Nhận thức được tầm quan trọng của ngoại giao trong kháng chiến, nhà Trần đã sử dụng các biện pháp, sách lược ngoại giao để đánh thắng mưu đồ của quân xâm lược, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ đ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SỬ
- -
ĐẬU THỊ THƯƠNG
Vai trò của ngoại giao trong công cuộc bảo vệ
đất nước dưới thời Trần (thế kỷ XIII)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2có thể vận dụng kết quả cho hiện tại đó là một việc làm vừa có ý nghĩa khoa học, vừa
có ý nghĩa thực tiễn
Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân Việt Nam luôn phải đương đầu với rất nhiều thiên tai địch hoạ Qua những thăng trầm ấy, ngoại giao Việt Nam đã từng bước được hình thành và phát triển, vừa mang đậm bản sắc dân tộc, vừa kết tinh những tinh hoa của nhân loại để tạo nên một bản sắc riêng của nền ngoại giao Việt Nam
Ngoại giao Việt Nam truyền thống bắt nguồn từ ý chí đấu tranh kiên cường cho độc lập, tự do của dân tộc với nhiều tấm gương điển hình như Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi và nhiều bài học sâu sắc và bổ ích về quan hệ với lân bang, ứng xử trong đối ngoại Đó còn là lòng mong muốn hòa bình, hòa hiếu, thủy chung, xuất phát từ bản chất nhân văn sâu sắc và truyền thống yêu chuộng hòa bình vốn có của người Việt Lịch sử đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam đã mang lại cho ngoại giao Việt Nam tính chiến đấu cao, bản chất hòa bình, hòa hiếu, nhân nghĩa, thủy chung, “đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”
Nối tiếp triều đại nhà Lý, triều đại nhà Trần là bước tiến mới trong lịch sử dân tộc: giữ vững chủ quyền, đưa đất nước phát triển phồn thịnh Nổi bật lên ở thời kỳ này
là kỳ tích của ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông xâm lược Song song với cuộc đối đầu về quân sự, cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao cũng diễn ra không kém phần quyết liệt, có đóng góp quan trọng cho thắng lợi sau cùng Với địa thế hết sức thuận lợi và có nhiều tài nguyên thiên nhiên, đất nước ta luôn nằm trong sự dòm ngó của các thế lực ngoại xâm, trong đó có giặc Nguyên - Mông Các triều vua Trần với sự đóng góp của các tướng lĩnh tài giỏi đã lãnh đạo quân dân cùng đứng lên kháng chiến bảo vệ
Trang 3độc lập dân tộc, làm nên một giai đoạn hào hùng trong lịch sử dân tộc với hào khí
Đông A
Bất kì một cuộc chiến tranh nào xảy ra cũng không thể thiếu những cuộc đàm phán ngoại giao giữa hai bên Chiến tranh không chỉ trên lĩnh vực quân sự mà còn cả trên lĩnh vực ngoại giao Nhận thức được tầm quan trọng của ngoại giao trong kháng chiến, nhà Trần đã sử dụng các biện pháp, sách lược ngoại giao để đánh thắng mưu đồ của quân xâm lược, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ đất nước Có thể nói, đây là thời kì thể hiện rõ tài mưu lược về quân sự cũng như tài ngoại giao “vừa cứng rắn vừa mềm dẻo” của nhà Trần
Cuộc đấu tranh chống quân xâm lược, bảo vệ đất nước mà tiêu biểu là cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên của nhân ta đã đi vào sử sách như một trang chói lọi về những chiến công hiển hách mà quân dân nhà Trần đã đạt được Có thể nói, những chính sách ngoại giao của nhà Trần trong thời kỳ này thực sự sắc bén và linh hoạt Đó là cả một nghệ thuật mà cho đến ngày nay chúng ta cũng cần phải vận dụng
cả ngay trong quan hệ thời bình Tìm hiểu đề tài này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ những cơ
sở nào để nhà Trần đưa ra những chính sách cũng như biện pháp ngoại giao mà ta đã
sử dụng trong thời kì này Qua đây, chúng ta cũng sẽ đi sâu vào phân tích, làm sáng tỏ những nội dung của chính sách ngoại giao đó, những đóng góp to lớn của nhà Trần và vai trò của ngoại giao trong công cuộc bảo vệ đất nước dưới thời Trần
Ngoài ra, tìm hiểu đề tài sẽ giúp chúng ta hiểu thêm về một giai đoạn lịch sử đấu tranh kháng chiến chống quân xâm lược đầy oanh liệt của quân dân ta, cũng như một giai đoạn ngoại giao đã có những đóng góp quan trọng trong lịch sử dân tộc
Chính vì những lí do trên mà chúng tôi chọn đề tài “Vai trò của ngoại giao trong công cuộc bảo vệ đất nước dưới thời Trần (thế kỷ XIII)” làm khóa luận tốt
nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về nhà Trần cũng như những vấn đề liên quan đến đề tài đã thu hút
sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều tác giả:
Trong cuốn “Lịch sử Việt Nam (thế kỷ X – 1427)” Quyển 1 - tập 2 của tác giả
Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Đức Nghinh nghiên cứu tổng quát về thời đại phong kiến dân tộc ở Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XV Trong đó tác giả có đề cập
Trang 4đến các hoạt động ngoại giao đất nước ta dưới thời phong kiến độc lập trải qua các triều đại trị vì Đặc biệt, tác giả trình bày khá rõ về thời kì đấu tranh ngoại giao ở thời Trần (1258 - 1285)
Cuốn “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim như tên gọi của nó, đó là tác
phẩm nghiên cứu về tiến trình lịch sử của Việt Nam qua các thời kì từ khi dựng nước đến khi Thực dân Pháp vào xâm lược nước ta Cuốn sách này cũng đã nêu lên một số hoạt động ngoại giao của Đại Việt trong khi cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên diễn ra
Cũng là một chủ đề có liên quan, cuốn sách “Cuộc kháng chiến chống xâm
lược Mông - Nguyên” của Hà Văn Tấn và Trần Thị Tâm cũng nói về cuộc kháng chiến
chống Mông - Nguyên của triều đình nhà Trần và nhân dân ta Tác giả cũng có trình bày hoạt động ngoại giao của ta trong thời kì này Đặc biệt là có trình bày về thời kì đấu tranh ngoại giao nhằm phục vụ cho cuộc kháng chiến và vai trò của nó đối với cuộc kháng chiến chống ngoại xâm
Hay trong cuốn “Lược sử ngoại giao Việt Nam các thời trước” của tác giả
Nguyễn Lương Bích Trên cơ sở khai thác nhiều nguồn tư liệu gốc về lịch sử cổ - trung đại Việt Nam và Trung Quốc, nhà sử học Nguyễn Lương Bích đã giới thiệu khá
cụ thể hoạt động ngoại giao của Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, từ những ngày đầu các vua Hùng lập quốc đến khi thực dân Pháp phát động chiến tranh xâm lược và hoàn thành đánh chiếm Việt Nam vào cuối thế kỉ XIX, trong đó, ngoại giao thời Trần cũng được tác giả đề cập một cách khá rõ nét
Ngoài ra, còn có một số tác phẩm, công trình nghiên cứu có liên quan đến đề
tài: Chuyện đi sứ - tiếp sứ (2001) của Nguyễn Thế Long, Ngoại giao Đại Việt (2000) của Lưu Văn Lợi, Kế sách giữ nước thời Lý – Trần (1995) của Lê Đình Sỹ, Nguyễn Danh Phiệt, An Nam chí lược (2002) của Lê Tắc…đây là những tài liệu quan trọng
giúp chúng tôi tham khảo, bổ sung cho đề tài
Các tác phẩm trên đã đề cập đến một số nội dung xung quanh đề tài, đây là những
tư liệu quý giúp chúng tôi tiếp tục hoàn thiện đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 5Mục đích của chúng tôi khi nghiên cứu đề tài này là tìm hiểu vai trò của ngoại giao trong công cuộc bảo vệ đất nước dưới thời Trần (thế kỷ XIII)
Để đạt được mục đích đề ra, chúng tôi cố gắng thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
- Sưu tầm, thu thập tài liệu có liên quan đến vấn đề dang nghiên cứu
- Giám định, lựa chọn hệ thống hóa tư liệu để tìm hiểu sâu hơn, rộng hơn về các hoạt động ngoại giao thời Trần, và làm rõ nét vai trò của ngoại giao trong công cuộc bảo vệ đất nước dưới thời Trần
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nhiên cứu của đề tài là hoạt động ngoại giao của nhà Trần trước, trong và sau thời kì kháng chiến chống Nguyên Mông và vai trò của nó trong cuộc chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là chủ trương, chính sách, hoạt động ngoại giao của các vua Trần
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được hoàn thành trên cơ sở nhiều nguồn tư liệu khác nhau Trong đó tư liệu thành văn đóng một vai trò quan trọng, đó là các tác phẩm sử học, các công trình nghiên cứu trên sách báo và tạp chí có liên quan Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng nguồn tư liệu trên mạng internet
Để tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thành đề tài này, chúng tôi đứng trên lâp trường quan điểm Mác - Lênin và đường lối của Đảng Cùng với đó, chúng tôi sử dụng những phương pháp như có tính nguyên lý: phương pháp lịch sử, phương pháp logic Chúng tôi còn sử dụng các phương pháp cụ thể như: phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu để chính xác hóa nguồn tư liệu và phân loại chọn lọc tư liệu phù hợp với yêu cầu của đề tài
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng vận dụng phương pháp liên ngành để hoàn thành khóa luận này Tất cả những phương pháp trên được sử dụng để nhằm tiếp cận
và xử lý thông tin một cách chân thực và khoa học nhất giúp làm sáng tỏ vấn đề đang nghiên cứu
6 Đóng góp của khóa luận
Trang 6Đề tài này góp phần tìm hiểu những chủ trương, chính sách, hoạt động ngoại giao trong thời kì nhà Trần trị vì đất nước mà cụ thể là ngoại giao trong thời kì kháng chiến chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước dưới thời Trần Qua đó thấy được vai trò của các vua Trần cũng như vai trò của ngoại giao trong việc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc Đồng thời cũng giúp người đọc hiểu thêm về một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc ta
Bên cạnh đó, đây cũng sẽ là nguồn tư liệu tham khảo thêm cho những ai muốn tìm hiểu, nghiên cứu về thời Trần, về cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông
và về một giai đoạn lịch sử ngoại giao của dân tộc
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo đề tài gồm có hai chương:
Chương 1: Ngoại giao Đại Việt trong các thời kỳ trước nhà Trần
Chương 2: Vai trò của ngoại giao trong công cuộc đấu tranh, bảo vệ độc lập dân tộc dưới thời Trần
Trang 7NỘI DUNG Chương 1 NGOẠI GIAO ĐẠI VIỆT TRONG CÁC THỜI KỲ TRƯỚC NHÀ TRẦN 1.1 Khái niệm về ngoại giao
Khái niệm ngoại giao đã xuất hiện từ rất lâu, và cũng đã có rất nhiều những định nghĩa khác nhau dành cho khái niệm này Theo từ điển Oxford 1965: Ngoại giao
là việc tiến hành những quan hệ quốc tế bằng cách đàm phán, đó là công tác, nghệ thuật của các nhà ngoại giao
Với E.Stow, ông lại cho rằng ngoại giao là sự sắp đặt trí tuệ và lịch thiệp vào việc tiến hành những quan hệ chính thức giữa các chính phủ
Từ điển Tiếng Việt năm 1996 lại định nghĩa ngoại giao là sự giao thiệp với nước ngoài để bảo vệ quyền lợi của quốc gia mình và góp phần giải quyết những vấn
đề quốc tế chung Như vậy tuy có rất nhiều những định nghĩa khác nhau về ngoại giao,
mỗi định nghĩa lại chú trọng nêu bật những khía cạnh mà nó cho là chủ yếu và quan trọng nhất của khái niệm, nhưng nếu xem xét lại thì tất cả những định nghĩa này đều
có cùng một vài điểm đặc thù; cho thấy ngoại giao là công việc để thực hiện những nhiệm vụ chính trị đối ngoại của các quốc gia, là công cụ chính sách đối ngoại, là nghệ thuật tiến hành đàm phán và kí kết giữa các quốc gia
