1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài giảng LTTCTT gửi lớp cao học QTKD -2019 (1)

215 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 215
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu so với các loại tiền tệ trước đó, tiền bằng kim loại, bên cạnh những ưu điểm nhất định cũng đưa đến những bất tiện trong quá trình phát triển trao đổi như: cồng kềnh, khó cất giữ, kh

Trang 1

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN TỆ

Mục tiêu tổng quan:

G1.1: Giới thiệu những kiến thức cơ bản liên quan đến các vấn đề về tiền tệ, bao gồm nguồn

gốc ra đời và phát triển của tiền tệ, bản chất và chức năng của tiền tệ, khối tiền tệ, chế độ tiền tệ

và cung – cầu tiền tệ trong nền kinh tế

G1.2: Cung cấp những kiến thức nền tảng nhằm giúp người học có khả năng có khả năng nhận

biết, phân tích và giải thích được các vấn đề liên quan đến tiền tệ

Mục tiêu chi tiết:

O1.1: Hiểu và giải thích được sự ra đời và phát triển của tiền tệ

O1.2: Nhận biết được bản chất của tiền tệ, đồng thời phân tích được các chức năng của tiền tệ đối với nền kinh tế, từ đó thấy được tầm quan trọng của tiền tệ đối với mọi hoạt động của nền kinh tế - xã hội

O1.3: Phân biệt được các khối tiền tệ và trình bày được các hình thức tổ chức lưu thông tiền tệ qua các chế độ tiền tệ

O1.4: Hiểu được các lý thuyết về cầu tiền tệ và biết được các kênh cung ứng tiền tệ trong nền kinh tế

O1.5: Trình bày được các khái niệm lạm phát được nhiều nhà kinh tế thừa nhận, phân tích được các nguyên nhân gây ra lạm phát và những tác động của lạm phát đối với đời sống, kinh tế, chính trị và xã hội của một quốc gia; trình bày được những biện pháp hữu hiệu nhằm phòng ngừa và khắc phục lạm phát tức thời và chiến lược đến sự phát triển của nền kinh tế

1.1 Sự ra đời và phát triển của tiền tệ:

1.1.1 Khái quát sự ra đời của tiền tệ:

Theo K.Marx (1962), Tiền tệ là sản phẩm tự phát, tự nhiên của sản xuất và lưu thông hàng hóa Khi nghiên cứu về tiền K.Marx viết: "Tiền là một vật được kết tinh, hình thành một

O1.1

Hiểu và giải thích được sự ra đời và phát triển của tiền tệ

Trang 2

1

cách tự nhiên trong trao đổi" Như vậy tiền đề cho sự ra đời và phát triển của tiền tệ là sự ra đời

và phát triển của nền kinh tế hàng hoá

Trong thời kỳ đầu của chế độ Cộng sản Nguyên Thủy với công cụ lao động thô sơ người

ta tự cung cấp cho nhau số sản phẩm ít ỏi thu về sau một ngày săn bắn, hái lượm Khi đời sống cộng đồng phát triển, ý thức phân công lao động được hình thành và với lượng sản phẩm dư thừa đã làm nảy sinh quan hệ trao đổi giữa các thị tộc Trong giai đoạn này trao đổi mang tính ngẫu nhiên và được thực hiện bằng cách trao đổi sản phẩm trực tiếp H – H Đây là một bước tiến lớn để xã hội công xã thoát khỏi tình trạng tự cung tự cấp Tuy nhiên, ở hình thức trao đổi này, căn cứ trao đổi chính là giá trị sử dụng tức là đôi bên mua – bán phải có nhu cầu phù hợp Chẳng hạn, người có thóc muốn đổi lấy vải thì phải tìm đúng người có vải muốn đổi lấy thóc để tiến hành việc trao đổi Ngoài ra, trong hình thức trao đổi này hai bên mua – bán trao đổi còn phải thỏa thuận về tỉ lệ của hàng hóa Với những bất tiện của việc trao đổi nêu trên, hình thức này chỉ phù hợp trong giai đoạn nền sản xuất còn sơ khai và quan hệ trao đổi chưa mở rộng Cùng với việc cải tiến công cụ lao động và quá trình phân công lao động xã hội ngày một sâu hơn, nền sản xuất hàng hóa phát triển mạnh, do đó quan hệ trao đổi không còn ngẫu nhiên, không chỉ dựa trên sự định giá giản đơn Mặt khác hàng hóa trên thị trường đã phong phú và đa dạng hơn đòi hỏi phạm vi trao đổi cần được mở rộng Để giải quyết khó khăn trên người ta đã đặt ra vật trung gian làm phương tiện trao đổi, nghĩa là hai giai đoạn mua – bán sẽ được tách ra thành hai quá trình độc lập: H – Vật trung gian – H’

Có thể nói sự ra đời của vật trung gian trao đổi đánh dấu giai đoạn mở đầu cho sự xuất hiện của tiền tệ, đồng thời là bước chuyển hóa từ nền kinh tế đổi chác sang nền kinh tế tiền tệ

Trải qua tiến trình phát triển, tiền tệ đã tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau để đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng của đời sống kinh tế

1.1.2 Các thời kỳ phát triển của tiền tệ

Câu hỏi nghiên cứu:

Nguyên nhân gì khiến cho một loại tiền nào đó không còn sử dụng và một loại tiền mới được thay thế? Động lực nào nằm sau những thay đổi? Trong tương lai, tiền sẽ tồn tại dưới

những dạng nào?

Xuất phát từ nhu cầu trao đổi, khi mà xã hội cộng sản nguyên thủy tan rã, con người bắt đầu xuất hiện sự tư hữu về của cải cùng với đó là sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân

Trang 3

2

công lao động Chính sự biến đổi trong hình thái xã hội này là nguyên nhân dẫn đến nhu cầu trao đổi của cải Vì thế, tiền tệ đã ra đời để thỏa mãn nhu cầu trao đổi giữa mọi người Cho đến ngày nay tiền tệ đã trải qua rất nhiều hình thái từ thuở sơ khai đơn giản nhất cho đến hệ thống tiền tệ đa dạng và phức tạp Quá trình phát triển của tiền tệ trải qua các hình thái cơ bản sau:

1.1.2.1 Hóa tệ :

Hóa tệ là hình thái đầu tiên trong quá trình phát triển của đồng tiền Hóa tệ là hình thái tiền tệ xuất phát từ hàng hóa Hay một hàng hóa nào đó giữ vai trò trung gian trao đổi một cách phổ biến và rộng rãi được gọi là hóa tệ

Trong các loại hàng hóa được dùng làm tiền được chia thành hai loại: hàng hóa không phải là kim loại và kim loại

+ Hóa tệ không kim loại : Là việc dùng hàng hóa không kim loại làm tiền tệ Đây là hình thái đầu tiên cổ hủ nhất của tiền tệ Sản xuất và trao đổi hàng hoá ngày càng phát triển Sự trao đổi không còn ngẫu nhiên, không còn trên cơ sở của định giá giản đơn Trao đổi đã vượt khỏi cái khung nhỏ hẹp một vài hàng hoá, giới hạn trong một vài địa phương Sự trao đổi ngày càng nhiều hơn đó giữa các hàng hoá đòi hỏi phải có một hàng hoá có tính đồng nhất, tiện dụng trong vai trò của vật ngang giá, có thể tạo điều kiện thuận lợi trong trao đổi, và bảo tồn giá trị Những hình thái tiền tệ đầu tiên có vẻ lạ lùng, nhưng nói chung là những vật trang sức hay những vật có thể ăn Thổ dân ở các bờ biển Châu Á, Châu Phi, trước đây đã dùng vỏ sò, vỏ ốc làm tiền Lúa mì và đại mạch được sử dụng ở vùng Lưỡng Hà, gạo được dùng ở quần đảo Philippines Trước Công nguyên, ở Trung Quốc kê và lụa được sử dụng làm tiền…

Khi đóng vai trò là tiền tệ thì hóa tệ không kim loại có các nhược điểm:

- Dễ hư hỏng, khó bảo quản và vận chuyển

- Khó phân chia nhỏ thành đơn vị

- Không được chấp nhận rộng rãi ở nhiều địa phương, vì vậy các hóa tệ không kim loại dần dần bị bãi bỏ và người ta dùng hóa tệ kim loại để thay thế

+ Hóa tệ kim loại : Là việc sử dụng các kim loại đồng, kẽm, bạc, chì, vàng để làm chức năng tiền tệ

Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển kèm theo sự mở rộng phân công lao động

xã hội đồng thời với sự xuất thiện của Nhà nước và giao dịch quốc tế thường xuyên Kim

Trang 4

3

loại ngày càng có những ưu điểm nổi bật trong vai trò của vật ngang giá bởi những thuộc tính bền, gọn, có giá trị phổ biến,… Những đồng tiền bằng kim loại: đồng, chì, kẽm, thiếc, bạc, vàng xuất hiện thay thế cho các hoá tệ không kim loại Tiền bằng chì chỉ xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc dưới dạng một thỏi dài có lỗ ở một đầu để có thể xâu thành chuỗi Tiền bằng hợp kim vàng và bạc xuất hiện đầu tiên vào những năm 685 – 652 trước Công nguyên ở vùng Tiểu Á và Hy Lạp có đóng dấu in hình nổi để đảm bảo giá trị Các đồng tiền bằng kim loại đã sớm xuất hiện ở vùng Địa Trung Hải Tiền kim loại đầu tiên ở Anh làm bằng thiếc, ở Thuỵ Sĩ và Nga bằng đồng Khi bạch kim mới được phát hiện, trong thời kỳ 1828– 1844, người Nga cho đó là kim loại không sử dụng được nên đem đúc tiền Nếu so với các loại tiền tệ trước đó, tiền bằng kim loại, bên cạnh những ưu điểm nhất định cũng đưa đến những bất tiện trong quá trình phát triển trao đổi như: cồng kềnh, khó cất giữ, khó chuyên chở… Cuối cùng, trong các kim loại quý như vàng, bạc, những thứ tiền thật sự chúng có giá trị nội tại trở nên thông dụng trong một thời gian khá lâu cho đến cuối thế kỷ thứ XIX và đầu thế kỷ thứ XX

Khoảng thế kỷ thứ XVI ở Châu Âu nhiều nước sử dụng vàng làm tiền, có nước vừa

sử dụng vàng vừa sử dụng bạc Các nước Châu Á sử dụng bạc là phổ biến Việc đúc quý kim thành tiền ngay từ đầu được coi là vương quyền, đánh dấu kỷ nguyên ngự trị của lãnh chúa vua chúa Lịch sử phát triển của tiền kim loại quý đã trải qua ba biến cố chủ yếu, quyết định đến việc sử dụng phổ biến tiền bằng kim loại quý

– Sự gia tăng dân số và phát triển đô thị ở các nước Châu Âu từ thế kỷ XIII

đưa đến sự gia tăng nhu cầu trao đổi Các mỏ vàng ở Châu Âu không đủ cung ứng

– Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX bạch kim loại bị mất giá, trong thời gian dài vàng, bạc song song được sử dụng làm tiền; các nước Châu Âu sử dụng cả vàng lẫn bạc Chỉ các nước Châu Á mới sử dụng bạc (do không đủ vàng) đến cuối thế kỷ XIX bạc ngày càng mất giá do vậy các nước Châu Âu và cả Hoa Kỳ quyết định và sử dụng vàng, các nước Chấu Á như Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Hoa do lệ thuộc sự nhập cảng nguyên liệu máy móc… từ Phương Tây nên cũng bãi bỏ bạc sử dụng vàng Ở Đông Dương, bạc được sử dụng làm tiền từ 1885 đến

