1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ ngữ biểu thị chiến tranh trong tiểu thuyết Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu.

90 374 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoặc có đề cập tới ngôn ngữ chiến tranh trong tiểu thuyết này thì chỉ điểm qua rồi đánh giá chứ không phân tích cụ thể như: nhận xét của Hà Minh Đức trong bài viết “Dấu chân người lính c

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

- -

LƯƠNG THỊ HẰNG

Từ ngữ biểu thị chiến tranh trong tiểu thuyết

Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trên hành trình sáng tạo của mình, mỗi nhà văn nhà thơ luôn cố gắng thổi vào linh hồn của tác phẩm văn học một nhân cách riêng, phong cách riêng và những khám phá riêng trước hiện thực cuộc đời, để từ đó dâng tặng cho kho tàng văn học dân tộc những

“trang văn trang đời”, những “trang văn trang hoa” đa sắc màu và có giá trị lớn trên mọi nẻo đường của cuộc sống, trong mọi nhịp thở của thời gian

Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn tiêu biểu của nền văn xuôi đương đại Mỗi tác phẩm của ông là sự trăn trở, tìm tòi trong lao động nghệ thuật với một tinh thần say mê Và hơn ai hết ông là người ý thức sâu sắc được trách nhiệm cao quý của một nhà văn chân chính đó Với những trải nghiệm qua máu lửa chiến tranh khi hòa mình vào hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc, Nguyễn Minh Châu đã không ngừng tìm tòi để rồi sáng tạo ra những trang văn mang vẻ đẹp mới lạ Đặc biệt, cuộc kháng chiến chống Mỹ giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc là một trong những cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc ta Là nhà văn mặc áo lính, Nguyễn Minh Châu đã đem đến cho dòng chảy văn học chống Mỹ nhiều tác phẩm đặc sắc mang một giọng điệu riêng, một phong cách riêng và một cái nhìn độc đáo trước cuộc sống thực tại Là nhà văn chiến sĩ đã cống hiến tuổi xuân cho đất nước, tìm hiểu các tác phẩm Nguyễn Minh Châu không chỉ có ý nghĩa về khoa học mà còn là tình cảm biết ơn

Và đến với tiểu thuyết Dấu chân người lính – tác phẩm đánh dấu sự phát triển

trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Minh Châu, cũng là tác phẩm gợi lại không khí

Trang 3

đấu tranh hào hùng của dân tộc hết sức ý nghĩa và sinh động Cho đến nay đã có nhiều

bài viết về Dấu chân người lính trên tuần báo văn nghệ, văn học, tạp chí hoặc các bài viết

trong một số giáo trình Nhưng hầu hết các công trình đó chỉ mới đi vào tìm hiểu phương diện nội dung còn về hình thức, cụ thể là về tài năng sử dụng ngôn ngữ của tác giả vẫn chưa được chú ý Để khắc họa lại diễn biến đấu tranh khốc liệt, hào hùng của dân tộc trong ống kính thu nhỏ về chiến trường Quảng Trị một cách sống động, Nguyễn Minh

Châu không cần sự cầu kì, bay bướm của ngôn từ mà ngôn ngữ trong tiểu thuyết Dấu

chân người lính là ngôn ngữ giản dị đậm đặc màu sắc của chiến tranh

Trên đây là những lí do thúc đẩy chúng tôi đến với đề tài: “Từ ngữ biểu thị chiến

tranh trong tiểu thuyết Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu” Đi sâu vào nghiên

cứu đề tài này, chúng tôi mong rằng có thể đem lại một góc nhìn về vị trí cũng như vai trò, tài năng sử dụng ngôn ngữ đậm đặc màu sắc chiến tranh của tác giả trong tiểu thuyết này

phẩm đã tập hợp được nhiều bài viết của các nhà phê bình tên tuổi Nguyễn Văn Hạnh,

Nguyễn Đăng Mạnh, Vương Trí Nhàn, Đinh Trí Dũng, …

Nhưng trong các công trình nghiên cứu, khía cạnh ngôn ngữ cuộc chiến trong Dấu

chân người lính vẫn chưa được chú ý khảo sát, miêu tả Hầu như các công trình chủ yếu

đi vào tìm hiểu tài năng khắc họa tính cách các nhận vật, ngôn ngữ trần thuật hay giọng

Trang 4

điệu…của Nguyễn Minh Châu trong tác phẩm mà thôi Hoặc có đề cập tới ngôn ngữ chiến tranh trong tiểu thuyết này thì chỉ điểm qua rồi đánh giá chứ không phân tích cụ thể

như: nhận xét của Hà Minh Đức trong bài viết “Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu” in trong cuốn Nguyễn Minh Châu về tác gia và tác phẩm đã giới thiệu ở trên: “Tác phẩm Dấu chân người lính phản ánh khá trung thành những diễn biến của chiến dịch Khe

