LỜI NÓI ĐẦUĐảng ta đặc biệt quan tâm đến phát triển kinh tế, dân số, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã nhấn mạnh” Bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên quốc gia, cải thiện môi trường tự nhiên. Tăng cường quản lý tài nguyên quốc gia nhất là các tài nguyên đất, nước, khoáng sản và rừng”.Để thực hiện được các mục tiêu bảo vệ môi trường, cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam đã và đang sử dụng các công cụ quản lý môi trường, trong đó phải kể đến công cụ kinh tế. Các công cụ kinh tế được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường với mục đích giải quyết xung đột giữa tăng trường kinh tế và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, việc sử dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường của Việt Nam hiện đang có nhiều hạn chế. Vì vậy, để có cái nhìn tổng quan về công cụ quản lý được đánh giá là mềm dẻo, hữu hiệu... Bài giảng “ Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế ” với thời lượng 30 tiết (tương đương 2 tín chỉ) được tập thể tác giả biên soạn vừa đáp ứng được tinh thần Nghị quyết của Đảng thực hiện công cuộc cải cách giáo dục và theo kế hoạch của Trường đại học Mỏ Địa chất đồng thời phục vụ trực tiếp cho học viên cao học ngành Quản lý kinh tế nói riêng và các nhà quản lý, khoa học, công nghệ và các bạn đọc quan tâm đến vấn đề này.Bài giảng được biên soạn thành 3 chương chính, nhằm cung cấp cho người học những kiến thức cần thiết về quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế và các giải pháp có tính thực tiễn cao trong việc áp dụng công cụ kinh tế vào giải quyết các vấn đề môi trường ở tầm vĩ mô lẫn vi mô.Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do trình độ, thời gian có hạn và nhất là vấn đề nghiên cứu còn phức tạp nhiều vấn đề khoa học mới đang được nghiên cứu hoàn thiện, chắc chắn bài giảng còn thiếu sót. Tập thể tác giả rất mong sự quan tâm, đóng góp ý kiến của bạn đọc về bài giảng để lần biên soạn sau sẽ hoàn thiện hơn.Tập thể tác giảCHƯƠNG 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG1.1 Quản lý môi trường1.1.1.Khái niệmKhái niệm về quản lý môi trường là khái niệm tương đối mới mẻ, do đó có rất nhiều các quan điểm khác nhau về quản lý môi trường. Qua nghiên cứu các tài liệu công trình của nhiều tác giả, có thể tổng hợp và đưa ra một số khái niệm tổng quát nhất như sau: “Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp luật pháp, kỹ thuật, chính sách, kinh tế nhằm hạn chế tác động có hại của phát triển kinh tế xã hội đến môi trường “ “Quản lý môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức và có hướng đích của chủ thể quản lý môi trường lên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành các hoạt động phát triển trong hệ thống môi trường, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý môi trường đã đề ra, phù hợp với pháp luật và thông lệ hiện hành “ “Quản lý nhà nước về môi trường là xác định rõ chủ thể là Nhà nước, bằng chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn của mình đưa ra các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế – xã hội quốc gia”“Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin đối các vấn đề môi trườngcó liên quan đến con người, xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyênTừ các khái niệm trên cho thấy, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý môi trường nhưng các tác giả trên đều có chung một nhận định đó là: sự tác động liên tục, có tổ chức và có hướng đích của chủ thể quản lý môi trường chính là việc thực hiện các chức năng quản lý môi trường nhằm phối hợp mục tiêu và các động lực hoạt động của mọi người nằm trong hệ thống môi trường để đạt tới mục tiêu chung của hệ thống môi trường.Theo khái niệm trên, quản lý môi trường có nhiều hình thức khác nhau như: Quản lý nhà nước về môi trường; Quản lý môi trường do các tổ chức phi chính phủ(NGO) đảm nhận; Quản lý môi trường dựa trên cơ sở cộng đồng; Quản lý môi trường mang tính tự nguyện; Quản lý môi trường trong các doanh nghiệp...Trong các hình thức quản lý trên thì quản lý nhà nước về môi trường đóng một vai trò hết sức quan trọng. Mọi quốc gia trên thế giới đều phải thực hiện sự quản lý nhà nước về môi trường vì các lý do sau: Bảo vệ tài nguyên và môi trường là sự nghiệp của toàn dân và có tính lâu dài, do đó đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của nhiều ngành, nhiều địa phương và nhiều thế hệ nối tiếp nhau. Để có sự đồng bộ đó thì chỉ có Nhà nước mới có khả năng tổ chức, quản lý các hoạt động đó. Có một số dạng môi trường, mà việc bảo vệ nó không chỉ cần thống nhất hành động của cả một quốc gia mà còn cần sự thống nhất hành động của cả khu vực hay toàn cầu, ví dụ như khí quyển, nguồn nước...Vì vậy, chỉ có Nhà nước nhân danh cộng đồng, quốc gia mới có thể tham gia vào các hoạt động chung của khu vực hay toàn cầu để thực hiện các chương trình phối hợp chung đó nhằm bảo vệ nguồn nước chung hay bầu khí quyển chung. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thành phần môi trường thường là sở hữu Nhà nước, do đó Nhà nước không thể giao cho đối tượng nào khác chịu trách nhiệm chính về quản lý môi trường, trách nhiệm đó phải thuộc về nhà nước.Từ những nghiên cứu trên, có thể đưa ra khái niệm về quản lý môi trường như sau: Quản lý môi trường là các phương thức mà Nhà nước lựa chọn nhằm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia.1.1.2 Vai trò của quản lý môi trườngNhà nước sử dụng 3 công cụ chủ yếu để kiểm soát kinh tế và thực hiện các hoạt động khác của mình để bảo vệ môi trường đó là Thuế; pháp luật và tài chính.Thuế là công cụ để cắt giảm chi tiêu cá nhân và dùng tiền đó cho chi phí công cộng như đường sá, kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ thiên nhiên và các chương trình tương tự khác. Thuế có ảnh hưởng rất lớn đến việc bảo vệ môi trường, ví dụ nếu Nhà nước đánh thuế vào xăng dầu cao sẽ hạn chế lưu thông bằng xe thông thường và khuyến khích các loại xe tiết kiệm năng lượng hoặc chính sách thuế ưu đãi của Mỹ đã khuyến khích phát triển việc sử dụng năng lượng mặt trời…Trên một khía cạnh nào đó việc chi tiêu (tài chính) của Nhà nước cũng ảnh hưởng to lớn đến kinh tế môi trường. Ví dụ nhờ vào việc có các dự án tài trợ chochương trình kiểm soát ô nhiễm nước mà đã giải quyết việc làm cho hơn 200.000 lao động tại Mỹ và làm giảm sự ô nhiễm nước. Mặt khác Nhà nước cũng giảm các khoản chi dành cho các sản phẩm có hại cho môi trường và dành tiền cho các dự án quan trọng khác như bảo vệ và phát triển năng lượng có thể tái sinh…Pháp luật của nhà nước cũng là một công cụ quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, pháp luật ở đây được thể hiện dưới 2 dạng chính đó là luật do các cơ quan lập pháp ban hành và các qui định về môi trường do các cơ quan nhà nước ban hành.Luật ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động, ví dụ Luật bảo vệ môi trường (1994) và sửa đổi 2006; năm 2014; Luật khoáng sản (2010) qui định tiêu chuẩn Nhà nước về môi trường tài nguyên. Nhưng luật chỉ có tính khả thi khi nó có tính áp chế và được tài trợ. Nếu thiếu tiền, yếu tố con người và ý muốn thực hiện thì luật chỉ mang tính chất giấy tờ mà thôi.Các chủ trương, quan điểm của Đảng về bảo vệ môi trường cơ bản đã được thể chế hóa thành chính sách, pháp luật của Nhà nước. Năm 1991, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991 2000. Tiếp theo, Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 2020, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, Chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trường đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030,… đã đề ra các định hướng về bảo vệ môi trường. Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Thủy sản và các văn bản luật có liên quan, các văn bản dưới luật đã quy định khá đầy đủ, chi tiết, cụ thể những nội dung phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm, phục hồi môi trường và cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân, về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học. Bên cạnh đó, các cơ chế, công cụ, chế tài bảo vệ môi trường cũng được quy định trong Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Luật Đầu tư, Luật Thuế bảo vệ môi trường. Hầu hết các luật này đã được bổ sung, sửa đổi, có đạo luật được sửa đổi một số lần trong thời gian giữa các nhiệm kỳ Đại hội IX, X và XI nên kịp thời thể chế hóa, góp phần sớm đưa các chủ trương, quan điểm bảo vệ môi trường của Đảng vào cuộc sống.Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đã được thiết lập đồng bộ cả ở Trung ương, địa phương và từng bước được kiện toàn. Năm 2002, Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập. Năm 2008, Tổng cục Môi trường được thành lập, thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường. Ở các bộ, ngành đã có các đơn vị trực thuộcchuyên trách công tác bảo vệ môi trường. Lực lượng phòng chống tội phạm môi trường đã được thành lập, góp phần ngăn ngừa, hạn chế hành vi gây ô nhiễm môi trường. Tại các địa phương, đã có Sở Tài nguyên và Môi trường ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Tài nguyên và Môi trường ở các quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và có cán bộ kiêm nhiệm quản lý môi trường ở xã, phường, thị trấn. Nhiều tập đoàn kinh tế, tổng công ty, ban quản lý khu công nghiệp, doanh nghiệp lớn đã có phòng, ban, bộ phận hoặc bố trí cán bộ chuyên trách về môi trường.Nguồn lực tài chính và các điều kiện cần thiết cho bảo vệ môi trường được bảo đảm ngày càng tốt hơn. Nguồn chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp môi trường được cân đối đạt mức 1% tổng chi ngân sách hằng năm, tăng nhiều lần so với trước đây. Năm 2006 là 2.900 tỷ đồng, thì năm 2012 đã lên tới 9.050 tỷ đồng. Trong năm 2015, chi ngân sách Nhà nước (NSNN) cho sự nghiệp bảo vệ môi trường (BVMT) ở mức 11.400 tỷ đồng. Trong đó, 9.700 tỷ đồng là từ nguồn ngân sách địa phương và 1.700 tỷ đồng là từ nguồn ngân sách trung ương.Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA được huy động cho bảo vệ môi trường cũng tăng nhanh. Một số thể chế tài chính về bảo vệ môi trường được hình thành, đi vào hoạt động, như Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam, quỹ bảo vệ môi trường của một số ngành, địa phương đã góp phần tăng cường các nguồn vốn hỗ trợ thực hiện công tác bảo vệ môi trường. Một số công cụ kinh tế, như thuế, phí bảo vệ môi trường đã góp phần tạo nguồn thu từ xã hội để đầu tư cho bảo vệ môi trường.Các qui định về môi trường thường do các cơ quan như: Bộ tài nguyên và môi trường, Cục cảnh sát môi trường, Sở tài nguyên và môi trường thành phố và các qui định chi tiết việc thi hành Luật Khoáng sản.tỉnh…Họ soạn thảo các qui định, đưa ra trưng cầu dân ý, loại bỏ các phản ứng lệnh và đưa vào thực hiện. Ví dụ Nghị định 1792013CP ngày 14112013 của Chính phủ về xử phạt hành chính bảo vệ môi trường, Nghị định 802006CP ra ngày 09082006 của Chính phủ ban hành hướng dẫn cụ thể chi tiết thi hành Luật Bảo vệ môi trường, ( Ngày 14022015, Chính phủ ban hành Nghị định 192015NĐCP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường năm 2014. Nghị định 19 có hiệu lực kể từ ngày 0142015). Nghị định 152012CP ngày 09032012 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Đảng ta đặc biệt quan tâm đến phát triển kinh tế, dân số, bảo vệ tài nguyênthiên nhiên và môi trường sinh thái Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã nhấnmạnh” Bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên quốc gia, cải thiện môi trường tựnhiên Tăng cường quản lý tài nguyên quốc gia nhất là các tài nguyên đất, nước,khoáng sản và rừng”
Để thực hiện được các mục tiêu bảo vệ môi trường, cũng như nhiều nước trênthế giới, Việt Nam đã và đang sử dụng các công cụ quản lý môi trường, trong đó phải
kể đến công cụ kinh tế Các công cụ kinh tế được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơbản của nền kinh tế thị trường với mục đích giải quyết xung đột giữa tăng trường kinh
tế và bảo vệ môi trường Tuy nhiên, việc sử dụng công cụ kinh tế trong quản lý môitrường của Việt Nam hiện đang có nhiều hạn chế Vì vậy, để có cái nhìn tổng quan vềcông cụ quản lý được đánh giá là mềm dẻo, hữu hiệu Bài giảng “ Quản lý môitrường bằng công cụ kinh tế ” với thời lượng 30 tiết (tương đương 2 tín chỉ) được tậpthể tác giả biên soạn vừa đáp ứng được tinh thần Nghị quyết của Đảng thực hiện côngcuộc cải cách giáo dục và theo kế hoạch của Trường đại học Mỏ - Địa chất đồng thờiphục vụ trực tiếp cho học viên cao học ngành Quản lý kinh tế nói riêng và các nhàquản lý, khoa học, công nghệ và các bạn đọc quan tâm đến vấn đề này
Bài giảng được biên soạn thành 3 chương chính, nhằm cung cấp cho người họcnhững kiến thức cần thiết về quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế và các giải pháp
có tính thực tiễn cao trong việc áp dụng công cụ kinh tế vào giải quyết các vấn đề môitrường ở tầm vĩ mô lẫn vi mô
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do trình độ, thời gian có hạn và nhất là vấn
đề nghiên cứu còn phức tạp nhiều vấn đề khoa học mới đang được nghiên cứu hoànthiện, chắc chắn bài giảng còn thiếu sót Tập thể tác giả rất mong sự quan tâm, đónggóp ý kiến của bạn đọc về bài giảng để lần biên soạn sau sẽ hoàn thiện hơn
Tập thể tác giả
Trang 2CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
1.1 Quản lý môi trường
1.1.1.Khái niệm
Khái niệm về quản lý môi trường là khái niệm tương đối mới mẻ, do đó có rấtnhiều các quan điểm khác nhau về quản lý môi trường Qua nghiên cứu các tài liệucông trình của nhiều tác giả, có thể tổng hợp và đưa ra một số khái niệm tổng quát nhấtnhư sau:
- “Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp luật pháp, kỹ thuật, chính sách,kinh tế nhằm hạn chế tác động có hại của phát triển kinh tế xã hội đến môi trường “
- “Quản lý môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức và có hướng đích của
chủ thể quản lý môi trường lên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành các hoạt độngphát triển trong hệ thống môi trường, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơhội nhằm đạt được mục tiêu quản lý môi trường đã đề ra, phù hợp với pháp luật vàthông lệ hiện hành “
- “Quản lý nhà nước về môi trường là xác định rõ chủ thể là Nhà nước, bằngchức trách, nhiệm vụ và quyền hạn của mình đưa ra các biện pháp, luật pháp, chínhsách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống vàphát triển bền vững kinh tế – xã hội quốc gia”
-“Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có tácđộng điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các
kỹ năng điều phối thông tin đối các vấn đề môi trườngcó liên quan đến con người, xuấtphát từ quan điểm định lượng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên"
Từ các khái niệm trên cho thấy, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về quản
lý môi trường nhưng các tác giả trên đều có chung một nhận định đó là: sự tác động liên tục, có tổ chức và có hướng đích của chủ thể quản lý môi trường chính là việc thực hiện các chức năng quản lý môi trường nhằm phối hợp mục tiêu và các động lực hoạt động của mọi người nằm trong hệ thống môi trường để đạt tới mục tiêu chung của hệ thống môi trường.
