1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng phương pháp tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động tại công ty sợi thuộc tổng công ty cổ phần dệt may hòa THỌ

93 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động ABC – Activity BasedCosting với việc lựa chọn những tiêu thức phân bổ nguồn lực hợp lý, sử dụng một hệ thống các tiêu thức phân bổ đượ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình hội nhập kinh tế hiện nay, đã mở ra nhiều cơ hội phát triểncho các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam ta nói riêng, song nó cũng tạo ranhiều thách thức, đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến và đổi mới đểtồn tại và phát triển

Để giúp cho doanh nghiệp có thể tồn tại một cách vững chắc, các nhà quảntrị cần nhận thức rõ vai trò của chi phí phát sinh trong doanh nghiệp mình Chi phí

và giá thành là nhân tố quan trọng trong quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh củanhà quản trị Chi phí và giá thành ảnh hưởng đến lợi nhuận, sự tồn tại và phát triểncủa doanh nghiệp Vì vậy, việc tổ chức công tác kế toán sao cho xác định chi phí vàgiá thành sản phẩm được chính xác là vấn đề rất quan trọng trong quản lý

Công ty Sợi thuộc Tổng công ty CP Dệt may Hòa Thọ, sản phẩm chủ yếu làsợi với nhiều đặc điểm và quy cách khác nhau Việc quyết định sản xuất loại sợinào, đồng ý sản xuất đơn đặt hàng nào, từ chối đơn đặt hàng nào, giá bán từng loạisợi là bao nhiêu?… ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của Công ty, màthông tin làm cơ sở cho việc ra quyết định này chính là giá thành được xác định chomỗi loại sản phẩm sợi

Phương pháp tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động (ABC – Activity BasedCosting) với việc lựa chọn những tiêu thức phân bổ nguồn lực hợp lý, sử dụng một

hệ thống các tiêu thức phân bổ được xây dựng trên cơ sở phân tích mối quan hệnhân quả giữa chi phí phát sinh cho từng hoạt động và mức độ tham gia của từnghoạt động vào quá trình sản xuất và kinh doanh sản phẩm, được các nước phát triểnxem đó là sự lựa chọn tối ưu trong việc nâng cao chất lượng thông tin về chi phí choviệc ra quyết định liên quan đến từng loại sản phẩm…

Trong một mức độ nào đó, nghiên cứu và vận dụng phương pháp ABC trongviệc tính giá thành sản phẩm sợi là một trong những giải pháp góp phần nâng caohiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường của Công ty

Bên cạnh việc cung cấp thông tin chính xác về giá thành, phương pháp ABC

Trang 2

còn cung cấp thông tin chi tiết về cơ cấu chi phí của từng sản phẩm, về quá trình vànguyên nhân phát sinh chi phí Việc hiểu rõ quá trình và nguyên nhân phát sinh chiphí không chỉ giúp nhà quản trị tìm ra biện pháp thích hợp để cắt giảm chi phí màcòn giúp cho nhà quản lý có thể xây dựng được cơ chế đánh giá và khuyến khíchnhân viên phù hợp, góp phần quan trọng nâng cao hiệu suất làm việc của nhiênviên, qua đó, cải thiện hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hơn nữa,những thông tin do phương pháp ABC cung cấp, giúp cho nhà quản lý có thể linhhoạt hơn trong việc lập kế hoạch ngân sách cũng như điều chỉnh các chính sách,chiến lược sản phẩm của Công ty trong điều kiện thị trường luôn biến động, và từ

đó đưa ra những quyết định kinh doanh đúng đắn, tối đa hóa được lợi nhuận

Đã có rất nhiều nghiên cứu về phương pháp ABC nói chung và nghiên cứuvận dụng phương pháp này vào trong các lĩnh vực khác nhau như: sản xuất, dịchvụ…nói riêng Tuy nhiên, đến nay, hầu như chưa có một nghiên cứu nào nghiêncứu vận dụng phương pháp ABC tại các doanh nghiệp kinh doanh và sản xuất sợi,mặc dù, đã có một cơ sở lý luận tương đối hoàn chỉnh về phương pháp ABC và sốlượng doanh nghiệp sản xuất sợi ngày càng gia tăng trên thị trường

Xuất phát từ những yêu cầu về lý luận cũng như thực tiễn, đề tài đã đi sâunghiên cứu phương pháp tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động và qua đó nghiêncứu vận dụng phương pháp này tại Công ty Sợi thuộc Tổng công ty cổ phần dệtmay Hòa Thọ Qua nghiên cứu thực trạng công tác tính giá thành tại Công ty Sợi,nhận thấy chi phí sản xuất chung tại Công ty chiếm tỷ trọng tương đối cao trong giáthành sản phẩm, tỷ trọng này có xu hướng gia tăng bởi điều kiện sản xuất ngày càngđược nâng cao Tuy nhiên, việc tập hợp chi phí sản xuất chung tại Công ty đượcthực hiện theo từng phân xưởng và tiến hành phân bổ chi phí sản xuất chung chỉdựa trên một tiêu thức phân bổ đó là số sản phẩm hoàn thành quy về chi số NE30,

do đó, việc tính giá thành cho từng sản phẩm sợi sẽ không phản ánh chính xác đượcnhững chi phí thực tế kết tinh trong mỗi đơn vị sản phẩm, dẫn đến công tác định giábán, ra các quyết định sản xuất của nhà quản trị sẽ không hợp lý Xuất phát từ lý do

đó, tác giả đã nghiên cứu vận dụng phương pháp ABC tại Công ty Sợi thuộc Tổng

Trang 3

Công ty cổ phần Dệt may Hòa Thọ nhằm hoàn thiện công tác tính giá thành, làm cơ

sở để nhà quản trị lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu nhất, nâng cao khả năngcạnh tranh về giá đối với sản phẩm sợi tại Công ty, giúp Công ty vững bước trêncon đường kinh doanh của mình

Đề tài sẽ giới thiệu khái quát cơ sở lý luận về phương pháp ABC, trình bàykinh nghiệm vận dụng phương pháp ABC ở các nước trên thể giới cũng như sự vậndụng phương pháp này ở Việt Nam nói chung và doanh nghiệp sợi nói riêng; nghiêncứu, tìm hiểu về mối quan hệ giữa Tổng công ty cổ phần Dệt may Hòa Thọ vớiCông ty Sợi, cơ cấu quản lý, tổ chức sản xuất, tổ chức công tác kế toán, thực trạngcông tác tính giá thành tại Công ty Sợi và đề xuất vận dụng phương pháp ABC tạiCông ty Sợi thuộc Tổng công ty cổ phần Dệt may Hòa Thọ nhằm khắc phục nhữnghạn chế của phương pháp tính giá thành mà Công ty đang áp dụng Phân tích nhữngthuận lợi, khó khăn và nêu lên những vấn đề mà Công ty Sợi cần phải hoàn thiện để

có thể vận dụng thành công phương pháp ABC, cũng như trình bày tác dụng củaviệc vận dụng phương pháp ABC trong công tác quản trị chi phí tại Công ty

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Nghiên cứu thực trạng công tác tính giá thành tại Công ty Sợi thuộc Tổng

Công ty cổ phần dệt may Hòa Thọ Qua đó, đề xuất vận dụng phương pháp tính giáthành dựa trên cơ sở hoạt động vào Công ty nhằm góp phần nâng cao hiệu quả côngtác kế toán chi phí và tính giá thành, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lýcủa Công ty

3 Câu hỏi nghiên cứu:

- Thực trạng công tác tính giá thành tại Công ty Sợi thuộc Tổng Công ty cổphần Dệt may Hòa Thọ hiện nay như thế nào?

- Những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng phương pháp tính giá thành dựatrên cơ sở hoạt động tại Công ty Sợi thuộc Tổng công ty cổ phần Dệt may HòaThọ?

- Tác dụng của việc áp dụng phương pháp ABC trong quản trị chi phí ởCông ty Sợi thuộc Tổng công ty cổ phần Dệt may Hòa Thọ?

Trang 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Việc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành tại Công ty Sợi là khá phứctạp, nên để đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu và dung lượng của đề tài, tác giả xinđơn giản bớt phần thủ tục chứng từ, tài khoản kế toán, định khoản, mà chỉ trình bày

kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành thông qua các bảng biểu cũng như cách lựachọn tiêu thức phân bổ chi phí tại Công ty, tập trung nghiên cứu các báo cáo kếtoán, bảng biểu, quy trình sản xuất tại Công ty Sợi

- Phạm vi nghiên cứu:

Công ty Sợi thuộc Tổng công ty CP Dệt may Hòa Thọ

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vậtbiện chứng và sử dụng các phương pháp cụ thể như: Phương pháp điều tra (phỏngvấn trực tiếp những người có liên quan như: kế toán viên, trưởng ca…), quan sátquá trình sản xuất tại các nhà máy, phương pháp khai thác số liệu thứ cấp (sử dụng,phân tích các tài liệu, nghiên cứu trước đây như: sách, báo, tạp chí…viết về phươngpháp ABC, các sổ sách, các báo cáo của Công ty…)

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

- Ý nghĩa khoa học:

Đề tài đi sâu nghiên cứu và phần nào làm rõ hơn cơ sở lý luận về phươngpháp tính giá thành còn khá mới mẻ đối với các doanh nghiệp Việt Nam, đó làphương pháp tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động Nghiên cứu vận dụng phươngpháp ABC vào công ty sợi, đây là một vấn đề mà trước đây, hầu như chưa có mộtnghiên cứu nào Qua đó, đề xuất một phương pháp tính giá thành mới có thể vậndụng thành công vào các doanh nghiệp sợi

- Ý nghĩa thực tiễn:

Đề tài nghiên cứu vận dụng một phương pháp tính giá thành mới (phươngpháp ABC) tại Công ty Sợi thuộc Tổng công ty cổ phần Dệt may Hòa Thọ, nhằm

Trang 5

đảm bảo công tác tập hợp, phân bổ chi phí và tính giá thành từng loại sản phẩm tạiCông ty được chính xác và hợp lý hơn.

