn vậy phải nghiên cứu kỹchủtrương, chính sách của Nhà nước, các văn bản pháp quy liên quan đến hoạt độngđầu tư

Trang 7

- Tính đồng nhất: Các dự án đầu tư phải tuân thủ các quy định chung của các

cơ quan chức năng về hoạt động đầu tư, kể cả các quy định về thủ tục đầu tư Vớicác dự án đầu tư quốc tế còn phải tuân thủquy định chung mang tính quốc tế

1.1.3 Phân loại dự án đầu tư

Phân loại dự án đầu tư là chia tổng thể các hình thức dự án đầu tư thành cácnhóm, loại căn cứ vào một tiêu thức nhất định để hiểu rõ đặc điểm của từng loại dự án,làm cơ sở cho công tác quản lý đầu tư của Nhà nước cũng như mục đích khác nhaucủa người sử dụng Bảng 1-1 đưa ra một số cách phân loại dự án đầu tư

Bảng 1-1 Phân loại các dự án đầu tư Theo nguồn vốn đầu tư Theo lĩnh vực đầu tư Theo phân nhóm quản lý của

DAĐT xây dựng cơ bản DAĐT nhóm A

DAĐT sử dụng vốn khác DAĐT dịch vụ xã hội DAĐT nhóm B

a.Theo nguồn vốn đầu tư

+ Dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách Nhà nước: Là dự án có nguồn vốn đầu

tư nằm trong dự toán ngân sách Nhà nước được Quốc hội, Hội đồngnhân dân quyết định chi hàng năm cho đầu tư xây dựng công trình Được hìnhthành từ nguồn thu ngân sách hàng năm và vốn trái phiếu Chính phủ

+ Dự án đầu tư sử dụng vốn Nhà nước ngoài ngân sách: Là dự án có nguồn

vốn đầu tư không nằm trong dự toán ngân sách Nhà nước được Quốchội, Hội đồng nhân dân quyết định, gồm vốn tín dụng đầu tư pháttriển của Nhà nước, vốn nhà nước tại doanh nghiệp,

+ Dự án đầu tư sử dụng vốn khác: Là dự án có nguồn vốn do tư nhân quản lý.

Tư nhân bao gồm cá nhân hay tập thể góp vốn, của công ty trong nước hoặc nướcngoài

+ Dự án đầu tư sử dụng vốn viện trợ ODA (Oficial Development Asistance Viện trợ phát triển chính thức): Là dự án có nguồn vốn do các tổ chức nước ngoài viện

-trợ cho các nước chậm phát triển Các nước được viện -trợ cần có chương trình giảingân hợp lý và được các tổ chức này đồng ý mới đựơc sử dụng nguồn vốn này

+ Dự án đầu tư sử dụng vốn hỗn hợp

Trang 8

- Hợp đồng hợp tác kinh doanh - BCC (Business Cooperation Contract): Là dự

án đầu tư được ký hợp đồng giữa các nhà đầu tư nhằm góp vốn hợp tác kinh doanh,phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân

- Hợp đồng đối tác công tư – PPP ((Public Private Partnership): Là dự án đầu tưđược ký kết hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để thựchiện dự án đầu tư Các dạng cụ thể của hợp đồng PPP gồm:

Hợp đồng xây dựng vận hành và chuyển giao - BOT (Building OperatingTransfer): Là dự án đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu

tư Chủ đầu tư chủ yếu là tư nhân tự bỏ vốn đầu tư xây dựng, sau đó vận hành dự án đểthu hồi vốn cũng như lợi nhuận trong một khoảng thời gian nhất định và khi hết thờihạn vận hành được phép theo quy định thì chuyển giao không bồi hoàn toàn bộ côngtrình đó cho Nhà nước Việt Nam

Hợp đồng xây dựng, chuyển giao và vận hành - BTO (Building TransferOperating): Là dự án đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu

tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyểngiao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyềnkinh doanh công trình đó hoặc công trình khác trong một thời hạn nhất định để thu hồivốn đầu tư và lợi nhuận

Hợp đồng xây dựng, chuyển giao - BT (Building Transfer): Là dự án đầu tưđược ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trìnhkết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhànước Việt Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thuhồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợpđồng

b Theo lĩnh vực đầu tư

+ Dự án đầu tư sản xuất kinh doanh: Là loại dự án nhằm tạo ra các sản phẩm

hàng hoá dịch vụ trong các ngành kinh tế quốc dân Các dự án này có đặc điểm chung

là chủ đầu tư quan tâm chủ yếu đến lợi ích kinh tế mà dự án sẽ mang lại như lợi nhuậncao, chi phí thấp, lượng hàng hoá tăng trưởng cao Vì vậy, quản lý Nhà nước cần phảixem xét thẩm định kỹ các lợi ích xã hội mà dự án mang lại như sử dụng nguồn lực laođộng trong nước, chuyển dịch cơ cấu, bảo vệ môi trường sinh thái

+ Dự án đầu tư xây dựng cơ bản: Là loại dự án nhằm tạo ra các sản phẩm như

cầu, cảng, đường giao thông công cộng, chợ, sân bay, công trình trị thuỷ, tải điện phục vụ chung cho nền kinh tế quốc dân Các dự án này có đặc điểm chung là sử dụngnguồn vốn đầu tư lớn, không mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp nhiều cho chủ đầu tưnhưng mang lại lợi ích cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân như tạo đà tăng trưởng chungcho nền kinh tế, tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo đảm

an ninh quốc phòng Vì vậy, dự án loại này thường là dự án đầu tư của Nhà nước đòi

Trang 9

hỏi phải quản lý chặt chẽ nguồn vốn đầu tư và đánh giá đúng đối tượng đầu tư để đảmbảo phát huy cao nhất hiệu quả đồng vốn đầu tư.

+ Dự án đầu tư dịch vụ xã hội: Là loại dự án nhằm tạo ra các sản phẩm như

trường học, bệnh viện, viện nghiên cứu, trụ sở làm việc của các cơ quan quản lý Nhànước Đặc điểm của dự án loại này cũng tương tự dự án xây dựng cơ bản

c Theo nhóm quản lý của Nhà nước

Tuỳ theo tính chất, quy mô đầu tư và tầm quan trọng của dự án đầu tư mà Nghịđịnh 59/2015/NĐ-CP quy định chia ra các nhóm trong bảng 1-2

Bảng 1-2 Phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình

theo nhóm quản lý của Nhà nước

ĐT (tỉ đồng)

I.1 Theo tổng mức đầu tư:

I.2

Theo mức độ ảnh hưởng đến môi trường hoặc tiềm ẩn khả

năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, bao gồm:

a) Nhà máy điện hạt nhân;

b) Sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất vườn

quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan, khu

rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học từ 50 héc ta trở lên;

rừng phòng hộ đầu nguồn từ 50 héc ta trở lên; rừng phòng hộ

chắn gió, chắn cát bay, chắn sóng, lấn biển, bảo vệ môi trường

từ 500 héc ta trở lên; rừng sản xuất từ 1.000 héc ta trở lên;

c) Sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất trồng

lúa nước từ hai vụ trở lên với quy mô từ 500 héc ta trở lên;

d) Di dân tái định cư từ 20.000 người trở lên ở miền núi, từ

50.000 người trở lên ở các vùng khác;

đ) Dự án đòi hỏi phải áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt cần

được Quốc hội quyết định

Không phânbiệt tổngmức đầu tư

II.1 1 Dự án tại địa bàn có di tích quốc gia đặc

biệt

2 Dự án tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối

với quốc gia về quốc phòng, an ninh theo quy

định của pháp luật về quốc phòng, an ninh

3 Dự án thuộc lĩnh vực bảo vệ quốc phòng, an

ninh có tính chất bảo mật quốc gia

4 Dự án sản xuất chất độc hại, chất nổ

Khôngphânbiệt tổngmức đầutư

Trang 10

5 Dự án hạ tầng khu công nghiệp, khu chế

xuất

II.2

1 Giao thông, bao gồm cầu, cảng biển, cảng

sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ

2 Công nghiệp điện

3 Khai thác dầu khí

4 Hóa chất, phân bón, xi măng

5 Chế tạo máy, luyện kim

6 Khai thác, chế biến khoáng sản

7 Xây dựng khu nhà ở

≥ 2.300 120-2300 ≤120

II.3

1 Dự án giao thông trừ các dự án quy định

tại điểm 1 Mục II.2

8 Công trình cơ khí, trừ các dự án quy

định tại điểm 5 Mục II.2

9 Bưu chính, viễn thông

2 Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên

3 Hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới

4 Công nghiệp, trừ các dự án thuộc lĩnh vực

công nghiệp quy định tại Mục I.1, I.2 và I.3

≥ 1.000 60-1000 ≤60

II.5

1 Y tế, văn hóa, giáo dục;

2 Nghiên cứu khoa học, tin học, phát thanh,

truyền hình;

3 Kho tàng;

4 Du lịch, thể dục thể thao;

5 Xây dựng dân dụng, trừ xây dựng khu nhà ở

quy định tại Mục II.2

Các dự án đầu tư khác nhau sẽ có sự khác nhau về người có quyền quyết địnhđầu tư, thẩm định dự án đầu tư, cho phép đầu tư Cụ thể:

Trang 11

- Các dự án quan trọng quốc gia, cơ quan cao nhất quản lý dự án là Quốc Hội.

- Các dự án nhóm A, cơ quan cao nhất quản lý dự án là Chính phủ

- Các dự án từ nhóm B trở xuống, cơ quan cao nhất quản lý dự án là UBND cấptỉnh, có ủy quyền phân cấp xuống cấp huyện

Ngoài các cách phân loại trên ra, trong thực tế còn có một số cách phân loạikhác nữa như phân loại theo hình thức lợi ích thu được, theo nguồn tài lực cần cho dự

án, theo mối quan hệ kinh tế của dự án, theo mục đích đầu tư …

1.2 Vòng đời và chu trình của dự án đầu tư xây dựng công trình

1.2.1 Vòng đời dự án đầu tư (Tuổi thọ của dự án đầu tư)

Là khoảng thời gian tính từ khi bắt đầu bỏ vốn đầu tư xây dựng đến khi kết thúc hoạt động của dự án.

