1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ sở lý LUẬN về GIÁO dục ý THỨC bảo vệ môi TRƯỜNG BIỂN CHO học SINH ở TRƯỜNG THCS dựa vào CỘNG ĐỒNG hải PHÒNG

37 200 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 36,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuốn sách cũngdành một phần riêng để phân tích về vấn đề Việt Nam và cáccông ước quốc tế về môi trường biển.[42] - Bài viết "Ô nhiễm môi trường biển và vấn đề thực thi các điều ước quốc

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THCS DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG HẢI PHÒNG

Trang 2

- Tổng quan nghiên cứu vấn đề

- Các nghiên cứu về bảo vệ môi trường biển

Công ước quốc tế hay vấn đề bảo vệ môi trường biển lànhững vấn đề không mới Thực tế đã có rất nhiều bài viết, côngtrình nghiên cứu, khóa luận, luận văn đề cập đến vấn đề này như:

- Cuốn sách “Bảo vệ môi trường biển Việt Nam- Vấn đề và

giải pháp” của tiến sĩ Nguyễn Hồng Thao, năm 2004 Trong cuốn

sách này, TS Nguyễn Hồng Thao đã phân tích khá đầy đủ, toàndiện về vấn đề bảo vệ môi trường biển Việt Nam cũng như đưa ragiải pháp để cải thiện và bảo vệ môi trường biển Cuốn sách cũngdành một phần riêng để phân tích về vấn đề Việt Nam và cáccông ước quốc tế về môi trường biển.[42]

- Bài viết "Ô nhiễm môi trường biển và vấn đề thực thi các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển tại Việt Nam", của Đỗ

Văn Sen trên Tạp chí Nhà nước vàpháp luật, Viện Nhà nước vàPháp luật năm 2008 Bài viết này nêu nội dung cơ bản của một sốĐiều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và gia nhập và cả các Côngước quốc tế mà Việt Nam chưagia nhập về bảo vệ môi trường biểnliên quan đến tàu biển với mục đích tìm hiểu thực trạng pháp luậtViệt Nam hiện hành và xác định chính sách ký kết và gia nhập các

Trang 3

điều ước quốc tế về lình vực trên trong thời gian tới.[38]

- Luận văn tốt nghiệp của Cao Võ Thanh Sang, năm

2008"Pháp luật bảo vệ môi trường biển" [37], đề tài nghiên cứu xoay

quanh các văn bản pháp luật Việt Nam và quốc tế về bảo vệ môitrường biển, vấn đề ô nhiễm môi trường biển và các nguyên nhândẫn đến sự ô nhiễm Trên cơ sở luật định, xác định vai trò của phápluật bảo vệ môi trường biển và ảnh hưởng của nó trong đời sống thực

tế, tìm hiểu và phân tích các văn bản pháp lý liên quan đến vấn đềbảo vệ môi trường biển, tình hình môi trường biển và ô nhiễm môitrường biển ở Việt Nam Thông qua việc nghiên cứu đề tài để đưa ramột số giải pháp về vấn đề bảo vệ môi trường biển

- Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Hồng Ly năm 2009 về

“Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môitrường biển trong hoạt động

dầu khí” [31] Luận văn này tập trung nghiên cứu và phân tích

các quy định về vấn kiểm soát ô nhiễm môi trường biển tronghoạt động dầu khí, qua đó đề xuất những phương hướng, kiếnnghị, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát ônhiễm môi trường biển trong hoạt động dầu khí ở Việt Nam

- Luận văn tốt nghiệp của Nguyễn Thị Hồng Nhung, năm

2013 “Pháp luật Việt Nam và các công ước quốc tế về bảo vệ

môi trường biển” [32] Luận văn này tập trung nghiên cứu và

Trang 4

phân tích các quy định của pháp luật trong nước và các công ướcquốc tế về bảo vệ môi trường biển mà Việt Nam đã tham gia để từ

đó tìm ra những điểm còn bất cập, hạn chế và đưa ra giải pháphoàn thiện Nghiên cứu các quy định trong các công ước quốc tế

về bảo vệ môi trường biển mà Việt Nam đang xem xét để thamgia để từ đó đưa ra các định hướng và đề xuất cụ thể Nghiên cứuthực tiễn thực thi pháp luật và các công ước quốc tế về bảo vệ môitrường biển tại Việt Nam, đưa ra kết luận và tìm ra giải pháp thựcthi có hiệu quả Nghiên cứu pháp luật về bảo vệ môi trường biển

và thực tiễn tham gia các công ước quốc tế về bảo vệ môi trườngbiển ở một số nước để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

