Hiệu quả của việc phân cấp quản lý ngân sách ở địa phương có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển chung của cả nước, nếu việc phân cấp quản lý các cấp chính quyền địa phương tốt nó không
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGÔ THỊ BÍCH NGỌC
HOÀN THIỆN PHÂN CẤP QUẢN LÝ CHI
NGÂN SÁCH TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN PHÚ THÁI
Đà Nẵng, năm 2012
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là vấn đề có vai trò quan trọng trong quản lý vĩ mô nhưng nó cũng rất phức tạp, liên quan đến việc giải quyết mối quan hệ giữa các cấp quản lý trong việc tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ ngân sách nhà nước
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước có mục đích là chuyển giao trách nhiệm về quản lý ngân sách nhà nước cho chính quyền cấp dưới, nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương, tạo điều kiện cho các cấp chính quyền địa phương hoạt động độc lập hơn trong khả năng của mình
Trong những năm vừa qua, nước ta đã thực hiện tương đối tốt việc phân cấp quản lý ngân sách Đặc biệt Luật ngân sách ban hành năm 2002 đã tạo ra sự chuyển biến đáng kể trong phân cấp ngân sách cho địa phương, nhờ
đó đã góp phần ổn định và lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia, tạo điều kiện ổn định và tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội
Việc phân cấp quản lý ngân sách địa phương là một phần quan trọng trong phân cấp quản lý ngân sách ở nước ta Với điều kiện của từng địa phương mà việc phân cấp quản lý ngân sách giữa các cấp chính quyền địa phương cũng rất khác nhau Hiệu quả của việc phân cấp quản lý ngân sách ở địa phương có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển chung của cả nước, nếu việc phân cấp quản lý các cấp chính quyền địa phương tốt nó không những đảm bảo việc thực hiện tốt được các nhiệm vụ đề ra mà còn thể hiện sự tự chủ, sáng tạo của địa phương trong việc sử dụng ngân sách
Tuy nhiên, phân cấp quản lý ngân sách ở địa phương ngoài những thành tựu đạt được vẫn còn tồn tại những bất cập cần phải được hoàn thiện, để
Trang 3đảm bảo việc phân cấp quản lý ngân sách hiệu quả hơn góp phần phát triển kinh tế xã hội ở địa phương
Với lý do đó tôi chọn đề tài “Hoàn thiện phân cấp quản lý chi ngân
sách tỉnh Quảng Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục đích nghiên cứu:
Khảo sát đánh giá phân cấp quản lý chi ngân sách tỉnh Quảng Nam Từ
đó, đề xuất các quan điểm, các phương hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện phân cấp quản lý chi ngân sách tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới
Để thực hiện mục đích của luận văn phải hoàn thành các nhiệm vụ sau:
- Về mặt lý luận: hệ thống hóa các cơ sở lý luận liên quan đến đề tài: ngân sách nhà nước, ngân sách tỉnh, phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh, phân cấp quản lý ngân sách nhà nước và phân cấp quản lý ngân sách địa phương
- Phân tích thực trạng phân cấp quản lý chi ngân sách tỉnh Quảng Nam Các phân tích được tiến hành trên quan điểm phát triển và qua khảo sát phân tích thực tế nhằm phát hiện hệ thống phân cấp quản lý chi ngân sách ở địa phương Quảng Nam hiện hành còn những gì cản trở sự phát triển
- Đề xuất các quan điểm, phương hướng hoàn thiện hệ thống phân cấp quản lý chi ngân sách và biện pháp thực hiện đề xuất
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: là ngân sách địa phương tỉnh Quảng Nam, hệ thống phân cấp quản lý chi ngân sách tỉnh, huyện, xã
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu tình hình phân cấp quản lý chi ngân sách tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2007 – 2010
4 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của Chủ nghĩa Mac - Lênin làm phương pháp luận nghiên cứu về lĩnh vực
Trang 4hợp, thống kê, so sánh dựa trên lý thuyết tài chính và số liệu thực tiễn về ngân sách tỉnh Quảng Nam từ đó làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và các quan điểm của Đảng ta về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước trong công cuộc đổi mới đất nước
- Đánh giá thực trạng phân cấp quản lý chi ngân sách tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2007 – 2010
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát huy tính tích cực và hạn chế phân cấp quản lý chi ngân sách tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011 –
2015
6 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo phần nội dung của luận văn có 3 chương
Chương 1: Lý luận chung về ngân sách nhà nước và phân cấp ngân sách nhà nước
Chương 2: Thực trạng phân cấp quản lý chi ngân sách tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2007 – 2010
Chương 3: Quan điểm, phương hướng và biện pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện phân cấp quản lý chi ngân sách tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011 – 2015
Trang 5Chương 1 - LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
VÀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 Ngân sách nhà nước
1.1.1 Khái niệm ngân sách Nhà nước
Ngân sách Nhà nước cho đến nay có rất nhiều quan niệm của các nhà nghiên cứu đưa ra nhưng chưa có khái niệm thống nhất Theo các nhà kinh tế
cổ điển thì: “Ngân sách nhà nước là một văn kiện tài chính mô tả các khoản thu, chi của Chính phủ, được thiết lập hàng năm”, còn theo nhiều nhà kinh tế hiện đại thì cho rằng: “Ngân sách là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền mặt trong một giai đoạn nhất định của nhà nước”
Theo điều 1, Luật Ngân sách Nhà nước ban hành năm 2002 định nghĩa:
“Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm
để bảo đảm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”[1,tr.5]
Tuy có nhiều quan niệm về ngân sách nhà nước nhưng giữa chúng có những điểm chung:
- Ngân sách nhà nước là một đạo luật dự trù các khoản thu, chi của một chủ thể trong một thời gian nhất định, thường là một năm – gọi là năm tài chính
- Ngân sách nhà nước của một quốc gia được cơ quan lập pháp của quốc gia đó ban hành, nó là công cụ kinh tế của Nhà nước nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Nội dung chủ yếu của ngân sách là thu, chi nhưng không phải là các con số, cũng không chỉ là quy mô, sự tăng giảm số lượng tiền tệ đơn thuần,
mà còn phản ánh chủ trương phân cấp quản lý của Nhà nước, biểu hiện các
Trang 6kinh tế khác của nền kinh tế quốc dân trong quá trình phân bổ các nguồn lực của phân phối thu nhập
1.1.2 Bản chất của Ngân sách nhà nước
Hoạt động của ngân sách Nhà nước là hoạt động phân phối các nguồn tài chính, là quá trình giải quyết quyền lợi kinh tế giữa Nhà nước và xã hội với kết quả là các nguồn tài chính được phân chia thành hai phần: phần nộp vào ngân sách Nhà nước và phần để lại cho các thành viên của xã hội Phần nộp vào ngân sách Nhà nước sẽ tiếp tục phân phối lại, thể hiện qua các khoản cấp phát từ ngân sách cho các mục đích tiêu dùng và đầu tư
Trong quá trình phân phối giá trị tổng sản phẩm quốc dân đã làm xuất hiện hệ thống các quan hệ tài chính Hoạt động thu chi Ngân sách Nhà nước cũng là hoạt động tài chính và cũng làm nảy sinh các quan hệ tài chính Hệ thống các quan hệ tài chính tạo nên bản chất của ngân sách Nhà nước được thể hiện dưới hình thức cụ thể, đó là các mối quan hệ sau:
Một là, quan hệ tài chính giữa Nhà nước và các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh
Hai là, quan hệ tài chính giữa ngân sách Nhà nước với các đơn vị quản
lý Nhà nước nằm trong các lĩnh vực sự nghiệp văn hóa xã hội, hành chính và
Trang 7- Ngân sách Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực phân phối các nguồn tài chính, nó thể hiện các mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và xã hội