Theo quan điểm của nhóm nghiên cứu, định nghĩa sau có thể xem là định nghĩa chung nhất và đầy đủ nhất Ngoại giao là một khoa học mang tính tổng hợp của chính trị, xã hội; là nghệ thuật của những khả năng; là hoạt động của các cơ quan đối ngoại nhằm thực hiện chính sách đối ngoại của Nhà nước nhằm bảo vệ quyền lợi, lợi ích, quyền hạn của quốc gia, dân tộc trong nước và thế giới; từ đó góp phần giải quyết những vấn đề chung bằng con đường đàm phán và các hình thức hòa bình
Nói ngoại giao của một quốc gia nghĩa là nói quan hệ của nước đó đối với cộng đồng quốc gia chung quanh, và quan hệ do xuất phát từ yêu cầu tạo một môi trường quốc tế thuận lợi để đất nước sinh tồn và phát triển Cộng đồng quốc tế phát triển từ khi xuất hiện các Nhà nước chiếm hữu nô lệ, cho đến cộng đồng quốc tế toàn cầu như ngày nay
Trang 81.2 Vai trò của ngoại giao truyền thống
Việt Nam là nước có vị trí quan trọng trong giao lưu quốc tế Việt Nam nằm ở trung tâm Đông Nam Á, phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây và Tây Nam giáp Lào và Campuchia, phía Đông và phía Nam nhìn ra biển Thái Bình Dương Do có vị trí khá thuận lợi nên Việt Nam từ sớm đã trở thành cầu nối giữa châu Á và Thái Bình Dương, giữa Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo, nơi giao điểm của các tuyến đường, các luồng hàng từ Bắc tới Nam và từ Đông sang Tây, là nơi gặp gỡ của các nền văn hóa, văn minh lớn, mà ngay từ sớm là văn minh Ấn Độ và văn minh Trung Quốc… Vì vậy mà trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, ngay từ sớm ông cha ta đã nhận thức rõ được hoạt động ngoại giao có vai trò và vị trí vô c ùng quan trọng Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, ngoại giao đã góp phần tích cực vào việc bảo vệ quyền lợi quốc gia, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, đồng
thời củng cố hòa bình và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước
Nói đến ngoại giao Việt Nam, chúng ta tự hào rằng đất nước ta có một nền ngoại giao khá vững chắc, được xây dựng ngay từ những buổi đầu dựng nước Đến khi đất nước ta bị xâm lăng và trải qua quá trình đấu tranh chống giặc thì nền ngoại giao
đó càng được tôi luyện và phát huy Phải nói rằng, trong suốt tiến trình lịch sử dân tộc, đất nước ta đã trải qua không biết bao nhiêu cuộc xâm lăng của phong kiến phương Bắc, của các đế quốc hùng mạnh Nhân dân ta với truyền thống yêu nước đã kiên quyết đứng lên chống giặc và giành được thắng lợi, bảo vệ vững chắc lãnh thổ Việt Nam Trong những chiến công ấy, ngoại giao cũng đóng một vai trò không kém phần quan trọng Một cuộc chiến tranh diễn ra không thể không có những cuộc đàm phán, thỏa thuận để tìm lấy một biện pháp giải quyết có lợi nhất cho cả hai bên Lịch sử ngoại giao nước ta là một cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt nhằm đòi lại những quyền lợi chính đáng cho dân tộc
Trong các thời đại xã hội có giai cấp, nhất là thời phong kiến, quan hệ đối ngoại giữa các nước phổ biến là một thứ quan hệ bất bình đẳng “cá lớn nuốt cá bé”, nước lớn xâm lược nước nhỏ, xâm lược chưa được thì bắt nước nhỏ phải làm chư hầu, phiên thuộc, phải nộp cống, phục dịch nước lớn Nước lớn muốn gì, nước nhỏ phải cung phụng không dám trái: vàng bạc, châu báu, những thú vật quý hiếm, kể cả bắt người làm nô lệ… đủ thứ Như với các triều đại phong kiến ở Trung Quốc, nước ta nhỏ bé
Trang 9hơn do đó quan hệ giữa ta với Trung Quốc lúc bấy giờ là quan hệ “thần phục” Tuy vậy, đó chỉ là bên ngoài, còn bên trong ta vẫn giữ thái độ cứng rắn của một đất nước
có chủ quyền Giữa các nước nhỏ với nhau, quan hệ tuy không căng thẳng lắm, nhưng cũng không tránh khỏi diễn ra cảnh khiêu khích, xung đột, lấn chiếm lẫn nhau Quan
hệ đối ngoại của nước ta đối với các nước khác cũng không sao tránh được các thông
lệ đó của thời đại Với những nước nhỏ như Chiêm Thành, Ai Lao… luôn quấy nhiễu lãnh thổ nước ta, cướp bóc của cải của nhân dân ta, thì chúng ta kiên quyết đánh trả và giành được thắng lợi, sau đó buộc các nước này phải thần phục, đem lễ vật cống nạp theo định kỳ
Khi chiến tranh xảy ra thì ngoại giao giúp chúng ta có thêm thời gian chuẩn bị cho cuộc chiến đấu và đồng thời cũng nắm được tình hình và những âm mưu của địch Thực chất của ngoại giao là những cuộc “đấu khẩu” Vì vậy, nếu ngoại giao giành được thắng lợi thì sẽ mang lại lợi ích vô cùng to lớn cho dân tộc, tránh được những tổn thất nặng nề do chiến tranh gây ra Còn nếu thất bại thì cũng sẽ dẫn đến một cuộc chiến tranh mất mát Với chính sách ngoại giao khôn khéo, “vừa mềm mỏng, vừa cứng rắn” đã giúp cho đất nước ta nhiều lần tránh được những cuộc xung đột, nguy cơ chiến tranh trong lịch sử Và điều đó cũng đã trở thành một đặc điểm truyền thống ngoại giao nước ta Trong chiến tranh, ngoại giao còn giúp cho chúng ta có thời gian nghỉ ngơi để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới, đồng thời làm chậm những bước tiến của quân xâm lược
Quan hệ ngoại giao còn giúp tăng vị thế của đất nước, chứng tỏ khả năng, sức mạnh trước các nước khác Có thể nói, ngoại giao là bộ mặt của đất nước Vì vậy, bất
cứ một ông vua nào mới lên ngôi, việc đầu tiên là đề ra đường lối, chính sách ngoại giao phù hợp Ở mỗi triều đại vua đều có các sứ thần sang giao hảo với các nước láng giềng, nhất là với các nước phong kiến phương Bắc, nhằm tạo mối quan hệ thân thiện, hữu nghị Như thời Đinh, Tiền Lê, Lý cho sứ sang giao hảo với nhà Tống, nhà Trần cho sứ giao hảo với nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh… Những mối quan hệ đó cũng
đã giúp cho nước ta có những thời kì ổn định để phát triển kinh tế - xã hội
Như vậy, trong công cuộc bảo vệ đất nước, đặc biệt là ở thời kì phong kiến độc lập, ngoại giao nước ta đã đóng một vai trò rất to lớn Nó không chỉ góp phần vào thắng lợi vẻ vang của cuộc kháng chiến dân tộc mà còn làm cho các nước khác, đặc
Trang 10biệt là các triều đại phong kiến phương Bắc hiểu rằng: Việt Nam tuy là một nước nhỏ
bé song rất kiên cường và tự chủ, không ai được xâm phạm bờ cõi Việt Nam
1.3 Ngoại giao nước ta trong các thời kì trước nhà Trần
1.3.1 Ngoại giao nước ta từ khi lập nước đến thế kỷ X
Đối ngoại là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước trong quan hệ với các nhà nước, các dân tộc khác Mặc dù nhà nước thời Hùng Vương còn sơ khai nhưng cha ông ta đã chủ động thực hiện các đối sách ngoại giao linh hoạt: cứng rắn nhưng cũng rất mềm dẻo, thân thiện để bảo vệ chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc Trước các hành động quân sự hay đe dọa quốc gia, vua Hùng đã cương quyết chống lại Truyền thuyết và nhiều bản thần tích cho biết thời Hùng Vương có nhiều loại giặc đã
bị đánh bại như giặc Ân, giặc Ô Lư, giặc Hồ Tôn, giặc Mũi Đỏ, giặc Răng Vàng… dường như đã phản ánh một hiện thực nào đó Sử cũ cũng có đoạn chép cho thấy đôi nét về chính sách đối ngoại đó: Xưa, Hoàng Đế dựng nên muôn nước, thấy Giao Chỉ
xa xôi, ở ngoài cõi Bách Việt, không thể thống thuộc được, bèn phân giới hạn ở góc tây nam… Truyền được 18 đời đều xưng là Hùng Vương Việt Câu Tiễn thường sai sứ sang dụ, Hùng Vương chống cự lại Bên cạnh việc sẵn sàng đối phó khi có ngoại xâm, các vua Hùng cũng đã có sự chủ động trong chính sách đối ngoại Hai sự kiện lớn nhất được truyền thuyết và sử sách ghi nhận là việc Hùng Vương sai sứ sang thông hiếu với triều đại ở phương Bắc, tặng “rùa thần” và chim “bạch trĩ” Không chỉ thư tịch cổ Việt Nam ghi nhận mà nhiều cuốn sách của Trung Quốc trải từ đời Chu, Hán đến đời Minh, Thanh đều có ghi chép, mặc dù dài ngắn và có một số điểm khác nhau đôi chút Năm Mậu Thân đời Đường Nghiêu thứ 5 (2353 TCN), có Nam di Việt Thường thị đến chầu, hiến con rùa lớn; Vào đời Đào Đường thị, năm Mậu Thân đời Đường Nghiêu thứ 5, Việt Thường thị sang chầu dâng rùa thần Việt Thường là một trong 15 bộ của nước Văn Lang Sau lần đầu tiên đi sứ Đường Nghiêu, đến thời nhà Chu sứ nước ta lại một lần nữa sang thông hiếu Năm Tân Mão thứ sáu (1110 TCN) đời Thành Vương nhà Chu, họ Việt Thường thị ở bộ Giao Chỉ sai sứ dâng chim trĩ trắng Sứ giả không thuộc đường về, Chu Công cho 5 cỗ xe làm theo lối chỉ nam theo đường ven biển về nước, đi tròn năm mới về đến nước Trên đây là hai sự kiện ngoại giao đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, với phương châm mềm dẻo, hòa bình; đồng thời thể hiện sự chủ động tích
Trang 11cực của cha ông ta đối với lân bang Điều này đã đặt nền móng đầu tiên cho nền ngoại giao Việt Nam với những nét đặc trưng khác biệt
Những sự tiếp xúc đối ngoại của dân tộc ta mà sử sách Trung Quốc ghi lại được chứng minh rằng dân tộc ta đã dựng nước sớm, tiến hành ngoại giao cũng sớm và rất chủ động trong ngoại giao Với những dân tộc ở xa như Trung Quốc thời ấy, dân tộc ta cũng chủ động cho sứ tới giao thiệp, không ngoài mục đích tỏ tình thân thiện giữa hai dân tộc Phong cách ngoại giao của ta thời Hùng Vương còn cho thấy dân tộc ta là một dân tộc sớm có văn hiến, hiểu biết được những biểu tượng cao đẹp của tình cảm con người với con người, của dân tộc này với dân tộc khác và biết sử dụng những biểu tượng đó làm quà tặng trong giao tiếp đối ngoại Từ thời bấy giờ, dân tộc ta đã có ý thức đoàn kết, hữu nghị trong sáng, nhiệt tình và chân thành với tất cả các dân tộc, dù
ở xa ta hàng vạn dặm
Đối với Trung Quốc, nước ta thời Hùng Vương đặt quan hệ thân thiện trong một thời gian dài như thế là hiếm có Nhưng rồi thời thế đổi thay, mối quan hệ giữa hai nước cũng đổi khác Từ khi dựng nước ở vùng Cam Túc xa xôi, hẻo lánh, người Hán ngày càng mở rộng biên giới, chiếm đoạt lãnh thổ của nhiều nước, xóa bỏ nhiều quốc gia lân cận, bành trướng rất mạnh xuống phía Nam, và Trung Quốc nhanh chóng trở thành một nước rộng lớn bậc nhất ở châu Á từ mấy thế kỷ trước Công nguyên
Tới cuối thế kỷ thứ III trước Công nguyên, biên giới Trung Quốc đã mở rộng tới sát biên giới ta Lúc này, dù nước ta muốn giao hảo thì các triều đại phong kiến Trung Quốc cũng không chịu dừng bước bành trướng xâm lược Nhà Hán bắt đầu xâm lược, đánh phá nước ta liên tiếp trong nhiều thế kỷ Cũng từ đó quan hệ đối ngoại của
ta với các triều đại phong kiến Trung Quốc không còn là hòa bình hữu nghị như trước Dân tộc ta đã phải tiến hành một cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ chống các đạo quân phong kiến Trung Quốc xâm lược diễn ra liên tục trong hơn mười thế kỷ Khi nước Âu Lạc đã bị nhà Triệu rồi nhà Hán và các triều đại khác ở Trung Quốc đặt ách đô hộ thì quan hệ giũa hai nước thay đổi Vấn đề đối với Âu Lạc khi đó
là chống lại sự đô hộ triều đại phong kiến phương Bắc, khôi phục lại chủ quyền, giải phóng đất đai Cuộc chiến đấu đó cũng chính là vì sự khôi phục quan hệ bình thường giữa hai nước Trong thời kì này, có rất nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra nhằm chống lại sự
đô hộ của các thế lực phương Bắc
Trang 121.3.2 Ngoại giao Đại Việt thời kì độc lập tự chủ (từ thế kỷ X – XIII)
1.3.2.1 Họ Khúc
Cuối thế kỷ thứ IX, những binh lính người Việt dưới quyền tiết chế của tiết độ
