1. Trang chủ
  2. » Tất cả

#$%^quy hoạch bảo vệ môi trường hiện nay của nước ta và đánh giá quy định của pháp luật hiện hành (1)

10 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 24,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật môi trường với tư cách là một ngành luật độc lập là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình các chủ thể có hành vi kh

Trang 1

Thực trạng quy hoạch bảo vệ môi trường hiện nay của nước

ta và đánh giá quy định của pháp luật hiện hành?

A Tổng quan về pháp luật bảo vệ môi trường và khung pháp Lý

- Có rất nhiều quan điểm khi định nghĩa về luật môi trường, tuy vậy, các quan điểm đều đồng nhất cho rằng, luật môi trường là một ngành luật độc lập Luật môi

trường (với tư cách là một ngành luật độc lập) là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình các chủ thể có hành

vi khai thác, sử dụng hoặc tác động đến một hoặc nhiều thành phần môi trường

- Trên thực tế, ở nước ta trong những năm gần đây, trong hoạch định và tổ chức xây dựng các văn bản pháp luật, các nhà quản lý, nhà làm luật đều rất quan tâm đến vấn

đề bảo vệ môi trường Trong phạm vi và đối tượng điều chỉnh cụ thể trong từng văn bản pháp luật, các quan hệ về bảo vệ môi trường với luật chuyên ngành đã được xử lý một cách hài hoà và ngày càng mang tính khả thi cao Đối tượng điều chỉnh của pháp luật môi trường là các quan hệ xã hội trong quá trình tác động giữa xã hội, con người và môi trường Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật chung và văn bản pháp luật chuyên ngành khác có quy định về nghĩa vụ bảo vệ môi trường mà các chủ thể phải thực hiện nhằm góp phần vào việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường trong sạch và phát triển bền vững Các văn bản này điều chỉnh các nhóm quan hệ sau:

+ Nhóm quan hệ hình thành trong hoạt động quản lý nhà nước đối với môi trường thuộc phạm vi điều chỉnh chủ yếu của Luật Bảo vệ môi trường và các luật có liên quan; + Nhóm quan hệ về phòng, chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, phòng chống sự cố môi trường kiểm soát các hoạt động ảnh hưởng đến môi trường thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Bảo vệ môi trường và hệ thống các văn bản

có liên quan;

+ Nhóm quan hệ phát sinh trong quá trình khai thác, sử dụng các thành phần môi trường thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về tài nguyên;

+ Nhóm quan hệ về giải quyết tranh chấp môi trường, xử lý vi phạm pháp luật môi trường thuộc phạm vi điều chỉnh của các ngành luật dân sự, hình sự, hành chính;

+ Nhóm quan hệ về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực môi trường

Trên cơ sở việc điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội chủ yếu kể trên, pháp luật bảo

vệ môi trường được cấu thành bởi một số chế định căn bản sau:

Trang 2

- Chế định về quản lý nhà nước về môi trường

- Chế định đánh giá môi trường chiến lược và đánh giá tác động môi trường

- Chế định về phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường

- Chế định bảo vệ các thành tố môi trường, các nguồn tài nguyên

- Chế định về quan hệ quốc tế trong việc bảo vệ môi trường

➢ Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam

- Cũng trong giai đoạn này, Nhà nước ta cũng ban hành hàng loạt đạo luật và Pháp lệnh quan trọng về tài nguyên và môi trường

Hệ thống văn bản pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay

Các quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường nằm trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật ở nhiều tầm hiệu lực pháp luật khác nhau từ Hiến pháp đến các văn bản của các Bộ, ngành (chưa kể các văn bản của chính quyền địa phương)

Các quy định của Hiến pháp

Hiến pháp là đạo luật cơ bản, có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật, Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã có những quy định mang tính nguyên tắc về bảo vệ môi trường Điều 29 Hiến pháp đã quy định nghĩa vụ “bảo vệ môi trường” - một loại nghĩa vụ pháp lý của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội

Hệ thống Luật, Pháp lệnh

Hiện nay có 33 Luật và 22 Pháp lệnh có nội dung liên quan tới công tác bảo vệ môi trường Trong hệ thống các Luật, Pháp lệnh về bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ môi trường có thể coi là đạo luật trung tâm trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường

