Và mặc dù trong khoa học pháp lý ở Nga đã có sự phê phán quan điểm “phi Nhà nước của tự quản địa phương” mà chính quyền Enxin đưa ra, phê phán việc tước bỏ tính quyền lực Nhà nước của c
Trang 16/10/2017 Bàn về khái niệm chính quyền địa phương và tên gọi
BÀN VỀ KHÁI NIỆM CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG VÀ TÊN GỌI CỦA LUẬT TỔ CHỨC HĐND VÀ UBND HIỆN
HÀNH
TRƯƠNG ĐẮC LINH ThS Khoa Luật Hành
chính – Đại học Luật TP.HCM
1 Về khái niệm chính quyền địa phương:
Ở nước ta từ trước đến nay thuật ngữ “chính quyền địa phương” được sử dụng tương đối rộng rãi và phổ biến trong các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước, các sách báo chính trị pháp
lý, cũng như trong các bài phát biểu của lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở trung ương và địa phương
Nhưng quan niệm: Chính quyền địa phương là gì? Trong cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương gồm những cơ quan nào? Có phải chính quyền địa phương chỉ gồm có HĐND và UBND như quan niệm tương đối phổ biến ở nước ta hiện nay?
Sở dĩ có những quan niệm khác nhau về khái niệm chính quyền địa phương ở nước ta như trên, theo chúng tôi là vì mặc dù các văn bản pháp luật sử dụng thuật ngữ này, nhưng không có một văn bản pháp luật hiện hành nào giải thích rõ và đầy đủ về khái niệm “chính quyền địa phương”
Mặt khác, tuy thuật ngữ “chính quyền địa phương” được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở nước ta nhưng trong các Từ điển Tiếng Việt, Từ điển giải thích các thuật ngữ pháp luật thông dụng cũng không có riêng mục từ này Ví dụ: Từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên) của Viện Ngôn ngữ học thuộc Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, xuất bản năm 1995, có đến 38.410 mục từ, nhưng cũng không có mục từ “chính quyền địa phương” mà chỉ có mục từ “chính quyền” Mục từ “chính quyền” được các tác giả giải thích theo 2 nghĩa: “1 Quyền điều khiển bộ máy Nhà nước Nắm chính quyền Chính quyền trong tay nhân dân 2 Bộ máy điều khiển, quản lý công việc của Nhà nước Chính quyền dân chủ Các cấp chính quyền” (tr.157) Nếu hiểu theo cách giải thích chung về “chính quyền” như các tác giả của từ điển này thì “chính quyền địa phương” bao gồm tất cả các cơ quan của Nhà nước được tổ chức ra ở địa phương để điều khiển, quản lý công việc của Nhà nước ở địa phương Còn cuốn
Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng của Nhà xuất bản giáo dục xuất bản năm 1996 (do Nguyễn Duy Lãm chủ biên) và gần đây nhất là quyển Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật
Hà Nội (do PGS TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên), xuất bản năm 1999 cũng không có thuật ngữ “chính
Trang 2quyền địa phương”
Trong sách báo pháp lý nước ngoài do xuất phát từ nguyên tắc tổ chức quản lý địa phương của các Nhà
nước khác nhau, theo các mô hình khác nhau, nên thường sử dụng các thuật ngữ như “quản lý địa
phương”, “tự quản địa phương” ở các nước TBCN, hoặc “Xô viết địa phương”, “các cơ quan quyền lực
và quản lý Nhà nước ở địa phương” ở Liên Xô (cũ) và các nước XHCN trước đây Tuy có sự khác nhau
về nguyên tắc tổ chức, về cơ cấu, thẩm quyền và mối quan hệ pháp lý giữa các cơ quan, tổ chức trong
việc thực hiện quản lý các công việc ở địa phương của các Nhà nước là khác nhau, nhưng trong khoa
học pháp lý và thực tiễn pháp luật ở các nước khái niệm “quản lý địa phương”, “tự quản địa phương”,
“Xô viết địa phương” ở cả các nước TBCN, cũng như các nước XHCN đều không bao hàm tất cả các