Sanh (…) Mở chiến dịch Khe Sanh, quân dân ta đã huy động một lực lượng lớn tập trung vào cuộc kháng chiến” [13, tr.59] Hay như Tôn Phương Lan trong bài viết “Cái nhìn

ngược sáng từ Di cảo Nguyễn Minh Châu” trên tạp chí Nghiên cứu văn học đã khẳng

định: “Những ghi chép của Nguyễn Minh Châu đã ghi lại một cách thật cụ thể tỉ mỉ và từ những ghi chép này, ông đã cho chúng ta thấy được những hy sinh vô bờ bến của nhân dân và bộ đội cũng như tình quân dân, nghĩa tình đồng đội trong bối cảnh ác liệt khôn cùng của chiến tranh” [16, tr 83]

Đến nay vấn đề “từ ngữ biểu thị chiến tranh” trong Dấu chân người lính của

Nguyễn Minh Châu vẫn đang còn bỏ ngỏ Vì vậy khi tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong rằng sẽ giúp bạn đọc đánh giá được chính xác, cụ thể hơn dụng ý sử dụng đậm đặc lớp từ ngữ ấy trong tác phẩm của cây bút viết tiểu thuyết đầy tài năng trên

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, đối tượng mà chúng tôi hướng đến là cuốn tiểu thuyết Dấu

chân người lính của Nguyễn Minh Châu do nhà xuất bản Thanh niên phát hành năm

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích đặt ra trong phạm vi tự giới hạn, trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng phối hợp một số phương pháp chính sau:

Phương pháp thống kê – miêu tả

Phương pháp phân tích – tổng hợp

Trang 5

5 Giới thuyết thuật ngữ

Trong quá trình tìm hiểu đề tài chúng tôi có một số quy ước để bạn đọc dễ hiểu khi tiếp cận luận văn của chúng tôi là:

Trong khi phân tích cấu tạo ngữ pháp của từ và ngữ của tiếng Việt chúng tôi kí hiệu:

sâu vào khảo sát lớp từ ngữ biểu thị trong tiểu thuyết Dấu chân người lính của Nguyễn

Minh Châu, chúng tôi thống nhất gọi:

Kẻ xâm lược (tức đế quốc Mỹ và tay sai) là “địch”

Người chống xâm lược (tức nhân dân Việt Nam) là “ta”

6 Đóng góp của đề tài

Dấu chân người lính là một tiểu thuyết đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của nhà

văn Nguyễn Minh Châu Chúng tôi hi vọng kết quả mà luận văn gặt hái được là những

đóng góp về:

Khảo sát và miêu tả lớp từ ngữ biểu thị chiến tranh trong tiểu thuyết Dấu chân

người lính một cách có hệ thống Từ đó phân tích giúp bạn đọc hiểu được tài năng sử

dụng dày đặc ngôn ngữ mang màu sắc quân đội nhiều mà không gây nhàm chán của tác giả Trái lại, chính nhờ việc vận dung linh hoạt các từ ngữ ấy đã giúp Nguyễn Minh Châu hấp dẫn bạn đọc ở việc dựng lại không khí đấu tranh khốc liệt, hào hùng trong các chiến dịch ở Quảng Trị nói riêng, ở tất cả các tỉnh miền Nam nói chung trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc một cách chân thực, sống động nhất

Nguyễn Minh Châu còn là một trong những tác giả có tác phẩm được chọn giảng

ở trường phổ thông nên kết quả luận văn nghiên cứu sẽ có những đóng góp nhất định cho việc nghiên cứu và giảng dạy sau này

Trang 6

7 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn này gồm ba chương:

Chương Một: Những lý luận chung liên quan đến đề tài

Chương Hai: Khảo sát và miêu tả từ ngữ biểu thị chiến tranh trong tiể thuyết Dấu

chân người lính

Chương Ba: Đặc trưng của từ ngữ biểu thị chiến tranh trong tiểu thuyết Dấu chân

người lính

PHẦN NỘI DUNG Chương Một: Những lý luận chung liên quan đến đề tài 1.1 Khái quát về từ và cụm từ Tiếng Việt

1.1.1 Khái quát về từ Tiếng Việt

Trong cuộc sống khi nói hay khi viết, chúng ta cần phải dùng từ Bởi từ là một trong những đơn vị ngôn ngữ quan trọng để tạo nên câu hoặc lớn hơn câu trong quá trình giao tiếp Và người giao tiếp tốt là người biết huy động vốn từ có sẵn để tạo ra lời nói hoặc văn bản hay, đạt hiệu quả cao Tuy thế, giao tiếp là một hoạt động xã hội, muốn bộc

lộ được chính xác tâm tư, suy nghĩ của mình và muốn người khác lĩnh hội được đầy đủ ý nghĩ đó, mỗi người cần phải nắm chắc được từ Và khi nghiên cứu đề tài, để hiểu được

sâu sắc ý đồ vận dụng từ ngữ biểu thị chiến tranh dày đặc trong tiểu thuyết Dấu chân

người lính của Nguyễn Minh Châu, trước tiên chúng tôi và bạn đọc cần đi vào những

