Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Nguyễn Văn Hùng xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc GiangThực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Nguyễn Văn Hùng xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc GiangThực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Nguyễn Văn Hùng xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc GiangThực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Nguyễn Văn Hùng xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc GiangThực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Nguyễn Văn Hùng xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc GiangThực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Nguyễn Văn Hùng xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc GiangThực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Nguyễn Văn Hùng xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc GiangThực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Nguyễn Văn Hùng xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
DƯƠNG TRÀ MY
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LỢN NGUYỄN VĂN HÙNG XÃ NGỌC VÂN, HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn Nuôi Thú Y Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2014 - 2018
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
DƯƠNG TRÀ MY
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LỢN NGUYỄN VĂN HÙNG
XÃ NGỌC VÂN, HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn Nuôi Thú Y Lớp: K46 - CNTY - N01
Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2014-2018 Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Hưng Quang
Thái Nguyên, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, học hỏi, rèn luyện nâng cao tay nghề, em đã luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy,
cô giáo và bạn bè Đến nay, em đã hoàn thành chương trình học và thực tập tốt nghiệp của mình Để có được kết quả này, ngoài sự nỗ lực của bản thân,
em luôn nhận được sự ủng hộ, động viên giúp đỡ của tổ chức, cá nhân trong
và ngoài trường
Em xin chân thành cảm ơn tới Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập tại trường
Tập thể lớp K46 - CNTY - N02 Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đã luôn sát cánh bên em trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đặc biệt em xin bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc đến thầy
giáo PGS.TS Nguyễn Hưng Quang, người đã tận tình hướng dẫn em trong
suốt thời gian thực tập, giúp em hoàn thành bài khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn toàn thể công nhân viên của tập đoàn Đức Hạnh BMG, gia đình anh Nguyễn Văn Hùng, các cán bộ kỹ thuật cùng toàn thể công nhân tại trại chăn nuôi của anh Nguyễn Văn Hùng, xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Dương Trà My
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình đào tạo trong nhà trường thì thời gian đi thực tập của mỗi sinh viên trước khi ra trường là rất quan trọng và cần thiết Nhằm thực hiện phương châm “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất”, đây là thời gian để sinh viên tiếp xúc với thực tế sản xuất nhằm củng cố lại kiến thức đã học trong trường; để nâng cao trình độ, chuyên môn, nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, tạo cho mình có tác phong làm việc đúng đắn, sáng tạo để khi ra trường trở thành một người cán
bộ khoa học kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển của đất nước
Xuất phát từ nguyện vọng bản thân, được sự đồng ý của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên và khoa Chăn nuôi Thú Y, dưới sự hướng dẫn,chỉ bảo tận tình của thầy giáo PGS.TS.Nguyễn Hưng Quang và sự tiếp nhận của Tập Đoàn Đức Hạnh BMG em đã thực hiện đề tài:
“Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Nguyễn Văn Hùng xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang” Do bước đầu làm quen với thực tiễn và sản xuất nên bản khóa luận
này không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Vậy, em kính mong nhận được sự đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo cùng các bạn đồng nghiệp
để bản khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Lịch sát trùng trại lợn nái 35
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại Nguyễn Văn Hùng qua 3 năm 2015 – 2017 37
Bảng 4.2 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại 41
Bảng 4.3 Những biểu hiện khi lợn sắp đẻ 42
Bảng 4.4 Kết quả các công tác khác đã thực hiện tại trại 45
Bảng 4.5 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại 46
Bảng 4.6 Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái 47
Bảng 4.7 Kết quả phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con tại trại 49
Bảng 4.8 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại 51
Bảng 4.9: Kết quả điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản tại trại 52
Bảng 4.10: Tổng hợp kết quả tại Tập Đoàn BMG 55
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
CP : Cổ phần
KHKT : Khoa học kỹ thuật Nxb : Nhà xuất bản
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI NÓI ĐẦU ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Tập Đoàn Đức Hạnh BMG 3
2.1.2 Điều kiện tự nhiên của trang trại 3
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại 4
2.1.4 Cơ sở vật chất của trang trại 4
2.1.5 Thuận lợi, khó khăn 5
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến nội dung của chuyên đề 9
2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 9
2.2.2 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái 9
2.2.3 Một số bệnh sinh sản thường gặp ở lợn 18
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 27
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 27
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 29
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 32
3.1 Đối tượng 32
Trang 83.2 Địa điểm và thời gian thực hiện 32
3.3 Nội dung thực hiện 32
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 32
3.4.1 Các chỉ tiêu thực hiện 32
3.4.2 Phương pháp thực hiện 33
3.4.3 Phương pháp tính toán các chỉ tiêu 36
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 37
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn Nguyễn Văn Hùng, xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên Bắc Giang qua 3 năm từ 2015 – 2017 38