- Luận văn tốt nghiệp của Vũ Quốc Việt, 2013 “Môi trường

biển và ven biển Hải Phòng, thực trạng và giải pháp ”[46] Luận

văn nghiên cứu về môi trường biển tại Hải Phòng và đưa ra một

số biện pháp về vấn đề quản lí môi trường biển và ven biển tạiHải Phòng

- Luận văn tốt nghiệp của Đinh Thị Thu Hương, năm 2014

“Hoàn thiện pháp luật về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển ở Việt Nam”[19].Luận văn nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận và

thực tiễn của pháp luật về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển, chỉ

ra những hạn chế, thiết sót thông qua đó đề xuất những phương

Trang 5

hướng, kiến nghị, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản

lý chất gây ô nhiễm trên biển ở Việt Nam

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đóng gópmột phần vào công tác bảo vệ môi trường biển, tạo ưu thế cho sựphát triển của các ngành kinh tế biển Tuy vậy, do giới hạn củatừng công trình, chúng đã không đề cập hoặc có đề cập đến vấn

đề pháp luật Việt Nam và các công ước quốc tế về bảo vệ môitrường biển nhưng ít nghiên cứu chuyên sâu về mặt khoa họcpháp lý

- Các nghiên cứu giáo dục ý thức bảo vệ môi trường biển

- Luận văn “Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho họcsinh THPT ở huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp” của Dương ThịHiệp, năm 2012[16] Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lýluận về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, phân tích thực trạnggiáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh THPT ở huyệnTân Hồng, tỉnh Đồng Tháp hiện nay và đề xuất một số giảinhằm nâng cao hơn nữa công tác giáo dục ý thức bảo vệ môitrường cho học sinh THPT ở huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp

- “Một số giải pháp lồng ghép giáo dục ý thức bảo vệ tàinguyên và môi trường biển, hải đảo cho trẻ em mẫu giáo thôngqua các hoạt động”, của Trần Thị Tỷ, năm 2016[45] Đề tài

Trang 6

nghiên cứu thực trạng thực hiện lồng ghép các nội dung giáo dục

ý thức bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, hải đảo trong cáchoạt động chăm sóc trẻ và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệuquả trong việc lồng ghép giáo dục ý thức bảo vệ tài nguyên vàmôi trường biển, hải đảo cho trẻ em mẫu giáo thông qua các hoạtđộng

Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đóng góp một phầnvào công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường nói chung, môitrường biển nói riêng, đưa ra một số giải pháp tương đối hiệu quảcho vấn đề giáo dục ý thức bảo vệ môi trường biển Tuy vậy, cáccông trình trên chỉ nghiên cứu về GDYTBVMTB cho học sinhTHPT và trẻ mầm non chứ chưa đề cập đến học sinh THCS

Trên thực tế, do thời gian nghiên cứu về đề tài giáo dục ýthức bảo vệ môi trường biển cho học sinh THCS còn hạn chế vàcũng chưa có nhiều nghiên cứu về đề tài này được công bố nênluận văn của tác giả không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rấtmong nhận được sự tham gia, góp ý của người hướng dẫn vànhững người làm công tác chuyên môn về nghiên cứu giáo dục ýthức bảo vệ môi trường biển để luận văn được hoàn thiện hơn.Xin trân trọng cảm ơn!