sứ nhà Đường đã nổi lên làm một cuộc binh biến rất lớn, đánh đuổi tiết độ sứ cùng toàn bộ quan lại, quân sĩ của chúng về nước Cả nước sạch bóng quân xâm lược Một người anh hùng dân tộc là Khúc Thừa Dụ lên cầm quyền trị nước, chấm dứt ách thống trị của bọn xâm lược nhà Đường
Về đối nội, nhân dân ta từ đây tự tổ chức lấy chính quyền độc lập của mình Về đối ngoại, Khúc Thừa Dụ thi hành một chính sách mềm dẻo nhằm ngăn chặn nhà Đường mưu đồ tái chiếm nước ta, để ta rảnh tay xây dựng đất nước Do đấy, Khúc Thừa Dụ tự nhận mình là tiết độ sứ, thay mặt nhà Đường cầm quyền ở Việt Nam Với phương thức đối ngoại này của Khúc Thừa Dụ, quan hệ giữa nước ta và nhà Đường tưởng như không có gì khác trước, nhưng về căn bản rất khác Khác ở chỗ người Việt Nam tự cai trị người Việt Nam, nước Việt Nam hoàn toàn tự chủ Tự nhận mình là tiết
độ sứ, Khúc Thừa Dụ một mặt buộc triều đình nhà Đường phải chấp nhận, vì nhà Đường lúc này tổ chức được một cuộc hành quân mới để xâm lược nước ta cũng rất khó, nên ưng thuận để không mất thể diện; mặt khác ta ngăn chặn được các tiết độ sứ
ở miền biên cương gần nước ta không thể lợi dụng thời cơ lấy danh nghĩa nhà Đường
để đánh phá ta, vì ta vẫn nhận thần phục nhà Đường
Chủ trương ngoại giao hòa hoãn, mềm dẻo của Khúc Thừa Dụ tạo điều kiện cho nhân dân ta và họ Khúc giữ vững chủ quyền dân tộc trong hơn ba mươi năm Nhưng không phải vì thế mà giặc ngoài đã chịu từ bỏ dã tâm xâm lược của chúng
Năm 907, Khúc Thừa Dụ mất và cũng là lúc Trung Quốc bước vào thời kỳ đại loạn, gọi là thời “Ngũ đại thập quốc” tức “Năm triều đại mười quốc gia” Năm triều đại nối tiếp nhau ở triều đình Trung ương và mười quốc gia lần lượt xuất hiện trong nội địa Trung Quốc Thoạt đầu là nhà Đường bị diệt, nhà Hậu Lương cướp ngôi Ở ta, con Khúc Thừa Dụ là Khúc Hạo lên cầm quyền thay cha, và ngay năm 907 cho người sang giao hảo với triều đại mới ở Trung Quốc là nhà Hậu Lương Nhà Hậu Lương buộc lòng phải thừa nhận Khúc Hạo làm tiết độ sứ Nhưng năm sau (908), Hậu Lương lại phong cho tiết độ sứ ở Quảng Châu (tức Quảng Đông), kiêm nhiệm cả chức tiết độ
sứ ở nước ta Điều này là một chứng minh lịch sử cho thấy: dù trong nước có lâm vào
Trang 13cảnh đại loạn, rối ren thế nào chăng nữa, các tập đoàn phong kiến Trung Quốc cũng không từ bỏ dã tâm xâm chiếm nước ta
Mười năm sau (tức năm 917), tiết độ sứ Quảng Châu là Lưu Cung chống lại triều đình Trung ương, lập nước riêng ở Quảng Châu, xưng hoàng đế, đóng đô ở Phiên Ngung, sách sử gọi là nhà Nam Hán Bọn Lưu Cung cũng có tham vọng bành trướng xuống phía Nam, đánh cướp nước ta, nhưng lúc ấy (năm 917 - 918) Nam Hán sức còn yếu, phạm vi thế lực chỉ mới trong khu vực Quảng Đông và một phần Quảng Tây nên
vẫn phải giao hảo với ta “Năm 917, khi được tin nhà Nam Hán thành lập ở Hoa Nam
(vùng Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay), Khúc Hạo đã cử con là Khúc Thừa Mỹ sang làm “hoan hảo sứ” và mượn tiếng là kết mối hòa hảo để dò xét tình hình hư thực thế nào” [24, tr.104]
Cũng trong năm ấy, Khúc Hạo mất, Khúc Thừa Mỹ trở về nước thay cha nắm chính quyền Biết được ý đồ của quân Nam Hán, Khúc Thừa Mỹ sai sứ sang nhà Lương xin lĩnh “tiết việt” với ý nghĩa thầm phục Đất nước được yên bình trong một thời gian
13 năm sau, tức năm 930, nước Nam Hán có một quá trình đánh Đông, cướp Tây, đã mạnh hơn trước, nên Lưu Cung vua nước Nam Hán cho một đạo quân bất thần đánh sang nước ta Khúc Thừa Mỹ không kịp đối phó, bị sa vào tay quân cướp nước
Nhìn chung, ngoại giao nước ta dưới sự trị vì của họ Khúc chưa có gì đặc biệt Bởi vì, nhưng tình hình ở Trung Quốc lúc bấy giờ chưa cho phép các thế lực phong kiến Trung Quốc sang xâm lược nước ta mà thay vào đó là các mối quan hệ láng giềng hữu nghị giữa hai nước
1.3.2.2 Triều Ngô
Sau khi đánh thắng quân Nam Hán, đầu năm 939, Ngô Quyền lên ngôi vua, cầm quyền trị nước, bỏ danh hiệu tiết độ sứ, dứt khoát cắt đứt quan hệ lệ thuộc các vương quyền phương Bắc Ngô Quyền lập triều đình, đặt trăm quan (không rõ niên hiệu, tên hiệu là gì), sau này sách sử ghi là Ngô Vương Về đối ngoại, Ngô Quyền không giao thiệp với Nam Hán mà ông vừa đánh cho đại bại và cũng không liên hệ với nước nào trong "Ngũ đại thập quốc" lúc ấy Nhưng ông cho phép những người Trung Quốc chạy loạn được sang sinh cơ lập nghiệp ở lãnh thổ do mình cai quản Ngô Quyền cũng tiếp nhận những tướng sĩ Trung Quốc bị thất bại trong nội chiến xin sang trú ngụ
Trang 14ở nước ta Một số tướng sĩ Trung Quốc được Ngô Quyền thu dung cho làm việc tại triều hoặc tại các địa phương
Năm 954, Ngô Xương Văn sai sứ sang giao hảo với Nam Hán và xin tiết việt Vua Nam Hán là Lưu Thịnh nhận giao hảo của Xương Văn Sau đó Lưu Thịnh cho Lý
Dư làm sứ cầm cờ “tinh” sang chiêu dụ nhận Tĩnh Hải quân là phiên thần, lại phong chức Tiết độ sứ, kiêm Đô hộ cho Ngô Xương Văn Được tin Lý Dư sắp vào, Ngô Xương Văn cho ngay người đi sang biên giới ngăn lại Hai bên gặp nhau ở Bạch Châu
Sứ của Xương Văn nói với Lý Dư rằng: “Giặc biển đương làm loạn, đường xá đi lại
rất khó Lý Dư bèn quay về nước” [16, tr.56] Đó là lần ngoại giao duy nhất giữa nhà
Ngô và Nam Hán trong 21 năm tồn tại
Ngô Quyền làm vua được 6 năm thì mất Đáng lẽ con Ngô Quyền lên nối ngôi cha Nhưng em vợ Ngô Quyền là Dương Tam Kha cướp ngôi vua Một số quan lại, tướng sĩ của Ngô Quyền không chịu, nổi lên chống lại Dương Tam Kha, mỗi người cầm quân chiếm giữ một địa phương, lập thành giang sơn riêng, gây nên tình trạng cát
cứ, trước còn ít, sau lên tới 12 sứ quân
1.3.2.3 Triều Đinh
Năm 968, nạn cát cứ đã chấm dứt, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua Khác với Ngô Quyền, ông lập hẳn một triều đại, lên ngôi hoàng đế, xưng là Minh Hoàng đế, đặt mình ngang hàng với các hoàng đế Trung Quốc, sử sách gọi ông là Đinh Tiên Hoàng (tức Đinh Tiên Hoàng đế) là gọi theo niên hiệu Tiên Hoàng đế mà người ta đặt cho ông khi ông đã mất
Về quan hệ ngoại giao với Trung Quốc thì từ thời Ngô đã không có Khi Đinh
Bộ Lĩnh lên ngôi vua, quan hệ ngoại giao với Trung Quốc cũng chưa đặt ra ngay, vì Trung Quốc chưa chấm dứt được nạn “Ngũ đại thập quốc” Ở ta, trong khi Đinh Bộ Lĩnh tiến hành thống nhất đất nước thì Triệu Khuông Dận ở Trung Quốc cũng nổi lên dẹp loạn “Ngũ đại thập quốc” Năm 960, Triệu Khuông Dân diệt được nhà Hậu Chu - một triều đại cuối cùng của “Ngũ đại”, nhưng còn “thập quốc” Triệu Khuông Dân lập nên triều Tống và tiếp tục thanh toán “thập quốc”
Đinh Tiên Hoàng lên ngôi vua được 2 năm thì năm 970 ở Trung Quốc, Tống Thái Tổ (tức Triệu Khuông Dân) tiến quân xuống phía nam đánh Nam Hán Năm 971, Nam Hán bị diệt Từ đấy biên giới Tống sát với nước ta Tống đặt quan hệ giao hảo
Trang 15với ta, chưa có ý đồ gì khác, vì Trung Quốc chưa thống nhất, Tống còn phải lo đối phó với một số nước “thập quốc” ở phía bắc và phía đông Cho nên quan hệ buổi đầu giữa hai nước là hòa bình hữu nghị Năm 973, vua Tống phong Đinh Tiên Hoàng làm Giao chỉ quận vương và phong Liễn làm kiểm hiệu thái sư Tĩnh hải quân Tiết độ sứ An Nam đô hộ
Có điều đặc biệt trong đường lối, phong cách ngoại giao của Đinh Tiên Hoàng
là ông vẫn làm vua, vẫn cầm quyền trị nước, nhưng trong các văn bản quan hệ ngoại giao thì ông lại cho con trai là Đinh Liễn đứng tên, tức là ông cho con ông ra mặt giao thiệp với hoàng đế nhà Tống Thái độ đó của Đinh Tiên Hoàng, có thể triều Tống không bằng lòng, nhưng nhà Tống chưa làm gì được Năm 975, nhà Tống cử người sang phong Đinh Liễn làm Giao chỉ quận vương Tới năm 979, nhà Tống diệt được nước cuối cùng trong “thập quốc” là nhà Bắc Hán ở phía bắc, thống nhất được Trung Quốc rộng lớn Do đấy, nhà Tống lúc này quân đông thế mạnh Trong khi đó ở ta, cũng năm 979 vua Đinh Tiên Hoàng và con lớn là Đinh Liễn đều bị cận thần sát hại Con nhỏ là Đinh Toàn mới 5 tuổi lên nối ngôi, vua Tống tính ngay chuyện xâm lược nước ta Thế là quan hệ ngoại giao giữa ta và Tống trở thành xấu
Khoảng những tháng đầu năm 980, viên quan Tống coi Ung Châu (tức miền
Quảng Tây bây giờ) báo cáo về triều đình Tống rằng: “An Nam quận vương và con là
Liễn đều bị giết, nước đã gần mất, có thể nhân lúc này đem quân địa phương đánh lấy được, nếu bỏ lúc này không mưu sự sợ mất cơ hội ” [16, tr.63]
Tống triều vội nắm lấy cơ hội Ngay tháng 7 năm 980, Tống triều quyết định
“xuất kỳ bất ý đem quân đánh úp… như sét đánh không kịp bưng tai” [16, tr.63] Nhà
Tống bắt đầu họp quân, tuyển tướng
Sang tháng 8, vua Tống hạ lệnh cho các tướng Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng, Khích Thủ Tuấn (có sách viết là Hác Thủ Tuấn.), Trần Khâm Tộ, Thôi Lượng, Lưu Trừng, Giả Thực, Vương Soạn “họp quân bốn mặt, hẹn ngày cùng sang xâm lược” Khí thế Tống rất mạnh
Tháng 9, vua Tống cho đem thư sang hăm dọa ta, coi như một tối hậu thư Đây
là một văn kiện ngoại giao của kẻ xâm lược mà sử sách của ta lần đâu tiên ghi lại Đó
là một văn kiện khá dài, lời lẽ rất thô bạo, hống hách Có những đoạn viết: “ … Nay
thành triều ta, lòng nhân trùm muôn nước; cơ nghiệp thái bình kể cũng đã thịnh, điều
Trang 16lễ phân phong đã sắp sửa làm, muốn ngươi đến chầu cho ta được vui khỏe, mà ngươi khỏi cái tủi áp mặt vào góc nhà để làm rầy cho ta, khiến ta phải dùng đến kế chặt xác băm xương, làm cỏ nước người, lúc ấy hối sao kịp…” “ Người có theo về không? Chớ rước lấy tội lỗi Ta đương chỉnh bị xe ngựa, quân lính, sắp sửu các thứ chiêng trống, nếu quy thuận thì ta tha cho, nếu trái lệnh thì ta quyết đánh Theo hay không, lành ha y
dữ, tự người nghĩ lấy .” [16, tr.64]
Đe dọa ngoại giao như thế này không phải là một việc làm ngẫu nhiên mà là quốc sách của kẻ bành trướng, một bước mở đầu của chiến tranh xâm lược
1.3.2.4 Triều Tiền Lê
- Quan hệ với nhà Tống: Về ngoại giao, Lê Hoàn cũng rất khôn khéo và cứng rắn, nên
người Tống càng e ngại, dè dặt Họ nhìn nhận Lê Hoàn như một nhân vật thật sự kiên cường, dũng mãnh, không biết sợ là gì, có thể làm những việc kinh thiên động địa Đúng là Lê Hoàn giỏi về nhiều mặt: giỏi quân sự, giỏi nội trị, mà ngoại giao cũng rất giỏi
Riêng về ngoại giao, trong quan hệ với nhà Tống, Lê Hoàn thực hiện một chính sách vừa mềm dẻo vừa cứng rắn; mềm dẻo để giữ vững hòa hảo giữa hai nước, nhưng cứng rắn để hạn chế những thái độ hống hách, nước lớn của nhà Tống
Sau khi đánh thắng quân Tống, Lê Hoàn chủ động cho sứ sang Tống Trong thời gian từ năm 982 đến 985, sứ thần hai nước, ta và Tống thường qua lại, nhưng Lê Hoàn không đả động gì đến việc trả tù binh cho Tống Năm 985, nhà Tống sai sứ sang thăm nước ta Tới năm 986, tức 5 năm sau khi chiến tranh kết thúc, Lê Hoàn mới chấp nhận giải quyết vấn đề tù binh và báo cho Tống biết Cuối năm 986, vua Tống cho hai quan văn là Lý Nhược Chuyết và Lý Giác sang ta để nhận tù binh và mang sắc vua Tống phong Lê Hoàn chức An Nam đô hộ Tĩnh hải quân tiết độ sứ, kinh triệu quận hầu Sắc phong này chỉ có ý nghĩa là nhà Tống phải chính thức thừa nhận Lê Hoàn là người cầm quyền trị nước của ta và chịu từ bỏ mưu đồ xâm lược nước ta Trên thực tế,
Lê Hoàn vẫn là hoàng đế của một nước độc lập, không phải tiết độ sứ của một địa
