1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ viễn thông của VNPT Quảng Trị

120 383 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 3,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu năng lực cạnh tranh dịch vụ viễn thông trong các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông nói chung và VNPT Quảng Trị nói riêng.. Các phương pháp

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ

- -

LƯƠNG THỊ THỦY

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã ngành: 8340101

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHAN THANH HOÀN

Trang 2

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn “Nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ viễn

thông của VNPT Quảng Trị” này là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự

hướng dẫn của TS Phan Thanh Hoàn

Các tài liệu tham khảo, số liệu được sử dụng đúng quy định và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài Kết quả nghiên cứu trong luận văn này chưa từng được công bố tại bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trang 3

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo Trường Đại học kinh tế Huế; Phòng đào

tạo sau đại học, các Thầy - cô giáo Trường Đại học kinh tế Huế đã trực tiếp hoặc gián tiếp giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và cán bộ công nhân viên VNPT Quảng Trị; Các đồng nghiệp và bạn bè đã nhiệt tình cộng tác, cung cấp những tài liệu thực tế và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến tất cả người thân, bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu đề tài

Mặc dù đã cố gắng để hoàn thành luận văn một cách tốt nhất có thể, tuy nhiên do

thời gian nghiên cứu chưa nhiều, kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế nên đề tài

chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự quan tâm của quý Thầy - cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn

Trang 4

TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ

Họ và tên học viên: LƯƠNG THỊ THỦY

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 8340101

Niên khóa: 2016 - 2018

Người hướng dẫn khoa học: TS PHAN THANH HOÀN

Tên đề tài: NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH DỊCH VỤ VIỄN

THÔNG CỦA VNPT QUẢNG TRỊ

1 Mục đích và đối tượng nghiên cứu

Là doanh nghiệp đi đầu trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông trên địa bàn, VNPT Quảng Trị có nhiều lợi thế về uy tín, có số lượng khách hàng sử dụng

dịch vụ viễn thông của doanh nghiệp đông, có mạng lưới hạ tầng cũng như hệ thống kênh bán hàng rộng khắp… Tuy nhiên, với những thách thức trong thời kỳ hội

nhập và các chiến lược kinh doanh tạo sự khác biệt, các đối thủ của VNPT Quảng

Trị cũng đang ngày một lớn mạnh và đây là một thách thức không nhỏ đối với doanh nghiệp Vì vậy, việc nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của VNPT Quảng Trị

và xây dựng các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong giai đoạn hiện nay là

rất quan trọng

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu năng lực cạnh tranh dịch vụ viễn thông trong các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông nói chung và VNPT Quảng Trị nói riêng

2 Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng

Với phương pháp thu thập thông tin từ dữ liệu thứ cấp, sơ cấp để tiến hành phân tích định tính và định lượng; Sử dụng các chỉ tiêu đồng nhất về không gian và thời gian nhằm xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích trong

nội tại của VNPT Quảng Trị và so sánh với các đối thủ về năng lực cạnh tranh; Bên

cạnh đó tác giả còn sử dụng phương pháp phân tích SWOT để làm rõ điểm yếu, điểm mạnh, cơ hội và thách thức của VNPT Quảng Trị về năng lực cạnh tranh

3 Kết quả nghiên cứu và kết luận

Luận văn đã làm rõ được 5 áp lực theo mô hình của Michael E Porter đối với VNPT Quảng Trị trong cạnh tranh dịch vụ viễn thông Các điểm mạnh, điểm yếu của VNPT Quảng Trị và các đối thủ, so sánh lợi thế cạnh tranh thông qua các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội thách thức được phân tích bằng ma trận SWOT Bên cạnh

đó luận văn đã đi sâu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của VNPT Quảng Trị như năng lực tài chính, năng lực quản lý và điều hành, giá trị doanh nghiệp, trang thiết bị và công nghệ, năng lực marketing, cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực Để từ đó xây dựng các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh dịch

vụ viễn thông của VNPT Quảng Trị trong thời gian tới

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Cấu trúc của luận văn 4

PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ CẠNH TRANH 5

VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH VIỄN THÔNG 5

1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 5

1.1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh 5

1.1.2 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh 13

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 15

1.2.1 Các yếu tố bên ngoài 15

1.2.2 Các yếu tố bên trong 17

1.3 Đặc điểm ngành viễn thông 17

1.3.1 Đặc điểm cơ bản của ngành viễn thông 17

1.3.2 Các loại dịch vụ chủ yếu của ngành viễn thông 20

1.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông 21

1.5 Các mô hình lý thuyết phân tích năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 23

1.5.1 Ma trận SWOT 23

1.5.2 Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael E Porter 25

1.5.3 Mô hình kim cương 26

TR ƯỜ

NG ĐẠ

I H ỌC

KINH

TẾ HU

Trang 6

1.5.4 Tổng quan một số nghiên cứu về năng lực cạnh tranh dịch vụ viễn thông và lựa chọn mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh dịch vụ viễn thông cho VNPT

Quảng Trị 27

1.6 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của một số đơn vị và bài học vận dụng cho VNPT Quảng Trị 29

1.6.1 Một số kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ viễn thông của VNPT Quảng Bình 29

1.6.2 Một số kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ viễn thông của Viettel Quảng Trị 30

1.6.3 Một số kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ viễn thông của Mobifone Quảng Trị 31

1.6.4 Bài học vận dụng cho VNPT Quảng Trị 32

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANHDỊCH VỤ VIỄN THÔNG CỦA VNPT QUẢNG TRỊ 33

2.1 Tổng quan về VNPT Quảng Trị 33

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của VNPT Quảng Trị 33

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của VNPT Quảng Trị 34

2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy sản xuất kinh doanh của VNPT Quảng Trị 35

2.1.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của VNPT Quảng Trị từ 2014 - 2016 37

2.1.5 Các loại hình dịch vụ viễn thông VNPT Quảng Trị cung cấp 39

2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh dịch vụ viễn thông của VNPT Quảng Trị 39

2.2.1 Năng lực tài chính 39

2.2.2 Năng lực quản lý và điều hành 42

2.2.3 Giá trị phi vật chất của doanh nghiệp 43

2.2.4 Trình độ trang thiết bị và công nghệ 44

2.2.5 Năng lực về Marketing 45

2.2.6 Về cơ cấu tổ chức 48

2.2.7 Về nguồn nhân lực 49

2.3 Phân tích các áp lực cạnh tranh của VNPT Quảng Trị 51

TR ƯỜ

NG ĐẠ

I H ỌC

KINH

TẾ HU

Trang 7

2.3.1 Áp lực từ các đối thủ cạnh tranh 51

2.3.2 Áp lực từ khách hàng 52

2.3.3 Áp lực từ các sản phẩm thay thế 52

2.3.4 Áp lực từ các nhà cung cấp 53

2.3.5 Áp lực từ các đối thủ tiềm ẩn 53

2.4 Phân tích ma trận SWOT tại VNPT Quảng Trị 54

2.4.1 Điểm mạnh 54

2.4.2 Điểm yếu 55

2.4.3 Cơ hội 55

2.4.4 Thách thức 56

2.4.5 Ma trận SWOT 56

2.5 Tổng hợp đánh giá, so sánh về năng lực cạnh tranh của VNPT Quảng Trị với các đối thủ cạnh tranh trên địa bàn 66

2.5.1 Phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh dựa trên kết quả khảo sát lấy ý kiến các nhà quản lý 66

2.5.2 Phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh dựa trên kết quả khảo sát lấy ý kiến cả khách hàng 74

2.6 Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của VNPT Quảng Trị 83

2.6.1 Ưu điểm 83

2.6.2 Hạn chế 83

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH DỊCH VỤ VIỄN THÔNG CỦA VNPT QUẢNG TRỊ 85

3.1 Các định hướng kinh doanh của VNPT Quảng Trị đến năm 2030 85

3.2 Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của VNPT Quảng Trị 86

3.2.1 Giải pháp về phát huy nội lực và hiệu quả của hoạt động tài chính 86

3.2.2 Giải pháp nâng cao uy tín, thương hiệu 88

3.2.3 Giải pháp về nâng cao chất lượng dịch vụ 88

3.2.4 Nâng cao năng lực Marketing và lựa chọn thị trường mục tiêu 89

3.2.5 Giải pháp về tăng cường kinh doanh các sản phẩm dịch vụ mới 90

TR ƯỜ

NG ĐẠ

I H ỌC

KINH

TẾ HU

Trang 8

3.2.6 Giải pháp về đa dạng và linh hoạt các gói cước 91

3.2.7 Giải pháp về nguồn nhân lực 91

PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96

1 Kết luận 96

2 Kiến nghị 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 100

QUYẾT ĐỊNH VỀ VIỆC THÀNH LẬP HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ BIÊN BẢN CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VẮN THẠC SĨ KINH TẾ

NHẬN XÉT LUẬN VĂN THẠC SĨ CỦA PHẢN BIỆN 1

NHẬN XÉT LUẬN VĂN THẠC SĨ CỦA PHẢN BIỆN 2

BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN

XÁC NHẬN HOÀN THIỆN LUẬN VĂN

TR ƯỜ

NG ĐẠ

I H ỌC

KINH

TẾ HU

Trang 9

Bảng 2.5: Kinh phí sử dụng quảng cáo, khuyến mại giai đoạn 2014 - 2016 47

Bảng 2.6: Cơ cấu lao động của VNPT Quảng Trị theo độ tuổi và trình độ tính

Bảng 2.13: Cơ cấu đối tượng điều tra theo giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn và

thời gian công tác 66

Bảng 2.14: Ý kiến đánh giá của đối tượng điều tra về năng lực tài chính 68 Bảng 2.15: Ý kiến đánh giá của đối tượng điều tra về năng lực quản lý