cơ quan Nhà nước được tổ chức và hoạt động ở địa phương (ví dụ: các cơ quan tư pháp như tòa án, viện
công tố hoặc viện kiểm sát) Nhưng khái niệm “quản lý địa phương”, “tự quản địa phương” ở Nhà nước tư sản và khái niệm “chính quyền địa phương” ở nước ta là hoàn toàn khác nhau về mặt nguyên tắc Vì khái niệm “quản lý địa phương” ở các nước TBCN được hiểu là một dạng hoạt động hành chính
được thực hiện bởi các cơ quan Nhà nước do chính quyền cấp trên (Chính phủ) bổ nhiệm và các cơ
quan tự quản địa phương do dân chúng địa phương bầu ra (1) Các cơ quan tự quản địa phương ở các nước TBCN bao gồm các cơ quan dân cử (Hội đồng tự quản) và
các cơ quan chấp hành của nó Trong khoa học pháp lý và thực tiễn pháp luật ở những nước này các cơ
quan tự quản địa phương không được coi là các cơ quan Nhà nước, không nằm trong hệ thống các cơ
quan quyền lực Nhà nước của Nhà nước tư sản Những người làm việc trong các cơ quan tự quản địa
phương không được xếp vào đội ngũ công chức của Nhà nước Ví dụ: Sau khi Liên Xô tan rã, chế độ
Nhà nước XHCN Xô Viết sụp đổ, Cộng hòa Liên bang Nga và các nước cộng hòa cũ của Liên Xô đã
phá vỡ chế độ Xô viết địa phương, thay vào đó là chế độ tự quản địa phương Và mặc dù trong khoa
học pháp lý ở Nga đã có sự phê phán quan điểm “phi Nhà nước của tự quản địa phương” mà chính
quyền Enxin đưa ra, phê phán việc tước bỏ tính quyền lực Nhà nước của các Xô viết địa phương do dân
bầu, cho đây là quan điểm chính trị pháp lý đã lỗi thời của phương Tây(2 ), nhưng cả Hiến pháp năm
1993 và cả Luật về tự quản địa phương năm 1995 (được sửa đổi, bổ sung năm 1996 và năm 1997) của
CHLB Nga đều khẳng định “tính phi Nhà nước” của các cơ quan tự quản địa phương Điều 12 Hiến
pháp 1993 của CHLB Nga qui định: “Các cơ quan tự quản địa phương không nằm trong hệ thống các
cơ quan quyền lực Nhà nước” Theo Luật về tự quản địa phương của CHLB Nga năm 1995 các cơ quan
tự quản địa phương gồm: các cơ quan dân cử địa phương và các cơ quan chấp hành do các cơ quan dân
cử ở địa phương bầu ra,
Trang 3data:text/html;charset=utf8,%3Cp%20class%3D%22MsoNormal%22%20align%3D%22center%22%20sty le%3D%22color%3A%20rgb(0%2C%200%2C 1/4
6/10/2017 Bàn về khái niệm chính quyền địa phương và tên gọi
hoặc do cử tri ở địa phương trực tiếp bầu ra Nhưng Điều 1 của Luật này qui định rõ: Các cơ quan của
tự quản địa phương này không nằm trong hệ thống các cơ quan quyền lực Nhà nước Đối với những
người làm việc trong các cơ quan tự quản địa phương, theo Điều 21 của Luật về tự quản địa phương,
gọi là “viên chức tự quản địa phương” chứ không được gọi là viên chức Nhà nước(3) Do tính “phi Nhà nước” của các cơ quan tự quản địa phương nên các văn bản quy phạm do các cơ quan
này ban hành, khác với HĐND và UBND ở nước ta, không được gọi là văn bản quy phạm pháp luật
trong hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước, chúng thường được gọi là “quy chế”, “điều lệ”, “quy
tắc tự quản của địa phương” Thẩm quyền và trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc chấp hành Hiến pháp
và pháp luật của Nhà nước ở địa phương, trong đó có hoạt động của các cơ quan tự quản địa phương
thuộc về các cơ quan đại diện của các Bộ, ngành trung ương, của Chính phủ (hoặc đại diện toàn quyền
của Tổng thống ở các vùng) , của viện công tố (hoặc viện kiểm sát) và tòa án ở địa phương (4) Để xác định rõ bản chất pháp lý, cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương và sự khác nhau cơ bản,
có tính nguyên tắc giữa khái niệm “chính quyền địa phương” ở nước ta với khái niệm “quản lý và tự