Theo khái niệm trên, quản lý môi trường có nhiều hình thức khác nhau như:Quản lý nhà nước về môi trường; Quản lý môi trường do các tổ chức phi chính phủ
Trang 3(NGO) đảm nhận; Quản lý môi trường dựa trên cơ sở cộng đồng; Quản lý môi trườngmang tính tự nguyện; Quản lý môi trường trong các doanh nghiệp
Trong các hình thức quản lý trên thì quản lý nhà nước về môi trường đóng mộtvai trò hết sức quan trọng Mọi quốc gia trên thế giới đều phải thực hiện sự quản lýnhà nước về môi trường vì các lý do sau:
- Bảo vệ tài nguyên và môi trường là sự nghiệp của toàn dân và có tính lâu dài,
do đó đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của nhiều ngành, nhiều địa phương và nhiều thế hệnối tiếp nhau Để có sự đồng bộ đó thì chỉ có Nhà nước mới có khả năng tổ chức, quản
lý các hoạt động đó
- Có một số dạng môi trường, mà việc bảo vệ nó không chỉ cần thống nhất hànhđộng của cả một quốc gia mà còn cần sự thống nhất hành động của cả khu vực haytoàn cầu, ví dụ như khí quyển, nguồn nước Vì vậy, chỉ có Nhà nước nhân danh cộngđồng, quốc gia mới có thể tham gia vào các hoạt động chung của khu vực hay toàn cầu
để thực hiện các chương trình phối hợp chung đó nhằm bảo vệ nguồn nước chung haybầu khí quyển chung
- Các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thành phần môi trường thường là sở hữuNhà nước, do đó Nhà nước không thể giao cho đối tượng nào khác chịu trách nhiệmchính về quản lý môi trường, trách nhiệm đó phải thuộc về nhà nước
Từ những nghiên cứu trên, có thể đưa ra khái niệm về quản lý môi trường như
sau: Quản lý môi trường là các phương thức mà Nhà nước lựa chọn nhằm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững kinh tế - xã hội quốc gia.
1.1.2 Vai trò của quản lý môi trường
Nhà nước sử dụng 3 công cụ chủ yếu để kiểm soát kinh tế và thực hiện cáchoạt động khác của mình để bảo vệ môi trường đó là Thuế; pháp luật và tài chính
Thuế là công cụ để cắt giảm chi tiêu cá nhân và dùng tiền đó cho chi phí côngcộng như đường sá, kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ thiên nhiên và các chương trình tương
tự khác Thuế có ảnh hưởng rất lớn đến việc bảo vệ môi trường, ví dụ nếu Nhà nướcđánh thuế vào xăng dầu cao sẽ hạn chế lưu thông bằng xe thông thường và khuyếnkhích các loại xe tiết kiệm năng lượng hoặc chính sách thuế ưu đãi của Mỹ đã khuyếnkhích phát triển việc sử dụng năng lượng mặt trời…
Trên một khía cạnh nào đó việc chi tiêu (tài chính) của Nhà nước cũng ảnhhưởng to lớn đến kinh tế môi trường Ví dụ nhờ vào việc có các dự án tài trợ cho
Trang 4chương trình kiểm soát ô nhiễm nước mà đã giải quyết việc làm cho hơn 200.000 laođộng tại Mỹ và làm giảm sự ô nhiễm nước Mặt khác Nhà nước cũng giảm các khoảnchi dành cho các sản phẩm có hại cho môi trường và dành tiền cho các dự án quantrọng khác như bảo vệ và phát triển năng lượng có thể tái sinh…
Pháp luật của nhà nước cũng là một công cụ quan trọng trong việc bảo vệ môitrường, pháp luật ở đây được thể hiện dưới 2 dạng chính đó là luật do các cơ quan lậppháp ban hành và các qui định về môi trường do các cơ quan nhà nước ban hành.Luật ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động, ví dụ Luật bảo vệ môi trường (1994) vàsửa đổi 2006; năm 2014; Luật khoáng sản (2010) qui định tiêu chuẩn Nhà nước vềmôi trường tài nguyên Nhưng luật chỉ có tính khả thi khi nó có tính áp chế và được tàitrợ Nếu thiếu tiền, yếu tố con người và ý muốn thực hiện thì luật chỉ mang tính chất giấy tờ
mà thôi
Các chủ trương, quan điểm của Đảng về bảo vệ môi trường cơ bản đã được thểchế hóa thành chính sách, pháp luật của Nhà nước Năm 1991, Thủ tướng Chính phủ
đã phê duyệt Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991
-2000 Tiếp theo, Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020,Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, Chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trườngđến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030,… đã đề ra các định hướng về bảo vệ môitrường Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ và Phát triểnrừng, Luật Thủy sản và các văn bản luật có liên quan, các văn bản dưới luật đã quyđịnh khá đầy đủ, chi tiết, cụ thể những nội dung phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm, phụchồi môi trường và cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân, về bảo tồn thiên nhiên
và đa dạng sinh học Bên cạnh đó, các cơ chế, công cụ, chế tài bảo vệ môi trường cũngđược quy định trong Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Luật Đầu tư, Luật Thuế bảo vệmôi trường Hầu hết các luật này đã được bổ sung, sửa đổi, có đạo luật được sửa đổimột số lần trong thời gian giữa các nhiệm kỳ Đại hội IX, X và XI nên kịp thời thể chếhóa, góp phần sớm đưa các chủ trương, quan điểm bảo vệ môi trường của Đảng vàocuộc sống
Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đã được thiết lập đồng
bộ cả ở Trung ương, địa phương và từng bước được kiện toàn Năm 2002, Bộ Tàinguyên và Môi trường được thành lập Năm 2008, Tổng cục Môi trường được thànhlập, thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường Ở các bộ, ngành đã có các đơn vị trực thuộc
Trang 5chuyên trách công tác bảo vệ môi trường Lực lượng phòng chống tội phạm môitrường đã được thành lập, góp phần ngăn ngừa, hạn chế hành vi gây ô nhiễm môitrường Tại các địa phương, đã có Sở Tài nguyên và Môi trường ở cấp tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương, Phòng Tài nguyên và Môi trường ở các quận, huyện, thị xã,thành phố trực thuộc tỉnh và có cán bộ kiêm nhiệm quản lý môi trường ở xã, phường,thị trấn Nhiều tập đoàn kinh tế, tổng công ty, ban quản lý khu công nghiệp, doanhnghiệp lớn đã có phòng, ban, bộ phận hoặc bố trí cán bộ chuyên trách về môi trường.
Nguồn lực tài chính và các điều kiện cần thiết cho bảo vệ môi trường được bảođảm ngày càng tốt hơn Nguồn chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp môi trường đượccân đối đạt mức 1% tổng chi ngân sách hằng năm, tăng nhiều lần so với trước đây.Năm 2006 là 2.900 tỷ đồng, thì năm 2012 đã lên tới 9.050 tỷ đồng Trong năm 2015,chi ngân sách Nhà nước (NSNN) cho sự nghiệp bảo vệ môi trường (BVMT) ở mức11.400 tỷ đồng Trong đó, 9.700 tỷ đồng là từ nguồn ngân sách địa phương và 1.700 tỷđồng là từ nguồn ngân sách trung ương
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA được huy động cho bảo vệ môitrường cũng tăng nhanh Một số thể chế tài chính về bảo vệ môi trường được hìnhthành, đi vào hoạt động, như Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam, quỹ bảo vệ môi trườngcủa một số ngành, địa phương đã góp phần tăng cường các nguồn vốn hỗ trợ thực hiệncông tác bảo vệ môi trường Một số công cụ kinh tế, như thuế, phí bảo vệ môi trường
đã góp phần tạo nguồn thu từ xã hội để đầu tư cho bảo vệ môi trường
Các qui định về môi trường thường do các cơ quan như: Bộ tài nguyên và môitrường, Cục cảnh sát môi trường, Sở tài nguyên và môi trường thành phố và các quiđịnh chi tiết việc thi hành Luật Khoáng sản.tỉnh…Họ soạn thảo các qui định, đưa ratrưng cầu dân ý, loại bỏ các phản ứng lệnh và đưa vào thực hiện Ví dụ Nghị định179/2013-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ về xử phạt hành chính bảo vệ môitrường, Nghị định 80/2006-CP ra ngày 09/08/2006 của Chính phủ ban hành hướngdẫn cụ thể chi tiết thi hành Luật Bảo vệ môi trường, ( Ngày 14/02/2015, Chính phủban hành Nghị định 19/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luậtbảo vệ môi trường năm 2014 Nghị định 19 có hiệu lực kể từ ngày 01/4/2015) Nghịđịnh 15/2012-CP ngày 09/03/2012 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành một sốđiều của Luật Khoáng sản
Trang 61.1.3.Chức năng, nhiệm vụ và nội dung của quản lý môi trường
Chức năng, nhiệm vụ và nội dung công tác quản lý nhà nước về môi trường củaViệt Nam được thể hiện trong điều 37, Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 ( thay thểđiều 139, Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014) bao gồm:
- Ban hành và tổ chức việc thực hiện các văn bản pháp quy về bảo vệ môitrường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường
- Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường, kếhoạch phòng chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường
- Xây dựng, quản lý các công trình bảo vệ môi trường, các công trình có liênquan đến bảo vệ môi trường
- Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc, định kỳ đánh giá hiện trạngmôi trường, dự báo diễn biến môi trường
- Thẩm định các báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án và các cơ
sở sản xuất kinh doanh
- Cấp và thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường
- Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành về bảo vệ môi trường, giải quyếtcác khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm pháp luật về bảo
vệ môi trường
- Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực bảo vệmôi trường
- Thiết lập quan hệ quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
1.2 Các nguyên tắc bảo vệ và quản lý môi trường
Các nguyên tắc chủ yếu của công tác bảo vệ môi trường và quản lý môi trường(Theo Luật bảo vệ môi trường năm 2014 số 55/2014/QH13 đã được Quốc hội nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) khóa XIII, kỳ họp thứ 7, thôngqua ngày 23/6/2014)
+ Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân: Theo nguyên tắc này, việc bảo vệ môi trường là trách nhiệm và
nghĩa vụ của cả cộng đồng, mọi người cần chung tay để bảo vệ môi trường sống củamình ngày càng tốt đẹp hơn/
Trang 7+ Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành.