4.2 Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản 38
4.2.1 Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái chửa 40
4.2.2 Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái đẻ và nuôi con 40
4.2.3 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại trong thời gian thực tập 41
4.3 Các công tác khác đã thực hiện tại trại 43
4.4 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại 46
4.5 Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái 49
4.6 Kết quả phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con tại trại
4.7 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại 50
4.7.1 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại 52
4.7.2 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại 53
4.8 Kết quả thực tập tại Tập Đoàn Đức Hạnh BMG 54
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Đề nghị 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59 PHỤ LỤC
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi lợn của nước ta đã có những bước phát triển khá mạnh, chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm, đáp ứng nhu cầu đời sống ngày càng cao của con người Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020”, định hướng phát triển chăn nuôi trở thành ngành sản xuất hàng hóa, từng bước đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Trong những năm tiếp theo, hướng phát triển ngành chăn nuôi cơ bản chuyển sang sản xuất theo phương thức trang trại, chăn nuôi công nghiệp, phấn đấu tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đến năm 2020 đạt khoảng trên 40%
Để cung cấp giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại thì việc phát triển đàn lợn nái sinh sản cần đặc biệt được quan tâm Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân làm hạn chế khả năng sinh sản của lợn nái hiện nay đang nuôi ở các trang trại là bệnh còn xảy ra rất nhiều, do khả năng thích nghi của những giống lợn nái ngoại với khí hậu nước ta còn kém, đặc biệt là bệnh
ở cơ quan sinh dục như: đẻ khó, viêm tử cung, viêm vú, ít sữa và mất sữa, sảy thai truyền nhiễm, Các bệnh này do nhiều yếu tố như điều kiện vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng kém, thức ăn, nước uống không đảm bảo vệ sinh, do vi khuẩn, virus gây nên, Chính vì vậy, việc chăm sóc và tìm hiểu về bệnh ở cơ quan sinh sản của đàn lợn nái là việc cần thiết
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú Y - Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, cùng với sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn và cơ sở nơi thực
tập, em đã thực hiện đề tài: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Nguyễn Văn Hùng xa Ngọc Vân huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang”
Trang 101.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục tiêu
- Nắm được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản
- Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần
ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai
- Nắm được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất
1.2.2 Yêu cầu
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn Nguyễn Văn Hùng
- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại
- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn nái sinh sản và áp dụng được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1.Tập Đoàn Đức Hạnh BMG
Tập đoàn Đức Hạnh BMG được thành lập tháng 12 năm 2002, hoạt động kinh doanh chính trong các lĩnh vực: sản xuất vắc xin phòng bệnh, sản xuất kinh doanh thuốc thú y, dược phẩm, thực phẩm chức năng, chế phẩm sinh học, thức ăn chăn nuôi
Nhận thức sâu sắc vấn đề tầm nhìn, sứ mệnh và tạo giá trị cốt lõi cho xã hội, định hướng phát triển sản phẩm chất lượng cao, lựa chọn phân khúc khách hàng chăn nuôi có kỹ thuật, chuyên nghiệp, theo hướng công nghiệp quy mô lớn Ngay từ những ngày đầu, hội đồng quản trị đã định hướng cần phải đổi mới công nghệ, đổi mới dây chuyền máy móc thiết bị, nâng cao chất
lượng, lấy phương châm “Hiệu quả sử dụng của bạn là sức mạnh của chúng em” là kim chỉ nam xuyên suốt mọi hoạt động và là tiền đề để tập
đoàn vươn lên phát triển trở thành một trong những tập đoàn hàng đầu Việt Nam sản xuất vắc xin, thuốc thú y chất lượng cao, tiêu chuẩn quốc tế, hướng đến xuất khẩu và cạnh tranh bền vững thời kỳ hội nhập
2.1.2 Điều kiện tự nhiên của trang trại
2.1.2.1 Vị trí địa lý
Trang trại lợn Nguyễn Văn Hùng nằm tại xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang trang trại liên kết với Tập Đoàn Đức Hạnh BMG Ngọc Vân là xã thuộc miền núi nằm ở phía Tây Nam huyện Tân Yên, cách trung tâm thị trấn huyện lỵ cao thượng khoảng 13km và cách trung tâm tỉnh khoảng 20km về phía Tây Bắc với tổng diện tích tự nhiên 1108.94ha Xã có trục tinh lộ 259 chạy theo chiều Đông-Tây và đường
Trang 12liên huyện Việt Yên chạy theo chiều Nam - Bắc, là nơi tiếp giáp giữa 3
huyện Hiệp Hòa, Tân Yên, Việt Yên, nền sản xuất chủ yếu là nông nghiệp
2.1.1.2 Điều kiện địa hình, đất đai
Trang trại được xây dựng trên khu đất rộng hơn 6 ha Khu đất có dạng
đồi núi khá cao địa hình bán sơn địa Địa hình cao hơn ở phía Tây và phía
Bắc, thấp dần ở phía Đông và Nam phía Nam và Tây Nam tương đối bằng
phẳng Với địa hình này thích hợp cho việc canh tác nhiều loại cây ăn quả 2.1.2.3 Điều kiện khí hậu
Trại chăn nuôi nằm trong địa bàn của xã Ngọc Vân nằm trong khu vực
Trung du bắc bộ chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa là
mùa khô và mùa mưa
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 11
đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình khoảng 23.5 độ C Lượng mưa
trung bình khoảng 150mm/1 năm
Độ ẩm không khí trung bình là 78-87% Các tháng có độ ẩm cao tầm
tháng 3 và tháng 4 độ ẩm trung bình từ 90-92%
(Nguồn : http://tanyen.bacgiang.gov.vn)
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu tổ chức của trại được tổ chức như sau:
- 01 chủ trại
- 01 kỹ thuật trại
- 01 kế toán
- 13 công nhân và 3 sinh viên thực tập tốt nghiệp Đại học
- 01 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại
2.1.4 Cơ sở vật chất của trang trại
Trại lợn được xây dựng trên khoảng 4 ha đất, gồm nhà điều hành, nhà ở
cho công nhân, nhà ăn các và công trình phụ phục vụ cho công nhân và các