khía cạnh cơ bản của từ

1.1.1.1 Khái niệm từ

Từ là đơn vị cốt lõi, đóng một vai trò hết sức quan trọng, giống như viên gạch để xây dựng lên tòa lâu đài ngôn ngữ Vì vậy, nó đã trở thành đối tượng nghiên cứu của rất nhiều nhà ngôn ngữ trong và ngoài nước F.De Saussure đã viết: “Từ là một đơn vị luôn luôn ám ảnh tư tưởng chúng ta như một cái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ, mặc dù khái niệm này khó định nghĩa” (F.De.Saussure, 1973) Cho đến nay đã có hàng trăm định nghĩa về từ Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về từ nhưng có thể thấy rằng mỗi ý kiến lại làm rõ thêm khái niệm từ ở một khía cạnh nào đó chứ chưa

Trang 7

có khái niệm nhất quán Trong khuôn khổ luận văn có hạn nên chúng tôi chỉ đưa ra một

số khái niệm tham khảo sau:

Theo các tác giả thuộc Ủy ban khoa học xã hội trong cuốn Ngữ pháp Tiếng Việt thì “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định dùng để đặt câu” [, tr.49] Hoàng Phê trong Từ điển Tiếng Việt cũng đồng tình với quan điểm này, coi từ là

“đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất, dùng để đặt câu” [26, tr.1372] Cũng có ý kiến tương tự, nhà ngôn ngữ học Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất

có ý nghĩa dùng để cấu tạo câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một “chữ” viết rời” [11, tr.72]

Tác giả Hồ Lê lại xem: “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách khỏi các đơn vị khác của lời nói để vận dụng và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp” [18, tr.64]

Còn theo Vũ Đức Nghiệu trong Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt thì: “Từ là đơn

vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để cấu tạo câu” [8, tr.142]

Theo Đỗ Hữu Châu thì: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo nên câu” [5, tr.13]

Trong quá trình tìm hiểu các quan niệm về từ tiếng Việt của các nhà Việt ngữ trên, chúng tôi nhận thấy đều có sự thống nhất về từ ở một số đặc điểm: âm thanh, ý nghĩa, cấu tạo và khả năng hoạt động Và nếu không đòi hỏi một cách nghiêm ngặt và chấp nhận một cái nhìn để đi sâu vào nghiên cứu đề tài này thì chúng tôi đồng tình với định nghĩa của Đỗ Thị Kim Liên:

“Từ là một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc một số âm tiết có nghĩa nhỏ nhất,

có cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng tự do để cấu tạo nên câu” [19, tr.18]

1.1.1.2 Tiêu chí nhận diện từ Tiếng Việt

Trang 8

Kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ Việt như: Đỗ Hữu Châu, Đỗ Thị Kim Liên, Nguyễn Thiện Giáp,…chúng tôi xin đưa ra một số tiêu chí cơ bản để nhận diện từ Tiếng Việt như sau:

Trước hết, từ là một đơn vị ngôn ngữ gồm một hoặc một số âm tiết (tiếng), có

nghĩa nhỏ nhất Ví dụ: Từ có một âm tiết (lớn, nhỏ, cao, thấp, …), từ có hai âm tiết trở lên (nhà văn, quần áo, chiến dịch, công nông binh, hợp tác xã, …),… Với tư cách là một

đơn vị ngôn ngữ, từ khác đơn vị khác nhỏ hơn nó là âm vị ở chỗ nó mang nghĩa Mà ở đây, âm vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất, là tổng thể các nét khu biệt được thể hiện đồng thời, có chức năng tham gia cấu tạo vỏ âm thanh các đơn vị có nghĩa và phân biệt các đơn

vị có nghĩa đó với nhau Ví dụ: “Bình minh như lạ như quen” Từ “bình minh” là đơn vị gồm hai âm tiết, ta nghe được và mang ý nghĩa “lúc sáng sớm”; |b| là đơn vị nhỏ nhất, có

vỏ âm thanh nhưng không có nghĩa mà chỉ là một đơn vị dùng để khu biệt nghĩa

Từ có tính hoàn chỉnh cả về nghĩa và về cấu tạo Từ phải có tính hoàn chỉnh về nghĩa tức là mỗi từ được phát âm hoặc viết ra phải có nghĩa, phù hợp với mục đích giao tiếp Mà theo Nguyễn Thiện Giáp “một đơn vị được coi là có tính hoàn chỉnh về nghĩa khi nó biểu thị một khái niệm về đối tượng tồn tại bên ngoài chuỗi lời nói” [11, tr.75] Ví

dụ: “Đôi bàn tay nhỏ nhắn” Ở đây, “nhỏ nhắn” biểu thị ý nghĩa vừa nhỏ vừa đẹp Hay

từ “cà chua” với tư cách là một từ đa tiết, nó biểu thị một loại cà chua cụ thể, quả mềm, khi chín màu đỏ, vị hơi chua, dùng để ăn sống hoặc nấu chín Với nghĩa này trong bất cứ trường hợp nào nó vẫn thể hiện chính đối tượng là quả cà chua Kèm theo tính hoàn chỉnh