1931 Đến năm 1931 đồng bạc Đông Dương từ bản vị bạc sang bản vị vàng, có thể cho rằng, khoảng từ 1935 chỉ còn một kim loại quý được tất cả các nước chấp nhận làm tiền trên thế giới

là vàng

Trang 5

4

1.1.2.2 Tín tệ:

Tín tệ là một loại tiền mà bản thân nó không có giá trị, chỉ nhờ vào sự tín nhiệm của mọi người mà được lưu dụng, nó còn được gọi là chỉ tệ, tức là do con người gán cho một giá trị để làm chức năng tiền tệ Tín tệ có thể bao gồm tiền bằng kim loại và tiền giấy

+ Tiền kim loại: Tiền kim loại thuộc hình thái tín tệ khác với tiền kim loại thuộc hình thái

hóa tệ Trong hóa tệ kim loại, giá trị của kim loại đúc thành tiền bằng giá trị mặt của đồng tiền, còn trong tín tệ kim loại thì giá trị của đồng tiền và giá trị của kim loại sử dụng đúc những đồng tiền không có liên quan với nhau Việc sử dụng kim loại để đúc những đồng tiền lẻ thuận tiện cho việc lưu thông và giá trị thực của kim loại nhỏ hơn giá trị biểu hiện

Vì vậy, ngày nay nhiều quốc gia sử dụng kim loại kém giá trị để đúc tiền lẻ nhằm phục

vụ cho những nhu cầu thực tế thay cho tiền giấy

+ Tiền giấy bao gồm tiền giấy khả hoán và tiền giấy bất khả hoán

– Tiền giấy khả hoán là thứ tiền được lưu hành thay cho tiền vàng hay tiền bạc ký thác

ở ngân hàng Bất cứ lúc nào mọi người cũng có thể đem tiền giấy khả hoán đó đổi lấy vàng hay bạc có giá trị tương đương với giá trị được ghi trên tiền giấy khả hoán đó

Ở Trung Hoa từ đời Tống đã xuất hiện tiền giấy Vì những nhu cầu mua bán, các thương gia hình thành từng thương hội có nhiều chi nhánh ở khắp các thị trấn lớn Các thương gia

ký thác vàng hay bạc vào hội sở của thương hội rồi nhận giấy chứng nhận của hội sở thương hội, với giấy chứng nhận này các thương gia có thể mua hàng ở các thị trấn khác nhau có chi nhánh của thương hội, ngoài loại giấy chứng nhận trên triều đình nhà Tống còn phát hành tiền giấy và được dân chúng chấp nhận

Ở Việt Nam vào cuối đời Trần, Hồ Quý Ly đã thí nghiệm cho phát hành tiền giấy Nhân dân ai cũng phải nộp tiền đồng vào cho Nhà nước, cứ 1 quan tiền đồng đổi được 2 quan tiền giấy, việc sử dụng tiền giấy của Hồ Quý Ly thất bại vì nhà Hồ sớm bị lật đổ, dân chưa quen

sử dụng tiền giấy và sai lầm khi xác định quan hệ giữa tiền đồng và tiền giấy (bao hàm ý nghĩa tiền giấy có giá trị thấp hơn)

Nguồn gốc của tiền giấy chỉ có thể được hiểu rõ khi xem xét lịch sử tiền tệ các nước Châu Âu Từ đầu thế kỷ thứ XVII, ở Hà Lan ngân hàng Amsterdam đã cung cấp cho những thân chủ gởi vàng vào ngân hàng những giấy chứng nhận bao gồm nhiều tờ nhỏ Khi cần, có thể đem những tờ nhỏ này đổi lấy vàng hay bạc tại ngân hàng Trong thanh toán cho người

Trang 6

5

khác các giấy nhỏ này cũng được chấp nhận Sau đó một ngân hàng Thụy Điển tên Palmstruch

đã mạnh dạn phát hành tiền giấy để cho vay Từ đó ngân hàng Palmstruch có khả năng cho vay nhiều hơn vốn tự có Với nhiều loại tiền giấy được phát hành, lưu thông tiền tệ bị rối loại vì nhiều nhà ngân hàng lạm dụng gây nhiều thiệt hại cho dân chúng Do đó, vua chúa các nước phải can thiệp vì cho rằng việc đúc tiền từ xưa là vương quyền và mặt khác việc phát hành tiền giấy là một nguồn lợi to lớn Vương quyền các nước Châu Âu thừa nhận một ngân hàng tự có quyền phát hành tiền giấy với những điều kiện nhất định:

+ Điều kiện khả hoán: có thể đổi lấy bất cứ lúc nào tại ngân hàng phát hành

+ Điều kiện dự trữ vàng làm đảm bảo: ban đầu là 100% sau còn 40%

+ Điều kiện phải cho Nhà nước vay không tính lãi khi cần thiết

– Tiền giấy bất khả hoán là thứ tiền giấy bắt buộc lưu hành, mọi người không thể đem tiền giấy này đến ngân hàng để đổi lấy vàng hay bạc

Nguồn gốc của tiền bất khả hoán là bởi những nguyên nhân sau:

+ Thế chiến thứ nhất đã làm cho các quốc gia tham chiến không còn đủ vàng để đổi cho dân chúng Nước Anh từ năm 1931 đã cưỡng bức lưu hành tiền giấy bất khả hoán, nước Pháp năm 1936

+ Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929 dẫn đến ở nước Đức mọi người đua nhau rút tiền, do đó Ngân hàng Trung ương Đức đã phải dùng vàng trả nợ nước ngoài và do đó số trữ kim gần như không còn Tiến sĩ Schacht (1933 – 1936) đã áp dụng chính sách tiền tài trợ bằng cách phát hành trái phiếu, để tài trợ sản xuất và những chương trình kinh tế, xã hội lớn Biện pháp này làm giảm 50% thất nghiệp, sản xuất tăng 41% (1934) Từ đó, nhiều nhà kinh

tế cho rằng giá trị tiền tệ không phải dựa vào dự trữ vàng như các quan điểm trước đây

Ưu điểm của hình thức bút tệ là an toàn hơn, chuyển đổi ra tiền giấy, dễ dàng vận chuyển

và thanh toán thuận tiện đặc biệt là kiểm nhận nhanh chóng

Trang 7

6

1.1.2.4 Tiền điện tử:

Trong thời đại hiện nay, khi khoa học kỹ thuật và công nghệ ngân hàng phát triển, có thể nói một biểu hiện hình thái tiền tệ mới đã ra đời Đó là “Tiền điện tử”, “Ví điện tử”, “Tiền thông minh”, “Tiền nhựa”…

Tiền điện tử là tiền đã được số hóa, tức là tiền ở dạng những bit số Tiền điện tử chỉ được

sử dụng trong môi trường điện tử phục vụ cho những thanh toán điện tử thông qua hệ thống thông tin bao gồm hệ thống mạng máy tính, Internet và các phương tiện điện tử được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu của tổ chức phát hành (bên thứ 3) được biểu hiện dưới dạng bút tệ trên tài khoản mà khách hàng (người mua) mở tại tổ chức phát hành

Hoặc cũng có thể hiểu, tiền điện tử là phương tiện thanh toán được bảo mật bằng chữ ký điện tử, và cũng như tiền giấy nó có chức năng là phương tiện trao đổi và tích lũy giá trị Nếu như giá trị của tiền giấy được đảm bảo bởi chính phủ phát hành thì đối với tiền điện tử, giá trị của nó được tổ chức phát hành đảm bảo bằng việc cam kết sẽ chuyển đổi tiền điện tử sang tiền giấy theo yêu cầu của người sở hữu

- Ưu điểm tiền điện tử:

Tiền điện tử nhìn chung được xem là một sự tiến bộ về khoa học công nghệ đối với lĩnh vực tiền tệ, tài chính Vì thế nó có những ưu điểm nhất định so với loại tiền giấy lưu hành hiện tại trên thị trường:

Thuận tiện trong giao dịch: Nếu khi gửi tiền tại các ngân hàng, bạn có thể bị giới hạn chuyển khoản, rút tiền… trong 1 ngày thì với tiền điện tử, bạn có quyền tự do giao dịch bất chấp không gian thời gian

Tiền điện tử không thể làm giả: Vì không tồn tại dưới dạng vật chất và mỗi đồng tiền điện tử tồn tại dưới 1 dãy bit mã hóa duy nhất trên Internet

Độ bảo mật an toàn cao

Chi phí giao dịch cực thấp

An toàn và bảo vệ môi trường

Có tiềm năng phát triển thương mại điện tử

- Nhược điểm tiền điện tử:

Bên cạnh những ưu điểm kể trên thì tiền điện tử vẫn còn tồn tại một số nhược điểm Điều này gây không ít khó khăn cho người dùng, đầu tư cũng như công tác quản lý:

Trang 8

7

Sử dụng không quá dễ dàng: Với những người đã quen sử dụng công nghệ thì vấn đề này không quá khó khăn Nhưng đối với những ai ít có cơ hội tiếp xúc với công nghệ thì việc tạo ví tiền điện tử và quản lý lại khá khó khăn Không chừng còn bị lừa đảo 1 cách dễ dàng hơn nữa

Tóm lại, lịch sử tiền tệ trải qua các giai đoạn hình thành và phát triển đã nảy sinh ra tiền

tệ dưới nhiều hình thái khác nhau và mỗi hình thái đều ra đời và tồn tại trên cơ sở kinh tế, xã hội nhất định

1.2 Bản chất và chức năng của tiền tệ

1.2.1 Bản chất của tiền tệ

Câu hỏi nghiên cứu:

Từ những thứ cồng kềnh, nặng nề như gia súc đến các kim loại quý, thậm chí cả những dạng thức hoàn toàn vô hình như tiền điện tử đều đã được dùng làm tiền tệ Vậy, thực chất tiền

tệ là gì mà những vật hoàn toàn khác nhau như vậy đều có thể được sử dụng là tiền tệ?