7 Kết cấu đề tài:

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về phương pháp tính giá thành dựa trên cơ sở hoạtđộng

Chương 2: Thực trạng công tác tính giá thành tại Công ty Sợi thuộc Tổngcông ty Cổ phần Dệt may Hòa Thọ

Chương 3: Vận dụng phương pháp tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt độngvào Công ty Sợi thuộc Tổng công ty Cổ phần Dệt may Hòa Thọ

Trang 6

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Đề tài tập trung nghiên cứu về phương pháp tính giá thành dựa trên cơ sởhoạt động và vận dụng phương pháp này tại Công ty Sợi thuộc Tổng công ty cổphần Dệt may Hòa Thọ Vì vậy, tác giả tập trung thu thập, tìm kiếm thông tin, tàiliệu từ nhiều nguồn khác nhau như: các giáo trình, luận văn, các bài báo, tạp chí kếtoán, các tài liệu tiếng anh, trên các phương tiện tìm kiếm hiện đại như google…viết

về phương pháp ABC nhằm cung cấp một lượng thông tin cần thiết, giúp tác giảhiểu rõ hơn về phương pháp ABC, nắm rõ được cơ sở lý luận làm cơ sở cho việcđánh giá phương pháp tính giá thành đang áp dụng tại Công ty Sợi, từ đó phân tíchnhững thuận lợi, khó khăn của Công ty khi áp dụng phương pháp ABC và đề xuấtvận dụng phương pháp này nhằm hoàn thiện công tác tính giá thành tại Công ty

Giáo trình Kế toán quản trị của tác giả Đặng Kim Cương, giáo trình Kế toánquản trị của tác giả Huỳnh Lợi, Giáo trình kế toán quản trị của GS TS Trương BáThanh, giáo trình Kế toán quản trị của PGS.TS Phạm Văn Dược… những giáo trìnhnày đều giới thiệu một cách khái quát về phương pháp ABC, từ đó, giới thiệu mộtcách cụ thể về nội dung phương pháp ABC từ bước Phân tích hoạt động và xác địnhcác nguồn lực được sử dụng cho từng hoạt động , phân bổ chi phí nguồn lực chocác hoạt động, chọn lựa nguồn sinh phí phát sinh tương ứng với từng hoạt động, xácđịnh chi phí hoạt động cho từng sản phẩm đến bước cuối cùng là tính giá thành sảnphẩm Các giáo trình cũng trình bày các phương pháp thu thập số liệu khi vận dụngphương pháp tính giá thành này Từ đó, giúp tác giả có những hiểu biết một cáchkhái quát về phương pháp ABC

Những tài liệu tác giả thu thập được là những tài liệu giới thiệu từ khái quátđến cụ thể về phương pháp ABC và vận dụng phương pháp ABC vào các công tykhác nhau Bài báo Áp dụng phương pháp tính chi phí theo hoạt động (ABC) chocác doanh nghiệp nhỏ của tác giả Nguyễn Thu Hà năm 2008; Bàn thêm về phươngpháp tính chi phí theo hoạt động của Thạc sĩ Phạm Rin trên tạp chí kế toán ngày19/11/2006…, đã phân tích được những điều kiện, những ưu điểm, hạn chế khi ápdụng phương pháp ABC đây cũng là một cơ sở để tác giả nghiên cứu, tham khảo và

Trang 7

vận dụng vào đề tài của mình Các bước thực hiện phương pháp ABC, đặc biệt làphương pháp ước đoán trong quá trình thu thập thông tin được thay thế hoàn toànbằng những dữ liệu thực tế mà bài báo này đưa ra làm cơ sở để tác giả vận dụng vàoCông ty Sợi, phương pháp ước đoán này giúp cho Công ty tiết kiệm được mộtkhoản chi phí tương đối lớn trong công tác thu thập thông tin, giảm đi đáng kểnhững rủi ro của việc chuyển đổi từ hệ thống tính giá thành truyền thống sang hệthống tính giá thành theo phương pháp ABC Bởi Công ty Sợi thuộc Tổng công ty

cổ phần Dệt may Hòa Thọ là một công ty thuộc loại doanh nghiệp nhỏ

Hầu hết các tài liệu đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính gồmnghiên cứu chuyên sâu về phương pháp ABC, cũng như nghiên cứu so sánh giữaphương pháp tính giá thành truyền thống với phương pháp ABC để từ đó, giới thiệumột cách khái quát nhất về phương pháp ABC, các bước thực hiện trong phươngpháp ABC và nêu ra được những ưu nhược điểm của phương pháp ABC so vớiphương pháp tính giá thành truyền thống và lợi ích của doanh nghiệp khi áp dụngphương pháp ABC trong việc tính giá thành sản phẩm Hầu hết các tài liệu đềukhẳng định việc áp dụng phương pháp tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động cónhiều ưu điểm hơn phương pháp tính giá thành truyền thống và mang lại nhiều lợiích cho doanh nghiệp Phương pháp ABC cung cấp thông tin chính xác về giáthành, mức tiêu hao của các nguồn lực thực tế vào từng sản phẩm, từ đó, giúp chocác nhà quản trị có thể xác định chi phí sản phẩm, cải thiện cấu trúc chi phí và đề ranhững chiến lược kinh doanh phù hợp cho doanh nghiệp Tuy nhiên, tùy thuộc vàođặc điểm sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp mà nhà quản trị xem xét cáchthức vận dụng cho phù hợp

Những giáo trình, bài báo, tạp chí khoa học…viết về phương pháp ABC màtác giả tìm kiếm và thu thập được là phù hợp với nội dung đề tài mà tác giả nghiêncứu Bởi những tài liệu này cung cấp một cơ sở lý luận, cũng như đưa ra cách thứcvận dụng vào từng loại hình doanh nghiệp cụ thể, làm cơ sở để tác giả nghiên cứu,tham khảo và hoàn thiện đề tài của mình

Hiện nay, đã có rất nhiều nghiên cứu về phương pháp ABC nói chung và

Trang 8

nghiên cứu vận dụng phương pháp này vào trong các lĩnh vực khác nhau như: sảnxuất, dịch vụ…nói riêng, tuy nhiên, đến nay, hầu như chưa có một nghiên cứu nàonghiên cứu vận dụng phương pháp ABC tại các doanh nghiệp kinh doanh và sảnxuất sợi, mặc dù, đã có một cơ sở lý luận tương đối hoàn chỉnh về phương phápABC và số lượng doanh nghiệp sản xuất sợi ngày càng gia tăng trên thị trường Quaquá trình tham khảo các tài liệu viết về phương pháp ABC từ cơ sở lý luận đếnnhững nghiên cứu vận dụng phương pháp này vào những công ty, những lĩnh vực

cụ thể, đề tài đã nghiên cứu phát triển vận dụng phương pháp ABC vào trong doanhnghiệp kinh doanh và sản xuất sợi mà cụ thể Công ty Sợi thuộc Tổng công ty cổphần Dệt may Hòa Thọ

Trang 9

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ

THÀNH DỰA TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG1.1 Sự hình thành và vai trò của phương pháp tính giá thành dựa trên cơ

sở hoạt động (phương pháp ABC)

1.1.1 Sự hình thành phương pháp ABC

Trong những năm thập niên 1980, nhiều nhà quản trị cũng như kế toán đãkhông hài lòng với hệ thống tính giá thành truyền thống Bên cạnh những ưu điểm,các hệ thống tính giá thành đó đã bộc lộ một số hạn chế dẫn đến những bất lợi trongviệc ra quyết định Có thể bàn đến hai hạn chế lớn nhất là cách lựa chọn đối tượngtập hợp chi phí và kỹ thuật phân bổ chi phí

Trong phương pháp tính giá thành truyền thống, đối tượng tập hợp chi phíchủ yếu là theo đơn đặt hàng (hệ thống tính giá theo công việc) hoặc theo phânxưởng, giai đoạn sản xuất (hệ thống tính giá theo quá trình sản xuất) Với đối tượng

đó, hệ thống tính giá thành chỉ mới nhằm mục đích tính giá thành sản phẩm, khôngchỉ ra mối quan hệ qua lại giữa các hoạt động ở các bộ phận chức năng khác nhau.Những vấn đề như: chi phí gia tăng ở khâu nào, do nguyên nhân nào trong quá trìnhsản xuất luôn được các nhà quản trị đặt ra trong quá trình hoàn thiện và thiết kế lạiquá trình sản xuất nhằm cắt giảm chi phí Thực tế cho thấy, chi phí phát sinh ởnhiều hoạt động khác nhau trong quá trình sản xuất, nhưng nếu chỉ tập hợp chi phí ởgóc độ chung thì không thể kiểm soát chi phí ở doanh nghiệp Nói cách khác, mụctiêu kiểm soát và hoạch định ở doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh gia tăngchưa được đáp ứng

Các phương pháp tính giá thành truyền thống thường lựa chọn một hay mộtvài tiêu thức để phân bổ chi phí sản xuất chung Do vậy, giá thành sản phẩm khôngphản ánh đúng giá phí của nó, nhất là khi mức độ tự động hóa trong các doanhnghiệp có xu hướng ngày càng gia tăng Kết quả là việc ra quyết định giá bán cạnhtranh bị ảnh hường đối với những sản phẩm được tính giá thành quá cao hoặc quáthấp

Để khắc phục những hạn chế đó, người ta bắt đầu nghiên cứu và ứng dụng

Trang 10

một phương pháp tính giá thành sản phẩm mới gọi là phương pháp tính giá thànhdựa trên cơ sở hoạt động (phương pháp ABC)

Các khái niệm của phương pháp ABC đã được phát triển trong lĩnh vực sảnxuất của Hoa Kỳ trong những năm 1970, 1980 Trong thời gian này, các Hiệp hộiquản lý cao cấp quốc tế, bây giờ được gọi đơn giản là CAM-I, nghiên cứu và chínhthức hóa các nguyên tắc mà bây giờ được biết đến dưới tên gọi “Activity-basedCosting”

Robin Cooper và Robert.S.Kaplan là những người đề xướng nên thẻ cânbằng điểm (Balanced Scorecard), là những người đã đưa các khái niệm này trongmột số bài báo xuất bản của Harvard Business Review bắt đầu từ năm 1988 Cooper

và Kaplan mô tả phương pháp ABC là một cách tiếp cận để giải quyết các vấn đềcủa hệ thống quản lý chi phí truyền thống Hệ thống chi phí truyền thống thườngkhông thể xác định các chi phí thực tế của quá trình sản xuất và các chi phí dịch vụliên quan Do đó các nhà quản lý sẽ đưa ra các quyết định dựa trên các thông tinkhông chính xác đặc biệt ở những doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng, sảnphẩm khác nhau

Hệ thống tính giá ABC lần đầu tiên được định nghĩa rõ ràng vào năm 1987bởi Robert.S.Kaplan và W.Bruns trong một chương của quyển“Accounting andManagement: A Field Study Perspective” Họ tập trung vào ngành công nghiệp sảnxuất đầu tiên, nơi mà tiến bộ công nghệ và sự gia tăng năng suất làm giảm tỉ lệ củachi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp, tăng tỉ lệ của các chiphí gián tiếp Hệ thống tính chi phí ABC sau này được giải thích rõ hơn vào năm

