Đối với học sinh năng lực tư duy NLTD đóng vai trò vô cùng quan trọng vì NLTD giúp ích rất nhiều cho việc mở rộng giới hạn nhận thức; nâng cao khả năng nhìn nhận sâu sắc vào bản chất của
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LẠI THANH HẢI
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY VẬT LÝ CHO HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG BÀI TẬP ĐỊNH TÍNH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CÁC ĐỊNH
LUẬT BẢO TOÀN” VẬT LÝ 10
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn vật lý
Mã số: 60140111
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Đà Nẵng – Năm 2018
Trang 2Công trình được hoàn thành tại TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thanh Hải
Phản biện 1: PGS TS Phạm Xuân Quế
Phản biện 2: TS Lê Thanh Huy
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ khoa học giáo dục họp tại Trường Đại học Sư phạm vào
ngày 05 tháng 01 năm 2018
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Thư viện Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN
Khoa Vật lý, Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tham gia sâu rộng vào quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá Trong đó phát triển nhân lực được coi là một trong ba khâu đột phá của chiến lược chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
và trở thành nền tảng phát triển bền vững, tăng lợi thế cạnh tranh quốc gia Thực hiện tốt đột phá này sẽ làm tăng sức mạnh mềm của quốc gia, tạo ra sức mạnh tổng hợp, có ảnh hưởng quyết định đến việc xây dựng nền kinh
tế độc lập tự chủ ngày càng cao
Một trong những giải pháp để phát triển nguồn nhân lực là đổi mới giáo dục và đào tạo Đây là nhiệm vụ then chốt, giải pháp chủ yếu để phát triển nhân lực Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến 2020 và những thời kỳ tiếp theo Điều đó được khẳng định trong Chiến lược giáo dục 2011 –
2020, ban hành kèm theo quyết định số 711/Q /TTg ngày 13/6/2012 của
Thủ tướng Chính phủ “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá
kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo và năng lực tự học của người học…”[4]
Điều 28 của Luật Giáo dục cũng quy định: “Phương pháp giáo dục
phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn ” [21]
Tuy nhiên theo các chuyên gia và các nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam thì thực trạng của việc dạy học nước ta vẫn đang bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập Nghị quyết hội nghị trung ương 8 khóa XI chỉ rõ: “Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành”, khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh (HS) thực sự còn nhiều yếu kém [7]
Đối với học sinh năng lực tư duy (NLTD) đóng vai trò vô cùng quan trọng vì NLTD giúp ích rất nhiều cho việc mở rộng giới hạn nhận thức; nâng cao khả năng nhìn nhận sâu sắc vào bản chất của sự vật, hiện tượng
và tìm ra các mối quan hệ có tính qui luật giữa chúng với nhau; NLTD giúp học sinh vận dụng những kiến thức đã được học để giải quyết những vấn đề liên quan trong thực tiễn Vì vậy việc phát triển NLTD cho học sinh là việc làm cần thiết và hết sức quan trọng
Trang 4Vật lý là môn khoa học thực nghiệm, đặc điểm nổi bật là phần lớn kiến thức vật lý trong chương trình trung học phổ thông (THPT) liên hệ chặt chẽ với thực tế đời sống Vật lý học đòi hỏi người nghiên cứu phải có
kĩ năng quan sát tinh tế, phải khéo léo khi làm thí nghiệm, đồng thời phải
có tư duy logic chặt chẽ và phải biết trao đổi, thảo luận để khẳng định chân lí [24], [25], [26] Để học tốt môn Vật lý học sinh phải nắm vững hiện tượng vật lý, các nguyên lý, định luật vật lý; biết cách dự đoán các kết quả của các thí nghiệm vật lý hoặc các hiện tượng, biết vận dụng linh hoạt các kiến thức đã học trong các tình huống mới Nghĩa là nếu học sinh nắm được các thao tác tư duy vật lý, thì sẽ học tập hiệu quả hơn