về nghĩa, từ phải có tính hoàn chỉnh về cấu tạo, tức là có hình thức ngữ âm cố định Ta không thể chia tách hoặc chêm xen một yếu tố phụ vào giữa hai yếu tố cấu thành một từ (tức giữa từ) Nếu có sự chia tách hoặc chêm xen khác thì nó sẽ phá vỡ tổ chức cấu trúc

và ngữ nghĩa ban đầu Từ ví dụ trên nếu xen vào giữa từ “cà chua” một từ khác như: “quả

cà pháo bị chua” thì nó lại mang nghĩa khác biểu thị một loại cà có thuộc tính là chua Hoặc ví dụ từ “máy bay” với nghĩa ban đầu là loại sự vật được cấu tạo bằng các vật liệu,

là phương tiện dùng chuyên chở trên không trung Nhưng khi chia tách ra “máy” – “bay” đều có nghĩa nhưng không mang nghĩa ban đầu nữa Hoặc “cánh gà” là một từ, ta không thể chêm yếu tố phụ vào giữa “cánh” và “gà” Trừ khi “cánh gà” là cụm từ, ta có thể chen

Trang 9

yếu tố vào giữa : “cánh của gà” Như vậy, nhờ tính hoàn chỉnh này đã giúp ta xem xét trong cấu tạo nội bộ của từ, phân biệt từ với cụm từ Nhưng cũng có trường hợp khác, khi chia tách từ thì từ đó vẫn mang nghĩa ban đầu nhưng phải đặt nó trong cấu trúc câu để nhằm đạt được các mục đích tu từ khác nhau Ví dụ: “Bướm chán ong chường” Ở đây, người đọc ngầm hiểu nghĩa của “chán chường” trong cấu trúc câu

Một tiêu chí cần lưu ý để nhận diện từ nữa là: Từ có tính độc lập về ngữ pháp Điều đó có nghĩa, từ có thể kết hợp tự do với các từ khác để tạo câu Từ luôn đứng ở mọi

vị trí trong câu, có thể cấu tạo nên cụm từ và tạo nên câu Hình vị cũng giống từ ở chỗ là đơn vị có nghĩa nhỏ nhất nhưng lại không có khả năng hoạt động tự do mà luôn bị ràng buộc trong từ Ví dụ: “Quốc kì” là một từ độc lập vì nó có khả năng kết hợp tự do với |lá|

… |này| thành “Lá quốc kì này” còn hình vị |quốc| không thể kết hợp tự do như vậy Tóm lại, từ là đơn vị phải thỏa mãn cả ba đặc điểm trên, nếu thiếu một hoặc hai đặc điểm thì xem xét ranh giới từ sẽ bị vi phạm và nó không gọi là từ

1.1.1.3 Các trường nghĩa của từ

Có thể nói rằng, từ là tài sản chung của xã hội Và trong vốn tài sản chung đó được phân chia thành những tiểu hệ thống ngữ nghĩa Các tiểu hệ thống ấy có quan hệ qua lại với nhau Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Mà theo Đỗ Hữu Châu “đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa Với các trường nghĩa, chúng ta có thể phân định một cách tổng quát những quan hệ ngữ nghĩa trong từ vựng thành những quan hệ ngữ nghĩa giữa các trường và những quan hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trường” [7, tr.145] Như vậy hiểu một cách chung nhất, trường nghĩa là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về nghĩa từ vựng Chẳng hạn trường nghĩa “đồ dùng” là một

tập hợp từ và các từ đều có chung nét nghĩa khái quát này là: giường, tủ, bàn, ghế, sách,

bút, cặp, áo, quần, dao, kéo,…

Mỗi trường nghĩa là một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống lớn là từ vựng của

một ngôn ngữ F De Saussure trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương đã chỉ ra “hai

dạng chung nhất của ngôn ngữ: quan hệ ngang (hay quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ đoạn) và quan hệ dọc (hay quan hệ trực tuyến, quan hệ hệ hình)” [dẫn theo Đỗ Hữu Châu, 7, tr.145] Dựa vào hai loại quan hệ cơ bản trong ngôn ngữ đó ta có

Trang 10

hai loại trường nghĩa: trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính) và trường nghĩa dọc (trường nghĩa trực tuyến) Trong trường nghĩa dọc có hai trường nghĩa là trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm Kết hợp giữa trường nghĩa dọc và trường nghĩa ngang ta có trường liên tưởng Sau đây, chúng tôi sẽ lần lượt đi vào tìm hiểu về các trường ngữ nghĩa đó

a) Trường nghĩa biểu vật

Để hiểu rõ trường nghĩa biểu vật của từ, chúng ta cần phải đi vào tìm hiểu cơ sở tạo nên nó là phạm vi biểu vật của từ