Các văn bản quy phạm pháp luật khác

Các văn bản này tập trung vào giải quyết các nội dung chính sau: quy định hệ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường Việt Nam; quy định quy trình đánh giá tác động môi trường; quy định về giấy phép môi trường; quy định về thanh tra môi trường; quy định về các biện pháp xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi

Trang 3

trường; quy định về các thiết chế bảo vệ môi trường (tổ chức, bộ máy, phân công nhiệm

vụ giữa các cơ quan bảo vệ môi trường)…

B Thực trạng quy hoạch bảo vệ môi trường

I Thực trạng quy hoạch bảo vệ môi trường hiện nay:

1 Thực trạng quy hoạch bảo vệ môi trường hiện nay:

- Mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT), nhưng tình trạng ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước đã và đang ngày càng trở nên nghiêm trọng ở Việt Nam Nguồn nước mặt ở một số nơi bị ô nhiễm, nhất là trong các khu đô thị, xung quanh các KCN, làng nghề Tại các lưu vực sông, ô nhiễm và suy thoái chất lượng nước tập trung ở vùng trung lưu và hạ lưu, nhiều nơi ô nhiễm nghiêm trọng, như ở lưu vực sông Nhuệ - Đáy, sông Cầu, hệ thống sông Đồng Nai Trong đó phổ biến là ô nhiễm hữu cơ tại các lưu vực sông như sông Ngũ Huyện Khê (Bắc Ninh), sông Nhuệ đoạn chảy qua Hà Nội, sông Sài Gòn đoạn chảy qua Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh ; ô nhiễm chất dinh dưỡng, kim loại nặng trong nước dưới đất tại vùng Đồng bằng Bắc bộ như: khu vực Hà Đông, Hoài Đức (Hà Nội), Ý Yên, Trực Ninh (Nam Định), thành phố Thái Bình,

- Đối với môi trường không khí, tại các điểm, nút giao thông, các công trình khu vực xây dựng, ô nhiễm không khí có dấu hiệu gia tăng, nhất là trong các đô thị lớn Tại Thành phố Hồ Chí Minh, nồng độ chất ô nhiễm trong không khí khu vực ven đường giao thông, trong đó chủ yếu là CO tăng 1,44 lần và bụi PM10 tăng 1,07 lần Còn tại Hà Nội, nếu không có giải pháp nào thì nồng độ phát thải bụi mỗi năm có thể đạt 200mg/m3 vào năm 2020, gấp 10 lần mức khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới

- Nhà máy xử lý nước thải trong KCN Cùng với ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí thì ô nhiễm đất đai đang trở nên đáng báo động Nhất là trong những năm gần đây,

do nền kinh tế nước ta phát triển đi lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhiều đô thị và thành phố được hình thành thì tình hình ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng Nước thải từ các nhà máy và khu dân cư đô thị làm ô nhiễm nguồn nước, nước bị ô nhiễm thì đất cũng bị ô nhiễm nặng nề - môi trường đất ngày càng ô nhiễm Tại các vùng ven các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh hoặc các vùng tập trung các hoạt động sản xuất công nghiệp, khai khoáng như Thái Nguyên, Đồng Nai, ô nhiễm đất do chất thải từ các hoạt động công nghiệp, xây dựng, sinh hoạt thể hiện rõ nhất, hàm lượng kim loại nặng trong đất có xu hướng gia tăng

Trang 4

- Và theo dự báo của các cơ quan nghiên cứu thì mức độ ô nhiễm môi trường đất vào năm 2020 sẽ tăng lên từ 2-3 lần so với hiện tại và các chỉ số ô nhiễm sẽ tịnh tiến với tốc độ phát triển công nghiệp và đô thị hoá Nếu không có những giải pháp chính sách và quản lý thì chất lượng môi trường đất của Việt Nam sẽ bị suy giảm đến mức báo động và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của cộng đồng