1999 bởi Peter.F.Drucker trong quyển “Management Challenges of the 21stCentury”

Khởi đầu từ ý tưởng của các nhà quản trị vào đầu những năm 1980, phươngpháp ABC chỉ là một kỹ thuật tính giá thành sản phẩm, dịch vụ bằng cách áp dụngnhiều tiêu thức phân bổ đối với chi phí sản xuất chung để đảm bảo giá thành xácđịnh hợp lý hơn Nhưng đến đầu những năm 1990, các nhà quản trị phát hiện rằng,với cùng một dữ liệu ban đầu nhưng giá thành tính theo phương pháp ABC được sử

Trang 11

dụng tốt hơn cho việc thiết kế sản phẩm và thiết kế lại quá trình sản xuất, ABC cònđược sử dụng để đo lường hiệu quả hoạt động của quá trình kinh doanh Số liệu củaphương pháp ABC giúp các nhà quản trị nhìn rõ hơn mối quan hệ giữa thời gian,chất lượng, công suất nhà xưởng, sự linh hoạt và chi phí của doanh nghiệp Phươngpháp ABC ngày nay đã gắn với một triết lý mới trong quản trị là quản trị dựa trênhoạt động (ABM)

Quan điểm của ABC

Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa ABC và ABM

Điểm nổi bậc của phương pháp ABC là nhấn mạnh các hoạt động như lànhững đối tượng tập hợp chi phí chủ yếu Chi phí phát sinh theo hoạt động này sau

đó sẽ được phân bổ cho những đối tượng tính giá thành theo số lượng hoạt động(nguồn sinh phí) mà các đối tượng này đã sử dụng Cần chú ý là hệ thống tính giáthành dựa trên cơ sở hoạt động có thể là một phần của hệ thống tính giá thành theocông việc hoặc tính giá thành theo quá trình sản xuất Hệ thống tính giá này khôngthay thế phương pháp tính giá thành truyền thống, mà nhằm bổ sung khả năng xử lý

và cung cấp các thông tin trong việc ra quyết định ngắn hạn và dài hạn ở doanhnghiệp

1.1.2 Vai trò của phương pháp ABC

Phương pháp ABC sẽ giúp các nhà quản lý tránh được những quyết định sailầm do sử dụng thông tin không chính xác về giá thành như trình bày ở trên Bêncạnh việc cung cấp thông tin chính xác về giá thành, ABC còn cung cấp thông tin

Ra quyết định

Cắt giảm chi phí Hoàn thiện quá trình sản xuất

Loai bỏ lãng phí Nâng cao chất lượng Benchmark

Trang 12

chi tiết về cơ cấu chi phí của từng sản phẩm, giúp cho nhà quản lý có thể linh hoạthơn trong việc lập kế hoạch ngân sách cũng như điều chỉnh các chính sách, chiếnlược sản phẩm của doanh nghiệp trong điều kiện thị trường luôn biến động

Với phương pháp ABC, chi phí phục vụ một khách hàng có thể xác định mộtcách chắc chắn Sau khi trừ ra chi phí sản phẩm và chi phí phục vụ từng kháchhàng, sẽ tính được lợi nhuận khách hàng mang lại Phương pháp ABC tính toán chiphí khách hàng và chi phí sản phẩm riêng biệt, giúp xác định chính xác lợi nhuậnmỗi khách hàng mang lại và giúp định vị sản phẩm và dịch vụ tương ứng

Việc áp dụng phương pháp ABC còn góp phần hỗ trợ hoạt động marketingtrong việc xác định cơ cấu sản phẩm cũng như chính sách giá Đặc biệt trong trườnghợp doanh nghiệp có nhiều mặt hàng thì việc đàm phán với khách hàng hay xử lýđơn hàng một cách nhanh chóng đòi hỏi phải có thông tin chi tiết về giá thành cũngnhư cơ cấu chi phí của từng sản phẩm, qua đó có thể xác định các mức giá tối ưucho các đơn hàng khác nhau với cơ cấu sản phẩm khác nhau Nắm được các thôngtin chi tiết và chính xác về chi phí cho các sản phẩm còn giúp doanh nghiệp dễ dànghơn trong việc cải tiến (customization) sản phẩm của mình nhằm tăng khả năngcạnh tranh trên thị trường bằng cách đưa thêm vào sản phẩm những giá trị gia tăngtrong điều kiện chi phí còn cho phép Đồng thời, doanh nghiệp cũng có thể chủđộng xây dựng chiến lược marketing để định hướng nhu cầu khách hàng vào cácmặt hàng có lợi nhuận cao, thay thế cho các mặt hàng mà doanh nghiệp không cólợi thế Hơn nữa, ứng dụng phương pháp ABC có thể giúp nhân viên nắm rõ toàn bộchi phí liên quan, giúp họ có thể phân tích chi phí và xác định những hoạt động nàomang lại giá trị cộng thêm và hoạt động nào không, qua đó cải thiện hiệu quả hoạtđộng Đây là một quy trình hoàn thiện liên tục bắt đầu từ việc phân tích chi phí, cắtgiảm những hoạt động không tạo ra giá trị cộng thêm và qua đó đạt được hiệu suấtchung

Phương pháp ABC giúp công ty tạo ra những sản phẩm tốt hơn, đáp ứng nhucầu của thị trường với chi phí cạnh tranh Phân tích lợi nhuận sản phẩm và lợinhuận do khách hàng mang lại, phương pháp này đã góp phần tích cực vào quá trình

Trang 13

ra quyết định của cấp quản lý; công ty có thể nâng cao hiệu suất hoạt động và giảmchi phí mà không hy sinh giá trị mang lại cho khách hàng Mặt khác, có thể giúpcông ty mô hình hóa tác động của việc cắt giảm chi phí và kiểm soát chi phí tiếtkiệm được

Nhìn chung, ABC là một phương pháp năng động thúc đẩy sự cải tiến diễn raliên tục Với phương pháp ABC, bất kì công ty nào cũng có thể tạo ra lợi thế cạnhtranh về chi phí và liên tục tạo thêm giá trị cho cổ đông và khách hàng

1.2 Nội dung phương pháp tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động

Trong phương pháp ABC, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhâncông trực tiếp được tập hợp và hạch toán tương tự như phương pháp tính giá truyềnthống, quy trình tính giá thành theo phương pháp ABC chỉ nhằm mục đích tập hợp

và phân bổ chi phí sản xuất chung Việc phân bổ sẽ được dựa vào những tiêu thứcphân bổ linh hoạt, tiến bộ hơn rất nhiều so với phương pháp tính giá truyền thống.Nội dung theo phương pháp ABC bao gồm các bước sau:

1.2.1 Phân tích hoạt động và xác định các nguồn lực sử dụng:

Bước đầu tiên cũng là bước cực kỳ quan trọng trong quy trình tính giá ABC

là tiến hành phân tích các hoạt động để xác định các nguồn lực sử dụng cho từnghoạt động Bởi lẽ, nếu xác định các hoạt động không chính xác sẽ ảnh hưởng đếncác bước tiếp theo của quy trình Phân lớn các nguồn lực bị tiêu hao được ghi nhậndưới dạng chi phỉ ở các tài khoản chi phí trong công tác hạch toán, chẳng hạnnguyên vật liệu trực tiếp, máy móc thiết bị, dịch vụ mua ngoài… Để thực hiện việcnhận dạng và phân loại những hoạt động của doanh nghiệp cần tiến hành tập hợp sốliệu sổ sách, chứng từ và sử dụng các bảng câu hỏi, quan sát, phỏng vấn các nhàquản lý cũng như các nhà kỹ thuật, công nhân viên trong các dây chuyền công nghệ.Sau khi đã phân tích và xác định được các hoạt động và các nguồn lực sử dụng taqua bước thứ hai đó là phân bổ chi phí nguồn lực cho các hoạt động

1.2.2 Phân bổ chi phí nguồn lực cho các hoạt động

Quá trình thực hiện các hoạt động làm tiêu hao các nguồn lực Các yếu tốquyết định tiêu hao nguồn lực sẽ là căn cứ để phân bổ chi phí nguồn lực cho các

Trang 14

hoạt động Một điều kiện quan trọng để lựa chọn một tiêu thức phân bổ phù hợp làmối quan hệ nhân quả.

Chi phí nguồn lực có thể được phân bổ trực tiếp hoặc ước lượng Phân bổtrực tiếp đòi hỏi việc đo lường mức độ sử dụng thực tế các nguồn lực của các hoạtđộng

Trường hợp không thể đo lường được mức độ sử dụng thực tế các nguồn lực,

có thể cần phải ước đoán để tính ra các tỷ lệ Việc ước đoán có thể được hợp tácthực hiện bởi bộ phận quản lý, bộ phận tài chính và những nhân viên điều hành caliên quan trực tiếp đến trung tâm chi phí Nhóm này có thể đưa ra được những ướcđoán về tỷ lệ chi phí phân bổ trong cả hai giai đoạn của phương pháp ABC Mức độchính xác dựa vào sự kết hợp trong nhóm và những kiến thức của họ về trung tâmchi phí

Thông thường để mô tả mối quan hệ giữa chi phí và hoạt động người ta thiếtlập ma trận Chi phí – Hoạt động (EAD) Trong bước này, các hoạt động liên quanđến từng loại chi phí được xác định để thiết lập ma trận EAD) Nhóm chi phí biểudiễn theo cột, trong khi các hoạt động xác định được biểu diễn theo hàng Nếu hoạtđộng i có sử dụng loại chi phí j, đánh dấu vào ô ij Sau đó, thay thế những dấu đãđánh bằng hệ số tỷ lệ trong ma trận EAD Tổng các cột của ma trận EAD phải bằng1

Có ba phương pháp được sử dụng trong việc tính toán những tỷ lệ này, cómức độ chính xác theo thứ tự là: Ước đoán, đánh giá hệ thống và thu thập dữ liệuthực tế Các phương pháp này cũng có thể được sử dụng trong giai đoạn một làphân bổ chi phí đến các hoạt động

- Ước đoán:

Trong trường hợp khi không thể có được những số liệu thực tế hoặc việc thuthập số liệu khá tốn kém thì có thể ước đoán để tính ra các tỷ lệ Việc ước đoán cóthể được hợp tác thực hiện với bộ phận quản lý, bộ phận tài chính và những nhânviên điều hành có liên quan trực tiếp đến trung tâm chi phí Nhóm người này có thểđưa ra được những ước đoán về tỷ lệ phân bổ chi phí trong cả hai giai đoạn Mức độ