Tiền tệ là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ Suy cho cùng, về bản chất, tiền tệ là vật ngang giá chung, làm phương tiện để trao đổi hàng hóa, dịch vụ và thanh toán các khoản nợ Tuy nhiên, để có một định nghĩa chính xác về tiền tệ là điều không đơn giản Có thể tham khảo một vài quan điểm:

Quan điểm của K.Marx: Tiền là “hàng hóa đặc biệt” bởi lẽ: Tiền có giá trị sử dụng

đặc biệt (giá trị sử dụng là công dụng có ích của hàng hóa); Tiền tệ thỏa mãn hầu hết nhu cầu của người sở hữu

O1.2 Nhận biết được bản chất của tiền tệ, đồng thời phân tích được các chức năng của tiền tệ đối với nền kinh tế, từ đó thấy được tầm quan trọng

của tiền tệ đối với mọi hoạt động của nền kinh tế - xã hội

Trang 9

8

Quan điểm của P Samuelson: "Tiền là thứ dầu bôi trơn" trong guồng máy luân chuyển

hàng hóa từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng

Quan điểm của M Friedman và các nhà kinh tế học hiện đại:" Tiền là các phương

tiện thanh toán" có thể thực hiện được các chức năng làm trung gian trao đổi, đơn vị tính toán

và có thể tích lũy của cải Tiền tệ ra đời kết quả tất yếu của sự phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại

Như vậy, điểm chung nhất trong các quan điểm trên là dù khác nhau về thời đại nghiên cứu, điều kiện nghiên cứu thì đều chỉ ra rằng tiền tệ là phương tiện thông qua đó con người đạt được mục đích Từ đó, có thể hiểu bản chất của tiền tệ:

Tiền tệ là một loại hàng hóa đặc biệt, đóng vai trò vật ngang giá chung để đo lường giá trị của các hàng hóa khác Hay: Tiền tệ là bất kỳ một phương tiện nào được thừa nhận chung để thanh toán cho việc giao hàng và thanh toán công nợ

Bản chất của tiền tệ được thể hiện rõ qua hai thuộc tính sau:

 Giá trị sử dụng của tiền: Là khả năng thỏa mãn nhu cầu trao đổi của xã hội, nhu cầu

sử dụng là vật trung gian trong trao đổi Như vậy, người ta sẽ chỉ cần nắm giữ tiền khi có nhu cầu trao đổi Giá trị sử dụng của một loại tiền tệ là do xã hội quy định; chừng nào xã hội còn thừa nhận nó thực hiện tốt vai trò tiền tệ (tức là vai trò vật trung gian môi giới trong trao đổi) thì chừng đó giá trị sử dụng của nó với tư cách là tiền tệ còn tồn tại Như vậy, khác với giá trị sử dụng của hàng hóa thông thường (giá trị sử dụng của hàng hóa thông thường là do đặc tính tự nhiên của nó quy định và tồn tại vĩnh viễn cùng với đặc tính tự nhiên đó), giá trị sử dụng của một loại tiền tệ mang tính lịch sử, nó chỉ tồn tại trong những giai đoạn nhất định và hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của xã hội Đây chính là lời giải thích cho sự xuất hiện cũng như biến mất của các dạng tiền tệ trong lịch sử

 Giá trị của tiền: được thể hiện qua khái niệm “sức mua tiền tệ”, đó là khả năng đổi được nhiều hay ít hàng hóa khác trong trao đổi

1.2.2 Chức năng của tiền tệ

Chức năng của tiền tệ được thể hiện ở nhiều quan điểm khác nhau, phần này nhóm tác giả sẽ trình bày hai quan điểm: [1] quan điểm của K.Marx: Tiền tệ có 5 chức năng: Chức năng thước đo giá trị, phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán, phương tiện cất giữ và chức

Trang 10

9

năng tiền tệ thế giới [2] quan điểm kinh tế học hiện đại tiền tệ có 3 chức năng: Chức năng phương tiện trao đổi, thước đo giá trị và chức năng cất giữ giá trị

1.2.2.1 Chức năng của tiền tệ theo quan điểm của K.Marx:

- Chức năng thước đo giá trị (standard of value):

Tiền tệ thực hiện chức năng thước đo giá trị khi tiền tệ đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hóa khác

Chúng ta đo lường các giá trị của hàng hóa và dịch vụ bằng tiền giống như chúng ta đo khối lượng bằng kilogram hoặc đo khoảng cách bằng kilomét Để thấy vì sao chức năng này lại quan trọng, chúng ta nhìn vào nền kinh tế đổi chác, trong đó tiền không thực hiện chức năng này Nếu nền kinh tế chỉ có ba mặt hàng, ví dụ: vải, gạo, muối thì chỉ có ba giá để có thể trao đổi thứ này với thứ khác: giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu kiliogram gạo, giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu kilogram muối và giá của một kilogram gạo tính bằng bao nhiêu kilogram muối Nếu có mười mặt hàng, chúng ta sẽ có 45 giá để trao đổi mặt hàng này với mặt hàng khác, với 100 mặt hàng chúng ta có đến 4950 giá, với 1000 mặt hàng có 499.500 giá

Công thức cho chúng ta biết số giá ta cần khi có N mặt hàng: N(N -1)/2

Hãy tưởng tượng ra sự khó khăn đến thế nào nếu ta đi mua sắm trong một siêu thị với

1000 mặt hàng khác nhau Khi quyết định giá của vật này rẻ hay đắt hơn giá cuả cái kia rất khó khăn vì giá của 1 kilogam gà được đo bằng 5 kilogam thóc, trong khi 1 kilogam cá được định giá băng 3 kilogam cà chua Chắc chắn rằng bạn có thể so sánh giá của tất cả các mặt hàng, bảng giá của một mặt hàng sẽ phải kê ra 999 giá khác nhau và thời gian dung để đọc chúng rất lâu làm cho chi phí giao dịch tăng đáng kể

Giải pháp cho vấn đề này là đưa tiền vào nền kinh tế và dùng tiền để thể hiện giá ch tất

cả các mặt hàng, như vậy chúng ta có thể dễ dàng so sánh được giá gạo, vải hay muối Nếu chỉ

có 3 mặt hàng trong nền kinh tế thì điều này sẽ không có nghĩa lớn so với nền kinh tế đổi chác

vì chúng ta chỉ có 3 giá khi giao dịch Tuy nhiên, với số lượng hàng hóa lớn hơn thì tầm quan trọng của tiền lúc này sẽ rất lớn, với 10 mặt hàng bây giờ chúng ta chỉ cần 10 giá, 100 mặt hàng chỉ cần 100 giá Tại siêu thị có 1000 mặt hàng thì nay chỉ cần 1000 giá để xem chứ không phải 499.500 giá

Trang 11

K.Marx đã cho rằng để thực hiện chức năng thước đo giá trị, tiền tệ phải là tiền thực – tiền có đủ giá trị nội tại Để đo lường và biểu hiện giá trị các hàng hóa, có thể sử dụng tiền trong niệm và cần phải có tiêu chuẩn giá cả, tiêu chuẩn giá cả là đơn vị đo lường tiền tệ của mỗi quốc gia bao gồm hai yếu tố: tên gọi của đơn vị tiền tệ và hàm lượng kim loại trong một đơn vị tiền

tệ

Với việc đảm nhận chức năng thước đo giá trị, tiền tệ đã giúp cho mọi việc tính toán trong nền kinh tế trở nên đơn giản như tính GNP, thu nhập, thuế khóa, chi phí sản xuất, vay nợ, trả nợ, giá trị hàng hóa, dịch vụ…

- Chức năng phương tiện lưu thông

Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hóa Để làm chức năng lưu thông hàng hóa đòi hỏi phải có tiền mặt Trao đổi hàng hóa lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hóa

Công thức lưu thông hàng hóa là: H - T - H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hóa

đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian và không gian Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảng kinh tế

Trang 12

11

Trong lưu thông, lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng thỏi, bạc nén Dần dần nó được thay thế bằng tiền đúc Trong quá trình lưu thông, tiền đúc bị hao mòn dần và mất một phần giá trị của nó Nhưng nó vẫn được xã hội chấp nhận như tiền đúc đủ giá trị

Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó Sở dĩ có tình trạng này

vì tiền làm phương lện lưu thông chỉ đóng vai trò chốc lát Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có

đủ giá trị Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giám bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy Nhà nước có thể in tiền giấy ném vào lưu thông Nhưng

vì bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là ký hiệu của nén vàng, nên nhà nước không thể tùy ý in bao nhiêu tiền giấy cũng được, mà phải tuân theo quy luật lưu thông tiền giấy Quy luật

đó là: "việc phát hành tiền giấy phải được giới hạn trong số lượng vàng (hay bạc) do tiền giấy

đó tượng trưng, lẽ ra phải lưu thông thực sự" Khi khối lượng tiền giấy do nhà nước phát hành

và lưu thông vượt quá khối lượng tiền cần cho lưu thông, thì giá trị của tiền tệ sẽ bị giảm xuống, tình trạng lạm phát sẽ xuất hiện

- Chức năng phương tiện thanh toán (standard of deferred payment):

Quá trình lưu thông hàng hóa phát triển, ngoài quan hệ hàng hóa-tiền tệ, còn phát sinh những nhu cầu vay mượn, thuế khóa, nộp địa tô…bằng tiền Trong những trường hợp này, tiền

tệ chấp nhận chức năng thanh toán

Như vậy, khi thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, tiền tệ không còn là môi giới của trao đổi hàng hóa, mà là khâu bổ sung cho quá trình trao đổi, tức là tiền tệ vận động tách rời

sự vận động của hàng hóa

Tiền tệ khi thực hiện chức năng làm phương tiện chi trả đã tạo ra khả năng làm cho số lượng tiền mặt cần thiết cho lưu thông giảm đi tương đối vì sự mua bán chịu, thực hiện thanh toán bù trừ lẫn nhau

Muốn được chấp nhận làm phương tiện thanh toán, tiền tệ phải có sức mua ổn định, tương đối bền vững theo thời gian, chính sức mua ổn định đã tạo cho người ta niềm tin và sự tín nhiệm tiền tệ

- Chức năng phương tiện tích lũy (store of value or store of purchasing power):

Trang 13

Khi tiền tệ xuất hiện, người ta dần dần thay thế tích lũy dưới hình thái hiện vật bằng hình thái tích lũy dưới dạng tiền tệ Hình thái này có nhiều ưu điểm, điểm nổi bật là dễ lưu thông và thanh khoản Tuy nhiên, tích lũy dưới hình thái tiền tệ có nhược điểm là có thể dễ mất giá khi nền kinh tế có lạm phát Do vậy, để tiền tệ thực hiện được chức năng phương tiện tích lũy đòi hỏi hệ thống tiền tệ quốc gia phải đảm bảo được sức mua

- Chức năng tiền tệ thế giới (world currency)

Tiền tệ thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền tệ thực hiện bốn chức năng thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy ở phạm vi ngoài quốc gia, nói cách khác là đồng tiền của một nước thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền của quốc gia đó được nhiều nước trên thế giới tin dùng và sử dụng như chính đồng tiền của nước họ

Tóm lại, điều kiện quan trọng nhất để cho một vật được sử dụng làm tiền tệ thực hiện các chức năng: thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy, tiền tệ thế giới là chúng phải có sức mua ổn định, bền vững, tạo được niềm tin và sự tín nhiệm của dân chúng

1.2.2.2 Chức năng của tiền tệ theo quan điểm của kinh tế học hiện đại:

Ngày nay, với sự đa dạng về hình thức tiền tệ được sử dụng trong điều kiện kinh tế hiện nay, hầu hết các nhà kinh tế học hiện đại đều thống nhất với nhau ở 3 chức năng cơ bản của tiền

tệ, đó là chức năng phương tiện trao đổi, chức năng thước đo giá trị và chức năng phương tiện tích lũy giá trị

- Chức năng phương tiện trao đổi (Medium of Exchange):

Trong nền kinh tế trao đổi sản phẩm trực tiếp, người ta phải tiến hành đồng thời hai giao dịch bán và mua trong cùng một thời điểm Điều này thực hiện được trong điều kiện có ít người tham gia trao đổi, người mua và người bán phù hợp về sản phẩm trao đổi Trong điều kiện nền kinh tế phát triển, việc tìm kiếm nhu cầu phù hợp về sản phẩm trao đổi là rất khó khăn và tốn kém quá nhiều chi phí Vì vậy người ta cần sử dụng tiền làm môi giới trung gian trong quá trình