Trang 10

Bảng 2.16: Ý kiến đánh giá của đối tượng điều tra về giá trị doanh nghiệp 70

Bảng 2.17: Ý kiến đánh giá của đối tượng điều tra về trang bị và công nghệ 71

Bảng 2.18: Ý kiến đánh giá của đối tượng điều tra về về năng lực Marketing 72

Bảng 2.19: Ý kiến đánh giá của đối tượng điều tra về cơ cấu tổ chức 73 Bảng 2.20: Ý kiến đánh giá của đối tượng điều tra về về nguồn nhân lực 74

Bảng 2.21 Cơ cấu đối tượng điều tra 75

Bảng 2.22: Cơ cấu đối tượng điều tra theo giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn và

thời gian công tác 75

Bảng 2.23: Cơ cấu đối tượng điều tra theo dịch vụ viễn thông khách hàng đang

sử dụng 76 Bảng 2.24: Mức độ hài lòng với chất lượng của dịch vụ viễn thông của khách

Trang 11

31/12/2016 40 Biểu đồ 2.4: Thị phần thuê bao internet tại địa bàn Quảng Trị tính đến

Trang 12

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Cạnh tranh là xu hướng chung của mọi nền kinh tế, nó ảnh hưởng tới tất cả các lĩnh vực, các thành phần kinh tế và các doanh nghiệp Ngày nay, hầu hết các quốc gia đều thừa nhận trong mọi hoạt động đều phải cạnh tranh, coi cạnh tranh không những là môi trường, là động lực của sự phát triển, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả, mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội

Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) là một Tập đoàn lớn giữ vai trò chủ đạo trong việc phát triển viễn thông - công nghệ thông tin của đất nước

hiện nay VNPT đang có rất nhiều những cơ hội song cũng đứng trước khá nhiều

những thách thức của thời kỳ hội nhập Bên cạnh sự cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước như Viettel, Mobifone, FPT … VNPT đang phải chuẩn bị cho sự đối mặt với các doanh nghiệp nước ngoài tham gia kinh doanh vào thị trường nội địa với tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ và đặc biệt là kinh nghiệm trong quản lý Điều đó đồng nghĩa với việc điều kiện kinh doanh sẽ ngày càng khó khăn hơn

Là một đơn vị trực thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, VNPT Quảng

Trị cũng không nằm ngoài vòng xoáy cạnh tranh đó

Là doanh nghiệp đi đầu trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông trên địa bàn, VNPT Quảng Trị có nhiều lợi thế về uy tín, có số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ viễn thông của doanh nghiệp đông, có mạng lưới hạ tầng cũng như hệ

thống kênh bán hàng rộng khắp… Tuy nhiên, với những chiến lược kinh doanh tạo

sự khác biệt, các đối thủ của VNPT Quảng Trị cũng đang ngày một lớn mạnh và đây là một thách thức không nhỏ đối với doanh nghiệp Thực tế cho thấy, trong

những năm gần đây thị phần của VNPT bị giảm dần so với các đối thủ, trong đó đặc

biệt là thị phần dịch vụ di động và internet Vì vậy VNPT Quảng Trị cần phải xây dựng kế hoạch, chiến lược kinh doanh để có thể cạnh tranh tốt với các đối thủ nhằm

bảo vệ thị phần và tăng trưởng trong tương lai

Trang 13

Xuất phát từ những lý do nói trên cùng với mong muốn đóng góp vào sự phát triển của VNPT Quảng Trị, tác giả chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh dịch

v ụ viễn thông của VNPT Quảng Trị” làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở lý luận và phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh dịch

vụ viễn thông của VNPT Quảng Trị hiện tại để đề xuất giải pháp nâng cao năng lực

cạnh tranh dịch vụ viễn thông của VNPT Quảng Trị trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong kinh doanh nói chung và trong thị trường viễn thông công nghệ thông tin nói riêng

- Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh, phân tích các yếu tố ảnh hưởng và

mức độ tác động của các nhân tố đến năng lực cạnh tranh dịch vụ viễn thông của VNPT Quảng Trị

- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ

viễn thông của VNPT Quảng Trị trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu năng lực cạnh tranh dịch vụ viễn thông của VNPT Quảng Trị

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của VNPT Quảng Trị, các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực canh tranh dịch vụ viễn thông của VNPT Quảng Trị trong thời gian tới

+ Phạm vi về thời gian: Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh dịch vụ viễn thông của VNPT Quảng Trị giai đoạn 2014 - 2016

+ Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu trong phạm vi hoạt động của VNPT Quảng Trị và một số đối thủ cạnh tranh trên địa bàn

Trang 14

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp thu thập thông tin

- Thu thập thông tin, số liệu thứ cấp: Các số liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn: Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh, báo cáo tài chính đã qua kiểm toán của VNPT Quảng Trị các năm 2014 - 2016; các định hướng, chiến lược kinh doanh của VNPT Quảng Trị; các tài liệu chuyên ngành VT-CNTT, một số báo cáo đã công bố trên các tạp chí, số liệu thông báo về thị phần của Sở thông tin truyền thông Quảng Trị…

- Thu thập thông tin, dữ liệu sơ cấp: thông qua 2 mẫu phiếu điều tra, khảo sát, thu thập ý kiến gồm:

+ Mẫu 1: Điều tra, khảo sát, thu thập ý kiến của các nhà quản lý thuộc Sở thông tin truyền thông và cán bộ quản lý cấp trung trở lên của VNPT Quảng Trị về

thực tế năng lực cạnh tranh của VNPT Quảng Trị so với các đối thủ theo các yếu tố về: năng lực tài chính, năng lực quản lý và điều hành, giá trị của doanh nghiệp, năng

lực marketing, trang thiết bị và công nghệ, cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực

+ Mẫu 2: Điều tra, khảo sát, thu thập ý kiến của khách hàng về các dịch vụ

viễn thông của VNPT Quảng Trị thông qua các yếu tố có liên quan đến kênh phân

phối, chất lượng dịch vụ, marketing, thương hiệu, uy tín…

- Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu:

+ Mẫu 1: Đối tượng được chọn điều tra, khảo sát, lấy ý kiến là tất cả cán bộ quản lý về lĩnh vực viễn thông thuộc Sở thông tin truyền thông và tất cả cán bộ

quản lý cấp trung trở lên, toàn bộ chuyên viên tham mưu khối văn phòng của VNPT

Quảng Trị gồm 113 người (cỡ mẫu tối thiểu là: 19 biến quan sát x 5 = 95 mẫu) Cụ thể: 10 cán bộ quản lý thuộc Phòng quản lý viễn thông của Sở thông tin truyền thông tỉnh Quảng Trị; 22 cán bộ quản lý cấp Trưởng, phó phòng trở lên, 51 chuyên viên tham mưu thuộc các phòng chức năng và 30 trưởng địa bàn cơ sở của VNPT

Quảng Trị

+ Mẫu 2: Đối tượng được chọn điều tra, khảo sát là các khách hàng đang sử dụng dịch vụ viễn thông của một trong các nhà cung cấp hiện có trên địa bàn tỉnh

Quảng Trị Phương pháp chọn mẫu được thực hiện ngẫu nhiên tại 4 địa bàn có mức

độ cạnh tranh cao, thị phần của đối thủ đang chiếm lớn gồm Thành phố Đông Hà, Huyện Vĩnh Linh, Huyện Hướng Hóa và Huyện Hải Lăng Với cỡ mẫu tối thiểu: 16

Trang 15

biến quan sát x 5 = 80 mẫu tuy nhiên do số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ viễn thông lớn nên tác giả đã chọn cỡ mẫu gấp 2,5 lần cỡ mẫu tối thiểu là 200 mẫu để điều tra nghiên cứu nhằm đảm bảo độ tin cậy tốt hơn

4.2 Phương pháp phân tích số liệu và công cụ sử dụng

- Từ những số liệu thứ cấp thu thập được tiến hành phân tích định lượng và định tính, so sánh số liệu giữa các năm từ 2014 - 2016 và so sánh với các đối thủ

- Sử dụng công cụ excel, SPSS để xử lý và biểu diễn số liệu thành các bảng

số tóm tắt phục vụ cho quá trình phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của VNPT

Quảng Trị

4.3 Phương pháp so sánh

Sử dụng các chỉ tiêu đồng nhất về không gian và thời gian nhằm xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích trong nội tại của VNPT Quảng

Trị và so sánh với các đối thủ về năng lực cạnh tranh

4 4 Phương pháp phân tích SWOT

Sử dụng ma trận SWOT để phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách

thức đối với VNPT Quảng Trị trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh cung cấp

dịch vụ viễn thông tại địa bàn Quảng Trị

4.5 Phương pháp chuyên gia

Sử dụng phương pháp chuyên gia để lấy ý kiến đánh giá, nhận xét của một số các nhà quản lý làm cơ sở phân tích, so sánh năng lực cạnh tranh của VNPT Quảng

Trị với các đối thủ như Vietel, Mobifone, FPT

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc bởi 3 chương chính:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

của ngành viễn thông

- Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh dịch vụ viễn thông của VNPT Quảng Trị

- Chương 3: Định hướng, giải pháp nâng cao năng lực dịch vụ viễn thông của VNPT Quảng Trị