Trang 13hoạt động khác của trại Khu nhà ở của công nhân được xây ở đầu hướng gió, nhà ở được lợp trên là tôn đỏ, có hai dãy nhà ở, mỗi dãy nhà gồm bốn phòng Khu nhà ăn được quan tâm xây dựng khang trang và sạch sẽ Khu nấu ăn được trang bị tủ lạnh, bếp ga để thuận tiện cho việc bảo quản và chế biến thức
ăn Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho nái cơ bản bao gồm: ba chuồng đẻ mỗi chuồng có 44 ô, kích thước 2,4m
× 1,6m/ô; hai chuồng bầu mỗi chuồng có 250 ô, kích thước 2,4 m × 0,65 m/ô; một chuồng đực giống và nái hậu bị có 20 ô, kích thước 5 m × 6 m; sáu chuồng thương phẩm mỗi chuồng có 20 ô, kích thước 5 m × 6 m và một chuồng úm có 20 ô, kích thước 5 m × 6 m Kèm theo một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc, kho chứa vật liệu Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có ba quạt thông gió đối với các chuồng đẻ; bốn quạt đối với các chuồng bầu, các chuồng thương phẩm, chuồng nái hậu bị, chuồng đực giống và chuồng úm Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính; mỗi cửa sổ có diện tích 1,2 m²; cách nền 1,2 m; mỗi cửa sổ cách nhau 0,8 m Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tấm cách nhiệt Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng Hệ thống nước trong trại chăn nuôi cho lợn uống là nước giếng Nước tắm cho lợn, nước xả gầm, rửa chuồng được bơm từ ao chứa nước trong trang trại lên bể chứa và theo hệ thống ống nước dẫn tới các chuồng khác nhau
2.1.5 Thuận lợi, khó khăn
2.1.4.1 Thuận lợi
- Trại được xây dựng ở một quả đồi nên cách xa khu dân cư, không làm ảnh hưởng đến người dân xung quanh và đảm bảo yêu cầu vệ sinh an toàn dịch bệnh
Trang 14- Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại có năng lực, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm trong công việc
2.1.4.2 Khó khăn
- Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết diễn biến phức tạp nên khâu phòng trừ bệnh gặp nhiều khó khăn
- Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh cao
- Vào khoảng thời gian cuối năm 2016 và năm 2017 giá lợn có xu hướng giảm thấp khiến trang trại gặp nhiều khó khăn hơn
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước
có liên quan đến nội dung của chuyên đề
2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
2.2.1.1 Sự thành thục về tính
Sự thành thục về tính được đánh dấu khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục như: tử cung, buồng trứng, âm đạo,… đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản Với sự phát triển hoàn thiện bên trong thì đồng thời ở bên ngoài các bộ phận sinh dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt và các điều kiện bên ngoài cũng như cách chăm sóc nuôi dưỡng
- Giống: các giống lợn khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Những giống có thể vóc nhỏ thường thành thục về tính sớm hơn những giống có thể vóc lớn
Theo Lê Xuân Cương (1986) [4], tuổi thành thục về tính của lợn cái lai
và lợn cái ngoại muộn hơn lợn cái nội thuần chủng (Móng Cái, Mường Khương, Ỉ…) Các giống lợn nội này thường có tuổi thành thục vào lúc 4 - 5
Trang 15tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi) Lợn ngoại vào lúc 6 - 8 tháng tuổi, lợn lai F1 (ngoại x nội) thường động dục lần đầu ở 6 tháng tuổi
- Điều kiện nuôi dưỡng và quản lý: Cùng một giống nhưng nếu được nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý tốt, gia súc phát triển tốt thì sẽ thành thục về tính sớm hơn và ngược lại Dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái
- Điều kiện bên ngoài: Những giống lợn nuôi ở vùng khí hậu ôn đới và hàn đới thường thành thục về tính muộn hơn những giống lợn nuôi ở vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm Khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính của gia súc
Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục về tính của lợn cái hậu bị Nếu ta để một con đực đã thành thục về tính ở gần ô chuồng của con cái hậu bị thì sẽ thúc đẩy nhanh sự thành thục về tính của chúng McIntosh (1996) [32], nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với lợn đực 2 lần/ngày, với thời gian 15 - 20 phút thì 83% lợn cái (ngoài 90kg) động dục lúc 165 ngày tuổi Lợn cái hậu bị được nuôi chăn thả sẽ có tuổi động dục ngắn hơn lợn cái hậu bị nếu nuôi nhốt liên tục Vì lợn nuôi có thời gian chăn thả sẽ tăng cường trao đổi chất, tổng hợp được sinh tố và có dịp tiếp xúc với lợn đực nên có tuổi động dục lần đầu sớm hơn
2.2.1.2 Sự thành thục về thể vóc
Tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về thể chát và ngoại hình đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính nếu ta cho giao phối ngay sẽ không tốt, vì lợn mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể
mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng ở đời con kém,
Trang 16đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Vì vậy, không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn cái nội khi được
7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg nên cho phối; đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 - 110 kg mới nên cho phối (Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [9])
2.2.1.3 Chu kỳ động dục và thời điểm phối giống thích hợp
* Chu kỳ động dục:
Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng (Văn Lệ Hằng và cs (2009) [8])
Lợn nái sau khi thành thục về tính thì bắt đầu biểu hiện động dục, lần thứ nhất biểu hiện không rõ ràng, cách sau đó 15 - 16 ngày động dục trở lại, lần này biểu hiện rõ ràng hơn và sau đó đi vào quy luật mang tính chu kỳ (Trần Thanh Vân và cs (2017) [27])
Theo Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006) [21] cho biết: chu kỳ động dục của gia súc được chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn trước động dục: Là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục lúc này buồng trứng to hơn bình thường Các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng lên, đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tử cung tăng lên, dịch nhầy ở âm đạo tăng nhiều Ở giai đoạn này tính hưng phấn chưa cao
Khi noãn bào chín, tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở hoàn toàn Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều lúc này con vật bắt đầu xuất hiện tính dục
Trang 17- Giai đoạn động dục: Lúc này cơ thể gia súc cái và cơ quan sinh dục có biểu hiện những biến đổi sinh lý hàng loạt Niêm mạc sung huyết, bên ngoài