+ Bảo vệ môi trường phải dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm thiểu chất thải: Trong đó, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học phải đượcđiều tra, đánh giá thực trạng, khả năng tái sinh, giá trị kinh tế để làm căn cứ lập quyhoạch sử dụng hợp lý; xác định giới hạn cho phép khai thác, mức thuế tài nguyên, phíbảo vệ môi trường, ký quỹ phục hồi môi trường, bồi hoàn đa dạng sinh học, bồithường thiệt hại về môi trường, các biện pháp khác để bảo vệ tài nguyên và môitrường (Điều 35-38) Bên cạnh đó, Luật cũng nhấn mạnh tăng trưởng xanh, khuyếnkhích phát triển công nghiệp và đô thị sinh thái; Khuyến khích sản xuất và tiêu thụthân thiện với môi trường Đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo như: Năng lượngđược khai thác từ nước, gió, ánh sáng mặt trời, địa nhiệt, sóng biển, nhiên liệu sinh học
và các nguồn tài nguyên năng lượng có khả năng tái tạo khác; Khuyến khích sản xuất,nhập khẩu, sử dụng máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông dùng năng lượng tái tạo(Điều 43, 44)
+ Bảo vệ môi trường quốc gia gắn liền với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu; bảo vệ môi trường bảo đảm không phương hại chủ quyền, an ninh quốc gia: Môi
trường không có ranh giới không gian, do vậy sự ô nhiễm hay suy thoái thành phầnmôi trường ở quốc gia, vùng lãnh thổ sẽ có ảnh hưởng trực tiếp tới quốc gia khác vàcác vùng lãnh thổ khác Để thực hiện được nguyên tắc này, các quốc gia cần tích cựctham gia và tuân thủ các công ước, hiệp định quốc tế về môi trường, đồng thời với việcban hành các văn bản quốc gia về luật pháp, tiêu chuẩn, quy định Việc kết hợp cácmục tiêu này được thực hiện thông qua các quy định luật pháp, các chương trình hànhđộng, các đề tài hợp tác quốc tế và khu vực
+ Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nghĩa là không quản lý đơn
lẻ một thành phần nào mà tiếp cận dựa trên tính đặc thù của từng hệ sinh thái để đảmbảo sự liên kết và cân đối hài hòa của các thành phần tự nhiên trong hệ sinh thái vốn
có của nó, không phá vỡ thành phần cấu trúc cũng như chức năng vốn có của hệ sinhthái Có thể minh họa qua hình 1.1 như sau:
Trang 8Hình 1.1 Nguyên tắc bảo vệ môi trường phù hợp với tự nhiên văn hóa
-chính trị và phát triển kinh tế
+ Quản lý môi trường phải hướng tới sự phát triển bền vững: Nguyên tắc này
quyết định mục đích của việc quản lý môi trường Để giải quyết nguyên tắc này, côngtác quản lý môi trường phải tuân thủ những nguyên tắc của việc xây dựng một xã hộibền vững Nguyên tắc này cần được thể hiện trong quá trình xây dựng và thực hiệnđường lối, chủ trương, luật pháp và chính sách nhà nước, ngành và địa phương
+ Quản lý môi trường xuất phát từ quan điểm tiếp cận hệ thống và cần được thực hiện bằng nhiều biện pháp và công cụ tổng hợp đa dạng và thích hợp: Các biện
pháp và công cụ quản lý môi trường rất đa dạng: luật pháp, chiến lược, quy hoạch, kếhoạch, chính sách, khoa học, kinh tế, công nghệ, v.v Mỗi loại biện pháp và công cụtrên có phạm vi và hiệu quả khác nhau trong từng trường hợp cụ thể Thành phần môitrường ở các khu vực cần bảo vệ thường rất đa dạng, do vậy các biện pháp và công cụBVMT cần đa dạng và thích hợp với từng đối tượng
+ Phòng ngừa tai biến, suy thoái môi trường cần được ưu tiên hơn việc phải xử
lý hồi phục môi trường nếu để xảy ra ô nhiễm: Phòng ngừa là biện pháp ít tốn kém hơn
xử lý, nếu để xảy ra ô nhiễm Khi chất ô nhiễm tràn ra môi trường, chúng có thể xâmnhập vào tất cả các thành phần môi trường và lan truyền theo các chuỗi thức ăn vàkhông gian xung quanh Để loại trừ các ảnh hưởng của chất ô nhiễm đối với con người
và sinh vật, cần phải có nhiều công sức và tiền của hơn so với việc thực hiện các biệnpháp phòng tránh
+ Người gây ô nhiễm phải trả tiền: Đây là nguyên tắc quản lý môi trường do
các nước OECD đưa ra Nguyên tắc được dùng làm cơ sở xây dựng các quy định vềthuế, phí, lệ phí môi trường và các quy định xử phạt hành chính đối với các vi phạmvềquản lý môi trường Dựa trên nguyên tắc này, các nước đưa ra các loại thuế như thuếnăng lượng, thuế cacbon, thuế SO2 Nguyên tắc trên cần thực hiện phối hợp vớinguyên tắc người sử dụng trả tiền, với nội dung là người nào sử dụng các thành phần
Trang 9môi trường thì phải trả tiền cho việc sử dụng và các tác động tiêu cực đến môi trường
do việc sử dụng đó gây ra Phí rác thải, phí nước thải và các loại phí khác là các ví dụ
về nguyên tắc người sử dụng phải trả tiền
1.3 Các công cụ quản lý môi trường
1.3.1.Công cụ mệnh lệnh - kiểm soát- hành chính
Đây là công cụ được sử dụng phổ biến nhất hiện nay và là công cụ được ủng hộnhiều nhất của các nhà quản trị hành chính, bao gồm các công cụ và chính sách chủ yếu sau:
* Chính sách và chiến lược bảo vệ môi trường.
Trong chính sách môi trường phải giải quyết những vấn đề chung nhất về quanđiểm quản lý môi trường, về các mục tiêu bảo vệ môi trường cơ bản cần giải quyếttrong một giai đoạn dài 10 - 15 năm và các định hướng lớn thực hiện mục tiêu Chútrọng việc huy động các nguồn lực cân đối với các mục tiêu bảo vệ môi trường
Chiến lược bảo vệ môi trường cụ thể hoá chính sách ở một mức độ nhất định.Chiến lược xem xét chi tiết hơn mối quan hệ giữa các mục tiêu do chính sách xác định
và nguồn lực để thực hiện chúng Từ đó lựa chọn các mục tiêu khả thi, xác định cácphương pháp thực hiện mục đích
* Luật pháp, qui định và tiêu chuẩn về môi trường.
Hệ thống luật bảo vệ môi trường của một quốc gia thường gồm luật chung vàluật về sử dụng hợp lý các thành phần môi trường hoặc bảo vệ môi trường cụ thể ở địaphương Luật chung gọi là luật bảo vệ môi trường còn luật biển, rừng, đất đai, khoángsản là luật về các thành phần môi trường
Thông thường Luật môi trường được xây dựng trên những qui định và tiêuchuẩn về môi trường
kiểm nghiệm
Qui định Tiêu chuẩn Luật
thực tế Việc xây dựng tiêu chuẩn môi trường một mặt dựa trên các qui định đã đượckiểm nghiệm thực tế, mặt khác phải có nhiều căn cứ khoa học đảm bảo tiêu chuẩn môitrường phù hợp với nhu cầu bảo vệ sinh thái, đồng thời khả thi về mặt kinh tế Có thể
kể đến một số luật cơ bản như sau:
Trang 10+ Luật bảo vệ môi trường: Quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánhgiá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường; quy định quản lý chất thải; quyđịnh về phục hồi môi trường; quy định về thuế- phí BVMT.
+ Luật Khoáng sản: Quy định về công tác quản lý khoáng sản: Bảo vệ, thăm dò,khai thác, chế biến, cấp phép…
+ Luật dầu khí: Quy định về công tác BVMT trong hoạt động thăm dò, khaithác dầu khí…
+ Luật đất đai: Quy định về chuyển đổi mục đích, đền bù và thuê đất đôi vớicác hoạt động khai thác khoáng sản
+ Luật tài nguyên nước: Quy định về khai thác nguồn nước và quản lý xả thảiđối với các hoạt động khai thác khoáng sản
+ Luật bảo vệ và phát triển rừng: Quy định về chuyển đổi mục đích và trồng bùrừng trong hoạt động khai thác khoáng sản
* Biện pháp hành chính
Biện pháp hành chính sử dụng để quản lý môi trường là các biện pháp sử dụnghình thức xử phạt hành chính để điều chỉnh những hành vi hoặc hoạt động liên quanđến vấn đề BVMT trong quá trình hoạt động sử dụng các thành phần môi trườngnhằm giảm thiểu các hành vi làm ô nhiễm môi trường, gồm 2 biện pháp chính:
+ Biện pháp xử phạt hành chính vi phạm pháp luật về BVMT ở Việt Nam hiện
nay được quy định cụ thể trong Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Thủtướng chính phủ Trong đó đối với vi phạm về pháp luật về BVMT trong hoạt độngkhai thác thành phần môi trường (đặc biệt là tài nguyên thiên nhiên) chủ yếu được quyđịnh trong các Điều 29, 34-37
Điều 29 Quy định xử phạt vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường biển
Khoản 2 quy định: Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với
tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác khoáng sản, chủ phương tiện vận chuyển xăng,dầu, hóa chất, chất phóng xạ và các chất độc hại khác trên biển không có kế hoạch,nhân lực, trang thiết bị bảo đảm phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường
Khoản 3 quy định: Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối vớimột trong các hành vi sau đây:
a) Hoạt động khai thác nguồn lợi, tài nguyên biển và hoạt động khác liên quanđến khai thác, sử dụng tài nguyên biển thực hiện không đúng theo quy hoạch sử dụngtài nguyên thiên nhiên đã được phê duyệt;
Trang 11b) Hoạt động trong khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng ngập mặn, di sản tự nhiênbiển không tuân theo quy chế của ban quản lý, quy định của pháp luật về bảo vệ môitrường và các quy định khác của pháp luật có liên quan;
c) Không xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với chất thải và các yếu
tố gây ô nhiễm khác từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, xây dựng, giao thông,vận tải, khai thác trên biển;
d) Để, lưu giữ phương tiện vận tải, kho tàng, các công trình khai thác dầu khítrên biển quá thời gian phải xử lý;
đ) Không thu gom, lưu giữ và xử lý chất thải nguy hại theo quy định đối vớihoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên biển, phá dỡ phương tiện vận tải trên biển
Điều 34 Quy định xử phạt vi phạm các quy định về cải tạo, phục hồi môi
trường trong hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên
Điều 35 Quy định xử phạt vi phạm các quy định về hoạt động ứng phó sự cố
tràn dầu
Điều 36 Quy định xử phạt vi phạm các quy định trong phòng ngừa, ứng phó,
khắc phục sự cố môi trường
Điều 37 Quy định xử phạt vi phạm các quy định về nộp phí bảo vệ môi trường,
ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản và bảo hiểmtrách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường
Tuy nhiên, ngày 18/11/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 155/2016/NĐ-CP
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Nghị định có hiệulực thi hành kể từ ngày 01/02/2017 và thay thế cho Nghị định số 179/2013/NĐ-CPngày 14/11/2013
Theo quy định tại Nghị định số 155/2016/NĐ-CP, đối với mỗi hành vi vi phạmhành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, mức xử phạt chính được quy định làcảnh cáo hoặc phạt tiền tối đa là 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân và 2.000.000.000đồng đối với tổ chức
Điểm đáng lưu ý là Nghị định này đã quy định rõ hình thức, mức xử phạt và biệnpháp yêu cầu khắc phục hậu quả đối với các hành vi vi phạm quy định bảo vệ môitrường tại các cơ sở, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm côngnghiệp, khu kinh doanh dịch vụ tập trung, làng nghề, khu nuôi trồng thủy sản; cáchành vi vi phạm quy định về bảo vệ môi trường đất, bảo vệ môi trường đối với hóa
Trang 12chất, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú ý và các hành vi vi phạm trong hoạt động nhậpkhẩu, phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng,….
Tại Nghị định số 155/2016/NĐ-CP, các quy định về chuyển hồ sơ vụ việc có dấuhiệu tội phạm về môi trường để truy cứu trách nhiệm hình sự, chuyển hồ sơ vụ việc viphạm để xử lý hành chính cũng như cơ chế phối hợp trong hoạt động kiểm tra, thanhtra và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cũng đã được quyđịnh rõ ràng hơn
1.3.2 Công cụ kinh tế
Công cụ này được các nhà kinh tế ủng hộ, vì nó làm thay đổi trực tiếp hoặc gián tiếpgiá cả và chi phí, do đó thích ứng tốt với phương pháp phân tích lợi ích - chi phí, dễdàng đánh giá hiệu quả quản lý Các công cụ kinh tế sau đây thường được sử dụng:
a,
Thuế môi trường
Trong thuế môi trường thường có 2 loại thuế sau: Thuế tài nguyên và Thuế ônhiễm môi trường
Mục đích của thuế tài nguyên là đẩy nhanh tốc độ tăng giá, qua đó kiềm giữ tốc
độ khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên đến mức hợp lý Thuế tài nguyên phảiđược áp dụng từ từ tránh làm mất cân bằng kinh tế Thuế ô nhiễm đánh lên 1 đơn vị ônhiễm phải đúng bằng chi phí ngoại ứng gây ra do đơn vị ô nhiễm đó
* Thuế tài nguyên:
Thuế tài nguyên là một khoản thu của Ngân sách Nhà nước đối với các doanhnghiệp về việc sử dụng các dạng tài nguyên thiên nhiên trong quá trình sản xuất Mụcđích của thuế tài nguyên là:
- Hạn chế các nhu cầu không cấp thiết trong sử dụng tài nguyên
- Hạn chế các tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác và sử dụng
- Tạo nguồn thu cho Ngân sách và điều hoà quyền lợi của các tầng lớp dân cư
về việc sử dụng tài nguyên
Thuế tài nguyên được áp dụng nhằm quản lý môi trường trong hoạt động khai
thác khoáng sản được quy định trong Luật thuế tài nguyên số 45/2009/QH12 Đây là
quy định thuế đánh vào nguyên liệu/sản phẩm, bao gồm 8 nhóm sản phẩm: xăng dầu,than, môi chất làm sạch chứa HCFC, túi nhựa xốp (túi nilon) và nhóm hạn chế sử dụngnhư: thuốc bảo vệ thực vật, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ mối và thuốc khử trùng kho Biểu
Trang 13thuế suất thuế tài nguyên quy định cho từng loại khoáng sản được trình bày trong LuậtBVMT năm 2014.