quản địa phương” của các nước, theo chúng tôi cần nhấn mạnh mấy điểm chủ yếu sau đây: Thứ nhất, chính quyền địa phương của nước ta là một bộ phận hợp thành, gắn bó hữu cơ của chính
quyền Nhà nước thống nhất, là hình thức pháp lý thông qua đó nhân dân thực hiện quyền làm chủ của
mình ở địa phương Vì vậy tính Nhà nước là thuộc tính vốn có của chính quyền địa phương ở nước ta
chứ không phải tính “phi nhà nước” như của các cơ quan tự quản địa phương của một số nước dựa trên
cơ sở của quan điểm chính trị – pháp lý đã lỗi thời của phương Tây mà sách báo pháp lý ở những nước
này đã phê phán (5) Tính quyền lực Nhà nước của chính quyền địa phương không chỉ xác định vị trí, tính chất pháp lý và
vai trò của các cơ quan chính quyền địa phương trong cơ chế thực hiện quyền lực Nhà nước thống nhất
của nhân dân, mà còn xác định thẩm quyền và trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc
quyết định các biện pháp nhằm xây dựng và phát triển kinh tế xã hội ở địa phương nói chung, trong
việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương nói riêng Đặc biệt là giá trị pháp lý của các
văn bản do chính quyền địa phương ban hành và thẩm quyền của các cơ quan chính quyền địa phương
trong việc kiểm tra, giám sát việc chấp hành Hiến pháp và pháp luật đối với tất cả các cơ quan Nhà
nước khác, các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và công dân ở địa phương được qui định bởi tính quyền lực Nhà nước của các cơ quan chính quyền địa phương
Trang 4Hai là, không phải mọi cơ quan nhà nước được tổ chức và hoạt động ở địa phương, giải quyết các vấn
đề phát sinh ở địa phương đều nằm trong cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương Điều này không
có nghĩa chỉ trừ có các cơ quan bảo vệ pháp luật ở địa phương (TAND và VKSND), mà còn bao gồm
cả các cơ quan của các Bộ, Ngành trung ương đóng ở địa phương, ví dụ: Cục Hải quan, Sở ngoại vụ,
Cục Thuế v.v Vì những cơ quan này không do nhân dân địa phương thành lập ra dù trực tiếp hay gián
tiếp, mà do các cơ quan Nhà nước ở trung ương thành lập và chỉ đạo hoạt động của chúng Ba là, các cơ quan chính quyền địa phương về nguyên tắc phải do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra,
hoặc được thành lập trên cơ sở của các cơ quan đại diện của nhân dân ở địa phương theo qui định của
pháp luật Quan niệm phổ biến ở nước ta cho rằng khái niệm chính quyền địa phương chỉ gồm có:
HĐND và UBND, hoặc ngoài HĐND và UBND còn có thêm các cơ quan chuyên môn thuộc UBND (6)
Quan niệm này, theo chúng tôi bắt nguồn từ thực tiễn pháp luật về tổ chức và hoạt động của chính
quyền địa phương ở nước ta trong những năm đầu sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 Điều 1 Sắc
lệnh số 63 ngày 22.11.1945 về tổ chức HĐND và UBHC xã, huyện, tỉnh, kỳ qui định: “Để thực hiện
chính quyền nhân dân địa phương trong nước Việt Nam, sẽ đặt hai thứ cơ quan: Hội đồng nhân dân và
Ủy ban hành chính” Điều 3 Sắc lệnh 77 ngày 21.12.1945 về tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã
và Thành phố cũng quy định: “Ở mỗi thành phố sẽ đặt ra 3 thứ cơ quan: HĐND thành phố, UBHC
thành phố và UBHC khu phố” Như vậy theo quy định của Sắc lệnh số 63 và Sắc lệnh số 77 năm 1945
Chính quyền nhân dân ở địa phương chỉ gồm có HĐND và UBHC Sau ngày hòa bình lập lại trên miền
Bắc, ngày 31.5.1958 tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa I đã thông qua Luật số 110 Về tổ chức chính quyền