Thực tiễn dạy học cho thấy, một trong những nguyên nhân dẫn đến
sự yếu kém về khả năng vận dụng kiến thức vật lý vào đời sống thực tế của HS là các em có quá ít cơ hội để tiếp xúc với loại bài tập định tính (BTĐT) BTĐT là một bộ phận quan trọng của bài tập vật lý Phần nhiều những BTĐT có đề cập đến những quá trình, hiện tượng xảy ra trong cuộc sống Vì vậy, nếu sử dụng BTĐT một cách hợp lý thì vừa có thể kích thích hứng thú học tập cho HS, vừa giúp HS có kĩ năng giải quyết những vấn đề thực tiễn Trong dạy học vật lý, vai trò quan trọng vốn có của BTĐT chưa được đặt ra một cách đúng mực, việc sử dụng BTĐT của giáo viên (GV) còn rất nhiều bất cập, thiếu hợp lí [12], [13]
Những hạn chế nêu trên chưa đáp ứng được những mục tiêu mà Luật Giáo dục và Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 đã đề ra Với sự phát triển chung của toàn xã hội, tình trạng này không thể kéo dài thêm nữa, mà cần phải có những động thái tích cực hơn, những biện pháp cụ thể hơn để GV và HS có thể điều chỉnh phương pháp dạy và học của mình theo đúng định hướng
Căn cứ vào các chủ trương của Đảng, Nhà nước, Bộ giáo dục và đào tạo, căn cứ vào những bất cập thực tế nêu trên và việc nhận thức rõ tầm quan trọng của việc phát triển năng lực tư duy Vật lý (NLTDVL) cho HS
chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài “Phát triển năng lực tư duy vật lý
cho học sinh thông qua việc sử dụng bài tập định tính trong dạy học chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10”
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trong quá trình dạy học vật lý, bài tập giữ một vai trò rất quan trọng,
nó là phương tiện giúp giáo viên hoàn thành các chức năng giáo dưỡng, giáo dục và phát triển tư duy cho HS Việc giải bài tập giúp HS ôn tập, đào sâu, mở rộng kiến thức một cách vững chắc, giúp HS rèn luyện tốt kĩ năng, kĩ xảo, vận dụng lí thuyết vào thực tiễn cuộc sống, rèn luyện thói quen vận dụng kiến thức khái quát, giúp HS làm việc với tinh thần tự lực
Trang 5cao, đồng thời góp phần quan trọng vào việc phát triển tư duy sáng tạo của
HS
Vì vậy trong những năm gần đây có không ít tác giả đã nghiên cứu
về việc phát triển NLTD và NLTDVL trong dạy học vật lý ở trường phổ thông thông qua xây dựng và sử dụng hệ thống các bài tập vật lý Các công trình nghiên cứu này chủ yếu là các Luận văn Thạc sĩ Điển hình có
các đề tài “Phát triển năng lực tư duy vật lý rèn luyện năng lực vận dụng
kiến thức thông qua hệ thống bài tập của phần “Dòng điện xoay chiều” trong chương trình lớp 12 THPT” của tác giả Phan Xuân Cát ; “Các bài tập cơ học để nâng cao chất lượng để rèn luyện và phát triển năng lực tư duy vật lý cho học sinh trung học cơ sở ” của tác giả Bùi Văn Phỏng;
“Góp phần bồi dưỡng tư duy vật lý cho học sinh thông qua bài tập thí
nghiệm phần từ trường và cảm ứng điện từ lớp 11 THPT” của tác giả
Nguyễn Trọng Thạch; “Xây dựng và sử dụng bài tập thí nghiệm góp phần
bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh (áp dụng cho chương “Dòng điện không đổi” vật lý 11 nâng cao)” của tác giả Bùi Danh Hào; “Xây dựng hệ thống câu hỏi định hướng phát triển tư duy của học sinh trong dạy học chương “Dao động cơ” vật lý 12 chương trình cơ bản” của tác giả Đặng
Xuân Hiệp Các đề tài trên đã hệ thống hóa cơ sở lí luận về NLTD, NLTDVL: các đặc điểm của NLTD; các giai đoạn của quá trình tư duy; các thao tác và hành động tư duy vật lý phổ biến, đồng thời chỉ ra năm biện pháp phát triển NLTD cho HS trong dạy học vật lý (tạo nhu cầu, hứng thú, kích thích sự ham muốn hiểu biết của HS; xây dựng logic nội dung phù hợp với đối tượng HS; rèn luyện cho HS các thao tác tư duy, những hành động nhận thức phổ biến trong dạy học vật lý [5], [19],[23]
Có thể nói rằng, mặc dù đã có không ít tác giả đề cập đến việc phát triển NLTDVL cho học sinh thông qua việc sử dụng hệ thống bài tập, nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau mà việc nghiên cứu sử dụng BTĐT theo hướng phát triển NLTDVL của HS vẫn còn là vấn đề chưa được giải quyết thỏa đáng