Vòng đời dự án dài hay ngắn phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố khách quan như:

- Chu kỳ sống của sản phẩm mà dự án sẽ tạo ra trong tương lai,

- Đặc điểm các nguồn nguyên liệu đầu vào,

- Tốc độ phát triển và ứng dụng của khoa học công nghệ vào lĩnh vực đó,

- Các quy định của pháp luật

Theo Điều 43, Luật đầu tư số 67/2014/QH13quy định: Thời hạn hoạt động của

dự án đầu tư trong khu kinh tế không quá 70 năm.Thời hạn hoạt động của dự án đầu tưngoài khu kinh tế không quá 50 năm Dự án đầu tư thực hiện tại địa bàn có điều kiệnkinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc

dự án có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm thì thời hạn dài hơn nhưng không quá

70 năm

1.2.2 Chu trình đầu tư xây dựng công trình

Chi trình đầu tư xây dựng công trình bao gồm 3 giai đoạn sau:

a Giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư

Khởi đầu của giai đoạn này, xuất hiện các yếu tố kích thích đầu tư như:

- Tài nguyên chưa được sử dụng

-Thị trường chưa được thoả mãn

Hai yếu tố này sẽ là động lực cho sự đạt được mục đích của đầu tư là các lợiích có thể thu được Các yếu tố này có thể khai thác được khi có môi trường đầu tưthuận lợi như: điều kiện tiếp nhận đầu tư, các thể chế khuyến khích và sự ổnđịnh Do vậy, để khuyến khích đầu tư, mỗi quốc gia, mỗi địa phương trong từng thời

kỳ nhất định đều có những chính sách cụ thể để tạo môi trường đầu tư phát triển

Khi môi trường đầu tư thuận lợi, các yếu tố trên sẽ kích thích các nhà đầu tưtiến hành nghiên cứu chuẩn bị đầu tư, gồm các bước sau:

Yếu tố kích thích việc nghiên cứu đầu tư

Trang 12

Đánh giá Không làm

Tiếp tục làm

Không làm

Tiếp tục làm

Ra quyết định Đầu tư

Kiểm tra bổ sung Không cần bổ sung

Hình 1-2 Sơ đồ các giai đoạn nghiên cứu và xây dựng dự án đầu tư

*Nghiên cứu lựa chọn cơ hội đầu tư

1.1 Nghiên cứu cơ hội đầu tư

Do chủ đầu tư tự làm, tài liệu tích luỹ đã có sẵn, chi phí không đáng kể

1.2 Nghiên cứu tiền khả thi

Sơ bộ xác định khung dự án, loại trừ các yếu tố không phù

hợp, do các nhà chuyên môn lập Sản phẩm là Báo cáo nghiên

cứu tiền khả thi (Báo cáo đầu tư xây dựng công trình)

1.3 Nghiên cứu khả thi

Do các nhà chuyên môn lập Nghiên cứu đầy đủ toàn diện

các mặt công nghệ, kỹ thuật, kinh tế, quản lý… Sản phẩm là

Báo cáo nghiên cứu khả thi (Dự án đầu tư xây dựng công

Thay đổi ý đồ, phân tích lại các tài liệu cơ sở Kiểm tra

2 Giai đoạn thực hiện dự án đầu tư

Thay đổi ý đồ nghiên cứu lại

Bổ sung, điều chỉnh

Không đầu tư

Cần bổ sung

Trang 13

Là việc làm nhằm tìm kiếm khả năng, điều kiện tốt nhất để đầu tư phát triển.Các nhà đầu tư thường xuyên chỉ đạo bộ máy nghiệp vụ của mình nghiên cứu khảnăng khai thác các tiềm năng và thị trường để tìm kiếm cơ hội đầu tư Thông qua việcphân tích, đánh giá sẽ lựa chọn cơ hội tốt nhất để tiếp tục nghiên cứu và để xin chủtrương đầu tư đối với cơ quan quản lý Nhà nước.

*Nghiên cứu tiền khả thi

Các chủ đầu tư thông qua các nhà chuyên môn, các tổ chức tư vấn tiến hànhbước này nhằm loại bỏ bớt những vấn đề không cần thiết trước khi nghiên cứu khảthi, định hướng nghiên cứu và tiết kiệm chi phí chuẩn bị đầu tư

Sản phẩm của bước này là Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (Báo cáo đầu tư xâydựng công trình trước đây)

Đối với dự án đầu tư quan trọng quốc gia, nhóm A phải làm bước này để trình

cơ quan quản lý Nhà nước xem xét quyết định hoặc cho phép tiếp tục làm bước tiếphay không

*Nghiên cứu khả thi

Đây là bước do các nhà chuyên môn thực hiện với khối lượng nghiên cứu lớnnhất, đầy đủ và toàn diện nhất, đảm bảo quyết định đầu tư đúng đắn, hạn chế đến mứcthấp nhất các khả năng rủi ro có thể gặp phải

Sản phẩm của bước này là Báo cáo nghiên cứu khả thi (Dự án đầu tư xây dựngcông trình trước đây)

Nghiên cứu khả thi là cơ hội cuối cùng và quan trọng nhất để các nhà đầu tư lựachọn giải pháp tối ưu cho mình trước khi bỏ vốn Các cơ quan quản lý Nhà nước,thông qua việc đánh giá từng nội dung của dự án đầu tư sẽ kiểm tra lại các mục tiêuNhà nước cần đảm bảo, các lợi ích mà dự án mang lại để xét duyệt cho phép đầu tư vàcác chế độ ưu đãi đối với các nhà đầu tư

*Chuẩn bị triển khai dự án

Sau khi dự án được trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, chấp thuận đầu tư, thìchủ đầu tư bắt đầu thực hiện các công việc:

- Xin thuê đất, xin giấy phép xây dựng, giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có)

- Lập hồ sơ thiết kế - dự toán

- Đấu thầu, lựa chọn nhà thầu (nếu có)

b Giai đoạn thực hiện dự án đầu tư

Đây là giai đoạn các nhà đầu tư bỏ vốn để thực hiện thi công dự án, tạo ra nănglực sản xuất mới Các bước công việc trong giai đoạn này bao gồm:

- Thực hiện đền bù và giải phóng mặt bằng, khảo sát thiết kế xây dựng

- Tiến hành thi công xây lắp

- Mua sắm thiết bị, công nghệ

- Kiểm tra việc thực hiện các hợp đồng theo tiến độ và chi phí, quản lý kỹ thuật,chất lượng thiết bị và chất lượng xây dựng

Trang 14

- Quản lý môi trường và an toàn lao động

c Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng

Đây là giai đoạn cuối cùng của chu trình đầu tư, bao gồm các công việc:

- Vận hành thử, nghiệm thu

-Bàn giao (hướng dẫn sử dụng) và thực hiện bảo hành sản phẩm công trình

- Quyết toán và thanh toán vốn đầu tư

- Chủ đầu tư không phải lập Báo cáo nghiên cứu khả thi mà chỉ lập Báo cáokinh tế – kỹ thuật xây dựng công trình để trình người quyết định đầu tư phê duyệttrong các trường hợp sau:

Các dự án đầu tư xây dựng công trình cho mục đích tôn giáo;

Các dự án xây dựng công trình có mức vốn dưới 15 tỉ đồng (không bao gồmtiền sử dụng đất)

1.3 Khái niệm và mục tiêu của quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

1.3.1 Khái niệm về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

Theo Ben Obinero Uwakweh trường đại học Cincinnati-Mỹ: Quản lý dự án là

sự lãnh đạo và phân phối các nguồn lực và vật tư để đạt được các mục tiêu định trướcvề: phạm vi, chi phí, thời gian, chất lượng và sự hài lòng của các bên tham gia

Theo Trịnh Quốc Thắng: Quản lý dự án là điều khiển một kế hoạch đã đượchoạch định trước và những phát sinh xảy ra trong một hệ thống bị ràng buộc bởi cácyêu cầu về pháp luật, tổ chức, con người, tài nguyên nhằm đạt được các mục tiêuđãđịnh ra về chất lượng, thời gian, giá thành, an toàn lao động và môi trường

Mặt dù các khái niệm về quản lý dự án có vẻ khác nhau, nhưng có thể hiểuquản lý dự án là một quá trình, bao gồm công tác hoạch định, theo dõi, điều phối vàkiểm soát tất cả những khía cạnh của một dự án và kích thích mọi thành phần tham giavào dự án đó nhằm đạt được những mục tiêu đã đặt ra trong dự án Trong đó:

- Lập kế hoạch: Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định những công việccần được hoàn thành, nguồn lực cần thiết đểthực hiện dựán và là quá trình phát triểnmột kế hoạch hành động theo trình tự lôgic mà có thể biểu diễn được dưới dạng sơ đồ

hệ thống

Trang 15

MÔI TRƯỜNG

CHẤT LƯỢNG

- Điều phối thực hiện dự án: Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiềnvốn, lao động, thiết bịvà đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian

- Giám sát: Là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dựán, phân tích tình hìnhhoàn thành, giải quyết những vấn đề liên quan và thực hiện báo cáo hiện trạng

Để thực hiện được các nhiệm vụ trên, cần có các yếu tố cơ bản của quản lý dự

án đầu tư xây dựng công trình như sau:

- Thứ nhất, muốn quản lý được dự án cần phải có một chương trình, một kếhoạch được định trước

- Thứ hai, phải có các công cụ, các phương tiện để kiểm soát và quản lý

- Thứ ba, phải có các quy định, các luật lệ cho quản lý

- Thứ tư, phải có con người bao gồm các tổ chức và các cá nhân có đủ năng lực

để vận hành bộ máy quản lý

1.3.2 Mục tiêu của quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

Mục tiêu quản lý dự án đầu tư là dẫn dắt dự án đến thành công, nghĩa là hoànthành công trình xây dựng đảm bảo các thông số kỹ, mỹ thuật theo thiết kế trong sựràng buộc về nguồn lực thực hiện đã xác định trong dự án khả thi được duyệt Tùytheo điều kiện của các quốc gia, các giai đoạn phát triển kinh tế mà người ta có thểchọn các tổ hợp mục tiêu biểu diễn trong hình 1.3

Hình 1-3 Các mục tiêu của quản lý dự án đầu tư

Trang 16

Ở nước ta hiện nay các mục tiêu của quản lý dự án đầu tư được nâng lên thành

5 mục tiêu bắt buộc phải quản lý đồng thời đó là: Chất lượng Thời gian (tiến độ) Chi phí - An toàn lao động - Bảo vệ môi trường

-Nhiều nước trên thế giới đã hướng tới thêm các mục tiêu khó khăn hơn như:Quản lý rủi ro dự án, quản lý phối hợp nhiều dự án

1.4 Nguyên tắc và phương pháp quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

1.4.1 Nguyên tắc quản lý dự án đầu tư

- Nhà nước thống nhất quản lý đầu tưxây dựng đối với tất cảcác thành phầnkinh tếvề mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tếxã hội, quy hoạch và kế hoạch pháttriển ngành, lãnh thổ, quy hoạch và kế hoạch xây dựng đô thị và nông thôn; quy chuẩn

và tiêu chuẩn xây dựng, lựa chọn công nghệ, sử dụng đất đai tài nguyên, bảo vệ môitrường sinh thái, thiết kế kỹ thuật, kiến trúc, xây lắp, bảo hiểm, bảo hành công trình vàcác khía cạnh xã hội khác của dự án

Riêng các dự án sử dụng vốn ngân sách thì Nhà nước còn quản lý về các mặtthương mại, tài chính và hiệu quả kinh tế của dự án

- Đảm bảo thực hiện đúng trình tự đầu tư xây dựng theo 3 giai đoạn là chuẩn bịđầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng

- Phân định rõ chức năng quản lý Nhà nước ở tầm vĩmô với chức năng quản lý

ở tầm vi mô của cơ sở, chức năng quản lý Nhà nước và chức năng quản lý sản xuấtkinh doanh Quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước, chủ đầu tư,các tổ chức tư vấn, các doanh nghiệp có liên quan trong quá trình thực hiện đầu tư

1.4.2 Phương pháp quản lý dự án đầu tư

a Phương pháp giáo dục:

Nội dung của các biện pháp giáo dục bao gồm giáo dục về thái độ lao động, ýthức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, khuyến khích phát huy sáng kiến, thực hiện cácbiện pháp kích thích sự say mê hăng hái lao động, giáo dục về tâm lý tình cảm laođộng, về giữ gìn uy tín đối với người tiêu dùng Các vấn đề này đặc biệt quan trọngtrong lĩnh vực đầu tưdo những đặc điểm của hoạt động đầu tư (lao động vất vả, diđộng luôn đòi hỏi tính tự giác trong lao động cao để đảm bảo chất lượng công trìnhtránh tình trạng phá đi làm lại gây thất thoát lãng phí, )

b Phương pháp hành chính:

Là phương pháp được sử dụng trong quản lý cảlĩnh vực xã hội và kinh tếcủa mọinước Đây là cách thức tác động trực tiếp của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lýbằng những văn bản, chỉ thị, những quy định về tổ chức Ưu điểm của phương phápnày là góp phần giải quyết trực tiếp và nhanh chóng những vấn đề cụ thể, nhưng cũng

dễ dẫn đến tình trạng quan liêu máy móc, bộ máy hành chính cồng kềnh và độc đoán

Phương pháp hành chính trong quản lý được thể hiện ở hai mặt: Mặt tĩnh thểhiện ở những tác động có tính ổn định về mặt tổ chức thông qua việc thể chế hoá