“Sự vật, hiện tượng, đặc điểm …ngoài ngôn ngữ, được từ biểu thị tạo nên nghĩa

biểu vật của từ” [7, tr.105] Ví dụ các từ: đàn ông, đàn bà, kĩ sư, bộ đội, vui, buồn, thông

minh, chạy, nhảy, đi,… là phạm vi biểu vật của “người” Tuy nhiên phạm vi biểu vật của

từ có sự biến đổi theo những ngữ cảnh nhất định Có những từ ở trong ngữ cảnh này thì mang nghĩa biểu vật này, ở trong ngữ cảnh khác thì mang nghĩa biểu vật khác Ví dụ từ

“tiết” trong “tiết gà, tiết canh,…” thì phạm vi biểu vật của “tiết” là máu của động vật

Nhưng trong “tiết thanh minh” thì phạm vi biểu vật của từ này là thời gian Hay từ “mặt trời” là “nguồn chiếu sáng và sưởi ấm chủ yếu cho trái đất, ở xa trái đất” [hoàn phe, tr 768] nhưng khi đặt nó trong câu thơ của Viễn Phương:

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

“Mặt trời” được in đậm trong câu thơ trên lại mang nghĩa biểu thị vị lãnh tụ vĩ đại của đất nước – Bác Hồ

Theo Đỗ Hữu Châu, phạm vi biểu vật của từ có những đặc điểm sau:

Phạm vi biểu vật của từ không hoàn toàn trùng với sự vật, hiện tượng, tính chất,… trong thực tế khách quan trừ các từ nghề nghiệp và thuật ngữ khoa học Thực tế khách quan về cơ bản là đồng nhất với mọi dân tộc, mọi ngôn ngữ Song số lượng từ ngữ của từng dân tộc, từng ngôn ngữ ứng với một phạm vi sự vật, hiện tượng lại khác nhau (có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn) Ví dụ: Để chỉ hoạt động dùng nước làm sạch:

Trang 11

Tiếng Việt Rửa Giặt Gội Vo

Tiếng Anh To wash

Nghĩa biểu vật có tính chất chung cho nhiều từ và phạm vi biểu vật có thể rộng hay hẹp

Chẳng hạn như nghĩa biểu vật của từ “lá, thân, cành, rễ, …” có phạm vi hẹp là “cây”,

nhau thậm chí đối lập nhau (cao – thấp, to – nhỏ, …) Khi nghiên cứu các trường nghĩa

biểu vật chúng ta cần chú ý đến một số điểm sau:

Trường nghĩa có thể chia ra làm nhiều trường nghĩa nhỏ, trường nghĩa nhỏ lại tiếp tục phân chia nhỏ nữa Khi trong các trường đó tập hợp những từ đồng nghĩa với nhau thì trường nghĩa không thể phân chia được nữa Ví dụ như ta xét trường nghĩa biểu vật chỉ chiến tranh thì trong đó lại bao hàm các trường nghĩa nhỏ là: Trường nghĩa chiến tranh

xét về phương tiện vật chất (máy bay, súng, mìn, pháo, xe tăng, xe bọc thép, …), Trường nghĩa chiến tranh xét về tên chức vụ, đơn vị trong quân đội (chính ủy, trung đội trưởng,

chiến sĩ, bộ tham mưu, trung đoàn, …), Trường nghĩa chiến tranh xét về lực lượng tham

gia (ta, địch, ngụy, Việt cộng,…)… Trong các trường nghĩa nhỏ đó lại có thể phân chia

nhỏ nữa, chẳng hạn ở trường nghĩa chiến tranh xét về phương tiện vật chất thì “súng” có

thể chia nhỏ: Súng AK, súng tiểu liên, súng trường, súng ngắn, …

So sánh các trường nghĩa lớn với nhau cũng như so sánh các trường nghĩa nhỏ trong trường nghĩa lớn thì ta thấy chúng khác nhau về số lượng từ ngữ cũng như cách tổ

Trang 12

chức Ví dụ như “hoạt động của tay” có nhiều từ trường nghĩa biểu vật hơn “hoạt động của mắt”, “hoạt động của chân”

Vì từ có tính nhiều nghĩa, có khi nhiều nghĩa biểu vật, nhiều nghĩa biểu niệm, do

đó một từ không chỉ nằm trong một trường nghĩa mà có thể đi vào nhiều trường nghĩa biểu vật khác nhau Ví dụ, cơ thể động vật có nhiều đặc điểm giống cơ thể người nên trường nghĩa biểu vật chỉ cơ thể động vật thì cũng có nhiều từ giống trong trường nghĩa

biểu vật chỉ người như: mắt, mũi, miệng, lưỡi, hai chân, …

Do một từ có thể đi vào nhiều trường như trên cho nên các trường biểu vật có thể thẩm thấu vào nhau, giao thoa với nhau Hai trường biểu vật giao thoa với nhau khi một

số từ của trường này cũng nằm trong trường kia

b) Trường nghĩa biểu niệm

“Trường nghĩa biểu niệm là tập hợp của những từ có chung một cấu trúc biểu niệm” [7, tr.151] Cơ sở để xác lập các trường biểu niệm là sự đồng nhất về ý nghĩa biểu niệm của từ Loại trường nghĩa này không tập hợp được các từ khác từ loại với nhau Cũng như các trường biểu vật, các trường biểu niệm lớn có thể phân chia thành các trường nhỏ và cũng có những “miền” với mức độ khác nhau Ví dụ: trường biểu niệm (Hoạt động tác động đến người) (làm người dời chỗ) có thể chia nhỏ thành các trường:

- (Hoạt động) (làm người dời chỗ) (đến gần chủ thể) có: kéo, lôi, co, giật, …

- (Hoạt động) (làm người dời chỗ) (ra xa chủ thể) có: đẩy, xô, ẩy, đạp, đá, …

- (Hoạt động) (làm người dời chỗ) (ra xa chủ thể) (người ở ngoài chủ thể) có: đẩy,

Trang 13

c) Trường nghĩa tuyến tính

Để xác lập nên trường nghĩa tuyến tính, chúng ta phải dựa vào khả năng kết hợp của từ Trước hết, ta cần chọn một từ làm trung tâm, làm gốc Sau đó, ta tìm tất cả từ có thể kết hợp trực tiếp với từ trung tâm đó để tạo thành những trường nghĩa tuyến tính (chuỗi tuyến tính) Mà theo Đỗ Hữu Châu nhận xét “các từ trong một trường tuyến tính là những từ thường xuất hiện với từ trung tâm trong các loại văn bản Phân tích ý nghĩa của chúng, chúng ta có thể phát hiện được nội dung ngữ nghĩa của các quan hệ cú pháp và tính chất của các quan hệ đó” [7, tr.159] Thí dụ các từ nằm trong trường tuyến tính của

từ “tay” và có thể kết hợp với từ này là: bắt, vỗ, khoác, chỉ, trỏ, … (chỉ động tác của tay);

to, nhỏ, dài, ngắn, cứng, mềm, … (chỉ đặc điểm của tay);… Từ sự kết hợp đó, ta có thể

tạo ra được nhiếu chuỗi tuyến tính khác nhau

Như vậy, trường nghĩa tuyến tính là một tập hợp các từ thường được đứng theo quan hệ hàng ngang (tuyến tính) trong cụm từ hay trong câu Và trường nghĩa này cho ta thấy được khả năng kết hợp vô cùng rộng rãi với các từ khác do bản thân cấu trúc ngữ nghĩa và hiện tượng chuyển loại của nó

d) Trường nghĩa liên tưởng

Cơ sở để xây dựng nên trường liên tưởng là thành phần ý nghĩa liên hội Đây là thành phần có tính chất không ổn định vì nó không có sẵn trong từ mà mang tính chất cá nhân, lịch sử và xã hội “Khi người ta nhắc tới một từ nào đó, nó sẽ gợi ra hàng loạt từ khác Toàn bộ các từ này lập thành một tập hợp từ theo quan hệ liên tưởng Tập hợp các

từ này được gọi là trường liên tưởng” [1, tr.143] Như vậy, trường liên tưởng phải phù hợp với một trong những nét nghĩa của từ đang xét Cũng như trường nghĩa biểu niệm, để tạo nên trường liên tưởng thì cũng phải có từ làm cơ sở Tùy vào sự liên tưởng của từng

cá nhân để làm xuất hiện thêm các từ khác làm cơ sở Ví dụ như từ “con cò” gợi ta liên

tưởng tới “người phụ nữ”, từ đây liên tưởng tới sự “vất vả, lam lũ, hi sinh, chịu đựng,…” Hay từ “tết” liên tưởng đến các từ “vui, nỗi lo, bận rộn, …” Ta có hai loại trường liên

tưởng là: trường hướng tâm và trường ly tâm Trường hướng tâm là trường mà các từ liên tưởng tới luôn có quan hệ với từ trung tâm hoặc điểm xuất phát để hướng tới từ trung

Trang 14

tâm Còn trường ly tâm là trường liên tưởng không có định hướng các từ được liên tưởng đến ngày càng xa với những quan hệ ngữ pháp của từ trung tâm

Tóm lại, lý thuyết về trường nghĩa có tác dụng rất lớn đối với việc miêu tả từ vựng của các ngôn ngữ một cách có hệ thống Vì vậy khi đi vào tìm hiểu các từ ngữ biểu thị

chiến tranh trong Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu thì chúng ta không thể

không tìm hiểu về khái niệm và tiêu chí xác lập các trường nghĩa trên

1.1.1.5 Các kiểu từ

Dựa vào số lượng hình vị, chúng ta có thể chia từ Tiếng Việt thành từ đơn và từ phức

Trong đó, từ đơn là những từ do một hình vị cấu tạo nên Nó là đơn vị gốc để cấu

tạo nên những từ khác nhau Đa số từ đơn Tiếng Việt là từ đơn đơn âm Ví dụ: sông, núi,

cha, mẹ, đẹp, xấu, xanh, đỏ, …Ngoài ra trong hệ thống từ tiếng Việt ta có từ đơn đa âm