3 Mục tiêu của đề tài
- Góp phần bổ sung được cơ sở lí luận về việc sử dụng BTĐT theo hướng phát triển NLTDVL của HS
- Xây dựng được các tiêu chí đánh giá sự phát triển NLTDVL của học sinh thông qua các kỹ năng cụ thể
- Xác định được quy trình lựa chọn BTĐT theo hướng phát triển NLTDVL của học sinh và vận dụng để lựa chọn các BTĐT sử dụng trong dạy học chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10
- Xác định và vận dụng được quy trình tổ chức dạy học có sử dụng BTĐT để phát triển NLTDVL cho HS
Trang 64 Giả thuyết khoa học
Nếu các giờ học thuộc chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10 có
sử dụng các BTĐT đã được lựa chọn đúng quy trình và thực hiện theo tiến trình dạy học đã được đề xuất thì sẽ phát triển NLTDVL của HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy học vật lý
5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hoạt động dạy học chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10 có
sử dụng các BTĐT theo hướng phát triển NLTDVL cho HS
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung kiến thức chỉ đề cập chương “Các định luật bảo toàn”
Vật lý 10
- Địa bàn TNSP tại trường THPT Nguyễn Hiền, TP Đà Nẵng
6 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng BTĐT để phát triển NLTDVL của học sinh
- Đánh giá thực trạng của việc sử dụng BTĐT theo hướng phát triển NLTDVL của HS trong dạy học vật lý ở một số trường THPT hiện nay
- Đề xuất quy trình và vận dụng để lựa chọn được các BTĐT gắn với việc phát triển NLTDVL cho học sinh trong dạy học chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10
- Đề xuất quy trình tổ chức dạy học có sử dụng BTĐT để phát triển NLTDVL cho HS
- Thiết kế một số bài giảng cụ thể của chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10 có sử dụng các BTĐT theo hướng phát triển NLTDVL cho
HS
- Thực nghiệm sư phạm (TNSP) để đánh giá hiệu quả của đề tài
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
sử dụng trong dạy học chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10
- Đề xuất được các bước thiết kế bài dạy học theo hướng sử dụng BTĐT để phát triển NLTDVL cho HS trên cơ sở đó xây dựng được một số
Trang 7giáo án có sử dụng BTĐT của phần Các định luật bảo toàn Vật lý 10 theo hướng phát triển NLTDVL cho HS
Trang 89 Cấu trúc của luận văn
Mở đầu
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực tư
duy vật lý cho học sinh trong dạy học Vật lý thông qua việc sử dụng bài tập định tính
Chương 2: Lựa chọn và sử dụng bài tập định tính trong dạy học
chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10 theo hướng phát triển năng lực
tư duy vật lý cho học sinh
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 9CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY VẬT LÝ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG
BÀI TẬP ĐỊNH TÍNH 1.1 Năng lực tư duy và năng lực tư duy vật lý
1.1.1 Năng lực và năng lực tư duy
Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm
Năng lực tư duy là sự tổng hợp các phẩm chất đó của người học nhằm đáp ứng các yêu cầu phát hiện và giải quyết một vấn đề nào đó do nhận thức và thực tiễn đặt ra và đem lại hiệu quả nhất định
1.1.2 Năng lực tư duy vật lý
NLTDVL là các hành động trí tuệ khi nghiên cứu vật lý bao gồm việc quan sát có chủ đích các hiện tượng vật lý, phân tích một hiện tượng vật lý phức tạp thành những bộ phận đơn giản và xác lập giữa chúng có những mối quan hệ và những sự phụ thuộc xác định, tìm ra mối quan hệ giữa mặt định tính và mặt định lượng của các hiện tượng và đại lượng vật lý, dự đoán các hệ quả mới từ các thuyết vật lý và vận dụng những kiến thức vật lý khái quát thu được vào thực tiễn
1.1.3 Các biểu hiện cơ bản của năng lực tư duy vật lý