phương nào của Tống “Vua nhận chế rất kính, lễ thết đãi rất hậu, hàng ngày đem
những thứ quý bày chặt cả sân, để tỏ sự giàu có Đem bọn Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân trả cho về Lại bảo Lý Nhược Chuyết và Giác rằng: “Nước tôi bé nhỏ ,
Trang 17sông núi xa xôi, nghìn dặm cách trời, ở lánh góc đất, sứ thần đi lại, lặn lội núi sông,
Nga nga lưỡng nga nga
Ngưỡng diện hướng thiên nha
Lái đò Đỗ Thuận ngâm tiếp theo ngay:
Bạch mao phô lục thủy Hồng trạo bãi thanh ba
Bốn câu thơ của Lý Giác và Đỗ Thuận hợp lại là:
Nga nga lưỡng nga nga Ngường diện hướng thiên nha Bạch mao phô lục thủy
Hồng trạo bãi thanh ba
Dịch:
Ngỗng kìa ngỗng một đôi Ngửa mặt nhìn chân trời Lông trắng vô nước biếc
Rẽ sóng, chèo hồng bơi [25, tr.116]
Lý Giác rất khâm phục người lái đò thông minh, uyên bác, và qua tài trí của người lái đò, Lý Giác rất khâm phục trình độ văn hiến và tài năng của nhân dân ta Như thế là việc nhà sư Đỗ Thuận chèo thuyền tiếp sứ đã đạt được mục đích của Lê
Hoàn Khi Lý Giác sứ Tống trở về nước, vào triều từ biệt vua ta Lê Hoàn, sử ghi “Lý
Giác lạy ra về” [16, tr.69]
Trang 18Năm 990, nhà Tống cử Tống Cảo mang chiếu thư của vua Tống phong thêm cho Lê Hoàn hai chữ “Đặc tiến” Lê Hoàn cho quân ra đón vào theo đường biển Thuyền đón sứ đi khoảng một tháng mới tới trạm tiếp sứ của ta đặt ở gần kinh thành Hoa Lư Từ trạm tiếp sứ, sứ Tống nhìn ra thấy dưới sông thuyền chiến san sát, quân sĩ
ta đương chèo thuyền, đánh chiêng trống, hò reo tập trận Bên sườn núi gần kinh thành, cờ xí, khí giới rợp trời, quân sĩ binh phục sặc sỡ, đi lại tấp nập Đây là một cách
uy hiếp tinh thần sứ Tống ngay khi chúng mới tới
Công việc của sứ là đem một chiếu thư của vua Tống tới vua ta Theo lễ nghi ngoại giao phong kiến, khi nhận chiếu thư của thiên tử nước lớn, vua ta phải lạy bức chiếu thư đó Nhưng nhận chiếu thư của vua Tống, Lê Hoàn không lạy, lấy cớ là năm vừa qua đánh giặc bị ngã ngựa đau chân, sứ Tống cũng đành chịu
Mở tiệc chiêu đãi sứ thần nhà Tống, vua Lê Hoàn cho đặt yến tiệc tại bãi biển,
để chủ và khách vừa ăn yến, vừa liên hoan múa hát, lấy trò bắt cá làm vui Tổ chức chiêu đãi như thế là rất trọng thể, nhưng lại rất bất tiện khó xử cho sứ, ăn mất ngon Vì trong khi yến tiệc, Lê Hoàn tuy là vua, nhưng tự cởi mũ áo, bỏ giày, đi chân không lội xuống nước đâm cá Các quan dự tiệc cũng cởi đai, mũ, đi chân không lội xuống nước tham gia trò đâm cá như Lê Hoàn Mỗi khi có người đâm trúng cá thì mọi người hò reo nhảy múa Sứ nhà Tống tại bàn tiệc trở nên lúng túng, không dám làm theo Trong khi ăn uống, Lê Hoàn thường tự hát để mời rượu các sứ thần Sứ nhà Tống đón cốc rượu mà không hát đáp lại được nên rất ngượng ngùng, không ăn uống được
Khi Tống Cảo, Vương Thổ Tác xin phép về nước, Lê Hoàn bảo thẳng vào mặt
sứ rằng: Sau này có quốc thư thì nên để giao nhận ngay ở đầu địa giới, không phiền sứ thần đến đây nữa Khi về tới nước, bọn Tống Cảo phải tâu đúng như thế với vua Tống Vua Tống cũng phải bằng lòng, không làm gì được hơn 5 năm sau (tức năm 995), tại miền biên giới giữa nước ta và nước Tống, đôi khi có những cuộc xung đột vũ trang nhỏ do quân địa phương gây nên Theo báo cáo của quan lại nhà Tống ở Quảng Tây, Liêm Châu là Trương Quan, Vệ Chiêu Tiểu gửi vua Tống thì ta đã cho hơn 100 thuyền chiến sang đánh cướp trấn Như Hồng thuộc Khâm Châu, gần biên giới nước ta, rồi lại cho hơn 5.000 hương binh đánh sang đất Ung Châu (Quảng Tây) Không rõ đó là những sự việc có thật hay quan lại nhà Tống ở vùng biên giới có ý vu cáo để gây chuyện với ta Nhưng vua Tống bỏ qua những lời tâu ấy, không muốn có điều gì bất
Trang 19hòa với ta Sau đó, bọn Trương Quan, vệ Chiêu Tiểu lại tâu dối vua Tống là vua Lê Hoàn đã bị mất ngôi, phải chạy ra hải đảo làm nghề cướp biển và cũng đã chết rồi Vua Tống phải cho người đi dò xét xem hư thực thế nào thì thấy bọn này tâu láo Vua Tống cho đem hành tội bọn Trương Quan, Vệ Chiêu Tiểu Vệ Chiêu Tiểu bị xứ chém; Trương Quan sợ, phát bệnh mà chết Sau khi hành tội bọn này, vua Tống cho Lý Nhược Chuyết sang sứ nước ta, mang chiếu thư và đai ngọc tặng vua Lê Hoàn “mong
ta vẫn giữ quan hệ láng giềng tốt”
Lê Hoàn nhận chiếu thư và đai ngọc một cách bình đẳng với thiên tử nhà Tống,
chứ không làm lễ phiên thần Lê Hoàn bảo sứ Tống là Lý Nhược Chuyết rằng: “Việc
cướp trấn Như Hồng là bọn giặc biển ở cõi ngoài, Hoàng đế có biết đó không phải là quân của Giao Châu không? Nếu Giao Châu (chỉ nước ta) chống lại thì đầu tiên đánh vào Phiên Ngung (Quảng Châu) rồi đánh đến Môn Việt (vùng Phúc Kiến) há chi đánh một trấn Như Hồng mà thôi” [16, tr.72] Thời xưa, triều đình tiếp sứ phương Bắc ít khi
nói được những điều cứng rắn như thế
Năm 997, theo yêu cầu của Lê Hoàn, vua mới của nhà Tống là Tống Chân Tông phải hạ lệnh không cho sứ sang Việt Nam, mỗi khi có gì đưa sang Việt Nam thì chỉ cho quan đem đến biên giới rồi báo sang ta; ta cho người lên biên giới nhận Từ đây cho tới khi Lê Hoàn mất, đôi khi chỉ có sứ ta sang Tống mà không có sứ Tống sang ta
Đây là một thắng lợi ngoại giao tỏ rõ sức mạnh của dân tộc ta vào thời kỳ Lê Hoàn làm vua và ưu thế của người Việt Nam trong quan hệ đối ngoại thời đó Đối với nhà Tống, quan hệ hòa hảo giữa hai nước vẫn giữ vững, nhưng chỉ mình sang nước người mà người không được sang nước mình, chấm dứt mọi hành động hống hách, hạch sách của sứ Tống đối với nhân dân Việt Nam
Những thắng lợi ngoại giao của Lê Hoàn có ảnh hưởng tốt trong nhiều năm sau khi ông đã qua đời Năm 1005 Lê Hoàn mất, miếu hiệu là Đại Hành Hoàng đế, sách sử thường viết là Lê Đại Hành Cuối năm 1005, Lê Long Đĩnh lên nối ngôi, nhưng chưa đặt quan hệ với nhà Tống ngay, vì sau khi Lê Hoàn chết bọn vua chúa nhà Tống mưu tính đánh cướp nước ta
Vua Tống cho viên tri châu Quảng Châu là Lăng Sách và viên an phủ sứ miền biển là Thiệu Việp tìm hiểu tình hình và chuẩn bị kế hoạch xâm lược nước ta Sau hơn
Trang 20một năm liệu định phương lược, tháng 7 năm 1006, bọn Lăng Sách tâu lên vua Tống
xin đem quân đánh nước ta và y quả quyết: “Nếu triều đình chuẩn y, xin lấy binh ở các
châu Quảng Nam và cho thêm 5.000 quân tinh nhuệ ở Kinh Hồ, theo hai đường thủy
bộ cùng tiến thì lập tức bình định được” [16, tr.75]
Nhưng vua Tống không dám quyết Sức mạnh của dân tộc ta thời Lê Hoàn trị
nước vẫn làm cho vua Tống e ngại “Họ Lê thường vẫn sai quân con vào chầu, không
thiếu trung thuận, nay nghe tin mới chết chưa có kễ thăm viếng đã vội đem quân sang đánh, như vậy không đáng là đấng vương giả” [24, tr.33] Cho nên Tống và ta tiếp tục
giao hảo
Được ít lâu sau, An phủ sứ nhà Tống là Thiệu Tiệp lại đề nghị xâm lược nước
ta một lần nữa, nhưng vua Tống không thuận đáp: “Giao Châu độc địa, nếu đem quân
sang đánh, chết hại rất nhiều, nên giữ cẩn thẩn cõi đất của tổ tông mà thôi ”.[24,
tr.33] Như vậy, việc vua Tống vẫn còn do dự trong quyết định xâm lược nước ta chứng tỏ một bước thắng lợi trong chính sách ngoại giao của triều đình và nhân dân ta thời Lê sơ Khẳng định được vị thế của một đất nước có chủ quyền và Đại Việt không còn là một nước bé nhỏ dễ dàng bị xâm chiếm bất cứ lúc nào Năm 1007 Lê Long Đĩnh cho sứ sang biếu vua Tống một tê ngưu và đề nghị mấy điều:
“1 Vua Tống cho vua ta một bộ áo giáp, mũ trụ trang sức bằng vàng
2 Để người Việt Nam sang buôn bán tại Ung Châu (ngày nay là Nam Ninh)”
[5, tr.19]
Vua Tống nhận lời tặng áo giáp, mũ trụ cho Lê Long Đĩnh và nhận để người Việt Nam sang buôn bán tại Liêm Châu và trấn Như Hồng Về con tê ngưu, vua Tống không muốn nhận, lấy lý do là tê ngưu từ xa đến, không hợp thủy thổ, muốn trả lại, nhưng không dám, sợ mất lòng vua Việt Nam, để sứ ta về nước rồi mới cho đem con
tê ngưu thả ra bãi biển Rõ ràng, trong quan hệ giữa nhà Lê và nhà Tống, giai cấp phong kiến Việt Nam mặc dầu về danh nghĩa chịu thuần phục vua Tống và hàng năm nộp cống nhưng thực chất rất bình đẳng, đôi khi còn giữ ưu thế
- Quan hệ với Champa: Bấy giờ Champa nằm dưới quyền thống trị của vua Phê Mị
Thuế (Paramece Varavar-man) Champa vẫn giữ thái độ thù địch với nhà Lê Sau khi lên ngôi, Lê Hoàn sai Từ Mục và Ngô Tử Canh sang sứ Champa giao hảo nhằm yên
Trang 21mặt Nam Vua Champa bắt giữ các sứ thần lại, Lê Hoàn giận lắm nhưng lúc này còn bận việc chống Tống nên để yên
Kháng chiến chống Tống thắng lợi, năm 982, Lê Hoàn liền cho quân “sửa sang
thuyền chiến và đồ giáp binh, tự làm tướng, đi đánh, chém Được tướng nước ấy là Bề
Mi Thuế tại trận, bắt được tù binh rất nhiều Chúa Chàm bỏ thành chạy Ta bắt được rất trăm người cung nữ và vàng bạc châu báu kể có hàng vạn…” [23, tr.90] Từ đó,
quan hệ giữa Đại Cồ Việt và Champa trở lại bình thường Sau này, vương triều mới của Champa lại tiếp tục chính sách chống nhà Lê
1.3.2.5 Triều Lý
- Quan hệ với nhà Tống: Năm 1010, nhà Lý thay nhà Lê lên cầm quyền nước ta Lý
Thái Tổ cho sứ sang giao hảo với nhà Tống Bọn triều thần nhà Tống có ý muốn từ chối, không nhận quan hệ với triều Lý, tức là có ý muốn kiếm chuyện với ta Nhưng vua Tống do dự, nên nhà Tống vẫn tiếp nhận sứ ta Vua Tống phong cho Lý Công Uẩn làm Giao chỉ quận vương Tĩnh hải quân Tiết độ sứ Từ đấy, quan hệ giữa hai bên rất hòa hảo Nhà Lý hàng năm nộp đủ cống lễ cho nhà Tống và chịu thần phục
Vào đầu những năm 70 của thế kỷ XI, Vương An Thạch lên làm tể tướng nhà Tống, bị bọn quan lại xúi giục phá vỡ quan hệ hòa hảo, gây thành cuộc chiến tranh xâm lược lớn Quan hệ Lý - Tống căng thẳng trong một thời gian
Quan hệ với nhà Tống ngày càng căng thẳng Cuối năm 1073, quan lại nhà Tống lại dụ dỗ Nông Thiện Mỹ, một thủ lĩnh vùng gần Thất Khê (Cao Bằng ngày nay) đem 700 dân chạy sang theo Tống Đầu năm 1075, triều đình nhà Lý viết thư sang triều đình Tống đòi Tống trả lại ta Nông Thiện Mỹ và 700 dân, Tống không nghe và không trả lời Bởi lẽ nhà Tống chuẩn bị xâm lược nước ta và Quảng Tây là trung tâm chuẩn bị chiến tranh Triều đình Tống dồn nhiều tiền của, công sức, binh lính, quân trang, quân dụng cho Quảng Tây
- Quan hệ với Champa, Chân Lạp: Nhà Lý lên, Champa và Chân Lạp đều thần phục và
sai sứ sang cống Năm 1020, quân Chàm đánh ra Đại Cồ Việt Thái Tổ sai con đem quân đánh vào Bố chính chém được tướng Chiêm rồi rút quân về
Sau một cuộc nội loạn, vua Chàm lại trỏ về chính sách quấy phá Đại Việt Năm
1044, Thái Tông đem đại quân vào đánh Champa Hai bên đánh nhau kịch liệt ở sông Ngũ hồ (thuộc Quảng Nam) Quaan Champa bị chết rất nhiều Từ đấy, Champa lại
Trang 22chịu thần phục nhà Lý, nhưng chỉ là bề ngoài Năm 1055, An phủ sứ tỉnh Quảng Tây
đã tâu với vua Tống: “…Chiêm Thành nay đang soạn sửa quân để đánh Giao Chỉ”
Vua Champa lại cho sứ sang cống hiến nhà Tống, ý muốn dựa vào thế lực nhà Tống để chống Đại Việt Năm 1065, Champa cắt đứt quan hệ với Đại Việt và đem quân quấy nhiễu vùng biên giới
Năm 1069, để chuẩn bị chống Tống, vua Lý đem quân đánh Champa Quân Lý