- Một số khái niệm cơ bản của đề tài

Trang 7

-.Khái niệm giáo dục

Giáo dục vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật.Giáo dục là một quá trình đào tạo con người một cách có mụcđích, nhằm chuẩn bị cho họ tham gia vào đời sông xã hội, laođộng sản xuất, bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội kinhnghiệm lịch sử xã hội của loài người Giáo dục được hiểu dướihai góc độ:

- Giáo dục được xem như là tập hợp các tác động sư phạmđến người học với tư cách là một đối tượng đơn nhất;

- Giáo dục được như là một hoạt động xã hội, dạng tái sảnxuất ra lực lượng lao động mới Ở đây, đối tượng là thế hệ trẻ, làtập hợp các đối tượng đơn nhất Giáo dục là đào tạo và bồi dưỡngđội ngũ lao động;

Khi nói đến giáo dục theo nghĩa rộng, là ta thường liêntưởng ngay đến cụm từ "giáo dục theo nghĩa hẹp và đào tạo"

Theo nghĩa rộng, giáo dục: Là sự hình thành nhân cáchđược tổ chức có mục đích, thông qua các hoạt động và các quan

hệ giữa nhà giáo dục với người được giáo dục nhằm giúp ngườiđược giáo dục chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loàingười.[59 ]

Trang 8

Khái niệm Giáo dục (nghĩa rộng) cần làm sáng tỏ khái niệmnhân cách và khái niệm xã hội hoá con người.

Hình thành nhân cách: Là quá trình phát triển con người vềmặt sinh lý, tâm lý và xã hội, mang tính chất tăng về lượng vàbiến đổi về chất Quá trình này xảy đến do ảnh hưởng của cácnhân tố bên trong (bẩm sinh, di truyền,…), và các nhân tố bênngoài (hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội, tác động giáodục), do ảnh hưởng của hành động tự phát, ngẫu nhiên, chưa đượckiểm soát và các tác động có mục đích, có tổ chức, kiểm soátđược

Xã hội hoá con người: Là quá trình có tính chất xã hội hóa

để hình thành nhân cách Quá trình này gồm các tác động donhững nhân tố xã hội; xã hội tác động có mục đích, có tổ chức tới

cá nhân, ngược lại cá nhân tích cực tái sản xuất các mối quan hệ

xã hội bằng hoạt động tham gia tích cực vào môi trường xã hội

Từ đó, giáo dục học là sự xã hội hoá con nguời chỉ dưới nhữngtác động có mục đích và có tổ chức

Giáo dục theo nghĩa hẹp, là một quá trình hoạt động có ýthức, có mục đích, có kế hoạch của một người (hay một nhómngười) - gọi là giáo viên - nhằm tác động vào hệ thống nhận thứccủa người đó, để làm phát triển trí thông minh, phát triển khảnăng nhận thức phù hợp với thế giới khách quan, và làm phát

Trang 9

triển nhận thức của người đó lên; qua đó tạo ra một con ngườimới, có những phẩm chất phù hợp với yêu cầu được đặt ra.

Khái niệm giáo dục (theo nghĩa hẹp): Là bộ phận của quátrình sư phạm, là quá trình hình thành nên cơ sở khoa học của thếgiới quan, niềm tin, tình cảm, thái độ, những tính cách, nhữnghành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội [59]

Giáo dục theo nghĩa hẹp là nuôi dưỡng, làm cho phát triểnhoặc triệt tiêu, giảm cái có sẵn Ví dụ như trí thông minh căn bản

là cái có sẵn, tính thiện là cái có sẵn Giáo dục làm tăng trưởng tríthông minh căn bản và tính thiện có trong mỗi con người

Ðào tạo là một quá trình truyền thụ, chuyển giao kiến thức

và kinh nghiệm một cách có ý thức, có mục đích, có kế hoạch củamột người (hay một nhóm người) - gọi là giáo viên - vào người

đó, nhằm tạo ra một số sự nhận thức, một số kỹ năng hoạt độngphù hợp với yêu cầu của công việc, và phát triển chúng nó lênbằng cách rèn luyện Công việc này có thể là hoạt động trí não,hay hoạt động chân tay

- Khái niệm môi trường biển.

“Môi trường biển” là một thuật ngữ chưa có thời gian dài,

nó mới xuất hiện và cũng ít được định nghĩa một cách đầy đủ vàtoàn diện Thuật ngữ này mới xuất hiện ở nửa cuối thế kỷ XX và

Trang 10

được nhận biết như một từ ghép giữa từ “môi trường” và “biển”.Quá trình phát triển của con người cho thấy một thời kỳ người tachỉ nói đến từ “biển” hoặc “ biển cả” mà chưa đề cập đến từ ngữ “môi trường biển” Điều này cũng dể hiểu, bởi từ thời xa xưangười ta chỉ biết đến biển như một món quà được ban tặng bởithiên nhiên, mà không phải chịu bất cứ một trách nhiệm, mộtnghĩa vụ nào và coi biển là một nguồn tài nguyên vô hạn Conngười thời đó, coi biển là rất rộng lớn, có thể hấp thụ và chuyểnhóa mọi chất thải mà con người đưa đến nên từ ngữ “môi trườngbiển” chưa được chỉ ra.