* Thuế và phí môi trường:
Thuế môi trường là công cụ kinh tế nhằm đưa chi phí môi trường vào giá sảnphẩm theo nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền" Thuế môi trường nhằm haimục đích chủ yếu: khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng chất ô nhiễm thải ramôi trường và tăng nguồn thu cho Ngân sách Trên thực tế, thuế/phí môi trường được
áp dụng dưới nhiều dạng khác nhau tuỳ thuộc mục tiêu và đối tượng ô nhiễm như:thuế/phí đánh vào nguồn ô nhiễm, thuế đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm, phí đánh vàongười sử dụng
Đối với công tác quản lý môi trường trong hoạt động khai thác tài nguyên hiệnnay, cơ quản quản lý đang sử dụng 3 loại thuế phí đó là:
+ Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải được quy định trong Nghị định Số:25/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 03 năm 2013: Quy định đối với những hoạt động khaithác tài nguyên, khoáng sản xả nước thải ra môi trường
+ Nghị định số 38/2015/NĐ-CP bao gồm 6 điều được chia thành 9 chương quyđịnh việc quản lý chất thải bao gồm chất thải nguy hại, chất thải rắn sinh hoạt, chấtthải rắn công nghiệp thông thường, sản phẩm thải lỏng, nước thải, khí thải công nghiệp
và các chất thải đặc thù khác; bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu; ngoại trừchất thải phóng xạ, tiếng ồn, độ rung, ánh sáng và bức xạ
Theo Nghị định số 38/2015/NĐ-CP, thương nhân trực tiếp nhập khẩu phế liệulàm nguyên liệu sản xuất bắt buộc phải "ký quỹ bảo đảm phế liệu nhập khẩu", nhằmmục đích xử lý rủi ro, nguy cơ ô nhiễm môi trường có thể phát sinh từ lô hàng phế liệunhập khẩu Mức tiền ký quỹ dao động từ 10% - 20% giá trị lô hàng, tùy thuộc loại phếliệu và khối lượng nhập khẩu, thời hạn ký quỹ trước khi làm thủ tục thông quan ít nhất
15 ngày Trường hợp nhập khẩu ủy thác thì thương nhân nhập khẩu ủy thác chịu tráchnhiệm ký quỹ
Nghị định bắt buộc chủ các dự án, chủ cơ sở thuộc danh mục các nguồn thải khíthải lưu lượng lớn trong các dự án sản xuất phôi thép; nhiệt điện; xi măng; hóa chất vàphân bón hóa học; công nghiệp sản xuất dầu mỏ; lò hơi công nghiệp phải thực hiệnđăng ký chủ nguồn thải khí thải công nghiệp Từ ngày 01/01/2018, bắt buộc chủ các
cơ sở đang hoạt động thuộc danh mục các nguồn thải khí thải lưu lượng lớn phải xin
Trang 14giấy phép xả khí thải Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét hồ sơ đăng ký chủ nguồnthải khí thải công nghiệp và cấp Giấy phép xả khí thải công nghiệp đối với các đốitượng trên trừ trường hợp chủ nguồn thải có hoạt động đồng xử lý chất thải thuộc đốitượng được cấp Giấy phép xử lý chất thải nguy hại, đối tượng được xác nhận bảo đảmyêu cầu bảo vệ môi trường đối với cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt hoặc chất thảirắn công nghiệp thông thường Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/6/2015.
+ Thuế bảo vệ môi trường được quy định trong luật thuế bảo vệ môi trường57/2010/QH12
+ Phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sảnđược quy định trong Nghị định số 164/2016/NĐ-CP ngày 24/12/2016
b,
Giấy phép xả thải.
Giấy phép xả thải thường được áp dụng cho các tài nguyên môi trường khó cóthể qui định quyền sở hữu như đại dương, không khí Để thực hiện công cụ này, trướchết chính phủ phải xác định mức sử dụng môi trường chấp nhận được, từ đó phát hànhgiấy phép và ấn định giá mỗi giấy phép Nếu người sử dụng nào hạ mức sử dụng thấphơn số lượng cho phép trong giấy phép của họ, họ có thể mua bán quyền sử dụng cònlại và tạo ra thị trường mua bán giấy phép Điều này có lợi cho người bán quyền sửdụng nếu việc giảm sử dụng rẻ hơn việc bán quyền sử dụng và có lợi cả cho ngườimua giấy phép nếu việc giảm sử dụng tốn kém hơn mua giấy phép Động lực của thịtrường mua bán giấy phép chính là cả người mua lẫn người bán đều có lợi, đồng thờitổng chi phí giảm mức sử dụng trên toàn xã hội sẽ giảm xuống
c, Hệ thống ký quĩ - hoàn chi.
Ký quỹ môi trường là công cụ kinh tế áp dụng cho các hoạt động kinh tế cótiềm năng gây ô nhiễm và tổn thất môi trường Nội dung chính của ký quỹ môi trường
là yêu cầu các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh trước khi tiến hành mộthoạt động đầu tư phải ký gửi một khoản tiền (hoặc kim loại quý, đá quý, hoặc các giấy
tờ có giá trị như tiền) tại ngân hàng hay tổ chức tín dụng nhằm bảo đảm sự cam kết vềthực hiện các biện pháp để hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường Mục đích chính củaviệc ký quỹ là làm cho người có khả năng gây ô nhiễm, suy thoái môi trường luônnhận thức được trách nhiệm của họ từ đó tìm ra các biện pháp thích hợp ngăn ngưà ônhiễm, suy thoái môi trường Trong quá trình thực hiện đầu tư và sản xuất, nếu cácdoanh nghiệp / cơ sở có các biện pháp chủ động ngăn chặn, khắc phục không để xẩy ra
Trang 15ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường, hoàn nguyên hiện trạng môi trường đúng như camkết thì họ sẽ được nhận lại số tiền đã ký quỹ đó Ngược lại nếu bên ký quỹ không thựchiện đúng cam kết hoặc phá sản thì số tiền đã ký quỹ sẽ được rút ra từ tài khoản ngânhàng / tổ chức tín dụng để chi cho công tác khắc phục sự cố, suy thoái môi trường hắcphục môi trường từ ngân sách Ký quỹ môi trường cũng khuyến khích các doanhnghiệp tích cực trong hoạt động bảo vệ môi trường Các doanh nghiệp sẽ có lợi ích dolấy lại được vốn khi không để xẩy ra ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường
d Quỹ môi trường
Quỹ môi trường là một thể chế hoặc một cơ chế được thiết kế để nhận tài trợvốn từ các nguồn khác nhau, và từ đó phân phối các nguồn này để hỗ trợ quá trìnhthực hiện các dự án hoặc các hoạt động cải thiện chất lượng môi trường Nguồn thucho quỹ môi trường có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như:
- Phí và lệ phí môi trường
- Đóng góp tự nguyện của các cá nhân và doanh nghiệp
- Tài trợ bằng tiền hoặc hiện vật của các tổ chức trong nước, chính quyền địaphương và chính phủ trung ương
- Đóng góp của các tổ chức, các nhà tài trợ quốc tế
- Tiền lãi và các khoản lợi khác thu được từ hoạt động của quỹ;
- Tiền xử phạt hành chính do vi phạm quy định về bảo vệ môi trường
- Tiền thu được từ các hoạt động như văn hoá, thể thao, từ thiện, xổ số, pháthành trái phiếu
Hỗ trợ do Quỹ môi trường cung cấp thông thường dưới hình thức hỗ trợ tàichính với các điều khoản ưu đãi, chẳng hạn như các khoản trợ cấp không hoàn lại, cáckhoản vay vốn dài hạn với lãi suất thấp hơn lãi suất hiện hành trên thị trường đểkhuyến khích các dự án đầu tư bảo vệ môi trường, hỗ trợ các dự án nghiên cứu triểnkhai, đào tạo và truyền thông môi trường, các dự án kiểm soát và xử lý ô nhiễm củacác doanh nghiệp
Quỹ môi trường ở Việt Nam hiện nay bào gồm: Quỹ Môi trường cấp quốc gia(Quỹ BVMT Việt Nam, Quỹ Bảo tồn Việt Nam), Quỹ BVMT các tỉnh/TP, Quỹ Môitrường ngành Trong hoạt động khai thác Khoáng sản hiện nay mới chỉ có quỹ môitrường tập trung của ngành than
e,
Trợ cấp môi trường
Trang 16Trợ cấp là một công cụ quản lý ngược lại với nguyên tắc " người gây ô nhiễmphải trả tiền " Tuy nhiên, nó được sử dụng trong những khu vực mà ở đó có khó khănkinh tế đáng kể Trợ cấp nhà nước có thể áp dụng cho các hoạt động gây ngoại ứngtích cực như xử lý ô nhiễm, trồng rừng Nguyên nhân dẫn đến trợ cấp là trong cáchoạt động này lợi ích cá nhân thường thấp hơn lợi ích xã hội, do đó, chi phí tư nhânchấp nhận bỏ ra để tiến hành các hoạt động.
1.3.3 Công cụ kỹ thuật
Công cụ kỹ thuật quản lý là công cụ thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát củaNhà nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố ônhiễm trong môi trường Công cụ kỹ thuật có tác dụng hỗ trợ hai công cụ pháp lý vàkinh tế Công cụ này có thể thực hiện thành công trong bất kỳ nền kinh tế phát triểnnhư thế nào Công cụ kỹ thuật quản lý bao gồm các hình thức sau:
Thông tin dữ liệu tài nguyên và môi trường
Tổ chức bộ máy quản lý môi trường
Kế toán và kiểm toán môi trường
Quản lý tai biến môi trường
Đánh giá tác động môi trường
Nghiên cứu và triển khai khoa học kỹ thuật công nghệ môi trường.
Thanh tra, kiểm tra, giám sát môi trường.
1.3.4 Công cụ giáo dục và truyền thông môi trường
Công cụ này dựa trên quan điểm: Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của quầnchúng, có huy động được toàn dân tham gia bảo vệ môi trường thì công tác bảo vệ môitrường mới thành công Chính vì vậy, giáo dục truyền thông môi trường có vai trò vôcùng quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ môi trường của mỗi quốc gia
Truyền thông môi trường là một quá trình tương tác xã hội hai chiều nhằm giúpcho những người có liên quan hiểu được các yếu tố môi trường then chốt, mối quan hệphụ thuộc lẫn nhau giữa chúng và cách tác động vào các vấn đề có liên quan một cáchthích hợp để giải quyết các vấn đề về môi trường
Thực hiện giáo dục truyền thông nhằm nâng cao nhận thức về môi trường đểvấn đề bảo vệ môi trường trở thành trách nhiệm của toàn xã hội, là sự nghiệp của toàndân, thông qua biện pháp phổ biến kiến thức pháp luật, tuyên truyền, phổ cập hóa nhận
Trang 17thức môi trường theo các chương trình và thông tin môi trường bằng các phương tiệnthông tin đại chúng hoặc mở các lớp tập huấn, thực hiện việc đưa các nội dung bảo vệmôi trường vào hệ thống giáo dục quốc gia ở tất cả các cấp học.