Các biểu hiện của NLTDVL của HS trong học tập bộ môn Vật lý ở trường THPT thể hiện thông qua những yếu tố giúp HS có thể lĩnh hội và vận dụng tốt các kiến thức vật lý đồng thời thể hiện ở chỗ HS có khả năng thực hiện các hành động phổ biến trong hoạt động nhận thức vật lý
NLTDVL có các biểu hiện dưới đây:
- Nhận biết các định luật vật lý chi phối hiện tượng quan sát
- Phân tích được sự chi phối của các định luật vật lý đến hiện tượng quan sát
- Xác lập được mối quan hệ định lượng giữa các đại lượng vật lý dùng để đo lường những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng
- Mô hình hóa các sự vật hiện tượng
- Xây dựng các giả thuyết từ các sự vật hiện tượng
- Dự đoán các hệ quả từ các giả thuyết khoa học
- Thiết kế phương án thí nghiệm để kiểm tra một nhận định
1.1.4 Vai trò của NLTDVL đối với việc học tập môn Vật lý
NLTDVL giúp HS lĩnh hội tốt các kiến thức vật lý Có NLTDVL,
HS sẽ biết cách phân tích các kết quả quan sát một cách khoa học Học sinh cũng biết cách tổng hợp các kết quả quan sát để thấy được các điểm
Trang 10chung của các đối tượng quan sát cùng chịu chi phối bởi một quy luật vật
lý Học sinh sẽ có khả năng đưa ra các giả thuyết nhằm giải thích cho các hiện tượng quan sát được và đưa ra các phương án thí nghiệm để kiểm tra các giả thuyết của mình Nghĩa là HS có khả năng tham gia vào các giai đoạn của tiến trình nghiên cứu vật lý
NLTDVL giúp HS vận dụng tốt các kiến thức vật lý đã học vào các tình huống mới Đồng thời HS cũng sẽ tìm ra được quy luật nào tác động đến các yếu tố trong tình huống mới Từ đó giải quyết được nhiệm vụ đặt
ra
1.1.5 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển NLTDVL
Có thể đánh giá mức độ NLTDVL của HS theo ba tiêu chuẩn dưới đây [15]:
cơ bản dùng trong nghiên cứu vật lý
Tiêu chí 2: Mô
hình hóa được sự vật, hiện tượng dưới dạng các mô hình lý thuyết
Mức độ 3: Mô hình hóa được đối
tượng nghiên cứu dưới dạng mô hình đồ thị hoặc mô hình toán học
Tiêu chí 3: Xây
dựng được các giả thuyết từ các sự vật hiện tượng
Mức độ 1: Nhận ra được giả
thuyết hợp lí trong các giả thuyết
đã cho về một sự vật hiện tượng nào đó
Mức độ 2: Chỉ ra được chỗ bất
hợp lí của một giả thuyết
Mức độ 3: Xây dựng được giả
thuyết phù hợp
Trang 11Tiêu chí 4: Suy ra
được các hệ quả từ các giả thuyết
Mức độ 1: Diễn đạt được mối
quan hệ định tính giữa các đại
lượng vật lý trong mỗi công thức
Mức độ 2: Diễn đạt được mối
quan hệ định lượng giữa các đại
lượng vật lý trong công thức vật lý
Mức độ 3: Diễn đạt được mối
quan hệ nhân quả giữa các đại
lượng vật lý trong công thức vật lý
Mức độ 3: Phân tích được sự chi
phối của các định luật vật lý đến
hiện tượng đang khảo sát
Tiêu chí 8: Tiên
đoán được kết quả của các thí nghiệm dựa trên các
thuyết, định luật
vật lý đã biết
Mức độ 1: Tiên đoán được sự phụ
thuộc của các đại lượng vật lý mô
tả thuộc tính bản chất của sự vật
hiện tượng vào các yếu tố tác động
Mức độ 2: Tiên đoán được kết quả
của các thí nghiệm chỉ chịu sự chi phối của một định luật hay thuyết
vật lý đang xét
Trang 12Mức độ 3: Tiên đoán được kết quả
của các thí nghiệm mới chịu sự chi phối của nhiều định luật hay
thuyết vật lý
Tiêu chí 9: Áp
dụng được các công thức vật lý trong các tình huống cụ thể
sử dụng các định luật vật lý không hợp lý (giải thích được các hiện tượng, câu hỏi có
1.2.2 Phân loại, các hình thức thể hiện và phương pháp giải BTĐT
* Phân loại BTĐT
Quá trình tìm lời giải cho các BTĐT thực chất là quá trình nhận thức của HS, vì thế dựa trên 6 mức độ mức độ nhận thức do Bloom đề xuất, có thể chia BTĐT làm ba loại: BTĐT đơn giản, BTĐT nâng cao và BTĐT sáng tạo [30]
* Các hình thức thể hiện BTĐT
- Thể hiện BTĐT dưới dạng câu hỏi bằng lời
Trang 13- Thể hiện BTĐT thông qua mô hình, đồ thị, hình vẽ hay sơ đồ, kèm theo các câu hỏi khai thác thông tin
- Thể hiện BTĐT bằng thí nghiệm đơn giản và yêu cầu giải thích kết quả của thí nghiệm