Trang 16

PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ CẠNH TRANH

VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH VIỄN THÔNG

1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

1.1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh

1.1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh

Cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và

có nhiều quan niệm khác nhau dưới các góc độ khác nhau:

Theo Các Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”[2]

Adam Smith cho rằng nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân chèn ép nhau thì

cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác Ngược lại, chỉ có mục đích lớn lao nhưng lại không có động cơ thúc đẩy thì rất

ít có được khả năng tạo ra bất kỳ sự cố gắng lớn lao nào Như vậy, có thể hiểu rằng

cạnh tranh khơi dậy sự nổ lực chủ quan của con người, góp phần làm tăng của cải của nền kinh tế

P Samuelson (2000) thì cho rằng: “Cạnh tranh là sự tranh giành thị trường

để tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp”[6]

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì: “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là

hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất” [10]

Cho đến nay, các nhà khoa học dường như chưa thể thoả mãn với bất cứ khái niệm nào về cạnh tranh Bởi lẽ với tư cách là một hiện tượng xã hội riêng có

của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh xuất hiện ở mọi lĩnh vực, mọi công đoạn của quá trình kinh doanh và gắn liền với bất cứ chủ thể nào đang hoạt động trên thị trường Do đó, cạnh tranh được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau tùy thuộc vào

Trang 17

ý định và hướng tiếp cận của các nhà khoa học Tuy nhiên, qua các định nghĩa trên

có thể rút ra những nét chung nhất về cạnh tranh như sau:

M ột là, nói đến cạnh tranh nghĩa là nói đến sự ganh đua giữa một hoặc một

nhóm người nhằm giành lấy phần thắng Cạnh tranh làm nâng cao vị thế của người này và giảm vị thế của những người còn lại

Hai là, mục đích cuối cùng của cạnh tranh giữa các đối tượng là kiếm được

lợi nhuận cao nhất có thể

Ba là, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, nó có các ràng buộc

mà các đối tượng tham gia cạnh tranh phải tuân thủ như đặc điểm sản phẩm, thị trường…

Bốn là, các chủ thể tham gia cạnh tranh phải sử dụng nhiều các công cụ khác

nhau như cạnh tranh bằng tính ưu việt của sản phẩm, giá cả, kênh phân phối…

Năm là, cạnh tranh còn được xem là sự ganh đua mang tính hợp tác giữa các

chủ thể

1.1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của cạnh tranh

Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản, một xu thế tất yếu khách quan và là động lực phát triển của nền kinh tế thị trường Nhờ có cạnh tranh, với sự thay đổi liên tục về nhu cầu và với bản tính tham vọng của con người mà nền kinh

tế thị trường đã đem lại những bước phát triển nhảy vọt so với trước đó Sự ham muốn không có điểm dừng về lợi nhuận của nhà kinh doanh trở thành động lực thúc đẩy họ làm việc, sáng tạo không mệt mỏi Theo đó, cạnh tranh có những vai trò cơ bản sau đây:

Thứ nhất, cạnh tranh đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng

Trong môi trường cạnh tranh, người tiêu dùng có vị trí trung tâm, họ là thượng đế của các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ Nhu cầu của họ được đáp ứng một cách tốt nhất mà thị trường có thể cung ứng, bởi họ là người có quyền bỏ phiếu bằng đồng tiền để quyết định ai được tồn tại và ai phải ra khỏi cuộc chơi Nói cách khác, cạnh tranh đảm bảo cho người tiêu dùng có được cái mà họ muốn Tùy thuộc vào khả năng tài chính và nhu cầu, người tiêu dùng sẽ quyết định việc sử dụng loại

Trang 18

hàng hoá, dịch vụ cụ thể nào đó để thỏa mãn Với các nhà sản xuất thì phụ thuộc vào năng lực tài chính, trình độ khoa học công nghệ… để họ quyết định mức độ đáp ứng nhu cầu về loại sản phẩm, về giá và chất lượng của chúng

Kinh tế học đánh giá hiệu quả của một thị trường dựa vào khả năng đáp ứng nhu cầu cho người tiêu dùng Thị trường sẽ được coi là hiệu quả nếu nó cung cấp hàng hoá, dịch vụ đến tay người tiêu dùng với giá trị cao nhất Thị trường sẽ kém hiệu quả nếu chỉ có một người bán mà cô lập với các nhà cạnh tranh khác, các

khách hàng khác

Thứ hai, cạnh tranh có vai trò điều phối các hoạt động kinh doanh trên thị trường

Như một quy luật sinh tồn của tự nhiên, cạnh tranh đảm bảo phân phối thu nhập và các nguồn lực kinh tế tập trung vào tay những doanh nghiệp giỏi, có khả năng và bản lĩnh trong kinh doanh Sự tồn tại của cạnh tranh sẽ loại bỏ những khả năng lạm dụng quyền lực thị trường để bóc lột đối thủ cạnh tranh và bóc lột khách hàng Vai trò điều phối của cạnh tranh thể hiện thông qua các chu trình của quá trình cạnh tranh Khi một chu trình cạnh tranh được giả định là kết thúc, người chiến thắng sẽ có được thị phần (kèm theo chúng là nguồn nguyên liệu, vốn và lao động…) lớn hơn điểm xuất phát Thành quả này lại được sử dụng làm khởi đầu cho giai đoạn cạnh tranh tiếp theo Cứ thế, kết quả thực hiện các chiến lược kinh doanh

và cạnh tranh hiệu quả sẽ làm cho doanh nghiệp có sự tích tụ dần trong quá trình kinh doanh để nâng cao dần vị thế của người chiến thắng trên thương trường

Thứ ba, cạnh tranh đảm bảo cho việc sử dụng các nguồn lực kinh tế một cách

hiệu quả nhất

Những nỗ lực giảm chi phí nhằm giảm giá thành của hàng hoá, dịch vụ đã buộc các doanh nghiệp phải tự đặt mình vào những điều kiện kinh doanh tiết kiệm bằng cách sử dụng một cách hiệu quả nhất các nguồn lực mà họ hiện có Mọi sự lãng phí hoặc tính toán sai lầm trong sử dụng nguồn lực đều có thể dẫn đến những thất bại trong kinh doanh Nhìn ở tổng thể của nền kinh tế, cạnh tranh là động lực cơ bản

giảm sự lãng phí trong kinh doanh, giúp cho mọi nguồn lực được sử dụng tối ưu

Trang 19

Thứ tư, cạnh tranh có tác dụng thúc đẩy việc ứng dụng các tiến bộ khoa học,

kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh

Nhu cầu tìm kiếm lợi nhuận đã thúc đẩy các doanh nghiệp không ngừng áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất để đáp ứng ngày càng tốt hơn đòi hỏi của thị trường với mong muốn giành phần thắng về mình Theo guồng đó, cuộc chạy đua giữa các doanh nghiệp sẽ thúc đẩy sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật trong đời sống kinh tế và xã hội Trên thực tế, sự thay đổi và phát triển liên tục của các thế hệ máy

vi tính và sự phát triển của hệ thống viễn thông quốc tế hiện đại cho thấy rõ vai trò của cạnh tranh trong việc thúc đẩy tiến bộ khoa học, kỹ thuật

Thứ năm, cạnh tranh kích thích sự sáng tạo và là nguồn gốc của sự đổi mới

liên tục trong đời sống kinh tế - xã hội

Nền tảng của quy luật cạnh tranh trên thị trường là quyền tự do trong kinh doanh và sự độc lập trong sở hữu và hoạt động của doanh nghiệp Khi sự tự do kinh doanh bị tiêu diệt, mọi sự thi đua chỉ là những cuộc tụ họp theo phong trào, không thể là động lực đích thực thúc đẩy sự phát triển Cạnh tranh đòi hỏi Nhà nước và pháp luật phải tôn trọng tự do trong kinh doanh Trong sự tự do kinh doanh, quyền được sáng tạo trong khuôn khổ tôn trọng lợi ích của chủ thể khác và của xã hội luôn được đề cao như một kim chỉ nam của sự phát triển Sự sáng tạo làm cho cạnh tranh diễn ra liên tục theo chiều hướng gia tăng của quy mô và nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế Việc thiếu sự sáng tạo sẽ làm cho cạnh tranh trở nên nhàm chán bởi những vòng quay được lặp đi lặp lại ở cùng một mức độ

Với ý nghĩa là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, cạnh tranh luôn là đối tượng được pháp luật và các chính sách kinh tế quan tâm Sau vài thế kỷ thăng trầm của kinh tế thị trường và với sự chấm dứt của cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, con người ngày càng nhận thức đúng đắn hơn về bản chất và ý nghĩa của cạnh tranh đối với sự phát triển chung của đời sống kinh tế Do đó, đã có nhiều

nỗ lực xây dựng và tìm kiếm những cơ chế thích hợp để duy trì và bảo vệ cho cạnh tranh được diễn ra theo đúng chức năng của nó

Trang 20

Tuy nhiên, ngoài mặt tích cực, cạnh tranh cũng đem lại những hệ quả không mong muốn về mặt xã hội Nó làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diện sở hữu của cải, phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo, có những tác động tiêu cực khi cạnh tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật hay bất chấp pháp luật Vì

lý do trên cạnh tranh kinh tế bao giờ cũng phải được điều chỉnh bởi các định chế xã hội, sự can thiệp của nhà nước [3]