địa phương Điều 1 của Luật này cũng quy định chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBHC Nhưng khác với các văn bản pháp luật về chính quyền địa phương trước khi có Hiến pháp 1959, bắt đầu
từ Luật tổ chức HĐND và UBHC năm 1962, cũng như Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994 hiện
hành sau này đã không có qui định nào sử dụng thuật ngữ “chính quyền địa phương” Các Luật này đã
bổ sung thêm nhiều Điều, Mục để qui định về cơ cấu tổ chức HĐND và UBND, như: Luật năm 1962
lần đầu tiên qui định HĐND các cấp thành lập các Ban chuyên trách của HĐND; qui định UBHC các cấp có quyền quyết định thành lập, bãi bỏ các cơ quan chuyên môn thuộc UBHC (chứ không phải bên
cạnh UBHC như trước đây) Các cơ quan chuyên môn thuộc UBHC chịu sự lãnh đạo của UBHC cùng
cấp, thủ trưởng cơ quan chuyên môn chịu trách nhiệm và báo cáo công tác với UBHC cấp này (xem:
các Điều 28, Điều 29, Điều 30, Điều 55, Điều 56 Luật tổ chức HĐND và UBHC các cấp năm 1962)
Còn Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1989 (sửa đổi) qui định thành lập thêm cơ quan Thường trực
HĐND (gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Thư ký HĐND) từ cấp huyện trở lên Đến Luật tổ chức HĐND
Trang 5và UBND năm 1994 hiện hành qui
data:text/html;charset=utf8,%3Cp%20class%3D%22MsoNormal%22%20align%3D%22center%22%20sty le%3D%22color%3A%20rgb(0%2C%200%2C 2/4
6/10/2017 Bàn về khái niệm chính quyền địa phương và tên gọi
định cả HĐND cấp xã cũng có Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND để thực hiện chức năng, nhiệm vụ và
quyền hạn có tính chất thường trực của HĐND ở cấp này Mặc dù các Ban của HĐND, thường trực của
HĐND cũng như Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND cấp xã trong khoa học pháp lý thường được gọi là các
cơ quan nội tại, hay các tổ chức bên trong của các cơ quan dân cử ở địa phương, là hình thức hoạt động
của các cơ quan này, chúng không là cơ quan Nhà nước theo đúng nghĩa của nó, vì không có thẩm
quyền mang tính quyền lực Nhà nước, không có quyền đơn phương quyết định có tính bắt buộc thi
hành Nhưng các Ban của HĐND các cấp có vai trò quan trọng trong việc giúp HĐND thẩm tra báo
cáo, đề án trình kỳ họp HĐND, giúp HĐND kiểm tra, giám sát việc thi hành Hiến pháp, pháp luật và
nghị quyết của HĐND ở địa phương, kiến nghị với HĐND về những vấn đề thuộc phạm vi lĩnh vực
hoạt động của mình Thường trực HĐND (hoặc Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND xã, phường, thị trấn) được thành lập từ cuối những năm 1980 ở nước ta là nhằm bảo đảm hoạt động công tác của HĐND;
điều hòa phối hợp hoạt động của các Ban của HĐND, đôn đốc, kiểm tra UBND và các cơ quan Nhà
nước khác ở địa phương thực hiện các nghị quyết của HĐND; đôn đốc, kiểm tra và xem xét tình hình
giải quyết các khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân Về cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn của
sự cần thiết phải thành lập cơ quan thường trực của HĐND cũng đã được chúng tôi đề cập trước khi
Quốc hội thông qua Nghị quyết ngày 30.6.1989 về sửa đổi một số điều của Hiến pháp năm 1980 và
Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1989 liên quan đến thành lập cơ quan này (7) Thực tế hoạt động của các Ban của HĐND, của Thường trực HĐND ở các địa phương những năm qua
đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND, nhất là hiệu quả và hiệu lực
kiểm tra, giám sát của HĐND đối với các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế trong
việc chấp hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương Ví dụ: Ban Pháp chế HĐND Thành phố Hồ Chí