âm hộ phù thũng Niêm dịch trong suốt từ trong chảy ra nhiều, con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, gia súc không yên tĩnh, kêu rống, phá chuồng, ăn uống giảm, nhảy lên lưng con khác, thích gần con đực Ở giai đoạn này, tế bào trứng ra khỏi buồng trứng gặp tinh trùng sẽ được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại Gia súc cái trong giai đoạn có thai đến khi đẻ xong thì chu kỳ tính không xuất hiện
- Giai đoạn sau động dục: Giai đoạn này cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục dần dần trở lại bình thường Các phản xạ động dục, tính hưng phấn dần mất hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh hoàn toàn
- Giai đoạn nghỉ ngơi: Đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính của gia súc ở thời kỳ này hoàn toàn yên tĩnh Trong thời kỳ này, cơ quan sinh dục không có biểu hiện hoạt động, trong buồng trứng thể vàng teo đi, noãn trong buồng trứng bắt đầu phát dục và lớn lên, các cơ quan sinh dục đều ở trạng thái sinh lý
* Thời điểm phối giống thích hợp
Theo Nguyễn Thiện, Nguyễn Tấn Anh (1993) [23], trứng rụng tồn tại ở trong tử cung 2 - 3 giờ và tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30 - 48 giờ Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai tính
từ lúc bắt đầu động dục cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4 Đối với lợn nái nội thì sớm hơn một ngày, vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả kém, nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm thích hợp nhất
Theo Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Quế Côi (2005) [17], một trong những yếu tố quan trọng là xác định thời điểm phối giống thích hợp Nếu phối
Trang 18giống hay dẫn tinh quá sớm hoặc quá muộn tỷ lệ thụ thai sẽ kém và nếu có thụ thai thì lợn nái sẽ đẻ ít con
2.2.2 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái
2.2.2.1 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chửa
Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chửa đóng vai trò quan trọng trong công việc sản xuất lợn con giống Mục đích và yêu cầu kỹ thuật chăn nuôi lợn nái
có chửa nhằm đảm bảo cho thai phát triển bình thường, không bị đẻ non hoặc sảy thai, mỗi lứa đẻ nhiều con, lợn con có sức sống cao, lợn mẹ phát triển một cách bình thường, dự trữ đủ chất dinh dưỡng nuôi con sau này, không bị hao mòn lớn
- Phương pháp phát hiện lợn có chửa:
Phát hiện lợn có chửa có ý nghĩa quan trọng trong sản xuất Nếu phân biệt được lợn nái có chửa một cách chính xác, kịp thời ngay sau khi phối giống sẽ có những biện pháp tác động đến việc nuôi dưỡng, chăm sóc phù hợp với quy luật phát triển của bào thai để nâng cao khả năng sinh sản của lợn nái Còn nếu lợn nái không chửa thì có kế hoạch phối giống lại kịp thời
Thời gian chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày Người ta chia thời gian chửa của lợn nái làm 2 kỳ:
+ Chửa kỳ 1: là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên
+ Chửa kỳ 2: là thời gian lợn có chửa từ ngày 85 đến khi đẻ
Việc phát hiện lợn nái chửa kỳ 2 dễ dàng hơn chửa kỳ 1 vì bào thai lúc này phát triển mạnh, bụng to và xệ hơn Trong thực tiễn có nhiều phương pháp phát hiện lợn có chửa nhanh và chính xác như phương pháp căn cứ vào chu kỳ động dục của lợn nái, dùng máy siêu âm, phương pháp đo điện trở âm đạo, phương pháp chuẩn đoán trong phòng thí nghiệm
Phương pháp căn cứ vào chu kỳ động dục của lợn nái là: Sau khi phối giống 21 ngày mà không thấy có biểu hiện động dục thì có thể coi là lợn nái
Trang 19đã có chửa Lợn nái sau khi phối giống thấy có những biểu hiện như thích ngủ, mệt mỏi, từ kém ăn chuyển sang thèm ăn, da lông ngày càng bóng mượt,
có tính thuần hơn, dáng đi nặng nề,… đó là lợn nái đã có chửa sau khi phối Ngược lại, khi quan sát thấy lợn nái sau khi ăn không chịu nằm, tai cúp, đuôi luôn ve vẩy, âm hộ có hiện tượng sung huyết thì có thể lợn nái đó chưa có chửa, cần theo dõi để phối giống lại kịp thời
- Quy luật sinh trưởng phát triển của bào thai:
+ Giai đoạn phôi thai (1 - 22 ngày): Giai đoạn này phải chú ý khâu chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý đầy đủ và khoa học Đặc điểm của giai đoạn này là hợp tử bắt đầu phân chia nhanh chóng, từ một khối tế bào hình thành các lá phôi Đồng thời ở thời kỳ này, nhau thai chưa hình thành nên cơ thể mẹ chưa có sự bảo vệ hợp tử
+ Giai đoạn tiền thai (23 - 38 ngày): Thời kỳ này nhau thai đã hình thành nên đã có sự liên hệ giữa cơ thể mẹ và con, lợn mẹ đã có thể bảo vệ được cho phôi thai của mình Giai đoạn này đang bắt đầu hình thành các cơ quan, bộ phận của cơ thể
+ Giai đoạn thai nhi (39 ngày - đẻ): Đây là giai đoạn thai nhi phát triển nhanh nhất về khối lượng và thể tích, hình thành đầy đủ các cơ quan bộ phận
và hình thành đầy đủ các đặc điểm của giống
Những biến đổi của cơ thể mẹ trong thời gian có chửa: Trong thời gian
có chửa thì sự tổng hợp vật chất của cơ thể lợn mẹ được đẩy mạnh, còn quá trình oxy hóa thì giảm tương đối Quá trình trao đổi chất và năng lượng tăng lên do sự đẩy mạnh các quá trình này ở cơ thể mẹ cũng như cơ thể phôi thai Đồng thời với quá trình trao đổi nhiệt là quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng trong cơ thể mẹ tăng dần Trong thời gian lợn nái chửa, cơ thể trao đổi chất mạnh, quá trình đồng hóa lớn hơn quá trình dị hóa Trung bình khối lượng lợn nái tăng lên ở 20 - 30 ngày cuối của thời kỳ chửa Qua nghiên cứu
Trang 20cho thấy rằng, nhiệt độ, ánh sáng, thời tiết khí hậu, chăm sóc nuôi dưỡng, mức độ dinh dưỡng,… điều kiện ngoại cảnh có ảnh hưởng rất xấu đến cơ thể lợn nái có chửa
Cường độ và thời gian tác động của mỗi yếu tố nêu trên sẽ phản ánh lên các quá trình diễn ra trong cơ thể mẹ và cơ thể phôi thai trong tất cả các giai đoạn phát triển của nó Ví dụ như: nhiệt độ môi trường tăng cao từ 21 - 28°C
sẽ làm giảm tỷ lệ thụ thai Nhất là trong trường hợp độ ẩm cao kết hợp với nhiệt độ cao cũng gây hại đến cho lợn nái
- Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái chửa:
Nuôi dưỡng lợn nái chửa cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển của bào thai, nhu cầu duy trì của bản thân lợn mẹ, đồng thời tích lũy cho sự tiết sữa nuôi con sau này Riêng đối với nái hậu bị
đẻ lứa đầu thì cần thêm dinh dưỡng cho bản thân tiếp tục lớn lên nữa
