Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, công tác tư vấn hướng nghiệp đã giúp cho thanh thiếu niên chọn được nghề phù hợp.. Tuy có nhiều cố gắng để tổ chức các hoạt động giáo
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRẦN VĂN CHƯƠNG
XÂY DỰNG HỆ THỐNG
HỖ TRỢ TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG THPT NGUYỄN HUỆ
Trang 2Công trình được hoàn thành tại ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Võ Trung Hùng
Phản biện 1: PGS TSKH Trần Quốc Chiến
Phản biện 2: PGS TS Hoàng Quang
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ hệ thống thông tin họp tại Đại học Đà Nẵng vào
ngày 07 tháng 01 năm 2016
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà nẵng
- Thư viện trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, công tác tư vấn hướng nghiệp đã giúp cho thanh thiếu niên chọn được nghề phù hợp Nhờ đó thanh thiếu niên có thể phát huy khả năng làm việc, khả năng sáng tạo, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, hạn chế nạn thất nghiệp, giảm bớt gánh nặng cho xã hội, tránh lãng phí về đào tạo và sử dụng lao động hợp lý
Việt Nam có cơ cấu dân số tương đối trẻ, đây là một thế mạnh rất lớn để thực hiện mục tiêu “công nghiệp hóa – hiện đại
hóa” dựa trên lợi thế và tiềm năng của nguồn nhân lực Để chọn
được cho mình một công việc ổn định và phù hợp để sinh sống và phát triển là một việc không dễ Trên thực tế, có rất nhiều người phải thất nghiệp hay phải làm việc không đúng với chuyên môn là khá phổ biến, không cảm thấy hứng thú và muốn gắn bó với nghề nghiệp mà mình đã chọn Điều này đã gây nên sự lãng phí nhân lực rất lớn và phân bố nhân lực không hợp lý
Theo thống kê của Tổng cục thống kê, lực lượng lao động từ
15 tuổi trở lên của cả nước ước tính đến thời điểm 01/4/2016 là 54,4 triệu người Trong đó lao động 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý I năm 2016 ước tính chỉ 53,3 triệu người Như vậy tỷ
lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động của quý I/2016 ước tính là 2,23% Riêng số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động có trình
độ Đại học trở lên chiếm 3,96% tổng số người thất nghiệp [9]
Quảng Nam là một trong hai tỉnh được tổ chức VVOB (Cơ quan Hợp tác phát triển và Hỗ trợ kĩ thuật vùng Fla - măng, Vương quốc Bỉ - là một tổ chức hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Việt Nam) chọn để thực hiện các nội
Trang 4dung Giáo dục hướng nghiệp qua Hoạt động giáo dục nghề phổ thông theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trường THPT Nguyễn Huệ là một trong những trường THPT của Quảng Nam hàng năm đã xây dựng kế hoạch và tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo các quy định trên Ngoài ra, hằng năm nhà trường còn liên kết với các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp tổ chức tư vấn cho học sinh lớp 12 về chọn ngành chọn nghề trước khi các em làm hồ sơ thi tuyển hoặc xét tuyển vào các trường đại học, cao đẳng
Tuy có nhiều cố gắng để tổ chức các hoạt động giáo dục hướng nghiệp nhưng nhà trường vẫn còn gặp nhiều khó khăn, một số tồn tại cần được nghiên cứu để khắc phục như: cơ sở vật chất còn thiếu, tư liệu dành cho học sinh gần như không có Việc tổ chức cho học sinh tham quan các cơ sở sản xuất, các xí nghiệp, nhà máy liên quan đến một số ngành nghề tại địa phương chưa thực hiện được nhiều do không có kinh phí và thời gian để tổ chức Một bộ phận học sinh chưa ý thức đúng về việc tham gia hoạt động giáo dục hướng nghiệp nên còn xem nhẹ hoạt động này, hậu quả là lúng túng khi chọn ngành chọn nghề, chọn nghề không phù hợp với khả năng, sở thích, cá tính của bản thân, không xác định được giá trị nghề nghiệp và nhu cầu của xã hội về nghề mình chọn Việc tư vấn nghề và chọn trường cho học sinh còn mang tính mùa vụ, chưa được thực hiện thường xuyên, liên tục Một số tác động bất lợi từ bên ngoài như sinh viên nhiều ngành nghề sau khi được đào tạo, tốt nghiệp ra trường không có việc làm, hiện tượng “thừa thầy thiếu thợ” đang diễn ra phổ biến, có tính chất ngày càng gay gắt, tạo nên những bức xúc trong xã hội nên ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý chọn ngành chọn nghề của học sinh phổ thông