- Quyền lực ngân sách thuộc về Nhà nước, mọi khoản thu và chi tài chính của Nhà nước đều do Nhà nước quyết định và nhằm mục đích phục vụ yêu cầu thực hiện các chức năng của Nhà nước
Những nội dung trên chính là những mặt, những mối liên hệ quyết định
sự phát sinh, phát triển của ngân sách Nhà nước Do đó, có thể kết luận bản chất của ngân sách Nhà nước: ngân sách Nhà nước là hệ thống các mối quan
hệ kinh tế - xã hội giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình huy động, sử dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các năng quản lý và điều hành nền kinh tế - xã hội của mình
1.1.3 Chức năng của Ngân sách nhà nước
Qua phân tích bản chất và tính tất yếu khách quan của ngân sách Nhà nước có thể thấy chức năng của ngân sách Nhà nước bao gồm các khía cạnh chủ yếu sau: Ngân sách Nhà nước là công cụ thực hiện việc huy động và phân
bổ nguồn lực tài chính trong xã hội, đằng sau hoạt động thu chi ngân sách bằng tiền là sự thể hiện quá trình phân bổ các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh
Ngân sách Nhà nước là bộ phận của tài chính nhà nước nên nó có chức năng phân phối, chức năng giám đốc Trong nền kinh tế thị trường việc phân
bổ nguồn lực xã hội được thực hiện chủ yếu theo 2 kênh: kênh của các lực lượng thị trường và kênh của Nhà nước thông qua hoạt động thu chi của tài chính Nhà nước nói chung và ngân sách nói riêng từ đó nó còn có chức năng điều chỉnh quá trình kinh tế xã hội thông qua các công cụ của nó
Trang 81.1.4 Vai trò của ngân sách nhà nước trong nền kinh tế
Vai trò của ngân sách Nhà nước được xác định trên cơ sở các chức năng và nhiêm vụ cụ thể của nó trong từng giai đoạn
1.1.4.1 Huy động các nguồn lực tài chính
Huy động nguồn lực tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước là một vai trò quan trọng có tính chất truyền thống của ngân sách Nhà nước Vai trò đó bắt nguồn từ nhu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy quản lý Nhà nước Hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực luôn đòi hỏi phải có các nguồn tài chính để chi tiêu cho những mục đích xác định Các nhu cầu chi tiêu này được thõa mãn bằng các nguồn thu ngân sách Nhà nước, mà chủ yếu
là thuế
Tuy nhiên cũng cần nhận thấy rằng nguồn lực tài chính Nhà nước tập trung vào tay mình thông qua công cụ ngân sách Nhà nước là kết quả hoạt động kinh tế của các chủ thể trong nền kinh tế Do đó việc động viên nguồn lực tài chính không phải là vô hạn mà cần có sự cân nhắc tính toán cẩn thận
Có như vậy mới phát huy vai trò tích cực của ngân sách Nhà nước trong việc động viên nguồn lực tài chính cho Nhà nước Tiêu chuẩn quan trọng để phát huy vai trò động viên của ngân sách Nhà nước là phải xem xét đến khía cạnh lợi ích giữa Nhà nước và các chủ thể kinh tế Phạm vi, mức độ động viên của ngân sách Nhà nước sao cho phù hợp giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích tụ
và tập trung nhằm không ngừng gia tăng các nguồn lực tài chính của xã hội
1.1.4.2 Điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Xuất phát từ điều kiện cụ thể, trong giai đoạn hiện nay, ngân sách Nhà nước có vai trò là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội của Nhà nước Vai trò này xuất hiện trước nhu cầu phải có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế nhằm khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường, giúp nền kinh tế - xã hội phát triển cân đối và hợp lý hơn Nhà nước thực hiện vai
Trang 9trò điều tiết vĩ mô của mình thông qua các hoạt động thu chi ngân sách, thể hiện theo ba nội dung cơ bản sau:
Về mặt kinh tế: Để duy trì sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đòi hỏi sự cần thiết phải có Nhà nước can thiệp Trong đó, Nhà nước có vai trò định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất, kinh doanh và chống độc quyền Nhà nước không thể bỏ qua công cụ ngân sách khi thực hiện vai trò này Ngân sách Nhà nước cung cấp nguồn kinh phí để Nhà nước đầu tư cho kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp ở các ngành then chốt và mũi nhọn Các khoản chi đầu tư của ngân sách Nhà nước có tác dụng định hướng hình thành cơ cấu kinh tế và là động lực thúc đẩy sự ra đời của các cơ sở kinh tế mới Ngoài ra, Nhà nước còn sử dụng các công cụ bộ phận của ngân sách Nhà nước là thuế
và chi đầu tư của ngân sách để hướng dẫn, kích thích và tạo sức ép đối với các chủ thể trong hoạt động kinh tế Với việc phối hợp vận dụng thuế trực thu và thuế gián thu, thuế suất thích hợp có tác dụng hướng dẫn, khuyến khích thúc đẩy các thành phần kinh tế mở rộng hoạt động kinh doanh, tạo ra môi trường cạnh tranh, thu hút vốn đầu tư và định hướng đầu tư của khu vực doanh nghiệp
Về mặt xã hội: Thực tiễn cho thấy áp dụng mô hình kinh tế thị trường bên cạnh những mặt tích cực, cũng làm nảy sinh nhiều khía cạnh tiêu cực mà bản thân kinh tế thị trường đơn thuần không thể giải quyết được như vấn đề phân cực giàu nghèo, các tệ nạn xã hội Để giải quyết các vấn đề đó cần có sự can thiệp của Nhà nước Trong kinh tế thị trường, giải quyết tốt các vấn đề xã hội nảy sinh thuộc về chức năng, vai trò, nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước Để thực hiện vai trò đó, Nhà nước phải sử dụng đến công cụ ngân sách Nhà nước Thông qua công cụ thuế, Nhà nước thực hiện việc điều tiết thu nhập đảm bảo công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách chênh lệch thu nhập Thông qua các
Trang 10khoản chi Ngân sách nhà nước thực hiện các chính sách xã hội, đảm bảo cho
xã hội phát triển công bằng văn minh
Về mặt thị trường: ngân sách Nhà nước có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các chính sách về ổn định giá cả, thị trường Cung cầu và giá
cả thường xuyên tác động lẫn nhau và chi phối mạnh sự hoạt động của thị trường Sự mất cân đối giữa cung và cầu sẽ tác động đến giá cả, làm cho giá
cả tăng hoặc giảm đột biến và gây ra biến động trên thị trường Đồng thời, mối quan hệ giữa giá cả, thuế và dự trữ Nhà nước có ảnh hưởng sâu sắc tới tình hình thị trường Cả ba yếu tố này đều không tách rời hoạt động của ngân sách Nhà nước Để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và kích thích sản suất phát triển, Nhà nước phải theo dõi sự biến động của giá cả trên thị trường
và phải có nguồn dự trữ về hàng hóa và tài chính để điều chỉnh Sự điều tiết linh hoạt và có hiệu quả của Nhà nước đối với hoạt động của thị trường thông qua các loại quỹ dự trữ của Nhà nước sẽ phụ thuộc vào mức độ hình thành các loại quỹ dự trữ này trong nền kinh tế quốc dân Trong quá trình điều chỉnh thị trường ngân sách Nhà nước còn tác động đến sự hoạt động của thị trường tiền
tệ, thị trường vốn và trên cơ sở đó góp phần khống chế và đẩy lùi lạm phát
1.1.5 Hệ thống ngân sách nhà nước
Hệ thống ngân sách nhà nước là tổng thể các cấp ngân sách, có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu chi của mỗi cấp ngân sách
Theo Hiến pháp ở nước ta, quy định mỗi cấp chính quyền có một cấp ngân sách riêng để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình tại địa phương Cấp ngân sách được hình thành trên cơ sở cấp chính quyền Nhà nước Phù hợp với mô hình hệ thống chính quyền Nhà nước ta hiện nay, hệ thống ngân sách nhà nước theo Luật định bao gồm ngân sách Trung ương và
Trang 11ngân sách các cấp chính quyền địa phương, ngân sách địa phương gồm [1,tr.41]:
- Ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là ngân sách tỉnh)
- Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách huyện)
- Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã)