đã đánh vào tận kinh đô Chàm, bắt vua Chế Củ và 5 vạn tù binh đưa về Vài tháng sau, quan lại Chàm cho người sang dâng đất 3 châu Địa lí, Ma linh và Bố chính xin thuộc Chế Củ Lý Thánh Tông đồng ý Từ đấy, Champa nhiều lần ra đánh phá để giành lại các đất song đều bị đánh lui Đất Ma linh, Địa lí, Bố chính dần trở thành lãnh thổ vững bền của Đại Việt
Như vậy, ngoại giao nước ta từ khi dựng nước trải qua các thời kì với các triều đại phong kiến đã được định hình và có những bước phát triển mới Dựa vào tình hình, hoàn cảnh của đất nước ta, các triều vua khi lên ngôi đã cố gắng tạo ra những mối quan hệ thân thiện, hữu nghị với các nước láng giềng nhằm giữ vững chủ quyền độc lập dân tộc và tạo điều kiện để đất nước phát triển Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XIII dưới sự trị vì của nhà Trần thì nền ngoại giao Đại Việt mới thực sự được phát huy, sáng tạo một cách mạnh mẽ, phục vụ đắc lực trong công cuộc bảo vệ đất nước ở thời
kì này
Trang 23Chương 2 VAI TRÒ CỦA NGOẠI GIAO TRONG CÔNG CUỘC ĐẤU TRANH, BẢO VỆ
ĐỘC LẬP DÂN TỘC DƯỚI THỜI TRẦN 2.1 Khái quát về nhà Trần và tình hình Đại Việt ở thế kỷ XIII
Từ nửa sau thế kỷ XII, nhà Lý ngày càng sa sút rõ rệt, các vua Anh Tông, Cao Tông lên ngôi đều mới 3 tuổi, quyền hành rơi vào tay bọn cận thần mọt nước hại dân Lúc bấy giờ xã hội đương rất rối ren, hỗn loạn Bọn quan lại ra sức phá phách, hoành hành , đục khoét nhân dân Đời sống nhân dân hết sức khổ cực Thiên tai mất mùa xảy
ra liên miên, lại thêm thuế má, lao dịch nặng nề Do đó, lúc bấy giờ, các cuộc khởi nghĩa của nông dân nổi dậy khắp nơi Cùng với đó là các cuộc chiến tranh giữa các thế lực phong kiến cũng nổ ra, làm cho cuộc khủng hoảng xã hội càng thêm sâu sắc
Về sau, họ Trần gây được chỗ dựa có uy tín, bắt đầu trấn áp các thế lực phong kiến khác, thống nhất chính quyền Quyền lực rơi vào tay họ Trần Cuối 1224, họ Trần bức Huệ Tông nhường ngôi cho công chúa Phật Kim (tức là Chiêu Thánh công chúa) Phật Kim bấy giờ mới 7 tuổi, lên nối ngôi, đặt niên hiệu là Chiêu Hoàng Đầu năm
1226, Chiêu Hoàng cởi áo ngự bào cho chồng là Trần Cảnh Trần Thủ Độ là người trực tiếp chỉ đạo, điều hành công việc truyền ngôi của Chiêu Hoàng Trong những tháng năm Trần Cảnh còn nhỏ, Trần Thủ Độ quán xuyến mọi việc trong triều đình Sử
cũ ghi: “Thủ Độ tuy là người không có học vấn nhưng tài lược hơn người, làm quan
triều Lý được mọi người suy tôn Thái Tông lấy được thiên hạ đều là mưu sức của Thủ
Độ cả, cho nên nước nhà phải nhờ cậy, quyền hơn vua” [26, tr.175]
Triều đại nhà Trần bắt đầu từ 1225 đến 1400 Nhà Trần trải qua các triều vua: Thái Tông (1225 - 1258), Thánh Tông (1258 - 1278), Nhân Tông (1279 - 1293), Anh Tông (1293 - 1314), Minh Tông (1314 - 1329), Hiến Tông (1329 - 1341), Dụ Tông (1341 - 1369), Nghệ Tông (1370 - 1372), Duệ Tông (1372 - 1377), Phế Đế (1377 -1388), Thuận Tông (1388 - 1398)
Về tổ chức bộ máy hành chính và quan lại thì năm 1242, nhà Trần chia nước ta làm 12 lộ Năm 1262, Thánh Tông đổi làng Tức Mặc làm phủ Thiên Trường Dưới lộ, phủ có châu, huyện và xã Thời Thiệu Phong (1341 - 1357) chia Thanh Hóa ra làm 3
Trang 24phủ: Thanh Hóa, Cửu Chân và Ái Châu Châu Tuyên Quang thuộc lộ Quốc Oai Đời Anh Tông đổi hai châu Ô, Lý làm châu Thuận, Hóa
Đứng đầu triều là vua, vua có quyền cao nhất, quyết định tất cả Nhưng để đảm bảo vững chắc vị trí và khả năng nắm chính quyền trong tay vua, tránh những vụ tranh ngôi trong nội bộ hoàng tộc và cũng để cho vua trẻ điều khiển chính quyền vững vàng, nhà Trần đặt ra chế độ “Thái thượng hoàng” Vua cha chỉ làm việc một số năm rồi truyền ngôi cho con, còn bản thân lui về phủ Thiên Trường, xưng là Thái Thượng
hoàng và vẫn trông coi chính sự Quyền hành của Thái Thượng hoàng rất lớn, không
chỉ có quyền chỉ định người con kế vị mà khi cần có thể truất bỏ ngôi vua [26, tr.177]
Sự liên kết dòng họ nắm chính quyền như một nguyên tắc mà các vua Trần cố gắng thực hiện Hầu hết các chức vụ trong quan trọng trong triều đình và ở các địa
phương lộ, phủ đều do tôn thất nắm giữ “Điều đó chứng tỏ sự đồng tâm, hòa thuận
trong nội bộ chính quyền, làm tăng thêm sức mạnh của vương triều tạo điều kiện cố kết nhân tâm trong cả nước, nhất là khi cần huy động quân đội của các vương hầu quý tộc Năm Nguyên Phong (đời Trần Thái Tông), giặc Nguyên sang cướp, vương hầu đều đem gia hầu và hương bỉnh, thổ hào sung vào đội quân cần vương; việc biến năm Đại Định, vương hầu lại đem dân thôn trang sắm sửa nghi trượng để đón vua mới Như thế, chế độ nhà Trần cũng làm tăng thêm được sức mạnh của cái thế “duy thành”, bảo vệ nhà nước” [27, tr.10]
Chế độ quan lại nhà Trần xây dựng theo kiểu nhà Lý Đứng đầu các quan là ba chức: Thái sư, Thái phó, Thái bảo, chỉ có khác là nhà Trần đặt thêm các hàm Thống quốc, Tá thánh, Phụ quốc Các chức này trông coi tất cả việc quân dân Tiếp đến là các chức Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu bảo, Thái úy, Tư đồ, Tư mã, Tư không Chức Phụ quốc thái úy thời Lý được đổi làm Tả hữu tướng quốc bình chương sự
Ở địa phương, đứng đầu các lộ là An phủ chánh phó sứ Dưới là các chức quan khác: Tri phủ, Trấn phủ, Thông phán, Thiêm phán… Ở xã bắt đầu đặt xã quan: Đại tư
xã và Tiểu tư xã Đặc điểm của hệ thống quan lại thời Trần là Nhà nước đặt ra một tổ chức chuyên trông coi các tông thất, họ hàng của vua gọi là Tông chính phủ
Tổ chức bộ máy nhà nước đã được quy định ngay từ buổi đầu thời Trần Năm
1230, đã biên soạn sách Thống chế, khảo xét các luật lệ thời trước Cùng năm đó, biên soạn sách Quốc triều thường lễ, ghi chép các việc của triều đình Quan lại thời Trần
Trang 25đều có lương bổng Để khuyến khích tinh thần làm việc cho quan lại thì thời Trần ban
bố nhiều quyền lợi cho quan lại Bên cạnh đó còn đặt ra lệ khảo công qui định cứ 15 năm khảo công một lần
Ở thời Trần, việc tuyển dụng quan lại bằng khoa cử phát triển Năm 1232, mở khoa thi Thái học sinh đầu tiên Từ đó về sau, cứ 10 năm tổ chức một khoa thi Việc tổ chức bộ máy chính quyền chặt chẽ từ Trung ương đến tận đơn vị xã như vậy cho chúng ta thấy được nhà nước thời Trần tập trung hơn một bước so với thời Lý
Nói chung, bộ máy quan lại thời Trần được tổ chức quy củ và đầy đủ hơn thời
Lý Bộ máy quan lại đó đã góp phần củng cố sức mạnh của nhà nước Trung ương và thể hiện một bước tiến của chế độ phong kiến
Về quân đội, nhà Trần thay nhà Lý, một sức bật mới nhanh chóng ổn định trật
tự xã hội, sắp xếp chính quyền, đồng thời tăng cường lực lượng quân sự đủ sức đưa đất nước vượt qua các trở ngại bảo vệ nền độc lập dân tộc Nhà Trần ngay từ những buổi đầu đã ra sức xây dựng một đội quân hùng mạnh Cách tổ chức quân đội thời Trần cũng dựa chủ yếu vào cấm quân và quân các lộ Cấm quân là gồm những trai tráng khỏe mạnh, am hiểu võ nghệ Tổng số quân chung chừng 10 vạn vào thời chiến
Nhà Trần rất chú trọng vào việc xây dựng lực lượng quân đội, do đó triều vua nào cai trị cũng ban hành các chính sách về quân đội Năm 1239, Trần Thái Tông hạ chiếu tuyển trai tráng sung vào quân đội, chia làm ba bậc thượng, trung, hạ Năm
1241, lại tuyển những người có sức mạnh, am hiểu võ nghệ sung làm Thượng túc vệ Tuy nhiên, phải đến năm 1246 thì quân đội thời Trần mới được tổ chức thật chu đáo
Việc quy định quân ngũ, chúng ta chưa có số liệu chính xác về quân số thời
Trần Có rất nhiều tài liệu viết số lượng nhau Theo Đại Việt sử kí toàn thư thì “mỗi
quân gồm có 30 đô, mỗi đô 80 người, chọn những người tôn thất giỏi võ nghệ, tinh binh pháp để chỉ huy” [16, tr.180] Còn theo An Nam chí lược thì mỗi đô có 50 người
Quân đội thời Trần cũng được áp dụng chính sách “ngụ binh ư nông” như thời Lý Do
đó, mỗi khi có chiến tranh xảy ra thì lực lượng quân đội được huy động ở mức cao nhất Ở thời kì này, để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, quân đội thời Trần được tập luyện thường xuyên
Về luật pháp, ngay từ khi lên ngôi, Trần Thái Tông đã định lại luật lệnh ở thời Trần cũng đã cho biên soạn bộ luật Quốc triều hình luật trên cơ sở nghiên cứu các luật
Trang 26lệ ban hành ở các triều đại trước Nói chung, pháp luật ở thời Trần cũng như các triều đại phong kiến khác đều nhằm bảo vệ chính quyền chuyên chế phong kiến, bảo vệ những đặc quyền đặc lợi của quý tộc, bảo vệ trật tự phong kiến, phân biệt rõ rệt giữa quý tộc quan liêu với nhân dân… Pháp luật dưới thời Trần còn phản ánh sự phát triển của tư hữu ruộng đất và bảo vệ quyền lợi cho vay lãi
Cũng như các triều đại khác, khi lên ngôi, nhà Trần ra sức củng cố quyền thống trị của mình Với nhiều chính sách tiến bộ, ở thời Trần đất nước ta đã có những bước phát triển về kinh tế, văn hóa, giáo dục, đời sống nhân dân được ổn định công cuộc khai hoang, phục hóa đã làm diện tích ruộng đất tăng lên một cách đáng kể Ngoài ra nhà Trần còn quan tâm, chú trọng tới vấn đề thủy lợi Năm 1248, nhà Trần tổ chức đắp
đê từ đầu nguồn đến cửa biển dọc các con sông lớn, gọi là đê “quai vạc” Về thủ công nghiệp, thời kì này phát triển nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu ngày một tăng của người dân Các nghề thủ công truyền thống ngày càng phát triển với chất lượng ngày một cao hơn Năm 1230, nhà Trần cho đắp lại thành Thăng Long thêm vững chắc Trong thành cho xây dựng các cung điện, lầu gác Ngoài thành có bốn đội sương quân thay nhau canh gác bốn cửa Nhà nước cũng định lại thể lệ tiêu tiền, đúc lại tiền đồng mới Sự phát triển của nông nghiệp và thủ công nghiệp đã tạo điều kiện cho thương nghiệp phát triển Nhiều chợ làng, chợ huyện, chợ chùa mọc lên khắp nơi Giao lưu buôn bán giữa các vùng ngày một mở rộng Thời kì này thuyền buôn nước ngoài chủ yếu là người Tống, đến cập cảng và buôn bán ở nước ta khá tấp nập Nhà nước lại chia kinh
thành Thăng Long làm 61 phường “Năm 1274, ba mươi thuyền buôn bên Tống xin cư
trú, được vua Trần cho ở phường Nhai Tuân lập phố họp chợ” [26, tr.213]
Bên cạnh đó, ở thời Trần, tình hình văn hóa - giáo dục cũng có những bước chuyển biến rõ rệt giáo dục khoa cử được coi trọng, hàng loạt trí thức tài giỏi được đào tạo góp phần quan trọng vào việc xây dựng và bảo vệ đất nước Văn học dân tộc ngày càng phát triển Các công trình nghệ thuật Phật giáo được xây dựng khắp mọi nơi Đời sống tinh thần nhân dân được củng cố
Về đối ngoại, đối với Ai Lao và Champa thì nhà Trần chủ trương bắt thần phục Còn đối với nhà Tống ở Trung Quốc thì nhà Trần tỏ thái độ thần phục và theo lệ cũ sang cống nạp theo quy định Tuy nhiên, chính sách ngoại giao của các vua Trần là vừa mềm dẻo để giữ hòa khí, tránh những xung đột, chiến tranh xảy ra, vừa kiên quyết
Trang 27để giữ vững chủ quyền, lãnh thổ của mình Do vậy, đến khi đế quốc Mông Cổ xâm lược nước ta, nhà Trần đã có những chính sách ngoại giao khôn khéo góp phần vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến
Như vậy, trong gần 200 năm trị vì đất nước ta (1225 - 1400), trải qua các triều đại vua khác nhau và có những biến cố lịch sử xảy ra nhưng nhà Trần đã có những cố gắng trong việc phát triển kinh tế đất nước, giữ gìn và bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Có thể nói, triều đại nhà Trần là một trong những triều đại thịnh trị nhất của lịch sử dân tộc ta