Minh nhiệm kỳ khoá V (19941999) đã có 10 bản thẩm tra các báo cáo công tác của Tòa án và Viện
kiểm sát Thành phố, đã tiến hành 45 cuộc giám sát việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật và Nghị quyết
HĐND tại các Sở–Ngành thành phố và 87 cuộc giám sát tại các đơn vị trực thuộc UBND Thành phố và
chính quyền các quận, huyện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Qua công tác thẩm tra và giám sát
nói trên, Ban pháp chế HĐND Thành phố đều có báo cáo thẩm tra, có kết luận tại chỗ hoặc bằng văn
bản giúp các cơ quan, đơn vị được giám sát phát huy mặt mạnh, khắc phục thiếu sót trong việc thực
hiện Hiến pháp, pháp luật trong hoạt động của mình (8) Vì vậy, nếu khái niệm chính quyền địa phương vẫn quan niệm chỉ bao gồm HĐND và UBND như các
Trang 6qui định của pháp luật cũ trước đây, theo chúng tôi là quá hẹp, không phù hợp và không phản ánh sự phát triển của pháp luật về cơ cấu tổ chức của HĐND và UBND những năm sau này, làm giảm đi mục đích và ý nghĩa của việc thành lập các Ban của HĐND, Thường trực HĐND và vai trò của chúng trong việc góp phần tăng cường hiệu lực hoạt động của chính quyền địa phương nói chung, hoạt động bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương nói riêng
Bốn là, các cơ quan chính quyền địa phương ở nước ta tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện chức năng, thẩm quyền theo qui định của pháp luật, giải quyết các vấn đề phát sinh ở địa phương trên cơ sở và nhằm thi hành Hiến pháp, Luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và
có sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích của nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước
Từ những điều đã trình bày trên đây có thể rút ra khái niệm về chính quyền địa phương như sau :
Chính quyền địa phương ở nước ta là một bộ phận hợp thành của chính quyền Nhà nước thống nhất của nhân dân, bao gồm các cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước ở địa phương do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra (HĐND) và các cơ quan, tổ chức Nhà nước khác được thành lập trên cơ sở các cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước này theo qui định của pháp luật (UBND, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, Thường trực HĐND, các ban của HĐND ), nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương, trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ và kết hợp hài hòa giữa lợi ích của nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước
2 Về tên gọi của Luật tổ chức HĐND và UBND hiện
hành:
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, các văn bản pháp luật về chính quyền địa phương có
sự thay đổi các tên gọi khác nhau qua các giai đoạn Đó là:
Sắc lệnh số 63/SL ngày 22 11 1945 về “Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính”; Sắc lệnh số 77/SL ngày 21 12 1945 về “Tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố”
Sắc lệnh số 254/SL ngày 19 11 1948 về “Tổ chức lại chính quyền nhân dân trong thời kỳ kháng chiến” Luật số 110 SL/L.12 ngày 31 5 1958 về “Tổ chức chính quyền địa phương”
Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp năm 1962 Sau khi có Hiến pháp 1980, ngày 3061983 Quốc hội thông qua Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, và cũng từ đó đến nay tên gọi của luật quy định về tổ chức chính quyền địa phương không thay đổi
Trang 7data:text/html;charset=utf8,%3Cp%20class%3D%22MsoNormal%22%20align%3D%22center%22%20sty le%3D%22color%3A%20rgb(0%2C%200%2C 3/4