Trang 14

13

này, tức là trước hết người ta trao đổi hàng hoá của mình lấy tiền sau đó dùng tiền mua thứ hàng hoá mình cần Giá cả hàng hóa được xác định trước khi diễn ra trao đổi hàng hóa Chỉ sau khi giá cả được biểu hiện thành tiền mặt từ người mua sang người bán thì hàng hóa mới từ tay người bán chuyển sang cho người mua, lúc đó tiền tệ thực hiện chức năng trao đổi và mới thực hiện đầy đủ vai trò vật ngang giá chung

Hình thức trao đổi này có những tiến bộ sau đây:

Thứ nhất, quá trình trao đổi hàng hoá được tách thành hai giai đoạn riêng biệt là bán và mua Giai đoạn H-T là giai đoạn bán hàng, chuyển giá trị của hàng hoá thành tiền Đây là giai đoạn quan trọng và khó khăn nhất đối với nhà sản xuất kinh doanh, vì sự chuyển hoá từ hình thái sản phẩm hàng hoá thành hình thái tiền tệ sẽ cho thấy lao động của người sản xuất được xã hội thừa nhận, đó là vấn đề sống còn của doanh nghiệp Giai đoạn H-T là giai đoạn mua hàng, thông thường giai đoạn này được tiến hành dễ dàng Hai giai đoạn này được tiến hành độc lập tương đối với nhau, dẫn đến phương tiện làm trung gian trao đổi lại trở thành mục tiêu trong các cuộc trao đổi và được mọi người sùng bái Chính sức mua đồng tiền quyết định điều này

Thứ hai, hành vi mua và bán có thể tách rời về không gian và thời gian Người sản xuất hàng hoá có thể bán ở chỗ này và mua ở chỗ khác, bán lúc này và mua lúc khác một cách chủ động và linh hoạt

Như vậy, thực hiện chức năng phương tiện trao đổi, tiền tệ đã góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch, đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hoá

Để thực hiện chức năng phương tiện trao đổi tiền tệ phải có những điều kiện nhất định:

- Phải được chấp nhận rộng rãi trong các giao dịch, thanh toán:

Khi thực hiện chức năng phương tiện trao đổi, tiền tệ chỉ đóng vai trò môi giới giúp cho việc trao đổi thực hiện được dễ dàng Tiền tệ được xem là phương tiện chứ không phải là mục đích của trao đổi Vì vậy, tiền tệ thực hiện chức năng trao đổi không nhất thiết phải là tiền tệ có đầy đủ giá trị (như tiền vàng) Tiền tệ dưới dạng tiền dấu hiệu (như tiền giấy) đã được xã hội chấp nhận vẫn có thể phát huy được chức năng phương tiện trao đổi Như vậy, có thể sử dụng tiền dấu hiệu trong trao đổi, mục đích của bán hàng không phải để trở thành người sở hữu tiền

tệ vĩnh viễn mà là để thực hiện việc mua bán hàng hoá, đạt đến một giá trị sử dụng mới Tiền tệ lúc này chỉ là môi giới trung gian, không phải là mục đích của trao đổi Do đó, thực hiện chức

Trang 15

Trong trao đổi chỉ chấp nhận một lượng tiền nhất định, muốn tiền tệ thực hiện tốt chức năng phương tiện trao đổi đòi hỏi hệ thống tiền tệ mỗi quốc gia phải sức mua ổn định, số lượng tiền tệ để thực hiện các quan hệ trao đổi phải đủ liều lượng để đáp ứng nhu cầu trao đổi của mọi hoạt động kinh tế Điều này có nghĩa là lượng tiền đưa vào lưu thông phải phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế, nếu yêu cầu này không thỏa mãn sẽ gây khó khăn cho sản xuất và lưu thông hàng hoá

Việc dùng tiền tệ làm phương tiện trao đổi đã giúp đẩy mạnh hiệu quả của nền kinh tế qua việc khắc phục những hạn chế của trao đổi hàng hóa trực tiếp, đó là những hạn chế về nhu cầu trao đổi (chỉ có thể trao đổi giữa những người có nhu cầu phù hợp), hạn chế về thời gian (việc mua và bán phải diễn ra đồng thời), hạn chế về không gian (việc mua và bán phải diễn ra tại cùng một địa điểm) Bằng việc sử dụng tiền như là một phương tiện trao đổi, con người đã tránh được những chi phí về thời gian và công sức dành cho việc trao đổi hàng hóa (chúng ta chỉ cần bán hàng hóa của mình lấy tiền rồi sau đó có thể mua những hàng hóa mà mình muốn bất kỳ lúc nào và ở đâu) Nhờ đó, việc lưu thông hàng hóa có thể diễn ra nhanh hơn, sản xuất cũng được thuận lợi hơn, tránh được ách tắc, tạo động lực cho nền kinh tế phát triển Ngày nay, khi nền sản xuất hàng hoá phát triển ở mức độ cao thì tiền mặt ít được sử dụng trong trao đổi

mà thay vào đó là các công cụ thanh toán – tín dụng của hệ thống ngân hàng Với chức năng này, tiền tệ được ví như là chất dầu nhờn bôi trơn giúp cho guồng máy sản xuất và lưu thông hàng hóa hoạt động trơn tru, dễ dàng

1.2 Khối tiền tệ và chế độ tiền tệ

O1.3 Phân biệt được các khối tiền tệ theo quan niệm được nhiều nhà kinh tế thừa nhận và trình bày được các hình thức tổ chức lưu thông tiền

tệ qua các chế độ tiền tệ

Trang 16

15

1.3.1 Khối tiền tệ

Các khối tiền trong lưu thông tập hợp các phương tiện được sử dụng chung làm phương tiện trao đổi, được phân chia tùy theo “độ lỏng” của các phương tiện đó trong những khoảng thời gian nhất định của một quốc gia Độ lỏng của một phương tiện trao đổi được hiểu là khả năng chuyển đổi từ phương tiện đó ra hàng hóa, dịch vụ; tức là phạm vi và mức độ có thể sử dụng những phương tiện đó trong việc thanh toán chi trả

Trang 17

16

Từ khi phát hiện ra bạc và vàng, bạc và vàng đã được đúc thành tiền theo một hình dáng

và trọng lượng nhất định và cho lưu hành trong nước như là đồng tiền chính thức, hợp pháp và

có hiệu lực thanh toán vô hạn trên phạm vi lãnh thổ quốc gia Nước nào dùng bạc làm bản vị thì gọi là chế độ đơn bản vị bạc, nước nào dùng vàng làm bản vị thì gọi là chế độ đơn bản vị vàng

1.3.2.2 Chế độ song bản vị

Chế độ song bản vị là chế độ tiền tệ trong đó cả bạc và vàng đều được sử dụng làm tiền

tệ lưu hành song song nhau và cả hai đều có giá trị thanh toán theo một tương quan do nhà nước

ấn định

Chế độ song bản vị dẫn đến những xáo trộn trong đời sống kinh tế và lưu thông tiền tệ

do nạn đầu cơ tiền vàng hay tiền bạc tùy theo sự thăng trầm của giá bạc và giá vàng trên thị trường Ví dụ nếu giá vàng trên thị trường cao hơn so với chính thức thì người ta có xu hướng tích lũy tiền vàng và đưa tiền bạc vào lưu thông thay thế cho tiền vàng Điều đó đưa đến kết quả chỉ có tiền bạc xuất hiện trong lưu thông trong khi tiền vàng dần dần biến mất khỏi lưu thông

1.3.2.4 Chế độ lưu thông tiền giấy (tiền dấu hiệu)

Chế độ lưu thông tiền giấy (tiền dấu hiệu) là đặc trưng cơ bản của lưu thông tiền tệ trong giai đoạn phát triển sau này của Chủ nghĩa tư bản

Việc lưu thông tiền giấy bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau, ứng với mỗi hình thái kinh tế xã hội khác nhau: Trong chế độ phong kiến, việc lưu thông tiền giấy tạo ra thu nhập cho việc in tiền và phát hành tiền và tập trung kim loại để phục vụ cho quyền lợi của bộ máy tập quyền Trong giai đoạn phát triển Chủ nghĩa tư bản, do nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh phát sinh tình trạng khan hiếm tiền kim loại, mặt khác sử dụng kim loại trong lưu thông còn bị hao mòn, biến chất Khi hệ thống ngân hàng thương mại đã phát triển tạo điều kiện cho sự ra đời các công cụ lưu thông tín dụng

Trang 18

17

1.4 Cung - cầu tiền tệ

1.4.1 Lý thuyết về cầu tiền tệ:

Tiền tệ là sản phẩm tất yếu của sản xuất hàng hóa, còn sản xuất hàng hóa thì nhu cầu về tiền tệ là sự cần thiết mang tính chất khách quan Trong thời đại ngày nay với nền kinh tế tiền

tệ đang phát triển mạnh mẽ thì một thực tế khách quan là hầu hết giao dịch giữa các cá nhân hoặc các tổ chức đều được giải quyết bằng tiền Do vậy nhu cầu về tiền tệ và việc sử dụng tiền

có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống kinh tế - xã hội Nhìn chung, người ta muốn có tiền không phải vì bản thân nó mà vì nó có thể sử dụng để mua hàng hóa, dịch vụ hoặc các tài sản khác Vì vậy, các nhà kinh tế coi nhu cầu về tiền là nhu cầu phái sinh, tức là nhu cầu sinh ra từ nhu cầu khác

Như vậy, cầu tiền là lượng tiền mà các chủ thể trong nền kinh tế muốn nắm giữ Theo John Maynard Keynes, có ba động cơ làm cho mỗi chúng ta muốn nắm giữ tiền: Động cơ giao dịch, động cơ đầu tư/đầu cơ và động cơ dự phòng

Các lý thuyết về cầu tiền tệ

(1) Quy luật lưu thông tiền tệ của K.Marx:

Số lượng tiền cần thiết trong lưu thông phụ thuộc vào tổng giá cả hàng hóa và tốc độ lưu thông tiền tệ, thể hiện qua công thức:

V

H

Kc

– Kc: Là khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông

– H: Là tổng giá cả hàng hóa lưu thông

– V: Là vòng quay của tiền tệ (số vòng lưu thông của tiền tệ trong một thời gian nhất định)

O1.4 Hiểu được các lý thuyết về cầu tiền tệ và biết được các kênh cung

ứng tiền tệ trong nền kinh tế

Trang 19

(2) Thuyết số lượng tiền tệ của Ivring Fisher (Quantity theory of money):

Học thuyết này được đề xướng ra trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 Nó được trình bày rõ

nhất bởi nhà kinh tế Mỹ Irving Fisher (1887 - 1947) trong cuốn sách nổi tiếng của ông - "Sức mua tiền tệ" xuất bản năm 1911

Học thuyết này đã chỉ ra mối liên hệ giữa tổng lượng tiền lưu hành (M) với tổng số chi tiêu để mua hàng hoá thành phẩm và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế (PY - trong đó

P là mức giá cả, Y là tổng sản phẩm) bằng phương trình trao đổi: MV = PY, với V là tốc độ chu chuyển của tiền tệ (tức là số lần trung bình một năm mà một đơn vị tiền tệ được chi dùng để mua tổng số hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế vào năm đó)