2.2 Ngoại giao của nhà Trần trước cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông
- Đối với Chiêm Thành: Từ lâu, Đại Việt với Chiêm Thành có mối quan hệ giao hảo
Khi Thái Tông lên ngôi, nước Chiêm Thành đã sang cống tiến, nhưng thường vẫn cứ sang cướp phá và cứ đòi lại đất cũ Thái Tông lấy làm tức giận, bèn sửa soạn sự đi
đánh Chiêm Thành Năm Nhâm Tý (1252), Thái Tông thân chinh đem quân đi đánh,
bắt được vương phi nước Chiêm là Bố Gia La và quân dân Chiêm Thành rất nhiều
[12, tr.131] Sau thất bại này, Chiêm Thành lại trở về cống nạp, chịu thần phục Đại Việt Song đó chỉ là tạm thời, âm mưu chống phá Đại Việt vẫn chưa chấm dứt
- Đối với Trung Quốc: Ở nước ta, đầu thế kỷ XIII, nhà Trần lên cầm quyền thay thế
nhà Lý, quan hệ đối ngoại với nhà Tống vẫn tiếp tục bình thường, mặc dầu có dấu hiệu trục trặc lúc ban đầu Nhà Trần được thiết lập đầu năm 1226 Nhà Tống (Trung Quốc) không chấp nhận quan hệ ngoại giao với nhà Trần, ý muốn kiếm chuyện với ta, nhưng còn do dự, vì sự thất bại của nhà Tống thời Lý Thường Kiệt còn ám ảnh vua tôi nhà Tống, chưa quên được
Năm 1229, Trần Thái Tông cho sứ sang Tống cầu phong Nhà Tống không đáp lại Nhà Trần không cần và cũng không có quan hệ gì thêm Nhưng Tống cũng không yên ổn để có thái độ trịch thượng lâu dài đối với ta Đến năm 1232, người Mông Thát
đã bắt đầu xâm lược Trung Quốc, sau đó thống trị Trung Quốc, lập nên triều đại nhà Nguyên Trước hết họ đánh phá nước Kim, lúc ấy là một nửa lãnh thổ Trung Quốc về phía bắc Năm 1234, Mông Thát chiếm đóng cả nước Kim và bắt đầu đe dọa nước Tống, lúc ấy là nửa phía nam Trung Quốc
Năm 1234, Mông Thát cho hai đạo quân tiến đánh Tống, một đạo đánh xuống Tương Dương, Phàn Thành; một đạo tiến xuống Thành Đô (Tứ Xuyên) Đầu năm
Trang 281236, Mông Thát đánh Thành Đô Cuối năm 1236, nhà Tống phải đặt quan hệ giao hảo với nhà Trần, họ cho sứ mang các thư phong vương cho vua Trần Sự giao hảo vội vàng của nhà Tống với ta cho thấy những lo ngại của họ trước cuộc chiến tranh xâm lược ồ ạt của Mông Thát vào đất Tống và chung quanh đất Tống Cho sứ sang gấp nước ta, nhà Tống muốn tranh thủ quan hệ hữu hảo với ta, phòng trước sự tiếp xúc của Mông Thát với ta, có thể bất lợi cho Tống
Hành động thân thiện của nhà Tống là một bảo đảm cho ta không có gì phải lo đối phó với Tống, mà cái chính phải lo tính lúc ấy là cuộc xâm lược của Mông Thát đang ngày càng mở rộng và tiến sâu xuống phía nam Những biến động trên đất Tống,
do sự thâm nhập của quân Mông Thát, có thể ảnh hưởng tới nền an ninh biên giới nước ta Và cũng rất có thể Mông Thát đưa chiến tranh xâm lược của chúng vào nước
ta Cho nên về đối ngoại lúc này, ta phải lo đối phó với Mông Thát là chủ yếu
Từ năm 1236, sau khi đánh Thành Đô, quân Mông Thát tiến dần xuống phía nam, thường cho du binh đột nhập vùng Quảng Đông, Quảng Tây cướp phá rồi rút đi, gây tình hình rối ren cao độ ở miền nam nước Tống Giặc cướp nổi lên khắp nơi, quan, tướng nhà Tống ở đây không sao trấn trị được
Cuối năm 1240, giặc cướp trên đất Tống tràn qua biên giới vào vùng Lạng Giang (tức Lạng Sơn) giết người cướp của Viên quan trấn thủ Lạng Giang đưa tin cáo cấp triều đình Đây chưa phải là giặc Mông Thát mà là người nước Tống, một nước còn quan hệ thân thiện với ta Triều đình nhà Trần có thái độ và phương hướng xử trí thích đáng, cương quyết không dung thứ mọi hành động xâm lấn từ bên ngoài, bất luận
kẻ xâm lấn là ai Sử cũ ghi: “Nhà vua sai thị thần là Bùi Khâm đi trù liệu sắp xếp việc này”, “đi chỉnh lý công việc biên thùy ở mặt bắc” Thực chất của sự việc là Bùi Khâm được lệnh cầm quân lên Lạng Giang dẹp giặc và củng cố biên phòng
Một năm sau (1241), giặc cướp bên Tống lại tràn sang cướp phá miền biên giới nước ta Triều đình nhà Trần cho đốc tướng Phạm Kính An đem quân lên biên giới đánh giặc Chính vua Trần lúc ấy là Trần Thái Tông cũng tự cầm đầu một đạo quân, theo đường thủy tiến ra vùng biển Quảng Ninh Vua Trần đưa quân vượt biên thùy, sang hẳn đất Tống để đánh giặc cướp trên suốt một dải ven biển, từ trại Vĩnh Bình lên Khâm Châu, Liêm Châu rồi mới trở về Hành động quân sự này của vua Trần vừa giúp Tống đánh dẹp giặc cướp, bảo đảm an ninh miền biên giới nước ta vừa tạo điều kiện
Trang 29cho vua Trần và các tướng lĩnh đi cùng hiểu sâu hơn tình hình quân dân Tống, thấy được tận mắt khả năng tiến triển của cuộc chiến tranh Mông - Tống, từ đó định ra sách lược của ta để đối phó với cả hai bên Mông và Tống, khi chiến tranh lan tới biên giới nước ta
Tình hình an ninh ở miền nam nước Tống ngày càng xấu Quan lại nhà Tống vùng này bất lực Quân ta rút về thì giặc cướp lại hoành hành, lại xâm phạm biên giới nước ta Nhà Trần thấy cần phải hành động mạnh mẽ, kiên quyết hơn Năm 1242, vua Trần cho tướng đưa quân lên đóng tại lộ Bằng Tường thuộc đất Tống, cách biên giới nước ta chừng vài chục kilômét Khi quân của triều đình nhà Tống xuống đảm nhiệm được việc giữ gìn trật tự miền biên giới thì quân ta rút về Do đấy, miền biên giới nước
ta và Tống tạm yên Nhưng miền biên giới nước ta giáp Vân Nam thì dần dần biến động nghiêm trọng
Vân Nam thời đó chưa phải là đất Trung Quốc, mà là lãnh thổ của một số dân tộc độc lập, trong đó có nước Đại Lý ở liền sát biên giới nước ta Giữa ta và Đại Lý trải mấy trăm năm, quan hệ biên giới được duy trì tốt Nếu Mông Thát đánh chiếm Đại
Lý thì miền biên giới nước ta giáp Đại Lý sẽ bị uy hiếp nghiêm trọng Mà Đại Lý mất nước là điều không tránh được Quân Mông Thát đánh Vân Nam từ năm 1253 Tới năm 1257, vùng Vân Nam về cơ bản đã nằm dưới quyền thống trị của quân xâm lược
và nước ta bắt đầu chung đường biên giới với Mông Thát ở mạn tây bắc Ngay năm đó (1257), vừa chiếm đóng được Vân Nam, tướng Mông Thát là Ngột Lương Hợp Thai vội cho sứ sang triều đình nhà Trần, lấy biện pháp đe dọa ngoại giao để mở đường xâm lược nước ta Tháng 9 năm 1257, sứ của Ngột Lương Hợp Thai tới trước cửa ải
nước ta Sử cũ ghi “Tháng tám năm Đinh Tỵ (khoảng tháng 9 năm 1257), chủ trại ở
Quy Hóa là Hà Khuất cho chạy trạm về triều tâu là có sứ Nguyên tới” [5, tr.26]
Được tin báo, triều đình nhà Trần lệnh cho sứ nhập cảnh và đưa sứ vào triều Sử
cũ không ghi chi tiết gì về việc sứ Nguyên, tức sứ Mông Thát tới Thăng Long Nhưng quân giặc vốn ỷ vào sức mạnh áp đảo của chúng, thường dùng đe dọa ngoại giao kết hợp với tiến công quân sự để lấy thành, cướp nước của người Trải mấy chục năm đánh đông cướp tây mỗi khi quân Mông Thát cho sứ đi tới đâu thì nơi đấy thường khiếp sợ, cúi đầu dâng đất xin hàng hoặc xưng thần nộp cống Nhưng sứ Mông Thát tới Đại Việt tình hình lại không thế Mông Thát dùng đe đọa ngoại giao để vào Đại
Trang 30Việt thì Đại Việt lấy trấn áp ngoại giao đáp lại Triều đình nhà Trần đã tống giam bọn
sứ Mông Thát
Thấy sứ đi không về, Ngột Lương Hợp Thai không khỏi chột dạ và bực tức, nhưng cũng không dám vội vã ra quân Viên tướng này cho sứ sang ta lần thứ hai, hy vọng có thể đe dọa dụ hàng được ta, để chúng đỡ hao binh tổn tướng Nhưng sứ đi lần thứ hai, tới được Thăng Long, cũng bị tống giam như bọn sứ lần thứ nhất
Thấy thất bại về ngoại giao, Ngột Lương Hợp Thai quyết định tiến công quân
sự Đại Việt Nhưng, khi đưa quân tới biên giới, Ngột Lương Hợp Thai lại cho sứ sang
ta Lần này tập trung quân ở biên giới làm áp lực cho đe dọa ngoại giao, Ngột Lương Hợp Thai tưởng rằng dân tộc ta sẽ phải khiếp sợ, khuất phục, đầu hàng Nhưng không,
sứ giả của nhà Mông Cổ sang ta lần thứ ba cũng không gì may mắn hơn, cũng bị đưa vào giam trong ngục như những sứ giả của hai lần trước Đe dọa ngoại giao thất bại, không có kết quả gì mà lại mất người, mất cả uy danh, Ngột Lương Hợp Thai đưa quân vượt biên giới Vân Nam đánh sang ta
Như vậy, những năm đấu tranh ngoại giao trước cuộc kháng chiến của triều đình nhà Trần đến đây là kết thúc Trước những hành động đe dọa ngoại giao đối với Đại Việt thì các vua Trần đã không hề nao núng mà đứng vững trên lập trường của một nước có chủ quyền để đối phó với giặc
2.3 Ngoại giao trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông
2.3.1 Cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên
2.3.1.2 Đế quốc Mông Cổ và âm mưu xâm lược của chúng
Thế kỷ XIII bắt đầu vào lúc thảo nguyên Mông Cổ đang cuốn bụi và thấm máu
vì những cuộc chiến tranh bộ lạc tàn khốc Cuối thế kỷ XII, đầu thế kỷ XIII, những người Mông Cổ sống thành các bộ lạc, liên minh bộ lạc trên vùng thảo nguyên châu Á rộng lớn từ hồ Baican và sông Amua phía đông đến thượng lưu các sông Iêctưsơ và Iênixêi phía Tây, từ miền nam Xibêri đến Vạn lí trường thành phía nam Danh từ Mông Cổ chính thức xuất hiện trong sách vở sau khi Thành Cát Tư Hãn lập nên quốc gia Mông Cổ thống nhất (1206)
Đại bộ phận người Mông Cổ sống du mục, lấy nghề chăn nuôi súc vật làm ngành kinh tế chủ yếu, dùng súc vật làm tài sản để trao đổi lấy các sản phẩm thủ công nghiệp và nông nghiệp Tài sản chủ yếu của người Mông Cổ là bò, cừu và ngựa Ngựa
Trang 31đóng một vai trò rất lớn trong cuộc sống du mục của người Mông Cổ “Người Thát lớn
lên trên yên ngựa, tự luyện tập chiến đấu, từ mùa xuân đến mùa đông, ngày ngày săn bắn, đó là sinh kế của họ” [30, tr.38]
Thế kỷ XII, trong xã hội Mông Cổ đã có sự phân chia giai hóa giai cấp, một tầng lớp quí tộc ra đời Đại bộ phận cư dân là những người trực tiếp sản xuất, trở thành những người lệ thuộc phải chăn nuôi súc vật, nộp sản phẩm cho bọn quí tộc, một lớp người nô lệ phục dịch trong các gia đình Dưới chế độ công xã nguyên thủy, bãi chăn nuôi và đàn súc đều là tài sản của thị tộc Mông Cổ Khi chế độ công xã nguyên thủy tan rã, đàn súc đều là tài sản của gia đình cá thể, còn bãi chăn nuôi thì vẫn là tài sản chung của thị tộc trong rât lâu Nhưng dần dần, tang lớp Noyan (quý tộc Mông Cổ) chiếm đoạt đất đai, bãi chăn nuôi của công xã và biến những người tự do Arat trực tiếp sản xuất thành tầng lớp lệ thuộc, bị nô dịch cố định trên đất đai Từ giữa thế kỷ XII, thủ lĩnh các bộ lạc hay liên minh bộ lạc đã dựa vào tập đoàn quý tộc Noyan và đội thân binh Noke tiến hành các cuộc chiến tranh để cướp súc vật, của cải, nô lệ, đồng c ỏ
Đó cũng là quá trình xây dựng quốc gia thống nhất Mông Cổ Người chiến thắng cuối
cùng là Teemujin Tù năm 1204 đến 1205, tất cả các bộ lạc chủ yếu của Mông Cổ lần
lượt hang phục trước vó ngựa của Têmujin [30, tr.40] Têmujin được đại hội quý tộc
tôn làm Tringhit Khan (Thành Cát Tư hãn) Cuộc chiến tranh liên miên giữa các bộ lạc chấm dứt Một nhà nước phong kiến quân sự độc tài tập quyền ra đời
Sau khi thống nhất với một tổ chức quân sự mạnh Thành Cát Tư hãn và tập đoàn quý tộc dốc tât cả lực lượng của bộ tộc Mông Cổ vào những cuộc chiến tranh xâm lược đại quy mô và mang tính chất phá hoại khủng khiếp
Quân Mông Cổ ồ ạt tiến sang phương Đông và phương Tây, và bấy giờ những đoàn kỵ binh Mông Cổ rầm rập tiến đánh Bắc Trung Quốc (1219), tràn vào Trung Á (1218), vượt qua dãy núi Capca vào Nam Nga đánh tan liên quân của Nga Năm 1227, Thành Cát Tư Hãn mất, con là Ôgôday lên ngôi, tiếp tục các cuộc viễn chinh xâm lược Năm 1232, Ôgôday và Tolui mở cuộc tấn công vào Hà Nam, liên minh với Nam Tống đánh chiếm nước Kim