Trang 5Với thực tế nêu trên, bản thân tôi đã có nhiều suy nghĩ làm sao
để nâng cao hiệu quả của giáo dục hướng nghiệp, gây chuyển biến nhận thức, giúp các em học sinh của Trường THPT Nguyễn Huệ nói riêng và học sinh THPT nói chung có được những nhận thức đúng đắn về nghề nghiệp mình gắn bó trong tương lai thông qua việc tham gia tích cực các hoạt động hướng nghiệp khi đang ngồi trên ghế nhà
trường phổ thông Chính vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài: “Xây
dựng hệ thống hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp tại Trường THPT Nguyễn Huệ Tỉnh Quảng Nam” Trong đề tài này, tôi đề xuất giải
pháp ứng dụng hệ chuyên gia để xây dựng hệ thống hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp trực tuyến giúp các em học sinh có thể định hướng được ngành nghề phù hợp sau này, góp một phần nhỏ cho xã hội, phát triển nền kinh tế, giảm tỉ lệ nạn thất nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu và xây dựng hệ chuyên gia ứng dụng trong lĩnh vực hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp học sinh trung học phổ thông
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh Trường trung học phổ thông Nguyễn Huệ, Quảng Nam
- Cơ sở lý thuyết về kho dữ liệu tri thức, hệ chuyên gia, hoạt động lý thuyết và tư vấn nghề nghiệp, ngôn ngữ lập trình mã nguồn
mở PHP, một số bài báo và luận văn tốt nghiệp khóa trước
Trang 6có sẵn để đưa vào các tư vấn phù hợp cho học sinh Bên cạnh đó, đề tài chỉ gói gọn phạm vi tìm hiểu những tồn tại, bất cập trong tư vấn hướng nghiệp tại Trường trung học phổ thông Nguyễn Huệ để từ đó xây dựng một hệ thống hỗ trợ tư vấn theo mô hình kiến trúc của hệ chuyên gia
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được những yêu cầu trên, tôi sử dụng chủ yếu hai phương pháp chính là phương pháp nghiên cứu tài liệu và phương pháp thực nghiệm
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tôi sử dụng phương pháp
này trong nghiên cứu các tài liệu về cơ sở lý thuyết: hệ chuyên gia, cách tạo tập luật; các tài liệu mô tả một số hệ thống tư vấn
Phương pháp thực nghiệm:
- Tư vấn cá nhân
- Sử dụng phiếu điều tra nhằm làm sáng tỏ thực trạng nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh trung học phổ thông và những nguyên nhân của thực trạng đó nhất là học sinh lớp 12
Từ kết quả khảo sát, tôi tiến hành phân tích các yêu cầu và thiết kế giải pháp tư vấn hướng nghiệp dựa trên hệ chuyên gia Kết quả hệ thống được xây dựng sẽ được kiểm thử trên máy cục bộ và trên Internet
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về khoa học: Đề tài sẽ góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu các
mô hình kiến trúc hệ chuyên gia và đưa ra giải pháp phù hợp trong lĩnh vực tư vấn
Về thực tiễn: Ứng dụng tại trường THPT Nguyễn Huệ, Quảng
Nam, giúp học sinh hiểu rõ hướng nghiệp và chọn được ngành nghề phù hợp với khả năng, giảm tỷ lệ thất nghiệp trên địa bàn Đồng thời
Trang 7đề tài cũng trở thành một kênh thông tin bổ ích cho các em học sinh cuối cấp quyết định cho tương lai của mình
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Ba o ca o cu a luân văn gồm các phần chính như sau:
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH, THIẾT KẾ HỆ THỐNG
CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG VÀ KIỂM THỬ
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN
Trang 8CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Trong chương này, các nội dung được trình bày chủ yếu liên quan đến các vấn đề như: hệ chuyên gia, tư vấn tuyển sinh – hướng nghiệp
1.1 HỆ CHUYÊN GIA
1.1.1 Khái niệm
1.1.2 Đặc trưng và ưu điểm của hệ chuyên gia
1.1.3 Kiến trúc tổng quát của hệ chuyên gia
a Những thành phần cơ bản của hệ chuyên gia
Một HCG kiểu mẫu gồm 7 thành phần cơ bản như sau:
Hình 1.1 Những thành phần cơ bản của một HCG
b Một số mô hình kiến trúc hệ chuyên gia
1.1.4 Biểu diễn tri thức trong hệ chuyên gia
1.1.5 Kỹ thuật suy luận trong hệ chuyên gia
a Kỹ thuật suy diễn tiến
Suy diễn tiến là lập luận từ các sự kiện, sự việc để rút ra các kết luận Ví dụ: Nếu thấy trời mưa trước khi ra khỏi nhà (sự kiện) thì phải lấy áo mưa (kết luận)
Trang 9Ưu điểm của kỹ thuật suy diễn tiến là làm việc với bài toán
có bản chất gôm thông tin và sau đó tìm xem có thể suy ra được gì
từ thông tin đó Cũng với kỹ thuật này, có thể dẫn ra rất nhiều thông tin chỉ từ một ít sự kiện ban đầu Kỹ thuật suy diễn tiến thích hợp cho một số vấn đề như hoạch định, giám sát, điều khiển, diễn dịch,…
Nhược điểm của kỹ thuật suy diễn tiến là không có cách để nhận thấy tính quan trọng của từng sự kiện, hỏi nhiều câu hỏi thừa vì đôi lúc chỉ cần một vài sự kiện là cho ra kết luận Bên cạnh đó, với
kỹ thuật này, hệ thống có thể hỏi những câu hỏi không liên quan nhau
b Kỹ thuật suy diễn lùi
Kỹ thuật suy diễn lùi tiến hành các lập luận theo chiều ngược lại so với kỹ thuật suy diễn tiến Từ một giả thuyết được xem như
là một kết luận, hệ thống đưa ra một tình huống trả lời gồm các sự kiện là cơ sở của giả thuyết đã cho này
Ưu điểm của kỹ thuật suy diễn lùi là làm việc tốt với bài toán có bản chất thành lập giả thiết, sau đó tìm xem có thể chứng minh được không Vì kỹ thuật này hướng đến một đích nên hỏi những câu hỏi liên quan nhau Máy suy diễn áp dụng kỹ thuật này chỉ khảo sát CSTT trên nhánh vấn đề đang quan tâm
Nhược điểm của kỹ thuật này là luôn hướng theo dòng suy luận định trước thậm chí có thể dừng hoặc rẽ sang một đích khác
1.1.6 Hệ chuyên gia dựa trên luật
HCG dựa trên luật là một chương trình máy tính, xử lý các thông tin cụ thể của bài toán được chứa trong bộ nhớ làm việc và tập các luật được chứa trong CSTT, sử dụng động cơ suy luận để suy
ra thông tin mới
Trang 10a Hệ luật sinh
b Các đặc trưng và kiến trúc của hệ chuyên gia dựa trên luật
HCG dựa trên luật có kiến trúc như sau:
Hình 1.7 Kiến trúc HCG dựa trên luật
c Ưu và nhược điểm của hệ chuyên gia dựa trên luật
Ưu điểm của HCG dựa trên luật:
- Các luật được xây dựng từ cách con người giải quyết vấn đề Cách biểu diễn luật nhờ IF THEN đơn giản cho phép giải thích dễ dàng cấu trúc tri thức cần trích lọc
- Phân tách tri thức và điều khiển
- Tri thức là tập các luật có tính độc lập cao nên dễ thay đổi và chỉnh sửa
- HCG dựa trên luật dễ mở rộng
- Khó tìm mối quan hệ giữa các luật trong một chuỗi suy luận
Trang 111.2.1 Lý thuyết cây nghề nghiệp
a Nội dung lý thuyết cây nghề nghiệp (LTCNN)
Sở thích, khả năng, cá tính và giá trị nghề nghiệp của mỗi người đóng vai trò rất quan trọng trong việc chọn hướng học, chọn nghề phù hợp và nó được coi là phần “Rễ” của cây nghề nghiệp
Rễ có khỏe thì cây mới khỏe và ra hoa, kết trái như mong muốn của người trồng cây Vì vậy, muốn lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, trước hết phải hiểu rõ sở thích, khả năng, cá tính và giá trị nghề nghiệp của bản thân và phải dựa vào chính những hiểu biết này để lựa chọn nghề nghiệp
Hình 1.8 Mô hình LTCNN