- Tại các khu vực khai thác khoáng sản, hoạt động khai thác khoáng sản đã và đang gây nhiều tác động xấu đến môi trường xung quanh như thải đất đá và nước thải

mỏ, phát tán bụi thải, quặng xỉ ngấm xuống nguồn nước hoặc phát tán ra môi trường; làm thay đổi hệ sinh thái rừng, suy thoái và ô nhiễm đất nông nghiệp Ngoài ra, hiện nay nhiều tổ chức, cá nhân chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa tốt nghĩa vụ cải tạo, phục hồi môi trường sau khi đóng cửa mỏ, giảm hiệu quả sử dụng đất, đặc biệt tại khu vực tập trung nhiều mỏ khai thác khoáng sản Và hậu quả của ô nhiễm môi trường từ những hoạt động khai thác khoáng sản đã quá rõ ràng

- Về đa dạng sinh học, thế giới thừa nhận Việt Nam là một trong những nước có tính đa dạng sinh học vào nhóm cao nhất thế giới với những kiểu hệ sinh thái tự nhiên, nguồn gen phong phú và đặc hữu Tuy nhiên, đa dạng sinh học nước ta đang bị suy giảm nhanh, tốc độ tuyệt chủng các loài cao Trong 4 thập kỷ qua, theo ước tính sơ bộ đã có

200 loài chim bị tuyệt chủng và 120 loài thú bị diệt vong Trong thời gian từ 2011-2015,

đã phát hiện và xử lý 3.823 vụ vi phạm pháp luật về quản lý động vật hoang dã với 58.869 các thể động vật hoang dã và 3.078 cá thể thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm được phát hiện Quá trình phát triển kinh tế - xã hội, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã tạo ra những thành quả cho đất nước trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo, vươn lên thành quốc gia có thu nhập trung bình nhưng cũng đã tạo ra không ít áp lực đối với môi trường tự nhiên, đa dạng sinh học, không gian sinh tồn của các loài bị thu hẹp, chất lượng môi trường sống bị thay đổi do tác động của các hoạt động khai thác, đánh bắt, do phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng như đường giao thông, thủy điện, khu đô thị

- Bên cạnh đó, vấn đề môi trường tại các khu vực như đô thị, nông thôn và các làng nghề cũng đang ở mức báo động Những năm gần đây, dân số ở các đô thị tăng nhanh tạo ra sức ép về nhà ở, nước sinh hoạt, năng lượng, dịch vụ y tế và song song với

nó là lượng chất thải (nước, rác thải) tăng, giảm diện tích cây xanh, diện tích nước mặt, tăng mật độ giao thông và lượng khí thải, bụi chì do đó cũng tăng theo Kết quả quan trắc môi trường không khí đô thị do cơ quan bảo vệ môi trường thực hiện cho thấy, hầu hết các đô thị Việt Nam đều bị ô nhiễm không khí trầm trọng, nhất là ô nhiễm bụi, ô nhiễm khí SO2, CO, NO2… và tiếng ồn

Trang 5

2.Những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hệ quả về môi trường Thực trạng môi trường nêu trên có nhiều nguyên nhân khác nhau, song tập trung ở các nguyên nhân chủ yếu sau đây:

- Thứ nhất, hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật về BVMT còn nhiều bất cập Theo thống kê của Bộ Tư pháp, hiện nay có khoảng 300 văn bản pháp luật về BVMT để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế, các quy trình kỹ thuật, quy trình sử dụng nguyên liệu trong sản xuất Tuy nhiên, hệ thống các văn bản này vẫn còn chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, thiếu chi tiết, thiếu tính khả thi Các quy định còn nằm phân tán ở nhiều lĩnh vực, thiếu tính gắn kết, nhiều nội dung còn bị bỏ ngỏ như các quy định về quản lý, xử lý chất thải ở khu vực nông thôn; vấn đề thu phí và lệ phí trong quản lý chất thải nông nghiệp, làng nghề… Ngoài ra, tính ổn định của hệ thống văn bản pháp luật về BVMT không cao, tình trạng văn bản mới được ban hành chưa lâu