Cuộc tây chinh lần thứ hai năm 1235 do Ba Tu (cháu của Thành Cát Tư hãn) cầm đầu đã xâm chiếm nước Nga, đánh sang nước Hungari, Ba Lan, Tiệp Khắc, tàn phá các đô thị lớn, vượt qua sông Đa-núyp, những đám quân tiền tiêu đến gần thủ đô
Trang 32Viên và miền bờ biển Nam Tư sát gần nước Ý Đất Ba Tư bị xâm lược nhiều lần từ
1231 và cuối cùng bị sáp nhập vào bản đồ đế quốc Mông Cổ rộng lớn (1258) Đất đai Xiri và vùng Lưỡng Hà cũng bị vó ngựa Mông Cổ giày xéo
Về phía Đông, quân Mông Cổ tiêu diệt nước Kim ở Bắc Trung Quốc (1234), xâm chiếm Triều Tiên, đánh Tống, Nhật Bản bị tấn công hai lần, Miến Điện sau ba lần
bị xâm lược phải thần phục Đến năm 1279, Trung Quốc hoàn toàn bị Mông Cổ xâm chiếm Tuy nhiên, âm mưu của đế quốc Mông Cổ chưa dừng lại đó.Mưu đồ bành trướng lãnh thổ,thôn tính đất đai trên thế giới của Mông Cổ vẫn tiếp tục qua các đời vua kế nghiệp Và trong quá trình đó, nước Đại Việt cũng như hu vực Đông Nam Á không nằm ngoài tầm ngắm của đế quốc Mông Cổ hung hãn Trong đợt tấn công tiêu diệt nhà Tống ở Trung Quốc, một cánh quân của Mông Cổ đã được lệnh đánh thẳng xuống Đại Việt rồi quật lên đánh vào Quảng Tây phối hợp với các cánh quân khác Trước khi cho quân xâm lược biên giới nước ta, tướng Mông Cổ là Ngột Lương Hợp Thai sai sứ sang bảo vua Trần về thần phục Mông Cổ Cứ tưởng uy danh lẫy lừng của một đế quốc hùng mạnh làm cho nước nhỏ bé như Đại Việt hoảng sợ, chỉ cần cho sứ sang bắt thần phục là được Nhưng chúng đã sai lầm, vua Trần không những không chịu mà còn bắt giam sứ Tống lại và còn cho quân bố phòng các nơi, quyết tâm bảo vệ lãnh thổ đất nước Sau cuộc kháng chiến lần thứ nhất của nhân dân ta giành thắng lợi,
âm mưu của “Uryangkhadai và Giao Chỉ định kế lâu dài” thất bại thảm hại Kế hoạch dùng con đường qua Đại Việt để tấn công vào đất Tống bị phá vỡ và mãi mãi không thực hiện được Tuy nhiên, âm mưu thôn tính nước Đại Việt vẫn chưa dập tắt trong tâm trí của thế lực thống trị Mông Cổ Chúng vẫn nuôi giấc mộng xâm chiếm Đại Việt
ta Với những thủ đoạn ngoại giao: dụ dỗ, lừa phỉnh, hăm dọa, yêu sách lấn dần… Mông Cổ hòng muốn khuất phục Đại Việt về chính trị Và sau đó là dùng quân sự để tiêu diệt nước ta
2.3.1.2 Cuộc kháng chiến của triều đình và nhân dân ta
* Cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên lần thứ nhất (1258): Sau khi sử
dụng biện pháp ngoại giao sai sứ sang dụ hàng vua Trần không thành công, Mông Cổ bắt đầu tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược nước ta Đứng trước tình hình đó, triều đình và nhân dân ta sửa soạn vũ khí chuẩn bị chiến đấu Tháng 8 năm Đinh Tỵ, trại chủ Quy Hóa Hà Khuất báo tin sứ Mông Cổ đến Tháng 9, Thái Tông đã xuống chiếu
Trang 33cho Trần Quốc Tuấn chỉ huy quân tướng lên phòng giữ biên giới Đến tháng 11, triều đình lại xúc tiến việc chuẩn bị kháng chiến thêm một bước nữa Cả nước được lệnh sử soạn vũ khí Vua Trần và tôn thất, đại thần vốn thường say mê luyện tập võ nghệ, đã sẵn sàng chờ ngày xuất trận
Lần thứ nhất Mông Cổ tấn công Đại Việt vào tháng 1 năm 1258 Từ Đại Lý quân Mông Cổ và Đại Lý tiến vào Đại Việt Đích thân Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông dẫn quân lên nghênh địch tại Bình Lệ Nguyên (nay là Bình Xuyên, Vĩnh Phúc) Quân Mông Cổ dễ dàng đánh tan quân Đại Việt, nhưng đã không thành công trong việc bắt các vua Trần Trận tiếp theo diễn ra tại Phù Lỗ (bên sông Cà Lồ) Quân Đại Việt lại bị đánh bại Triều đình nhà Trần phải sơ tán khỏi kinh đô Quân Nguyên dù chiếm được Thăng Long, nhưng gặp phải khó khăn về lương thực
Chỉ 10 ngày sau khi rút khỏi Thăng Long, hai vua Trần lại dẫn quân phản công, đánh thắng quân Mông Cổ trong trận Đông Bộ Đầu (nay là quận Ba Đình, Hà Nội) Quân Mông Cổ lập tức bỏ thành Thăng Long rút lui về nước, cũng bằng con đường dọc theo sông Hồng Trên đường rút lui, quân Mông Cổ đã bị lực lượng các dân tộc thiểu số miền núi Tây Bắc do Hà Bổng chỉ huy tập kích
Toàn bộ cuộc chiến lần thứ nhất chỉ diễn ra trong vòng khoảng nửa tháng, với chỉ khoảng 3-4 trận đánh lớn Sau thất bại tại Đại Việt, quân Mông Cổ phải tìm đường khác để tấn công Tống từ phía Nam
Như vậy, âm mưu của “Uryangkhadai vào Giao Chỉ định kế lâu dài” cùng với
kế hoạch dùng con đường qua Đại Việt tấn công vào đất Tống bị thất bại thảm hại Thắng lợi đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên đã mở ra một giai đoạn đấu tranh lâu dài, vừa ngoại giao vừa quân sự trong gần 30 năm tiếp theo cùng với hai cuộc kháng chiến 1285 và 1287 - 1288
Thời kì đấu tranh ngoại giao 1258 - 1285 đã tạo điều kiện cho chúng ta có thời gian củng cố, xây dựng lại lực lượng chiến đấu, nhằm giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến sau
* Cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ hai (1285): Sau quá trình
đấu tranh ngoại giao kết thúc, cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai diễn
ra Tháng 1 năm 1285, khi quân Nguyên dưới sự lãnh đạo của Thoát Hoan (con của Hốt Tất Liệt) vượt biên giới xâm phạm lãnh thổ Đại Việt, thì cũng là lúc ý chí bảo vệ
Trang 34đất nước sôi sục của toàn dân vang lên thành tiếng hô “quyết chiến” của toàn thể các phụ lão ở hội nghị Diên Hồng do nhà vua triệu tập để bàn kế đánh giặc Lúc đầu, thế giặc mạnh, quân ta thua trận Hưng Đạo Vương lui về Vạn Kiếp, tập hợp một lực lượng rất lớn quân các vương hầu, quân các lộ miền Đồng bằng Bắc bộ đông đến 20 vạn người Hưng Đạo Vương lại truyền hịch kêu gọi tướng sĩ cùng đứng lên chống giặc Sau trận thủy chiến trên sông Bình Than ngày 14 - 2, quân ta rút lui về bố trí cản giặc trên sông Hồng Ngày 18 - 2, quân ta giao chiến với địch trên bờ bắc sông Hồng, sau đó triều đình và toàn bộ quân dân rút khỏi Thăng Long để lại cho kẻ địch một kinh
thành bỏ trống với những bảng treo có viết chữ: “Tất cả các quận huyện trong nước
nếu có giặc đến phải liều chết mà đánh, nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng” [24, tr.131] Như vậy ta có thể thấy sự quyết tâm
đánh giặc của triều đình và nhân dân ta được phát huy hết sức cao độ trong cuộc kháng chiến Cuộc rượt đuổi và tiêu diệt vua Trần và đội quân chủ lực không thành công, quân địch lại đang gặp phải khó khăn trong việc thiếu lương thực, vì ốm đau, vì quân dân các địa phương tập kích
Nắm đúng thời cơ, quân ta bắt đầu phản công, Trần Quang Khải và Trần Nhật Duật đem quân tấn công các cứ điểm của giặc trên sông Hồng và giành được thắng lợi Quân Nguyên ở bến Tây Kết bị Chiêu Thành vương, tướng quân Nguyễn Khoái và Trần Quốc Toản đánh bại Chiêu Văn vương cũng đánh tan quân giặc ở của Hàm Tử Bên cạnh đó, quân ta cũng giành thắng lợi ở trận Chương Dương, rồi tiến lên vây chặt thành Thăng Long Thoát Hoan rút khỏi Thăng Long về lại bờ bắc sông Hồng Ngày 7
- 6 - 1285, vua Trần kéo quân từ Thanh Hóa ra đánh tan quân địch ở Trường Yên (Ninh Bình) Ngày 10 - 6, Thoát Hoan cho quân rút chạy, đến sông Như Nguyệt (sông Cầu) và sau đó là sông Sách (sông Thương) đều bị quân ta phục kích Chúng bắc cầu phao qua sông Quân giặc xô nhau chạy dẫm đứt cầu phao chết đuối rất nhiều Do chưa biết quân Thoát Hoan thất bại, quân của Toa Đô, Ô Mã Nhi theo đường biển ngược sông Hồng ra định hội quân với Thoát Hoan Ngày 24 - 6 - 1285, vua Trần tiến đón đánh tan quân giặc ở Tây Kết Như vậy, trận Tây Kết lần thứ hai giành thắng lợi
và kết thúc cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ hai của nhân dân ta
* Cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ ba (1287 - 1288): Tuy
nhiên, mưu đồ xâm lược của chúng vẫn chưa dừng lại ở đó Thất bại thảm hại trong
Trang 35hai lần tiến quân xâm lược đã làm cho Hốt Tất Liệt - bạo chúa nhà Nguyên tức giận và chuẩn bị tiến hành một cuộc chiến tranh mới với đất nước ta Lần tấn công xâm lược này được chúng rút kinh nghiệm từ hai lần trước nên được chuẩn bị chu đáo hơn Chúng đã huy động một lực lượng lớn về quân sự cũng như về lương thực: bao gồm
10 vạn quân, 500 chiến thuyền dưới sự chỉ huy của Thoát Hoan và đoàn thuyền 70 chiếc chở 17 vạn thạch lương dưới sự chỉ huy của Trương Văn Hổ Ngày 11 - 10 -
1287, Thoát Hoan xuất quân tiến về biên giới Đại Việt với lời dặn của Hốt Tất Liệt:
“không được cho Giao Chỉ là nước nhỏ mà khinh thường” [24, tr.135]
Cuộc chiến lần này kéo dài khoảng gần 4 tháng, từ cuối tháng 12 năm 1287 đến cuối tháng 4 năm 1288 Quân Nguyên chia làm 3 cánh vào Đại Việt từ Vân Nam, từ Quảng Tây và từ Quảng Đông (theo đường biển) vào Đại Việt
Giống như 2 lần trước, quân Nguyên mau chóng đánh tan quân Đại Việt cả trên
bộ lẫn trên biển, nhưng lại chịu một tổn thất quan trọng, đó là lương thực chuyên chở bằng tàu biển bị mất hết vì bị các đơn vị của Trần Khánh Dư tấn công ở Vân Đồn, vì bão biển, vì đi lạc Quân Nguyên tập trung ở Vạn Kiếp và đánh rộng ra xung quanh, chiếm được Thăng Long, nhưng lại bị đói giống như hai lần trước
Khác với 2 lần trước, lần nay quân Đại Việt không huy động lực lượng lớn chặn
đánh quân Nguyên từ đầu, mà chỉ đánh có tính kìm chân “Binh cốt giỏi, chứ không
cốt nhiều, nếu nhiều mà không giỏi, thí dụ như Bồ Kiên có trăm vạn quân cũng không ích gì” [12, tr.156] Bộ chỉ huy và phần lớn lực lượng Đại Việt rút về vùng Đồ Sơn,
Hải Phòng, từ đó tổ chức các cuộc tấn công vào căn cứ Vạn Kiếp và đánh thủy quân Nguyên Vì đói và có nguy cơ bị đối phương chia cắt, quân Nguyên bỏ Thăng Long rút về Vạn Kiếp, rồi chủ động rút lui về Lạng Sơn Song mọi ngả đường đều có quân
ta bố trí đón đánh kịch liệt Cánh thủy quân của Nguyên đã bị tiêu diệt hoàn toàn tại sông Bạch Đằng khi định rút ra biển Bốn trăm chiến thuyền và rất nhiều quân địch lọt vào tay ta Dòng sông Bạch Đằng lại ghi thêm một chiến công mới chói lọi Các cánh lục quân Nguyên khi đi qua Bắc Giang và Lạng Sơn đã bị quân Đại Việt tấn công dữ dội
Như vậy, cả ba cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên của triều đình và nhân dân ta đều giành thắng lợi hoàn toàn Đây mãi là chiến công oanh liệt nhất góp phần tạo nên những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Và trong những thắng lợi đó, chúng
Trang 36ta không thể phủ nhận vai trò đóng góp của ngoại giao cũng như sự khéo léo, linh hoạt, tài tình của các vua Trần trong việc đối ngoại để giành lại thắng lợi cuối cùng
2.3.2 Hoạt động ngoại giao trong cuộc kháng chiến
2.3.2.1 Thời kì đấu tranh ngoại giao 1258 - 1285
1258 - 1285 là thời kì những sứ bộ Mông Cổ phóng ngựa vào cửa kinh thành và những đoàn thuyền chiến tiến lên tập trận ở sông Bạch hạc Đó là thời kì của một cuộc đấu tranh ngoại giao quyết liệt giữa vương triều Trần và bọn phong kiến Mông Cổ Là thời kì các sứ bộ đi về liên tiếp, thời kì bên trong nung nấu căm thù, tích cực chuẩn bị lực lượng nhưng bên ngoài thì đối xử với kẻ địch hết sức mềm dẻo để bảo vệ cho được những nguyên tắc cứng rắn, những điều cơ bản nhất thuộc về chủ quyền của một quốc gia