b Ý nghĩa lý thuyết cây nghề nghiệp
Trang 121.2.2 Lý thuyết mật mã Holland
a Nội dung lý thuyết Holland
Lý thuyết mật mã Holland được phát triển bởi nhà tâm lý học John Holland (1919-2008) Ông là người nổi tiếng và được biết đến rộng rãi nhất qua nghiên cứu lý thuyết lựa chọn nghề nghiệp Ông đã đưa ra lý thuyết RIASEC dựa trên 8 giả thiết, trong đó có 5 giả thiết cơ bản và một số luận điểm rất có giá trị trong hướng nghiệp như sau:
- Bất kỳ ai cũng thuộc vào một trong 6 kiểu người đặc trưng sau đây: Realistic (R) - tạm dịch là người thực tế/nhóm kỹ thuật (KT); Investigative (I) - tạm dịch là nhà nghiên cứu/nhóm nghiên cứu (NC); Artistic (A) - Nghệ sĩ/nhóm nghệ thuật (NT); Social (S)
- tạm dịch là người công tác xã hội/nhóm xã hội (XH); Enterprising (E) - tạm dịch là người dám làm/nhóm quản lý (QL); Conventional (C) - tạm dịch là người tuân thủ/nhóm nghiệp vụ (NV)
6 chữ cái của 6 kiểu người đặc trưng hợp lại thành RIASEC
- Mức độ phù hợp giữa một người với môi trường có thể được biểu diễn trong mô hình lục giác Holland
Hình 1.9 Mô hình lục giác Holland
Từ những giả thiết của lý thuyết Holland trên, có thể rút ra 2 kết luận:
Trang 13- Một là, hầu như ai cũng có thể được xếp vào 1 trong 6 kiểu
tính cách và có 6 môi trường hoạt động tương ứng với 6 kiểu tính cách, đó là: Nhóm kỹ thuật (KT); nhóm nghiên cứu (NC); nhóm nghệ thuật (NT); nhóm xã hội (XH); nhóm quản lý (QL); nhóm nghiệp vụ (NV)
- Hai là, nếu một người chọn được công việc phù hợp với tính
cách của họ, thì họ sẽ dễ dàng phát triển và thành công trong nghề nghiệp Nói cách khác: Những người làm việc trong môi trường tương tự như tính cách của mình, hầu hết sẽ thành công và hài lòng với công việc
b Ý nghĩa lý thuyết mật mã Holland
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương này, chúng tôi đã tập trung tìm hiểu một số cơ sở
lý thuyết phục vụ cho việc nghiên cứu và xây dựng HCG tư vấn tuyển như các khái niệm HCG, các thành phần cơ bản của một HCG kiểu mẫu, một số mô hình kiến trúc HCG đã có cũng như các đặc trưng và ưu điểm của HCG Bên cạnh đó, nội dung luận văn cũng đã thể hiện một số lý thuyết về hướng nghiệp làm cơ sở cho công tác TVHN sau này
Trang 14CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH, THIẾT KẾ HỆ THỐNG
Nội dung chương này sẽ trình bày kết quả nghiên cứu về phân tích hiện trạng tư vấn hướng nghiệp tại trường THPT Nguyễn Huệ, tìm ra những ưu nhược điểm của công tác này trong hiện tại Đồng thời đưa ra giải pháp khắc phục nhược điểm góp phần cải thiện chất lượng của công tác tư vấn hướng nghiệp tại trường Sau đó tiến hành phân tích và thiết kế hệ thống theo giải pháp đã đề ra
2.1 TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG
2.2 MÔ TẢ HỆ THỐNG HỖ TRỢ TƯ VẤN TUYỂN SINH 2.2.1 Mô tả hiện trạng về trường THPT Nguyễn Huệ 2.2.2 Mô tả hệ thống hỗ trợ tư vấn hướng nghiệp
Hệ thống hỗ trợ TVHN được xây dựng dựa trên lý thuyết về HCG và là hệ thống đi theo hướng hoàn toàn mới của trường THPT Nguyễn Huệ Sau khi khảo sát yêu cầu, tôi mô tả lại hệ
thống gồm các chức năng tư vấn phục vụ đối tượng chính: học sinh
Đối tượng học sinh là người có dự định đăng ký dự thi và xét tuyển vào trường, những người là thí sinh nhưng chưa có kết quả
thi, những học sinh THPT, THCS,… gọi chung là HS
2.2.3 Bài toán tư vấn hướng nghiệp
Dựa vào mô tả hệ thống hỗ trợ TVHN ở mục 2.2.2, chúng tôi phát biểu bài toán TVHN như sau:
- Đầu vào: Đối với bài toán TVHN không dựa vào điểm số thì
dữ liệu đầu vào là các câu trả lời về tính cách, sở thích, hoạt động nghề nghiệp hoặc khả năng và các môn khả năng của HS
- Đầu ra: Kết quả tư vấn là các nhóm ngành phù hợp với người
sử dụng Người sử dụng khi nhận được kết quả tư vấn, nếu chưa rõ