Giai đoạn chửa kỳ 1, dùng khẩu phần có tỷ lệ protein là 13 - 14%, năng lượng trao đổi không dưới 2900 Kcal/kg thức ăn Nhưng ở giai đoạn 2, mức
ăn cần phải tăng từ 15 - 20% so với giai đoạn chửa kỳ 1 Giai đoạn chửa kỳ 1, bào thai chưa phát triển, vì vậy nhu cầu dinh dưỡng chủ yếu cho lợn nái giai đoạn này là để duy trì cơ thể lợn mẹ, một phần không đáng kể để nuôi thai Giai đoạn chửa kỳ 2, tốc độ phát triển của bào thai rất nhanh, vì vậy cần cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho bào thai phát triển ở giai đoạn cuối để lợn con sinh ra đạt được khối lượng sơ sinh theo yêu cầu của cùng giống
Chúng ta cần chú ý đến các yếu tố khi xác định lượng thức ăn cho lợn nái chửa/ngày đó là: giống và khối lượng nái chửa, giai đoạn chửa, tình trạnh sức khỏe của lợn nái, thể trạng của lợn nái, nhiệt độ môi trường và chất lượng thức
ăn Ví dụ như: nái chửa kì 1 cho ăn ít hơn nái chửa kì 2, lợn nái gầy cho ăn nhiều hơn lợn nái bình thường, mùa đông khi nhiệt độ xuống duới 15°C thì cho lợn ăn
Trang 21nhiều hơn 0,3 - 0,5 kg thức ăn so với nhiệt độ 25 - 30°C để tăng khả năng chống rét cho lợn
Đối với lợn nái tơ chửa lần đầu, có thể cho ăn tăng từ 10 - 15%,vừa là cung cấp chất dinh dưỡng cho bào thai và cần cho sự phát triển của lợn mẹ
Lợn chửa cho ăn thêm rau xanh và hạn chế phần thức ăn nhiều tinh bột Trong trường hợp chăn nuôi công nghiệp không có điều kiện cho ăn rau xanh thì lúc đó cần bổ xung đầy đủ các thức ăn khoáng và VTM để tăng cường chuyển hóa thức ăn chống táo bón Giảm lượng thức ăn đạm trước khi
đẻ một tuần để phòng bệnh căng vú sau đẻ
Số bữa ăn/ngày: một ngày cho ăn hai bữa sáng, chiều Cho ăn thức ăn tinh trước, ăn rau xanh sau nếu có Cung cấp đầy đủ nước sạch cho nái chửa Nguồn thức ăn sử dụng cho lợn nái chửa: Nếu là chăn nuôi công nghiệp thì sử dụng thức ăn hỗn hợp và bổ sung thêm rau xanh càng tốt, một ngày từ
3 - 4 kg rau xanh/nái cho nái chửa kỳ 1 và từ 2 - 3 kg/nái cho nái chửa kỳ 2 Đối với lợn nái nuôi theo phương thức nhỏ, tận dụng (lợn nái nội) có thể cho
ăn các thức ăn địa phương có sẵn như ngô, cám gạo, đậu tương, bột sắn, hoặc trộn phối các loại thức ăn đậm đặc theo tỷ lệ quy định
Thức ăn của lợn nái chửa có nhu cầu phối hợp nhiều loại thức ăn, thức
ăn có phẩm chất tốt, mùi vị phải thơm ngon, không bị hôi thối, hư hỏng.Đồng thời, lúc lợn nái đẻ cần giảm số lượng thức ăn, vẫn cần duy trì đủ các chất dinh dưỡng bằng cách cho ăn các loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao.Không cho lợn nái chửa ăn những loại thức ăn bị hôi thối, mốc, thức ăn
có chất độc hoặc các chất kích thích dễ gây sảy thai như: bỗng bã rượu, lá thầu dầu, khô dầu bông Không nên sử dụng quá nhiều thức ăn khô dầu để nuôi lợn nái có chửa, sẽ tạo cho cơ bắp và mỡ lợn con biến tính, lợn con đẻ ra yếu ớt, tỷ lệ nuôi sống kém.Không cho lợn nái ăn quá nhiều thức ăn vào 30 ngày đầu sau khi phối giống có chửa, kể cả lợn nái gầy
Trang 22Cần phải làm tốt công tác bảo vệ thai, làm cho thai sinh trưởng phát, triển bình thường, tránh các tác động cơ giới gây đẻ non hoặc gây sảy thai nhất là trong giai đoạn chửa kỳ 2 Vấn đề quan trọng trong công tác chăm sóc, quản lý lợn nái chửa là phòng lợn sảy thai
Những nguyên nhân gây sảy thai có thể là nền chuồng hoặc sân chơi không bằng phẳng, trơn trượt, mấp mô, làm cho lợn bị trượt ngã, cửa ra vào chuồng quá nhỏ khiến cho lợn chen lấn xô nhau, do đánh đuổi lợn quá gấp, do tắm nước quá đột ngột hoặc quá lạnh
Trong điều kiện chăn nuôi có bãi chăn thả thì đối với lợn nái chửa kỳ 1 chú ý cho lợn nái vận động, nhất là đối với lợn nái quá béo Thực tế đã cho thấy được rằng, một cơ sở chăn nuôi khó khăn về tài chính, tiêu chuẩn và khẩu phần ăn thấp, nhưng nếu chú ý cho lợn được vận động hợp lý, chăn thả nhiều, kết hợp với một số thức ăn mà lợn tự tìm kiếm được sẽ làm cho lợn mẹ khỏe mạnh, thai sinh trưởng tốt, lợn con có sức sống cao
Thời gian vận động hợp lý là 1 - 2 tuần/ngày với 60 - 90 phút/lần, lợn nái chửa kỳ 2 thì hạn chế cho vận động Chỉ cho lợn đi lại trong sân chơi trước khi lợn đẻ 1 tuần
Chú ý những nơi có địa hình không bằng phẳng, nhièu rãnh và thời tiết xấu, thì không cho lợn vận động Trước khi vận động cho lợn uống nước đầy
đủ để lợn không uống nước bẩn ở trên bãi chăn
Tắm chải cho lợn chửa là điều rất cần thiết, lợn sẽ cảm thấy thoải mái,
có tác dụng làm sạch da, thông lỗ chân lông để làm tăng cường trao đổi chất, tuần hoàn, tạo cảm giác dễ chịu, kích thích tăng tính thèm ăn, phòng chống bệnh ký sinh trùng ngoài da Ngoài ra, điều này còn hình thành sự thân thiện giữa người và lợn tạo điều kiện cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái khi đẻ Đặc biệt vào mùa hè nóng bức, việc tắm cho lợn chửa cần tiến hành hàng ngày, ngoài các tác dụng kể trên còn có tác dụng chống nóng cho lợn chửa
Trang 23Chuồng trại phải đảm bảo đúng theo quy định cho lợn nái chửa, theo từng thời kỳ chửa Mật độ nhốt: chửa kỳ 1, mỗi lô từ 3 - 5 con; chửa kỳ 2, nhốt 1 con một lô Trong chăn nuôi công nghiệp, ở giai đoạn chửa kỳ 2 có thể nhốt mỗi con một cũi Trước khi đẻ 1 tuần cần chuyển lợn lên cũi đẻ
Yêu cầu chuồng trại phải đảm bảo yêu cầu vệ sinh thú y, khô ráo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông
Cần tạo không khí thoải mái cho lợn chửa nghỉ ngơi, dưỡng thai, không gian yên tĩnh, không gây tiếng ồn xáo trộn không cần thiết có ảnh hưởng xấu đến lợn
Mỗi nái chửa cần có một phiếu theo dõi về hình thức chửa như thời gian chửa, những biến cố xảy ra trong quá trình mang thai, nguy cơ sảy thai,
tỷ lệ chết thai,… để có biện pháp xử lý đề phòng
Bên cạnh đó thì chúng ta phải chú trọng đến công tác thú y đối với lợn nái chửa Ô chuồng cần được cọ rửa sạch, phun sát trùng bằng thuốc sát trùng crezin 5% hoặc bằng loại thuốc sát trùng khác trước khi chuyển lợn nái sang chuồng đẻ
Trước khi đẻ 10 ngày cần tẩy nội ngoại ký sinh trùng cho lợn nái
Mỗi ngày, quan sát và phát hiện những biểu hiện không bình thường của lợn, kiểm tra sức khỏe, đo thân nhiệt xem có nóng, sốt không để có biện pháp can thiệt kịp thời
Quy trình tắm ghẻ: Thường xuyên quan sát, phát hiện ghẻ để điều trị kịp thời 14 ngày trước ngày dự kiến đẻ, tắm lần thứ nhất cho lợn, sau đó 7 ngày tắm lần thứ hai Đây là điều kiện bắt buộc để dự phòng lợn mẹ bị ghẻ rồi lây truyền sang lợn con ngay từ khi mới sinh