Sơ đồ 1.1 : Hệ thống các cấp ngân sách nhà nước
1.1.6 Quản lý ngân sách nhà nước
1.1.6.1 Nguyên tắc quản lý ngân sách
Trong quản lý ngân sách Nhà nước ở các nước có nền kinh tế thị trường đều tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản sau:
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
NGÂN SÁCH CẤP TỈNH, THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG (NGÂN SÁCH TỈNH)
NGÂN SÁCH HUYỆN, QUẬN THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TỈNH (NGÂN SÁCH HUYỆN)
NGÂN SÁCH XÃ, PHƯỜNG
THỊ TRẤN (NGÂN SÁCH XÃ)
Trang 12- Nguyên tắc thống nhất: Nhà nước chỉ có một ngân sách tập hợp tất cả các khoản thu và các khoản chi
- Nguyên tắc về sự đầy đủ và toàn bộ của ngân sách Nhà nước, nhằm quản lý tập hợp mọi khoản thu chi đều được quản lý qua ngân sách, không có tình trạng để ngoài ngân sách
- Nguyên tắc trung thực: đòi hỏi mọi khoản thu chi ngân sách phát sinh đều phải được thể hiện chính xác, đầy đủ, phản ánh đúng với thực chất của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
- Nguyên tắc công khai: Nhà nước phải công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng
Trên thực tế, ở mỗi nước và trong từng giai đoạn, vì lợi ích giai cấp và
vì lý do khác, nhiều khi những nguyên tắc cơ bản cũng bị vi phạm hoặc chỉ được chấp hành một cách hình thức
1.1.6.2 Quản lý thu ngân sách nhà nước
Thu ngân sách Nhà nước là những khoản tiền Nhà nước huy động vào Ngân sách nhà nước để thõa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Tuy nhiên, thực chất thu ngân sách Nhà nước chỉ bao gồm thu mang tính bắt buộc dưới hình thức thuế, các khoản thu phí, lệ phí và các khoản thu khác Về mặt bản chất, thu ngân sách nhà nước là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm thõa mãn các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Thu ngân sách nhà nước có vai trò đảm bảo nguồn vốn thực hiện các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, đồng thời thông qua thu ngân sách nhà nước, nhà nước thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế Căn cứ vào hình thức động viên, thu ngân sách nhà nước gồm 3 loại thu dưới hình thức nghĩa vụ thuế, phí lệ phí, thu đóng góp tự nguyện và thu vay mượn trong và ngoài nước
Trang 13Trong quản lý thu ngân sách, khả năng thu ngân sách được đánh giá bằng tỷ lệ thu ngân sách và GDP, so sánh tốc độ tăng thu và tăng GDP xem thu ngân sách có tương xứng với GDP nhằm đảm bảo tính hợp lý, không lạm thu, vừa đảm bảo, bồi dưỡng nguồn thu và kích thích tăng trưởng kinh tế Ngoài ra trong cơ cấu thu còn tính đến tỷ lệ các khoản thu thuế, phí, lệ phí trong tổng thu, tỷ lệ này lớn thể hiện tính ổn định trong thu ngân sách
Nội dung quản lý thu ngân sách được thể hiện qua các khâu lập dự toán từng khoản thu trên cơ sở nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội; chế độ chính sách thu ngân sách hiện hành; tình hình thực hiện thu ngân sách năm trước, khâu tổ chức thực hiện có vai trò quan trọng, đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp chính quyền trong thực hiện nhiệm vụ thu, đảm bảo thu đúng, thu đủ và huy động kịp thời nguồn lực phục vụ nhu cầu chi Kết thúc năm tài chính so sánh kết quả thực hiện với số dư dự toán được lập đầu năm,
từ đó có đánh giá mức độ hoàn thành, những kết quả đạt được và tồn tại cần phải khắc phục Ngoài ra, công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách được quan tâm, chú trọng thường xuyên, nó giúp phát hiện, ngăn chặn kịp thời những hiện tượng tiêu cực trong quản lý, chấp hành các luật thuế; các khoản thu phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước; các chế độ về
kế toán thống kê thuế từ đó góp phần hạn chế chống thất thu ngân sách nhà nước, đảm bảo nguồn lực cho thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
1.1.6.3 Quản lý chi ngân sách nhà nước
Chi ngân sách Nhà nước là những khoản chi tiêu do Chính phủ hay các pháp nhân hành chính thực hiện để đạt được các mục tiêu công ích, chẳng hạn như bảo vệ an ninh trật tự, đảm bảo xã hội,… Về mặt bản chất, chi ngân sách nhà nước là hệ thống những quan hệ phân phối lại các khoản thu nhập phát sinh trong quá trình sử dụng có kế hoạch quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm thực hiện tăng trưởng kinh tế, từng bước mở rộng sự nghiệp văn hóa xã
Trang 14hội, duy trì hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước và đảm bảo an ninh quốc phòng
Trong chi ngân sách nhà nước, chủ yếu là chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên Đối với chi thường xuyên, là khoản chi gắn liền với thực hiện chức năng quản lý kinh tế xã hội của nhà nước, đảm bảo mục đích tiêu dùng, duy trì hoạt động của bộ máy hành chính, nội dung chi rất đa dạng Tuy nhiên, do nguồn thu ngân sách nhà nước có giới hạn, nhu cầu chi đầu tư lớn nên trong quản lý chi thường xuyên đòi hỏi phải thực hiện nghiêm nguyên tắc chi theo dự toán được duyệt, đúng nội dung, đối tượng, định mức chi; đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả Mọi khoản chi trong dự toán được cấp có thẩm quyền giao phải được kiểm soát trước, trong và sau chi đảm bảo đúng tiêu chuẩn, định mức chi theo hướng dẫn của Bộ tài chính hoặc liên tịch giữa Bộ Tài chính và bộ chuyên ngành, định mức chi đã được Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định Đối với chi đầu tư phát triển có tính đến cơ cấu chi thỏa đáng cho xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội, đây là nguyên tắc trong bố trí và danh mục đầu tư, tránh phân tán, dàn trãi và đảm bảo phát triển cân đối giữa các ngành và vùng kinh tế Ngoài ra, trong quản lý chi đàu tư còn phải thực hiện nghiêm nguyên tắc cấp phát vốn đầu tư như trình tự đầu tư và xây dựng, đảm bảo đúng mục đích, đúng kế hoạch; thực hiện cấp phát theo mức độ thực tế hoàn thành theo đúng dự toán được duyệt
Chi ngân sách nhà nước được đo bằng tỷ lệ tổng chi ngân sách với GDP; chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi sự nghiệp được xác định tỷ
lệ so với tổng chi và so với GDP Mối tương quan giữa tổng thu và tổng chi,
tỷ lệ tổng thu, tổng chi; chi đầu tư phát triển, chi giáo dục so với GDP thể hiện quy mô và trình độ phát triển của từng địa phương Trong chi ngân sách phải đảm bảo tỷ lệ hợp lý giữa chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển;
Trang 15trong chi thường xuyên quan tâm đến tỷ lệ chi cho giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ
1.2 Phân cấp quản lý chi ngân sách nhà nước
1.2.1 Bản chất của phân cấp quản lý ngân sách
Phân cấp quản lý ngân sách được đề cấp với ý nghĩa như sau:
Thứ nhất, phân cấp quản lý ngân sách bao gồm quyền quyết định và quyền quản lý về ngân sách
Khi nói đến phân cấp quản lý ngân sách, chúng ta dường như ý chú đến thẩm quyền quyết định ngân sách, mà chỉ tập trung vào phân cấp quản lý theo nghĩa hẹp - phân cấp trong hoạt động tổ chức, điều hành, thực thu ngân sách được cấp trên giao Do đó chúng ta thường sử dụng khái niệm phân cấp quản
lý ngân sách Đồng thời khái niệm này được sử dụng tập trung vào sự phân cấp giữa các cấp chính quyền nhà nước Theo đó, phân cấp ngân sách nhà nước được hiểu là việc xác định phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền nhà nước ở mỗi cấp trong việc quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ thu, chi ngân sách nhà nước
Thực chất của phân cấp quản lý ngân sách là giải quyết mối quan hệ giữa các cấp ngân sách chính quyền cả về quyền hạn và trách nhiệm đối với ngân sách nhà nước Theo ông Michel Bouvier – giáo sư về tài chính công của Đại học Paris 1 Pantheon – Sorbonne, thẩm quyền trong phân cấp quản lý ngân sách bao gồm quyền quyết định ngân sách và quyền quản lý ngân sách [4, tr.11-17] Quyền quyết định là thẩm quyền tự quyết về các chính sách, chế