Theo Irving Fisher, tốc độ V phụ thuộc vào phương thức thanh toán (dùng tiền mặt, hay dùng tiền tín dụng, hay ghi sổ nợ v.v ) sử dụng trong các giao dịch Thói quen thanh toán này thay đổi một cách chậm chạp qua thời gian cho nên tốc độ V thông thường sẽ ổn định trong thời gian ngắn Mặt khác, các nhà kinh tế cổ điển (bao gồm cả Irving Fisher) cho rằng tiền lương và giá cả là hoàn toàn linh hoạt nên mức tổng sản phẩm được sản xuất ra (Y) thường ở mức công

ăn việc làm đầy đủ (mức sản lượng tiềm năng) cho nên có thể coi Y là không thay đổi trong thời gian ngắn Kết quả là khi khối lượng tiền lưu hành (M) tăng lên, vì Y và V không thay đổi, nên mức giá (P) cũng tăng lên với tỷ lệ tương ứng Như vậy, theo học thuyết số lượng tiền tệ cổ điển

thì những sự vận động trong mức giá cả chỉ là kết quả của những thay đổi trong số lượng tiền

tệ

Vì học thuyết số lượng tiền tệ cho chúng ta biết bao nhiêu tiền được nắm giữ đối với một mức tổng thu nhập đã cho, cho nên thực ra nó là một học thuyết về cầu tiền tệ Ta có thể viết lại phương trình trao đổi như sau:

M = 1/V × P

Trang 20

Phương trình này cho thấy mức các giao dịch tạo ra bởi một mức cố định của thu nhập

danh nghĩa (PY) xác định mức cầu tiền tệ (M d ) Như vậy, học thuyết số lượng tiền tệ của Fisher nêu lên rằng mức cầu tiền tệ thuần tuý là một hàm số của thu nhập và do vậy lãi suất không có ảnh hưởng đến cầu về tiền tệ Fisher đi đến kết luận đó vì ông tin rằng các chủ thể kinh tế giữ

tiền chỉ để tiến hành các giao dịch và không được tự do quyết định số lượng tiền tệ muốn nắm giữ

(3) Học thuyết số lượng tiền tệ hiện đại của M.Friedman

Năm 1956 Milton Friedman đã phát triển học thuyết về cầu tiền tệ trong bài báo nổi tiếng

“Học thuyết số lượng tiền tệ: Một sự xác nhận lại” Friedman cho rằng cầu tiền tệ phải bị ảnh hưởng bởi cùng các nhân tố ảnh hưởng đến cầu của bất kỳ tài sản nào Vì vậy cầu tiền tệ phải là một hàm số của những tài nguyên được sẵn sàng sử dụng cho các cá nhân (tức là của cải của họ)

và của lợi tức dự tính về các tài sản khác so với lợi tức dự tính về tiền

Trang 21

20

Theo Friedman, việc chi tiêu được quyết định bởi thu nhập thường xuyên tức là thu nhập bình quân mà người ta dự tính sẽ nhận được trong thời gian dài Thu nhập thường xuyên ít biến động, bởi vì nhiều sự biến động của thu nhập là tạm thời trong thời gian ngắn Vì vậy cầu tiền

tệ sẽ không bị biến động nhiều cùng với sự chuyển động của chu kỳ kinh doanh Một cá nhân

có thể giữ của cải dưới nhiều hình thức ngoài tiền, Friedman xắp xếp chúng thành 3 loại: trái khoán, cổ phiếu (cổ phiếu thường) và hàng hoá Những động lực thúc đẩy việc giữ những tài sản đó hơn là giữ tiền thể hiện bằng lợi tức dự tính về mỗi một tài sản đó so với lợi tức dự tính

về tiền Lợi tức về tiền bị ảnh hưởng bởi hai nhân tố:

- Các dịch vụ ngân hàng cung cấp đi kèm với các khoản tiền gửi nằm trong cung tiền tệ, khi các dịch vụ này tăng lên, lợi tức dự tính về tiền tăng

- Tiền lãi trả cho các khoản tiền gửi nằm trong cung tiền tệ

Trang 22

21

Trong học thuyết của mình, Friedman thừa nhận rằng có nhiều cái chứ không phải chỉ có lãi xuất là quan trọng của nền kinh tế tổng hợp Hơn nữa, Friedman không coi lợi tức dự tính về tiền là một hằng số Khi lãi suất tăng lên trong nền kinh tế, các ngân hàng thu được nhiều lợi nhuận cho vay hơn và do vậy các ngân hàng có thể trả lãi cao hơn cho các khoản tiền gửi giao dịch hoặc nâng cao chất lượng các dịch vụ cung cấp cho khách hàng tức là lợi tức dự tính về tiền sẽ tăng lên, như vậy sẽ tương đối ổn định khi lãi xuất thay đổi, tức là theo Friedman những thay đổi của lãi xuất sẽ có ít tác dụng đến cầu tiền tệ

Từ những phân tích đó, hàm số cầu tiền tệ của Friedman chủ yếu là một hàm số trong đó thu nhập thường xuyên là yếu tố quyết định đầu tiên của cầu tiền tệ và phương trình cầu tiền tệ của ông có thể được tính gần với:

Theo quan điểm của Friedman, cầu tiền tệ không nhạy cảm với lãi suất vì những thay đổi của lãi suất ít có tác dụng đến lợi tức dự tính tương đối của những tài sản khác so với tiền, cùng với sự ít biến động của thu nhập thường xuyên, cầu tiền tệ sẽ tương đối ổn định và có thể dự đoán được bằng hàm số cầu tiền tệ Và như vậy tốc độ (V) có thể dự đoán được tương đối chính xác theo phương trình cầu tiền tệ viết lại:

Nếu tốc độ có thể dự đoán được, thì một sự thay đổi trong mức cung tiền tệ sẽ tạo một sự thay đổi dự đoán được trong tổng chi tiêu Do đó học thuyết số lượng tiền tệ của Friedman thực

Trang 23

_ Kênh thị trường hối đoái

Được thực hiện qua sự can thiệp của ngân hàng trung ương tham gia điều tiết giá vàng, ngoại tệ

Vấn đề điều tiết cung ứng tiền của ngân hàng trung ương luôn có quan hệ hữu cơ với điều tiết kinh tế nhằm đạt mục tiêu kinh tế của chính sách tiền tệ phù hợp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

1.5 Lạm phát

O1.5

Trang 24

23

Tình huống

Siêu lạm phát tại Zimbabwe 2000 – 2008 Zim-ba-buê (Zimbabwe) là một nước ở nam trung phi giành được độc lập từ năm 1980 Trong thập kỷ 1980, nền kinh tế tăng trưởng tốt với sản xuất lúa mỳ, thuốc lá Từ năm 1991 – 1996, Zimbabwe đã thực hiện cuộc cải cách kinh tế với việc quốc hữu hóa và phân phối đất đai cho người da đen vào cuối những năm 1990 Chương trình cải cách kinh tế này đã gây những hậu quả kinh tế và xã hội nghiêm trọng đối với nước này GDP giảm 43% trong giai đoạn 2000 – 2007, sản lượng của khu vực sản xuất giảm 47%, sản lượng khai thác vàng thấp nhất kể từ năm 1907, và tỷ lệ thất nghiệp tăng lên tới 80% Thêm vào đó, từ năm 2000, chính phủ nước này đã liên tục in tiền để trả nợ nước ngoài và tài trợ cho việc can thiệp quân sự vào Congo, bao gồm cả việc trả lương cao hơn cho quân đội và quan chức chính phủ Ngân hàng trung ương Zimbabwe đã liên tục in thêm các loại giấy bạc mới với mệnh giá lớn hơn vào lưu thông Điều này đã liên tục đẩy giá cả lên cao Cuối năm 2007, tỷ lệ lạm phát là 66.212% so với cuối năm trước Cuối tháng 6/2008, lạm phát so với cùng kỳ năm trước lên tới 11.268.758% Đỉnh cao của lạm phát là vào giữa tháng 11/2008, với tỷ lệ ước tính lên tới 89.700.000 triệu tỷ % so với cùng thời điểm năm trước đó Giá cả thay đổi vài lần trong ngày, và người dân có tiền phải ngay lập tức đổi ra ngoại tệ (USD hoặc rand – đồng tiền của Nam Phi) nếu không muốn tiền của họ bị mất giá nhanh chóng Trước khi lạm phát lên tới đỉnh điểm, Ngân hàng trung ương Zimbabwe đã thực hiện 2 cuộc đổi tiền Lần đầu vào tháng 8/2006 với tỷ lệ 1.000 Z$ cũ = 1 Z$ mới Lần thứ hai vào tháng 7/2008 với tỷ lệ 10 tỷ Z$ cũ = 1 Z$ mới Kết quả của tình trạng siêu lạm phát là người dân không sử dụng đồng đô la Zimbabwe trong thanh toán mà chuyển sang sử dụng ngoại tệ, trong đó chủ yếu là đôla Mỹ và đồng tiền của Nam Phi

Câu hỏi nghiên cứu:

Trình bày được các khái niệm lạm phát được nhiều nhà kinh tế thừa nhận, phân tích được các nguyên nhân gây ra lạm phát và những

tác động của lạm phát đối với đời sống, kinh tế, chính trị và xã hội của

một quốc gia; trình bay được những biện pháp hữu hiệu nhằm phòng

ngừa và khắc phục lạm phát tức thời và chiến lược đến sự phát triển của

nền kinh tế

Trang 25

24

1 Nguyên nhân cơ bản dẫn tới tình trạng siêu lạm phát ở Zimbabwe là gì?

2 Siêu lạm phát tác động tới hành vi sử dụng tiền của người dân như thế nào?

3 Hậu quả kinh tế tiêu cực của siêu lạm phát là gì?

Nguồn: Bài giảng Đại cương về tài chính tiền tệ Tổ hợp giáo dục Topica – Edutop http://eldata3.neu.topica.vn/FIN101/Giao%20trinh/02_NEU_FIN101_Bai1_v1.0013106203.p

Trường phái lạm phát "cần dư thừa tổng quát" (hay “cầu kéo") mà đại diện là J.Keynes cho rằng Lạm phát là "cầu dư thừa tổng quát cho phát hành tiền ra quá mức sản xuất trong thời

kỳ toàn dụng dẫn đến mức giá chung tăng Chúng ta nhận thức được rằng nói lạm phát là "cầu

dư thừa tổng quát" là không chính xác, vì trong giai đoạn khủng hoảng ở thời kỳ CNTB phát triển mặc dù có khủng hoảng sản xuất thừa mà không có lạm phát Còn ở Việt Nam trong năm

1991 có tình trạng cung lớn hơn cầu mà vẫn có lạm phát giá cả và lạm phát tiền tệ Tuy Keynes

đã tiến sâu hơn trường phái lạm phát lưu thông tiền tệ là không lấy hiện tượng bề ngoài, không coi điều kiện của lạm phát là nguyên nhân của lạm phát nhưng lại mắc sai lầm về mặt logíc là đem kết quả của lạm phát quy vào bản chất của lạm phát Khái niệm của Keynes vẫn chưa nên được đúng bản chất kinh tế - xã hội của lạm phát

Trường phái lạm phát giá cả họ cho rằng lạm phát là sự tăng giá Thực chất lạm phát chỉ

là một trong nhiều nguyên nhân của tăng giá Có những thời kỳ giá mà không có lạm phát như: thời kỳ "cách mạng giá cả" ở thế kỷ XVI ở châu Âu, thời kỳ hưng thịnh của một chu kỳ sản