Bảng 1.1 Hệ thống các loại công cụ quản lý môi trường
- Đánh giá tác động môi trường
- Kiểm toán và kế toán môitrường
- Quản lý tai biến môi trường
- Nghiên cứu và triển khai khoa học kỹ thuật công nghệ môi trường
4
Công cụ giáo dục và
truyền thông
Là công cụ sử dụng vai trò của truyền thông, thông tin giáo dục về bảo vệ môi trường
- Phổ biến kiến thức bảo vệmôi trường trong hệ thống giáo dục các cấp
- Truyền thông qua hệ thống thông tin đại chúng
1.4 Nội dung của các vấn đề quản lý môi trường quốc gia
1.4.1.Tổ chức công tác QLMT ở Việt Nam
Tổ chức thực hiện công tác QLMT là nhiệm vụ quan trọng nhất của ngành môi trường ở mỗi quốc gia Các bộ phận chức năng của ngành môi trường bao gồm: bộphận nghiên cứu đề xuất kế hoạch, chính sách, các quy định pháp luật dùng trong công
Trang 18tác BVMT; bộ phận quan trắc, giám sát, đánh giá thường kỳ chất lượng môi trường; bộphận thực hiện các công tác kỹ thuật, đào tạo cán bộ môi trường; bộ phận nghiên cứu,giám sát việc thực hiện công tác môi trường ở các địa phương, các cấp, các ngành.Mỗi một quốc gia có một cách riêng trong việc tổ chức thực hiện công tác BVMT Ví
dụ, ở Đức, Mỹ hình thành Bộ Môi trường để thực hiện công tác QLMT quốc gia ỞThái Lan hình thành Ủy ban Môi trường quốc gia do Thủ tướng Chính phủ làm chủtịch và các Cục quản lý chuyên ngành môi trường trong Bộ Ở Việt Nam công tác môitrường hiện nay được thực hiện ở nhiều cấp Quốc hội có “Ủy ban khoa học, Côngnghệ và Môi trường” tư vấn về các vấn đề môi trường Thủ tướng Chính phủ, Vănphòng Chính phủ và Vụ Khoa học Giáo dục Văn hóa xã hội có một cố vấn cao cấp vềcác vấn đề môi trường
Bên cạnh các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, có nhiều cơ quan khácnhư các cơ sở đào tạo và nghiên cứu nhà nước, các tổ chức phi Chính phủ tham giathực hiện công tác đào tạo, giám sát và nghiên cứu môi trường
1.4.2 Quản lý chất lượng các thành phần môi trường
1.4.2.1 Quản lý chất lượng không khí
Để quản lý chất lượng không khí thì cần phải chú ý đến việc quản lý các nguồnthải gây ô nhiễm không khí Các nguồn gây ô nhiễm không khí gồm 2 loại chủ yếu đó
là nguồn tĩnh và nguồn di động Kiểm soát các nguồn thải tĩnh (các ống khói côngnghiệp) là một biện pháp quan trọng của quản lý môi trường không khí Ở Mỹ người ta
đã tổng kết kinh nghiệm về công nghệ sản xuất tiên tiến và công nghệ kiểm soát ônhiễm khả thi để định ra các chuẩn phát thải chất ô nhiễm của nguồn tĩnh Chuẩn phátthải này phụ thuộc theo ngành sản xuất và quy mô sản xuất của mỗi công ty Ở Mỹviệc kiểm soát mức xả khí của các nguồn tĩnh được xác định bằng cách dùng mô hìnhtính trên máy để xác định xem các nguồn thải có gây ra sự vi phạm tiêu chuẩn chấtlượng môi trường không khí đối với các khu dân cư xung quanh hay không Nếu mức
độ ô nhiễm của chất thải nào đó của nguồn thải vượt quá giới hạn cho phép của tiêuchuẩn chất lượng môi trường xung quanh thì các Bang sẽ áp dụng biện pháp cưỡngchế các nguồn đó phải giảm bớt lượng thải quá mức Ví dụ, quy định mức thải củanguồn thải nào đó được thải 10 tấn, 20 tấn hay 25 tấn bất kỳ một chất ô nhiễm nào đóhay bất kỳ một tổ hợp chất ô nhiễm nào đó trong mỗi năm Lên danh sách các nguồn
Trang 19thải theo từng mức, thu phí thải và cấp giấy phép thải cho mỗi nguồn, giấy phép thảithường được cấp 5 năm một lần và định kỳ đến kiểm tra lượng thải của mỗi nguồn.Nếu phát hiện chủ các nguồn thải không thực hiện đúng giấy phép thì bị xử phạt hoặc
bị thu hồi giấy phép
Đối với việc quản lý các nguồn thải ô nhiễm di động thì các phương tiện giaothông cơ khí là các nguồn thải di động gây ô nhiễm môi trường không khí Đô thị cànglớn, càng phát triển, thì giao thông cơ giới sẽ càng phát triển và nguồn thải chất ônhiễm không khí do phương tiện giao thông cơ giới gây ra trong đô thị càng lớn Ở rấtnhiều đô thị lớn ở trên thế giới hiện nay lượng thải ô nhiễm không khí từ các phươngtiện giao thông cơ giới chiếm 70-80% tổng lượng thải ô nhiễm không khí ở đô thị Nếucoi bụi từ mặt đất và bụi thứ cấp chủ yếu do hoạt động giao thông gây ra thì tỷ lệnguồn phát sinh bụi đóng góp có liên quan đến hoạt động giao thông lên tới 78% Cácchất ô nhiễm chính do các nguồn cố định gây ra là các chất khí oxit cacbon (CO), oxitnitơ (NO3), cacbua hydro (CnHm), chì (Pb), bụi và muội khói Các chất ô nhiễm nàyđều là các chất độc hại đối với sức khỏe con người Ở rất nhiều nước đã đặt ra tiêuchuẩn xả khí đối với các nguồn di động (các loại xe ô tô, xe máy) Các cơ quan quản lýtiến hành các chương trình kiểm tra và chứng nhận đã đảm bảo tiêu chuẩn môi trườngđối với các xe mới xuất xưởng, xe nhập khẩu cũng như là xe đang lưu hành trên đườngphố Tổ chức các trạm kiểm soát môi trường đối với các loại xe đang lưu hành trên cácđường phố, bắt giữ, xử phạt hoặc thu giấy phép lưu hành đối với các xe không đạt tiêuchuẩn môi trường Ở Bangkok (Thái Lan) đã thực hiện kiểm soát và bắt giữ các xe xảkhí ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn môi trường từ năm 1992 đến nay Nói chung, tiêuchuẩn xả thải chất ô nhiễm đối với nguồn di động ngày càng chặt chẽ hơn Quy địnhnày đã thúc đẩy các nhà sản xuất ô tô tiến hành cải tiến kỹ thuật và lắp đặt các thiết bịkiểm soát khí thải của các xe, như là cải tiến và áp dụng ngày càng nhiều bộ chuyểnhóa xúc tác mới trong ngành sản xuất ô tô ở Mỹ và Nhật Bản Với việc áp dụng các bộchuyển hóa xúc tác tiên tiến, một số loại xe mới đã kiểm soát giảm thiểu khí thảihydrocacbon, oxit cacbon, oxit nitơ tới mức nồng độ của chúng trong khí thải từ xe ôtôxấp xỉ bằng trị số tiêu chuẩn cho phép đối với môi trường không khí xung quanh
Ở một số nước như Hà Lan, Thụy Điển đã áp dụng một loại thuế đặc biệt đểđánh thuế các xe không có các bộ phận chuyển hóa xúc tác để khuyến khích sử dụngcác xe có bộ phận chuyển hóa xúc tác, gây ô nhiễm ít hơn Ở Đan Mạch đã quy định lệ
Trang 20phí đăng ký rất cao đối với các xe tư nhân nhập khẩu không đạt tiêu chuẩn môi trườngcủa Đan Mạch Để loại trừ ô nhiễm chì trong không khí đô thị, ở nhiều nước đã cấm sửdụng xăng pha chì để tăng chỉ số octan Đầu tiên là áp dụng công cụ kinh tế để khuyếnkhích sử dụng xăng không pha chì, như là giảm thuế đối với mua bán xăng không phachì, tăng thuế, tăng lệ phí đối với xăng pha chì, dần dần sau đó cấm hẳn việc sử dụngxăng pha chì trong giao thông vận tải Hiện nay nước ta đã cấm sử dụng xăng pha chìtrong giao thông vận tải Để giảm bớt ô nhiễm khí SO2 trong thành phố người ta quyđịnh hàm lượng lưu huỳnh trong dầu diezen dùng cho ôtô phải rất nhỏ Ở một số nướccòn quy định không cho xe ôtô chạy bằng dầu diezen lưu hành trong thành phố, bởi vìkhí xả của các loại xe này không những chứa SO2 mà còn có nhiều muội và tàn khóirất nguy hại đối với sức khỏe của con người (gây bệnh khí thủng).
1.4.2.2 Quản lý chất lượng tài nguyên nước
Các biện pháp quản lý và bảo vệ tài nguyên nước thường được phối hợp vớinhau và tác động lẫn nhau Sau đây là một số biện pháp chính:
- Quy hoạch nguồn nước để bảo vệ nước, đưa nước vào sử dụng hợp lý, khai thác nguồn nước sẵn có để sử dụng hợp lý và hiệu quả hơn Biện pháp quy hoạch quản lý,
sử dụng nước nhằm mục đích: sản xuất điện năng, cấp nước cho sinh hoạt và côngnghiệp, cấp nước cho nông nghiệp, cấp nước cho thủy sản, điều hòa dòng chảy chogiao thông, bảo vệ chống ngập lụt và cạn kiệt
- Các chính sách, pháp chế và quản lý nước thích hợp: đây là biện pháp mang tính chấtpháp lý, thiết chế và hành chính để áp dụng cho việc sử dụng và phân phối tài nguyên nước, đảm bảo phát triển bền vững tài nguyên nước Tăng cường công tác hướng dẫn, tuyên truyền luật tài nguyên nước Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lýkịp thời các nguồn gây ô nhiễm tài nguyên nước
- Tiêu chuẩn chất lượng nước và điều kiện vệ sinh khi xả nước thải ra nguồn: Sử dụngnguồn nước và tiêu chuẩn chất lượng nước sử dụng, Điều kiện vệ sinh khi xả nước thải
ra nguồn nước
- Tổ chức quản lý và kiểm soát chất lượng nguồn nước: Quan trắc môi trường nước,
- Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm nước: Các biện pháp hạn chế xả chất thải ra nguồnnước mặt; Tăng cường xáo trộn pha loãng nước thải với nước nguồn; Làm giàu ôxy
- Sử dụng tổng hợp và hợp lý nguồn nước
1.4.2.3 Quản lý chất thải rắn
Trang 21Quản lý chất thải rắn bao gồm các khâu chủ yếu sau: thu gom, vận chuyển,phân loại và xử lý thải bỏ Dưới đây nêu ra một sô biện pháp quản lý chính
* Xây dựng chiến lược và lập kế hoạch quản lý chất thải rắn Cần phải nghiêncứu đánh giá chính xác hiện trạng chất thải rắn ở đô thị và công nghiệp hiện nay củađịa phương, cũng như dự báo chúng trong tương lai 10 - 15 năm tới, đặc biệt làm rõnhững vấn đề sau:
- Các nguồn thải chất thải rắn, trước mắt và lâu dài
- Lượng thải là bao nhiêu, trước mắt và lâu dài
- Thành phần và tính chất của chất thải rắn, trước mắt và lâu dài
Từ kết quả nghiên cứu trên tiến hành xây dựng chiến lược và lập kế hoạch quản
lý môi trường ngắn hạn và dài hạn cho phù hợp Nội dung chiến lược và kế hoạchquản lý chất thải cần tập trung vào các vấn đề:
- Dành đủ đất trong quy hoạch phát triển đô thị và công nghiệp phục vụ cho thu gom,vận chuyển (trung chuyển) và xử lý, thải bỏ chất thải rắn
- Xây dựng lực lượng thu gom, phân loại, vận chuyển và dịch vụ quản lý chất thải đủmạnh, lập phương án thu gom và vận chuyển hợp lý
- Đầu tư trang thiết bị đầy đủ phương tiện thu gom và vận chuyển chất thải rắn
- Quy hoạch địa điểm xử lý chất thải rắn lâu dài, ít nhất là 10 năm
- Lựa chọn công nghệ xử lý đổ thải chất thải rắn phù hợp
- Lập kế hoạch phân loại chất thải và kế hoạch phát triển tái sử dụng và quay vòng
* Tổ chức thu gom và phân loại chất thải rắn tại nguồn
Ở nhiều nước người ta đã tiến hành thu gom và phân loại chất thải rắn tạinguồn Chất thải rắn từ các hộ hay từ các cơ sở sản xuất đã được phân loại ngay từ nơisản sinh ra nó Các chất thải độc hại, chất thải thông thường, chất thải có thể tái sửdụng được phân tách riêng và đựng vào các túi hay các thùng có màu sắc khác nhau.Chất thải độc hại đượctách thu gom, vận chuyển riêng và đưa đến nơi xử lý chất thải
Trang 22độc hại Trên các đường phố và ở các địa điểm sinh hoạt công cộng đều để sẵn cácthùng rác để khách đi trên đường phố không vất rác ra đường
* Lựa chọn công nghệ xử lý đổ thải chất thải rắn hợp lý
Trên thực tế có 3 công nghệ xử lý chất thải thường dùng là: chôn lấp, làm phân compost và thiêu đốt
- Chôn lấp chất thải rắn là công nghệ đơn giản nhất, đỡ tốn kém nhất và được
áp dụng rỗng rãi trên thế giới, nhưng đòi hỏi có diện tích rất lớn Việc lựa chọn bãichôn rác là hết sức quan trọng
- Chế biến chất thải rắn hữu cơ thành phân compost: Thành phần chất thải rắnhữu cơ dễ phân hủy, như rau, quả phế phẩm, thực phẩm thừa, cỏ, lá cây, v.v… có thểchế biến dễ dàng thành phân compost để phục vụ nông nghiệp Ở thành phố Hà Nội vàthành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng thí điểm xí nghiệp chế biến phân compost từ chấtthải rắn sinh hoạt của đô thị Nhưng công suất của các xí nghiệp này còn rất nhỏ bé vàgặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động vì giá thành của loại phân này đắt hơncác loại phân khác nên không tiêu thụ được, xí nghiệp không cân bằng được thu chi.Nhà nước chưa có chính sách kinh tế xã hội hỗ trợ cho các xí nghiệp này để phát triểnsản xuất phân compost, vừa giảm được diện tích bãi chôn rác, vừa có thêm lượngphân, không phải là phân hóa học phục vụ nông nghiệp
- Thiêu hủy chất thải rắn: Xây dựng các lò đốt rác với nhiệt độ cao có thể đốtđược chất thải rắn thông thường, cũng như chất thải rắn nguy hại, trong nhiều trườnghợp người ta kết hợp lò đốt rác với sản xuất năng lượng như phát điện, cấp nước nóng.Thiêu hủy rác có ưu điểm nổi bật là giảm thể tích chất thải phải chôn (xỉ, tro của lòđốt), do đó giảm được diện tích đất dùng cho bãi thải Tuy vậy, đầu tư cho nhà máyđốt rác tương đối lớn, giá thành vận hành nhà máy cũng cao, ngoài ra khói thải của nhàmáy có tính nguy hại, cần phải tiến hành xử lý khói thải với công nghệ cao mới bảo vệđược môi trường Ngoài ra, ở một số nước còn dùng phương pháp bê tông hóa chấtthải rắn nguy hại, đổ chất thải nguy hại vào các thùng, bể bọc kín bằng vật liệu kiên cố
và chôn sâu dưới đất hoặc vứt xuống đáy biển
* Phát triển tái sử dụng và quay vòng sử dụng chất thải rắn
Phát triển tái sử dụng và quay vòng sử dụng chất thải rắn là phương cách tốtnhất để giảm nhỏ nhu cầu đất chôn rác và tiết kiệm vật liệu, tài nguyên thiên nhiên.Hiện nay ở nước ta việc chọn lựa, thu lượm các chất thải có thể tái sử dụng được chủ
Trang 23yếu là do “đội quân” nhặt rác cá thể, chưa có tổ chức thu gom và sản xuất có quy môcông nghiệp Rất nhiều chất thải rắn đô thị và công nghiệp có thể tái sử dụng, tái chếnhư kim loại vụn, vỏ hộp, giấy, carton, chai lọ, các bao bì bằng nilông, đồ gỗ hư hỏngv.v… Cần phải coi việc phát triển tái sử dụng và quay vòng sử dụng chất thải là có ýnghĩa chiến lược trong quản lý chất thải rắn đô thị và công nghiệp
Trang 24CHƯƠNG 2 CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
2.1 Những vấn đề chung về công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
Từ những điều trên có thể đưa ra các khái niệm về công cụ kinh tế trong quản lýmôi trường như:
* “Công cụ kinh tế là những phương tiện chính sách có tác dụng làm thay đổichi phí và lợi ích của những hoạt động kinh tế thường xuyên tác động tới môi trường,tăng cường ý thức trách nhiệm trước việc gây ra sự huỷ hoại môi trường”
*“Công cụ kinh tế là sử dụng sức mạnh của thị trường để đề ra các quyết địnhnhằm đạt được các mục tiêu môi trường, từ đó sẽ có cách ứng xử hiệu quả chi phí chobảo vệ môi trường”
* “Công cụ kinh tế là việc Chính phủ có thể thay đổi hành vi ứng xử của mọi cánhân trong xã hội thông qua việc lựa chọn những phương thức kinh tế khác nhau hoặcgiảm thiểu chi phí trên thị trường nhằm mục tiêu bảo vệ môi trường”
*“Công cụ kinh tế là biện pháp “cung cấp những tín hiệu thị trường để giúp chonhững người ra quyết định ghi nhận hậu quả môi trường trong việc lựa chọn của họ “
Từ các khái niệm trên có thể rút ra các đặc điểm cơ bản của công cụ kinh tế ápdụng trong quản lý môi trường như sau:
Trang 25Thứ nhất, công cụ kinh tế tác động thông qua lợi ích kinh tế, chúng làm giảm lợi ích kinh tế của các hành động làm tổn hại đến môi trường và làm tăng lợi ích kinh tế của các hành động bảo vệ môi trường.