độ, định mức liên quan đến thu, chi ngân sách, chẳng hạn, quyết định các nhiệm vụ chi theo cầu của địa phương, còn thẩm quyền quản lý gắn với việc lập kế hoạch, tổ chức, điều hành và giám sát các hoạt động thu chi ngân sách
Trang 16Thực ra, khó có thể tách biệt một cách tuyệt đối thẩm quyền quyết định ngân sách cà thẩm quyền quản lý ngân sách Địa phương sẽ không thể quản lý được ngân sách của địa phương một cách có hiệu quả, phù hợp với thực tế của địa phương nếu mọi quyết định đều do Trung ương đưa ra Trên thực tế, Chính phủ, Trung ương giao ngày càng nhiều quyền quyết định cho chính quyền địa phương Luật ngân sách nhà nước năm 2002 cho phép chính quyền cấp tỉnh quyết định phân cấp các nguồn thu, nhiệm vụ chi cụ thể cho chính quyền cấp dưới, quyết định một số loại phí, lệ phí trên địa bàn, quyết định một số chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu ngân sách ở địa phương
Thứ hai, khái niệm phân cấp ngân sách được xem xét tập trung vào khía cạnh phân cấp quyền hạn và trách nhiệm giữa các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Trong phân cấp quản lý ngân sách thì phân cấp giữa các cấp chính quyền nhà nước là mối quan hệ cơ bản và quan trọng nhất Do đó, khi nói đến phân cấp tài chính, các nước đều tập trung vào quan hệ giữa các cấp chính quyền trong lĩnh vực ngân sách Chế độ pháp lý về phân cấp quản lý ngân sách bao gồm các quy phạm pháp luật xác định, quyền hạn, nhiệm vụ của các cấp chính quyền nhà nước trong việc quản lý và điều hành ngân sách Ở nước
ta, Luật ngân sách nhà nước năm 1996 và năm 2002 đều nhấn mạnh phân cấp ngân sách dưới góc độ giải quyết các mối quan hệ giữa chính quyền nhà nước Trung ương và chính quyền nhà nước địa phương trong toàn bộ hoạt động ngân sách nhà nước
Như vậy, phân cấp quản lý ngân sách có thể hiểu là việc giải quyết mối quan hệ giữa các cấp chính quyền nhà nước về trách nhiệm và quyền hạn trong việc quyết định và quản lý hoạt động thu, chi ngân sách nhà nước ở cấp mình, nhằm thực hiện có hiệu quả các chức năng nhiệm vụ được pháp luật quy định
Trang 171.2.2 Sự cần thiết phân cấp quản lý ngân sách
Sự tồn tại của hệ thống chính quyền nhiều cấp đòi hỏi mỗi cấp chính quyền phải có nguồn lực tài chính tương ứng để thực thi các hoạt động ở cấp mình Nói cách khác, mỗi cấp chính quyền đều phải có ngân sách riêng của mình, được thông qua theo những quy định của Hiến pháp hay Pháp luật
Phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước là yêu cầu khách quan trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Yêu cầu khách quan đó nó bắt nguồn từ ba lý
và chi ngân sách, mỗi cấp chính quyền địa phương khó có thể thực hiện được các nhiệm vụ, trách nhiệm quản lý hành chính được phân cấp Việc để cho chính quyền mỗi cấp trực tiếp đề xuất và bố trí chi tiêu sẽ có hiệu quả cao hơn
là sự áp dặt từ trên xuống Đồng thời còn khuyến khích các địa phương phát huy tính độc lập, tự chủ, chủ động, sáng tạo của địa phương trong phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn
Vai trò của ngân sách Nhà nước rất quan trọng đối với từng địa phương cũng như đối với nền kinh tế quốc dân Quyết định đến sự tăng
Trang 18kinh tế Vì vậy, cần phải thông qua các chính sách tài chính hợp lý, phù hợp với từng thời kỳ như: chính sách đầu tư; chính sách thuế, phí và lệ phí; chính sách nhà ở, … Đồng thời cần định hướng cụ thể đối với một số chính sách như: chế độ đất đai, nhà ở, chế độ cho thuê nhà, chế độ thu phí, lệ phí, … Về định mức, tiêu chuẩn, chế độ, việc quy định thống nhất trong toàn quốc là yêu cầu khách quan của nền kinh tế xã hội Thực hiện phân trách nhiệm cho địa phương theo hướng: những tiêu chuẩn định mức quan trong phải do Nhà nước Trung ương thống nhất quản lý và quy định; còn một số tiêu chuẩn, định mức khác ít quan trọng hơn sẽ do chính quyền địa phương quy định, căn cứ vào khả năng vật chất và điều kiện cụ thể của từng địa phương mà có chính sách phù hợp và đúng luật
Rõ ràng, sự cần thiết phải sớm có chính sách cụ thể và thực hiện nghiêm minh, thì nguyên tắc thống nhất của ngân sách Nhà nước sẽ được phát huy Nếu không thì sự rối loạn sẽ ngày càng tăng, ảnh hưởng không tốt cho nền kinh tế xã hội
Nhiệm vụ của chính quyền địa phương vốn rất đa dạng và phức tạp, trong cơ chế mới vai trò của chính quyền địa phương lại càng quan trọng, hệ thống quản lý và quy chế quản lý ngân sách Nhà nước ở nước ta khá phức tạp
và chống chéo, quá nhiều tầng nấc, do đó không tập trung và không rõ trách nhiệm, từ đó mà yêu cầu hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách địa phương càng cấp thiết hơn
1.2.3 Các nguyên tắc phân cấp quản lý chi ngân sách nhà nước
1.2.3.1 Các nguyên tắc chung về phân cấp ngân sách
Các nguyên tắc chung về phân cấp ngân sách được đúc kết từ kinh nghiệm của thế giới là [4, tr.126-128]:
Trang 19Một là, phân công trách nhiệm rõ ràng Như vậy ở mỗi cấp chính quyền
cơ sở cần phải chịu trách nhiệm cung cấp các dịch vụ công phục vụ một cách nhanh nhất và đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của nhân dân trên địa bàn
Hai là, gắn nguồn lực với trách nhiệm Nguồn lực tài chính dành cho mỗi cấp chính quyền địa phương phải tương ứng với chi phí cần thiết mà chính quyền đó phải bỏ ra để cung cấp các dịch vụ này
Ba là, gắn trách nhiệm với quyền hạn Trách nhiệm chi tiêu của chính quyền địa phương cũng cần được gắn kết với quyền hạn của họ trong việc quản lý nguồn thu và chi tiêu của mình
Bốn là, phân cấp ngân sách phải đi đôi với việc nâng cao năng lực quản
lý của địa phương Khi quyết định mức độ phân cấp trách nhiệm thu thuế và chi tiêu cho địa phương, cần đánh giá năng lực quản lý của chính quyền địa phương
Năm là, phân cấp ngân sách phải dựa trên cơ sở tăng cường trách nhiệm giải trình của chính quyền trước nhân dân địa phương là yêu cầu quan trọng để đảm bảo cho chính quyền địa phương phải chi tiêu ngân sách một cách có hiệu quả
Sáu là, phân cấp ngân sách đồng thời gắn với việc tăng cường trách nhiệm giải trình của địa phương với quốc gia Nguồn lực tài chính và hoạt động chi tiêu của địa phương cũng là một nội dung của nguồn lực tài chính quốc gia và thực hiện các nhiệm vụ của quốc gia trong phạm vi địa phương theo các mục tiêu chung
Theo Luật ngân sách nhà nước, trong hệ thống ngân sách nhà nước ở Việt Nam, quan hệ giữa các cấp ngân sách trong hệ thống được thực hiện theo nguyên tắc [1, tr.42-43]:
Thứ nhất, phân cấp ngân sách nhà nước được tiến hành đồng bộ với phân cấp quản lý kinh tế và tổ chức bộ máy hành chính
Trang 20Thứ hai, đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương và vị trí độc lập của ngân sách địa phương trong hệ thống ngân sách nhà nước thống nhất
Thứ ba, phân định cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi của từng cấp ngân sách Ngân sách Trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi tiêu cụ thể
Thứ tư, đảm bảo nguyên tắc công bằng trong phân cấp ngân sách nhà nước Phân cấp ngân sách phải căn cứ vào yêu cầu cân đối chung cả nước, đồng thời phải hạn chế đến mức thấp nhất sự chênh lệch về kinh tế, văn hoá,
Trên cơ sở nguyên tắc chung nói trên, những nhiệm vụ chi có tính chất địa phương như: nước sạch, nước thải, rác thải và phòng cháy chữa cháy,…
Những nhiệm vụ chi về dịch vụ công đem lại lợi ích vượt quá phạm vi hành chính của mỗi địa phương sẽ thuộc về trách nhiệm của chính quyền Trung ương Các dịch vụ này bao gồm:
- Những dịch vụ không tách biệt được theo nhu cầu địa phương, chẳng hạn như quốc phòng, tư pháp hay những vấn đế quốc tế