Trang 26

25

xuất, những năm mất mùa tăng giá chỉ là hệ quả là một tín hiệu dễ thấy của lạm phát nhưng

có lúc tăng giá lại trở thành nguyên nhân của lạm phát Lạm phát xảy ra là do tăng nhiều cái chứ không phải chỉ đơn thuần do tăng giá Vì vậy quan điểm của trường phái này đã lẫn lộn giữa hiện tượng và bản chất, làm cho người ta dễ ngộ nhận giữa tăng giá và lạm phát

K.Marx đã cho rằng "lạm phát là sự tràn đầy các kênh, các luồng lưu thông những tờ giấy bạc thừa làm cho giá cả (mức giá) tăng vọt và việc phân phối lại sản phẩm xã hội giữa các giai cấp trong dân cư có lợi cho giai cấp tư sản Ở đây Marx đã đứng trên góc độ giai cấp để nhìn nhận lạm phát, dẫn tới người ta có thể hiểu lạm phát là do nhà nước do giai cấp tư bản, để bóc lột một lần nữa giai cấp vô sản Quan điểm này có thể xếp vào quan điểm lạm phát "lưu thông tiền tệ" song định nghĩa này hoàn hảo hơn vì nó đề cấp tới bản chất kinh tế - xã hội của lạm phát Tuy nhiên nó có nhược điểm là cho rằng lạm phát chỉ là phạm trù kinh tế của nền kinh tế

tư bản chủ nghĩa và chưa nêu được ảnh hưởng của lạm phát trên phạm vi quốc tế

Việc nhìn nhận lạm phát bằng định nghĩa này hay định nghĩa khác khó đi đến thống nhất Tuy nhiên dù sao lạm phát thể hiện qua những đặc trưng cơ bản như sau:

_ Sự thừa tiền do cung cấp tiền tệ tăng quá mức

_ Sự tăng giá cả đồng bộ và liên tục theo sự mất giá của tiền giấy

_ Sự phân phối lại qua giá cả

Trang 27

26

1.5.2.2 Lạm phát phi mã

Lạm phát phi mã là loại lạm phát hai hay ba con số trong vòng một năm Với mức lạm phát này, mức độ tăng giá gây tác hại nghiêm trọng đối với nền kinh tế, thể hiện bằng đồng tiền mất giá một cách nhanh chóng Trong trường hợp này người dân tránh giữ tiền mặt mà muốn bảo tồn của cải dưới dạng phi tiền tệ

1.5.2.3 Siêu lạm phát

Siêu lạm phát là loại lạm phát với tốc độ tăng giá trên ba con số trong vòng một năm Đồng tiền bị mất giá đến mức chóng mặt Dân chúng chìm ngập trong khối tiền để tìm kiếm một chút ít hàng hóa vì hàng hóa đều hết sức khan hiếm Trong trường hợp này, chức năng quan trọng đầu tiên của tiền là làm phương tiện trao đổi bị triệt tiêu Tiền có sẳn nhưng không mua được hàng hóa vì không ai muốn bán hàng hóa để đổi lấy những đồng tiền bị mất giá quá mức

1.5.3 Nguyên nhân lạm phát

Lạm phát xuất phát từ những nguyên nhân chủ yếu sau:

_ Nền kinh tế quốc dân bị mất cân đối, sản xuất sút kém, ngân sách quốc gia bị thâm hụt Đây được coi là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, nói cách khác sự khủng hoảng về kinh tế

và tài chính của một quốc gia là nguyên nhân cơ bản và sâu xa đưa đến lạm phát

_ Gắn liền với bội chi ngân sách là bộc phát tiền mặt, cung tiền tệ tăng trưởng quá mức cũng là nguyên nhân trực tiếp của lạm phát

_ Hệ thống chính trị bị khủng hoảng do những tác động bên trong và bên ngoài làm cho lòng tin của dân chúng vào chế độ tiền tệ của Nhà nước giảm dần, từ đó làm cho uy tín và sức mua của đồng tiền bị giảm sút

_ Lạm phát còn xuất phát từ nguyên nhân chủ quan, đó là việc nhà nước chủ động sử dụng lạm phát như là một công cụ để thực thi chính sách kinh tế của Nhà nước

1.5.4 Hậu quả của lạm phát

Ngoại trừ trường hợp lạm phát vừa phải có tác động tích cực đến sự phát triển của nền kinh tế, còn lại nói chung lạm phát đều ảnh hưởng xấu đến quá trình phát triển đi lên của nền kinh tế - xã hội

_ Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh

Trang 28

27

Khi có lạm phát, giá cả vật tư hàng hóa, nguyên liệu tăng làm cho việc sản xuất kinh doanh giảm sút, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, làm tăng tình trạng phát triển không đều, mất cân đối giữa các ngành

_ Trong lĩnh vực lưu thông buôn bán

Giá cả hàng hóa tăng dẫn đến tình trạng đầu cơ tích trữ hàng hóa, làm cho quan hệ cung

- cầu hàng hóa bị mất cân đối giả tạo, lĩnh vực lưu thông bị rối loạn

_ Trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng

Lạm phát làm cho sức mua đồng tiền giảm, lưu thông tiền tệ diễn biến khác thường Hoạt động của ngân hàng rơi vào tình trạng khủng hoảng do nguồn tiền gửi trong xã hội bị giảm sút nghiêm trọng làm nhiều ngân hàng bị mất khả năng thanh toán và thua lỗ trong kinh doanh Điều này làm cho hệ thống tiền tệ bị rối loạn và không kiểm soát được

_ Trong lĩnh vực tài chính nhà nước

Mặc dù lúc đầu lạm phát mang lại thu nhập cho Ngân sách nhà nước qua cơ chế phân phối lại và cơ chế phát hành, nhưng do ảnh hưởng nặng nề của lạm phát, những nguồn thu của ngân sách nhà nước mà chủ yếu là thuế ngày càng giảm (do hiệu quả kinh doanh bị giảm sút)

Có thể nói, hậu quả của lạm phát là rất nặng nề và nghiêm trọng Lạm phát gây hậu quả đến toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội Lạm phát dẫn đến việc phân phối lại sản phẩm và thu nhập quốc dân, khiến quá trình phân hóa giàu nghèo càng nghiêm trọng hơn Bên cạnh đó, lạm phát làm cho một nhóm người này thu được lộc lớn còn nhóm khác bị thiệt hại nặng nề Suy cho cùng, gánh nặng của lạm phát lại đè lên vai người lao động

Trang 29

28

+ Không phát hành tiền bù đắp bội chi ngân sách nhà nước

+ Ngân hàng trung ương bán các chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, bán ngoại

tệ, và phát hành các công cụ nợ của chính phủ để vay tiền trong nền kinh tế nhằm bù đắp bội chi ngân sách nhà nước

+ Tăng lãi suất tiền gửi, đặc biệt là lãi suất tiết kiệm

_ Thực hiện chính sách tài chính thắt chặt như

+ Cắt giảm chi tiêu đến mức có thể

+ Tạm hoãn các khoản chi chưa cần thiết

+ Áp dụng các biện pháp cân đối lại thu chi ngân sách nhà nước

_ Tăng quỹ hàng hóa tiêu dùng để cân đối với số lượng tiền có trong lưu thông bằng cách + Giảm thuế quan kích thích sản xuất

+ Khuyến khích tự do mậu dịch

+ Biện pháp thu hút hàng hóa từ nước ngoài vào

_ Vay, xin viện trợ từ nước ngoài

_ Cải cách tiền tệ

1.5.5.2 Biện pháp chiến lược

_ Thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa và mở rộng lưu thông hàng hóa

_ Kiện toàn bộ máy hành chính, cắt giảm biên chế quản lý hành chính nhằm giảm chi thường xuyên của ngân sách nhà nước, góp phần hạn chế tình trạng bội chi ngân sách nhà nước

_ Tăng cường quản lý công tác điều hành ngân sách nhà nước nhằm tăng thu ngân sách nhà nước, hạn chế thất thu ngân sách nhà nước, nâng cao hiệu quả các khoản chi ngân sách nhà nước

Trang 30

3 Tiền tệ tiến hóa qua rất nhiều hình thái: từ những hình thái thô sơ ban đầu cho đến những hình thái hiện đại như ngày nay Đó là các hình thái: hóa tệ, tín tệ, bút tệ (tiền ghi sổ) và tiền điện tử

4 Các khối tiền trong lưu thông tập hợp các phương tiện được sử dụng chung làm phương tiện trao đổi, được phân chia tùy theo “độ lỏng” của các phương tiện đó trong những khoảng thời gian nhất định của một quốc gia Có 4 khối tiền tề đó là khối tiền tệ M1, M2, M3, L trong đó M1 nhỏ nhất, L lớn nhất

5 Chế độ tiền tệ là hình thức tổ chức lưu thông tiền tệ của một nước, được xác định bằng luật pháp, dựa trên một cơ sở nhất định gọi là bản vị tiền tệ Có các chế độ tiền tệ sau: Chế độ đơn bản vị bạc và chế độ đơn bản vị vàng, chế độ song bản vị, chế độ bản vị ngoại tệ và chế độ lưu thông tiền giấy (tiền dấu hiệu)

6 Cầu tiền tệ là số lượng tiền tệ mà dân chúng, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước,… cần để thỏa mãn các nhu cầu chi dùng của mình Các loại cầu tiền bao gồm: cầu tiền cho đầu tư, cầu tiền cho tiêu dùng, cầu tiền cho dự phòng Cầu tiền chịu ảnh hưởng bới các nhân tố khác nhau

7 Cung tiền tệ là khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế đảm bảo cho các nhu cầu sản xuất, lưu thông hàng hóa cũng như các nhu cầu chi tiêu khác của nền kinh tế - xã hội Ngân hàng trung ương cung ứng tiền vào lưu thông qua các kênh: kênh tín dụng, kênh thị trường mở, kênh ngân sách, kênh thị trường hối đoái

8 Đến nay có nhiều quan điểm khác nhau về định nghĩa đúng cho lạm phát cũng như những tác động do lạm phát mang lại Có quan điểm cho rằng lạm phát là sự tăng lên liên tục của giá cả

Có quan điểm cho rằng lạm phát là việc phát hành tiền giấy vượt quá mức đảm bảo bằng vàng, bạc, ngoại tệ… của quốc gia vì vậy gây ra sự mất giá của tiền giấy làm cho giá cả hàng hóa bị đẩy lên cao Có quan điểm cho rằng lạm phát là sự mất cân đối nghiêm trọng giữa tiền và hàng trong nền kinh tế, sự mất cân đối tiền lớn hơn vàng khiến cho giá cả tăng lên ở mọi lúc mọi nơi

Trang 32

CÂU HỎI ÔN TẬP

I PHẦN TỰ LUẬN

1 Trình bày sự ra đời và bản chất của tiền tệ Liên hệ lịch sử ra đời tiền tệ Việt Nam?

2 Hãy chứng minh rằng tiền tệ ra đời gắn liền với sự phát triển và lưu thông hàng hóa

3 Trình bày các chức năng của tiền tệ Tại sao có sự khác biệt chức năng của tiền tệ theo quan điểm của K.Marx và quan điểm của kinh tế học hiện đại? Sự khác biệt này có dẫn đến mâu thuẫn không?