Trang 17

tổchức (gồm cơ cấu tổ chức và chức năng quản lý) và tiêu chuẩn hoá tổchức (định mức

và tiêu chuẩn tổchức) Mặt động của phương pháp là sự tác động thông qua quá trìnhđiều khiển tức thời khi xuất hiện và các vấn đềcần giải quyết trong quá trình quản lý

c Phương pháp kinh tế:

Là sự tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý bằng các chính sách vàđòn bẩy kinh tế như tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt, giá cả, lợi nhuận, tín dụng,thuế, Khác với phương pháp hành chính dựa vào mệnh lệnh, phương pháp kinhtếthông qua các chính sách và đòn bẩy kinh tế để hướng dẫn, kích thích, động viên vàđiều chỉnh các hành vi của những đối tượng tham gia quá trình thực hiện đầu tưtheomục tiêu nhất định của nền kinh tế xã hội Nhưvậy, phương pháp kinh tế trong quản lýđầu tư chủ yếu dựa vào lợi ích kinh tếcủa đối tượng tham gia vào quá trình đầu tư với

sự kết hợp hài hoà lợi ích của Nhà nước, xã hội với lợi ích của tập thể và cá nhânngười lao động trong lĩnh vực đầu tư

Như vậy, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình cũng sử dụng các phươngpháp quản lý chung Vận dụng tổng hợp, linh hoạt các phương pháp quản lý trên đâytrong quản lý hoạt động đầu tư cho phù hợp với từng dự án đầu tư trong từng lĩnh vựckhác nhau, bối cảnh kinh tế xã hội khác nhau sẽ cho phép nâng cao hiệu quả của quản

lý trong hoạt động đầu tư

1.5 Mô hình quản lý và cán bộ quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

1.5.1 Các mô hình quản lý dự án đầu tư

a Mô hình chủ đầu tư (chủ dự án) trực tiếp quản lý dự án

Là mô hình tổ chức quản lý dự án khi chủ đầu tư và bộ máy điều hành có đủnăng lực chuyên môn, kinh nghiệm quản lý, không cần lập ban quản lý dự án Cán bộchuyên trách quản lý dự án thuê ngoài không trực tiếp tham gia điều hành, không chịutrách nhiệm trực tiếp về việc thực hiện và kết quả cuối cùng của dự án mà chỉ đóng vaitrò tư vấn cho chủ đầu tư Mô hình này được mô tả trong hình 1-4

Trang 18

Mô hình này thường được áp dụng cho các dự án có quy mô nhỏ, đơn giản về

kỹ thuật và gắn với chuyên môn của chủ dự án Đồng thời chủ đầu tư có đủ năng lựcchuyên môn kỹ năng và kinh nghiệm quản lý dự án

b Mô hình chủ nhiệm điều hành dự án

Là mô hình tổ chức quản lý dự án trong đó, chủ đầu tư giao cho ban quản lý dự

án chuyên ngành hoặc thuê tổ chức có năng lực chuyên môn để làm chủ nhiệm điềuhành dự án Họ là một pháp nhân độc lập, có năng lực, được đại diện toàn quyền trongchỉ đạo hoạt động và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện dự án Mọi quyết định củachủ đầu tư có liên quan đến các đơn vị thực hiện đầu tư sẽ được triển khai thông quachủ nhiệm điều hành dự án Mô hình này được mô tả ở hình 1-5

Mô hình này áp dụng cho những dự án có quy mô lớn, tính chất phức tạp màchủ đầu tư không đủ điều kiện năng lực quản lý

Hình 1-5 Mô hình chủ nhiệm điều hành dự án

c Mô hình chìa khoá trao tay

Là mô hình tổ chức trong đó nhà quản lý dự án không chỉ là đại diện toànquyền của chủ đầu tư mà còn là “chủ” của dự án Mô hình này áp dụng khi chủ đầu

tư được phép đấu thầu để lựa chọn nhà thầu thực hiện tổng thầu toàn bộ dự án Nhàthầu là trung gian nhận thầu thực hiện toàn bộ dự án từ khảo sát, thiết kế, mua sắm vật

tư thiết bị, xây lắp cho đến khi bàn giao công trình đưa công trình vào sử dụng Tổngthầu phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc thực hiện cũng như kết quả của dự án

Mô hình này được mô tả trong hình 1-6

Chủ đầu tư – chủ dự án

Chủ nhiệm điều hành

Tổ chức thực hiện dự án 1 Tổ chức thực hiện dự án 2

Trang 19

Hình 1-6 Mô hình chìa khoá trao tay

Trong một số trường hợp, khi nhà thầu dự án không phải là một cá nhân mà làmột tổ chức quản lý dự án chuyên nghiệp thì họ không chỉ được giao toàn quyền thựchiện dự án mà còn được phép chọn người khác nhận thầu từng phần việc trong dự án

đã trúng thầu Họ giống như một thứ “cai” điều hành dự án

1.5.2 Tổ chức nhân lực trong bộ phận quản lý dự án đầu tư

a Tổ chức bộ phận quản lý dự án đầu tư theo chức năng:

Trang 20

- Đây là cách tổ chức quản lý không theo yêu cầu của khách hàng

- Vì dự án được đặt dưới sự quản lý của một phòng chức năng nên phòng nàythường có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến việc hoàn thành nhiệm vụ chính của nó

mà không tập trung nhiều nỗ lực vào việc giải quyết thoả đáng các vấn đề của dự án.Tình trạng tương tự cũng diễn ra đối với các phòng chức năng khác cùng thực hiện dự

án Do đó dự án không nhận được sự ưu tiên cần thiết, không đủ nguồn lực để hoạtđộng hoặc bị coi nhẹ

b.Tổ chức bộ phận quản lý dự án đấu tư theo chuyên trách:

* Đặc điểm: Các thành viên ban quản lý dự án tách hoàn toàn khỏi phòng chứcnăng chuyên môn, chuyên thực hiện quản lý điều hành dự án theo yêu cầu được giao

*Ưu điểm:

- Đây là hình thức quản lý dự án phù hợp với yêu cầu của khách hàng nên cóthể phản ứng nhanh trước yêu cầu của thị trường

- Nhà quản lý dự án có đầy đủ quyền lực hơn đối với dự án

- Các thành viên trong ban quản lý dự án chịu sự điều hành trực tiếp của chủnhiệm dự án, chứ không phải những người đứng đầu các bộ phận chức năng điều hành

- Do tách khỏi các phòng chức năng nên đường thông tin được rút ngắn, hiệuquả thông tin sẽ cao hơn

- Các tài năng chuyên môn được phân phối hợp lý cho các dự án khác nhau

- Khắc phục được hạn chế của mô hình quản lý theo chức năng Khi kết thúc dự

án các thành viên ban quản lý dự án có thể trở về tiếp tục công việc cũ tại phòng chứcnăng của mình

Trang 21

- Tạo điều kiện phản ứng nhanh hơn, linh hoạt hơn trước yêu cầu của khách hàng

và những thay đổi của thị trường

- Mô hình này vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý Vì một nhânviên có hai thủ trưởng nên sẽ gặp khó khăn khi phải quyết định thực hiện lệnh nàotrong trường hợp hai lệnh từ hai nhà quản lý cấp trên mâu thuẫn nhau

* Những căn cứ lựa chọn mô hình quản lý dự án đầu tư

Qua các phân tích trên cho thấy, mô hình quản lý dự án nào cũng đều có những

ưu, nhược điểm của nó Để lựa chọn mô hình quản lý dự án phù hợp cần dựa vàonhững nhân tố cơ bản như quy mô dự án, thời gian thực hiện, công nghệ sử dụng, độbất định và rủi ro của dự án, địa điểm thực hiện dự án, nguồn lực và chi phí cho dự án,

số lượng dự án thực hiện trong cùng thời kỳ và tầm quan trọng của nó Ngoài ra cũngcần phân tích các tham số quan trọng khác là phương thức thống nhất các nỗ lực, cơcấu quyền lực, mức độ ảnh hưởng và hệ thống thông tin

* Thực tiễn quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình ở Việt Nam hiện nay

Theo quy định tại Nghị định 59/2015/NĐ – CP của Chính phủ: Căn cứ quy mô,tính chất, nguồn vốn sử dụng và điều kiện thực hiện dự án, người quyết định đầu tưquyết định áp dụng một trong các hình thức tổ chức quản lý dự án sau:

- Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh,quyết định thành lập Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban quản lý

dự án đầu tư xây dựng khu vực để thực hiện chức năng chủ đầu tư và nhiệm vụ quản

lý đồng thời nhiều dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, vốn nhà nước ngoài ngânsách Hình thức này áp dụng trong các trường hợp sau:

+ Quản lý các dự án được thực hiện trong cùng một khu vực hành chính hoặc trêncùng một hướng tuyến;

+ Quản lý các dự án đầu tư xây dựng thuộc cùng một chuyên ngành;

+ Quản lý các dự án sử dụng vốn ODA, vốn vay của cùng một nhà tài trợ có yêucầu phải quản lý thống nhất về nguồn vốn sử dụng

Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực có tư cách phápnhân đầy đủ, được sử dụng con dấu riêng, được mở tài khoản tại kho bạc nhà nước và

Trang 22

ngân hàng thương mại theo quy định; thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạncủa chủ đầu tư và trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện các dự án được giao; chịu tráchnhiệm trước pháp luật và người quyết định đầu tư về các hoạt động của mình; quản lývận hành, khai thác sử dụng công trình hoàn thành khi được người quyết định đầu tưgiao.

Thực chất của cách tổ chức quản lý theo ban quản lý dự án chuyên ngành và banquản lý dự án khu vực này là mô hình chủ nhiệm điều hành dự án

- Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án

Chủ đầu tư quyết định thành lập Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án đểquản lý thực hiện dự án nhóm A có công trình xây dựng cấp đặc biệt, dự án áp dụngcông nghệ cao được xác nhận bằng văn bản, dự án về quốc phòng, an ninh có yêu cầu

bí mật nhà nước, dự án sử dụng vốn khác

Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án là tổ chức sự nghiệp trực thuộc chủđầu tư, có tư cách pháp nhân độc lập, được sử dụng con dấu riêng, được mở tài khoảntại kho bạc nhà nước và ngân hàng thương mại theo quy định để thực hiện các nhiệm

vụ quản lý dự án được chủ đầu tư giao; chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư

về hoạt động quản lý dự án của mình Các ban này phải có đủ điều kiện năng lực theoquy định, được phép thuê tổ chức, cá nhân tư vấn có đủ điều kiện năng lực để thựchiện một số công việc thuộc nhiệm vụ quản lý dự án của mình

Thực chất của cách tổ chức quản lý Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự ánnày là mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án

- Thuê tư vấn quản lý dự án đầu tư xây dựng

Trường hợp Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực hoặcchủ đầu tư không đủ điều kiện năng lực để thực hiện một số công việc quản lý dự ánthì được thuê tổ chức, cá nhân tư vấn có đủ điều kiện năng lực theo quy định để thựchiện một phần hoặc toàn bộ các nội dung quản lý dự án theo hợp đồng ký kết với chủđầu tư

Thực chất của cách tổ chức thuê tư vấn quản lý dự án đầu tư xây dựng này là môhình chủ nhiệm điều hành dự án

- Chủ đầu tư trực tiếp thực hiện quản lý dự án

Chủ đầu tư sử dụng tư cách pháp nhân của mình và bộ máy chuyên môn trựcthuộc để trực tiếp quản lý đối với dự án cải tạo, sửa chữa, nâng cấp công trình xâydựng quy mô nhỏ, dự án có sự tham gia của cộng đồng