Đó là gồm những từ vay mượn từ tiếng nước ngoài, chưa thuần hóa theo âm tiếng Việt

mà vẫn giữ nguyên cách phát âm của tiếng nước đó Ví dụ: computer, photocoppy,

pênixilin, …Hoặc những từ gốc thuần Việt nhưng mỗi âm tiết đều không mang nghĩa

như: bồ hóng, bồ hòn, thắc mắc, bù nhìn,… Căn cứ vào nghĩa biểu hiện ta có bốn loại từ

đơn là: Từ đơn từ vựng, từ đơn ngữ pháp, từ đơn tượng thanh và từ đơn biểu cảm Từ đơn

có thể có nghĩa từ vựng, có thể có nghĩa ngữ pháp nhưng không có nghĩa kết cấu vì nó là một hình vị

Còn từ phức là những từ do hai hình vị trở lên cấu tạo thành Dựa vào phương thức cấu tạo có thể chia từ phức thành từ ghép và từ láy Đây là những từ có cấu tạo nội

tạo thành một nghĩa khái quát, khác nghĩa từng thành tố) như: binh lính, nhà cửa, quần

áo, sách vở, … Còn từ ghép chính phụ là loại từ ghép có hai tiếng trở lên kết hợp với

Trang 15

nhau theo quan hệ chính – phụ, trong đó tiếng mang nghĩa tổng loại chung (về sự vật, hoạt động, thuộc tính) và một hoặc một số tiếng đứng sau có tác dụng phân hóa nghĩa Ví

dụ: máy (ảnh, bơm, tiện, khâu, in, giặt, …), xe (đạp, ô tô, ba gác, gắn máy, …)…

Từ láy là từ được tạo ra bằng phương thức láy âm, có tác dụng tạo nghĩa Ví dụ:

mấp mô, nhấp nhô, ngày ngày, đêm đêm, … Nó được phân loại bằng hai cách:

Dựa vào số lượng hình vị: Láy đôi (xôn xao, đo đỏ, chầm chậm, …), láy ba (sạch

sành sanh, cỏn còn con, dửng dừng dưng,…), láy bốn ( lằng nhà lằng nhằng, đủng đà đủng đỉnh, lúng ta lúng túng, …)

Dựa vào bộ phận láy có các loại: Láy toàn bộ (cào cào, xanh xanh, chuồn

chuồn,…), láy bộ phận có: láy âm đầu (tủm tỉm, thấp thỏm, nhí nhảnh, long lanh,…) và

láy phần vần (cập rập, lỏm chỏm, chon von, …)

1.1.1.6 Từ loại

Theo Đỗ Thị Kim Liên thì “Từ loại là lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, được phân chia dựa theo ý nghĩa phạm trù, theo khả năng kết hợp trong cụm từ và trong câu, thực hiện những chức năng ngữ pháp khác nhau” [19, tr.44] Và trong quá trình tìm hiểu thì chúng tôi đồng tình với quan niệm của nhà nghiên cứu này

Trong việc xác định từ loại thì hầu hết các công trình nghiên cứu hiện nay đều có

khuynh hướng chung là khuynh hướng dựa vào đặc điểm cú pháp của từ như: Lê Văn Lý,

Bùi Đức Tịnh, Hoàng Trọng Phiến, Đỗ Thị Kim Liên, Bùi Minh Toán,… Thực ra đây là

một quan điểm không phải mới Ngay từ năm 1940, Trần Trọng Kim cũng đã cho rằng phải “lấy cái nghĩa và cách dùng của nó [ = của từ ] mà định ra từ loại” [dẫn theo Nguyễn Tài Cẩn, 5, tr.20] Và dựa trên quan điểm đó, tức là căn cứ vào ý nghĩa khái quát và vào khả năng kết hợp trong câu, trong cụm từ của từ tiếng Việt thì từ loại trong tiếng Việt nước ta thường chia thành hai nhóm: thực từ và hư từ

a) Nhóm thực từ

Nhóm thực từ là những từ mang ý nghĩa từ vựng cụ thể, rõ ràng; là những từ có khả năng làm trung tâm cụm từ, có khả năng đảm nhận các chức năng ngữ pháp trong câu, làm thành phần câu Các từ loại thuộc nhóm thực từ trong tiếng Việt là: Danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ

Trang 16

* Danh từ

Danh từ là những từ chỉ sự vật, khái niệm, người, các hiện tượng thiên nhiên và xã hội Có nghĩa là những từ mang ý nghĩa chỉ thực thể Mà hiểu theo nghĩa rộng thì thực thể là ý nghĩa chỉ sự vật và những gì được “sự vật hóa” - tức là những sự vật ta chỉ thấy được trong tư tưởng chứ không nhìn thấy, không sờ thấy được Ví dụ những từ chỉ ý

nghĩa sự vật như: bàn, ghế, quấn, áo, học sinh, sinh viên, bộ đội, …Về thực thể được “sự vật hóa” ta có các từ như: cuộc sống, cuộc đời, văn hóa, khái niệm, tư duy, …