6/10/2017 Bàn về khái niệm chính quyền địa phương và tên gọi
Tuy nhiên, tháng 6 năm 1989 trong quá trình nghiên cứu sửa đổi một số điều của Hiến pháp năm 1980
và sửa đổi Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1983 có liên quan đến việc thành lập cơ quan thường
trực của HĐND cũng đã có ý kiến đề nghị đổi tên gọi của Luật này là: “Luật tổ chức Hội đồng nhân
dân, Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp” hoặc “Luật tổ chức Hội đồng nhân
dân các cấp” là đủ Nhưng một số người cho rằng, tên gọi của luật theo cách thứ nhất thì dài quá, còn
tên gọi theo cách thứ hai thì lại ngắn quá, nghe không quen Vì vậy, mặc dù ngày 3061989 Quốc hội
quyết định thành lập cơ quan thường trực HĐND từ cấp huyện trở lên (một quyết định có tính thỏa
hiệp, dung hòa hai loại ý kiến khác nhau của các đại biểu Quốc hội khi đó về vấn đề này), nhưng tên
của luật vẫn giữ nguyên không thay đổi là: Luật tổ chức HĐND và UBND Sau khi có Hiến pháp mới năm 1992 chúng ta nghiên cứu xây dựng dự thảo luật mới để thay thế Luật tổ
chức HĐND và UBND năm 1989, vấn đề tên của đạo luật này lại được đặt ra Dự án đầu tiên của luật
này có tên gọi là: “Luật tổ chức chính quyền địa phương” Ngoài ra, UBND được trả lại tên gọi như nó
vốn có trước đây là Ủy ban hành chính để thể hiện đúng tính chất pháp lý và chức năng của cơ quan
này, chứ không phải theo quan niệm cảm tính với mong muố là gắn tính từ nhân dân để Ủy ban này là
của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân! Nhưng vì không thoát ra khỏi thói quen bấy lâu nay nên Dự án luật chính thức được Chính phủ trình
Quốc hội và được Quốc hội (khóa IX, kỳ họp thứ 5, ngày 21 tháng 6 năm 1994) thông qua vẫn có tên
gọi là Luật tổ chức HĐND và UBND như trước đây Tên gọi của Luật như trên, theo chúng tôi vừa không thể hiện đầy đủ cơ cấu tổ chức của chính quyền
địa phương như trên chúng tôi đã trình bày, vừa thể hiện không đúng mối quan hệ pháp lý giữa cơ quan
đại diện quyền lực Nhà nước ở địa phương (HĐND) với cơ quan chấp hành và điều hành (UBND) của
nó, bởi liên từ “và” đặt giữa hai cơ quan này Vì vậy, tới đây khi nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp năm
1992 và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994, theo chúng tôi nên đổi tên Luật này là Luật tổ chức chính quyền địa phương
(1).Xem: K.B.A ra nốp xki, Luật Nhà nước nước ngoài, NXB " Pho rum Inpha M ", Mát xcơ va,
1999,Tr.460 483 (tiếng Nga)
Trang 8(2).Xem: Tự quản ở nước Nga: Lý luận và thực tiễn, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6 năm 1993, tr
141 147 (tiếng Nga)
(3) V.A.I a Xi uNac, Những nguyên lý của tự quản địa phương, Mát xcơ va, 1998, tr.147 162 (tiếng Nga) (4) Xem: K.B A ra nốp xki, Sđd, tr.464 465; V.A I a Xi uNac, Sđd, tr.58 59
(5) Xem: Tự quản ở nước Nga, Sđd, tr.141147; Rhodes R.A.W The national world of local government. L.: Allen &Unwin, 1986 XVIII, 441 p.; Davies K Local government low.L.: Butterworths, 1983,XXXVI, 352 p
(6) Nguyễn Đăng Dung, Tổ chức chính quyền địa phương (Lịch sử và hiện tại), NXB Đồng Nai, 1997,
tr 13
(7) Trương Đắc Linh, Một số ý kiến về vấn đề thành lập cơ quan thường trực HĐND, Tạp chí Nhà
nước và pháp luật, số I năm 1989, tr 29 34
(8).Xem: Kỷ yếu tổng kết tình hình tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND Tp Hồ Chí Minh Khóa
V Nhiệm kỳ 1994 1999, Tp Hồ Chí Minh Tháng 8 năm 2000, tr.91 92
data:text/html;charset=utf8,%3Cp%20class%3D%22MsoNormal%22%20align%3D%22center%22%20sty le%3D%22color%3A%20rgb(0%2C%200%2C 4/4