đã phải sửa đổi, bổ sung khá phổ biến, từ đó làm hạn chế hiệu quả điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, hoạt động kinh tế… trong việc BVMT Bên cạnh đó, trách nhiệm quản lý nhà nước về BVMT hiện nay được phân công cho nhiều bộ, ngành dẫn đến khi triển khai trong thực tế gặp nhiều khó khăn do sự phối hợp thiếu đồng bộ, sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm không rõ ràng

-Thứ hai, quyền hạn pháp lý của các tổ chức BVMT, nhất là của lực lượng Cảnh sát môi trường chưa thực sự đủ mạnh, nên đã hạn chế hiệu quả hoạt động nắm tình hình, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT Cơ sở pháp lý, chế tài xử phạt đối với các loại hành vi gây ô nhiễm môi trường và các loại tội phạm về môi trường vừa thiếu, vừa chưa đủ mạnh dẫn đến hạn chế tác dụng giáo dục, phòng ngừa, răn đe đối với những hành vi xâm hại môi trường Rất ít trường hợp gây ô nhiễm môi trường bị xử lý hình sự; còn các biện pháp xử lý khác như buộc phải di dời ra khỏi khu vực gây ô nhiễm, đóng cửa và đình chỉ hoạt động của các cơ sở gây ô nhiễm môi trường cũng không được áp dụng nhiều, hoặc có áp dụng nhưng các cơ quan chức năng thiếu kiên quyết, doanh nghiệp chây ỳ nên cũng không có hiệu quả

- Thứ ba, nhận thức, ý thức trách nhiệm về BVMT của chủ đầu tư, một số ngành, cấp chính quyền, tổ chức kinh tế, cộng đồng dân cư còn hạn chế; tình trạng chú trọng lợi ích kinh tế trước mắt, coi nhẹ công tác BVMT còn khá phổ biến, nhất là trong quá trình thẩm định, xét duyệt, thực hiện các dự án đầu tư Cơ chế thu hút FDI bằng mọi giá tại một số địa phương đánh đổi với chi phí cơ hội về môi trường Các cấp chính quyền chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức đối với công tác BVMT, dẫn đến buông lỏng quản lý, thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát về môi trường Công tác thanh tra, kiểm tra về môi trường của các cơ quan chức năng đối với các cơ sở sản

Trang 6

xuất dường như vẫn mang tính hình thức Công tác thẩm định và đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư còn tồn tại nhiều bất cập và chưa được coi trọng đúng mức, thậm chí chỉ được tiến hành một cách hình thức, qua loa cho đủ thủ tục dẫn đến chất lượng thẩm định và phê duyệt không cao Thời gian qua, để thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam có xu hướng nới lỏng các tiêu chuẩn BVMT Chính vì vậy, đã xảy ra một số sự cố môi trường nghiêm trọng Ngoài ra, do những hạn chế của Việt Nam về các quy chuẩn kỹ thuật, các nhà đầu tư nước ngoài có thể đưa vào những công nghệ lạc hậu, thâm dụng tài nguyên, thâm dụng năng lượng và lao động nhằm tối đa hóa lợi nhuận

- Thứ tư, đầu tư cho BVMT còn rất hạn chế, chỉ đáp ứng một phần nhu cầu; còn thiếu các cơ chế huy động nguồn lực trong xã hội đầu tư cho BVMT; nguồn thu từ môi trường chưa được sử dụng đầu tư trở lại cho BVMT Nguồn vốn từ ngân sách đầu tư hàng năm chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế về cải thiện môi trường, tăng cường cơ sở vật chất, hạ tầng thiết bị hiện đại phục vụ cho công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên và BVMT Việc sử dụng các công cụ thuế, phí, ký quỹ, đặt cọc hoàn trả kém hiệu quả, chưa tạo được nguồn thu tương xứng để đầu tư trở lại cho công tác BVMT, chưa đảm bảo đúng nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, “người hưởng lợi về môi trường phải chi tiền”

- Thứ năm, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác BVMT còn hạn chế, phương tiện kỹ thuật phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn Thứ sáu, chưa phát huy được vai trò của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp và các tầng lớp nhân dân tham gia tích cực BVMT và giám sát chặt chẽ công tác quản lý, việc chấp hành pháp luật

về BVMT của các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp Thứ bảy, công tác tuyên truyền, giáo dục về BVMT trong xã hội còn hạn chế, dẫn đến chưa phát huy được ý thức tự giác, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, cộng đồng trong việc tham gia gìn giữ và BVMT

II ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUY HOẠCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY:

2.1 Quy định theo luật Bảo vệ mội trường năm 2014

Trên thực tế trong quá trình xây dựng Luật BVMT năm 1993 và Luật BVMT năm

2005, các nhà quản lý môi trường đã xây dựng ý tưởng vế Quy hoạch môi trường Tuy

Trang 7

nhiên, phương pháp luận và sự đổng thuận trong việc lập quy hoạch chưa cho phép xây

dựng và triển khai thực hiện quy hoạch vê môi trường

Trong những năm qua, nhận thức được tầm quan trọng của quy hoạch vê môi trường, đã có rất nhiêu ngành, lĩnh vực và địa phương tiến hành lập Quy hoạch môi trường hoặc Quy hoạch BVMT Trên thực tế, các quy hoạch về môi trường này đã đóng góp hữu hiệu trong quản lý và là nến tảng đế Bộ TN&MT xây dựng phương pháp luận

về Quy hoạch BVMT phù hợp với điều kiện phát triển trong giai đoạn tới của Việt Nam Song hành với các áp lực trong nước đòi hỏi phải có quy hoạch vế môi trường để đáp ứng yêu cẩu quản lý và bảo vệ song hành với phát triển bẽn vững, Bộ TN&MT cũng

đã nghiên cứu các phương pháp luận về quy hoạch của một số nước châu Âu, châu Mỹ

và châu Á Đặc biệt, mô hình của Nhật Bản, một quốc gia có điều kiện tương đồng về bản sắc văn hóa, dân tộc, địa lý và đã có bài học kinh nghiệm khi đánh đổi giữa phát triển kinh tế - xã hội với sự suy thoái, ô nhiễm môi trường trầm trọng trong thập niên 60 của thế kỷ

XX

Dưới sự giúp đỡ của Nhật Bản thông qua cơ quan hợp tác phát triển JICA, tỉnh Quảng Ninh đã lập Quy hoạch môi trường, Quy hoạch môi trường vịnh Hạ Long nhằm quản lý và BVMT hài hòa với các mục tiêu phát triển, mục tiêu bảo vệ di sản ván hóa vịnh Hạ Long Đây là mô hình quan trọng để định hướng các nội dung liên quan đến Quy hoạch BVMT ở Việt Nam trong giai đoạn vừa đảm bảo phát triển vừa từng bước nâng tầm trong quản lý và BVMT

Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Luật BVMT năm 2014, trong đó

có đưa nội dung về Quy hoạch BVMT Bộ TN&MT nhận thấy sự cấp bách cần thực hiện Quy hoạch BVMT để đảm bảo phát triển hài hòa trên 3 trụ cột KT-XH-MT và đây cũng

là thời điển chín muồi để luật hóa các nội dung liên quan đến Quy hoạch BVMT Quy hoạch BVMT cẩn được thực hiện thống nhất trong cả nước do cơ quan được giao trọng trách quản lý môi trường là Bộ TN&MT chủ trì có sự tham gia và đổng thuận của các

Bộ, ngành, địa phương liên quan làm cơ sở để hài hòa giữa các mục tiêu phát triển và mục tiêu quản lý và BVMT

Theo khoản 1,2, Điều 9, Luật BVMT năm 2014, quy định về nội dung cơ bản của quy hoạch bảo vệ môi trường gồm có cấp quốc gia và cấp tỉnh Tuy nhiên, việc thực hiện nội dung quy hoạch gặp không ít khó khăn và vướng mác do cơ quan thực hiện quy hoạch không có sự chuyên sâu trong công tác quản lý và BVMT, không có công cụ, thông tin, cơ sở dữ liệu để phân tích, đánh giá sự phù hợp của các quan điểm mục tiêu phát triển với các quan điểm, mục tiêu vế quản lý và BVMT trong phạm vi vùng lãnh thổ thực hiện quy hoạch Mặt khác, hiện nay rất nhiều quy hoạch phát triển trên cùng