Trang 21- Những dịch vụ có thể mang lại lợi ích cho nhiều đơn vị hành chính và được thực hiện thông qua nhiều hình thức hợp đồng hay phân bổ ngân sách, chẳng hạn như giao thông công cộng hay bảo đảm chất lượng nước sạch
- Những dịch vụ mà chi phí quản lý hành chính địa phương của chúng lớn hơn nhiều so với lợi ích địa phương nhận được, chẳng hạn như thuế thu nhập
Tóm lại, việc chi tiêu về dịch vụ công có thể giao cho chính quyền địa phương trên cơ sở cân nhắc về tính hiệu quả kinh tế theo quy mô, những ảnh hưởng lan toả về mặt lợi ích - chi phí, tính gần gũi với những đối tượng thụ hưởng, sự lựa chọn của người tiêu dùng và tính linh hoạt trong việc chọn cơ cấu ngân sách dành cho chi tiêu công
1.2.4 Nội dung phân cấp quản lý chi ngân sách Nhà nước
Phân cấp quản lý chi ngân sách không chỉ dừng lại ở việc phân giao nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách mà còn giải quyết tất cả các mối quan hệ
về kinh tế - tài chính giữa các cấp chính quyền địa phương, vì vậy phân cấp quản lý ngân sách bao gồm các nội dung sau:
1.2.4.1 Thẩm quyền quyết định định mức phân bổ và chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu ngân sách
Trong phân cấp quản lý ngân sách phải phân định rõ cấp chính quyền nào được ban hành chế độ, chính sách, định mức, tiêu chuẩn, chỉ tiêu ngân sách Những vấn đề này phải được quy định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn mỗi cấp, ngân sách địa phương vừa thể hiện tính chủ động, độc lập, vừa là sự chấp hành Các chế độ, chính sách định mức, tiêu chuẩn mỗi cấp ngân sách tuy phân định phạm vi, giới hạn nhưng chúng có mối quan hệ khăng khít và thống nhất Nếu không chấp hành nghiêm chỉnh trách nhiệm, quyền hạn của mỗi cấp chính quyền trong quản lý ngân sách thì
Trang 22khắc phục được tính chất áp dụng một cách cứng nhắc của các quy định từ trung ương
Theo Luật ngân sách nhà nước thẩm quyền quyết định định mức phân
bổ và chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu ngân sách được quy định như sau [1, tr.45-46]:
Đối với định mức phân bổ ngân sách: Thủ tướng chính phủ quyết định định mức phân bổ ngân sách làm căn cứ xây dựng dự toán, phân bổ ngân sách cho các bộ, các địa phương Hội đồng nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào định mức phân bổ ngân sách do Thủ tướng chính phủ ban hành, khả năng tài chính – ngân sách và đặc điểm tình hình tại địa phương, quyết định định mức phân bổ ngân sách làm căn cứ xây dựng dự toán và phân bổ ngân sách ở địa phương
Đối với các chế độ, tiêu chuẩn, định mức, chi tiêu ngân sách: các cơ quan có thẩm quyền quyết định gồm: Chính phủ, Thủ tướng chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và thủ trưởng đơn vị có thu
cụ thể:
Chính phủ căn cứ vào chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, Quốc hội quyết định những chế độ chi ngân sách quan trọng, phạm vi ảnh hưởng rộng, liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội của cả nước như: chế độ tiền lương, trợ cấp xã hội, chế độ đối với người có công với cách mạng, tỷ trọng chi ngân sách thực hiện nhiệm vụ giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ trong tổng chi ngân sách
Thủ tướng chính phủ quyết định các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu thực hiện thống nhất trong cả nước Đối với một số chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu để phù hợp đặc điểm của địa phương, thủ tướng chính phủ quy định khung và giao cho Hội đồng nhân dân tỉnh cấp tỉnh quyết định cụ thể
Trang 23Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách đối với các ngành, lĩnh vực sau khi thống nhất với các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được quyết định chế độ chi ngân sách đối với một số nhiệm vụ chi có tính chất đặc thù ở địa phương để thực hiện nhiệm
vụ phát triển kinh tế - xã hội, phù hợp với đặc điểm thực tế ở địa phương trên
cơ sở nguồn ngân sách địa phương đảm bảo Riêng những chế độ có tính chất tiền lương, tiền công, phụ cấp trước khi quyết định phải có ý kiến của các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo Bộ tài chính việc ban hành các chế độ chi ngân sách ở địa phương để tổng hợp và giám sát thực hiện
1.2.4.2 Phân cấp nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước
Phân cấp nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước là việc xác định phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền các cấp trong việc quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước
Theo Luật ngân sách nhà nước, phân cấp nhiệm vụ chi và quan hệ giữa các cấp ngân sách được thực hiện theo nguyên tắc: Ngân sách trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân cấp nhiệm vụ chi cụ thể; Ngân sách Trumg ương giữ vai trò chủ đạo và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối được thu, chi ngân sách; Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định việc phân cấp nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương; việc ban hành và thực hiện chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách phải có giải pháp bảo đảm nguồn tài chính phù hợp [1, tr.55]
Tùy thuộc vào nhiệm vụ được giao và chức trách quản lý của từng cấp chính quyền nhà nước, nói chung các cấp Ngân sách nhà nước đều thực hiện các nhiệm vụ chi theo các nội dung sau:
Trang 24- Chi đầu tư phát triển bao gồm : chi đầu tư xây dựng cơ bản các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, căn cứ vào trình độ, khả năng quản lý và khối lượng vốn đầu tư mà phân cấp cho cấp dưới; chi đầu tư và hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước; chi cho quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và các quỹ hỗ trợ đối với các chương trình, dự
án phát triển kinh tế; chi dự trữ Nhà nước và chi cho vay của Chính phủ
- Chi thường xuyên bao gồm: Chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo, sự nghiệp y tế, sự nghiệp văn hóa thông tin, sự nghiệp thể dục thể thao, sự nghiệp phát thanh truyền hình, sự nghiệp nghiên cứu khoa học, sự nghiệp xã hội, sự nghiệp kinh tế gồm: sự nghiệp lâm nghiệp, sự nghiệp nông nghiệp, thủy lợi, ngư nghiệp, sự nghiệp giao thông, sự nghiệp kiến thiết thị chính, sự nghiệp kinh tế công cộng, chi quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; chi hoạt động các cơ quan nhà nước, chi tài trợ cho các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp; chi hỗ trợ giá bù lỗ theo chính sách Nhà nước; các khoản chi khác theo quy định của pháp luật, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính, chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới
Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm Trường hợp tỉnh ban hành chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách sau khi dự toán đã được quyết định thì phải có giải pháp bố trí nguồn kinh phí thực hiện; cơ quan quản lý nhà nước cấp trên ủy quyền cho ngân sách cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của ngân sách cấp trên thì phải chuyển kinh phí
từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới thực hiện nhiệm vụ đó; ngoài việc bổ sung nguồn thu và ủy quyền thực hiện nhiệm vụ chi như trên, không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác
Trang 251.2.4.3 Phân cấp về quy trình ngân sách
Quy trình ngân sách là một quá trình với những khâu nối tiếp nhau là lập, chấp hành và quyết toán ngân sách, trong đó trung tâm của một quy trình ngân sách là việc tổ chức thực hiện dự toán
* Phân cấp trong lập và phân bổ dự toán ngân sách: [1, tr.59-68]
Hàng năm căn cứ theo chỉ thị của Thủ tướng chính phủ và văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính, yêu cầu cụ thể của địa phương UBND tỉnh hướng dẫn và thông báo dự toán ngân sách cho các đơn vị trực thuộc và Ủy ban nhân dân cấp dưới