Cá nhân tham gia quản lý dự án làm việc theo chế độ kiêm nhiệm và phải cóchuyên môn nghiệp vụ phù hợp với công việc đảm nhận Chủ đầu tư được thuê tổchức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực để giám sát thi công và tham gia nghiệm thuhạng mục, công trình hoàn thành Chi phí thực hiện dự án phải được hạch toán riêngtheo quy định của pháp luật

Thực chất của cách tổ chức này là mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án

Trang 23

- Hợp đồng tổng thầu xây dựng quản lý dự án

Tổng thầu xây dựng thực hiện hợp đồng EPC, hợp đồng chìa khóa trao tay cótrách nhiệm tham gia quản lý một phần hoặc toàn bộ dự án theo thỏa thuận hợp đồngvới chủ đầu tư và phải có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng theo quy định.Tổng thầu xây dựng được hưởng một phần chi phí quản lý dự án theo thỏa thuận vớichủ đầu tư

Thực chất của cách tổ chức hợp đồng tổng thầu xây dựng quản lý dự án là mô hìnhchìa khóa trao tay

1.5.3 Cán bộ quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

a Chức năng của cán bộ quản lý dự án đầu tư

Cán bộ quản lý dự án giữ một vai trò rất quan trọng trong cơ cấu tổ chức dự án.Những chức năng cơ bản cần có của cán bộ quản lý dự án là:

- Lập kế hoạch dự án: Mục đích của lập kế hoạch là đảm bảo thực hiện mục tiêucủa dự án và chỉ ra phương pháp để đạt các mục tiêu đó một cách nhanh nhất Cán bộquản lý dự án phải quyết định cái gì cần làm, mục tiêu và công cụ thực hiện trongphạm vi giới hạn về nguồn lực

- Tổ chức thực hiện dự án: Cán bộ quản lý dự án có nhiệm vụ quyết định công việcđược thực hiện như thế nào Họ có trách nhiệm lựa chọn, đào tạo các thành viên củanhóm dự án, báo cáo kết quả và tiến trình thực hiện dự án của nhóm cho cấp trên,thông tin cho cả nhóm để cùng biết và có kế hoạch cho giai đoạn sau nhằm huy động

và sắp xếp hợp lý các nguồn lực, vật tư, thiết bị và tiền vốn Tổ chức thực hiện dự ánnhằm phối hợp hiệu quả giữa các bên tham gia, phân định rõ vai trò và trách nhiệmcho những người tham gia dự án

- Chỉ đạo hướng dẫn: Sau khi nhận nhiệm vụ quản lý, cán bộ quản lý dự án chỉ đạo

và hướng dẫn, uỷ quyền, khuyến khích động viên, phối hợp mọi thành viên trongnhóm thực hiện tốt dự án, phối hợp các lực lượng nhằm đảm bảo thực hiện thành công

dự án

- Kiểm tra giám sát: Cán bộ quản lý dự án có chức năng kiểm tra giám sát sảnphẩm dự án, chất lượng, kỹ thuật, ngân sách và tiến độ thời gian Kiểm tra giám sát làmột quá trình 3 bước bao gồm: đo lường, đánh giá và sửa chữa Cần xây dựng các tiêuchuẩn thực hiện, các mốc thời gian và dựa vào đó để so sánh đánh giá tình hình thựchiện dự án, đồng thời phải xây dựng một hệ thống thông tin hữu hiệu để thu thập và sử

lý sốliệu

- Chức năng thích ứng: Trong hoạt động, cán bộ quản lý dự án thường xuyên phảiđối đầu với những thay đổi, từ đó dẫn đến những kế hoạch, các hành động, chuẩn mựcthực hiện cũng thay đổi theo và do vậy cần linh hoạt thích ứng với môi trường

b Kỹ năng của cán bộ quản lý dự án đầu tư

Trang 24

- Kỹ năng lãnh đạo: Đây là kỹ năng cơ bản của cán bộ quản lý dự án đểchỉ đạo,định hướng, khuyến khích và phối hợp các thành viên cùng thực hiện dự án Kỹnăngnày đòi hỏi các cán bộ quản lý dự án có những phẩm chất cần thiết, có quyền lực nhấtđịnh để đạt mục tiêu dự án

- Giao tiếp và thông tin trong quản lý dự án: Cán bộ quản lý dự án có trách nhiệmphối hợp, thống nhất các hành động giữa các bộ phận chức năng và những cơ quanliên quan để thực hiện công việc dự án nên rất cần thiết phải thông thạo kỹ năng giaotiếp Cán bộ quản lý dự án cần giỏi kỹ năng thông tin, kỹ năng trao đổi tin tức giữa cácthành viên dự án và những người liên quan trong quá trình triển khai dự án

- Kỹ năng thương lượng và giải quyết khó khăn vướng mắc: Để phối hợp mọi cốgắng nhằm thực hiện thành công dự án buộc các cán bộ quản lý dự án phải có kỹ năngthương lượng giỏi với cấp trên và các phòng chức năng để giành được sự quan tâm củacấp trên và giành đủ nguồn lực cần thiết cho hoạt động dự án

- Kỹ năng tiếp thịvà quan hệvới khách hàng: Một trong những nhiệm vụ quantrọng của cán bộ quản lý dự án là trợ giúp trong hoạt động Marketing Làm tốt côngtác tiếp thị sẽ giúp cho việc duy trì được khách hàng hiện tại, tăng thêm khách hàngtiềm năng

- Kỹ năng ra quyết định: Lựa chọn phương án và cách thức thực hiện các côngviệc dự án là những quyết định rất quan trọng, đặc biệt trong những điều kiện thiếuthông tin và có nhiều thay đổi Để ra được quyết định đúng đắn và kịp thời cần đếnnhiều kỹ năng tổng hợp của cán bộ quản lý dự án

Cán bộ quản lý dự án lý tưởng phải là người có đủ các tố chất cần thiết liên quanđến kỹ năng quản trị, trình độ chuyên môn kỹ thuật và tính cách cá nhân Cán bộ quản

lý dự án có những đặc điểm khác nhau cơ bản so với cán bộ quản lý chức năng

1.6 Nội dung và công cụ quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

1.6.1 Nội dung của quản lý dự án đầu tư

1.6.1.1 Trên giác độ quản lý vĩ mô

Nhà nước thống nhất quản lý hoạt động đầu tư thông qua xây dựng, hoàn chỉnh

hệ thống luật pháp liên quan đến đầu tư bao gồm:

- Ban hành, sửa đổi, bổ sung luật đầu tư và các văn bản dưới luật nhằm một mặtkhuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư, mặt khác đảm bảo cho cáccông cuộc đầu tư thực hiện đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đạihóa đất nước, sự phát triển ổn định và tăng trưởng bền vững nền kinh tế xã hội

- Xây dựng chiến lược, quy hoạch đầu tư theo từng ngành, từng địa phương nằmtrong chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, từ đó xácđịnh danh mục các dự án ưu tiên

- Ban hành các định mức kinh tế kỹ thuật, các chuẩn mực đầu tư

Trang 25

- Thực hiện các biện pháp nhằm huy động vốn đầu tư trong dân và thu hút vốnđầu tư từ nước ngoài, cải thiện môi trường thủ tục đầu tư

- Kiểm tra giám sát việc tuân thủ pháp luật của các chủ đầu tư, xử lý những viphạm pháp luật, quy định của Nhà nước, của giấy phép đầu tư, các cam kết của chủđầu tư Điều chỉnh, xử lý các vấn đề cụ thể, phát sinh trong quá trình phát huy tác dụngcủa các kết quả đầu tư

- Phân tích đánh giá hiệu quảcủa hoạt động đầu tư, kịp thời bổ xung, điều chỉnhnhững bất hợp lý, chưa phù hợp trong cơ chế, chính sách

- Đào tạo, huấn luyện đội ngũ cán bộ chuyên môn sâu cho từng lĩnh vực của hoạtđộng đầu tư

Hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến quản lý dự án đầu tư xây dựng

công trình của Việt Nam hiện nay

Để thực hiện quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, Nhà nước ban hành hệthống văn bản pháp lý từ cao đến thấp:

Luật => Nghị định => Thông tư => Quyết định

Một số văn bản pháp lý chủ yếu liên quan đến quản lý dự án đầu tư xây dựngcông trình đang có hiệu lực hiện nay được tập hợp trong bảng 1-5

Bảng 1-3 Một số văn bản pháp lý liên quan đến quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình ST

- Nghị định 38/2017/NĐ – CP về đầu tư xây dựng,

quản lý khai thác cảng cạn

Ban hành: 04/04/2017Hiệu lực: 01/07/2017

- Nghị định 136/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một Ban hành: 31/12/2015

Trang 26

số điều của Luật Đầu tư công Hiệu lực: 15/02/2016

- Nghị định 131/2015/NĐ-CP hướng dẫn về dự án

quan trọng quốc gia

Ban hành: 25/12/2015Hiệu lực: 15/02/2016

- Nghị định 118/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật đầu tư Ban hành: 12/11/2015

Hiệu lực: 27/12/2015

- Nghị định 84/2015/NĐ-CP về giám sát và đánh giá

đầu tư

Ban hành: 30/09/2015Hiệu lực: 20/11/2015

- Nghị định 77/2015/NĐ-CP về kế hoạch đầu tư công

trung hạn và hằng năm

Ban hành: 10/09/2015Hiệu lực: 01/11/2015

- Nghị định 59/2015/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư

xây dựng

Ban hành: 18/06/2015Hiệu lực: 05/08/2015

- Nghị định 32/2015/NĐ-CP về Quản lý chi phí đầu tư

xây dựng

Ban hành: 25/03/2015Hiệu lực: 10/05/2015

- Nghị định 30/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đấu thầu

về lựa chọn nhà đầu tư

Ban hành: 17/03/2015Hiệu lực: 05/05/2015

- Nghị định 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức

đối tác công tư

Ban hành: 14/02/2015Hiệu lực: 10/04/2015

- Nghị định 63/2014/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đấu thầu

về lựa chọn nhà thầu

Ban hành: 26/06/2014Hiệu lực: 15/08/2014

3 Thông tư

- Thông tư 16/2016/TT – BKHĐT hướng dẫn lập hồ

sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thâu lựa chọn nhà thầu

thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất do Bộ trưởng

Bộ kế hoạch và đầu tư ban hành

Ban hành: 16/12/2016Hiệu lực: 06/02/2017

- Thông tư 12/2016/TT-BKHĐT hướng dẫn thực hiện

Nghị định 16/2016/NĐ-CP về quản lý và sử dụng

vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay

ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài do Bộ trưởng Bộ

Kế hoạch và Đầu tư ban hành

Ban hành: 08/08/2016Hiệu lực: 22/09/2016

- Thông tư 11/2016/TT-BKHĐT Hướng dẫn lập hồ sơ

mời thầu thiết kế, cung cấp hàng hóa và xây lắp

(EPC)