Thứ hai, công cụ kinh tế cho phép có sự lựa chọn nhằm tối đa hóa lợi ích trong điều kiện các ràng buộc bên ngoài và bên trong doanh nghiệp.
Như vậy, công cụ kinh tế tương phản thường xuyên với các qui định “điều hành vàkiểm soát” (Command and Control -CAC) Đó là hai mặt của phương tiện chính sáchđược tiến hành thông qua những cơ chế ra lệnh cho các hành động môi trường hoặc xácđịnh những hậu quả môi trường nếu không tuân thủ các qui chế đã ban hành Ngược lại,công cụ kinh tế duy trì một tập hợp tương đối rộng rãi các hành động môi trường có tínhpháp lý, nhưng có xác định những hậu quả khác nhau đối với những sự lựa chọn khácnhau và bắt buộc phải phục tùng các hậu quả xảy ra Cụ thể như có một tiêu chuẩn phát
thải nào đó nằm trong qui định điều hành và kiểm soát, lúc đó qui định pháp lý điều hành những người gây ô nhiễm phải đáp ứng tiêu chuẩn phát thải đó Nếu những
người gây ô nhiễm không tuân thủ, thì họ đã vi phạm luật và buộc phải chịu phạt vi
cảnh, phạt tù, đóng cửa nhà máy…(kiểm soát)
Ngược lại, công cụ kinh tế áp dụng là một lệ phí phát thải cho phép nhữngngười gây ô nhiễm lựa chọn mức độ phát thải ra trong giới hạn mà các công cụ kinh tế
đã qui định và như vậy họ không vi phạm pháp luật Tuy nhiên, người gây ô nhiễm cóthể trả tiền hoặc không trả tiền lệ phí và chỉ có sức mạnh của pháp luật mới có thể yêucầu và bắt buộc họ trả tiền, nhưng cho phép sự lựa chọn của họ dao động trong phạm
vi những giới hạn đã được xác lập
Từ những điều đã trình bày trên, có thể đưa ra một số nhận xét sau:
Công cụ kinh tế là một trong những phương tiện chính sách được áp dụng để đạt tới mục tiêu môi trường bền vững.
Công cụ kinh tế không phải là phương tiện chính sách riêng biệt, mà chúng được sử dụng thường xuyên cùng với các phương tiện chính sách khác như những qui định pháp lý về điều hành và kiểm soát.
Như vậy, có thể hiểu công cụ kinh tế cho quản lý môi trường như sau ” Công cụ kinh tế cho quản lý môi trường là phương tiện chính sách có tác dụng làm thay đổi chi phí và lợi ích của những hoạt động kinh tế thường xuyên tác động đến môi trường nhằm mục đích tăng cường ý thức trách nhiệm trước việc gây ra sự hủy hoại môi trường”.
Trang 262.1.2 Vai trò của công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
Trong hoạt động bảo vệ môi trường, hơn 30 năm trước đây các nước tư bảnphương Tây chủ yếu sử dụng những qui định pháp lý (CAC) để quản lý môi trường,nhưng thực tế cho thấy chỉ bằng CAC đã không đạt hiệu quả như mong muốn bởi vì:
- Các cơ quan quản lý môi trường nói chung thường xuyên phải đối mặt với sựcắt giảm ngân sách, cho nên đã giảm dần năng lực quản lý môi trường
- Sự quan tâm tới môi trường mang tính cứng nhắc, thiếu linh hoạt
Trong khi đó các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường lại có tính linh hoạt
và mềm dẻo hơn vì nó có các vai trò chủ yếu sau:
Một là tăng hiệu quả chi phí
Hệ thống công cụ kinh tế (Economics Instrument System- EIS) thường đạtđược thành công về mục tiêu môi trường như các qui định “điều hành kiểm soát”nhưng ở mức chi phí thấp hơn Việc sử dụng giá cả và cung cấp tính linh hoạt trongviệc ứng phó với tín hiệu giá cả, cho phép các tổ chức và cá nhân tìm kiếm chi phíhiệu quả nhất trong khả năng lựa chọn của họ
Hai là khuyến khích nhiều hơn sự đổi mới
Hệ thống công cụ kinh tế (EIS) không mang tính mệnh lệnh cho những ngườigây ô nhiễm phải chịu trách nhiệm mà nó chỉ tác động đến hoạt động kinh tế củanhững người gây ô nhiễm một cách tích cực nhằm phát triển và lựa chọn chi phí kiểmsoát hiệu quả nhất
Ba là khả năng tiếp nhận và xử lý thông tin tốt hơn: EIS cơ bản dựa vào thị
trường, nó phát hiện ra những cách thức tăng hiệu quả chi phí, cho phép đạt được mụctiêu môi trường và EIS hướng tới sức mạnh thị trường để xác định việc lựa chọn côngnghệ có chi phí thấp nhất
Ngoài ra, một số thuận lợi khác của công cụ kinh tế cũng được chỉ ra đó là tănghiệu quả môi trường, hành động nhanh chóng, linh hoạt và mềm dẻo hơn Chính vì vậy
có thể nhận định rằng các công cụ kinh tế tạo ra sức hút mạnh mẽ đối với người gây ônhiễm, vì chúng mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với những qui định có tính pháp
lý trong CAC
2.2 Các nguyên tắc cơ bản trong việc sử dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
Trang 27Công cụ kinh tế cho quản lý môi trường được áp dụng dựa trên hai nguyên tắc
cơ bản đã được quốc tế thừa nhận đó là nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền –Poluter Pays Principle (PPP)” và nguyên tắc “Người hưởng thụ phải trả tiền –BenefitPays Principle (BPP)”
Nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” bắt nguồn từ sáng kiến do Tổ
chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) đề xuất vào năm 1972 và 1974 PPP năm
1972 cho rằng các tác nhân gây ô nhiễm phải trả mọi chi phí cho hoạt động kiểm soát
và phòng chống ô nhiễm còn PPP năm 1974 cho rằng các tác nhân gây ô nhiễm ngoàiviệc phải tuân thủ các chi phí khắc phục ô nhiễm còn phải bồi thường cho nhữngngười bị thiệt hại do ô nhiễm này gây ra Theo nguyên tắc PPP thì người gây ra ônhiễm phải chịu toàn bộ khoản chi phí để thực hiện các biện pháp làm giảm ô nhiễm
do chính quyền tổ chức thực hiện, nhằm khắc phục và hoàn trả lại môi trường như cũ
Nguyên tắc PPP xuất phát từ những luận điểm của Pigou về nền kinh tế phúclợi Trong đó, nội dung quan trọng nhất đối với nền kinh tế lý tưởng là giá cả các loạihàng hóa và dịch vụ phải phản ánh đầy đủ các chi phí xã hội, kể cả các chi phí môitrường (bao gồm chi phí chống ô nhiễm, khai thác tài nguyên cũng như những ảnhhưởng khác tới môi trường) Giá cả phải phản ánh “toàn bộ” mọi chi phí sản xuất vàtiêu dùng hàng hóa, nếu không sẽ dẫn đến việc sử dụng bừa bãi các nguồn tài nguyên,làm cho ô nhiễm trở nên trầm trọng hơn so với mức tối ưu đối với xã hội
Việc buộc người gây ô nhiễm môi trường phải trả tiền là một trong những biệnpháp hữu hiệu nhất để làm giảm bớt các tác động của ngoại ứng gây tác động tiêu cựcđến thị trường Đây cũng chính là ý nghĩa của nguyên tắc PPP nhằm sửa chữa sự “thất bại của thị trường” do không tính chi phí môi trường trong quá trình sản xuất hànghóa và dịch vụ
Trong hình 2.1 cho thấy: nếu không tính đến chi phí thiệt hại cho bên ngoài dosản xuất hàng hóa gây ra ô nhiễm (MEC) thì nền kinh tế thị trường sẽ đạt được trạngthái cân bằng ở điểm E khi MC = MR Nhưng theo quan điểm của Pigou về nền kinh
tế phúc lợi thì giá cả các loại hàng hóa và dịch vụ phải phản ánh đầy đủ các chi phí xãhội, kể cả các chi phí môi trường (bao gồm chi phí chống ô nhiễm, khai thác tàinguyên cũng như những ảnh hưởng khác tới môi trường) Do đó, điểm cân bằng thực
sự của thị trường phải là giao điểm của MR= MSC (trong đó MSC là chi phí xã hộibiên nó chính bằng MC + MEC)
Trang 28Hình 2.1 Ý nghĩa của nguyên tắc PPP trong nền kinh tế thị trường
Nguồn: Nguyễn Thế Chinh (2003), Kinh tế và quản lý môi trường
Tuy nhiên, nguyên tắc PPP cũng có hạn chế đó là những chi phí buộc người gây
ô nhiễm phải trả đến một mức độ nào đó sẽ chuyển sang người tiêu dùng thông quaviệc tăng giá hàng hóa dịch vụ Chính vì vậy, hiện nay nguyên tắc PPP đã được củng
cố bởi 4 nguyên tắc cơ bản khác nhằm tạo ra các nguyên tắc chủ đạo cho việc hoạchđịnh các chính sách môi trường, đó là:
Nguyên tắc phòng ngừa
Nguyên tắc hiệu quả kinh tế, tiết kiệm chi phí
Nguyên tắc cấp dưới
Nguyên tắc hiệu quả về luật pháp
Nguyên tắc “Người hưởng thụ phải trả tiền” là chủ trương tạo lập một cơ chế
nhằm đạt được các mục tiêu về môi trường với một cách nhìn nhận riêng, ngược lạivới nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền thì người hưởng thụ môi trường đãđược cải thiện cũng phải chi trả một khoản tiền Nói một cách tổng quát hơn “tất cảnhững ai được hưởng lợi do có được môi trường trong lành không bị ô nhiễm, thì đềuphải nộp phí”
Nguyên tắc BPP đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường với một cách nhìnnhận riêng Theo đó, việc phòng ngừa ô nhiễm và cải thiện môi trường cần được hỗ trợ
cả từ phía những người muốn thay đổi hoặc những người không phải trả giá cho cácchất thải gây ô nhiễm môi trường
Trang 29Thực hiện nguyên tắc BPP sẽ tạo ra một nguồn thu đáng kể cho công tác bảo
vệ môi trường, số tiền thu được theo nguyên tắc BPP ngoài những người được hưởnglợi còn có những cá nhân muốn bảo vệ môi trường không muốn có những tác động xấuhoặc chất thải gây ô nhiễm môi trường Tuy nhiên, vì số tiền thu được không do cácdoanh nghiệp trực tiếp gây ô nhiễm môi trường trả, nên nguyên tắc BPP không tạo rađộng lực khuyến khích bảo vệ môi trường một cách trực tiếp
Về thực chất, nguyên tắc BPP có thể được sử dụng như là một định hướng hỗtrợ nhằm đạt được những mục tiêu môi trường, cho dù là mục tiêu bảo vệ môi trườnghay phục hồi môi trường Mục đích hướng tới của BPP là nhằm bảo vệ môi trường dovậy nó được công chúng ủng hộ rộng rãi
Xét về mặt hiệu quả kinh tế, nguyên tắc BPP là nguyên tắc có tính phù hợp cao,
vì hiệu quả kinh tế chỉ có thể đạt được nếu các nguồn lực được sử dụng ở mức độ tối
ưu Do vậy, hiệu quả kinh tế có thể đạt được nếu việc xác định mức phí, lệ phí môitrường đưa ra ở mức tối ưu
Qua phân tích trên, có thể thấy rằng để công cụ kinh tế cho quản lý môi trườngphát huy hết tác dụng của nó thì cần phải đảm bảo tính nguyên tắc “người gây ô nhiễmphải trả tiền” Bởi vì, khi thực hiện nguyên tắc này sẽ đạt được hai mục tiêu đó là giúpcho người gây ô nhiễm thay đổi hành vi của mình vì phải cân nhắc trước khoản tiềnphải bỏ ra khi gây ô nhiễm, mặt khác nó giúp cho việc giảm bớt gánh nặng về tài chínhcho nhà nước khi phải khắc phục các hậu quả do ô nhiễm gây ra
2.3 Một số công cụ kinh tế được sử dụng trong quản lý môi trường
Như đã trình bày trong chương 1, công cụ kinh tế được sử dụng trong quản lýmôi trường khá nhiều, tuy nhiên có thể phân thành các nhóm sau:
2.3.1 Nhóm công cụ tạo nguồn thu
Đây là nhóm theo quan điểm của các nhà kinh tế là quan trọng nhất, bởi vì nóđạt được cả hai mục tiêu: gây sức ép giảm lượng ô nhiễm và tạo nguồn thu nhằm khắcphục những vấn dề môi trường do lịch sử để lại Chính vì vậy trong khuôn khổ bàigiảng sẽ đề cập nhiều hơn nhóm công cụ này
2.3.1.1 Thuế môi trường
a, Mục đích của thuế môi trường
Mục đích của việc áp dụng thuế môi trường là gây sức ép, buộc nhà sản xuấtphải cải tiến kỹ thuật, nâng cao hiệu suất sử dụng nguyên liệu, nhiên liệu hoặc sử dụngcác nguyên, nhiên vật liệu thay thế ít ô nhiễm hơn, áp dụng kỹ thuật chống ô nhiễm.Mặt khác, thuế môi trường còn dùng để khuyến khích, bảo vệ và nâng cao hiệu suất sử
Trang 30dụng các yếu tố môi trường, hạn chế các tác nhân gây ra ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩnqui định Nguyên tắc đánh thuế là thuế phải lớn hơn chi phí để giải quyết phế thải vàkhắc phục ô nhiễm
Các loại thuế môi trường chủ yếu bao gồm:
- Thuế ô nhiễm không khí
- Thuế ô nhiễm tiếng ồn
- Thuế ô nhiễm nguồn nước
b, Cơ sở lý thuyết của thuế môi trường
Cơ sở lý thuyết quan trọng của thuế môi trường phải kể đến đó là lý thuyếtngoại ứng và lý thuyết phân tích lợi ích và chi phí
b1 Lý thuyết về ngoại ứng
* Khái niệm: Ngoại ứng là những tác động đến chi phí và lợi ích không thông qua thị trường.