1.1.1.3 Nguồn gốc và bản chất của cạnh tranh

Các học thuyết về kinh tế thị trường hiện đại đều khẳng định: cạnh tranh là động lực phát triển nội tại của mỗi nền kinh tế, cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong điều kiện của kinh tế thị trường Người tiêu dùng và các doanh nghiệp tác động qua lại lẫn nhau trên thị trường để xác định ba vấn đề trọng tâm: sản xuất cái gì? Như thế nào? Và cho ai? Do đó, người tiêu dùng giữ vị trí trung tâm trong nền kinh tế và là đối tượng hướng tới của mọi doanh nghiệp Dưới sự tác động của quy luật cung cầu và quy luật giá trị, các chủ thể kinh doanh cạnh tranh với nhau để cung ứng sản phẩm cho người tiêu dùng, tuy nhiên sản xuất không vượt qua khả năng kinh doanh Dưới tác động của cạnh tranh, thị trường tự thân nó luôn giải quyết mâu thuẫn giữa sở thích của người tiêu dùng và năng lực sản xuất hạn chế, do

đó cạnh tranh là lực lượng điều tiết trong hệ thống thị trường Các áp lực liên tục của người tiêu dùng buộc các chủ thể kinh doanh phải phản ứng, phù hợp với các mong muốn thay đổi của người tiêu dùng Cạnh tranh thúc đẩy lực lượng sản xuất

xã hội phát triển, nâng cao năng suất lao động, đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất trong điều kiện các yếu tố của sản xuất luôn thiếu hụt Cạnh tranh thực sự là một cuộc đua tranh, khi các chủ thể kinh doanh có lợi ích cơ bản là mâu thuẫn nhau Do vậy, cạnh tranh chỉ xuất hiện trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, nơi mà cung cầu là “cốt vật chất”, giá cả là “diện mạo” và cạnh tranh là

“linh hồn sống” của thị trường

Cạnh tranh là một quy luật của kinh tế thị trường trong những điều kiện của những tiền đề pháp lý cụ thể Đó là tự do thương mại mà theo đó tự do kinh doanh,

tự do khế ước và quyền tự chủ của cá nhân được hình thành và đảm bảo Cạnh tranh

Trang 21

xuất hiện khi pháp luật thừa nhận và bảo vệ tính đa dạng của các loại hình sở hữu với tính chất là nguồn gốc của cạnh tranh Cạnh tranh hiện thân là động lực phát triển của xã hội; là nhân tố làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội khi Nhà nước đảm bảo sự bình đẳng trước pháp luật của mọi thành phần kinh tế Nhìn từ phía các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh là phương thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định của người tiêu dùng Trên quy

mô toàn xã hội, cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu

do đó là động lực bên trong thúc đẩy phát triển nền kinh tế Cùng với mục đích tối

đa hóa lợi nhuận, cạnh tranh đã thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn diễn ra không đều ở các ngành, lĩnh vực kinh tế khác nhau Đây là tiền đề vật chất của các hình thái cạnh tranh

Cạnh tranh còn là môi trường đào thải các doanh nghiệp không thích nghi được với các điều kiện của thị trường Ở nghĩa này, cạnh tranh là nhân tố hiệu chỉnh bên trong của thị trường Bản chất kinh tế của cạnh tranh thể hiện mục đích vì lợi nhuận và chi phối thị trường Bản chất xã hội của cạnh tranh bộc lộ đạo đức và uy tín của mỗi chủ thể kinh doanh Dưới tác động điều tiết vĩ mô, sự cạnh tranh ở mỗi nước còn có bản chất chính trị khác nhau

Cạnh tranh về bản chất khác so với thi đua xã hội chủ nghĩa và thi đấu thể thao Nếu việc đua tranh để đạt giải thưởng là cuộc đua tranh một lần thì trong nền kinh tế thị trường cuộc đua tranh diễn ra liên tục Người tham gia cạnh tranh không được phép dừng lại mà phải luôn tiến về phía trước để chiến thắng

Tóm lại: Cạnh tranh chỉ xuất hiện khi có ít nhất 2 chủ thể cùng tham gia, có mục đích cụ thể, trong một môi trường cụ thể, trong một khoảng thời gian không cố định và trong một không gian xác định

1.1.1.4 Chức năng của cạnh tranh

Đối với nền kinh tế, cạnh tranh đảm nhận một số chức năng quan trọng Tuy nhiên tầm quan trọng của mỗi chức năng có thể thay đổi theo từng thời kỳ, cụ thể:

- Chức năng điều chỉnh cung cầu hàng hóa trên thị trường: khi cung một hàng hóa nào đó lớn hơn cầu, cạnh tranh giữa những người bán làm cho giá cả thị

Trang 22

trường giảm xuống dẫn đến việc giảm cung Khi cung một loại hàng hóa nào đó thấp hơn cầu, hàng hóa đó trở nên khan hiến trên thị trường, giá cả của hàng hóa tăng lên tạo ra mức lợi nhuận cao hơn mức bình quân nhưng đồng thời dẫn đến

giảm cầu Như vậy cạnh tranh điều chỉnh “cung cầu” xung quanh điểm cân bằng

- Chức năng điều tiết việc sử dụng các nhân tố sản xuất: Do mục đích tối đa hóa

lợi nhuận, các chủ thể kinh doanh khi tham gia thị trường phải cân nhắc các quyết định

sử dụng nguồn lực về vật chất và nhân lực vào hoạt động sản xuất kinh doanh Họ luôn phải sử dụng một cách hợp lý nhất các nhân tố sản xuất sao cho chi phí sản xuất thấp

nhất hiệu quả cao nhất Chính từ đặc điểm này mà các nguồn lực được vận động, chu chuyển hợp lý về mọi mặt để phát huy hết khả năng vốn có, đưa lại năng suất cao Tuy nhiên, không vì thế mà coi hoạt động của chức năng này là có hiệu quả tuyệt đối, bởi vì

vẫn còn nhưng trường hợp chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro

- Chức năng xúc tác tích cực làm cho sản xuất thích ứng với biến động của cầu và công nghệ sản xuất: Điểm mấu chốt của kinh tế thị trường là quyền lựa chọn

những sản phẩm tốt nhất Nếu một sản phẩm không đáp ứng được yêu cầu thị trường thì sự lựa chọn của người tiêu dùng và quy luật cạnh tranh sẽ buộc nó phải

tự định hướng lại và hoàn thiện Do cạnh tranh, các chủ thể kinh doanh phải chủ động đổi mới công nghệ, áp dụng những kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ và phương thức kinh doanh để thỏa mãn yêu

cầu thị trường, nâng cao vị thế của chủ thể cạnh tranh và sản phẩm

- Chức năng phân phối và điều hòa thu nhập: Không một chủ thể kinh doanh nào có thể mãi mãi thu được lợi nhuận cao và thống trị phân phối sản phẩm trên thị trường Các đối thủ cạnh tranh luôn tìm kiếm những giải pháp hiệu quả nhất để ganh đua Trong từng thời điểm, một sản phẩm hàng hóa mang trong mình các đặc tính ưu việt nhất định thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng thì có thể chiếm được

ưu thế trên thị trường, tuy nhiên vị trí của nó luôn có thể bị đe dọa bởi các sản phẩm cùng loại khác có tính ưu việt vượt trội hơn Do cạnh tranh, các nhà kinh doanh không thể lạm dụng được ưu thế của mình, vì vậy cạnh tranh sẽ tác động một cách tích cực đến việc phân phối và điều hòa thu nhập

Trang 23

- Chức năng động lực thúc đẩy đổi mới: Giống như quy luật tồn tại và đào thải của tự nhiên, cạnh tranh kinh tế luôn khẳng định chiến thắng thuộc về kẻ mạnh

- những chủ thể kinh doanh có tiềm năng, có trình độ quản lý và tri thức về kỹ thuật công nghệ, có tư duy kinh tế và kinh nghiệm thương trường sẽ tồn tại, phát triển và ngược lại Do đó, cạnh tranh trở thành động lực phát triển không chỉ thôi thúc mỗi

cá nhân các chủ thể kinh doanh mà còn là động lực phát triển nền kinh tế của mỗi

Giá cả là một vũ khí khá lợi hại trong việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp

Để có thể thành công trong cạnh tranh về giá, các doanh nghiệp phải nghiên cứu thị trường, tìm hiểu đối thủ để xác định mức giá hợp lý đảm bảo đáp ứng được thị trường và đủ sức để cạnh tranh với đối thủ Một số chính sách giá các doanh nghiệp

có thể áp dụng một cách linh hoạt để cạnh tranh như: chính sách giá phân biệt nhằm khai thác triệt để độ co giãn của cầu như giá thay đổi theo số lượng sản phẩm sử

dụng, thay đổi theo thời gian sử dụng sản phẩm; Giảm giá cho các đối tượng ưu tiên, các vùng ưu tiên, các tầng lớp xã hội hay chính sách giảm giá tạm thời

1.1.1.5.3 Cạnh tranh về phân phối sản phẩm, dịch vụ

Để sản phẩm của doanh nghiệp đến gần hơn với người tiêu dùng trực tiếp đòi hỏi các doanh nghiệp phải mở rộng mạng lưới các kênh phân phối như hệ thống các đại lý cấp 1, cấp 2, các điểm bán lẻ…và hơn hết các doanh nghiệp phải biết lựa

chọn kênh phân phối có hiệu quả nhất để phân phối sản phẩm của mình

Trang 24

1.1.1.5.4 C ạnh tranh về xúc tiến bán hàng

Các hình thức quảng cáo truyền thông, các chương trình khuyến mại là

những hình thức xúc tiến bán hàng không thể thiếu trong môi trường cạnh tranh gay

gắt như hiện nay Thông qua các hình thức này, các doanh nghiệp thu hút sự quan tâm của khách hàng đến các sản phẩm dịch vụ của mình cung cấp và từ đó khách hàng sẽ có sự lựa chọn để đáp ứng nhu cầu của họ