4 Động lực nào thúc đẩy sự phát triển của các hình thái tiền tệ?

5 Trình bày các khối tiền tệ và chế độ tiền tệ

6 Tìm hiểu vấn đề lạm phát của Việt Nam?

7 Tại sao trong quá trình phát triển của các hình thái tiền tệ, có thời điểm người ta lại

sử dụng chế độ song bản vị trong lưu thông mà lại không sử dụng chế độ bản vị tiền vàng khi đó?

8 Vai trò của tiền trong nền kinh tế hiện nay? Ý nghĩa của việc nghiên cứu tiền tệ đối với sự lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế của mỗi quốc gia?

9 Có nhận định cho rằng “Bitcoin không là đồng tiền ảo vì tiền ảo không có thực và

không có giá trị” Bạn hãy bình luận về nhận định trên?

10 Thế nào là tự do chuyển đổi ra vàng? Theo bạn hiện nay 1 người đến ngân hàng hoặc tiệm vàng để mua vàng có được coi là tự do chuyển đổi ra vàng không? Tại sao?

II PHẦN TRẮC NGHIỆM

Câu 1: Tiền tệ xuất hiện trong cuộc sống con người vì

A Trao đổi hiện vật được thực hiện dựa trên trung gian trao đổi

B Trao đổi hiện vật diễn ra do phân công lao động ngày càng sâu sắc

C Trao đổi hiện vật diễn ra khó khăn do phân công lao động ngày càng sâu sắc

D Trao đổi hiện vật không cần đến sự trùng khít của các nhu cầu

Câu 2: Chọn câu trả lời đúng trong các câu sau đây:

A Trao đổi hiện vật là quá trình trao đổi hàng hoá trực tiếp

B Trao đổi hiện vật là quá trình trao đổi hàng hoá gián tiếp

C Trao đổi hiện vật là quá trình trao đổi hàng lấy hàng không dựa trên sự trùng khít của các nhu cầu

D Trao đổi hiện vật diễn ra một cách không riêng lẻ

Trang 33

Câu 3: Để một hàng hoá có thể trở thành tiền, hàng hoá đó phải:

A Do chính phủ sản xuất ra

B Được chấp nhận rộng rãi làm phương tiện thanh toán

C Được đảm bảo bằng vàng hoặc bạc

D B và C đều đúng

Câu 4: Tiền kim loại, tiền hàng hóa, tiền giấy có điểm chung là:

A Có giá trị nội tại

B Không có giá trị nội tại

C Thực hiện chức năng trao đổi

D Có chức năng tiền tệ thế giới

Câu 5: Ví dụ nào sau đây thể hiện chức năng phương tiện trao đổi của tiền

A Sử dụng tiền mua chứng khoán

B Sử dụng tiền mua vàng

C Sử dụng tiền mua hàng hóa

D Tất cả các câu trên đều đúng

Câu 6: Chế độ song bản vị có đặc điểm nào sau đây:

A Nhà nước quy định hai đơn vị tiền tệ cùng tồn tại song song

B Nhà nước quy định hai kim loại là cơ sở cho việc định nghĩa đơn vị tiền tệ

C Cả tiền giấy lẫn tiền kim loại cùng lưu thông trong một nước

D Cả nội tệ lẫn ngoại tệ cùng lưu thông trong một nước

Câu 7: Chọn câu trả lời đúng:

A M1 và M2 là khối tiền giao dịch

B M1 là khối tiền mở rộng

C M2 là khối tiền giao dịch

D M1 là khối tiền giao dịch

Câu 8: Chọn câu trả lời đúng:

A M1 và M2 là khối tiền giao dịch

B M1 là khối tiền mở rộng

C M2 là khối tiền mở rộng

D M2 là khối tiền giao dịch

Câu 9: Lạm phát phi mã có thể dẫn đến

Trang 34

A Tiền tệ không thể thực hiện tốt chức năng phương tiện cất trữ và người dân có xu hướng cất trữ hàng hóa

B Người dân có xu hướng mua hàng hóa cất trữ và rút tiền ra khỏi hệ thống ngân hàng khi lãi suất không đổi để tránh khỏi sự mất giá của đồng tiền giúp cho tiền tệ có thể thực hiện tốt chức năng phương tiện cất trữ

C Người dân có xu hướng mua hàng hóa cất trữ giúp họat động lưu thông hàng hóa diễn ra nhộn nhịp và tiền tệ thực hiện tốt chức năng phương tiện trao đổi và từ đó thực hiện tốt chức năng phương tiện cất trữ

D Tiền tệ không thể thực hiện tốt chức năng phương tiện trao đổi do người dân có xu hướng gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi suất thực tăng theo tỷ lệ lạm phát với lãi suất danh nghĩa không đổi

Câu 10: Tiền giấy lưu hành ở Việt nam ngày nay:

A Vẫn có thể đổi ra vàng theo một tỷ lệ nhất định do Ngân hàng nhà nước qui định

B Có giá trị danh nghĩa lớn hơn nhiều so với giá trị thực của nó

C Cả a và b đều đúng

D Cả A và B đều sai

Câu 11: "Giấy bạc ngân hàng" thực chất là:

A Một loại tín tệ

B Tiền được làm bằng giấy

C Tiền được ra đời thông qua hoạt động tín dụng và ghi trên hệ thống tài khoản của ngân hàng

D Tiền gửi ban đầu và tiền gửi do các ngân hàng thương mại tạo ra

Trang 35

CHƯƠNG 2

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÀI CHÍNH

Mục tiêu tổng quan

G2 Cung cấp những kiến thức cơ bản về tài chinh cụ thể: Khái niệm, sự hình thành và

phát triển của tài chính; bản chất, chức năng và vai trò của tài chính;

Hệ thống tài chính và chính sách tài chính quốc gia Qua đó, giúp người đọc có thể hiểu rõ và có cái nhìn tổng quan về vai trò đặc biệt quan trọng của tài chính, khả năng vận dụng của chính phủ trong việc sử dụng tài chính như một công cụ hữu hiệu đề

để quản lý và điều tiết vĩ mô nên kinh tế quốc dân

Mục tiêu chi tiết

O2.1 Nắm được tổng quan về tài chính (khái niệm sự hình thành và phát triển của tài chính);

O2.2 Biết được bản chất của tài chính;

O2.3 Biết được chức năng của tài chính;

O2.4 Biết được vai trò của tài chính;

O2.5 Hiểu được hệ thống tài chính trong nền kinh tế thị trường;

O2.6 Biết được chính sách tài chính quốc gia

2.1 KHÁI NIỆM SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÀI CHÍNH

2.1.1 Khái niệm tài chính

Tài chính là một phạm trù kinh tế, vừa là một phạm trù lịch sử Tài chính ra đời gắn liền với sự hình thành và phát triển của nền kinh tế hàng hóa, tiền tệ Qúa trình sản xuất đạt đến một trình độ phức tạp nhất định, tiền tệ sẽ ra đời một cách khách quan Điều này cũng làm nảy sinh các quan hệ kinh tế gắn liền với sự vận động của tiền tệ Các quan hệ này được gọi là tài chính Cùng với sự phát triển của quan hệ hàng hóa – tiền tệ thì tài chính càng phát triển Đặc biệt tài chính thực sự phát triển khi xuất hiện sự ra đời của nhà nước với các quyền lực chính trị đặc thù của mình để điều phới các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị, nhằm đạt được các mục tiêu quốc gia

O2.1 Biết được khái niệm về sự hình thành và phát triển của tài chính

Trang 36

Tài chính mang bản chất là một quan hệ kinh tế đặc thù, gắn liền với sự vận đồng của tiền tệ trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa Trong điều kiện kinh tế thị trường như hiện nay Các quan hệ tài chính càng phát triển một cách đa dạng và phức tạp hơn, tạo thành một hệt thống tài chính và trở thành một bộ phận cấu thành không thể thiếu đối với bất kỳ nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới

Ngày nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tài chính, song xét về bản chất,

có thể hiểu tài chính là tổng thể các quan hệ kinh tế, gắn liền với việc phân phối tổng sản phẩm quốc dân và các nguồn lực tài chính thông qua việc tạo lập và sử dụng các quỷ tiền tệ nhằm thực hiện các muc tiêu kinh tế - xã hội của đất nước

2.1.2 Sự hình thành và phát triển của tài chính

Vào thời kì đầu của chế độ công xã nguyên thủy, mặc dù quá trình phân phối đã diễn ra trong các bộ lạc nhưng vẫn chưa có hoạt động tài chính Ở hình thái kinh tế xã hội sơ khai này, do lượng sản phẩm có được sau mỗi ngày săn bắn – hài lượm là nhiều hơn, nên họ bắt đầu biết phân chia lượng sản vật này cho các thành viên trong bộ lạc của mình Tuy nhiên, sự phân phối sản phẩm này cũng chỉ dừng lại ở hình thức phân phối hiện vật, sản lượng thực mà chưa hề có bước tiến xa hơn

Khoảng cuối thời kỳ công xã nguyên thủy, bắt đầu xuất hiện phân công lao động

xã hội do trình độ lao động xã hội ngày càng cao Lịch sử xã hội loài người đã cho thấy rằng, sự phân công lao động xã hội, sự xuất hiện của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất

đã thúc đẩy sự sản xuất và trao đổi hàng hóa Trao đổi trở thành nhu cầu bức thiết của sản xuất và đời sống, đòi hỏi sự xuất hiện của tiền tệ với tư cách vật trung gian cho quá trình trao đổi, giúp cho quá trình trao đổi được nhanh chóng, dễ dàng và hiệu quả hơn Khi quan hệ hàng hóa tiền tệ được thực hiện sẽ tạo thu nhập cho các chủ thể kinh tế, dẫn tới sự hình thành quỹ tiền tệ cho các chủ thể kinh tế Sự liên tục của quá trình sản xuất

và lưu thông hàng hóa dẫn tới sự hình thành, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ Đây chính là các quan hệ tài chính Như vậy, sự ra đời và phát triển của quan hệ hàng hóa – tiền tệ đã dẫn tới sự ra đời của tài chính

Lịch sử cũng cho thấy rằng, quá trình phân công lao động xã hội ngày càng cao diễn ra một cách sâu sắc nhằm đáp ứng nhu cầu hàng hóa của nền kinh tế, điều này dẫn đến sự hình thành giai cấp, và nhà nước ra đời để giải quyết các mâu thuẫn giai cấp bắt đầu có từ thời kỳ này Sự ra đời và hoàn thiện của các thể chế nhà nước cũng là nhân tố

Trang 37

thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ tài chính Khi nhà nước ra đời, để duy trì quyền lực và sự tồn tại của nhà nước, để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu quốc gia, nhà nước phải tạo lập quỹ tiền tệ thông qua các khoản tiền đóng góp từ một phần thu nhập của công chúng và các tổ chức kinh tế dưới các hình thức thuế, phí, lệ phí…Như vậy, sự ra đời của nhà nước đã làm nảy sinh các quan hệ phân phối lại thu nhập quốc dân để hình thành

và sử dụng quỹ tiền tệ cho nhà nước, làm cho các quan hệ tài chính được phát triển mạnh

mẽ hơn Tài chính được nhà nước sử dụng như một công cụ đắc lực để quản lý và điều tiết nền kinh tế - xã hội