Nước Việt nhỏ bé ở phương Nam này dám đương đầu với đế quốc Mông Cổ hùng mạnh đang chiến thắng khắp nơi trên thế giới, không phải gặp nhiều khó khăn
Vì thế, vương triều Trần phải áp dụng một chính sách ngoại giao hết sức khôn khéo trong những ngày hòa bình này Đó là đường lối ngoại giao vừa mềm dẻo vừa cương quyết Phải mềm dẻo có thể có nhân nhượng với kẻ thù, để tránh được binh đao khi còn có thể tránh và có thì giờ chuẩn bị lực lượng, nhưng phải cương quyết, giữ vững nguyên tắc không thể mất chủ quyền và tổn hại quốc thể Dựa vào thực lực của quốc gia, của toàn dân, nhà Trần đã đối phó với bọn phong kiến Mông Cổ một cách linh hoạt Cuộc bang giao Việt - Mông trong hơn hai mươi lăm năm trời quả là một cuộc đấu tranh vô cùng gay go và phức tạp
* Cuộc đấu tranh ngoại giao thời kì 1258 - 1279
Hai mươi năm tiếp sau chiến thắng là một thời kì tương đối hòa hoãn Thất bại nhanh chóng vừa qua khiến bọn chủ tướng Mông Cổ phải cân nhắc tính toán nhiều hơn trong kế hoạch xâm lược nước ta Vả lại Nam Tống với cả phần đất đai rộng lớn ở Đông Nam Trung Quốc vẫn tồn tại Quân Mông cổ thua trận ở Điếu ngư (Tứ Xuyên) Moongke hãn của người Mông cổ trúng đạn chết (1259) Em Hốt Tất Liệt là Aric Buke chiếm quốc đô Mông cổ tranh ngôi hãn Hốt Tất Liệt vội vã rút quân về Bắc Năm 1260, Hốt Tất Liệt tự xưng đại hãn và cất quân đánh nhau với Aric Buke Cuộc nội chiến đã khiến Hốt Tất Liệt phải tạm ngừng việc tấn công xâm lược Nam Tống và bắt buộc nới lỏng hơn mối quan hệ với Đại Việt Chúng phải dùng thủ đoạn vừa lừa
Trang 37phỉnh, dụ dỗ, vừa hăm dọa, yêu sách, lấn dần từng bước để mong khuất phục Đại Việt
về chính trị
Năm 1258, ngay khi vừa bị đuổi chạy dài về đến Vân Nam, Uryangkhadai đã sai ngay hai sứ sang dụ vua Thái Tông sang chầu Căm phẫn vì thấy kinh đô Thăng Long bị tàn phá, Thái Tông với khí thế của người chiến thắng đã sai trói hai sứ lại, đuổi về Đồng thời, vua Trần vẫn cho sứ sang Nam Tống cống voi và nói y định truyền
ngôi cho con Ngày 30 tháng 3 năm 1258 (tức là ngày 24 tháng 2 năm Mậu Ngọ), Thái
tử Hoảng lên ngôi hiệu là Trần Thánh Tông [24, tr.81]
Từ năm 1258 trở đi, nhiều lần sứ Mông cổ đã sang dụ vua Trần vào chầu Tháng 1 năm 1261, Hốt Tất Liệt sai Mạnh Giáp và Lý Văn Tuấn mang chiếu thư sang
“hiểu dụ cho quan liêu sĩ thứ nước ngươi biết rõ: Phàm áo mũ, điển lễ, phong tục cứ theo chế độ cũ của nước mình, không phải thay đổi… Ta đã cấm các biên tướng ở vùng tỉnh Vân Nam không được tự tiện xâm phạm bờ cõi của các ngươi Quan liêu sĩ thứ nước các ngươi hãy cứ yên ổn làm ăn như cũ… ” [16, tr.176] Đấy là những lời
lừa phỉnh xảo quyệt của Hốt Tất Liệt vì lúc bấy giờ, y đang dốc tất cả quân lực vào cuộc chiến tranh chống Aric Buke ở Mông Cổ, U-ry-ang-kha-đai cũng trở về Bắc tham gia cuộc nội chiến đó Cho nên làm sao có thể “tự tiện đem quân xâm phạm bờ cõi”,
“quấy rối nhân dân”được Tất nhiên nhà Trần không bao giờ vào những điều dối trá đó
mà vẫn lo tăng cường củng cố lực lượng quân sự của mình Từ tháng 3 năm 1261, đinh tráng ở khắp các lộ được tuyển lựa để bổ sung vào quân ngũ Ở các lộ, phủ, huyện cũng thành lập các “phong đội”, tức các đội quân địa phương
Nhưng mặt khác, triều đình vẫn lợi dụng tờ chiếu của Hốt Tất Liệt để đấu tranh với Mông Cổ nhằm bảo vệ chủ quyền, quốc thể, vạch trần bộ mặt giả dối và âm mưu xâm lược của bọn chúng Khi Mạnh Giáp và Lý Văn Tuấn trở về, vua Trần Thái Tông sai thông thị đại phu Trần Phụng Công, chư vệ ký ban Nguyễn Thám và viên quan ngoại lang Nguyễn Diễn sang thông hiếu, xin ba năm cống một lần Hốt Tất Liệt phong cho Trần Thái Tông làm An Nam quốc vương Ngày 19 tháng 8 năm 1261, vua Mông Cổ sai Na-xi-rút-đin và Mạnh Giáp đi sứ Đại Việt Như vậy là trên danh nghĩa
từ đây Đại Việt thần phục Mông Cổ Bọn phong kiến Mông Cổ càng muốn biến Đại Việt thành một thuộc quốc của chúng mà không cần tên cứng và ngựa mạnh Hốt Tất Liệt yêu sách vua Trần phải tăng cống phú và đặc biệt là đòi phải để cho Mông Cổ cử
Trang 38Nurut Đin làm Đa-ru-ga-tri ở Đại Việt Tức là chức quan Đạt lỗ hoa xích (tiếng Mông
Cổ tức là quan Chưởng ấn), để đi lại giám trị các châu quận nước Nam Đây là một chức quan thống trị mà đế quốc Mông Cổ đặt ở các nước bị chiếm
Tháng 10 năm 1262, Hốt Tất Liệt gửi chiếu thư cho vua Trần: “Khanh đã gửi
đồ lễ xin làm bề tôi, vậy bắt đầu từ năm Trung thống thứ 4 (1263), cứ ba năm cống một lần, hãy chọn nho sĩ, thầy thuốc, người giỏi âm dương bói toán, các loại thợ, mỗi thứ 3 người, cùng dầu tô hợp, quang hương, vàng bạc, châu sa, trầm hương, đàn hương, sừng tê, đồi mồi, trân châu, ngà voi, vải trắng , chén sứ, đem cả đến một lúc”
[30, tr.88] Ý đồ của Mông Cổ đã rõ, chúng muốn biết nhân, vật lực nước Nam ta có những gì, và học vấn xảo kỹ ra làm sao, để liệu đường mà đánh lấy cho tiện Và tuy rằng quyền chính trị vẫn để cho vua nước Nam, nhưng đặt quan giám trị để dần dần thiết lập nền bảo hộ
Tuy nhiên, những mưu toan đó của Hốt Tất Liệt không thể nào làm nhà Trần và
nhân dân Đại Việt khuất phục Thánh Tông bề ngoài tuy vẫn tỏ ra thần phục, nhưng
trong bụng vẫn biết rằng Mông Cổ đang có ý đánh lấy nước mình , cho nên cứ tu binh dụng võ để phòng có ngày tranh chiến Do đó, cho tuyển đinh tráng ở các lộ làm lính, phân quân ngũ ra làm quân và đô: mỗi quân có 30 đô, mỗi đô có 80 người, bắt phải luyện tập luôn luôn [12, tr.135] Từ tháng 3 năm Nhâm Tuất (22/3 - 19/4/1262), vua
Trần đã ra lệnh cho các lộ chế tạo vũ khí và chiến thuyền Các đội quân thủy lục được lệnh tập trận ở bãi phù sa song Bạch Hạc Năm 1263, Trần Thủ Độ lại đi tuần ở vùng Lạng Sơn, là biên giới giữa ta với phong kiến phương Bắc Tất cả những điều đó nói lên rằng nhà Trần không hề xao lãng việc chuẩn bị lực lượng phòng thủ và chiến đấu của mình
Bên ngoài, nhà Trần đối phó với bọn phong kiến Mông Cổ hết sức khéo léo Đứng trước những việc o ép, sách nhiễu ngày càng tăng của chúng, nhà Trần tuy có nhân nhượng hơn ở một số điểm nhưng đồng thời lại kiên quyết không chịu nhượng bộ
ở một số điểm khác Về mặt cống phú, vua Trần vẫn sai sứ mang lễ vật cống nộp đều đặn ba năm một lần, có khi chưa đến kì hạn nhưng gặp dịp “tạ ơn” hãn Mông Cổ gì đó thì vua Trần cũng cho đưa cống phẩm sang Nhưng còn việc Mông Cổ đòi các loại
người thì nhà Trần nhất định không chịu nộp Năm Bính Dần (1266), nhân sứ Mông
Cổ sang, Thánh Tông sai quan sang Tàu đáp lễ và xin đừng bắt nho sĩ, thầy bói và các
Trang 39thợ thuyền sang cống [12, tr.135] Năm 1267, vua Thánh Tông đã sai Dương An
Dưỡng đem biểu sang xin miễn Mặt khác, vương triều Trần tạm để cho Mông Cổ đặt chức Đa-ru-ga-tri ở Đại Việt nhưng đồng thời tìm mọi cách ngăn trở khiến viên quan này không làm được nhiệm vụ gì cả y không thực hiện được âm mưu của bọn thống trị Mông Cổ Để giữ bí mật, vua Trần đã ra lệnh cấm nhân dân không được nói chuyện với những người Hồi Hộtđang ở trên đất nước ta, vì trong số họ có thể có những tên gián điệp Mông Cổ hoặc vì họ dễ tiết lộ tình hình nước ta với bọn sứ thần hay đa-ru-ga-tri Mông Cổ Như vậy là những nguồn tin tức đến với Nu-rut-đin đã bị cắt Chính
vì vậy mà Hốt Tất Liệt giận dữ và đe dọa: “… Lại ngay trong tờ tâu thường có câu
“một nhà” Nay nghe Nu-rut-đin ở bên ấy, có nhiều sự thường bị chống báng cấm đoán, không cho được hội đàm, quả như thế thì có phải lễ nghĩa thân mật một nhà đâu!Nghĩa vua tôi cũng như tình phụ tử, có lẽ gì tôi mà lại phản vua, con mà phản lại cha sao? Nếu trẫm không nói ra thì đãi khanh không có sự thành thật Khanh nên nghĩ lại cho chín chắn để tròn sự giao hảo trước sau như một” [28, tr.18]
Mặc cho vua Mông Cổ muốn nói gì thì nói, vương triều Trần vẫn giữ vững đường lối của mình Chẳng những tìm cách ngăn trở Nu-rut-đin dò xét tình hình nước
ta mà nhà Trần còn dùng tiền bạc của cải mua chuộc tên Đa-ru-ga-tri này như mua chuộc những viên quan Hồi giáo khác ở Vân Nam khiến cho Nu-rut-đin không thể chi phối được triều đình Trần Trước sự bất lực của Nu-rut-đin, năm 1268, Hốt Tất Liệt đã
cử một tên Mông Cổ khác là Khu-rung Kha-y-a sang thay
Việc thay Nu-rut-đin chứng tỏ rằng chính sách ngoại giao của Mông Cổ với Đại Việt đã thay đổi Bấy giờ, tình hình nội bộ Mông Cổ đã tương đối ổn định Năm 1264, Aric Buke đầu hàng, Hốt Tất Liệt bớt được một kẻ thù nguy hiểm Năm 1267, kế hoạch tấn công tiêu diệt Nam Tống cũng được tiếp tục Đối với Đại Việt, Hốt Tất Liệt cũng tiến thêm một bước trong những yêu sách xâm lược Ngày 13 tháng 10 năm 1267 (ngày Mậu Thân (24) tháng 9, Chí Nguyên 4), Hốt Tất Liệt vừa mới chấp nhận ba đạo biểu của sứ thần Đại Việt Dương An Dưỡng thì hai ngày sau, ngày 15 tháng 10 (ngày Canh Tuất (26) tháng 9), y đã ra một tờ chiếu khác, đòi Đại Việt phải thực hiện sáu
việc:
1 Quân trưởng phải vào chầu
2 Con em phải sang làm con tin
Trang 403 Kê biên dân số
4 Phải chịu quân dịch
6 Vẫn đặt chức Đa-ru-ga-tri để thống trị [30, tr.94]
Nhưng vua Trần không chấp nhận sáu điều đó, vì nếu như thế thì Đại Việt sẽ trở thành một thuộc quốc chịu sự thống trị trực tiếp của Mông Cổ, không còn một chút chủ quyền nào Chính vì thế trong hơn 15 năm, vương triều Trần đã tìm mọi cách để không thực hiện những điều đó Nhà Trần không những không chịu nộp các loại người
mà ngay việc nộp cống vật cho Mông Cổ cũng cố ý trì hoãn, thoái thác Trong bức thư
năm 1269, Thái Tông đã xin hoãn việc cống voi: “ Loài thú ấy thân thể to lắm, bước
đi rất chậm chạp, không như ngựa của thượng quốc Xin tuân chỉ, đợi đến năm tiến cống sau sẽ đem dâng” Năm 1271, sứ đến nhắc việc đòi voi và đồ cống thì năm 1272,
vua Trần lại trả lời: “ Vì tượng nô không chịu rời nhà, khó sai họ đi, còn việc đòi nho
sĩ, thầy thuốc và thợ thì khi bồi thần nước tôi là bọn Lê Trọng Đà vào bệ kiến, gần uy quang trong gang tấc, cũng không nghe chiếu dụ gì đến việc ấy Huống chi từ năm Trung thống thứ 4 (1263)đã được đội ơn tha cho, nay lại nhắc đến, xiết nỗi ki nh ngạc ” [30, tr.98]
Về mặt nghi lễ ngoại giao đối với Mông Cổ, vua Trần đã hết sức khôn khéo đấu tranh để giữ được quốc thể Không bao giờ vua Trần chịu lạy chiếu thư của Hốt Tất Liệt Ngoài ra thác cớ “sinh trưởng ở thâm cung, không biết cưỡi ngựa, không quen
phong thổ, sợ chết dọc đường” vua Trần cũng như con em không vào chầu hãn Mông
Cổ hay sang làm con tin được Việc đòi nộp lái buôn Hồi Hột cũng bị từ chối huống gì những yêu sách đòi kê biên dân số, chịu quân dịch và nộp thuế Hốt Tất Liệt liên tiếp
cử Nu-rut-đin (1262), Khu-rung Kha-ya (1268), Yê-si-nê (1272), Lý Nguyên (1273), Kha-xa Kha-ya (1275) làm đa-ru-ga-tri sang Đại Việt nhưng trên thực tế bọn chúng không thực hiện được nhiệm vụ giám sát, thao túng mọi công việc của triều đình
Năm 1275, vua Trần gửi thư cho nhà Nguyên đấu tranh đòi bỏ chức đa-ru-ga-tri đổi làm dẫn tiến sứ Trong thư có đoạn viết: “Vả lại Đạt lỗ hoa xích chỉ nên đặt ở các vùng man di ngoài biên giới, còn tôi đã được phong vương làm phên giậu một phương,
mà còn đặt Đạt lỗ hoa xích để giám sát há không bị các nước chư hầu cười cho sao Tất cả quan lại bị thiên triều sai đến xin đổi làm dẫn tiến sứ để tránh được cái tệ