Trang 15

chính xác dựa vào sự kết hợp của những người trong nhóm và những kiến thức của

họ về trung tâm chi phí

- Đánh giá hệ thống:

Một phương pháp khoa học hơn để thu được những tỉ lệ này cho việc tínhtoán chi phí là việc sử dụng kỹ thuật hệ thống như áp dụng quá trình phân tích thứbậc (AHP- Analytic Hierarchical Process) (Saaty, 1982; Golden,Wasil, và Harker,1989) AHP là một công cụ thích hợp nhằm đưa những ý kiến cá nhân chủ quanthành những thông tin thể hiện khách quan hơn về các tỉ lệ Ví dụ, giả sử doanhnghiệp cần phân bổ chi phí xăng dầu giữa ba hoạt động chạy máy, giao hàng và bảotrì Thông qua việc đặt câu hỏi cho những bộ phận tiêu thụ nguồn lực này và yêucầu họ đánh giá về tỉ lệ phần trăm chi phí xăng dầu trong một thời đoạn nhất định,AHP có thể đưa ra được phần trăm của chi phí này và phân bổ chúng đến từng hoạtđộng thích hợp

AHP cũng có thể được sử dụng trong giai đoạn hai đó là phân bổ chi phí từ cáchoạt động đến từng sản phẩm Trong bước này, điều quan trọng là phải xác địnhđược một tiêu thức phân bổ chi phí thích hợp để đạt được mức độ chính xác mongmuốn Ví dụ, giả sử doanh nghiệp mong muốn ấn định chi phí bán hàng đến từngsản phẩm Một phương pháp đó là ước lượng mức độ hoạt động bán hàng cần thiếtđối với từng sản phẩm Giả sử doanh nghiệp sản xuất 05 sản phẩm Sản phẩm A làsản phẩm đã có tiếng, những nỗ lực về hoạt động bán hàng là tương đối thấp, trongkhi sản phẩm B, C, và D đang trong giai đoạn giữa của dòng đời sản phẩm và sảnphẩm E, là một sản phẩm mới, tiêu tốn rất nhiều thời gian và nỗ lực hơn cho việcbán hàng Thay vì phân bổ đồng đều chi phí bán hàng cho từng sản phẩm, AHP cóthể đưa ra một ước lượng cho phép công ty tính chi phí đến từng sản phẩm một cáchchính xác hơn Trong ví dụ cụ thể này, khu vực bán hàng và thời gian sử dụng đểthương thảo với khách hàng về từng sản phẩm có thể được xem là các tiêu thức liên

hệ Sau đó, chi phí bán hàng được xếp hạng giữa các sản phẩm theo khoảng cáchcần thiết giao hàng Việc xếp hạng tiếp theo giữa các sản phẩm được thiết lập theo tỉ

lệ thời gian cho từng khách hàng Cuối cùng, những cách xếp hạng chủ quan về

Trang 16

hoạt động bán hàng được kết hợp lại để tính ra tỉ lệ phân bổ chi phí bán hàng giữa

- Cơ cấu tổ chức nhân sự gồm những ai

- Hoạt động chủ yếu của họ là gì?

- Khi điều kiện hoạt động thay đổi thời gian hoạt động của họ có thay đổikhông? Nếu có, điều kiện đó là gì?

- Tỷ lệ mỗi hoạt động chiếm bao nhiêu trong tổng quỹ thời gian hoạt độngcủa họ?

Mô hình hóa hoạt động là việc xây dựng một sự mô tả chính xác về các hoạtđộng được thực hiện trong doanh nghiệp Nó không chỉ là một cách thức tổ chức,nắm bắt và thu thập thông tin về hệ thống mà còn cung cấp một hình ảnh về hệthống và tạo điều kiện cho việc sửa chữa hệ thống thông qua việc trao đổi vớinhững người sử dụng Khi đó chúng ta có thể nhìn thấy mối quan hệ giữa các hoạtđộng tạo nên quá trình ở bất kỳ một mức độ chi tiết nào mong muốn Theo đó có thểbiểu diễn các hoạt động dưới dạng văn bản, hình ảnh… Ví dụ đưa ra mô hình kiểm

Trang 17

tra chất lượng sản phẩm, hoạt động kiểm tra chất lượng sản phẩm sẽ được phân nhỏthành các hoạt động chi tiết: kiểm tra bao bì, kiểm tra chất lượng bên trong sảnphẩm (thông qua chọn mẫu), kiểm tra số lượng sản phẩm sản xuất… Mỗi hoạt độngnày lại được xem xét theo các tiêu thức: thời gian kiểm tra, số lượng nhân viên kiểmtra, các dụng cụ thiết bị nào được huy động tham gia hoạt động này Sau khi đưa racác nhân tố đó, cần tính toán các tỷ lệ về thời gian mỗi hoạt động, chi phí đã bỏ rađối với từng sản phẩm, loại sản phẩm Việc đưa ra mô hình như vậy giúp doanhnghiệp xem xét các hoạt động nào là chủ yếu, có ảnh hưởng tới việc tính giá thànhsản phẩm, từ đó đưa ra các quyết định phù hợp.

- Thu thập dữ liệu thực tế:

Đây là phương pháp chính xác nhưng tốn nhiều chi phí nhất để có thể đưa ra các

tỷ lệ cần thiết một cách chính xác Phương pháp này đòi hỏi phải tổng hợp các chiphí từ các hoạt động có liên quan để phân bổ cho từng đối tượng tính phí Ta có thể

sử dụng công thức đơn giản sau để tính tổng chi phí tiêu dùng bởi một hoạt động: Tổng chi phí tiêu dùng

Tỷ lệ thời gian thực hiện hoạtđộng của một đơn vị (bộ phận)trong doanh nghiệp

x

Tổng chi phíphát sinh của đơn vị(bộ phận) đóQua đó, đưa ra danh sách các hoạt động cùng chi phí tương ứng với hoạtđộng đó Dựa trên các tiêu thức đã được xác định tiến hành phân bổ chi phí hoạtđộng cho các đối tượng tính phí Trong hầu hết các trường hợp người ta phải tổchức một bộ máy thu thập, ghi nhận dữ liệu thực tế và có thể đòi hỏi các thiết bị hỗtrợ cho việc thu thập thông tin Hơn nữa, việc thu thập dữ liệu phải đúng thời điểm

và điều tra viên phải có kinh nghiệm Kết quả thường được phân tích bằng nhữngcông cụ thống kê Tiếp theo, tính toán giá trị bằng tiền của các hoạt động Giá trịbằng tiền của từng hoạt động, được tính theo công thức sau :

M

Trang 18

TCA (i) = ∑Chi phí (j) * EAD(i,j)

j=1

Với:

TCA (i) = Tổng chi phí của hoạt động i

M = Số loại chi phí

Chi phí (j) = Giá trị bằng tiền của nhóm chi phí j

EAD (i,j) = Hệ số tỉ lệ ở ô i, j của ma trận EAD

Bảng 1.1 Ma trận chi phí hoạt động (EAD)

Chi phíkhácbằng tiền

1.2.3 Chọn lựa nguồn sinh phí phát sinh:

Nguồn phát sinh chi phí (nguồn sinh phí) là những nhân tố có mối quan hệnhân quả trực tiếp với chi phí Các chi phí trực tiếp có thể liên hệ trực tiếp đến mộtsản phẩm mà không cần có nguồn sinh phí Tất cả các chi phí khác cần liên kết giữachi phí, hoạt động và sản phẩm Nguồn sinh phí là liên kết, mỗi hoạt động có thể cómột hoặc nhiều nguồn sinh phí liên quan, nhưng chỉ chọn một nguồn sinh phí đểtính ra tiêu thức phân bổ nguồn lực cho các hoạt động liên quan Tương tự, các đốitượng tính giá cũng có thể có một hay nhiều nguồn sinh phí liên quan, nhưng tacũng chọn một nguồn sinh phí để làm tiêu thức phân bổ

Nguồn sinh phí

Nguồn sinh phí Nguồn sinh phí

Nguồn sinh phí

Nguồn sinh phí Nguồn sinh phí

Trang 19

Sơ đồ 1.2 Sơ đồ minh họa phân bổ nguồn sinh phí cho hoạt động

Trang 20

Chi phí mua ngoài

Chi phí ngoài giờ

Chi phí ngưng sản xuất

Chi phí giám sát

Chi phí kiểm tra chất lượng sản phẩm

Mức dùng nguồn lực

Số giờ làm thêm giờ

Số giờ ngưng hoạt động

Số giờ lao động trực tiếp

Số lượng sản phẩm

- Giai đoạn 2:

Các hoạt động Các nguyên nhân gây ra chi phí Tiêu thức phân bổ lựa chọn

Chuẩn bị máy móc, vật

liệu

- Số lần vận hành máy

- Số giờ chạy máy

- Giờ công lao động trực tiếp

- Nguyên vật liệu trực tiếp

- Tiền lương lao động trực tiếp

- Giờ công lao động

Giờ máy chạy

1.2.4 Xác định chi phí hoạt động cho từng sản phẩm:

Sau khi các chi phí đã được tập hợp cho các hoạt động, bây giờ các hoạt độngtrở thành những điểm tích lũy chi phí Và kế toán sẽ tiến hành phân bổ chi phí củacác hoạt động cho các đối tượng tính giá (các sản phẩm đang sử dụng các hoạtđộng) thông qua việc thiết lập ma trận Hoạt động – Sản phẩm (APD), thể hiện mốiquan hệ giữa hoạt động và sản phẩm

Ma trận APD được thiết kế như sau: Các hoạt động được biểu diễn theo cột,

Trang 21

còn các sản phẩm được biểu diễn theo hàng Nếu sản phẩm I sử dụng hoạt động j, tađánh dấu vào ô ij Sau đó, thay thế những dấu đã được đánh bằng tỷ lệ trong ma trậnAPD Tổng các ma trận APD phải bằng 1.

Cuối cùng, ta tính toán giá trị bằng tiền của các sản phẩm, theo công thức:

n

OCP (i) = ∑TCA (j) * APD(i,j)

j=1

Với:

OCP (i) = Chi phí chung của sản phẩm i

TCA (i) = Giá trị bằng tiền của hoạt động i

Trang 22

của sản phẩm i phân bổ cho sản phẩm i

1.3 Kinh nghiệm vận dụng phương pháp tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động ở các nước Sự vận dụng ở Việt Nam nói chung và doanh nghiệp sợi nói riêng.