Đối với năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách, cơ quan Tài chính chủ trì, phối hợp với cơ quan Kế hoạch và đầu tư tổ chức thảo luận với UBND cấp dưới trực tiếp, một số cơ quan đơn vị cùng cấp về dự toán ngân sách Trong những năm tiếp theo của thời kỳ ổn định, cơ quan tài chính cấp trên chỉ làm việc khi UBND cấp dưới đề nghị
Sở Tài chính chủ trì phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư:
- Xem xét dự toán của các đơn vị thuộc tỉnh
- Lập dự toán thu chi ngân sách nhà nước của tỉnh, dự toán chi chương trình mục tiêu quốc gia
- Báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh trước ngày 20 tháng 7
- Uỷ ban nhân dân tỉnh gởi dự toán ngân sách của tỉnh đến Bộ, ngành liên quan trước ngày 25 tháng 7
Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân mỗi cấp trong quá trình giao và phân
bổ ngân sách tỉnh như sau:
Đối với Uỷ ban nhân tỉnh: căn cứ vào Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng Nhân dân tỉnh quyết định dự toán ngân sách địa phương, phương án phân bổ cấp tỉnh và mức bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh cho ngân sách câp dưới trước ngày 10 tháng 12
Trang 26Đối với Uỷ ban nhân dân huyện: uỷ ban nhân dân huyện trình hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách cấp mình Uỷ ban nhân dân huyện thực hiện: giao nhiệm vụ thu chi cho từng cơ quan đơn vị trực thuộc, giao nhiệm vụ thu chi, mức bổ sung cho ngân sách cấp xã, tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu giữa huyện và xã
Đối với UBND xã: trình Hội đồng nhân dân xã quyết định dự toán ngân sách xã và phương án phân bổ ngân sách cấp mình Dự toán ngân sách xã phải được quyết định trước ngày 31 tháng 12
* Phân cấp trong chấp hành ngân sách địa phương: [1, tr.68-79]
Sau khi Hội đồng nhân dân thông qua ngân sách địa phương, uỷ ban nhân dân các cấp tổ chức thực hiện ngân sách
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm trước Chính phủ và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh về việc cấp hành ngân sách địa phương Các Sở chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân tỉnh về chấp hành ngân sách thuộc phạm vi của mình Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cấp mình và Ủy ban nhân dân cấp trên về việc chấp hành ngân sách cấp mình
Trong quá trình chấp hành ngân sách, Sở tài chính chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc chấp hành dự toán ngân sách địa phương Kho bạc nhà nước quản lý thu, chi quỹ ngân sách địa phương; Thủ trưởng các đơn vị
dự toán cấp I chịu trách nhiệm chấp hành nhiệm vụ chi của đơn vị dự toán
Hội đồng nhân dân các cấp có trách nhiệm giám sát Uỷ ban nhân dân
và các cơ quan trong việc chấp hành ngân sách địa phương
Căn cứ vào dự toán ngân sách nhà nước được giao, tiến độ triển khai nhiệm vụ và điều kiện chi ngân sách, thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách ra quyết định chi gởi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch, kèm theo các chứng từ
Trang 27cần thiết theo quy định của pháp luật Kho bạc kiểm tra tính hợp pháp của các
hồ sơ, chứng từ để thực hiện thanh toán khi có đủ các điều kiện theo quy định
* Phân cấp trong quyết toán ngân sách địa phương: [1, tr.80-88]
Ngân sách địa phương cũng như ngân sách nhà nước nói chung được quyết toán theo nguyên tắc từ cơ sở và thống nhất theo mục lục ngân sách Quy trình quyết toán ngân sách địa phương được tiến hành như sau:
- Các đơn vị sử dụng ngân sách (đơn vị dự toán cấp III) lập quyết toán gởi lên đơn vị dự toán cấp I Các đơn vị dự toán cấp I xét duyệt quyết toán của các đơn vị trực thuộc và lập quyết toán của cấp mình gởi cơ quan tài chính và uỷ ban nhân dân cùng cấp
- Các cấp ngân sách bên dưới xét duyệt quyết toán các đơn vị dự toán
và lập quyết toán của cấp mình gởi lên cơ quan tài chính cấp trên
- Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét quyết toán ngân sách địa phương và trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định phê chuẩn Hội đồng nhân dân tỉnh phê chuẩn quyết toán chậm nhất 12 tháng sau khi năm ngân sách kết thúc và quy định thời hạn phê chuẩn quyết toán ngân sách của Hội đồng nhân dân cấp dưới chậm nhất không quá 6 tháng khi năm ngân sách kết thúc
Theo quy trình ngân sách trên, vị trí vai trò của Hội đồng nhân dân các cấp được nâng lên đáng kể, thời kỳ ổn định ngân sách 4 năm tạo cho chính quyền địa phương chủ động lớn hơn trong xây dựng và phân bổ ngân sách cấp mình, khai thác tiềm năng trên địa bàn, góp phần vào sự phát triển kinh tế của địa phương
Ba nội dung phân cấp quản lý ngân sách có mối quan hệ khăng khít, các chế độ, chính sách quyết định đến quyền hạn, lợi ích, vật chất mỗi cấp ngân sách
Trang 281.3 Kinh nghiệm phân cấp quản lý chi ngân sách ở một số nước trên thế giới
1.3.1 Khái quát về tình hình phân cấp ngân sách ở các nước trên thế giới
Hiện nay ở nhiều nước trên thế giới, hệ thống ngân sách được tổ chức phù hợp với hệ thống hành chính Những nước có hệ thống hành chính liên bang thì hệ thống ngân sách sẽ bao gồm 3 cấp: Ngân sách liên bang, ngân sách bang và ngân sách địa phương Đối với những nước không theo chế độ liên bang, hệ thống ngân sách bao gồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương
Những đặc điểm đáng lưu ý của phân cấp ngân sách tại các nước trên thế giới.[4, tr.55-61]
Thứ nhất, ngân sách cấp dưới không thể hiện vào ngân sách cấp trên và ngân sách cấp trên không bao gồm ngân sách cấp dưới
Thứ hai, ngân sách Trung ương luôn giữ vai trò chủ đạo, đảm nhận những khoản chi lớn, có ảnh hưởng lan tỏa giữa các địa phương, còn chính quyền địa phương thực hiện các dịch vụ công chỉ đem lại lợi ích cho nhân dân địa phương và không ảnh hưởng lan tỏa đến các địa phương khác
Thứ ba, tình trạng phổ biến hiện nay ở nhiều nước là nhiệm vụ chi giao cho các địa phương luôn luôn lớn hơn khả năng nguồn thu được phân cấp Do
đó, một mặt, chính quyền địa phương phải nhận trợ cấp từ ngân sách Trung ương, mặt khác, chính quyền địa phương phải tiến hành các biện pháp vay nợ
để bù đắp thiếu hụt ngân sách với điều kiện mọi chính sách vay nợ hoặc khoản vay nợ của địa phương đều phải được chính phủ Trung ương phê duyệt
Thứ tư, việc phân cấp ngân sách nhà nước gắn liền với điều kiện quan trọng là các chính quyền địa phương phải có được một mức độ tự chủ nhất
Trang 29định trong việc quyết định phạm vi các dịch vụ của mình và chịu trách nhiệm cung cấp các dịch vụ đó cho cư dân địa phương
Mặc dù có những nguyên tắc giống nhau, nhưng phân bổ nhiệm vụ chi thực tế ở các nước không giống nhau
Qua bảng 1.1 có thể thấy ở nhiều nước, chính phủ can thiệp khá sâu, rộng vào các lĩnh vực, ở một số nước khác sự can thiệp giới hạn hơn Tuy nhiên, các lĩnh vực như quốc phòng, ngoại giao, ngoại thương, tài chính, ngân hàng, nhập cư đều do chính phủ trung ương đảm nhận Các lĩnh vực khác như môi trường, hàng không, đường sắt, bảo hiểm, thất nghiệp, nội vụ thường do chính phủ trung ương (hoặc Liên bang) và chính quyền cấp tỉnh (hoặc bang) đảm nhận Các lĩnh vực còn lại có sự phân chia trách nhiệm giữa Trung ương, tỉnh và các địa phương dưới tỉnh (cơ sở)
Trang 301.3.2 Phân cấp quản lý chi ngân sách cụ thể ở một số nước
1.3.2.1 Phân cấp quản lý chi ngân sách ở Pháp [4, tr.61-64]
Cơ quan quyền lực cao nhất của Pháp là quốc hội (hạ viện), ở các cấp địa phương là hội đồng nhân dân, các cơ quan này do dân bầu và là cấp có thẩm quyền quyết định ngân sách Quốc hội quyết định phân bổ ngân sách
Trang 31trung ương, hội đồng nhân dân quyết định phân bổ ngân sách trong từng đơn