1.1.1.5.5 Các hình th ức cạnh tranh khác

Ngoài 4 hình thức cạnh tranh nói trên, các doanh nghiệp còn cạnh tranh với nhau về phương thức thanh toán như thanh toán trả chậm, trả góp, chiết khấu thanh toán trước, chiết khấu thương mại đối với các khách hàng mua hàng với số lượng lớn…

1.1.2 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh

Cạnh tranh gắn liền với hành vi của chủ thể như hành vi của doanh nghiệp kinh doanh, của cá nhân kinh doanh và của một nền kinh tế Trong quá trình cạnh tranh với nhau, để giành lợi thế về phía mình, các chủ thể phải áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị thế của mình trên thị trường Các biện pháp này thể hiện một sức mạnh nào đó của chủ thể được gọi là năng lực cạnh tranh hay sức cạnh tranh hoặc khả năng cạnh tranh của chủ thể đó

Cho đến nay, một định nghĩa chính xác cho khái niệm này vẫn đang là vấn

đề gây nhiều tranh luận Dưới đây là một số khái niệm về năng lực cạnh tranh:

- Theo Michael E.Porter, không thể đưa ra một định nghĩa tuyệt đối về khái niệm năng lực cạnh tranh Ông cho rằng: “Để có thể cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp phải có được lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có được chi phí

sản xuất thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hóa sản phẩm để đạt được những mức giá cao hơn trung bình Để duy trì lợi thế cạnh tranh các doanh nghiệp cần ngày càng đạt được những lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp hàng hóa hay dịch vụ có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu suất cao hơn”[16]

Quan niệm của Michael E Porter đã đề cập đến vấn đề năng lực cạnh tranh còn bao hàm cả việc doanh nghiệp phải liên tục duy trì lợi thế cạnh tranh của mình

Trang 25

Hay nói cách khác, doanh nghiệp phải liên tục duy trì mức lợi nhuận trên cơ sở bám sát với nhịp độ phát triển của thị trường hoặc thậm chí chủ động tạo lập nên sự phát triển của thị trường

- Theo từ điển thuật ngữ chính sách thương mại: “Sức cạnh tranh là năng lực

của một doanh nghiệp hoặc một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác, quốc gia khác đánh bại về năng lực kinh tế”[15]

- Theo từ điển thuật ngữ kinh tế học: “Năng lực cạnh tranh, khả năng dành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng dành

lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp” [11]

- “Doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản

phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ cạnh tranh trong nước và quốc tế Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng đảm bảo thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp”[14]

Chính vì có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh, vì vậy khi nghiên cứu năng lực cạnh tranh người ta thường xem xét phân biệt theo 4 cấp độ

gồm năng lực cạnh tranh quốc gia, ngành, doanh nghiệp và sản phẩm Cụ thể:

+ N ăng lực cạnh tranh quốc gia: có thể hiểu là xây dựng một môi trường

kinh tế chung, đảm bảo phân bổ hiệu quả các nguồn lực, đạt và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững

+ N ăng lực cạnh tranh ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp

trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn

+ Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp: là thể hiện thực lực và lợi thế của

doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn

Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp…một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường

Trang 26

Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo ra và có được các lợi thế cạnh tranh cho riêng mình Nhờ lợi thế, doanh nghiệp có thể thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh [4]

+ Năng lực cạnh tranh sản phẩm:“Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch

vụ là khả năng sản phẩm, dịch vụ đó được sử dụng nhiều và nhanh chóng khi trên thị trường có nhiều doanh nghiệp cùng cung cấp loại sản phẩm, dịch vụ đó” [5]

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ chính là năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần của loại sản phẩm, dịch vụ do chủ thể sản xuất và cung ứng nào đó đem

ra để tiêu thụ so với sản phẩm, dịch vụ cùng loại của các chủ thể sản xuất, cung ứng khác đem đến tiêu thụ ở cùng một khu vực thị trường và thời gian nhất định

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ có thể hiểu là sự vượt trội so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại trên thị trường về chất lượng và giá cả với điều

kiện các sản phẩm, dịch vụ tham gia cạnh tranh đều đáp ứng được các yêu cầu của người tiêu dùng, mang lại giá trị sử dụng cao nhất trên một đơn vị giá cả làm cho sản phẩm, dịch vụ có khả năng cạnh tranh cao hơn

Khi đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm, dịch vụ người ta thường sử dụng các chỉ tiêu chính như: sản lượng, doanh thu, lợi nhuận, thị phần Các chỉ tiêu này là biểu hiện bên ngoài của năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ cho thấy kết quả

của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của sản phẩm, dịch vụ Khi đem so sánh với đối thủ, chúng thể hiện một cách trực giác sức mạnh tổng thể và vị thế hiện tại của sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp trên thị trường

1.2 Các nhân t ố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.2.1 Các yếu tố bên ngoài

Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố nằm ngoài khả năng kiểm soát của doanh nghiệp như các yếu tố

về chính trị, pháp luật, chính sách của Nhà nước, tập quán tiêu dùng… Trong đó, vai trò của nhà nước là đặc biệt quan trọng với việc đưa ra một khuôn khổ pháp luật phù hợp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp được cạnh tranh bình đẳng với nhau

Trang 27

Cạnh tranh là tiền đề quyết định sự vận hành của nền kinh tế thị trường buộc các doanh nghiệp phải thích ứng liên tục về mặt sản phẩm, công nghệ… nhằm đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng Tuy nhiên, cạnh tranh cũng làm

giảm bớt khả năng thu lợi nhuận cao của các doanh nghiệp Do vậy, các doanh nghiệp thường tìm cách giảm bớt cạnh tranh, làm cho hiệu năng của cả hệ thống kinh tế thị trường bị kém đi Chính vì vậy Nhà nước trong nền kinh tế thị trường có

một nhiệm vụ rất quan trọng là tạo lập môi trường cạnh tranh, duy trì cạnh tranh bằng việc ban hành các chế độ, chính sách, đứng ra với tư cách là trọng tài, là người định luật chơi, định hướng phát triển…cho cuộc đua giữa các doanh nghiệp Việc

tạo lập môi trường cạnh tranh cho các chủ thể tham gia thị trường bao gồm các nhân

tố cơ bản sau:

- Tạo lập khuôn khổ pháp luật về cạnh tranh: Cơ chế thị trường cạnh tranh

chỉ được phát huy một cách hữu hiệu trên cơ sở một hệ thống đồng bộ các luật chơi đầy đủ, nhờ đó duy trì được môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp

hoạt động, đồng thời mọi hành vi cạnh tranh không lành mạnh đều phải bị trừng phạt Vì vậy, xây dựng và thực thi có hiệu quả một hệ thống pháp luật thích ứng với

hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường và gắn liền với nó là hệ thống tòa kinh

tế là nội dung quan trọng của việc tạo lập thể chế kinh tế thị trường ở nước ta và là

cơ sở nền tảng cho việc tạo lập môi trường cạnh tranh của các doanh nghiệp

- Hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước và hệ thống chính sách chế độ Nhà nước về cạnh tranh và hỗ trợ cạnh tranh, thúc đẩy cạnh tranh bao gồm các tổ chức như Cục bảo vệ cạnh tranh, Tòa án kinh tế, các chính sách tài chính, tiền tệ, các chính sách khuyến khích bảo trợ, các chính sách xã hội…có ý nghĩa và tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh và cạnh tranh của doanh nghiệp

- Cơ chế quản lý kinh tế của nhà nước là một nhân tố quan trọng tạo nên môi trường kinh doanh, môi trường cạnh tranh của các doanh nghiệp, cơ chế này được xây dựng trên cơ sở các chiến lược, định hướng phát triển kinh tế của Nhà nước trong mỗi giai đoạn Trong nền kinh tế thị trường, cơ chế quản lý kinh tế của Nhà nước phải tạo các cơ hội kinh doanh mới cho doanh nghiệp bằng việc thúc đẩy các

Trang 28

doanh nghiệp tự tạo cho mình năng lực cạnh tranh và hoạt động dưới áp lực của thị trường cạnh tranh Cơ chế quản lý kinh tế của Nhà nước cần tạo ra sự độc lập về

quản lý một cách thực sự cho lãnh đạo các doanh nghiệp, đồng thời kiểm soát được

kết quả hoạt động của các doanh nghiệp

1.2.2 Các yếu tố bên trong

Phân tích môi trường bên trong của doanh nghiệp là một quá trình xem xét, đánh giá tình hình cụ thể của doanh nghiệp đó Từ đó, rút ra các thông tin về những điểm mạnh, điểm yếu của những vấn đề được xem xét, xác định được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường Đó là tập hợp các yếu tố tạo nên các

hoạt động doanh nghiệp và có ràng buộc lẫn nhau tạo thành một hệ thống nhất, hoạt động vì mục tiêu chung của doanh nghiệp Mỗi yếu tố đều có ảnh hưởng đến các

yếu tố khác và đến toàn hệ thống

Các yếu tố bên trong là các yếu tố doanh nghiệp có thể chủ động xử lý được Trong thực tế, có rất nhiều yếu tố bên trong ảnh hưởng tới sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, và do vậy ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, để phân loại, người ta có thể dựa trên một số yếu tố ảnh hưởng chính tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như yếu tố con người, tiềm lực vô hình, yếu tố công nghệ, tổ chức sản

xuất, marketing, R&D… các doanh nghiệp có giành được chiến thắng trong cạnh tranh hay không chính là nhờ vào việc lựa chọn các yếu tố này một cách hợp lý