Cần tiêm vắc xin E coli cho lợn nái chửa vào lúc 6 tuần và 2 tuần trước
khi đẻ, liều lượng 2 ml/con, tiêm bắp
Trang 24Lợn nái được đưa từ chuồng bầu sang chuồng đẻ từ 5 - 7 ngày so với ngày đẻ dự kiến
2.2.2.2 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái đẻ và nuôi con
Mục đích của chăn nuôi lợn nái nuôi con là áp dụng các biện pháp khoa học để tăng sản lượng sữa mẹ, đảm bảo cho lợn mẹ có sức khỏe tốt Lợn con sinh trưởng phát triển nhanh, đạt số con sau cai sữa và khối lượng cai sữa cao Lợn nái chóng được phối giống trở lại sau khi tách con
Các loại thức ăn như là thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại
củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột
mỳ, các loại củ quả đạm động vật, các loại khoáng, VTM,…là những thức ăn
có ảnh hưởng tốt đến sản lượng sữa và chất lượng sữa của nái nuôi con
Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, hư hỏng, biến chất Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ năng lượng, protein và các thành phần VTM, kháng sinh theo đúng quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal; protein 15%; Ca từ 0,9 - 1,0%; P 0,7%
Ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn
mẹ Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết của sữa lợn mẹ Trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:
- Đối với lợn nái ngoại
+ Ngày cắn ổ đẻ: cho uống nước tự do, cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn
+ Sau ngày đẻ thứ 1, thứ 2 và thứ 3 cho thức ăn hỗn hợp với lượng thức
ăn từ 1- 2 - 3kg tương ứng
+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: cho lợn ăn 4 kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày
Trang 25+ Từ ngày thứ 8 đến ngày cai sữa cho lợn mẹ ăn theo công thức tính: lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg + (số con x 0.35 kg/con)
+ Số bữa ăn trên ngày: 2 bữa (sáng, chiều)
+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg; lợn mẹ béo thì bớt đi 0,5 kg thức ăn/ngày
+ Một ngày trước khi cai sữa, cho lợn mẹ ăn giảm đi 20 - 30%
+ Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn
+ Đối với những lợn nái có số con lớn hơn 10, đàn con mập, lợn mẹ gầy thì cho lợn mẹ ăn theo khả năng (không hạn chế) bằng cách tăng số bữa ăn/ngày cho lợn mẹ
- Đối với lợn nái nội
Công thức tính nhu cầu thức ăn cho lợn nái nội nuôi con/1 ngày đêm: + Lợn nái nội có khối lượng cơ thể dưới 100 kg, mức ăn trong 1 ngày đêm được tính như sau:
Thức ăn tinh = 1,2 kg + (số lợn con theo mẹ x 0,18 kg)
Thức ăn thô xanh: 0,3 đơn vị
+ Lợn nái nội có khối lượng 100 kg trở lên, mức ăn cho 1 ngày đêm giai đoạn nuôi con được tính như sau:
Thức ăn tinh = 1,4 kg + (số con theo mẹ x 0,18 kg)
Thức ăn thô: 0,4 đơn vị
Định mức ăn cho một lợn nái nội nuôi con/1 ngày đêm
* Kỹ thuật cho ăn
- Lợn nái nuôi con trong thời gian mới đẻ mỗi bữa cho ăn một ít một, nhưng cho ăn làm nhiều lần, thường một ngày cho ăn 3 - 4 bữa Chia đều khoảng cách giữa các bữa với nhau
- Cho ăn đúng giờ, đúng tiêu chuẩn quy định
- Cung cấp đủ nước uống cho lợn nái nuôi con
Trang 26- Khi chuyển sang dùng thức ăn cho giai đoạn nuôi con, ta phải thay dần dần, để tránh gây ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa do thay đổi thức ăn
- Chú ý theo dõi khả năng ăn và tình trạng sức khỏe của lợn nái để có biện pháp can thiệp kịp thời
* Kỹ thuật chăm sóc và quản lý
- Vận động: là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh chóng hồi phục sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa mẹ Vì vậy, sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, dần tăng số giờ vận động lên về sau Khi thời tiết xấu thì không cho vận động, khi cho vận động chú ý đề phòng cảm lạnh, bẩn vú, những lợn nái có vú quá sệ thì chỉ cho vận động trong sân chơi Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các cũi đẻ, không được vận động, vì vậy phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt là các khoáng và VTM
- Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt, máng ăn cũng phải đc cọ rửa thường xuyên Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp
là 18 - 24°C, ẩm độ là 70 - 75% Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con
Diện tích chuồng cho lợn nái nuôi trên nền cứng là 4 - 5 m chuồng/1 lợn nái và 15 m sân chơi/1 lợn nái Còn đối với lợn công nghiệp nuôi trên chuồng sàn thì kích thước 2,4 m x 1,6 m; với mỗi cũi cho lợn mẹ trong chuồng có kích thước từ 2,2 - 2,4 m x 0,7 m
Trang 27Từ nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng và cs 2003 [10] cho thấy: Do dụng
cụ thụ tinh nhân tạo cứng trong uqá trình thụ tinh ko cẩn thận gây xây xát và tạo ra các ổ viêm nhiễm trong âm đạo tử cung Do tinh dịch bị nhiễm khuẩn
và dụng cụ thụ tinh không vô trùng đã đưa vi khuẩn vào gây viêm nhiễm bộ phận sinh dục của lợn nái Do lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật, khi nhảy trực tiếp sẽ truyền sang lợn nái
Nguyên nhân gây ra bệnh viêm tử cung chủ yếu là do vi khuẩn tụ cầu
vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E coli,…( Đoàn Thị Kim
Dung, Lê Thị Tài (2002) [6]
Kết quả theo dõi của Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [12], cho ta biết, trong quá trình mang thai lợn ít được vận động lại ăn nhiều chất dinh dưỡng nên cơ thể béo dẫn đến khó đẻ Hoặc do thiếu chất dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại được vi trùng gây bệnh cũng gây nên viêm Cũng có khi nái bị nhiễm một số bệnh truyền nhiễm
như: bệnh xoắn khuẩn (Leptospirosis), sảy thai truyền nhiễm (Brucellosis), Parvovines và một số bệnh truyền nhiễm khác làm cho cơ thể lợn nái yếu dần
dẫn đến việc sảy thai, thai chết lưu gây viêm tử cung, đẻ non
Theo Lê Văn Năm (1999) [15] cho rằng, có rất nhiều nguyên nhân từ ngoại cảnh gây bệnh như: Do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiệp đỡ đẻ bằng dụng cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuật dẫn đến muxin của chất nhầy
Trang 28các cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủa, kết hợp với việc thiếu sự vận động và chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý đã dẫn đến làm chậm quá trình thu teo sinh lý của dạ con (trong điều kiện cai sữa bình thường, dạ con trở về khối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ) Đây là điều kiện tốt để vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây bệnh