1.3.1 Kinh nghiệm vận dụng phương pháp ABC ở các nước

Với phương pháp ABC, chi phí sẽ được theo dõi một cách cụ thể cho từnghoạt động gắn với từng loại sản phẩm, vì thế thông tin chi phí cung cấp bởi hệ thốngABC có mức độ chính xác cao hơn, giúp cho việc ra các quyết định liên quan đếntừng nhóm sản phẩm, từng loại sản phẩm,…

Hiện nay, phương pháp ABC được áp dụng rất phổ biến trên thế giới đặc biệt

là Mỹ, Anh , Australia…

- Mô hình ABC tại Công ty Elgin Sweeper của Bắc Mỹ:

Elgin Sweeper là một công ty hàng đầu về công nghệ trong việc phát triểncác sản phẩm làm sạch đường phố, nước và không khí Xe quét đường là sản phẩmnổi tiếng nhất mà công ty sản xuất và cung cấp

Phương pháp ABC được Công ty áp dụng từ rất lâu, vào những năm của thập

kỷ 80 Mô hình ABC được áp dụng ở Công ty như sau:

- Đầu tiên, Elgin nghiên cứu, tìm ra những hoạt động tạo phí, lập danh sáchcác đơn vị tính phí có thể cho mỗi hoạt động Tại Công ty này, các đơn vị tính phíbao gồm: giờ lao động, tiền công lao động, số lượng hàng gửi đi, số đơn đặt hàng…Các chi phí thay đổi với từng đơn vị tính phí được nhận dạng và tính toán

- Tiếp theo, thiết lập các báo cáo về dây chuyền sản xuất mà ở đó cho phépđánh giá hiệu quả của các quyết định phân bổ nguồn lực

- Cuối cùng, các giám đốc sản xuất sẽ tham gia vào việc nhận dạng kích tốchi phí và xóa bỏ các hoạt động không tạo ra giá trị gia tăng

- Mô hình ABC tại Công ty Mason & Cox ở Australia:

Mason & Cox là tập đoàn sản xuất sản phẩm đúc lớn nhất ở Australia, sảnxuất sản phẩm chủ yếu là các sản phẩm đúc kim loại cho các ngành công nghiệp

Trang 23

như khai khoáng, sản xuất xi măng Công ty có hai dòng sản phẩm chính là sảnphẩm sản xuất hàng loạt và sản xuất theo yêu cầu của khách hàng.

Khái quát quá trình sản xuất ở Mason & Cox:

Bước 1 Thiết kế mẫu sản phẩm

Bước 2 Làm các khuôn đúc dựa theo mẫu

Bước 3 Nấu chảy kim loại và đổ vào khuôn đúc

Bước 4 Lấy sản phẩm đúc ra khỏi khuôn và chuyển đến bộ phận hoàn thiệnsản phẩm

Bước 5 Tại bộ phận hoàn thiện sản phẩm, sản phẩm đúc được làm nhẵn bằngmáy chuyên dụng

Mô hình phương pháp ABC được áp dụng tại Công ty cụ thể như sau:

- Bước 1: Đo lường chi phí cho các hoạt động tức là phân bổ chi phí các

nguồn lực đến các hoạt động

Chi phí phát sinh sẽ được phân bổ đến các trung tâm hoạt động sau đó sẽđược phân bổ tiếp đến các hoạt động

Có bốn dạng hoạt động chính là:

+ Hoạt động ở mức độ lô (batch level activities)

+ Hoạt động ở mức độ đơn vị sản phẩm unit level activities)

+ Hoạt động ở mức độ dòng sản phẩm (product level activities)

+ Hoạt động ở mức độ duy trì doanh nghiệp facylity level activities)

Phân bổ chi phí đến các trung tâm hoạt động Công ty được chia thành cáctrung tâm hoạt động, mỗi trung tâm hoạt động có cùng mục đích

Tại Công ty Mason & Cos được chia thành 9 trung tâm hoạt động, gồm: điềuhành doanh nghiệp (Corporate Management), quản lý (Administration), bán hàng,quản lý phân xưởng (Factory management), nấu chảy kim loại, làm khuôn đúc,hoàn thiện sản phẩm, thiết kế mẫu sản phẩm, bảo dưỡng sản phẩm

Tiếp đó, phân bổ chi phí đến mỗi trung tâm hoạt động theo một tiêu thứcnguồn lực Những chi phí có cùng nguồn gốc và do cùng một nhân tố biến đổi chiphí được tập hợp lại thành một mục chi phí để đơn giản hóa cho việc phân bổ

Trang 24

Bước 2: Phân bổ chi phí hoạt động đến các sản phẩm

Việc này bao gồm tính chi phí hoạt động trên mỗi đơn vị tiêu thức hoạt động

và sau đó xây dựng một bản giải trình hoạt động cho mỗi sản phẩm

- Tính chi phí hoạt động trên mỗi đơn vị tiêu thức hoạt động khi xác định cáchoạt động ở bước trước, họ đã xác định được các tiêu thức phân bổ cho mỗi hoạtđộng

Xác định lượng tiêu thức phân bổ từ đó tính chi phí hoạt động cho mỗi mộtđơn vị tiêu thức phân bổ

Đối với một số hoạt động như "thiết kế mẫu sản phẩm, kiểm tra mẫu sảnphẩm" liên quan trực tiếp đến từng sản phẩm cụ thể có thể được tập hợp ngay vàonhững sản phẩm đó

Để lựa chọn các tiêu thức hoạt động họ đã xem xét mức độ quan hệ giữa chiphí của một hoạt động và tiêu thức hoạt động; chi phí của việc thu thập và xử lýthông tin về tiêu thức hoạt động đó Tất cả các hoạt động "điều hành doanh nghiệp"

là hoạt động ở mức độ duy trì doanh nghiệp và không xác định được tiêu thức phân

bổ Hoạt động "quản lý phân xưởng" cũng là hoạt động ở mức độ duy trì doanhnghiệp, nhưng ở Mason & Cox quyết định phân bổ chi phí của hoạt động này đếnsản phẩm vì họ muốn tính giá thành sản phẩm bao gồm chi phí tất cả các hoạt độngsản xuất, tiêu thức phân bổ là giờ công lao động

- Chuẩn bị một giải trình các hoạt động cho mỗi sản phẩm (bill of activities foreach product)

Giải trình gồm việc xác định các hoạt động liên quan đến sản phẩm, chi phíhoạt động trên mỗi đơn vị tiêu thức hoạt động, số lượng tiêu thức hoạt động, tổngchi phí hoạt động cho mỗi sản phẩm

- Mô hình ABC với mục đích quản lý hoạt động hay còn gọi là mô hình quản

lý dựa theo hoạt động( Activity based management - ABM)

Trang 25

Công ty đã thấy rằng hệ thống kế toán hiện hành không chỉ làm sai lệch giáthành sản phẩm mà còn làm cho các nhà quản lý đưa ra các quyết định sai lầm.Chính điều này đã làm giảm khả năng cạnh tranh của công ty

Mason & Cox đã sử dụng ABM để cắt giảm chi phí: bao gồm 4 bước:

Bước 1: xác định các cơ hội chủ yếu để giảm chi phí;

Bước 2: xác định nguyên nhân chính phát sinh những chi phí đó;

Bước 3: đưa ra các biện pháp để giảm các nguyên nhân đó, từ đó làm giảm chiphí;

Bước 4: đưa ra các thước đo sự thực hiện để giám sát sự hiệu quả của việc cắtgiảm chi phí

Bước 1: Xác định các cơ hội chủ yếu để giảm chi phí

Để xác định các cơ hội cắt giảm chi phí, họ phân loại các hoạt động thành hoạtđộng làm tăng giá trị sản phẩm và hoạt động không làm gia tăng giá trị sản phẩm.Hoạt động làm gia tăng giá trị là các hoạt động tạo ra các giá trị chủ yếu cho kháchhàng hoặc các hoạt động chức năng của doanh nghiệp Hoạt động gia tăng giá trịgồm:

- Hoạt động sản xuất cơ bản: được phân bổ đến sản phẩm cuối cùng như làmkhuôn, đổ kim loại nóng chảy

- Hoạt động quản lý cần thiết như: quản lý doanh nghiệp, chuẩn bị báo cáohàng năm

Hoạt động không làm gia tăng giá trị là các hoạt động không tạo thêm giá trịcho sản phẩm và dịch vụ Vì vậy ta phải tìm cách cắt giảm các hoạt động đó Trongcác doanh nghiệp thì hoạt động không làm gia tăng giá trị thường là hoạt động chờđợi, kiểm tra, làm lại và các sự vận chuyển và bảo quản các hàng tồn kho không cần

thiết Tại Mason & Cox, các hoạt động không tạo thêm giá trị chiếm đến 18% tổng

chi phí

Để phân tích và tìm ra các biện pháp để giảm các hoạt động không làm giatăng giá trị đòi hỏi một nguồn lực đáng kể Mason & Cox đã xác định các hoạt độngchính không làm gia tăng giá trị là hoạt động " kiểm tra khuôn đóc", "mài vật đóc",

Trang 26

"hàn các lỗi trên vật đóc", " vận chuyển nguyên vật liệu", " xúc tiến sản phẩm" 5hoạt động này đã chiếm 2/3 tổng chi phí của các hoạt động không làm gia tăng giátrị

Bước 2: Xác định nguyên nhân chính phát sinh những chi phí đó

Để giảm chi phí cho các hoạt động không làm gia tăng thêm giá trị, họ đã xácđịnh nguyên nhân chính phát sinh chi phí và tìm biện pháp để giảm các nguyênnhân đó Họ bắt đầu bằng công việc xây dựng các hoạt động của công ty theo mộtchu trình

Xây dựng các hoạt động thành một chu trình: để giảm được các hoạt động

không làm gia tăng thêm giá trị đòi hỏi phải có một sự hiểu biết sâu sắc về các côngviệc ở trong công ty Phải có sự hiểu biết thấu đáo thì mới xác định được đối vớimỗi hoạt động, hoạt động nào trước nó cung cấp đầu vào cho nó, hoạt động nào sau

nó mà tiêu dùng đầu ra của nó Những thông tin này có thể dùng để liên kết các hoạtđộng với nhau thành một chu trình Một chu trình là một chuỗi các hoạt động kếtnối với nhau để đạt được mục tiêu riêng Một chu trình đầy đủ về một đơn hàng sảnxuất sản phẩm "custom-made casting" tại Mason & Cox được minh họa như sau:Thiết kế phương pháp > làm mẫu >làm khuôn đóc > làm tâm khuôn >kiểm tra khuôn > vận chuyển nguyên liệu > rót kim loại vào khuôn > dùngoxy cắt vật đóc ra khỏi khuôn > mài sản phẩm >hàn sản phẩm >xếp đặt lò xử lýhơi > vận hành lò > quá trình xử lý các đơn đặt hàng > quá trình xử lý cáckhoản phải thu