* Đặc điểm của ngoại ứng: Qua khái niệm trên có thể đưa ra một số đặc điểm
của ngoại ứng như sau
- Yếu tố ngoại ứng xuất hiện khi một quyết định sản xuất hoặc tiêu dùng củamột cá nhân hay một tổ chức tác động trực tiếp đến sản xuất hay tiêu dùng của nhữngngười khác không thông qua giá cả thị trường
- Có thể là ngoại ứng tích cực hoặc tiêu cực Ngoại ứng tiêu cực nảy sinh khicác cá nhân hay tổ chức gây ra những tổn thất, thiệt hại cho người khác mà không phảithanh toán, bồi thường cho những tổn thất, thiệt hại đó Ngoại ứng tích cực nảy sinhkhi cá nhân hay tổ chức tạo ra lợi ích cho những người khác mà không nhận đượcnhững khoản thù lao thỏa đáng cho việc đó
Vấn đề chính yếu của ngoại ứng là nó tạo ra các chi phí và lợi ích không đượcbồi hoàn, không có sự tham gia của bất kỳ luồng tài chính nào
Sự có mặt của ngoại ứng, dù tiêu cực hay tích cực, trong bất cứ giao dịch kinh
tế nào cũng làm cho lợi ích hay chi phí của cá nhân và xã hội thay đổi Vì các đườngcung của người sản xuất được xác định bằng chi phí cá nhân của họ, sự hiện diện củachi phí ngoại ứng có nghĩa là giá cả thị trường chưa tính đủ chi phí xã hội thực tế củasản xuất và tiêu dùng hàng hóa đó Tương tự như vậy, các đường cầu của người tiêudùng được xác định chỉ bằng lợi ích cá nhân của họ mà không tính đến lợi ích ngoạiứng, có nghĩa là giá cả thị trường cũng chưa phản ánh hết toàn bộ lợi ích xã hội thực tế
Trang 31của việc tiêu dùng hàng hóa đó Điều đó cho thấy, nếu xuất hiện ngoại ứng thì thịtrường bị thất bại trong việc cung cấp mức sản lượng tối ưu về mặt xã hội với mức giáhợp lý Từ những đặc điểm của ngoại ứng trên có thể nhận biết rằng ô nhiễm và chấtthải là một ngoại ứng tiêu cực Minh họa sự thất bại của thị trường khi xuất hiện ngoạiứng tiêu cực qua hình 2.2
Hình 2.2 Ngoại ứng tiêu cực của một ngành công nghiệp
Trong hình 2.2, đường cầu D thể hiện cầu thị trường về sản phẩm công nghiệp,đường cầu D còn phản ánh lợi ích cá nhân cận biên của những người tiêu dùng sảnphẩm công nghiệp, vừa phản ánh lợi ích xã hội cận biên ( D = MSB) Đường cung Sthể hiện mức chi phí cá nhân cận biên của việc sản xuất sản phẩm công nghiệp ở cácmức sản lượng khác nhau, đó là những chi phí đầu vào mà người sản xuất phải chi trảtiền Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất công nghiệp các doanh nghiệp sản xuất đã sửdụng tài nguyên thiên nhiên như dòng sông để đổ nước thải, mặt đất để đổ chất thảirắn mà không phải trả tiền, vì thế chi phí của việc xả thải này không được thể hiệntrong bảng cân đối tài chính của các doanh nghiệp và như vậy, cũng không được phảnánh trong đường cung của ngành công nghiệp Như chúng ta đã biết, việc xả thải nhưvậy sẽ gây ra những chi phí thiệt hại cho ngành khác như nông nghiệp, thủy sản, lâmnghiệp , trong hình trên, chi phí thiệt hại được thể hiện bằng đường MEC, đường chiphí ngoại ứng cận biên Chi phí này chính là giá trị bằng tiền của thiệt hại do một đơn
vị ô nhiễm của ngành công nghiệp áp đặt cho xã hội
Trang 32Để có được sự phân bổ nguồn lực có hiệu quả đòi hỏi sự cân bằng giữa MSC vàMSB Trong hình điều kiện này thỏa mãn tại điểm E khi mức sản lượng là QXH và giásản phẩm tương ứng là PXH Tuy nhiên, quyết định sản xuất của các doanh nghiệp côngnghiệp lại dựa trên cơ chế hoạt động của thị trường cạnh tranh, tức là hoạt động tối ưucủa người sản xuất được quyết định tại điểm C khi mức sản lượng là QCN và ở đó MC
= MR tương ứng mức giá PCN Như vậy, thị trường đã thất bại trong việc đạt được mứcsản xuất tối ưu theo quan điểm xã hội Chính vì vậy, để sửa chữa sự thất bại của thịtrường thì cần phải tạo được một động cơ kinh tế cho các doanh nghiệp sản xuất côngnghiệp gây ô nhiễm thay đổi mức sản lượng của mình, cần phải buộc họ chịu đầy đủchi phí xã hội của việc sản xuất, bao gồm chi phí cá nhân của họ và chi phí ngoại ứngmôi trường Đây cũng là ý tưởng của nhà kinh tế Arthur C Pigou(1877-1959) - giáo
sư kinh tế chính trị, đại học Cambrridge đưa ra năm 1920 trong tác phẩm ‘Kinh tế họcphúc lợi” về việc đánh thuế đối với những người gây ô nhiễm Nguyên tắc đánh thuế
do Pigou nêu ra là “Mức thuế ô nhiễm tính cho mỗi đơn vị sản phẩm gây ô nhiễm cógiá trị bằng chi phí ngoại ứng do đơn vị sản phẩm gây ô nhiễm gây ra tại mức sảnlượng tối ưu xã hội”
Nguyên tắc trên cũng chính là cơ sở khoa học cho ý tưởng về mức thuế môitrường phải đầy đủ để bù đắp những chi phí mà xã hội dành để khôi phục, khắc phụckhi môi trường bị ô nhiễm, hoặc những tổn thất phải chịu do ô nhiễm gây ra
Thể hiện mức thuế ô nhiễm đó qua công thức sau
tk = MEC (2.1)
b2 Lý thuyết về phân tích chi phí và lợi ích
Phân tích chi phí và lợi ích là việc so sánh những lợi ích của một hoạt động nào
đó đem lại với những chi phí phải bỏ ra để thực hiện hoạt động đó Về mặt kinh tế thìviệc so sánh đó đương nhiên phải có lợi, tức là hiệu số giữa lợi ích và chi phí đó phảilớn hơn 0
Phân tích lợi ích – chi phí là một kỹ thuật giúp cho những người có quyền raquyết định đưa ra những chính sách hợp lý về sử dụng bền vững các nguồn tài nguyênkhan hiếm, làm giảm hoặc loại bỏ những tác động tiêu cực phát sinh trong các dự ánphát triển kinh tế - xã hội
Tuy nhiên, việc áp dụng lý thuyết phân tích lợi ích và chi phí trong việc banhành các công cụ kinh tế để quản lý môi trường thì cần phải chú ý đến mối ảnh hưởng
Trang 33giữa mức độ ô nhiễm, thiệt hại kinh tế do ô nhiễm môi trường và chi phí, lợi ích củaviệc bảo vệ môi trường đó Điều đó có nghĩa, khi sử dụng công cụ kinh tế cần xác địnhđược chi phí bảo vệ môi trường tối ưu, so ánh với mức độ ô nhiễm có thể chấp nhậnđược Hình 2.3 sẽ thể hiện điều đó.
Hình 2.3 Mối ảnh hưởng giữa mức độ ô nhiễm thiệt hại kinh tế do ô nhiễm môi
trường và chi phí lợi ích của bảo vệ môi trường
Qua hình 2.3 cho thấy để xác định mức chi phí bảo vệ môi trường tối ưu là cơ
sở cho việc áp dụng công cụ kinh tế để quản lý môi trường, cần có sự cân bằng giữađường thiệt hại kinh tế do ô nhiễm môi trường gây ra và đường lợi ích của hoạt độngbảo vệ môi trường đem lại Trong hình trên, điều kiện thỏa mãn ở điểm cân bằng E vớimức chi phí CP* và tương ứng với mức độ thiệt hại tối ưu S và mức phí tối ưu P Mức
độ ô nhiễm S là mức độ ô nhiễm có thể chấp nhận được bao gồm hai tiêu chí đó làmức ô nhiễm mà ở đó tối ưu về kinh tế vì chi phí bảo vệ môi trường là tối ưu nhất và ở
đó hệ sinh thái có thể hấp thụ và tự cải thiện được
b3, Sự lựa chọn của các nhà sản xuất khi xuất hiện thuế môi trường
Trang 34Mục tiêu của xã hội và các nhà môi trường là làm mọi cách để giảm nhẹ mức ônhiễm Từ thực tế cũng như lý thuyết đã trình bày chúng ta thấy nhà sản xuất có haibiện pháp sau đây được áp dụng để giảm ô nhiễm.
Biện pháp thứ nhất là bỏ ra chi phí đầu tư lắp đặt các trang thiết bị chống ônhiễm, xử lý ô nhiễm để làm giảm bớt ô nhiễm Ở biện pháp này chúng ta phải sửdụng MCA
Biện pháp thứ 2 đó là giảm sản lượng sản xuất Q để làm giảm ô nhiễm; tuynhiên việc giảm sản lượng Q lại ảnh hưởng đến lợi nhuận cá nhân doanh nghiệp
Do đó việc lựa chọn phương pháp nào các doanh nghiệp cần xét đến lợi nhuận của họ
H×nh 2.4 ¤ nhiÔm tèi u vµ viÖc lùa chän ph¬ng ph¸p gi¶m thiÓu « nhiÔm.
Trên hình 2.4 chúng ta thấy muốn giảm ô nhiễm từ a, thì doanh nghiệp sẽlựa chọn phương pháp, dùng chi phí khắc phục ô nhiễm (biện pháp kỹ thuật) bởi vì lúc
đó MCA < MNPR có nghĩa chi phí khắc phục ô nhiễm nhỏ hơn nhiều so với việc mấtphần lợi nhuận do giảm sản lượng Q ; Nhưng nếu giảm tiếp ô nhiễm từ b’ thì cácdoanh nghiệp sẽ lựa chọn phương pháp giảm sản lượng Q vì lúc đó MNPR < MCA.Trên hình 2.4 cũng cho chúng ta thấy khi MCA = MEC = tk thì mức ô nhiễm là tối
ưu (S*) Hiện nay, những chi phí xử lý ô nhiễm về cơ bản đã được tính như chi phí sảnxuất, tuy nhiên hiệu quả của biện pháp này còn một số hạn chế nên chất ô nhiễm vẫncòn thải vào môi trường Vì vậy, các phương pháp xử lý ô nhiễm tiên tiến và có hiệuquả cao hơn vẫn đang được nghiên cứu và ứng dụng
2.3.1.2 Thuế tài nguyên
Trang 35Mục đích của thuế tài nguyên là nhằm xác lập mức sử dụng tài nguyên thiênnhiên tối đa, khuyến khích những hành vi đảm bảo cuộc sống bền vững Thuế tàinguyên khi áp dụng cần phải thận trọng, cần tránh làm mất cân bằng kinh tế, phải hợp
lý và dễ điều chỉnh có lợi cho xã hội, tùy từng thời điểm và mục tiêu chiến lược củaquốc gia mà có thể tăng hoặc giảm mức thuế này Thuế tài nguyên cần có sự phân biệtgiữa các sản phẩm cùng loại với mức độ tác động khác nhau lên môi trường theohướng càng gây tác hại tới môi trường mức thuế nộp càng cao
Thuế tài nguyên gồm các loại thuế chủ yếu sau: thuế sử dụng đất, thuế sử dụngnước, thuế rừng, thuế tiêu thụ năng lượng
2.3.1.3 Các loại phí và lệ phí môi trường
Các loại phí và lệ phí có thể coi là cái giá mà người gây ô nhiễm phải trả, họphải trả giá cho xử lý ô nhiễm, phục hồi môi trường Tùy thuộc vào mục đích sử dụng
và hoàn cảnh có thể qui định một số phí và lệ phí sau: Phí vệ sinh thành phố, phí nuôi
và giết mổ gia súc trong các đô thị, phí cung cấp nước cho sinh hoạt, tưới tiêu, lệ phíđường phố, lệ phí sử dụng bờ biển, danh lam thắng cảnh
Lệ phí môi trường thường được áp dụng cho các trường hợp như: lệ phí thẩmđịnh báo cáo đánh giá tác động môi trường, lệ phí cấp giấy phép môi trường
Phí môi trường có thể được sử dụng một phần để chi phí cho các hoạt độngnhư: Nghiên cứu và áp dụng tiến bộ khoa học trong bảo vệ môi trường, áp dụng côngnghệ xử lý và ngăn ngừa ô nhiễm môi trường
Phạm vi áp dụng của các loại phí môi trường hiện nay như:
- Phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm
Loại phí này đánh vào các chất gây ô nhiễm được thải ra môi trường nước, khíquyển, đất hoặc gây tiếng ồn, ảnh hưởng tới môi trường xung quanh Phí đánh vào nguồngây ô nhiễm được xác định trên cơ sở khối lượng và hàm lượng chất ô nhiễm
MCA
MEC =MD a
0
b
MNPR
Trang 36Phí đánh vào sản phẩm có thể áp dụng thay cho phí gây ô nhiễm trong trườnghợp không thể trực tiếp tính được phí đối với các chất gây ô nhiễm, loại phí này có thểđánh vào sản phẩm nguyên liệu đầu vào, các sản phẩm trung gian hay đánh vào thànhphẩm, tùy theo từng trường hợp, ví dụ phí tính vào giá xăng dầu, phân bón, thuốc trừ sâu,bột tẩy
2.3.1.4 Quĩ môi trường
Mục đích chính của quĩ môi trường là tài trợ kinh phí cho các hoạt động bảo vệmôi trường Trên thế giới có quĩ môi trường toàn cầu GEF, nguồn vốn của quỹ là docác tổ chức quốc tế của Liên hiệp quốc như: UNDP, WB, UNEP
Nguồn vốn của quỹ môi trường ở các quốc gia là từ ngân sách nhà nước, cáckhoản thu từ phí, lệ phí môi trường, đóng góp của nhân dân của các tổ chức quốc tế,các tổ chức phi chính phủ
2.3.2 Nhóm công cụ tạo lập thị trường
2.3.2.1 Giấy phép xả thải có thể mua bán
Loại giấy phép này cho phép được đổ thải hay sử dụng các nguồn tài nguyênđến một mức độ giới hạn cho phép nào đó Người gây ô nhiễm môi trường được phépmua bán các loại giấy phép sử dụng này, đây cũng là ý tưởng “ tạo ra thị trường chophép được ô nhiễm” Những giấy phép chuyển nhượng này có tính ưu việt hơn thuếtrong trường hợp cần xác lập một mức độ tối đa cho việc đổ thải hoặc định mức sửdụng nguồn tài nguyên Bất cứ một hệ thống giấy phép chuyển nhượng nào, cũng phảidựa trên những tiêu chuẩn thích hợp và bền vững đối với chất lượng môi trường xungquanh và bảo vệ những nguồn tài nguyên tái tạo được Giấy phép chuyển nhượng sẽkhông có hiệu lực khi những phế thải bị hạn chế đến một tỷ lệ rất nhỏ so với toàn bộchi phí sản phẩm, lúc đó nó không còn tác dụng khuyến khích sự tham gia nữa Giấyphép chuyển nhượng cũng không áp dụng đối với chất thải nguy hại vì những chất thảinày cần phải xử lý nghiêm ngặt
Khi được phép mua bán các giấy phép xả thải sẽ hình thành thị trường giấy phép
xả thải, điều đó cũng có lợi cho người gây ô nhiễm, vì như chúng ta đã biết muốn giảm
ô nhiễm thì các nhà máy phải tăng chi phí giảm thiểu ô nhiễm tức là sử dụng đườngMCA hoặc phải giảm sản lượng Như vậy đường MCA thực tế trở thành đường cầuđối với côta ô nhiễm Với quy định số lượng côta được thải, người sản xuất sẽ lựachọn một trong hai giải pháp sau:
- Một là mua côta ô nhiễm để được thải với mức thải quy định
- Hai là tăng chi phí giảm thiểu ô nhiễm (MCA) theo yêu cầu kiểm soát ô nhiễm
Trang 37Tất nhiên, nhà sản xuất sẽ lựa chọn giải pháp có lợi nhất đó là (tối thiểu hoá chiphí gây ô nhiễm).