Sau những năm 1960, với sự quan tâm nhiều hơn của cộngđồng thế giới đến bảo vệ môi trường thì từ ngữ “môi trường biển”cũng dần xuất hiện Ở thời kỳ này, từ ngữ “môi trường biển” chưatồn tại một cách độc lập mà chỉ xuất hiện trong những vấn đề liênquan đến bảo tồn tài nguyên biển, bảo vệ ô nhiễm môi trường.Đến năm 1982, khi Công ước Luật Biển 1982 ra đời (UNCLOS)thì từ ngữ “môi trường biển” mới được nói đến một cách chínhthức, nhưng nó cũng chỉ mới ở dưới dạng liệt kê một số yếu tố tựnhiên của môi trường biển mà chưa có một khái niệm hoàn chỉnh

về “ môi trường biển” Như ta thấy, ở [Điều 1, khoản 4 của “Công ước Luật Biển 1982] có quy định “môi trường biển” baogồm “các cửa sông” , “hệ động vật biển và hệ thực vật biển”,

Trang 11

“chất lượng nước biển” và “giá trị mỹ cảm của biển” thì như vậyđịnh nghĩa này chưa nói khái quát được về “môi trường biển” vàcòn nhiều phiến diện vì “môi trường biển không phải chỉ được tạonên từ các yếu tố trên, mà còn có nước biển, lòng đất dưới đáybiển, không khí và các tài nguyên phi sinh vật biển.

Năm 1992, tại Hội nghị Thượng đỉnh trái đất về bảo vệ môitrường họp tại Rio De Janeiro (Brazill), là chương hành động vì

sự phát triển bền vững Ở chương 17 trong chương hành động 21

(Agenda 21) định nghĩa “Môi trường biển là vùng bao gồm các

đại dương và các biển và các vùng ven biển tạo thành một tổng thể, một thành phần cơ bản của hệ thống duy trì cuộc sống toàn cầu và là tài sản hữu ích tạo cơ hội cho sự phát triển bền vững”[24] Định nghĩa này được coi là định nghĩa chính thức về

“môi trường biển” Ta thấy, thành công ở định nghĩa này so vớinhững định nghĩa trước về “môi trường biển” là nói lên được giátrị cơ bản của môi tường biển, đó là “duy trì cuộc sống toàn cầu”

và là “tài sản hữu ích” Với định nghĩa này đã nhấn mạnh đếnmục tiêu phát triển bền vững, một khuynh hướng phù hợp vớiquan điểm bảo vệ môi trường toàn cầu hiện đại Bên cạnh đó,định nghĩa này còn được nêu ra trong một văn kiện có tầm ảnhhưởng lớn, tại Hội nghị quốc tế về môi trường quan trọng và được

kí kết bởi gần như toàn thể cộng đồng quốc tế

Trang 12

- Khái niệm ô nhiễm môi trường biển.

Ô nhiễm biển: hiện tượng làm biến đổi, xáo trộn các thànhphần hoá học của nước biển gây ra do các hoạt động trên biển nhưvận tải (dầu lan vào nước biển khi các tàu chở dầu bị đắm hoặccác tàu hàng, tàu khách tẩy rửa các thùng nhiên liệu mới ), khaithác dầu lửa (sự rò rỉ dầu từ các dàn khoan, các ống dẫn dầu, cácnhà máy lọc dầu ), hoặc do các nguồn ô nhiễm phát sinh từ đấtliền (các chất thải phóng xạ độc hại do các nước công nghiệpdùng tàu đổ xuống biển ) ảnh hưởng tới đời sống của các loàisinh vật dưới biển và tác động xấu đến sự tăng trưởng, phát triểncủa chúng.[58]

Các biểu hiện của sự ô nhiễm biển khá đa dạng, có thể chia

- Suy thoái các hệ sinh thái biển

Nói cách khác, nhiễm môi trường biển là việc con ngườitrực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào

Trang 13

môi trường biển, bao gồm từ các cửa sông, đất liền, trên khôngtrung, đáy biển hoặc do những biến đổi bất thường của tự nhiên,

từ đó gây ra những tác hại nguy hiểm cho sức khỏe con người,gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản

và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổichất lượng nước biển về phương tiện sử dụng nó và làm giảm sútcác giá trị mỹ cảm của biển

- Khái niệm bảo vệ môi trường biển.