Các hoạt động được biểu diễn thành một chu trình giúp cho việc xác định cáctiêu thức ( nguyên nhân phát sinh chi phí) và thiết lập các chỉ tiêu đo lường sự hoạtđộng Sử dụng chu trình giúp làm đơn giản hóa quá trình quản lý hoạt động, có thểtập trung quản lý các chu trình hoạt động hơn là các hoạt động chi tiết Các hoạtđộng trong cùng một chu trình có thể có cùng các nhân tố kích thích chi phí và chỉtiêu đo lường sự hoạt động

Phân tích các nhân tố kích thích chi phí (cost driver): họ đã dùng phương phápphân tích nhân tố kích thích chi phí để xác định nhân tố chủ yếu gây phát sinh chi

Trang 27

phí cho 5 hoạt động chính không làm tăng thêm giá trị Nó bao gồm việc phân tíchsâu các hoạt động và quá trình gây ra để xác định cái thật sự là nguyên nhân làmphát sinh hành động Ví dụ số lỗi từ giai đoạn dùng oxy để tách vật đóc khỏi khuônđóc, đã dẫn đến hoạt động "mài sản phẩm đóc" và "hàn vết lỗi trên sản phẩm" Vếtlỗi có thể là chỗ lồi hoặc lõm trên sản phẩm, nhưng đây có phải là nguyên nhânchính không? Nguyên nhân chính gây ra các lỗi đó là: kim loại có nhiều tạp chấthay tại khuôn đóc không đảm bảo chất lượng Nếu kim loại còn chứa nhiều tạp chất

là vấn đề chính, thì công ty nên tìm một nhà cung cấp mới hay trao đổi các điềukhoản khắt khe hơn với nhà cung cấp Để tìm ra nguyên nhân cốt lõi gây phát sinhchi phí ta phải đặt ra liên tiếp các câu tại sao, và tìm câu trả lời cho nó

Phân tích các nhân tố chính gây phát sinh chi phí cho tất cả các hoạt động: để

cắt giảm chi phí, một vài doanh nghiệp xác định các nhân tố chính gây phát sinh chiphí cho tất cả các hoạt động chứ không chỉ tập trung vào các hoạt động không làmgia tăng thêm giá trị Hiểu và quản lý được nguyên nhân thực sự của hoạt động làmgia tăng thêm giá trị có thể làm cho các hoạt động được làm tốt hiệu quả hơn Ví dụhoạt động " dùng oxy để cắt sản phẩm đóc ra khỏi khuôn" là một hoạt động làm giatăng giá trị, cái hoạt động lấy sản phẩm đóc ra khỏi khuôn là một phần cần thiết củachu trình sản xuất sản phẩm, tuy nhiên có một vài sản phẩm đã bị vỡ trong quá trìnhcắt này Bằng phương pháp phân tích hoạt động ta có thể giúp cho việc giảm chi phícủa hoạt động này thông qua việc xác định nhân tố chủ yếu làm sản phẩm bị vỡ.Tuy nhiên trong việc phân tích hoạt động làm gia tăng thêm giá trị, cần phải xemxét xem nhân tố nào là tích cực nhân tố nào là tiêu cực trong mối quan hệ với lợinhuận Ví dụ "số khách hàng " là nhân tố gây phát sinh chi phí đối với hoạt độnglàm gia tăng giá trị "xử lý các khoản phải thu" tại trung tâm quản lý Giảm số kháchhàng sẽ làm giảm chi phí của hoạt động "xử lý các khoản phải thu" nhưng nó cũng

có thể làm giảm doanh thu bán hàng và lợi nhuận có thể sẽ giảm nhiều hơn tăng Việc quyết định xem hoạt động nào nên phân tích dựa vào sự xem xét giữachi phí và lợi ích Một sự cải thiện nhỏ hiệu quả của những hoạt động làm gia tăng

Trang 28

giá trị lớn có thể tiết kiệm được chi phí lớn, tuy nhiên cũng phải tốn một khoản chiphí trong việc nghiên cứu để tìm ra nhân tố chủ yếu làm phát sinh chi phí.

Bước 3: Xây dựng một chương trình để giảm chi phí

Bước tiếp theo là họ thiết kế một chương trình để làm giảm các nhân tố chínhgây phát sinh chi phí cho các hoạt động chủ yếu không làm gia tăng thêm giá trị.Đây có thể là một nhiệm vụ phức tạp và sẽ liên quan đến toàn doanh nghiệp.Ví dụ

họ đã xác định kim loại còn chứa nhiều tạp chất chính là nguyên nhân gốc gây ra lỗicủa sản phẩm Số vết lỗi trên sản phẩm là một nhân tố phát sinh chi phí cho hoạtđộng "mài sản phẩm đóc" và hoạt động " hàn các lỗi của sản phẩm đóc", bộ phậnmua hàng phải tăng chất lượng của kim loại làm sản phẩm bằng cách tìm kiếm cácnhà cung cấp mới và đưa ra các điều khoản chặt chẽ hơn về chất lượng đối với nhàcung cấp hiện tại

Việc giảm các nhân tố làm phát sinh chi phí có thể là giải quyết từng hoạtđộng riêng hoặc có thể đòi hỏi phải tái cơ cấu lại cả quá trình hoạt động

Bước 4: Thước đo sự thể hiện của việc giảm trừ chi phí

Tiêu thức của hoạt động có thể sử dụng để giám sát tính hiệu quả của các nỗlực giảm trừ chi phí Theo cách tiếp cận ABC theo quan điểm tính phí thì họ đã xácđịnh được tiêu thức đo lường chi phí hoạt động Họ sử dụng phương pháp phân tíchnhân tố làm phát sinh chi phí để xác định các thước đo sự thể hiện Chi phí của mộthoạt động có thể xuất phát từ đặc điểm nào đó của hoạt động trước nó trong chutrình, cái đặc điểm đó được lựa chọn là thước đo chi phí của hoạt động

Tóm lại, tiến hành và duy trì hệ thống ABC ở Mason & Cox phức tạp hơn sovới phương pháp truyền thống mà công ty đã áp dụng Nhưng hệ thống mới này đãthể hiện được tính ưu việt của nó, nó mới được thực hiện không lâu nhưng đã làmtăng đáng kể lợi nhuận ở Mason & Cox Đạt được điều đó là do hệ thống này đã:

- Cung cấp thông tin về giá thành sản phẩm chính xác, nhờ đó các nhà quản lýmới đưa ra được các quyết định kinh doanh đóng đắn

- Giúp các nhà quản lý kiểm soát hoạt động Xác định các hoạt động chínhkhông làm gia tăng giá trị, các nhân tố cơ bản làm phát sinh chi phí của hoạt động

Trang 29

giúp các nhà quản lý tìm ra phương pháp giảm trừ các nhân tố đó tức là làm giảmchi phí

- Làm tăng sự hài lòng của khách hàng về mức giá cả, hệ thống đo lường hoạtđộng có thể giúp người công nhân xác định các khía cạnh họ có thể kiểm soát vànên tập trung, từ đó có thể làm tăng hiệu quả của các hoạt động

Và không thể phủ nhận ABC, ABM đã giúp công ty tăng cả lợi nhuận và giátrị cung cấp cho khách hàng

Tóm lại, tiến hành và duy trì hệ thống ABC ở Mason & Cox phức tạp hơn sovới phương pháp truyền thống mà công ty đã áp dụng Nhưng hệ thống mới này đãthể hiện được tính ưu việt của nó, nó mới được thực hiện không lâu nhưng đã làmtăng đáng kể lợi nhuận ở Mason & Cox Đạt được điều đó là do hệ thống này đã:

- Cung cấp thông tin về giá thành sản phẩm chính xác, nhờ đó các nhà quản lýmới đưa ra được các quyết định kinh doanh đóng đắn

- Giúp các nhà quản lý kiểm soát hoạt động Xác định các hoạt động chínhkhông làm gia tăng giá trị, các nhân tố cơ bản làm phát sinh chi phí của hoạt độnggiúp các nhà quản lý tìm ra phương pháp giảm trừ các nhân tố đó tức là làm giảmchi phí

- Làm tăng sự hài lòng của khách hàng về mức giá cả, hệ thống đo lường hoạtđộng có thể giúp người công nhân xác định các khía cạnh họ có thể kiểm soát vànên tập trung, từ đó có thể làm tăng hiệu quả của các hoạt động

Và không thể phủ nhận ABC, ABM đã giúp công ty tăng cả lợi nhuận và giátrị cung cấp cho khách hàng

1.3.2 Vận dụng phương pháp tính ABC ở Việt Nam nói chung và ở doanh nghiệp Sợi nói riêng

1.3.2.1 Vận dụng phương pháp ABC ở Việt Nam

Trang 30

Phương pháp ABC phù hợp với môi trường sản xuất nói chung là có sự tựđộng hóa cao và tổ chức sản xuất tiên tiến Tính ưu việt của phương pháp ABC đãđược thừa nhận trên thế giới vì nó là một công cụ đo lường tương đối chính xác vàhợp lý các chi phí phát sinh liên quan đến đối tượng và hoạt động chịu phí Điều đó,giúp cho các doanh nghiệp có thể đưa ra được phương pháp tiết kiệm chi phí hiệuquả nhất, đưa ra chiến lược phát triển hiệu quả

Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam đây là phương pháp còn khá mới mẻ, chỉ cómột số ít doanh nghiệp áp dụng phương pháp này, mà phần lớn là các doanh nghiệplớn, tính tự động hóa cao như: Công ty bút bi Thiên Long, Công ty PwC, một sốcông ty khai thác than lớn…

Sở dĩ, tại Việt Nam phương pháp ABC chưa được triển khai rộng rãi do các

lý do như sau:

- Cơ sở lý luận về phương pháp ABC phải dùng đến các tài tiệu tiếng nướcngoài, do đó cũng gây khó khăn cho việc nghiên cứu và tìm hiểu của các doanhnghiệp

- Chế độ kế toán dành cho phương pháp tính giá ABC chưa có Các quy địnhcủa Bộ Tài Chính về phản ánh báo cáo chi phí theo phương pháp này chưa có Dovậy, kế toán các doanh nghiệp chưa muốn tham gia vào lĩnh vực mới này