Lợn đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc bằng dụng cụ trợ sản, thao tác của người thực hiện không đảm bảo mặt kỹ thuật làm tổn thương cổ tử cung
bị xây xát, tạo điều kiện cho vi khuẩn bên ngoài xâm nhập vào gây viêm Lợn nái không được vệ sinh sạch sẽ trước và sau khi đẻ, để nền, sàn chuồng bẩn, dây rốn lợn con và nhau thai nhiễm trùng rồi co thụt vào gây viêm tử cung, sót nhau (Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Quế Côi (2005) [17])
- Triệu chứng:
Nguyễn Văn Thanh (2007) [19] cho biết: khi lợn nái bị viêm các chỉ tiêu lâm sàng như tần số hô hấp, thân nhiệt đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật lên xuống: sáng sốt nhẹ 39 - 39,5°C; chiều 40 - 41°C Con vật kém ăn, sản lượng sữa giảm, có khi con vật cong lưng rặn như rặn đái Từ cơ quan sinh dục chảy ra niêm dịch lẫn nhiều lợn cợn, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ Khi nằm lượng niêm dịch chảy ra nhiều hơn Trong trường hợp thai chết lưu âm đạo đỏ, sưng tấy, có chứa dịch tiết màu vàng sẫm, nâu và
có mùi hôi thối Xung quanh âm hộ và mép đuôi dính bết niêm dịch, có khi niêm dịch khô, đóng thành vẩy trắng, lợn nái mệt mỏi đi lại khó khăn
Viêm tử cung ở lợn nái có các thể sau:
+ Thể nhẹ (+) gọi là viêm tử cung nhờn: thân nhiệt bình thường, có khi hơi cao 39 - 39,5°C Lợn kém ăn, có dịch tiết ra từ âm hộ, 12 - 72 giờ sau đẻ, dịch lỏng có màu trắng đục hoặc xanh dạng sợi mùi hôi tanh Thể viêm này ít ảnh hưởng đến sản lượng sữa của lợn mẹ
Trang 29+ Thể vừa (++) thuộc dạng viêm tử cung mủ: thân nhiệt cao 39,5 - 40°C Lợn ăn ít hoặc bỏ ăn, hay nằm lỳ Khi nằm có dịch từ âm hộ chảy ra màu vàng xen lẫn mủ trắng đục, mùi tanh thối
Khi soi đường sinh dục, vùng âm đạo có dính váng mủ, niêm mạc có vùng nhạt đỏ không đều, niêm dịch chảy từ cổ tử cung ra có mùi hôi thối + Thể nặng (+++) thuộc dạng viêm tử cung mủ: thân nhiệt của lợn nái tăng cao 39,5 - 40°C Lợn ủ rũ, hay nằm, bỏ ăn, dịch tiết ra từ âm hộ mùi tanh thối có dạng mủ xanh vàng sệt, có khi lẫn máu
Niêm mạc âm đạo nhợt nhạt, nhiều mủ đặc dính lại, cổ tử cung hơi mở,
có mủ trắng đục chảy ra, mùi hôi thối Trạng thái này xuất hiện chậm 7 - 8 ngày sau khi lợn đẻ Bệnh có ảnh hưởng đến sản lượng sữa
Quá trình viêm xảy ra trong giai đoạn có chửa là do biến đổi bệnh lý trong cấu trúc của niêm mạc (teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa niêm mạc,…) dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ giữa dạ con và bào thai, nên qua các chỗ tổn thương, vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm cho bào thai phát triển không bình thường
Trang 30- Chẩn đoán:
Trong trường hợp lợn nái mắc bệnh ở thể ẩn, khó phát hiện có thể chẩn đoán lúc động hớn qua số lượng niêm dịch chảy ra nhiều, đôi khi có những đám mủ từ khe sinh dục ngoài chảy ra Ngoài ra, lợn nái mắc bệnh thường khó thụ thai
Ngoài ra, có thể tìm muxin trong dịch nhầy từ âm hộ chảy ra rồi cho vào 1ml dung dịch axit axetic 1% (hay dấm) Nếu cho phản ứng dương tính (+), muxin kết tủa, khi đó lợn mắc bệnh, nếu ngược lại muxin không kết tủa (-) thì lợn không mắc bệnh (Lê Văn Năm, 1999) [15]
- Điều trị
+ Điều trị cục bộ: thụt rửa tử cung bằng các loại dung dịch nước muối
0,9%; KMnO4 0,01% hoặc rivanol 0,1%; sau đó thụt vào tử cung một trong các loại thuốc kháng sinh sau: penicillin, streptomycin, tetramyxin,…
+ Điều trị toàn thân:
Tiêm oxytocin 2 - 3 ml/con/ngày Ngày 2 lần, tiêm trong 2 ngày
Kháng sinh: ceftionel 10 ml/con, tiêm trong 2 - 3 ngày, kết hợp với thuốc trợ lực: VTM C, B - complex, Anagin - C,…
Phạm Sỹ Lăng và cs (2003) [11] cho biết, thì sử dụng kháng sinh tổng hợp có tác dụng cao Oxytetracylin có tác dụng rộng với cả vi khuẩn Gram (-)
và vi khuẩn Gram (+), đặc biệt là có tác dụng mạnh với nhóm vi khuẩn: E coli, tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn yếm khí, xoắn khuẩn
Ngoài oxytetracylin thì penicillin bán tổng hợp cũng có tác dụng với hầu hết các vi khuẩn Gram (-) và Gram (+)
2.2.3.2 Bệnh viêm vú
- Nguyên nhân:
Trang 31Theo Trần Minh Châu (1996) [3] cho biết: khi lợn nái đẻ, nếu nuôi
không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn, Mycoplasma, các cầu khuẩn,
vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây ra bệnh viêm vú
Một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp, không giảm khẩu phần ăn trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ, lợn con không
bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm như: E coli, Streptococcus, Staphylococcus, Klebsiella spp
- Triệu chứng:
Bình thường bệnh viêm vú thường xảy ra ngay sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 7 - 10 ngày có con đến một tháng Theo Cao Văn, Hoàng Toàn Thắng (2006) [21], viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú, nhưng đôi lúc cũng lan
ra toàn bộ các vú Vú có màu hồng, sưng đỏ, hơi cứng,sờ vào thấy nóng, ấn vào lợn bị đau
Lợn giảm ăn, nếu bị nặng bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42°C Lượng sữa giảm,
ít cho con bú, lợn nái thường úp đầu vú xuống sàn
Lợn con kêu la vì thiếu sữa, chạy vòng quanh mẹ đòi bú, xù lông, ỉa chảy, gầy nhanh, tỷ lệ chết cao từ 30 - 100% (Lê Hồng Mận, 2004) [13] Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện các cục casein màu vàng, xanh lợn cợn có mủ đôi khi có máu
Theo Đỗ Quốc Tuấn (1999) [25], viêm vú được chia thành các thể sau: + Thể thanh dịch: Tuyến vú bị xung huyết, dịch tiết ra nhiều, nước viêm thải ra thấm các nang sữa làm quá trình lưu thông mạch máu và lâm ba bị trở ngại
Lá vú sưng to, có khi cả bầu vú Lúc đầu sữa biến đổi không rõ sau sữa loãng, chất lượng sữa giảm
Trang 32+ Thể cata: Trong nang sữa có chứa nhiều dịch rỉ viêm, tế bào biểu bì phình to ra, bị thoái hóa và bong ra Vắt sữa có những cục màu xanh hay vàng nhạt, sờ bầu vú thấy nóng
+ Thể Fibrin: Lúc đầu lá vú chứa nhiều nước vàng fibrinogen và tế bào chết Fibrinogen dưới tác dụng của men do tế bào bị tổn thương tiết ra sẽ biến thành fibrin Khi vắt sữa có một ít dịch màu vàng chứa fibrin và cục casein bị đông vón Nhiệt độ cơ thể lên tới 40 - 42°C, vú viêm sung, sờ thấy đau
+ Thể cata có mủ: Trong nang sữa và ống dẫn có hồng cầu, mủ và tế bào hoại tử Sữa mất hẳn, thể tích vú tăng, màu đỏ Con vật có triệu chứng toàn thân: Sốt cao, hô hấp và tuần hoàn tăng