vị hành chính địa phương
Cơ quan hành chính là chính phủ, ở các cấp chính quyền địa phương là
ủy ban nhân dân (Tòa thị chính) Về mặt ngân sách, cơ quan hành chính các cấp có nhiệm vụ xây dựng dự toán và tổ chức thực hiện ngân sách đã được quốc hội (hội đồng nhân dân) quyết định
Hệ thống ngân sách của Pháp bao gồm: Ngân sách trung ương, ngân sách vùng, ngân sách tỉnh, ngân sách xã
Ngân sách các cấp của Pháp độc lập với nhau, không có quan hệ thứ bậc, trên dưới mà chỉ có quan hệ bổ sung từ Ngân sách trung ương cho Ngân sách cấp dưới Việc phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cho các cấp được thực hiện theo nguyên tắc những nguồn thu lớn (thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng), những nhiệm vụ chi trọng yếu (quốc phòng, an ninh) thuộc nhiệm vụ ngân sách trung ương Những nguồn thu nhỏ hơn và những nhiệm vụ chi gắn với dân (giáo dục, y tế, vệ sinh môi trường …) được giao cho các cấp địa phương
Ngân sách các cấp chính quyền địa phương của nước Pháp được cân đối theo nguyên tắc: tổng số chi phải nhỏ hơn hoặc bằng tổng số thu (bao gồm
cả thu tiền vay và bổ sung từ ngân sách trung ương)
Khi lập và quyết định dự toán ngân sách địa phương phải xem xét giữa chi thường xuyên, chi đầu tư và nguồn bảo đảm chi đầu tư Nguồn để đảm bảo chi thường xuyên là các khoản thu từ thuế, trợ cấp cân đối Nguồn bảo đảm chi đầu tư là phần hỗ trợ mua thiết bị xây dựng các công trình của địa phương và nguồn cấp lại một phần thuế giá trị gia tăng trên địa bàn địa phương Trường hợp tiết kiệm được chi thường xuyên thì nguồn tương ứng sẽ được chuyển sang để chi đầu tư
Trang 32Trong quá trình chấp hành ngân sách, nếu có biến động phải thực hiện điều chỉnh để ngân sách luôn được cân đối
Bước đầu nghiên cứu về phân cấp quản lý chi ngân sách Pháp chúng ta thấy nổi lên 2 vấn đề là:
- Về phân cấp ngân sách, các cấp ngân sách hoàn toàn tự chủ về ngân sách của mình, điều đó tạo động lực quan trọng thúc đẩy tất cả các địa phương có trách nhiệm quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính của địa phương
Mặc dù địa phương tự chủ về ngân sách nhưng nhà nước trung ương vẫn tham gia vào công tác quản lý, vai trò tham gia của nhà nước cũng có mức độ, chủ yếu là bằng Luật pháp về ngân sách không tham gia sâu vào từng nội dung chi cụ thể của từng địa phương
- Quốc hội nước Pháp chỉ quyết định ngân sách trung ương (bao gồm
cả phần bổ sung cho địa phương), phần địa phương quốc hội có quyết định riêng trong đó chủ yếu là phần trợ cấp cho địa phương
1.3.2.2 Phân cấp quản lý chi ngân sách ở Nhật [5, tr.164-178]
Hệ thống ngân sách ở Nhật cũng được tổ chức trên cơ sở thể chế hành chính Nhật Bản có thể chế nhà nước phi liên bang, do đó ngân sách nhà nước gồm hai cấp: Ngân sách trung ương và ngân sách của chính quyền địa phương Trong ngân sách địa phương chia thành ngân sách tỉnh, ngân sách quận, huyện, thị xã và ngân sách xã, phường, thị trấn
Trong hệ thống ngân sách của Nhật, ngân sách trung ương cũng giữ vị trí chủ đạo, đảm nhận phần lớn nhiệm vụ chi và các khoản thu
Định mức chi về giáo dục, công trình công cộng, quản lý hành chính của các cấp ngân sách do Nhà nước quy định thống nhất áp dụng cho tất cả các địa phương
Trang 33Căn cứ vào định mức chi của Nhà nước, dân số, diện tích và các yếu tố khác (số giường bệnh, số trường học, số viên chức …) từng địa phương lập kế hoạch thu chi tài chính đưa ra Hội đồng nhân dân xem xét phê duyệt
Tỉnh nào thu không đủ chi thì Quốc hội có thể xem xét tài trợ Việc tài trợ chủ yếu nhằm mục đích thực hiện các dự án cụ thể Nếu địa phương nào thu vượt chi thì được tăng chi Nếu kế hoạch thu không đạt thì phải giảm chi tương ứng Khối lượng tài trợ của ngân sách trung ương cho địa phương là không đổi
1.3.2.3 Phân cấp quản lý chi ngân sách ở Malaysia [5, tr.202-224]
Malaysia là nước đang phát triển trong cùng khu vực và có nhiều đặc điểm kinh tế, tự nhiên tương đồng với Việt Nam và là nhà nước Liên bang
Hệ thống ngân sách ở Malaysia được tổ chức trên cơ sở thể chế hành chính gồm ba cấp: Ngân sách liên bang, ngân sách bang, ngân sách của chính quyền địa phương
Mỗi cấp ngân sách hoạt động dựa trên hiến pháp và luật pháp đã được quy định cho từng cấp Mối quan hệ giữa chính phủ liên quan với các bang về mặt tài chính chủ yếu thông qua: tiền viện trợ của ngân hàng liên bang cho các bang theo hiến pháp; tiền cung cấp của ngân sách liên bang cho các bang theo luật pháp; tiền cho vay của ngân sách liên bang cho các bang để thực hiện các dự án
Việc phân cấp nhiệm vụ chi ngân sách cho địa phương được thực hiện thông qua hệ thống luật pháp liên bang và bang Các khoản chi ngân sách địa phương bao gồm: chi thường xuyên của bộ máy hành chính địa phương, chi duy trì bảo dưỡng các cơ sở hạ tầng, chi cho các dự án phát triển của địa phương Nguồn thu của ngân sách địa phương thường không đủ chi mà phải
có trợ cấp từ liên bang và bang Toàn bộ công tác y tế, giáo dục và các khoản chi cho công tác này do liên bang đảm nhận
Trang 341.3.3 Một số vấn đề rút ra từ phân cấp quản lý chi ngân sách ở một số nước
Qua tham khảo phân cấp quản lý chi ngân sách ở một số nước chúng ta
có thể rút ra được một số nội dung lưu ý là:
Ở các nước liên bang, hệ thống ngân sách ở các nước liên bang bao gồm 3 cấp: ngân sách liên bang, ngân sách bang, và ngân sách địa phương Ở các nước phi liên bang (thống nhất), hệ thống ngân sách gồm hai cấp: ngân sách chính phủ và ngân sách địa phương
Ngân sách địa phương của các nước tuỳ thuộc vào hệ thống các đơn vị hành chính nhưng không nhất thiết cứ mỗi đơn vị hành chính đều phải là một cấp ngân sách Ví dụ, ở Đức có đơn vị hành chính tương đương cấp huyện ở Việt Nam, nhưng huyện không phải là một cấp ngân sách Nói chung, nếu bỏ qua vấn đề liên bang (ở các nước có thể chế liên bang), thì hệ thống ngân sách của các nước chỉ bao gồm 2 cấp cơ bản: ngân sách chính phủ (hoặc ngân sách bang) và ngân sách địa phương, bao gồm ngân sách các đơn vị hành chính cơ
sở và có cả đô thị (hoặc đô chính và xã) Tất cả hoạt động của chính quyền các cấp trung gian (tỉnh, huyện) đều do ngân sách chính phủ đài thọ
Việc phân cấp quản lý ngân sách ở các nước không thực hiện theo nguyên tắc lồng ghép, ngân sách cấp trên không bao gồm ngân sách cấp dưới, ngân sách chính phủ không bao gồm ngân sách địa phương Mỗi cấp chính quyền tự lập, duyệt và thực hiện ngân sách của cấp mình Muốn biết tổng số thu, chi ngân sách của cả quốc gia, phải cộng ngân sách của tất cả các cấp
Mối quan hệ giữa ngân sách chính phủ (ngân sách trung ương) và ngân sách địa phương, thì ngân sách chính phủ giữ vai trò chủ đạo, chính phủ trung ương thâu tóm các nguồn thu quan trọng nhất và đảm nhận các nhiệm vụ chi chủ yếu nhất Ngân sách địa phương đóng vai trò phụ thuộc, chủ yếu đảm nhận các nhiệm vụ gắn với tình hình ổn định và phát triển trong phạm vi địa
Trang 35phương như an ninh, trật tự xã hội, phúc lợi xã hội, giáo dục, bảo vệ sức khoẻ của nhân dân
Để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả của mối quan hệ tài chính tương tác giữa Trung ương và địa phương, việc phân cấp quản lý ngân sách ở các nước trên thế giới đang được triển khai, cần nghiên cứu vận dụng trong đổi mới phân cấp ở Việt Nam
Phân cấp ngân sách là xu thế tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế thị trường và dân chủ hóa đời sống kinh tế - xã hội Kinh nghiệm phân cấp ngân sách trên thế giới cho thấy những nguyên tắc phân cấp ngân sách đã được thừa nhận rộng rãi
Tuy nhiên, việc phân cấp ngân sách của các quốc gia lại rất đa dạng, không thể áp dụng rập khuôn một mô hình nào cho nước khác Do đó, mỗi nước phải căn cứ vào điều kiện cụ thể của nước mình để tiến hành phân cấp ngân sách