- Phương pháp tính giá ABC là phương pháp tính giá đòi hỏi có sự tham giaphối hợp của nhiều phòng ban, bộ phận trong doanh nghiệp, không chỉ riêng bộphận kế toán như phương pháp tính giá truyền thống Nếu triển khai áp dụng sẽ ảnhhưởng đến khối lượng công việc của các bộ phận khác, và do vậy chắc chắn khitriển khai sẽ gây ra những phản ứng khác nhau

Riêng với các doanh nghiệp nhỏ tại Việt Nam việc áp dụng các phương phápnày trở nên khó khăn Các yếu tố cản trở việc thực hiện phương pháp ABC ở cácdoanh nghiệp này như thiếu dữ liệu, thiếu nguồn lực kỹ thuật, tài chính và thiếu sự

hỗ trợ đầy đủ của máy tính Có lẽ khó khăn chủ yếu nhất đó là việc thu thập dữ liệu,tập trung vào việc xử lý các số liệu cần thiết theo một cách thức chính xác với chiphí chấp nhận được Những doanh nghiệp nhỏ rất kỹ lưỡng trong việc chọn và phân

Trang 31

tích loại thông tin sử dụng để xác định chi phí gián tiếp, bởi việc thu thập nhữngthông tin cần thiết theo phương pháp ABC rất tốn kém, trong khi những doanhnghiệp này thường bị ràng buộc về vấn đề tài chính Do vậy việc tìm kiếm mộtphương pháp có thể cho phép những doanh nghiệp nhỏ thu thập những thông tin vềchi phí sản phẩm một cách chính xác với chi phí thấp là một điều cần thiết

Với những khó khăn như trên, đòi hỏi các nhà quản lý doanh nghiệp ở ViệtNam phải có những tư tưởng tiến bộ, có những bước đột phá trong suy nghĩ cũngnhư hành động

Trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, giá bán sản phẩm hầunhư là giá thị trường vì sản phẩm tương tự và sản phẩm thay thế rất đa dạng, do đó

để mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận đạt được, các doanh nghiệp bắt buộc phải có sựcạnh tranh về giá thành, nghĩa là doanh nghiệp nào có giá thành sản phẩm thấp thìdoanh nghiệp đó sẽ tồn tại và phát triển

Phương pháp ABC giúp doanh nghiệp tính toán, phân bổ chính xác chi phí,

từ đó tính toán đúng giá thành cũng như đưa ra các chiến lược về sản phẩm phùhợp Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này tạo ra sự phức tạp trong cơ cấu chiphí, đòi hỏi nhiều công sức và tốn kém trong quá trình tổ chức và thu thập thông tin

Do vậy các doanh nghiệp cần cân nhắc giữa chi phí bỏ ra và lợi ích đạt được khi ápdụng phương pháp ABC

1.3.2.2 Vận dụng phương pháp ABC ở các doanh nghiệp Sợi

Hiện nay, số lượng doanh nghiệp Sợi tại Việt Nam ngày càng gia tăng Vớiyêu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng về chủng loại, khắc khe về chất lượng,mẫu mã cũng như quy cách của từng sản phẩm Điều đó, đòi hỏi các doanh nghiệpSợi tại Việt Nam phải không ngừng phát triển, đầu tư cơ sở vật chất, dây chuyềncông nghệ,…để đáp ứng được những yêu cầu đó, vững bước trên con đường kinhdoanh của mình

Với đặc điểm sản xuất của các doanh nghiệp Sợi là từ nguyên liệu phải trảiqua rất nhiều giai đoạn công nghệ mới tạo ra được sản phẩm hoàn chỉnh Sản phẩmcủa giai đoạn trước là nguyên liệu cho giai đoạn công nghệ tiếp theo Và quá trình

Trang 32

sản xuất thường được theo các phân xưởng sản xuất Mỗi dây chuyền sản xuất vớinhững quy cách kỹ thuật sẽ chuyên sản xuất những loại sản phẩm sợi nhất định Vớiđặc điểm sản xuất là qua nhiều công đoạn nối tiếp nhau trong doanh nghiệp sẽ tạođiều kiện thuận lợi cho việc phân định chi phí cho từng hoạt động, kiểm soát đượcluồng chi phí Hơn nữa, quá trình sản xuất được thực hiện tại các dây chuyền sảnxuất tại các phân xưởng sản xuất, điều này giúp cho quá trình tập hợp chi phí sảnxuất chung sẽ ít thiếu sót và sẽ chính xác hơn Việc áp dụng phương pháp ABC vàocông tác tính giá thành tại các doanh nghiệp sợi sẽ giúp các doanh nghiệp hiểu rõnguyên nhân làm phát sinh chi phí chung, phương pháp này quan tâm đến tất cả cácloại chi phí chung phát sinh trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm, cũng như cáchthức tập hợp và phân bổ những chi phí chung này đến từng sản phẩm dựa trên mộttiêu thức phân bổ hợp lý nhất, giúp cho công tác tính giá thành sản phẩm chính xác

và đúng đắn hơn

Tuy nhiên, với đặc điểm sản xuất và tổ chức sản xuất tại các doanh nghiệpsợi như hiện nay, thì để áp dụng và duy trì được hệ thống tính giá thành theophương pháp ABC sẽ phải tốn một khoản chi phí tương đối lớn và đôi khi, có thểvượt quá lợi ích mà nó mang lại Mặt khác, các doanh nghiệp Sợi tại Việt Nam hiệnnay chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nên vấn đề thiếu dữ liệu, thiếu nguồnlực kỹ thuật, tài chính và thiếu sự hỗ trợ đầy đủ của máy tính …là một trong các yếu

tố cản trở việc thực hiện phương pháp ABC đối với các doanh nghiệp sợi Vì vậy,việc tiếp cận và vận dụng một phương pháp kế toán mới như phương pháp ABCcòn hạn chế Hiện nay, trong ngành sản xuất Sợi tại Việt Nam có Tổng công ty DệtMay Gia Định đang áp dụng phương pháp tính giá thành này

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Kế toán quản trị là một bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý, đặc biệtthích ứng với yêu cầu của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Tập hợp chi

Trang 33

phí sản xuất và tính giá thành là nội dung quan trọng không thể thiếu trong công tác

kế toán ở các doanh nghiệp Tính đúng, tính đủ giá thành để làm cơ sở xác định giábán là một yêu cầu không thể thiếu được của một doanh nghiệp trong cơ chế thịtrường năng động như hiện nay

Phương pháp tính giá thành theo phương pháp truyền thống mà các doanhnghiệp đang áp dụng, tuy có những ưu điểm của nó, nhưng đã bộc lộ nhiều hạn chếcần khắc phục Vì vậy, vận dụng hệ thống tính giá thành theo phương pháp ABC làrất cần thiết, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi mà các doanh nghiệp với xuhướng cơ cấu chi phí quản lý cao cũng như cơ cấu sản phẩm đa dạng, phức tạp Từviệc tập hợp chi phí các nguồn lực vào các hoạt động cùng với việc vận dụng nhiềutiêu thức phân bổ khác nhau dựa trên mối quan hệ giữa hoạt động và đối tượng chịuphí thì phương pháp ABC hầu như thể hiện sự vượt trội hơn hẳn so với hệ thống chiphí truyền thống và đem lại thông tin chi phí đáng tin cậy hơn

Qua chương I, đề tài đã nêu lên được sự hình thành, vai trò, các bước thựchiện trong phương pháp ABC, cũng như trình bày được kinh nghiệm vận dụngphương pháp ABC tại các nước trên thế giới nói chung và sự vận dụng phươngpháp ABC tại Việt Nam nói riêng Phương pháp ABC đã được áp dụng tại nhiềunước tiên tiến, phát triển trên thế giới nhưng với các doanh nghiệp Việt Nam đâycòn là một khái niệm hết sức mới mẻ, và do vậy rất khó có thể tiếp cận vào ViệtNam Tuy nhiên, với lực lượng lao động, đội ngũ quản lý dần dần được trẻ hóa nhưhiện nay, thiết nghĩ không còn xa để có thể vận dụng những phương pháp kế toánquản trị mới trong đó có phương pháp ABC vào trong công tác kế toán phục vụ tốtcho việc quản trị của doanh nghiệp

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TÍNH GIÁ THÀNH TẠI CÔNG TY SỢI THUỘC TỔNG CÔNG TY CP DỆT MAY HÒA THỌ2.1 Tổng quan về Công ty Sợi thuộc Tổng công ty CP Dệt may Hòa Thọ

Trang 34

2.1.1 Công ty Sợi - Đơn vị trực thuộc Tổng công ty CP Dệt may Hòa Thọ.

2.1.1.1 Khái quát về Tổng công ty cổ phần Dệt may Hòa Thọ:

- Sự hình thành Tổng công ty cổ phần Dệt may Hòa Thọ:

Địa chỉ công ty: 36 Ông Ích Đường – Quận Cẩm Lệ - TP Đà Nẵng

Tên giao dịch: HOATHO TEXTILE GARMENT COMPANY

Tên viết tắt: HOTEXCO

Năm 1997, Công ty đổi tên thành Công ty Dệt may Hòa Thọ theo quyết địnhthành lập số 241/QĐ-TCLĐ của Bộ Công nghiệp nhẹ nay là Bộ Công nghiệp Hiệnnay là một trong 44 thành viên của Tổng Công ty Dệt may Việt Nam theo quyếtđịnh số 91/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

Ngày 01/01/2006 Công ty Dệt may Hòa Thọ được đổi tên thành Công tyTNHH Nhà nước MTV Dệt may Hòa Thọ Đến 15/11/2006 Công ty đã đổi tênthành Tổng Công ty cổ phần Dệt may Hòa Thọ Hiện nay, là đơn vị thành viên củaTập đoàn dệt may Việt Nam (Vinatex) và Hiệp hội dệt may Việt Nam (Vitas) thuộc

Bộ công nghiệp

Lĩnh vực hoạt động: Sản xuất kinh doanh, xuất khẩu các loại sản phẩm maymặc, các loại sợi, nhập khẩu các loại nguyên liệu thiết bị thiết yếu dùng để kéo sợi

và sản xuất hàng may mặc

Trang 35

Chức năng và nhiệm vụ của Tổng công ty cổ phần Dệt may Hòa Thọ

Chuyên sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu hàng dệt may gồm:

- Sản phẩm chính: các loại sợi như: sợi cotton chải thô, chải kỹ, sợi pha T/C,sợi polyester

- Sản phẩm may mặc: jacket, sơmi, T-shirt, đồ bảo hộ lao động, quần âu

- Ngoài ra, công ty còn gia công sản xuất cho các công ty như: Puma, Haggar,Perry Ellis…

- Công ty chuyên sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu hàng dệt may gồm: cácloại nguyên liệu bông, xơ, sợi vải dệt kim, vải demin và các sản phẩm may mặc dệtthoi, các loại khăn bông, nhập khẩu thiết bị phụ tùng, động cơ, vật liệu, điện tử, hóachất, thuốc nhuộm

- Chịu trách nhiệm sản xuất theo đúng yêu cầu sản phẩm đề ra Không ngừngnâng cao chất lượng sản phẩm, cùng với việc đào tạo cán bộ nhân viên nâng cao taynghề nhằm đưa doanh nghiệp đi lên Xây dựng môi trường làm việc an toàn, lànhmạnh, chăm lo đời sống cán bộ công nhân viên đảm bảo chính sách xã hội và môitrường

- Bảo toàn nguồn vốn kinh doanh để tái đầu tư sản xuất nhằm đưa công tyngày càng phát triển

- Có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật thực hiệnđóng chức năng đã đăng ký Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước

Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty cổ phần Dệt may Hòa Thọ:

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

TỔNG GIÁM ĐỐC

Trang 36

: Quan hệ trực tuyến : Quan hệ chức năng

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty cổ phần Dệt may Hòa Thọ.