+ Thể áp xe: Trong tuyến vú xuất hiện một hay nhiều bọc áp xe to hay nhỏ nằm sát dưới da hay ở sâu bên trong Sau đó bọc mủ phát triển to nổi rõ ở dưới da Con vật ngừng tiết sữa, vắt ra có đầy mủ, máu và casein
+ Thể plegemol: Là loại viêm tích mủ dưới da và tổ chức liên kết của lá
vú Thường do kế phát từ viêm gan cata và viêm có mủ Lượng sữa ít, có nhiều gạch nhỏ, sờ bầu vú thấy nóng, con vật sốt, nhịp tim và mạch rối loạn + Thể có màu: Là loại viêm cấp tính Thường kế phát từ viêm thanh dịch, cata hay viêm phúc mạc Tuyến vú bị chấn thương, các tế bào tuyến sữa
bị thấm dịch và hồng cầu Da vú có đám đỏ, vắt sữa con vật thấy đau Sữa loãng, màu hồng hay đỏ, con vật sốt cao 40 - 41°C
- Hậu quả:
Nghiên cứu của Vũ Đình Vượng, (1999) [28] cho biết:
Nếu viêm vú ở thể nhẹ, điều trị kịp thời thì nái nuôi con vẫn bị giảm lượng sữa, còn nếu nặng ở dạng vú hoại tử thì phần lớn các tổ chức ở tuyến
vú bị hoại tử do các loại vi khuẩn gây hoại tử xâm nhập qua vết thương, nếu
bị huyết nhiễm trùng hay nhiễm mủ thì bệnh khó chữa, con vật có thể chết
Có thể thấy hậu quả của viêm vus cũng rất nặng nề
Trang 33Đánh giá của tác giả Nguyễn Xuân Bình (1996) [1] cũng khẳng định: Lợn nái mất sữa sau khi đẻ con kế phát từ viêm vú, viêm tử cung do khi viêm
cơ thể mẹ thường hay sốt liên tục 2 - 3 ngày, mất nước, nước trong tế bào và
mô bào bị giảm, ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là sự hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm, dần dần dẫn đến mất sữa Khả năng phục hồi chức năng tiết sữa bị hạn chế thường xảy ra ở các lứa đẻ tiếp theo
- Điều trị:
+ Điều trị cục bộ: Giảm đau bầu vú bằng cách chườm nước đá lạnh vào
để giảm sưng, giảm đau hoặc phong bế bầu vú bằng novocain 0,25 - 0,5%,
mỗi ngày vắt cạn vú viêm 4 - 5 lần tránh lây sang vú khác
+ Điều trị toàn thân: Sử dụng một số loại kháng sinh như: pendistrep, penicillin, ampicillin, lincomycin, tetramycin,… đều đạt kết quả tốt
2.2.3.3 Bệnh sót nhau
- Nguyên nhân
Lợn nái bị viêm niêm mạc tử cung nên sau khi đẻ nhau bị sót không
ra hết, vội vàng can thiệp, thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau bị đứt và sót lại Ngoài ra, do lợn nái quá già, đẻ nhiều đuối sức, tử cung co bóp kém không đẩy được nhau ra
Trịnh Đình Thâu, Nguyễn Văn Thanh (2010) [22], sau khi đẻ tử cung
co bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật không được vận động thích hợp Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là P và
Ca Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá béo hoặc quá gầy, chửa quá nhiều thai, thai quá to, đẻ khó, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức
+ Kế phát sau các bệnh khó đẻ khác
+ Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là bệnh sẩy thai truyền nhiễm, hoặc do cấu tạo của nhau
- Triệu chứng
Trang 34Căn cứ vào mức độ sát nhau người ta chia ra làm 2 loại:
+ Sót nhau hoàn toàn: toàn bộ nhau thai nằm lại trong tử cung Khi mắc thường là có một phần treo lơ lửng ở mép âm môn
+ Sót nhau không hoàn toàn: Đối với động vật đa thai một số nhau ra ngoài, một số nhau còn sót lại trong tử cung con mẹ Ở động vật đơn thai, một phần màng nhau còn dính lại trong tử cung con mẹ
Con vật đứng nằm không yên, nhiệt độ hơi tăng, thích uống nước, sản dịch chảy ra màu nâu Để dễ phát hiện có sót nhau hay không khi đỡ đẻ cho lợn người ta thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếm số nhau ra và số lợn con lúc đó như thế nào sẽ phát hiện lợn con có sót nhau hay không
- Điều trị
Theo Trịnh Đình Thâu, Nguyễn Văn Thanh 2010 [22] cho biết: Khi nái
có biểu hiện bị bệnh can thiệp kịp thời, không để quá muộn sẽ gây ra viêm tử cung, can thiệp cần có kỹ thuật tránh những tổn thương, không quá mạnh tay Tiêm oxytocin dưới da để kích thích co bóp tử cung cho nhau còn sót lại đẩy
ra ngoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nước muối sinh lý 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Những năm gần đây ngành chăn nuôi lợn ở nước ta phát triển mạnh mẽ,
số lượng đàn lợn tăng lên không ngừng, song song với điều đó là tình hình dịch bệnh cũng tăng, đặc biệt là bệnh sinh sản Trong khi đó nhiều người chăn nuôi chưa được chuẩn bị đầy đủ các kiến thức, kũ thuật cần thiết nên năng suất chăn nuôi chưa cao
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2015) [20], cho biết: bệnh sinh sản có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của đàn lợn nái, nó làm giảm sức
Trang 35sinh sản của lợn nái mà còn có thể hơn thế là làm mất đi khả năng sinh sản, sinh sản chậm hay làm giảm khả năng sống sót của lợn con
Từ kết quả nghiên cứu của Quách Thị Diễm (2016) [5], khi nghiên cứu khả năng sản xuất của hai tổ hợp lai giữa đực Pidu x nái F1 (LY) và đực Duroc x nái F1 (LY) nuôi tại trại chăn nuôi lợn nái sinh sản Sư Đoàn 3, Lạng Giang, Bắc Giang cho biết: khả năng sinh sản của lợn nái F1 (LY) về các chỉ tiêu số con đẻ ra, số con đẻ ra sống, số con cai sữa, tỷ lệ sống, tỷ lệ nuôi sống, cũng như khối lượng bình quân/con, khối lượng toàn ổ khi sơ sinh, cai sữa ở lứa đẻ thứ 4 và lứa đẻ thứ 5, tổ hợp lai PiDu x F1(LY) và tổ hợp lai Duroc x F1(LY) là tương đương nhau và đều có các chỉ tiêu về sinh sản khá tốt
Kết quả theo dõi của Lường Tuấn Nhã (2016) [16] cho biết, lợn nái địa phương và lợn nái Móng Cái nuôi tại thành phố Bắc Kạn có tuổi động dục lần đầu là 263,30; 180,40; tuổi phối giống lần đầu 290,40; 209,35 và tuổi đẻ lứa đầu (404,80; 323,30) mang đúng đặc trưng của từng giống, trong đó lợn nái địa phương thành thục về tính muộn hơn lợn nái Móng Cái Lợn nái Móng Cái nuôi tại thành phố Bắc Kạn có số con đẻ ra/lứa cao hơn lợn nái địa phương của thành phố Bắc Kạn (10,26 so với 6,37 con/lứa), đồng thời khả năng nuôi con tốt hơn (Tỷ lệ nuôi sống đến 60 ngày tuổi đạt 92,58% so với 83,41% tương ứng với từng giống lợn)
Theo Trịnh Văn Tuấn (2015) [26], lợn nái ngoại sinh sản có tỷ lệ mắc bệnh ở cơ quan sinh dục cái tương đối cao 30% Bệnh ở tử cung chiếm tỷ lệ cao nhất 62,50% trong các bệnh ở cơ quan sinh dục cái, tiếp theo là bệnh ở buồng trứng, ống dẫn trứng chiếm 21,87%; bệnh ở âm môn, tiền đình, âm đạo
là thấp nhất 15,63%
Nguyễn Xuân Bình (2005) [2] cho biết, bệnh viêm tử cung xảy ra ở những thời điểm khác nhau, nhưng thường xảy ra nhiều nhất vào thời gian sau đẻ 1
- 10 ngày