- Thể hiện BTĐT bằng các đoạn video clip ngắn, các ảnh động mô phỏng về một hiện tượng HS quan sát và giải thích theo câu hỏi gợi ý của
GV
* Phương pháp giải BTĐT
Việc giải các BTĐT có thể khái quát thành những bước chính sau:
- Tìm hiểu đầu bài, nắm vững giả thiết của bài tập
- Phân tích hiện tượng
- Xây dựng lập luận và suy luận kết quả
- Kiểm tra tính chính xác của kết quả tìm được
1.2.3 Vị trí của BTĐT trong hệ thống bài tập vật lý
Hệ thống bài tập vật lý có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau Chẳng hạn:
- Phân loại theo các phân môn của vật lý
- Phân loại dựa vào các phương tiện giải
- Phân loại theo độ
- Phân loại theo đặc điểm của hoạt động nhận thức
- Phân loại theo các bước của quá trình dạy học
1.2.4 Vai trò của BTĐT đối với việc phát triển năng lực tư duy vật lý cho HS
BTĐT góp phần rèn luyện tư duy lôgic cho HS và giúp cho HS nắm
rõ được bản chất vật lý của các hiện tượng
BTĐT cho phép giải thích bản chất các hiện tượng vật lý trong đời sống, làm cho HS thấy được ý nghĩa của môn học Chính điều đó thôi thúc các em tích cực trong nhận thức và sáng tạo trong học tập
1.3 Một số vấn đề về tổ chức hoạt động nhận thức gắn với việc sử dụng bài tập định tính để phát triển NLTDVL cho học sinh
1.3.1 Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học vật
lý
1.3.1.1 Cơ sở tâm lí của việc tổ chức hoạt động nhận thức cho HS
Việc học tập của HS là một loại hoạt động đặc thù của con người, nó
có cấu trúc giống như hoạt động lao động sản xuất nói chung, bao gồm các yếu tố có quan hệ tác động lẫn nhau: một bên là động cơ, mục đích, phương tiện và bên kia là hoạt động, hành động và thao tác Đối tượng của hoạt động học là tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cần chiếm lĩnh Nội dung của đối tượng này không hề thay đổi sau khi được chiếm lĩnh, nhưng chính nhờ có
sự chiếm lĩnh này mà các chức năng tâm lí của chủ thể mới được thay đổi
Trang 14và phát triển Kết quả của việc học tập phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động học của HS [24]
J Piaget đã kết luận: “Người ta không học được gì hết, nếu không phải trải qua sự chiếm lĩnh bằng hoạt động, rằng HS phải phát minh lại khoa học, thay vì nhắc lại những công thức bằng lời của nó” [20]
Theo Vưgôtxki, sử dụng phương tiện chính là sử dụng các đối tượng nào đó làm phương thức, phương tiện nắm hành vi của bản thân Do đó,
sự phát triển, hiện đại hóa các phương tiện dạy học sẽ góp phần phát triển các hành vi, thao tác tư duy và năng lực sáng tạo của HS Ông còn cho rằng dạy học sẽ có hiệu quả hơn khi HS tham gia các hoạt động với môi trường hỗ trợ học tập, và nhận được những hướng dẫn gián tiếp của các công cụ học tập, chủ động hỗ trợ người học hoàn thành nhiệm vụ học tập gần với giới hạn của vùng phát triển gần [29]
1.3.1.2 Cơ sở khoa học của việc tổ chức hoạt động nhận thức cho
HS
Cơ sở lý thuyết của việc phát triển khả năng sáng tạo của HS trong quá trình dạy học là sự hiểu biết những quy luật sáng tạo khoa học tự nhiên Chúng ta đã biết rằng một số nhà khoa học như A.Einstein, M Planck, M.Born, V.G.Razumôpxki…đều có những phát biểu giống nhau
về quá trình sáng tạo khoa học Trên cơ sở những lời phát biểu đó, có thể trình bày quá trình sáng tạo khoa học dưới dạng chu trình gồm bốn giai đoạn chính (hình 1.3)
Tương ứng với chu trình sáng tạo khoa học, khi vận dụng vào quá trình dạy học, đối với việc xây dựng một kiến thức vật lý cụ thể thì tiến trình hoạt động giải quyết vấn đề được mô tả như sau: Đề xuất vấn đề - Suy đoán giải pháp - Khảo sát lí thuyết và thực nghiệm - Kiểm tra xác nhận kết quả và vận dụng
1.3.2 Quy trình lựa chọn các bài tập định tính gắn với việc phát triển năng lực tƣ duy trong dạy học vật lý
Mô hình giả thuyết Các hệ quả lôgic
Những sự kiện khởi đầu Thực nghiệm
Hình 1.3: Sơ đồ chu trình sáng tạo khoa học theo V.G.Razumôpxki