Từ nội dung nghiên cứu của một số nước trong phân cấp quản lý chi ngân sách, sẽ giúp chúng ta có thêm tư duy và cách nhìn khách quan trong quá trình đánh giá thực trạng phân cấp quản lý chi ngân sách địa phương ở Việt Nam, đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý chi ngân sách địa phương trong thời gian tới
Trang 36KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1 của Luận văn trình bày những lý luận tổng quan về phân cấp quản lý NSNN làm nền tảng để phát triển những nội dung tiếp theo của Luận văn, cụ thể bao gồm những vấn đề sau:
- Khái niệm và bản chất, chức năng và vai trò của NSNN
Trang 37Chương 2 - THỰC TRẠNG PHÂN CẤP QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH TỈNH QUẢNG NAM GIAI ĐOẠN 2007 – 2010
2.1 Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Nam
2.1.1 Vị trí địa lý của tỉnh
Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm miền Trung Phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng; phía Đông giáp biển Đông với trên 125 km bờ biển; phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi; phía Tây giáp tỉnh Kon Tum và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Quảng Nam có
14 huyện và 2 thành phố, trong đó có 08 huyện miền núi là Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Nam Trà My, Bắc Trà My, Phước Sơn, Hiệp Đức và Tiên Phước Diện tích tự nhiên 10.406,83 km2, dân số xấp xỉ 1.5 triệu người Quảng Nam ở vào vị trí trung độ của đất nước, nằm trên trục giao thông Bắc
- Nam về đường sắt, đường bộ và đường biển và đường hàng không, có đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 14D, 14B, 14E nối đồng bằng ven biển qua các huyện trung du miền núi của tỉnh đến biên giới Việt - Lào và các tỉnh Tây Nguyên; trong tương lai gần sẽ nối với hệ thống đường xuyên Á tạo vị trí thuận lợi cho tỉnh về giao lưu kinh tế với bên ngoài
Hơn thế nữa Quảng Nam nằm giữa thành phố Đà Nẵng (Trung tâm kinh tế lớn của khu vực miền Trung) và khu vực phát triển công nghiệp dịch
vụ Chu Lai Dung Quất, đây là một khu vực đang được hình thành và phát triển ở phía Nam Cảng Kỳ Hà, sân bay Chu Lai, cùng với diện tích mặt bằng đất cát ven biển rộng, gần hệ thống lưới điện quốc gia, có nguồn nước ngọt dồi dào, gần trục giao thông đường bộ, đường sắt, tạo thuận lợi cho việc hình thành các khu công nghiệp, dịch vụ du lịch, các đô thị mới
Ngày 1/1/1997, tỉnh Quảng Nam được chính thức tái lập Với vị trí địa
Trang 38và giao lưu kinh tế với các địa phương trong cả nước cũng như với các nước láng giềng Hơn thế nữa, Quảng Nam còn là một trong số rấ ít địa phương trong cả nước có sân bay, cảng biển, đường sắt và quốc lộ, đồng thời là nơi triển khai mô hình Khu kinh tế mở đầu tiên trong cả nước với những chính sách ưu đãi đầu tư hấp dẫn
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XIX, kinh tế của tỉnh đã có những chuyển biến tích cực Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn 5 năm đạt bình quân 12,8%/năm; GDP năm 2010 tăng gấp 1,8 lần
so với năm 2005; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Công nghiệp – xây dựng từ 24% tăng lên 39,5%; dịch vụ từ 35% tăng lên 39,5%; nông - lâm - ngư nghiệp từ 31% giảm xuống còn 21%; GDP bình quân đầu người (theo giá thực tế) đạt khoảng 17,66 triệu đồng/người/năm, vượt chỉ tiêu
đề ra (17,37 triệu đồng) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã kéo theo chuyển dịch
cơ cấu lao động xã hội Tỷ trọng lao động khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng từ 28,74% năm 2005 lên 40% năm 2010
Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 25,8%/năm, quy mô ngành công nghiệp đến cuối năm 2009 gấp 2,5 lần năm 2005 Các ngành dịch vụ phát triển khá: giá trị sản các ngành dịch vụ tăng bình quân 16,1%năm, giá trị tăng thêm đạt 14%; hệ thống bán lẻ phát triển nhanh, cơ bản đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, tổng mức bán lẻ hàng hoá và kinh doanh dịch vụ 5 năm ước đạt 45.387 tỷ đồng, tăng bình quân 29,4%/năm; tổng kim ngạch xuát khẩu đạt 1.059 triệu USD, tăng bình quân 20,8%năm; tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 1.450 triệu USD, tăng bình quân 24,8%/năm
Điểm nổi bật 5 năm qua là đã xây dựng được một số ngành kinh tế mũi nhọn, khẳng định được vị thế trong khu vực như: du lịch, công nghiệp, cơ khí ôtô, vật liệu xây dựng… với quy mô lớn, có thương hiệu và khả năng cạnh
Trang 39tranh trên thị trường góp phần tạo việc làm, tăng thu ngân sách Đặc biệt đã tập trung phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, cải thiện môi trường đầu
tư, thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư các dự án lớn, giữ vai trò tạo động lực phát triển kinh tế của tỉnh Các tuyến giao thông huyết mạch đường bộ, đường biển, đường hàng không, giao thông nông thôn và miền núi
đã được đầu tư, nâng cấp và kết nối các vùng trong tỉnh, mở rộng giao thương với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và với cả nước Mạng lưới điện, cấp nước, bưu chính – viễn thông, hạ tầng kỹ thuật các khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế, các khu đô thị từng bước hoàn thiện; trường học, bệnh viện, các thiết chế văn hoá, cơ sở y tế đã được nâng cấp và xây dựng mới, tạo điều kiện để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Diện mạo cả khu vực thành thị và nông thôn đã có nhiều chuyển biến tích cực Tiềm lực kinh tế của tỉnh được nâng lên, tạo thế và lực để tăng tốc phát triển trong thời gian đến
2.1.3 Đặc điểm tình hình thực hiện thu chi ngân sách của tỉnh Quảng Nam (2007 - 2010)
Chủ trương phân cấp đã trao quyền nhiều hơn cho chính quyền cấp tỉnh, tạo điều kiện cho việc điều hành ngân sách ba cấp chủ động và linh hoạt hơn Đồng thời phân định rõ hơn về quyền hạn và trách nhiệm của các cấp chính quyền trong quản lý ngân sách, thông qua việc xác định rõ nhiệm vụ thu
và trách nhiệm chi
Việc xác định tỷ lệ điều tiết và bổ sung ngân sách ổn định trong vòng 4 năm trong công tác xây dựng phân cấp dự toán ngân sách đã tạo sự chủ động cho chính quyền các cấp trong việc điều hành ngân sách cấp mình theo hướng quan tâm đối với công tác thu, chủ động khai thác đi đôi với nuôi dưỡng nguồn thu nhằm tăng thu một cách bền vững, điều chỉnh và bố trí hợp lý các khoản chi để thúc đẩy các cấp chính quyền địa phương vươn tới một ngân
Trang 40sách tích cực bằng việc tăng thu, tiết kiệm chi nguồn này được ưu tiên đầu từ vào lĩnh vực phát triển kinh tế, giảm dần số bổ sung từ ngân sách cấp trên, từng bước hướng tới tự cân đối ngân sách
Để cụ thể hóa các nguồn thu cho ngân sách địa phương căn cứ vào pháp lệnh phí và lệ phí, ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo rà soát các loại phí, lệ phí trên địa bàn, thống nhất mức thu, loại thu, trình hội đồng nhân dân tỉnh ban hành quyết định Việc thu phí và lệ phí bảo đảm với tình hính thực tế của địa phương, đã bãi bỏ một số loại phí không hợp lý, ban hành một số loại phí mới phù hợp với yêu cầu thực tiễn, nâng cao hiệu quả kinh tế đối với các khoản thu, đồng thời góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách
Song song với việc hoàn thiện khung pháp lý (các văn bản hướng dẫn,
cụ thể hóa các khoản thu chi và cân đối ngân sách) cho công tác quản lý ngân sách là công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, tổ chức nhiều lớp tập huấn cho cán
bộ công chức ở các cấp địa phương, đặc biệt là các xã, phường, thị trấn
Bảng 2.1 Tổng hợp số liệu thu chi ngân sách 2007-2010
Tổng thu ngân sách Tổng chi ngân sách
Năm Thu nội
địa
Thu xuất nhập khẩu
Thu bổ sung từ NS cấp trên
Chi đầu tư Chi thường