Hình 2.5 Thị trường giấy phép xả thải
Cũng như các loại hàng hoá khác, trên thị trường giấy phép có thể xảy ra hiệntượng thiếu và thừa Nếu giá các giấy phép xả thải thấp hơn tất cả các đường MCAcủa các nhà sản xuất thì các nhà sản xuất sẽ cố gắng tận dụng hết số giấy phép của họ,lúc này trên thị trường sẽ không có giấy phép để bán( hiện tượng thiếu giấy phép).Trường hợp ngược lại nếu giá các giấy phép mà lớn hơn các đường MCA của các nhàsản xuất thì các nhà sản xuất sẽ không mua giấy phép xả thải, do đó trên thị trường sẽthừa giấy phép, chứng tỏ chúng ta chưa tận dụng hết khả năng đồng hoá của môitrường Vì vậy, việc định giá giấy phép phải được nghiên cứu kỹ để vừa tận dụng đượckhả năng đồng hoá chất thải của môi trường vừa có thể giảm thiểu chi phí phát thải
Về nguyên tắc một doanh nghiệp sẽ bán giấy phép nếu chi phí làm giảm ô nhiễmbiên MAC nhỏ hơn giá trị hiện tại của giấy phép và nên mua nếu chi phí này cao hơn giátrị giấy phép Xã hội cùng được lợi vì khống chế được lượng gây ô nhiễm với chi phí thấpnhất Bây giờ chúng ta hãy xem ví dụ sau đây để thấy rõ hơn lợi ích của việc cho phépchuyển nhượng giấy phép ô nhiễm Hai doanh nghiệp A và B, mỗi doanh nghiệp thải 5tấn chất thải, nhưng tổng lượng chất thải tối đa môi trường có thể chấp nhận chỉ là 8 tấn.Chi phí để giảm 1 tấn chất thải của A và B lần lượt là 20 triệu đồng và 30 triệu đồng NếuChính phủ dùng biện pháp mệnh lệnh – hành chính buộc mỗi doanh nghiệp giảm 1 tấnchất thải thì tổng chi phí giảm thải của xã hội là 20 + 30 = 50 triệu Bây giờ, nếu Chínhphủ dùng công cụ giấy phép và phân phối cho mỗi doanh nghiệp 4 giấy phép xả thải, mỗigiấy cho phép thải 1 tấn chất thải Chính phủ cũng cho phép các doanh nghiệp trao đổigiấy phép với nhau, nên giá thị trường của 1 giấy phép được hình thành là 24 triệu Doanh
Chi phí, giá
Q Số lượng giấy phép xả thải
Q *
Trang 38nghiệp A nhận thấy chi phí giảm 1 tấn chất thải của mình nhỏ hơn giá 1 giấy phép nêngiảm 2 tấn, dư ra 1 giấy phép bán cho B Doanh nghiệp B thấy chi phí giảm 1 tấn chất thảicủa mình cao hơn giá 1 giấy phép nên không tự giảm thải mà mua giấy phép đó từ A Cả
2 đều có lợi Mặt khác tổng chi phí giảm thải của xã hội cũng giảm đi
16 + 24 = 40 triệu đồng Lợi ích của việc mua bán giấy phép được thể hiện qua bảng sau
Chi phí giảm thải thực tế khi chuyển nhượng 40 0
Lợi ích ròng qua chuyển nhượng 20 - 16 = 4 30-24=6
Đối với nhà nước, hoạt động của thị trường giấy phép sẽ tác động như thế nào?Giả sử Nhà nước cảm thấy nhu cầu đối với giấy phép xả thải tăng lên, Nhà nước sẽphát hành một số giấy phép mới đẩy đường cung cấp giấy phép sang bên phải Điều đódẫn tới sự nới nhẹ mức độ kiểm soát ô nhiễm (lạm phát giấy phép) Ngược lại, nếuNhà nước cảm thấy cần xiết chặt tiêu chuẩn cũ họ lại mua lại một số giấy phép và khi
đó cung đối với thị trường giấy phép sẽ đổi sang trái
2.32.2 Chi trả dịch vụ môi trường
Chi trả dịch vụ môi trường (Payment for Enviroment Services – PES) là công
cụ kinh tế yêu cầu những người được hưởng lợi từ các dịch vụ hệ sinh thái chi trả chonhững người tham gia duy trì, bảo vệ và phát triển các chức năng của hệ sinh thái đó.Nguyên tắc cơ bản của PES là tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ những dịch vụ môitrường phải chi trả (User pays) cho những người sử dụng tài nguyên để cung cấp cácdịch vụ môi trường đó (Provider gets)
Dựa vào tiềm năng chi trả dịch vụ môi trường, có thể chia PES thành 4 loại
- Bảo vệ rừng đầu nguồn: cung cấp dịch vụ chất lượng nước; điều tiết nước, bảo
vệ nơi cư trú dưới nước và kiểm soát ô nhiễm đất
- Bảo tồn đa dạng sinh học: Phòng trừ dịch bệnh, Giá trị hệ sinh thái
- Hấp thu cacbon: Biến đổi khí hậu (Rừng hấp thụ cacbon giảm khí nhà kính )
- Vẻ đẹp cảnh quan.du lịch sinh thái: giá trị thẩm mỹ và giá trị văn hóa
2.3.3 Nhóm công cụ nhằm nâng cao trách nhiệm xã hội trong bảo vệ môi trường
2.3.3.1 Ký quĩ môi trường
Trang 39Ký quỹ môi trường là công cụ kinh tế áp dụng cho các ngành kinh tế dễ gây ra
ô nhiễm môi trường Nội dung chính của ký quỹ môi trường là yêu cầu các doanhnghiệp trước khi đầu tư phải đặt cọc tại ngân hàng một khoản tiền nào đó đủ lớn đểđảm bảo cho việc thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ và công tác bảo vệ môi trường Sốtiền ký quỹ phải lớn hơn hoặc xấp xỉ với kinh phí cần để khắc phục môi trường nếudoanh nghiệp gây ra ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường
Trong quá trình thực hiện đầu tư và sản xuất, nếu cơ sở có các biện pháp chủđộng khắc phục, không để xảy ra ô nhiễm hoặc suy thoái ra môi trường đúng như camkết, thì số tiền ký quỹ sẽ được hoàn trả lại cho doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp khôngthực hiện đúng cam kết hoặc phá sản, số tiền trên sẽ được rút ra từ tài khoản ngân hàngchi cho công tác khắc phục sự cố ô nhiễm đồng thời với việc đóng cửa doanh nghiệp
Ký quỹ môi trường tạo ra lợi ích, đối với nhà nước không phải đầu tư kinh phíkhắc phục môi trường từ ngân sách, khuyến khích doanh ghiệp hoạt động bảo vệ môitrường Doanh nghiệp sẽ có lợi ích do lấy lại vốn khi không xảy ra ô nhiễm hoặc suythoái môi trường
2.3.3.2 Hệ thống đặt cọc – hoàn trả
Hệ thống đặt cọc hoàn trả bao gồm việc ký một số tiền cho các sản phẩm cótiềm năng gây ô nhiễm Nếu các sản phẩm được đưa trả về một số điểm thu hồi quyđịnh hợp pháp sau khi sử dụng, tức là tránh khỏi bị ô nhiễm, tiền ký thác sẽ hoàn trả
Mục đích của hệ thống đạt cọc- hoàn trả là thu gom những thứ mà người tiêuthụ đã dùng vào một trung tâm để tái chế ,tái sử dụng hoặc tiêu hủy một cách an toànđối với môi trường Hệ thống này có thể được áp dụng cho bất kỳ sản phẩm nào màchúng đòi hỏi một sự tập trung cao để tái sản xuất nhằm đảm bảo an toàn cho việc đặtcọc và hạn chế bớt những hàng hóa ít có giá trị sử dụng mà lại có thể gây ra mức ônhiễm nhiều hơn Ví dụ như: những chuyến tàu thủy vận chuyển xe ô tô, nhữngcontainer thuốc trừ sâu Khi có các hoạt động có nguy cơ ảnh hưởng xấu tới môitrường, chủ doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh phải đặt cọc một khoản tiềnđảm bảo việc thực hiện các biện pháp khắc phục môi trường
Công cụ kinh tế này áp dụng sẽ xử lý vi phạm được dễ dàng hơn khi chủ doanhnghiệp không khôi phục môi trường thì nhà nước sẽ sử dụng số tiền này để thuê các tổchức, cá nhân khác tiến hành khôi phục môi trường Bởi vậy, đặt cọc hoàn trả đượccoi là một trong những ứng cử viên sáng giá cho các chính sách nhằm giúp nền kinh tế
Trang 40thoát khỏi chu trình sản xuất tuyến tính ( khai khoáng > nguyên liệu thô > sản phẩm
-> phê thải ) và hướng tới chu trình tuần hoàn trong đó các tài nguyên được tái chế , tái
sử dụng tới mức tối đa có thể được Phạm vi sử dụng các hệ thống đặt cọc – hoàn trảbao gồm : Các sản phẩm mà khi sử dụng có khả năng gây ô nhiễm môi trường nhưng
có thể xử lý , tái chế hoặc tái sử dụng Các sản phẩm làm tăng lượng chất thải, cần cácbãi thải có quy mô lớn và tốn nhiều chi phí tiêu hủy Các sản phẩm chứa chất độc, gâykhó khăn đặc biệt cho việc xử lý, nếu tiêu hủy không đúng cách sẽ gây nguy cơ ảnhhưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe cho con người
Hệ thống đặt cọc hoàn trả tỏ ra rất thích hợp với việc quản lý các chât thải rắn.Các quốc gia thuộc tổ chức OECD đã áp dụng khá thành công hệ thông đặt cọc – hoàntrả đối với các sản phẩm đồ uống, bia, rượu (đựng trong chai nhựa hoặc thủy tinh )mang lại hiệu quả cao cho việc thu gom các phế thải Hiện nay các nước này đã vàđang mở rộng hệ thống đặt cọc – hoàn trả sang các lĩnh vực khác như vỏ tàu, ô tô cũ,dầu nhớt, ắc quy có chứa chì, thủy ngân, cadimi, vỏ chai đựng thuốc trừ sâu, các đồđiện da dụng như máy thu hình, tủ lạnh, điều hòa không khí… Thực tiễn cho thấy mứcđăt cọc là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến hiệu quả của hệ thống đặtcọc-hoàn trả Các mức đạt cọc thấp sẽ không tạo ra động cơ kinh tế đủ mạnh cho việcthu gom và tái chế phế thải Ngoài ra các yếu tố như nhận thức và ý thức của người sảnxuất và tiêu dùng đối với vấn đề thu gom phế thải, khả năng tổ chức, quản lý hệ thốngthu gom cũng như vấn đề công nghệ tái chế đều có ảnh hưởng không nhỏ đến sự hoạtđộng và thành công của hệ thống