Ban hành: 26/07/2016Hiệu lực: 01/10/2016

- Thông tư 10/2016/TT-BKHĐT Quy định chi tiết

việc giám sát, theo dõi và kiểm tra hoạt động đấu

thầu do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành

Ban hành: 22/07/2016Hiệu lực: 09/09/2016

- Thông tư 16/2016/TT-BXD hướng dẫn thực hiện

Nghị định 59/2015/NĐ-CP về hình thức tổ chức

quản lý dự án đầu tư xây dựng do Bộ trưởng Bộ Xây

dựng ban hành

Ban hành: 30/06/2016Hiệu lực: 15/08/2016

- Thông tư 07/2016/TT-BKHĐT quy định chi tiết lập Ban hành: 29/06/2016

Trang 27

hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu mua sắm hàng hóa đối

với đấu thầu qua mạng do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch

và Đầu tư ban hành

Hiệu lực: 15/08/2016

- Thông tư 06/2016/TT-BKHĐT hướng dẫn thực hiện

Nghị định 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức

đối tác công tư do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư

ban hành

Ban hành: 28/06/2016Hiệu lực: 20/09/2016

- Thông tư 83/2016/TT-BTC hướng dẫn thực hiện ưu

đãi đầu tư quy định tại Luật đầu tư 67/2014/QH13 và

Nghị định 118/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật đầu tư

do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành

Ban hành: 17/06/2016Hiệu lực: 01/08/2016

- Thông tư 55/2016/TT-BTC quy định về quản lý tài

chính đối với dự án đầu tư theo hình thức đối tác

công tư và chi phí lựa chọn nhà đầu tư do Bộ trưởng

Bộ Tài chính ban hành

Ban hành: 23/03/2016Hiệu lực: 05/05/2016

- Thông tư 02/2016/TT-BKHĐT hướng dẫn lựa chọn

sơ bộ dự án, lập, thẩm định, phê duyệt đề xuất dự án

và báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đầu tư theo hình

thức đối tác công tư do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và

Đầu tư

Ban hành: 01/03/2016Hiệu lực: 18/04/2016

- Thông tư 08/2016/TT-BTC quy định về quản lý,

thanh toán vốn đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách

Nhà nước do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành

Ban hành: 18/01/2016Hiệu lực: 05/03/2016

- Thông tư 23/2015/TT-BKHĐT quy định chi tiết lập

báo cáo đánh giá hồ sơ dự thầu do Bộ trưởng Bộ Kế

hoạch và Đầu tư ban hành

Ban hành: 21/12/2015Hiệu lực: 15/02/2016

- Thông tư 19/2015/TT-BKHĐT quy định chi tiết lập

báo cáo thẩm định trong quá trình tổ chức lựa chọn

nhà thầu do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban

hành

Ban hành: 27/11/2015Hiệu lực: 15/01/2016

- Thông tư 183/2015/TT-BTC hướng dẫn thực hiện

thanh toán bằng quỹ đất cho Nhà đầu tư thực hiện

Dự án đầu tư Xây dựng – Chuyển giao quy định tại

Quyết định 23/2015/QĐ-TTg do Bộ trưởng Bộ Tài

chính ban hành

Ban hành: 17/11/2015Hiệu lực: 01/01/2016

- Thông tư 11/2015/TT-BKHĐT quy định chi tiết việc

lập hồ sơ yêu cầu đối với chỉ định thầu, chào hàng

cạnh tranh do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban

hành

Ban hành: 27/10/2015Hiệu lực: 22/12/2015

- Thông tư 10/2015/TT-BKHĐT quy định chi tiết về Ban hành: 26/10/2015

Trang 28

kế hoạch lựa chọn nhà thầu do Bộ trưởng Bộ Kế

hoạch và Đầu tư ban hành

Hiệu lực: 10/12/2015

- Thông tư liên tịch 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC

hướng dẫn cung cấp, đăng tải thông tin về đấu thầu

và lựa chọn nhà thầu qua mạng do Bộ trưởng Bộ Kế

hoạch Đầu tư - Bộ Tài chính ban hành

Ban hành: 08/09/2015Hiệu lực: 01/11/2015

- Thông tư 03/2015/TT-BKHĐT Quy định chi tiết lập

hồ sơ mời thầu xây lắp do Bộ Kế hoạch và Đầu tư

ban hành

Ban hành: 06/05/2015Hiệu lực: 01/07/2015

Như vậy, Luật là văn bản pháp quy cao nhất trong quản lý Nhà nước trên mọilĩnh vực Với lĩnh vực đầu tư, có 2 văn bản pháp luật chi phối mạnh nhất và Luật Đầu

tư năm 2014 và Luật đầu tư công năm 2014 Dưới đây sẽ phân tích một số mặt tiến

bộ, mặt tồn tài của 2 văn bản Luật này

Luật đầu tư năm 2014

a Một số điểm tiến bộ của Luật đầu tư 2014 so với Luật đầu tư 2005

*Luật Đầu tư chỉ quản lý dự án

Một trong những vướng mắc lớn nhất của Luật đầu tư 2005 là tình trạng chồnglấn, giẫm chân lên Luật Doanh nghiệp Theo quy định luật này, trong trường hợp thựchiện dự án đầu tư gắn với việc thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đầu tư baogồm cả nội dung đăng ký kinh doanh và đăng ký doanh nghiệp Khi đó, giấy chứngnhận đầu tư cũng đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Doanh nghiệprơi vào tình trạng một cổ hai tròng, vừa phải tuân thủ Luật đầu tư vừa phải tuân thủLuật Doanh nghiệp

Luật đầu tư 2014 đã tách nội dung đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp rakhỏi giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (hiện nay là giấy chứng nhận đầu tư), chỉ điềuchỉnh các dự án đầu tư, còn việc thành lập doanh nghiệp sẽ do Luật Doanh nghiệp điềuchỉnh Do vậy, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư giờ đây chỉ ghi nhận thông tin về dự

án đầu tư

*Ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh và đầu tư kinh doanh có điều kiện

Điều 6, Luật đầu tư 2014 đã vạch rõ giới hạn của các ngành nghề cấm đầu tưkinh doanh, thay vì cấm mông lung theo lĩnh vực như điều 30, Luật đầu tư 2005.Theo đó, các ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh gồm: kinh doanh ma túy; kinh doanhhóa chất, khoáng vật cấm; kinh doanh động, thực vật hoang dã, nguy cấp, quý hiếm cónguồn gốc từ tự nhiên; kinh doanh mại dâm; mua, bán người, mô, bộ phận cơ thểngười và các hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người

Quy định này có thể coi là một bước tiến quan trọng trong tư duy để thể chế hóađiều 33 Hiến pháp: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề

mà pháp luật không cấm” Tinh thần này còn được tái khẳng định trong điều 5 của luật

Trang 29

với quy định nhà đầu tư được quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong cácngành nghề mà luật không cấm.

Luật đầu tư 2014 dành riêng một phụ lục (phụ lục 4) liệt kê 267 ngành nghề đầu

tư kinh doanh có điều kiện Nếu căn theo con số, số lượng 267 ngành nghề kinh doanh

có điều kiện có thể khiến nhiều người cho rằng Luật đầu tư 2014 mở rộng phạm vingành nghề kinh doanh có điều kiện, so với chín lĩnh vực đầu tư có điều kiện hiện nay.Tuy nhiên, thật ra Luật đầu tư 2005 chỉ liệt kê chung chung các ngành nghề có điềukiện Đồng thời, Luật đầu tư 2014 chỉ tổng hợp và làm rõ hơn danh mục những ngànhnghề kinh doanh có điều kiện vốn đã được liệt kê trong vô số các văn bản chuyênngành khác

Theo cách tiếp cận này, từ nay các cơ quan nhà nước không còn quyền tự đặt racác nghề kinh doanh có điều kiện, trừ khi được Quốc hội chấp thuận bằng việc sửa đổiLuật Đầu tư Chắc chắn việc sửa luật sẽ không dễ dàng như sửa một nghị định cấpChính phủ hoặc một thông tư cấp bộ Do vậy, nhà đầu tư có thể yên tâm rằng danhsách này sẽ không dài ra một cách nhanh chóng

*Cởi trói cho đầu tư trong nước

Theo Luật đầu tư 2005, dự án đầu tư trong nước có quy mô từ 15 tỉ đồng trở lênhoặc thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì phải xin giấy chứng nhận đầu tư, bất kểvốn đầu tư là vốn trong nước hay nước ngoài Vậy nên có chuyện một ông bác sĩ muốn

mở phòng mạch nho nhỏ cũng có thể phải xin giấy phép đầu tư vì hoạt động đầu tưnày thể bị xếp vào “lĩnh vực tác động đến sức khỏe cộng đồng”

Theo Luật đầu tư 2014, dự án của nhà đầu tư trong nước sẽ không phải thựchiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và doanh nghiệp chỉ cần hoạt độngtheo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là đủ

*Thu hẹp phạm vi áp dụng giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với doanh nghiệp FDI

Hiện nay, tất cả các dự án đầu tư có vốn nước ngoài (dù chỉ là 1% vốn điều lệ)cũng cần phải xin giấy chứng nhận đầu tư Trong nỗ lực khuyến khích đầu tư nướcngoài, Luật đầu tư 2014 chỉ còn yêu cầu nhà đầu tư xin giấy chứng nhận đăng ký đầu

tư đối với dự án của nhà đầu tư nước ngoài (tức là người nước ngoài đầu tư vào ViệtNam) và dự án của doanh nghiệp FDI mà trong đó nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ51% hoặc có nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp FDI nắm giữ từ 51% vốn điều lệ.Các dự án có vốn FDI còn lại (có nhà đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp FDI nắmgiữ dưới 51% vốn điều lệ) thì sẽ được đối xử như dự án đầu tư trong nước và khôngcần phải xin giấy chứng nhận đăng ký đầu tư

*Rút ngắn thời gian cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư

Theo điều 37 của Luật đầu tư 2014, thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu

tư cho các dự án đầu tư thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư là năm ngày làm việc

kể từ ngày nhận được văn bản quyết định chủ trương đầu tư; còn đối với các dự án

Trang 30

khác là 15 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan cấp phép nhận đủ hồ sơ Điều 40, thờihạn cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư điều chỉnh là 10 ngày làm việc kể từ ngày cơquan cấp phép nhận đủ hồ sơ.

Có thể nói, thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đã được Luật đầu tư

2014 rút ngắn đáng kể so với Luật đầu tư 2005 Tuy nhiên, xem xét thực tế cấp giấychứng nhận đầu tư hiện hành, chúng tôi thấy rất ít trường hợp nhà đầu tư được cấpgiấy chứng nhận đầu tư đúng thời hạn theo quy định của Luật đầu tư 2005 Liệu cácnhà đầu tư có thể trông chờ vào bước đột phá của cơ quan cấp phép về mặt thời giancấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ?

b Một số điểm tồn tại của Luật đầu tư 2014 so với Luật đầu tư 2005

*Luật thừa nhận cơ chế quyết định chủ trương đầu tư

Đối với các dự án lớn theo điều 30, 31 và 32 của Luật đầu tư 2014 như nhà máyđiện hạt nhân, chuyển mục đích vườn quốc gia dự án sẽ phải xin chấp thuận chủtrương đầu tư từ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc UBND cấp tỉnh Luật đầu tư

2014 đã thừa nhận chính thức thủ tục xin chấp thuận chủ trương đầu tư - hiện nay chỉ

áp dụng không chính thức đối với một số dự án

Dù những dự án phải xin chủ trương đầu tư là những dự án lớn và đặc biệt, tuynhiên, việc thừa nhận thủ tục phải xin chấp thuận chủ trương đầu tư có thể phát sinh hệlụy (i) Thứ nhất là trong bối cảnh Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp sửa đổi mới đượcban hành và chưa có thực tế áp dụng, sự cẩn trọng của các cơ quan cấp phép có thể tạomôi trường thuận lợi cho việc áp dụng tràn lan thủ tục xin chủ trương đầu tư Khi đó,

có nguy cơ nhiều dự án không thuộc diện xin chủ trương đầu tư cũng bị bắt buộc phảixin chủ trương đầu tư trong thực tế (ii) Thứ 2 thủ tục xin chấp thuận chủ trương đầu

tư có thể tạo cơ hội cho những nhà đầu tư không đủ năng lực “xí phần” dự án thôngqua việc “chạy” chấp thuận chủ trương đầu tư