Trong cơ cấu tổ chức của Tổng công ty cổ phần Dệt may Hòa Thọ thì Hộiđồng quản trị có quyền lực cao nhất, là cơ quan quản lý Tổng Công ty , có quyềnnhân danh Tổng Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến quản lý, quyền lợicủa Tổng Công ty theo quy định của pháp luật và Điều lệ tổ chức và hoạt động củaTổng Công ty

Tổng giám đốc: là người đại diện theo pháp luật của Tổng Công ty, được Hộiđồng quản trị giao nhiệm vụ điều hành mọi hoạt động hàng ngày của Tổng Công ty.Phó Tổng giám đốc điều hành sợi và Phó Tổng giám đốc điều hành: giúp Tổnggiám đốc điều hành hoạt động của Công ty theo nhiệm vụ được phân công hoặc ủyquyền của Tổng giám đốc và chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc và pháp luật vềviệc thực thi những nhiệm vụ mà Tổng giám đốc đã phân công hoặc ủy quyền.Các phòng ban và đơn vị sản xuất: triển khai thực hiện những chỉ tiêu kếhoạch, các nhiệm vụ được phân công theo quy định

PHÓ TỔNG GIÁM

ĐỐC ĐIỀU HÀNH SỢI

PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH

Phòng kỹ thuật đầu tư quản lý chất lượng

Phòng tổ chức hành chính

Phòng kế

toán tài

chính

Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu

Phòng kỹ thuật công nghệ

Nhà máy may 3

Nhà máy may Hội An

Nhà máy may Duy

Xuyên

Nhà máy may Quảng Nam

Nhà máy may Đông Hà

Trang 37

2.1.1.2 Sự hình thành Công ty Sợi thuộc Tổng công ty cổ phần Dệt may Hòa Thọ:

Công ty Sợi thuộc Tổng Công ty cổ phần Dệt may Hòa Thọ được thành lập từnăm 1962 Khi mới thành lập, Công ty Sợi được lấy tên là Nhà máy sợi Đến ngày28/12/2007 Nhà máy sợi chính thức chuyển đổi tên thành Công ty Sợi theo Quyếtđịnh số 2164 QĐ/HĐQT-HT của Hội đồng quản trị về Phê duyệt phương án chuyểnđổi Nhà máy Sợi thành Công ty Sợi

Công ty có cơ cấu tổ chức sản xuất như sau:

Sơ đồ 2.2 Cơ cấu tổ chức sản xuất tại Công ty Sợi

Công ty Sợi có hai nhà máy sợi đang hoạt động với tổng số 52.000 cọc sợiđồng bộ Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 do SGS, Thụy Sỹ chứngnhận Các chương trình an ninh và đánh giá trách nhiệm xã hội SA 8000 hiện đangđược áp dụng nghiêm ngặt tại 02 nhà máy nhằm cung cấp môi trường làm việc antoàn, công bằng và khỏe mạnh cho cán bộ công nhân Việc kiểm tra chất lượng sợiđược thực hiện bằng máy kiểm tra chất lượng Uster Tester 4

Công ty Sợi có 02 nhà máy sản xuất với 03 phân xưởng được đầu tư dâychuyền công nghệ hiện đại, nhập khẩu từ nhiều nước khác nhau

- Nhà máy sợi 1: Nhà máy được thành lập năm 1962 và được tái đầu tư vào

năm 2002 Nhà máy có 32.000 cọc sợi đồng bộ Nhà máy 1 với 02 phân xưởngđược đầu tư 03 dây chuyền công nghệ: dây chuyền máy Italia, Bồ Đào Nha vàTrung Quốc Phân xưởng I chuyên sản xuất loại sợi Polyester (100%PE) Phânxưởng II chuyên sản xuất loại sợi Cotton chải thô, sợi Cotton chải kỹ

Công ty Sợi

Nhà máy sản xuất sợi 1

Phân xưởng 1

Nhà máy sản xuất sợi 2

Phân xưởng 2 Phân xưởng 3

Trang 38

+ Phạm vi chi số sợi: Từ chi số Ne 20/1, 30/1 và 40/1

+ Ứng dụng: Dệt kim, dệt thoi và sản xuất chỉ may

+ Tổng số công nhân: 490 người

+ Diện tích nhà xưởng: 11.000m2

+ Sản lượng hằng năm: ước đạt hơn 4.500 tấn/năm

+ Thị trường chủ lực: Ai Cập, Hàn Quốc, Malaysia, Philipines, Đài Loan,Thổ Nhĩ Kỳ và thị trường nội địa

+ Thị phần: 70% nội địa và 30% xuất khẩu

- Nhà máy sợi 2: Nhà máy vừa mới hoàn thành và đưa vào hoạt động tháng

12/2008 Nhà máy có 20.000 cọc sợi Nhà máy 2 với 01 phân xưởng được đầu tưnhiều dây chuyền công nghệ mới, chuyên sản xuất loại sợi tổng hợp sợi pha cotton

+ Sản lượng hàng năm: ước đạt hơn 3.000 tấn/năm

+ Thị trường chủ lực: Châu Á, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ và Thị trường nội địa + Thị phần: 90% xuất khẩu và 10% nội địa

Chức năng, nhiệm vụ của Công ty Sợi

- Chức năng: Tham gia hoạt động sản xuất của Tổng công ty, sản xuất cácloại sợi như: sợi cotton, sợi PE, sợi tổng hợp để cung cấp thị trường trong và ngoàinước, chuyên sản xuất sợi theo đơn đặt hàng và theo hợp đồng ký kết

- Nhiệm vụ:

+ Về sản xuất kinh doanh:

phẩm sợi hàng tháng, quý, năm đạt hiệu quả

Trang 39

sản xuất của Công ty hàng tháng, quý, năm

cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị phục vụ sản xuất

+ Về tài chính – kế toán:

đóng quy định của chế độ kế toán và hướng dẫn của Phòng Tài chính kế toán TổngCông ty

quý, năm

cần dùng (trừ máy móc thiết bị sản xuất) theo đóng quy định

+ Về đầu tư phát triển sản xuất:

triển sản xuất, đổi mới thiết bị công nghệ sản xuất của Công ty phù hợp với xuhướng phát triển và có hiệu quả

nhận bàn giao đưa vào sử dụng có hiệu quả các thiết bị mới đầu tư tại Công ty

2.1.1.3 Mối quan hệ giữa Công ty Sợi và Tổng công ty CP Dệt may Hòa Thọ.

Công ty chỉ được giao quản lý và được quyền sử dụng tài sản vào nhiệm vụsản xuất kinh doanh Tổng công ty có quyền điều chuyển tài sản giữa các Công ty

và chịu trách nhiệm về sự điều chuyển đó

Đối với tài sản cố định: Công ty được Tổng công ty giao tài sản cố định đểkhai thác, sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh Công ty thực hiện việctrích khấu hao và theo dõi tài sản cố định Cuối tháng, kế toán Công ty sẽ thống kênguyên giá, khấu hao, giá trị còn lại gửi về phòng kế toán Tổng công ty

Đối với tài sản lưu động: khi phát sinh nhu cầu nguyên vật liệu chính đểphục vụ cho quá trình sản xuất, thì Công ty sẽ lập và trình lên Phòng kế toán, Banlãnh đạo Tổng công ty để duyệt phương án mua mới hay nhập khẩu đối với trường

Trang 40

hợp cần mua mới hay nhập khẩu Trong trường hợp nguyên vật liệu chính còn đủtrong kho, Công ty có quyền xuất kho nguyên vật liệu chính để phục vụ cho quátrình sản xuất với số lượng căn cứ vào định mức sử dụng nguyên vật liệu chínhđược phòng kỹ thuật tại Công ty xây dựng và Tổng công ty phê duyệt từ đầu năm.Còn đối với các tài sản lưu động khác, công ty có quyền ký kết các hợp mua sắmđúng với nhu cầu sử dụng thực tế nhưng không vượt quá giá trị 200 triệu đồng/lôhàng và phải thực hiện đúng các quy định về mua bán, xuất nhập.

Công ty được quyền bố trí nhân sự, phân cấp và định rõ chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn của các nhân viên trong công ty, được chủ động điều hành mọi hoạtđộng sản xuất, máy móc, thiết bị, tìm kiếm đối tác, khách hàng

- Công ty Sợi có tổ chức bộ máy kế toán riêng và thực hiện toàn bộ côngviệc kế toán ở Công ty

2.1.2 Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm tại Công ty Sợi

Sơ đồ 2.3 Quy trình công nghệ sản xuất sợi

Nguồn nguyên liệu chính của Công ty Sợi là bông nguyên liệu và xơ hóa chất,qua các giai đoạn sản xuất và tạo thành sản phẩm sợi

2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý ở Công ty Sợi:

Bộ máy quản lý tại Công ty Sợi là một bộ phận quản lý của Tổng Công ty cổphần Dệt may Hòa Thọ, chịu sự giám sát và quản lý trực tiếp từ Tổng Công ty,được tổ chức theo hình thức trực tuyến chức năng

Máy đánh bông xơ

Bông thiên nhiên,

polyester

Máy ghép đợt 1

thô

Máy đánh cuộn

Máy kéo sợi con

Máy ghép

đợt 2

Máy sợi con

hoàn thành

Sợi cotton chải thô

Sợi cotton chải kỹ

Sợi pha cotton + polyester

Sợi polyester (100% PE)

Ngày đăng: 27/05/2019, 10:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w