2.2 BẢN CHẤT CỦA TÀI CHÍNH

2.2.1 Biểu hiện bên ngoài của tài chính

Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa – tiền tệ, luôn diễn ra sự chuyển dịch các luồng giá trị, tạo ra các mối quan hệ tài chính Do đó, nhìn bề ngoài, tài chính là quan hệ tạo lập quỹ tiền tệ của các chủ thể trong xã hội, tài chính là sự vận động của các nguồn lực tài chính, là sự vận động của các luồng vốn tiền tệ Tuy nhiên, xét về bản chất, tài chính được thể hiện thông qua những mối quan hệ kinh tế gắn liền với sự vận động của tiền tệ nhằm phân phối lại các nguồn lực tài chính: quan hệ kinh tế giữa các cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội với nhà nước; giữa các doanh nghiệp với nhau, giữa các doanh nghiệp với các hộ gia đình và tổ chức xã hội…Ví dụ: nhà nước cấp vốn kinh doanh cho các doanh nghiệp và tập đoàn nhà nước, các doanh nghiệp đóng thuế vào các kho bạc nhà nước, giữa các doanh nghiệp có hoạt động trao đổi, mua bán sản phẩm, vay nợ,…Trong các quan hệ trên, tiền tệ vận động với chức năng phương tiện trao đổi, thanh toán và cất giữ tài sản, nó đại diện cho một lượng giá trị và thể hiện một sức mua nhất định cho người đang nắm giữ nó

Từ sự phân tích trên, có thể khái quát bản chất của tài chính như sau: tài chính là

hệ thống các quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc dân dưới hình thái giá trị, thông qua việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định của các chủ thể trong nền kinh tế

Các mối quan hệ kinh tế thuộc phạm trù tài chính bao gồm các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị sau đây:

O2.2 Biết được bản chất của tài chính qua (biểu hiện từ bên ngoài và bên trong)

Trang 38

Tài chính công:

Tài chính công phản ánh các quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của quốc gia nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước Đặc điểm của tài chính công: gắn liền với sở hữu nhà nước, quyền lực chính trị; chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng; phạm vi hoạt động rộng,

Tài chính doanh nghiệp:

Tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt tới mục tiêu nhất định Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò đòn đẩy kích thích và điều tiết sản xuất kinh doanh; là công cụ giám sát, kiểm tra chặt chẽ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Hay, Tài chính Doanh nghiệp là khâu cơ sở trong hệ thống tài chính quốc gia

Đây là một “tụ điểm “của các nguồn tài chính gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá hay dịch vụ Hoạt động Tài chính Doanh nghiệp luôn gắn liền với các chủ thể của nó là các doanh nghiệp (pháp nhân hay thể nhân)

Sự tạo lập vốn ban đầu có thể và trước hết là dựa vào thị trường tài chính, thu hút vốn qua góp vốn cổ phần (phát hành cổ phiếu) hay đi vay (phát hành trái phiếu, vay ngân hàng ) Sau đó, do gắn liền với sản xuất kinh doanh, vốn và các quỹ tiền tệ khác được bổ sung, tái tạo thông qua việc phân phối doanh thu tiêu thụ sản phẩm, lập các quỹ

bù đắp (như quỹ khấu hao tài sản cố định, quỹ bù đắp vốn lưu động) và tạo lập các quỹ

từ lợi nhuận Mỗi quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp đều có mục đích nhất định, nhưng tính chất chung của chúng là gắn liền với sản xuất kinh doanh, chi dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh và phần tiêu dùng để hình thành thu nhập của những người tham gia sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp

Tài chính Doanh nghiệp có các nhiệm vụ sau đây:

+ Một là, Bảo đảm vốn và phân phối vốn hợp lý cho các nhu cầu của sản xuất

kinh doanh

+ Hai là, Tổ chức cho vốn chu chuyển một cách liên tục và có hiệu quả

+ Ba là, Phân phối doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp theo đúng các quy

định của nhà nước

Trang 39

+ Bốn là, Kiểm tra mọi quá trình vận động của các nguồn tài chính trong doanh

nghiệp; đồng thời, kiểm tra mọi hoạt động sản xuất kinh doanh gắn liền với các quá trình

đó

Tài chính doanh nghiệp có quan hệ với các khâu khác của hệ thống tài chính như quan hệ với Tài chính hộ gia đình thông qua trả lương, thưởng, lợi tức cổ phần, trái phiếu; quan hệ với Ngân sách thông qua nộp thuế; quan hệ với các tổ chức tín dụng thông qua việc thu hút nguồn tài chính để tạo vốn hoặc trả nợ gốc và lãi vay Quan hệ giữa tài chính doanh nghiệp với các khâu tài chính khác có thể là trực tiếp với nhau, cũng có thể thông qua thị trường tài chính

Tài chính quốc tế:

Tài chính quốc tế là quan hệ kinh tế gắn liền với sự vận động của tiền tệ trên cơ

sở thương mại và chu chuyển vốn quốc tế Cùng với quá trình phát triển của toàn cầu hóa, tài chính quốc tế ngày càng phát triển và trở thành một trong những nhân tố quan trọng tác động đến chính sách vĩ mô của các quốc gia

Tài chính cá nhân và hộ gia đình:

Tài chính hộ gia đình là các quan hệ tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của từng cá nhân hoặc hộ gia đình, hình thành chủ yếu từ các khoản thu nhập, tiền lương do lao động hay sản xuất kinh doanh, từ nguồn thừa kế, biếu tặng, … được sử dụng chủ yếu để trang trải các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống và có thể đầu tư

Tài chính của các tổ chức xã hội:

Tài chính của các tổ chức xã hội bao gồm tài chính của các tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên, phụ nữ, đảng phái chính trị, hiệp hội nông dân, hội bảo trợ…hình thành

từ sự đóng gớp hội phí, ủng hộ trong và ngoài nước…nhằm mục đích tiêu dung cho hoạt động của tổ chức đó

2.2.2 Nội dung bên trong của tài chính

Nguồn tài chính trong xã hội luôn vận động một cách liên tục và trong mối quan

hệ chằng chịt, đa dạng giữa các chủ thể trong xã hội dẫn tới việc làm thay đổi lợi ích kinh tế của các chủ thể đó

Ví dụ: Các tổ chức, doanh nghiệp khi nhận được sự tài trợ nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước sẽ có điều kiện để duy trì và đây mạnh hoạt động của mình

Trang 40

Khi tập trung thêm được các nguồn tài chính từ các chủ thể khác trong xã hội vào ngân sách nhà nước, nhà nước có thêm điều kiện vật chất thực hiện các chức năng của mình

Như vậy, các hiện tượng - biểu hiện bên ngoài của tài chính là sự thể hiện và phản ánh các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể trong quá trình phân phối các nguồn tài chính, quá trình phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị Các quan hệ kinh tế như thế được gọi là các quan hệ tài chính Các quan hệ tài chính biểu hiện mặt bản chất bên trong của tài chính ẩn dấu sau các biểu hiện bên ngoài của tài chính

Như vậy có thể hiểu:

Tài chính thể hiện ra là sự vận động của vốn tiền tệ diễn ra ở mọi chủ thể trong

xã hội Nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội

Chú ý:

Giữa tài chính và các phạm trù giá trị khác như tiền tệ, giá cả, tiền lương có quan

hệ với nhau rất gần gũi và giữa chúng có sự khác nhau về bản chất

Tiền tệ về bản chất là một hàng hoá đặc biệt đóng vai trò là vật ngang giá chung trong quan hệ mua bán, trao đổi của nền sản xuất hàng hoá với chức năng thước đo giá trị, trung gian trao đổi, chức năng dự trữ giá trị và chức năng thanh toán Còn tài chính

là sự vận động của tiền tệ chỉ với hai chức năng thanh toán và phương tiện dự trữ giá trị

và luôn gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định để thoả mãn các mục đích khác nhau

Giá cả là một phạm trù phân phối dưới hình thức giá trị nhưng khác rất rõ với phạm trù tài chính Đặc trưng cơ bản của phân phối tài chính là luôn kéo theo sự chuyển dịch giá trị gắn với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể kinh tế - xã hội khác nhau Còn ở phạm trù giá cả, việc chuyển dịch giá trị không xảy ra vì giá cả xuất hiện trong quan hệ trao đổi, mua bán theo nguyên tắc ngang giá (thậm chí trong trường hợp trao đổi không ngang giá, quá trình phân phối dưới hình thức giá trị của phạm trù giá cả được thực hiện kèm theo quá trình trao đổi mua bán với sự vận động ngược chiều của các hình thái giá trị khác nhau, không giống như phân phối của tài chính thực hiện thông qua sự vận động độc lập tương đối của tiền tệ và không kèm theo

sự vận động ngược chiều nào của giá trị)

Ngày đăng: 25/05/2019, 14:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Frederic S.Mishkin, Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính, Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật, Hà nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật
9. Lawrence S. Ritter, William L. Silber, Gregory F. Udell. Principles of Money, Banking & Financial Markets, 12 th edition. Pearson, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Principles of Money, Banking & Financial Markets
10. Jeff Madura, Financial Institutions and Markets, 10 th edition, Cengare Learning, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial Institutions and Markets
11. PGS.TS. Dương Đăng Chinh, TS. Phạm Văn Khoan, Giáo trình Quản lý Tài chính công, NXB Tài chính, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý Tài chính công
Nhà XB: NXB Tài chính
12. Phan Thị Cúc, Giáo trình Lý thuyết Tài chính – Tiền tệ, NXB Phương Đông, 2012 13. Lê Vinh Danh, Tiền và hoạt động ngân hàng, Nhà xuất bản Giao thông Vận tải.Thành phố Hồ Chí Minh, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý thuyết Tài chính – Tiền tệ", NXB Phương Đông, 2012 13. Lê Vinh Danh, "Tiền và hoạt động ngân hàng
Nhà XB: NXB Phương Đông
16. TS. Lê Thị Tuyết Hoa, PGS.TS. Lê Thị Nhung, Tiền tệ Ngân hàng, Nhà xuất bản Thống kê, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ Ngân hàng
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
17. Nguyễn Minh Kiều, Tiền tệ - ngân hàng, Nhà xuất bản Thống kê Hà nội, 2006 18. TS. Lê Thị Mận, Giáo trình Lý thuyết tài chính tiền tệ, Nhà xuất bản Lao động xã hội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ - ngân hàng, "Nhà xuất bản Thống kê Hà nội, 2006 18. TS. Lê Thị Mận, "Giáo trình Lý thuyết tài chính tiền tệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê Hà nội
1. Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13 ngày 25/06/2015 Khác
2. Nghị định 163/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của luật ngân sách nhà nước Khác
3. Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 Khác
4. Bộ Tài chính, Thông tư 07/VBHN-BTC hướng dẫn về thành lập và hoạt động của công ty chứng khoán, ngày 05/04/2016 Khác
5. Chính Phủ, Nghị định 86/2016/NĐ-CP Quy định điều kiện đầu tư, kinh doanh chứng khoán Khác
6. Ngân hàng Nhà nước, Thông tư 06/2017/TT-NHNN sửa đổi bổ sung TT 03/2014/TT- NHNN và TT 04/2015/TT-NHNN Quy định về Quỹ tín dụng nhân dân Khác
7. Quốc Hội, Luật số 47/2010/QH12, Luật các tổ chức tín dụng, ngày 16/06/2010 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w