*Chưa giải quyết triệt để bài toán về tư cách của nhà đầu tư nước ngoài

Nhà đầu tư nước ngoài hiện nay được xác định theo tiêu chí chính là quốc tịch,

ai không có quốc tịch Việt Nam thì đó là nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, có quanđiểm khác lại xác định nhà đầu tư nước ngoài theo vốn, tức là, chỉ cần doanh nghiệptại Việt Nam có vốn đầu tư từ nước ngoài thì doanh nghiệp đó cũng bị xem là nhà đầu

tư nước ngoài Đáng lẽ nên chọn phương án thứ nhất, tức là xác định nhà đầu tư nướcngoài theo quốc tịch thì Luật đầu tư 2014 lại chọn phương án trung dung

Luật chia nhà đầu tư nước ngoài thành ba nhóm: (i) nhà đầu tư có quốc tịchnước ngoài; (ii) doanh nghiệp Việt Nam có 51% vốn nước ngoài; và (iii) doanh nghiệpViệt Nam có dưới 51% vốn nước ngoài Nhóm (i) và (ii) bị áp dụng các điều kiện nhưnhà đầu tư nước ngoài (từ ngành nghề đầu tư đến thủ tục đầu tư ) còn nhóm (iii) được

áp dụng các thủ tục và điều kiện như doanh nghiệp trong nước Sẽ khó chấp nhận sựphân biệt ấy khi một doanh nghiệp có 51% vốn nước ngoài và một doanh nghiệp có50,9% vốn nước ngoài lại áp dụng hai thủ tục đầu tư khác nhau

Trang 31

Bất hợp lý khác là ngay cả khi doanh nghiệp có 51% vốn nước ngoài (tạm gọi

là F1) thành lập một doanh nghiệp mới (tạm gọi là F2) tại Việt Nam, doanh nghiệp F2

đó cũng vẫn phải áp dụng các điều kiện và thủ tục như nhà đầu tư nước ngoài Điềunày là phân biệt đối xử giữa chính doanh nghiệp Việt Nam, vì về mặt quốc tịch, cảdoanh nghiệp F1 và F2 đều là pháp nhân mang quốc tịch Việt Nam, không lý do gì đểcoi doanh nghiệp F2 cũng như nhà đầu tư nước ngoài Thêm nữa, nếu xét về tỷ lệ vốn,vốn nước ngoài trong doanh nghiệp F2 có thể rất thấp Ví dụ nếu vốn nước ngoài trongdoanh nghiệp F1 là 52% và doanh nghiệp F1 nắm 55% vốn điều lệ của doanh nghiệpF2, như vậy, tỷ lệ vốn nước ngoài trong doanh nghiệp F2 chỉ là 28,6% (52% x 55%).Chỉ với 28,6% vốn nước ngoài mà doanh nghiệp F2 vẫn phải tuân theo các điều kiệnđầu tư và thủ tục đầu tư như quy định đối với đầu tư nước ngoài là khó thuyết phục

Luật Đầu tư công năm 2014

Luật đầu tư công lần đầu tiên ra đời năm 2014 trước yêu cầu thực tiễn của quản

lý các dự án đầu tư xây dựng công trình từ nguồn vốn Ngân sách Nhà nước Các nộidung quản lý không có mẫu thuẫn với Luật đầu tư năm 2014

a Điêm mới của Luật đầu tư công:

Luật Đầu tư côngquy định nhiều nội dung đổi mới nhằm nâng cao hiệu quảquản lý nguồn vốn đầu tư công và phù hợp với các thông lệ quốc tế Cụ thể như sau:

-Thứ nhất, đã tạo ra hệ thống cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ với các vănbản pháp luật khác trong quản lý các nguồn vốn đầu tư công

-Thứ hai, phạm vi điều chỉnh Luật bao quát được việc quản lý sử dụng cácnguồn vốn đầu tư công

-Thứ ba, đã thể chế hóa quy trình quyết định chủ trương đầu tư, là nội dung đổimới quan trọng nhất của Luật Đầu tư công; đó là điểm khởi đầu quyết định tính đúngđắn, hiệu quả của chương trình, dự án theo đúng các mục tiêu, định hướng, kế hoạch,quy hoạch và chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước; ngăn ngừa sự tùy tiện, chủquan, duy ý chí và đơn giản trong việc quyết định chủ trương đầu tư, nâng cao tráchnhiệm của người ra quyết định chủ trương đầu tư Đồng thời, góp phần khắc phục tìnhtrạng đầu tư dàn trải, lãng phí, kém hiệu quả trong đầu tư công

-Thứ tư, tăng cường và đổi mới công tác thẩm định về nguồn vốn và cân đốivốn, coi đó là một trong những nội dung quan trọng nhất của công tác thẩm địnhchương trình, dự án đầu tư công

-Thứ năm, đổi mới mạnh mẽ công tác lập kế hoạch đầu tư; chuyển từ việc lập

kế hoạch ngắn hạn, hàng năm sang kế hoạch trung hạn 5 năm, phù hợp với kế hoạchphát triển kinh tế - xã hội 5 năm

-Thứ sáu, tăng cường công tác theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra kế hoạch,chương trình, dự án đầu tư công

-Thứ bảy, tiếp tục đổi mới hoàn thiện quy chế phân cấp quản lý đầu tư côngphân định quyền hạn đi đôi với trách nhiệm của từng cấp

Trang 32

- Thứ tám, góp phần quan trọng vào việc thực hiện tái cơ cấu đầu tư công theohướng nâng cao hiệu quả; từ đó tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình xây dựng hệ thốngkết cấu hạ tầng đồng bộ, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững.

-Thứ chín,, là một bước tiến lớn trong quản lý, bảo đảm tính công khai, minhbạch trong quản lý, sử dụng nguồn lực của Nhà nước, góp phần và tạo điều kiện pháp

lý để đẩy mạnh công cuộc phòng chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệmtrong đầu tư xây dựng cơ bản

b Một số tồn tại tại của Luật đầu tư công

* Về chủ trương đầu tư:

- Thứ nhất, các vướng mắc trong công tác lựa chọn tư vấn lập báo cáo đề xuấtchủ trương đầu tư chương trình, dự án đầu tư công Theo quy định của Luật Đầu tưcông, cơ quan được giao chuẩn bị đầu tư chương trình, dự án có trách nhiệm giao đơn

vị trực thuộc lập báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư Tuy nhiên, nhiều đơn vị trực thuộccác cơ quan này không có đầy đủ về bộ máy, nhân lực và chuyên môn để thực hiện lậpbáo cáo đề xuất chủ trương đầu tư (ví dụ: UBND các xã, các đơn vị sự nghiệp cônglập không có chuyên môn quản lý dự án đầu tư xây dựng…) nên phải thuê các đơn vị

tư vấn đủ điều kiện, năng lực thực hiện việc này dẫn tới các vướng mắc sau:

+ Chưa có hướng dẫn cụ thể về quy trình lựa chọn đơn vị tư vấn lập báo cáo đềxuất chủ trương đầu tư dự án đầu tư công

+ Các đơn vị trực thuộc nêu trên không có kinh phí chi trả nên phụ thuộc cácđơn vị tư vấn Ngược lại, thì các đơn vị tư vấn này cũng không chắc chắn rằng mình

có được trả phí cho việc lập hồ sơ báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư hay không, nêncác ý tưởng chủ chốt của dự án hoặc là rất nghèo nàn hoặc là đã bị hướng theo các chủ

ý khác Dù vô tình hay hữu ý thì đến bước lập dự án, các đơn vị tư vấn này đều muốnđược tiếp tục giao thực hiện để có chi phí bù vào bước lập báo cáo đề xuất chủ trươngđầu tư đã không được chi trả Điều này dẫn đến sự không bình đẳng, phụ thuộc, ảnhhưởng tới chất lượng dự án

- Thứ hai, quy định về nội dung của một báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư gầngiống như một báo cáo nghiên cứu khả thi, do đó có sự chồng lấp không đáng

Do đó, để công tác chuẩn bị đầu tư được thuận lợi, kiến nghị cần điều chỉnh lạicác quy định trong việc lập và thẩm định chủ trương đầu tư dự án theo hướng đơngiản, chủ yếu nên tập trung thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn

- Thứ ba, thời gian thẩm định chủ trương đầu tư: Hiện tại đã có quy định rất rõràng về thời hạn thẩm định chủ trương đầu tư chương trình, dự án Tuy nhiên, không

có quy định về khoảng thời gian trình báo cáo trước kỳ hạn cuối cùng nên việc lập cácbáo cáo đề xuất chủ trương đầu tư luôn bị động, dồn nén vào cuối kỳ Việc này kéotheo các cơ quan tham gia thẩm định không có đủ thời gian xem xét kỹ chất lượng báocáo đề xuất chủ trương đầu tư, không thể tham mưu hết tất cả các mặt

b Về thẩm định dự án

Trang 33

-Thứ nhất, Theo quy định của Luật Xây dựng năm 2014, Nghị định số 59/2015/NĐ-CP, thời gian thẩm định dự án, thời gian thẩm định thiết kế xây dựng tối đa đãđược quy định rất rõ ràng Tuy nhiên tại Khoản 1, Điều 55 và Khoản 2, Điều 56, LuậtĐầu tư công nêu: Điều kiện chương trình, dự án được bố trí vốn kế hoạch đầu tư côngtrung hạn, hàng năm là chương trình, dự án đã được cấp có thẩm quyền quyết định chủtrương đầu tư, quyết định đầu tư dự án Điều này có thể dẫn tới hệ lụy: Các đơn vịđược giao nhiệm vụ chủ đầu tư không cần thiết phải trình sớm để chương trình, dự ánđược thẩm định đủ thời gian theo quy định; thời gian trình thẩm định thường được dồnđến cuối kỳ hạn Vì vậy, các đơn vị tham gia thẩm định không có đủ thời gian tối thiểu

để đề xuất, chỉnh sửa các nội dung dự án, làm giảm chất lượng dự án, phải điều chỉnhnhiều lần, thậm chí có dự án bị kết luận chưa khả thi vào thời điểm thẩm định; Ủy bannhân dân các cấp bị động trong quá trình phê duyệt Các sở, ngành, địa phương bịđộng trong quá trình thẩm định, tham gia ý kiến

-Thứ hai, với các dự án không có cấu phần xây dựng, chưa có quy định về tiêuchuẩn định mức của các chi phí có liên quan trong quá trình lập báo cáo nghiên cứukhả thi nên rất khó khăn trong quá trình lập, thẩm định và phê duyệt các dự án này

- Thứ ba, một số quy định chưa phù hợp thực tế, gây khó khăn đối với các dự

án, như: Dự án có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng phải xin chủ trưởng đầu tư; Dự ánPPP có tổng mức đầu tư thuộc phân loại dự án nhóm A nhưng phần vốn đầu tư củaNhà nước tham gia chiếm tỷ lệ dưới 10% phải thực hiện thủ tục phê duyệt chủ trươngđầu tư bởi Thủ tướng; Thủ tục lấy ý kiến thẩm định đối với việc mua tài sản, ứng dụngcông nghệ thông tin có cấu phần xây dựng dưới 5%

- Thứ tư, các dự án đầu tư tại địa bàn có di tích quốc gia đặc biệt nhưng có quy

mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản mà quy định ở nhóm A gây phức tạp trong quản lý Cầnchuyển sang nhóm B hoặc nhóm C để đảm bảo phân cấp phê duyệt chủ chương vàquyết định đầu tư

c Về bố trí vốn và giải ngân vốn

- Thứ nhất, Luật Đầu tư công quy định một trong những điều kiện để chươngtrình, dự án được bố trí vốn trung hạn là "phải được cấp có thẩm quyền quyết định chủtrương đầu tư, xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối vốn để thực hiện chươngtrình, dự án" (Điều 55) Tuy nhiên, việc thực hiện theo quy định trên là không dễ dokhó có thể lập, trình phê duyệt chủ trương đầu tư tất cả dự án trong kế hoạch trung hạn

5 năm tại thời điểm năm đầu của kế hoạch 5 năm Cạnh đó, mức vốn của chương trình,

dự án tại thời điểm phê duyệt chủ trương đầu tư có thể sẽ không còn phù hợp khi triểnkhai thực hiện ở các năm sau, nhất là những năm về cuối của kế hoạch Đây cũng làvấn đề gây lúng túng và chưa thống nhất khi xây dựng danh mục dự án đầu tư công

- Thứ hai, về điều kiện ghi vốn của công trình: Theo quy định dự án được bố trívốn phải hoàn chỉnh thủ tục trước 31/10 năm kế hoạch, điều này dẫn đến hệ lụy khi dự

án không đủ điều kiện nêu trên, nếu chạy theo thời gian thì chất lượng của việc lập,

Trang 34

thẩm định và phê duyệt dự án sẽ không đảm bảo, dẫn đến nhiều dự án khi triển khaithực hiện phải điều chỉnh.