Tóm lại, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp, do vậy ảnh hướng tới năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, trong khuôn khổ đề tài này chỉ đề cập đến những yếu tố chính, những yếu tố chủ yếu nhất ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Để khẳng định mình và tạo chỗ đứng vững chắc trên thị trường, ngoài những yếu tố trên, doanh nghiệp có thể thực hiện đồng bộ với các yếu tố khác như giải pháp về tài chính, vấn đề liên kết giữa các doanh nghiệp, chống độc quyền…

1.3 Đặc điểm ngành viễn thông

1.3.1 Đặc điểm cơ bản của ngành viễn thông

- Định nghĩa viễn thông: “Viễn thông là việc gửi, truyền, nhận và xử lý ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng thông tin khác bằng

Trang 29

đường cáp, sóng vô tuyến điện, phương tiện quang học và phương tiện điện tử khác” (Luật Viễn thông số 42/2009/QH12)

- Ngành viễn thông: Theo phân ngành thì ngành viễn thông gồm các hoạt động cung cấp dịch vụ viễn thông và các dịch vụ khác có liên quan như truyền

giọng nói, âm thanh, hình ảnh, dữ liệu, ký tự Hệ thống truyền dẫn thực hiện các

hoạt động trên có thể sử dụng công nghệ đơn hoặc kết hợp nhiều công nghệ Hoạt động trong ngành viễn thông gồm: hoạt động viễn thông có dây, viễn thông không dây, viễn thông vệ tinh, viễn thông internet

- Ngành viễn thông gồm các đặc điểm cơ bản sau:

+ Là một ngành mới ra đời và phát triển mạnh mẽ: Từ xa xưa con người đã

biết dùng các tín hiệu để nhận biết nhau như dùng cột khói báo hiệu… Năm 1876 Graham Bell nhà khoa học người Mỹ đã phát minh ra máy điện thoại đầu tiên trên thế giới Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, điện tín và truyền số liệu, ngành viễn thông đã có bước phát triển mạnh mẽ vào những thập niên 90 của thế kỷ 20 với loại hình điện thoại cố định, điện thoại có dây chuyển sang điện thoại di động công nghệ cao 2G, 2,5G, 3G và hiện nay đã là 4G, 5G, dịch

vụ truyền hình số, Internet băng thông rộng, Wifi… Đầu thế kỷ XXI, chứng kiến sự phát triển bùng nổ của ngành viễn thông trên toàn thế giới, không chỉ tại các quốc gia phát triển mà còn tại tất cả các nước đang phát triển cũng có sự tăng trưởng

mạnh mẽ

+ Có vốn đầu tư lớn, hạ tầng phức tạp và mạng lưới rộng khắp: Đây là một trong những đặc điểm khác biệt quan trọng của ngành viễn thông so với các ngành khác Để có thể cung cấp dịch vụ viễn thông cố định, viễn thông di động, Internet nhà cung cấp dịch vụ phải xây dựng trước hệ thống hạ tầng gồm các trạm thu phát sóng BTS với chi phí khá cao để duy trì hoạt động cho các thuê bao kích hoạt sử

dụng theo vùng phủ, địa lý Các nhà mạng phải đầu tư đồng bộ ngay từ đầu hệ thống đường truyền cáp đồng, cáp quang, các hệ thống tổng đài, hệ thống kỹ thuật điện tử công nghệ cao với số tiền lên tới hàng tỷ USD trong nhiều năm Cùng với hệ thống trang thiết bị là đội ngũ chuyên gia kỹ thuật với trình độ cao, có tầm nhìn

Trang 30

rộng mới có thể quy hoạch và triển khai thành công hạ tầng mạng, điều này cũng đồng nghĩa với việc chi phí nhân công cần phải sử dụng cao

Trong ngành viễn thông, doanh nghiệp nào có hạ tầng mạng lưới lớn sẽ nắm quyền chi phối thị trường và quyết định phương thức cạnh tranh trong thị trường do các doanh nghiệp này quyết định đến giá, cước kết nối và chất lượng dịch vụ cung cấp

+ Ứng dụng khoa học công nghệ cao và phức tạp, nhanh chóng thay đổi: Ngành viễn thông có thể coi là ngành tích hợp tổng hợp các loại công nghệ hiện đại nhất trên thế giới Do xuất phát từ yếu tố cạnh tranh giữa các hãng viễn thông, giữa các nhà mạng trên toàn thế giới về chất lượng, giá thành dịch vụ, hình ảnh, âm thanh, nội dung số… ngày càng trở nên gay gắt, thị trường cạnh tranh khốc liệt đã thúc đẩy các hãng viễn thông không ngừng đầu tư, đổ tiền vào việc nghiên cứu, triển khai ứng dụng các công nghệ mới hơn so với đối thủ để giành thị trường, giành khách hàng và trở thành những nhà tiên phong trên thị trường sản phẩm dịch

vụ Chính cuộc đua về lợi nhuận và thị phần đã dẫn đến cuộc đua về ứng dụng khoa

học công nghệ rất cao, phức tạp và tốc độ thay đổi công nghệ diễn ra nhanh chóng

Các phát minh về khoa học công nghệ trong lĩnh vực viễn thông diễn ra hàng ngày Mặc dù là ngành mới ra đời song sự thay đổi công nghệ ứng dụng ngành diễn

ra rất nhanh đến chóng mặt Từ mạng số định có dây đến không dây, từ công nghệ

di động 2G đến 3G và đến nay đã là 4G, 5G… Chính sự thay đổi về công nghệ diễn

ra quá nhanh, chi phí đầu tư mạng viễn thông lớn đã dẫn đến cuộc chạy đua trong ngành viễn thông là cuộc đua về tài chính, công nghệ và nhân lực chất lượng cao Hãng viễn thông nào có công nghệ tiên tiến, có nguồn lực tài chính hùng mạnh và đội ngũ nhân lực chất lượng cao sẽ là hãng tiên phong đi đầu và giành ưu thế lớn trên thị trường

+ Chu kỳ sống của các sản phẩm ngành viễn thông ngắn: Theo quy luật thông thường chu kỳ sống của sản phẩm trải qua 4 giai đoạn: giai đoạn đầu là xuất hiện trên thị trường, thâm nhập thị trường; giai đoạn 2 là tăng trưởng; giai đoạn 3 là

tiến tới đỉnh cao và bão hòa; giai đoạn 4 là suy thoái, khủng hoảng

Trang 31

Sản phẩm của ngành viễn thông cũng trải qua 4 chu kỳ nói trên tuy nhiên thời gian giữa các chu kỳ diễn ra ngắn hơn rất nhiều do sự thay đổi quá nhanh của công nghệ ứng dụng trong ngành viễn thông Một số sản phẩm mới ra đời chưa bước vào giai đoạn tăng trưởng cao thì đã có sản phẩm khác ra đời thay thế Đây cũng là một bài toán khó đối với các hãng viễn thông trong việc phải tìm biện pháp

để thu hồi vốn nhanh khi có một sản phẩm mới tung ra thị trường, đồng thời phải

cải tiến để đưa sản phẩm thay thế mới hơn đủ cạnh tranh được với các đối thủ

+ Sản phẩm dịch vụ có tính kết nối đa chiều: Đặc thù của ngành viễn thông trong cung cấp dịch vụ là cần phải kết nối chéo lẫn nhau Ví dụ: Khách hàng đang

sử dụng dịch vụ của VNPT và gọi điện cho một thuê bao khác đang sử dụng mạng Viettel, qua hệ thống kỹ thuật thu phát, số di động của VNPT sẽ được kết nối với

mạng Viettel và các nhà mạng sẽ phân chia cước kết nối dịch vụ với nhau Doanh nghiệp viễn thông có hạ tầng mạng lưới kém, khách hàng ít sẽ bị lệ thuộc vào việc thuê kênh, thuê cột phát sóng, thuê kết nối từ các doanh nghiệp lớn… Xuất phát từ đặc tính đó nên các doanh nghiệp viễn thông vừa mang tính cạnh tranh vừa mang tính hợp tác, liên kết

1.3.2 Các loại dịch vụ chủ yếu của ngành viễn thông

- Dịch vụ cố định: Là dịch vụ truyền ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm

thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin giữa các điểm kết nối của mạng

cố định Dịch vụ cố định gồm 2 loại: dịch vụ cố định có dây và dịch vụ cố định không dây

- Dịch vụ internet: Là một loại hình dịch vụ viễn thông, bao gồm dịch vụ

truy nhập internet, dịch vụ kết nối internet và dịch vụ ứng dụng internet trong viễn thông như là dịch vụ truyền hình

- D ịch vụ di động: Là dịch vụ truyền ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm

thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin giữa các điểm kết nối của mạng di động Dịch vụ di động được phân thành 2 loại là: dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng

Trang 32

Với điểm chung của 3 dịch vụ cơ bản ngành viễn thông là truyền ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin Tuy nhiên với các đặc trưng riêng có của từng dịch vụ, cách thức tổ chức triển khai thực

hiện, giá cả, chính sách kinh doanh… mang đến sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng ở 3 dịch vụ là không giống nhau Vì vậy, kết quả kinh doanh và sự cạnh tranh

của các dịch vụ này cũng có những nét đặc trưng khác nhau

1.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông

Khi phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp nói chung

và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông nói riêng thì việc sử dụng các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là rất cần thiết Với đặc thù kinh doanh của ngành viễn thông là sản phẩm mang tính vô hình, quy mô cung cấp dịch

vụ rộng khắp, cơ cấu chi phí trong cấu thành giá thành sản phẩm, dịch vụ chiếm một tỷ trọng cao, quá trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm dịch vụ diễn ra đồng

thời Chính vì lẽ đó, khi đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp viễn thông thường chủ yếu sẽ xét các yếu tố về nguồn lực của doanh nghiệp, bao gồm:

- Năng lực về tài chính: Một doanh nghiệp muốn cạnh tranh được trước hết

phải có đủ năng lực về tài chính Tình hình tài chính của doanh nghiệp thể hiện sức mạnh của doanh nghiệp trong cạnh tranh Trong đó vốn là một trong những điều

kiện cần để doanh nghiệp duy trì và mở rộng hoạt động của mình Do vậy khả năng huy động và sử dụng vốn hiệu quả sẽ làm cho năng lực về tài chính của doanh nghiệp mạnh lên

- Năng lực quản lý và điều hành: Đây là tiêu chí đánh giá trình độ quản lý,

lãnh đạo doanh nghiệp trong tổ chức sản xuất của doanh nghiệp Tiêu chí về năng

lực quản lý và điều hành doanh nghiệp được xác định bởi hiệu quả hiệu lực của các chiến lược, chính sách kinh doanh cụ thể sau: các chính sách phân phối và tiêu thụ sản phẩm, các chính sách Marketing, chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân

lực, chính sách đầu tư Tăng cường năng lực quản lý và điều hành của doanh nghiệp

sẽ góp phần quan trọng trong việc đưa doanh nghiệp giành thắng lợi trên thương

Trang 33

trường trước những áp lực cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp trong và ngoài nước Điều này thể hiện ở việc ban hành công cụ quản lý, các chế độ chính sách, chiến lược kinh doanh và phối hợp mọi nguồn lực doanh nghiệp nhằm thúc đẩy doanh nghiệp phát triển

- Giá trị phi vật chất của doanh nghiệp: trong cơ chế thị trường, cạnh tranh

luôn diễn ra quyết liệt mà yếu tố quan trọng nhất là chỗ đứng của doanh nghiệp trong lòng khách hàng Do vậy, uy tín đóng vai trò quyết định đến sự thành bại trong cuộc chiến khẳng định sức mạnh và sự tồn tại của doanh nghiệp Giá trị phi

vật chất của các doanh nghiệp viễn thông được đánh giá thông qua hiệu quả tác động của doanh nghiệp và dịch vụ cung cấp của doanh nghiệp đến thái độ, hành vi của khách hàng Mức độ nhận biết được tiềm lực này thông qua mức độ nhận

biết/hiểu rõ/quen thuộc về sản phẩm, những đặc điểm hình ảnh cụ thể, những yếu tố cân nhắc khi mua sắm và sở thích, mức độ thỏa mãn và giới thiệu với người khác

- Trình độ trang thiết bị và công nghệ: Nhờ đi thẳng vào công nghệ hiện đại,

VNPT đã góp phần đưa Việt Nam trở thành một trong những nước có tốc độ phát triển viễn thông và internet nhanh trên thế giới Mạng lưới viễn thông được đầu tư

và phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và chất lượng, hình thành mạng lưới của nhiều nhà khai thác, có công nghệ hiện đại, có khả năng cung cấp nhiều loại hình dịch vụ mới, phục vụ tốt nhu cầu xã hội

- Năng lực marketing: Hoạt động bán hàng và các hoạt động marketing đưa

sản phẩm đến với khách hàng, thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng Sức mạnh cạnh tranh được tạo ra bởi hoạt động marketing và bán hàng là hết sức to lớn Chất lượng phục vụ khách hàng góp phần không nhỏ tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ Nó xây dựng hình ảnh tốt đẹp của doanh nghiệp trong lòng khách hàng, giữ khách hàng trung thành với sản phẩm của doanh nghiệp Để đánh giá năng lực marketing của doanh nghiệp cần phải đánh giá hệ thống phân phối của các doanh nghiệp, các chính sách về giá, chiết khấu, hoa hồng, các chính sách chăm sóc khách hàng Đặc biệt là hoạt động truyền thông, quảng bá sản phẩm dịch vụ và hình ảnh của doanh nghiệp đến với người tiêu dùng

Trang 34

- V ề cơ cấu tổ chức: Việc xem xét và phân tích sự phù hợp của mô hình tổ

chức và bộ máy quản lý của doanh nghiệp một cách thường xuyên sẽ giúp doanh nghiệp hạn chế được các bất cập đang tác động bất lợi đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp và sẽ giúp cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra trôi

chảy và có hiệu quả hơn

- Ngu ồn nhân lực: Con người là yếu tố quan trọng quyết định đến sự tồn tại,

phát triển của doanh nghiệp Trình độ, chất lượng của đội ngũ lao động ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp đang cung cấp Con người

phải có trình độ cùng với lòng hăng say làm việc thì mới tiếp cận, vận hành được

những máy móc thiết bị công nghệ cao Đó là cơ sở để tạo nên sức mạnh cạnh tranh

của doanh nghiệp Tiêu chí này được đánh giá thông qua trình độ và năng suất lao động, trong lĩnh vực viễn thông nó thể hiện qua các chỉ số như số thuê bao/lao động, doanh thu/lao động, doanh thu/thuê bao…

1.5 Các mô hình lý thuyết phân tích năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Mô hình SWOT được sử dụng để đưa ra 4 chiến lược cơ bản:

- S/O: chiến lược dựa trên ưu thế của doanh nghiệp để tận dụng các cơ hội của thị trường

- W/O: chiến lược dựa trên khả năng vượt qua các yếu điểm của doanh nghiệp để tận dụng cơ hội thị trường

Trang 35

- S/T: chiến lược dựa trên ưu thế của doanh nghiệp để tránh các thách thức của thị trường

- W/T: chiến lược dựa trên khả năng vượt qua hoặc hạn chế tối đa yếu điểm

của doanh nghiệp để tránh các thách thức của thị trường

Để thực hiện phân tích SWOT cho vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp, người

ta thường đặt các câu hỏi sau:

- Các điểm mạnh: Lợi thế, ưu thế của doanh nghiệp là gì? Công việc nào làm tốt nhất? Đâu là điểm mạnh của doanh nghiệp trên thị trường? Các ưu thế thường được hình thành khi so sánh với đối thủ cạnh tranh?

- Các điểm yếu: Doanh nghiệp cần phải cải thiện gì, lĩnh vực nào? Cần tránh làm gì? Vấn đề gì đang được xem như là điểm yếu của doanh nghiệp so với các đối

thủ cạnh tranh trên cơ sở xem xét các vấn đề bên trong và bên ngoài Vì sao đối thủ

cạnh tranh có thể làm tốt hơn mình? Lúc này phải nhận định một cách thực tế và đối mặt với sự thật

- Các cơ hội: Cơ hội tốt đang ở đâu? Xu hướng đáng quan tâm nào mà doanh nghiệp mong đợi?

- Các thách thức: Những trở ngại hiện tại? Có yếu điểm nào đang đe dọa doanh nghiệp? Các đối thủ cạnh tranh làm gì? Những đòi hỏi đặc thù về công nghệ,

về sản phẩm hay dịch vụ có gì thay đổi? Thay đổi công nghệ có nguy cơ gì với doanh nghiệp hay không? Có vấn đề gì về nợ quá hạn hay dòng tiền?

Ma trận SWOT thích hợp cho việc đánh giá hiện trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thông qua việc phân tích tình hình bên trong, bên ngoài doanh nghiệp Ưu điểm của phân tích ma trận SWOT là đơn giản, dễ hình dung và bao quát đầy đủ các yếu tố Tuy nhiên, chất lượng phân tích của ma trận SWOT phụ thuộc vào chất lượng thông tin thu thập được, do đó cần tránh cái nhìn chủ quan từ

một phía mà phải tìm kiếm thông tin từ nhiều phía

Trang 36

1.5 2 Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael E Porter

Hình 1.1: Mô hình 5 yếu tố cạnh tranh của Michael E Porter

(Nguồn: Michael E Porter (1998) Competitive Strategy, The Three Press)

- Áp l ực cạnh tranh của nhà cung cấp:

+ Số lượng, quy mô nhà cung cấp sẽ quyết định áp lực cạnh tranh, quyền lực đàm phán của họ đối với doanh nghiệp Nếu thị trường chỉ có vài nhà cung cấp có quy mô lớn sẽ tạo áp lực cạnh tranh, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp

+ Khả năng thay thế sản phẩm của nhà cung cấp thể hiện ở khả năng thay thế

những nguyên liệu đầu vào do các nhà cung cấp và chi phí chuyển đổi nhà cung cấp

+ Các nhà cung cấp thường gây áp lực nhất định nếu họ có quy mô, sự tập

hợp và quyền sở hữu các nguồn lực quý hiếm đối với doanh nghiệp đặc biệt là đối với doanh nghiệp nhỏ lẻ