Bảo vệ môi trường biển là hoạt động giữ cho môi trườngbiển luôn được trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế các tácđộng xấu tới môi trường, ứng phó các sự cố môi trường; khắcphục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khaithác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ

đa dạng sinh học.[37]

Ở đây cũng cần thống nhất một số quan niệm:

- Suy thoái môi trường biển là sự suy giảm về chất lượng và

số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với

Biểu hiện rõ nét nhất của sự suy thoái môi trường biển là sự giảmsút rõ rệt và liên tục của sản lượng đánh bắt thủy sản, đặc biệt ỏkhu vực biển gần bờ; sự giảm sút năng suất và chất lượng nuôi

Trang 14

trồng, chế biến thủy hải sản; sự gia tăng của dịch bệnh làm ảnhhưởng đến sức khỏe con người, sự sống của vật nuôi và cây trồng.

- Sự cố môi trường biển là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trongquá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi thất thường của

tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường biểnmột cách nghiêm trọng

- Tiêu chuẩn môi trường biển là giới hạn cho phép của cácthông số về chất lượng môi trường biển xung quanh, về hàmlượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhànước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệmôi trường biển

- Khái niệm ý thức bảo vệ môi trường biển

Ý thức chính là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giớikhách quan vào bộ óc người; là hình ảnh chủ quan của thế giớikhách quan.[42]

Ý thức bảo vệ môi trường biển là một hình thái ý thức xãhội, về cấu trúc bao gồm hai bộ phận: Tâm lý về bảo vệ môitrường biển và tư tưởng bảo vệ môi trường biển Tâm lý bảo vệmôi trường biển hình thành một cách tự phát dưới dạng tình cảm,tâm trạng, cảm xúc đối với các hiện tượng môi trường biển xảy ratrong đời sống xã hội.[42]

Trang 15

Tư tưởng bảo vệ môi trường biển là tổng hợp các quanđiểm, quan niệm có tính lý luận, phản ánh các hiện tượng môitrường một cách sâu sắc, tự giác dưới dạng các khái niệm, cácphạm trù khoa học Ý thức về môi trường biển của một người cóvai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ môi trường biển Vì vậynâng cao ý thức bảo vệ môi trường biển là trách nhiệm của mỗicông dân

Biểu hiện của ý thức bảo vệ môi trường biển chính là:Không bỏ rác thải bừa bãi, không đúng nơi quy định; không thảikhói bụi, khí độc, mùi hôi thối gây hại xuống biển, phát phóng xạ,bức xạ quá giới hạn cho phép, các chất thải, xác động, thực vật, vikhuẩn, siêu vi khuẩn độc hại và gây bệnh vào nguồn nước; khôngkhai thác, kinh doanh các loại thủy hải sản quý hiếm trong danhmục quy định của chính phủ; không khai thác thủy hải sản bừa bãigây hủy hoại môi trường biển, làm mất cân bằng sinh thái; khôngnhập khẩu công nghệ, thiết bị không đáp ứng tiêu chuẩn môitrường; không sử dụng các phương pháp, phương tiện, công cụhủy diệt hàng loạt trong khai thác, đánh bắt các nguồn động thủyhải sản

Biểu hiện về ý thức bảo vệ môi trường biển còn thể hiện ởviệc tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường biển như:Tham gia chiến dịch ra quân làm sạch bờ biển; tham gia trồng

Trang 16

rừng ngập mặn; tham gia nạo vét kênh mương; tham gia tuyêntruyền, vận động mọi người xung quanh có nhận thức đúng đắn

về môi trường biển và có ý thức tham gia bảo vệ môi trường biển

vì cuộc sống của chính mình và của cả những người xung quanh;tham gia phát hiện, tố giác những biểu hiện, những hành vi pháhoại môi trường biển lên các cấp có thẩm quyền xử lý; tham giaquảng bá hình ảnh và môi trường sinh thái biển của đất nước đếnvới thế giới…