- Thứ ba, đối với những dự án sử dụng vốn trung ương hỗ trợ, hầu hết các dự ánnày đều được các Bộ ngành trung ương thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốntheo tiến độ dự án Tuy nhiên, trong quá trình giao kế hoạch lại cho địa phương lạikhông bố trí đúng theo nội dung đã thẩm định, dẫn đến dự án kéo dài thời gian thựchiện hoặc phải điều chỉnh lại kế hoạch của địa phương;

- Thứ tư, Điều 76 của Luật Đầu tư công quy định: "Thời gian giải ngân vốn kếhoạch đầu tư công hằng năm được kéo dài sang năm sau Trường hợp đặc biệt, đượccấp có thẩm quyền cho phép thì được kéo dài thời gian giải ngân không quá kế hoạchđầu tư công trung hạn" đã tạo ra tâm lý ỷ lại, không tích cực thanh toán vốn đầu tưđược giao ngay trong năm của các bộ, ngành và địa phương, làm ảnh hưởng đến hiệuquả sử dụng vốn, đặc biệt là nguồn vốn trái phiếu chính phủ là nguồn phải vay Mặtkhác, việc cho phép kế hoạch vốn được kéo dài sang năm sau năm kế hoạch gây khókhăn trong cân đối và chủ động vốn thanh toán theo kế hoạch

Bên cạnh những thiếu sót nói trên, quy định của Luật Đầu tư công còn nhiềuđiểm chồng chéo, mâu thuẫn với quy định của các luật chuyên ngành khác như LuậtXây dựng, Luật Đất đai, Luật Đấu thầu về vấn đề thành lập ban quản lý dự án xâydựng, về tiêu chí phân chia dự án đầu tư, về thời điểm giới thiệu địa điểm cho nhà đầu

tư, về loại dự án phải tiến hành đấu thầu

1.6.1.2 Đối với các Bộ, ngành và địa phương

Nội dung quản lý hoạt động đầu tư bao gồm

- Xây dựng chiến lược, quy hoạch đầu tư cho Bộ, ngành và địa phương Xâydựng danh mục các dự án đầu tư cho Bộ, ngành và địa phương

- Xây dựng kế hoạch huy động vốn đầu tư

- Hướng dẫn các nhà đầu tư Việt Nam lập bản mô tả dự án đầu tư, lập dự án tiềnkhả thi, lựa chọn đối tác nước ngoài, đàm phán ký kết hợp đồng liên doanh liên kếttrong đầu tư với nước ngoài

- Trực tiếp kiểm tra giám sát quá trình hoạt động của các dự án đầu tư thuộcngành, địa phương theo chức năng nhiệm vụ được phân cấp quản lý Hỗ trợ và trựctiếp xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình đầu tư như cấp đất, tuyển dụng laođộng, xây dựng công trình và kiến nghị với cấp trên điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cácbất hợp lý trong cơ chế chính sách, quy định dưới luật

1.6.1.3 Đối với các chủ đầu tư ở các cơ sở

Nội dung chủ yếu của quản lý hoạt động đầu tư ở cấp cơ sở là điều phối, kiểmtra, đánh giá hoạt động đầu tư của cơ sở nói chung và của từng dự án đầu tư trong cơ

sở nói riêng Xây dựng kếhoạch đầu tưvà kế hoạch huy động vốn để thực hiện kếhoạch đầu tư đã được lập Lập dự án đầu tư và quản lý quá trình thực hiện đầu tư nhắmtới các kết quả đầu tư, thu hồi đủ vốn đầu tư bỏ ra và có lãi

Trang 35

Sự khác nhau từ hai phương diện quản lý Nhà nước và quản lý của cơ sở sảnxuất kinh doanh dự án đầu tư xây dựng công trình được tập hợp trong bảng 1-4.

Bảng 1-4 Sự khác nhau từ hai phương diện quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

sản xuất kinh doanh

Về thể chế

quản lý

Là chủ thể quản lý chung nhấthoạt động đầu tư của đất nước

Là chủ thể quản lý hoạt động đầu tư

Về mục tiêu Bảo vệ quyền lợi của quốc gia,

bảo vệ những lợi ích chungnhất cho mọi thành viên trongcộng đồng, đặc biệt là các lợiích dài hạn

Lợi ích trực tiếp của mình trongkhuôn khổ pháp luật do Nhà nướcquy định

về tình hình thị trường, nhu cầuđầu tư, điều tiết lợi ích cho toàn

xã hội

Đối với các công cuộc đầu tư từvốn ngân sách thì vai trò quản

lý của Nhà nước cụ thể và trựctiếp hơn, tuy nhiên cũng khôngquá chi tiết vì không thể quản

lý chi tiết được và vi phạmquyền tự chủ cơ sở

Các doanh nghiệp, cơ sở phải nghiêncứu phát hiện các cơ hội đầu tư củamình, lập các dự án cho các côngcuộc đầu tư cụ thể, tự chịu tráchnhiệm về hiệu quả kinh tế tài chínhcủa công cuộc đầu tư, được hưởngcác lợi ích xứng đáng và chịu sựđiều tiết lợi ích của Nhà nước

1.6.2 Các công cụ quản lý dự án đầu tư

- Hệ thống luật có liên quan đến hoạt động đầu tư như luật đầu tư, luật công ty,luật xây dựng, luật đất đai, luật bảo vệ môi trường, luật lao động, luật bảo hiểm, luậtthuế, luật phá sản và một loạt các văn bản dưới luật kèm theo vềquản lý hoạt động đầu

tư như các quy chế quản lý tài chính, vật tư, thiết bị, lao động, tiền lương, sử dụng đấtđai và tài nguyên thiên nhiên khác,

Trang 36

- Các chính sách và đòn bẩy kinh tế như chính sách, giá cả, tiền lương, xuất khẩu,thuế, tài chính tín dụng, tỷ giá hối đoái, thưởng phạt kinh tế, chính sách khuyến khíchđầu tư, những quy định về chế độ hạch toán kế toán, phân phối thu nhập

- Các định mức và tiêu chuẩn quan trọng có liên quan đến lợi ích của toàn xã hội

- Quy hoạch tổng thể và chi tiết của ngành và địa phương về đầu tư và xây dựng

- Các kế hoạch định hướng và kế hoạch trực tiếp về đầu tư

- Danh mục các dự án đầu tư

- Các hợp đồng ký kết với các cá nhân và đơn vị hoàn thành các công việc củaquá trình thực hiện dựán

- Tài liệu phân tích đánh giá kết quả và hiệu quảcủa hoạt động đầu tư

- Các thông tin về tình hình cung cầu, kinh nghiệm quản lý, giá cả, luật pháp củaNhà nước và các vấn đề có liên quan đến đầu tư

Để quản lý hoạt động đầu tư, ngoài việc phải sử dụng các công cụ trên đây phải

có các phương tiện quản lý Trong điều kiện tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện nay, cácnhà quản lý đầu tư sử dụng rộng rãi hệ thống lưu trữ và xử lý thông tin hiện đại (cảphần cứng về phần mềm), hệ thống thông tin liên lạc, các phương tiện đi lại trong quátrình điều hành và kiểm tra hoạt động của từng dự án đầu tư

1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

a Môi trường đầu tư dự án

Ảnh hưởng của môi trường đầu tư dự án đến chất lượng quản lý dự án gồm các tácđộng về chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội, tự nhiên, công nghệ kỹ thuật Những tácđộng này có thể ảnh hưởng tốt hoặc xấu đến các hoạt động quản lý dự án Chẳng hạn :

Dự án đầu tư chịu sự ràng buộc của các quy định của Luật Đầu tư, Luật Xâydựng, Luật Đấu thầu và các quy định của pháp luật có liên quan khác như: các quyđịnh về lập, thẩm định, phê duyệt về quyết định đầu tư dự án; các quy định về quản lýchất lượng công trình xây dựng; các quy định về giấy phép xây dựng; Dự án sẽ cóthể đảm bảo thời gian thực hiện dự kiến, đảm bảo mức chi phí dự kiến nếu việc giảiquyết các thủ tục pháp luật được thực hiện đúng quy định Tuy nhiên, thực tế đã chỉ ra,việc tiến hành các thủ tục pháp lý liên quan đến dự án theo quy định pháp luật thườngkhông đảm bảo đúng quy định đã ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu quản lý dự án nhưlàm kéo dài thời gian thực hiện và làm tăng chi phí so với dự kiến

Dự án đầu tư xây dựng công trình thường được tiến hành ngoài trời, do đó nóchịu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu Ở mỗi vùng, mỗi lãnh thổ có điều kiện tự nhiênkhác nhau, từ đó mà nó cho phép khai thác các kiến trúc phù hợp với điều kiện thực tế

Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển đã mang lại cho con người rất nhiềuứng dụng hết sức tiện ích Đối với người làm công tác quản lý dự án đầu tư đầu tư thì

cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ là một phần không thể thiếu được khi quản lý đầu

tư Trong quá trình quản lý, người làm công tác quản lý dự án đầu tư thường xuyên

Trang 37

phải tính toàn và đưa ra các quyết định kịp thời, nếu không có sự trợ giúp của kỹ thuật

và công nghệ thì người làm công tác quản lý đầu tư không thể tính toán kịp vì có quánhiều vấn đề, liên quan tới nhiều bộ phận và như vậy không thể đưa ra được các quyếtđịnh kịp thời, dẫn đến kéo dài thời gian thực hiện dự án đầu tư

b Quy mô và tính chất của dự án

Đối với các dự án quy mô lớn, số lượng công việc phải thực hiện rất lớn, việcquản lý và điều hành dự án của chủ đầu tư khó khăn hơn nhiều các dự án nhỏ,đòi hỏiquy mô và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý lớn, thường phải giải quyết rất nhiềumối quan hệ và xử lý rất nhiều tình huống nảy sinh do đó ảnh hưởng trực tiếp đến chấtlượng quản lý dự án như: khả năng đảm bảo chất lượng, thời gian và chi phí của cáccông việc hoàn thành

Tính chất của dự án cũng ảnh hưởng đến chất lượng quản lý dự án Chẳng hạn, dự

án sử dụng các nguồn vốn khác nhau thường khác nhau về khả năng giải ngân làm ảnhhưởng tới việc đảm bảo tiến độ thực hiện dự án Hoặc dự án được triển khai xây dựng