Trang 8

một vùng lãnh thổ có sự mâu thuẫn, chổng chéo về phạm vi, định hướng và giải pháp thực hiện dẫn đến thiếu khả thi khi triển khai thực tế và thường phải điểu chỉnh phương

án quy hoạch do không đáp ứng các tiêu chí phát triển được đề xuất khi lập quy hoạch

Hiện nay, các loại hình quy hoạch phát triển chưa có sự gắn kết giữa định hướng phát triển kinh tế - xã hội với các yêu cầu về quản lý và BVMT tự nhiên, sinh thái, môi trường sống và các giá trị bảo tổn văn hóa lịch sử Vì vậy, trên thực tế đã có sự chổng chéo và mâu thuẫn giữa các quy hoạch phát triển dẫn đến sự phá vỡ cân bằng giữa

BVMT, bảo tổn đa dạng sinh học, giá trị lịch sử văn hóa và sự lãng phí, kém hiệu quả trong công tác quy hoạch

Việc đưa Quy hoạch BVMT vào Luật BVMT năm 2014 có vai trò chủ đạo trong việc thực hiện qụản lý, giám sát, BVMT, bảo tồn đa dạng sinh học và bố trí hạ tầng xử lý môi trường gắn kết chặt chẽ với thực trạng môi trường và các hoạt động phát triển trong vùng quy hoạch

Quy hoạch các vị trí quan trắc môi trường hiện nay đã và đang được triển khai thực hiện nhằm đáp ứng các yêu cáu quản lý, giám sát chất lượng môi trường Tuy nhiên, việc

bỗ trí các trạm quan trác môi trường cần được gán kết chặt chẽ với phân vùng môi trường nhằm đưa ra mật độ trạm quan trắc, giám sát phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh

tế - xã hội và các định hướng phát triển phù hợp với mức độ tác động đến môi trường của các hoạt động phát triển trong hành lang các yêu cầu vế tiêu chuẩn, quy chuẩn được

áp dụng cho từng phân vùng môi trường và đảm bảo các mục tiêu, định hướng được đặt

ra trong Quy hoạch BVMT

Các quy hoạch bảo tổn đa dạng sinh học, quy hoạch vườn quốc gia, rừng phòng hộ đang có những bất cập và tác động ngược trở lại với hiện trạng và định hướng phát triển kinh tế - xã hội Rất nhiêu khu vực thuộc các quy hoạch này đã được chuyển đổi thành rừng sản xuất hoặc được quy hoạch quỹ dành cho các hoạt động phát triển Như vậy giữa các quy hoạch này với quy hoạch phát triển cho thấy sự mâu thuẫn và gây khó khăn trong các ngành, lĩnh vực thực hiện các giải pháp của phương án phát triển Vì vậy, cần

có phân vàng và định hướng cụ thể các tiêu chí quản lý, bảo vệ và bảo tổn để hài hòa giữa mục tiêu của các quy hoạch bảo tổn, phát triển rừng với thực trạng và quy hoạch phát triển của các ngành, lĩnh vực Quy hoạch BVMT sẽ làm chức năng kết nối quá trình thực hiện các định hướng, giải pháp phát triển và bảo tồn

Việc xây dựng quy hoạch phải có tầm chiến lược và quy mô rõ ràng : ví dụ như đất nước singapore họ xây dựng và quy hoạch một đất nước với nhiều cây xanh nên thư hút rất nhiều khách du lịch tới để nghỉ dưỡng đã đem lại lợi ích cho sự phát triển kinh tế

Trang 9

cao Phát luật Việt Nam cần có những quy định chặt chẽ hơn về công tác quy hoạch để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay

2.2 Nghị định hướng dẫn thi hành

Nghị định số 18/2015/NĐ-CP quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường đã được ban hành Theo đó, đây sẽ là Nghị định hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Bảo vệ môi trường 2014 trên toàn lãnh thổ Việt Nam

Nghị định quy định, quy hoạch bảo vệ môi trường được lập phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội với kỳ đầu cho giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2040 theo 2 cấp độ là quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia và quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh

Quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia gồm những nội dung chính: Diễn biến, mục tiêu quản lý môi trường rừng, bảo tồn đa dạng sinh học; thực trạng môi trường biển, hải đảo, lưu vực sông; mục tiêu và các giải pháp bảo tồn, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, hải đảo, lưu vực sông; thực trạng phát thải khí và chất lượng môi trường không khí; mục tiêu và giải pháp quy hoạch đối với các hoạt động phát triển có nguồn phát thải khí lớn; thực trạng suy thoái, ô nhiễm môi trường đất; mục tiêu và các giải pháp phòng ngừa suy thoái, ô nhiễm môi trường đất, phục hồi các vùng đất đã ô nhiễm, suy thoái; thực trạng ô nhiễm môi trường nước; mục tiêu và các giải pháp quản lý nước thải

và bảo vệ môi trường nước

Quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh được lập dưới hình thức báo cáo riêng hoặc lồng ghép vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Cụ thể, đối với quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh dưới hình thức báo cáo riêng phải thể hiện được các nội dung chính giống như quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia với yêu cầu chi tiết hơn gắn với vị trí địa lý, điều kiện môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc thù của địa phương lập quy hoạch

Trong đó, các nội dung về nguồn lực thực hiện quy hoạch bảo vệ môi trường, trách nhiệm tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch bảo vệ môi trường được lồng ghép vào các nội dung tương ứng của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội

Quy hoạch bảo vệ môi trường được pháp luật môi trường đưa vào đã cho thấy được

sự kịp thời , linh hoạt , thiết yếu của môi trường mà đi đầu là công tác quy hoạch và phát triển góp phần xanh đựng một môi trường xanh – sạch - đẹp , không khí trong lành ,chống lại sự biến đổi khí hậu và sự nóng lên của trái đất Bên cạnh đó việc thực hiện đúng theo quy hoạch phù hợp với pháp luật môi trường nhằm thúc đất nước ta ngày

Trang 10

càng phát triển , thực hiện quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước C Kết

luận

- Hoạt động xây dựng và hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường rất được Đảng và Nhà nước ta quan tâm kể từ khi đất nước tiến hành chuyển đổi sang cơ chế thị trường, nhất là kể từ khi nước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Sau hơn 5 năm kể từ khi ban hành Luật Bảo vệ môi trường 2005 được ban hành, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống quy phạm tương đối đồ sộ, toàn diện về bảo

vệ môi trường, có tầm hiệu lực pháp lý đủ mạnh, cơ bản đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp bảo vệ môi trường trong giai đoạn hiện nay

- Do bảo vệ môi trường và xây dựng pháp luật về bảo vệ môi trường là hoạt động phức tạp và về nhiều mặt còn mới mẻ đối với Việt Nam, hệ thống quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt Nam còn nhiều điểm bất cập, tồn tại Trước mắt, đề nghị xây dựng Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi Về lâu dài cần nghiên cứu xây dựng Bộ Luật môi trường với phạm vi và đối tượng điều chỉnh rộng và bao quát hết các vấn đề về bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên thiên nhiên để phù hợp với yêu cầu của đất nước theo mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 về cơ bản nước ta đã trở thành nước công nghiệp

- Để hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường, đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất giữa tinh thần, quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 với các quy định pháp luật về môi trường đã ban hành trước đây, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, trong thời gian tới nhiều văn bản quy phạm pháp luật mới cần được ban hành trong đó có thể kể đến các Luật Không khí sạch, Luật Bảo vệ môi trường biển,… đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường

- QHBVMT là quy hoạch không gian tổng thể có liên quan chặt chẽ đến quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội QHBVMT là một dạng quy hoạch mang tính liên

ngành, có đặc điểm không gian và không thể tách rời sự phát triển kinh tế QHBVMT kết hợp việc phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, với mục đích sử dụng thiên nhiên

và tiềm năng kinh tế-xã hội hiệu quả, ngăn ngừa ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường [1, 7]

- QHBVMT là một trong những nhiệm vụ quan trọng của sự phát triển bền vững

lãnh thổ, là một phần của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thân thiện với môi trường QHBVMT nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa bảo vệ môi trường và phát triển của nước ta hiện nay

Ngày đăng: 27/05/2019, 09:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w