Có thể nói, ý thức bảo vệ môi trường biển là một vấn đề hếtsức quan trọng, việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường biển khôngphải chỉ để đảm bảo tốt vấn đề về môi trường biển mà nó còn làđảm bảo cho chính cuộc sống của chúng ta, đảm bảo cho sự tồn tạicủa xã hội hiện tại và tương lai Chính vì vậy mà việc giáo dục ýthức bảo vệ môi trường biển cho học sinh THCS là việc làm vôcùng quan trọng và cấp bách

- Khái niệm cộng đồng.

Một cộng đồng là một nhóm xã hội của các cơ thể sốngchung trong cùng một môi trường thường là có cùng các mốiquan tâm chung Trong cộng đồng người đó là kế hoạch, niềm tin,các mối ưu tiên, nhu cầu, nguy cơ và một số điều kiện khác có thể

có và cùng ảnh hưởng đến đặc trưng và sự thống nhất của cácthành viên trong cộng đồng.[63]

Trang 17

Theo Fichter cộng đồng bao gồm 4 yếu tố sau: tương quan

cá nhân mật thiết với nhau, mặt đối mặt, thẳng thắn chân tình, trên

cơ sở các nhóm nhỏ kiểm soát các mối quan hệ cá nhân; có sự liên

hệ chặt chẽ với nhau về tình cảm, cảm xúc khi cá nhân thực hiệnđược các công việc hoặc nhiệm vụ cụ thể; có sự hiến dâng về mặttinh thần hoặc dấn thân thực hiện các giá trị xã hội được cả xã hộingưỡng mộ; có ý thức đoàn kết tập thể Cộng đồng được hìnhthành trên cơ sở các mối liên hệ giữa cá nhân và tập thể dựa trên cơ

sở tình cảm là chủ yếu; ngoài ra còn có các mối liên hệ tình cảmkhác Cộng đồng có sự liên kết cố kết nội tại không phải do cácquy tắc rõ ràng thành văn, mà do các quan hệ sâu hơn, được coinhư kà một hằng số văn hóa [63]

- Khái niệm giáo dục ý thức bảo vệ môi trường biển

Theo tác giả, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường biển là việcthực hiện giáo dục các nội dung của Luật Biển Việt Nam, cácnghị định của Chính phủ về bảo vệ tài nguyên môi trường biểnnhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường biển, ngăn chặn các mối

đe dọa gây ô nhiễm môi trường biển, giảm thiểu các hành vi gây ônhiễm môi trường biển Giáo dục từ những việc làm, hành độngnhỏ nhất như trồng và chăm sóc rừng ngập mặn; vệ sinh bãi biển;

sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên từ biển; tổ chức các diễnđàn về môi trường biển, bảo vệ môi trường biển

Trang 18

- Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường biển cho học sinh THCS dựa vào cộng đồng.

- Mục tiêu giáo dục ý thức bảo vệ môi trường biển dựa vào cộng đồng.

Thay đổi nhận thức về bảo vệ môi trường biển, truyền tìnhyêu biển đảo cho học sinh Trang bị đầy đủ hành trang, kiếnthức, những kỹ năng bảo vệ tài nguyên môi trường, hải đảo thìnhững chủ nhân tương lai của đất nước sẽ là một lực lượnghùng hậu trong mọi hoạt động tuyên truyền bảo vệ tài nguyên,môi trường, biển, đảo

Góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về các giá trịcủa biển, của hệ sinh thái biển,rừng ngập mặn và các hình thức,phương pháp sử dụng bền vững tài nguyên biển

Ngoài ra, thông qua việc giáo dục ý thức bảo vệ tài nguyên,môi trường biển sẽ hình thành cho học sinh khái niệm ban đầu vềbiển, hải đảo Việt Nam, từ đó hình thành những thói quen, hành

vi bảo vệ tài nguyên môi trường biển, thái độ ứng xử thân thiệnvới môi trường biển

- Nội dung giáo dục ý thức bảo vệ môi trường biển dựa vào cộng đồng.

Ngày đăng: 26/05/2019, 19:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w