ở những địa điểm có điều kiện địa hình, thời tiết, khí hậu khác nhau cũng ảnh hưởngkhác nhau tới khả năng huy động nguồn nhân lực thực hiện, khả năng cung cấp vậtliệu và máy móc thiết bị thi công của nhà thầu xây dựng, ảnh hưởng đến tiến độ thựchiện dự án

c Năng lực quản lý dự án của nhà quản lý

Nhà quản lý có trình độ quản lý, trình độ chuyên môn giỏi và có đạo đức tốt sẽquản lý tốt hơn những nhà quản lý có trình độ chuyên môn, trình độ quản lý hay đạođức kém Chấp hành tốt pháp luật của nhà quản lý sẽ ảnh hưởng tích cực đến chấtlượng, thời gian và chi phí của các công việc được thực hiện của dự án Ngược lại, sự

vi phạm pháp luật vô tình hay hữu ý của các nhà quản lý dự án đều ảnh hưởng tiêu cựcđến chất lượng đạt được của dự án cũng như làm giảm chất lượng quản lý dự án

Trang 38

CHƯƠNG 2:

QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TRONG GIAI

ĐOẠN CHUẨN BỊ ĐẦU TƯ2.1 Quản lý công tác lập dự án

2.1.1 Các bước nghiên cứu và hình thành một dự án đầu tư

Quá trình soạn thảo một dự án đầu tư đòi hỏi trải qua rất nhiều công đoạn, cấp

độ và liên quan đến nhiều bộ phận khác nhau Chính vì thế, khi lập dự án tuân theomột quy trình chuẩn và nghiêm ngặt là điều cần phải làm Nhận thức được vấn đề này,các đơn vị đều tiến hành lập dự án theo một quy trình riêng cụ thể, rõ ràng và có sựkhác biệt nhất định Tuy nhiên, về tổng thể quy trình lập dự án của các đơn vị đangđược hoàn thiện phù hợp với tiêu chuẩn ISO 9001 - 2000 được thể hiện qua sơ đồ 2.2.Bao gồm các bước:

Bước 1: Tìm kiếm cơ hội đầu tư

Thông thường, ban giám đốc, giám đốc đơn vị, các phòng chức năng (nhưphòng đầu tư, phòng kế hoạch…) có trách nhiệm tìm kiếm, nắm bắt cơ hội đầu tư

Bước 2: Đề nghị triển khai dự án

Sau khi cơ hội đầu tư được xác định, Ban giám đốc làm thủ tục trình lên Banlãnh đạo cấp trên hoặc cơ quan quản lý Nhà nước

Bước 3: Ban lãnh đạo cấp trên (hoặc cơ quan quản lý nhà nước) tiến hành phê

duyệt và giao nhiệm vụ

Ban lãnh đạo cấp trên hoặc cơ quan quản lý nhà nước ra ý kiến chỉ đạo vềphương hướng triển khai các bước lập dự án cho các phòng ban chức năng có liênquan để lập và hoàn thiện báo cáo cơ hội đầu tư ở bước tiếp theo

Bước 4: Báo cáo cơ hội đầu tư

Phòng đầu tư kết hợp với các phòng chức năng lập báo cáo cơ hội đầu tư, sau

đó trình lên cấp trên hoặc cơ quan quản lý nhà nước xin phê duyệt

Bước 5: Phê duyệt báo cáo cơ hội đầu tư

Lãnh đạo cấp trên sẽ nghiên cứu báo cáo cơ hội đầu tư và ra quyết định phêduyệt dự án

Bước 6: Lập dự án đầu tư xây dựng công trình (Báo cáo nghiên cứu khả thi)

Công tác lập dự án thường do phòng đầu tư đảm nhận Nội dung cơ bản củabáo cáo nghiên cứu khả thi bao gồm thuyết minh chính và thiết kế cơ sở

Bước 7, 8: Thẩm định và quyết định phê duyệt dự án

Các dự án sau khi hoàn thành được trình lên các cơ quan chức năng có thẩmquyền phê duyệt cho phép triển khai dự án Sau khi có quyết định phê duyệt, dự án sẽđược chính thức triển khai thực hiện hoặc đấu thầu để chọn nhà thầu thực hiện

Trang 39

Tìm kiếm cơ hội đầu tư

Phê duyệt, giao nhiệm vụ

Báo cáo cơ hội đầu tư

Phê duyệt, giao nhiệm vụ

Lập BC Nghiên cứu tiền khả thi

Phê duyệt chủ trương đầu tư

Thẩm định dự án

Quyết định phê duyệt đầu tư

Ban giám đốc, phòng chức năng

của đơn vị cơ sở

Ban lãnh đạo cấp trên, Quản lý Nhà nước

Phòng Đầu tư và các phòng liên

quan

Ban lãnh đạo cấp trên, Quản lý nhà nước

Phòng Đầu tư và các phòng liên quan hoặc các đơn vị tư vấn

Ban lãnh đạo cấp trên, Quản lý nhà nước

Phòng chức năng, cơ quan Quản

Lập BC Nghiên cứu khả thi Phòng Đầu tư và các phòng

liên quan hoặc các đơn vị tư vấn

Trang 40

Dưới đây, giới thiệu chi tiết về quá trình nghiên cứu phát hiện cơ hội đầu tư,nghiên cứu tiền khả thi (sản phẩm là Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi) và nghiêncứu khả thi (sản phẩm là Báo cáo nghiên cứu khả thi)

2.1.1.1 Nghiên cứu phát hiện cơ hội đầu tư

a Mục đích nghiên cứu phát hiện các cơ hội đầu tư

Mục đích của bước nghiên cứu này là xác định một cách nhanh chóng, nhưng íttốn kém về các cơhội đầu tư

Nội dung của việc nghiên cứu là xem xét các nhu cầu và khả năng cho việc tiếnhành các công cuộc đầu tư, các kết quả và hiệu quả sẽ đạt được nếu thực hiện đầu tư

Cần phân biệt 2 loại cơ hội đầu tư tuỳ thuộc vào phạm vi phát huy tác dụng củacác kết quả đầu tư và phân cấp quản lý đầu tư Đó là:

+ Cơ hội đầu tưchung cho đất nước, cho địa phương, cho ngành kinh kỹthuật hoặc cho một loại tài nguyên thiên nhiên của đất nước Đối với loại cơ hội đầu

tế-tư này, thường có nhiều dự án

+ Cơ hội đầu tư cụ thể cho các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ Trong trườnghợp này, mỗi cơ hội đầu tư thường sẽ có một dự án đầu tư

b Căn cứ phát hiện và đánh giá các cơ hội đầu tư

Khi nghiên cứu để phát hiện các cơ hội đầu tư phải xuất phát từ những căn cứsau đây:

- Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của đất nước hoặc chiến lược phát triểnsản xuất kinh doanh dịch vụ của ngành, của cơ sở Đây là những định hướng lâu dàicho sự phát triển của đất nước và của cơ sở Mọi công cuộc đầu tư không xuất phát từnhững căn cứ này sẽ không có tương lai và tất nhiên sẽ không chấp nhận

- Nhu cầu trong nước và trên thế giới về những hoạt động dịch vụ cụ thể Đây lànhân tố quyết định sự hình thành và hoạt động của các dự án đầu tư Không có nhu cầuthì sự hoạt động của các dự án không để làm gì mà chỉ dẫn đến sự lãng phí tiền của vàcông sức của xã hội, ảnh hưởng không tốt đến sự hình thành và hoạt động của các dự

án có nhu cầu Nhu cầu ở đây trong điều kiện nền kinh tế mở, bao gồm cả nhu cầutrong nước và nhu cầu trên thế giới, trong đó nhu cầu trên phạm vi thế giới lớn hơn rấtnhiều so với nhu cầu trong nước Trong hoạt động đầu tư luôn chú ý tận dụng cơ hội

để tham gia vào phân công lao động quốc tế, để có thị trường ở nước ngoài

- Tình hình cung cấp những mặt hàng hoặc hoạt động dịch vụ ở trong nước vàtrên thế giới còn chỗ trống để dự án chiếm lĩnh trong một thời gian dài Trong bối cảnhcủa nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là điều tất nhiên Tuy nhiên, ở những lĩnh vựchoạt động cung chưa đáp ứng cầu thì sự cạnh tranh trong tiêu thụ sản phẩm và tiếnhành các hoạt động dịch vụ không là vấn đề phải quan tâm nhiều Do đó, tìm chỗ trống

Ngày đăng: 27/05/2019, 16:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quốc Ấn và nnk, Thiết lập và thẩm định dự án đầu tư, NXB thống kê, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết lập và thẩm định dự án đầu tư
Nhà XB: NXB thống kê
2. Báo cáo dự toán công trình xây dựng phòng một cửa liên thông thành phố BN, 2016 3. Chính phủ (2015), Nghị định 32/2015/NĐ-CP ngày 25 tháng 3 năm 2015 về quản lýchi phí đầu tư xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 32/2015/NĐ-CP ngày 25 tháng 3 năm 2015 về quản lý
Tác giả: Báo cáo dự toán công trình xây dựng phòng một cửa liên thông thành phố BN, 2016 3. Chính phủ
Năm: 2015
7. Nguyễn Văn Chọn (2001), Kinh tế đầu tư, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế đầu tư
Tác giả: Nguyễn Văn Chọn
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2001
8. Nguyễn Thị Ngọc Mai, Giáo trình lập và quản lý dự án đầu tư, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lập và quản lý dự án đầu tư
9. Nguyễn Bạch Nguyệt, Giáo trình Lập và quản lý dự án đầu tư, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lập và quản lý dự án đầu tư
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại họcKinh tế quốc dân
10. Bùi Xuân Phong, Giáo trình Quản lý dự án đầu tư, Học viện Bưu chính viễn thông, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý dự án đầu tư
12. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2014), Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đầu tư công
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
Năm: 2014
16. Trịnh Quốc Thắng (2009), Quản lý dự án đầu tư xây dựng, NXB Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý dự án đầu tư xây dựng
Tác giả: Trịnh Quốc Thắng
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 2009
17. Phan Thị Thái, Giáo trình Quản trị dự án đầu tư, Nhà xuất bản Giao thông vận tải, Hà Nội 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị dự án đầu tư
Nhà XB: Nhà xuất bản Giao thông vận tải
18. Vũ Công Tuấn (1999), Quản lý dự án, NXB TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý dự án
Tác giả: Vũ Công Tuấn
Nhà XB: NXB TP. Hồ Chí Minh
Năm: 1999
19. Thông tư 06/2016/TT - BXD của Bộ Xây dựng Hướng dẫn lập dự toán đầu tư xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 06/2016/TT - BXD của Bộ Xây dựng
20. Thông tư số 209/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính, ngày 10 tháng 11 năm 2016 Quy định về mức phí thẩm định dự án Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 209/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính, ngày 10 tháng 11 năm 2016
21. Harold Bierman, JP. Seymour Smidt, Quyết định dự toán vốn đầu tư (phân tích kinh tế các dự án đầu tư), TS. Nguyễn Xuân Thuỷ và Bùi Văn Đông dịch, NXB thống kê, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định dự toán vốn đầu tư (phân tíchkinh tế các dự án đầu tư)
Nhà XB: NXB thốngkê
22. GS.VS.I.I Madur (2004), Quản lý dự án, NXB Ô-Mê-Ga, Maxcova Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý dự án
Tác giả: GS.VS.I.I Madur
Nhà XB: NXB Ô-Mê-Ga
Năm: 2004
23. Maurise Hamon, Quản lý dự án, Trung tâm thông tin dữ liệu, Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý dự án
24. United Nations Industrial Development Organization (UNIDO), Sổ tay hướng dẫn đánh giá các dự án công nghiệp, Nguyễn Cảnh Nam và Trịnh Tiến Dũng dịch, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫnđánh giá các dự án công nghiệp
4. Chính phủ (2015), Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 05 năm 2015 về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng Khác
5. Chính phủ (2015), Nghị định 59/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2015 về quản lý dự án đầu tư xây dựng Khác
6. Chính phủ (2014) Nghị định số 63/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu Khác
11. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2014), Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 Khác

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w