- Áp l ực cạnh tranh từ khách hàng: Khách hàng là một áp lực cạnh tranh tác

động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khách hàng có

thể phân thành 2 nhóm: khách hàng lẻ và nhà phân phối Cả 2 nhóm này đều gây áp

lực đối với doanh nghiệp về giá cả, chất lượng sản phẩm dịch vụ đi kèm và chính họ

là người điều khiển cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau thông qua quyết định mua hàng

DOANH NGHIỆP KHÁCH HÀNG

CÁC ĐỐI THỦ TIỀM ẨN

CÁC ĐỐI THỦ CẠNH TRANH NHÀ

CUNG CẤP

SẢN PHẨM THAY THẾ

Trang 37

- Áp l ực cạnh tranh từ các đối thủ tiềm ẩn: Các đối thủ tiềm ẩn là các doanh

nghiệp chưa có mặt trong ngành nhưng có thể ảnh hưởng đến doanh nghiệp trong tương lai

- Áp lực từ sản phẩm thay thế: Sản phẩm dịch vụ thay thế là những sản phẩm

dịch vụ có thể thỏa mãn nhu cầu tương đương với các sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp Các sản phẩm thay thế này sẽ đe dọa trực tiếp các sản phẩm của doanh nghiệp khi cung cấp trên thị trường

- Áp l ực cạnh tranh từ các đối thủ hiện tại: Các doanh nghiệp cùng kinh

doanh một loại sản phẩm, dịch vụ trong ngành sẽ cạnh tranh trực tiếp với nhau tạo

ra sức ép trở lại lên ngành tạo nên một cường độ cạnh tranh

1.5 3 Mô hình kim cương

- Các yếu tố đầu vào: Bao gồm các điều kiện về nguồn nguyên liệu, nhân

lực, công nghệ, vốn cho hoạt động của doanh nghiệp Tác động của yếu tố đầu vào

có thể có tính chất trực tiếp như khả năng nguồn nguyên liệu rẻ, sẵn có, ổn định, nguồn vốn dễ tiếp cận với lãi suất hợp lý… Tác động đó cũng có thể là gián tiếp như chính sách công nghệ, sự đầu tư của Nhà nước trong nghiên cứu ứng dụng khoa

học kỹ thuật có tác động tạo cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận thông tin, công nghệ mới

- Điều kiện về cầu: Điều kiện về cầu thể hiện điều kiện khách hàng hiện tại

với nhu cầu đa dạng về số lượng, chủng loại, chất lượng hàng hóa và dịch vụ; sự cấu thành nhu cầu, hành vi của người mua trên thị trường hiện tại và thị trường

quốc tế để các doanh nghiệp buộc phải tìm cách đáp ứng các nhu cầu đó, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của mình

- Chi ến lược cấu trúc và mức độ cạnh tranh: Cho biết chiến lược phát triển,

định hướng của ngành, cấu trúc thị trường và mức độ cạnh tranh trên thị trường cao hay thấp Thông thường, mức độ cạnh tranh càng cao càng tạo điều kiện và động

lực thúc đẩy các doanh nghiệp tự nâng cao năng lực cạnh tranh

- Các ngành h ỗ trợ và các ngành liên quan: Các ngành này liên quan đến

công tác quy hoạch vùng nguyên liệu, sự phát triển các dịch vụ vĩ mô như tư vấn…

Trang 38

Các điều kiện này cũng thể hiện yêu cầu phát triển các mối liên hệ sản xuất giữa các ngành nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng dự tính

Hình 1.2: Mô hình kim cương của Michael E Porter

(Nguồn: Michael E Porter (1998) Competitive Strategy, The Three Press)

Các yếu tố nêu trên thường xuyên tạo ra sức ép đối với các doanh nghiệp trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tạo ra sự khác biệt, giành năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, ngoài các yếu tố đó, thời cơ và đặc

biệt vai trò của Nhà nước được xem như những điều kiện tổng hợp thúc đẩy hoặc

hạn chế tác động của các yếu tố nêu trên

1.5.4 Tổng quan một số nghiên cứu về năng lực cạnh tranh dịch vụ viễn thông

và lựa chọn mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh dịch vụ viễn thông cho VNPT Quảng Trị

Nâng cao năng lực cạnh tranh là một mục tiêu lớn mà các doanh nghiệp luôn hướng tới Đã có rất nhiều các công trình khoa học nghiên cứu về cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, riêng trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông, đã có một số công trình nghiên cứu được công bố cụ thể như:

- Luận văn “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel trong cung cấp dịch vụ điện thoại di động” của tác giả Phạm

Các ngành hỗ trợ và các ngành liên quan

Nhà nước và mức độ cạnh tranh Chiến lược, cấu trúc

Điều kiện về các yếu

tố đầu vào Điều kiện về cầu

Trang 39

Nam Sơn thực hiện năm 2012 Đây là một đề tài nghiên cứu năng lực cạnh tranh một đối thủ chính của VNPT, trong đó đi sâu về năng lực cạnh tranh dịch vụ di động Trong luận văn này, tác giả Phạm Nam Sơn đã sử dụng mô hình chính là ma trận SWOT để đánh giá năng lực cạnh tranh của Viettel Bên cạnh đó, tác giả còn sử

dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp và thống kê nhằm tổng hợp và cập nhật

số liệu để làm rõ các vấn đề nghiên cứu; Phương pháp tổng hợp và logic để đề xuất các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ điện thoại di động của Tập đoàn Viettel

- Luận văn “Nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ viễn thông của VNPT Thái Nguyên” của tác giả Nguyễn Tú Anh thực hiện năm 2014 Với các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp chọn điểm nghiên cứu; Phương pháp thu thập thông tin; Phương pháp xử lý thông tin bằng cách phân loại, thống kê thông tin theo mức

độ quan trọng, tiến hành lập bảng biểu và sử dụng công cụ excel để xử lý số liệu; Phương pháp thống kê mô tả; Phương pháp thống kê so sánh; Phương pháp phân tích SWOT… Luận văn đã đi sâu nghiên cứu năng lực cạnh tranh của VNPT Thái Nguyên trong cung cấp dịch vụ viễn thông thông qua các yếu tố lịch sử không gian

và thời gian cụ thể, làm rõ thực trạng, các điểm yếu, điểm mạnh, lợi thế, bất lợi so

với đối thủ để từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế

- Luận án tiến sĩ: “Tăng cường năng lực cạnh tranh của Tập đoàn Bưu chính

Viễn thông Việt Nam trong điều kiện Việt Nam là thành viên của tổ chức thương mại thế giới” của tác giả Trần Thị Anh Thư - Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, được thực hiện năm 2012 Luận án đề cập đến vấn đề cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập của lĩnh vực Bưu chính Viễn thông và các giải pháp nâng cao năng

lực cạnh tranh với các phương pháp chủ yếu sau:

+ Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp và thông tin sơ cấp thông qua các phiếu điều tra, khảo sát khách hàng và các chuyên gia với 5 mẫu phiếu

+ Phương pháp phân tích định tính và định lượng Trong đó, tác giả Trần Thị Anh Thư đã đi sâu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như: năng lực tài chính, năng lực quản lý và điều hành, giá trị phi vật

chất của doanh nghiệp, năng lực Marketing…

Trang 40

+ Sử dụng phương pháp phân tích ma trận SWOT

Trên cơ sở nghiên cứu các cơ sở lý luận về cạnh tranh và nâng cao năng lực

cạnh tranh, tác giả Trần Thị Anh Thư đã hệ thống hóa và luận giải một số cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Từ đó đã đề xuất 2 mô hình phân tích năng lực cạnh tranh và các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh

Luận văn “Nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ viễn thông của VNPT

Quảng Trị” tiếp tục kế thừa các nghiên cứu của các luận văn, luận án đi trước Tuy nhiên vấn đề nghiên cứu trong luận văn này cụ thể hơn cho một đơn vị cung cấp

dịch vụ viễn thông trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đó là VNPT Quảng Trị Đặc biệt, đề tài kế thừa cách tiếp cận của tác giả Trần Thị Anh Thư trong việc đi sâu phân tích 7 nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của VNPT Quảng Trị gồm: Năng lực tài chính; Năng lực quản lý và điều hành; Giá trị phi vật chất của doanh nghiệp; Năng

lực Marketing; Trình độ trang thiết bị và công nghệ; Cơ cấu tổ chức; Nguồn nhân

lực Thông qua số liệu thứ cấp và số liệu điều tra khảo sát các chuyên gia cũng như khách hàng nhằm làm rõ hơn thực trạng, so sánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với các đối thủ và từ đó đề ra các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh

Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng ma trận SWOT nhằm để phân tích môi trường bên trong, môi trường bên ngoài của VNPT Quảng Trị từ đó rút ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức tác động đến năng lực kinh doanh ở thời điểm hiện tại và tương lai; Kết hợp với việc sử dụng mô hình 5 áp lực của M.Porter nhằm để phân tích các yếu tố về nhà cung cấp VNPT Quảng Trị so với các đối thủ chính kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

1.6 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của một số đơn vị và bài học vận dụng cho VNPT Quảng Trị

1.6.1 Một số kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ viễn thông của VNPT Quảng Bình

VNPT Quảng Bình là đơn vị trực thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam Được thành lập lại theo Quyết định số 667/QĐ-TCCB-HĐQT ngày 06/12/2017 Ngay sau khi thành lập, VNPT Quảng Bình đã không ngừng nỗ lực vươn lên: từ việc củng cố lại bộ máy, nguồn nhân lực đến việc đầu tư trang thiết bị,

Ngày đăng: 26/05/2019, 11:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w