Danh từ có khả năng làm thành tố chính trong cụm danh từ Ví dụ:

Những ngôi nhà xinh đẹp ấy

PT TT PS

Nó có khả năng kết hợp với các đại từ chỉ định như: này, kia, ấy, nọ, …; có khả

năng kết hợp trực tiếp hoặc gián tiếp với số từ Chức năng cu pháp chính của danh từ là làm chủ ngữ

Trong nội bộ danh từ có hai loại chính là: Danh từ riêng và danh từ chung

Danh từ riêng là tên riêng gọi cho một sự vật, một hiện tượng riêng biệt, một người nào đó,… Khả năng kết hợp giữa danh từ riêng so với danh từ chung có nhiều hạn chế Danh từ riêng ít được dùng kèm với số từ Trên chữ viết, danh từ riêng phân biệt với danh từ chung ở chỗ mỗi chữ cái đầu âm tiết thường viết hoa Danh từ riêng bao gồm: Danh từ riêng chỉ tên người (tên riêng của người Việt thường gồm 3 yếu tố: họ, đệm, tên)

như: Nguyễn Thị Hải, Nguyễn Hoàng, Hoàng Thị Hương,… Ngoài tên riêng chính thức

đó, người Việt còn dùng tên riêng thông dụng và tên riêng đặc biệt (bí danh, bút danh,

biệt hiệu,…) như: anh Sáu Cường, chị Hai Lúa, anh Ba Tri,… Và danh từ riêng chỉ sự vật Đó là tên gọi một con vật cụ thể, xác định (Lu Lu, Mi Mi, Ki Ki,…), tên gọi một đồ vật cụ thể (chiếc La-đa, rượu Vốt-ka, súng A.K…), tên gọi một tổ chức chính trị, kinh tế,

xã hội, văn hóa (thời Lê, thời Minh, Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc, …), chỉ địa danh (Đà Nẵng, Bình Định, Khánh Hòa, Hải Phòng, …)

Danh từ chung là tên chỉ tên chung của một chủng loại sự vật, có tính khái quát, trừu tượng, không có mối quan hệ đơn nhất giữa tên gọi và vật được gọi tên Nó được chia nhỏ làm hai loại: Danh từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp Danh từ tổng hợp là

Trang 17

danh từ dùng để gọi tên những sự vật tồn tại thành từng tổng thể gồm nhiều sự vật gần

nhau hoặc giống nhau một số đặc điểm nào đó Ví dụ: Gần nhau: Sách vở, vợ chồng, nhà

cửa, chim chuột,… Giống nhau: phố xá, làng xóm, chim chóc, thuyền bè,… Trái lại, danh

từ không tổng hợp bao gồm các tiểu loại khác nhau là: Danh từ chỉ chất liệu (biểu thị sự

vật có ý nghĩa chỉ về chất liệu ở các thể chất khác nhau như: nước, dầu, mỡ, khí,

đường, ) Danh từ chỉ đơn vị (chỉ các đơn vị sự vật) bao gồm: Danh từ chỉ đơn vị tổ

chức, địa lý (tỉnh, xã, phường, ủy ban, khoa , trường, …), danh từ chỉ đơn vị tính toán, qui ước (cân, mét, sào, mẫu, đoạn, miếng, mảnh, …), danh từ chỉ đơn vị tự nhiên (chiếc,

bức, hòn, tờ,…) Nhóm danh từ chỉ khoảng thời gian, không gian (chốn, miền, phía, hướng, buổi, mùa, vụ, …) Danh từ trừu tượng (chỉ các khái niệm, sự vật, sự việc trừu

tượng như: thói, tật, nết, mùi, tình cảm, ý nghĩ, quyền lợi, …) Danh từ chỉ người (từ chỉ quan hệ thân thuộc, chức vụ, nghề nghiệp, học hàm, tầng lớp xã hội, … như: ông, bà,

anh, chị, bác sĩ, kỹ sư, hiệu trưởng, ….) Danh từ chỉ đồ vật, thực vật, động vật (bàn, ghế, tre, trúc, hoa, quả, trâu, bò, …)

* Động từ

Động từ là từ loại biểu thị ý nghĩa quá trình, trạng thái của người và sự vật Động

từ làm trung tâm trong cụm động từ Chức năng cú pháp chính là làm vị ngữ trong câu

Các từ khóa nhận diện động từ là: hãy, đừng, chớ, đã, đang, sẽ, cũng,…(đứng trước),

xong, rồi, nữa, …(đứng sau)

Ví dụ: Tôi đang đọc sách

PT TT PS Dựa vào khả năng kết hợp với các thành tố phụ ở phía sau động từ, động từ có thể chia thành hai nhóm là: Nhóm động từ nội động và nhóm động từ ngoại động

Trong đó, nhóm động từ nội động là những từ chỉ hoạt động, trạng thái không tác động đến một đối tượng khác Nhóm động từ này không đòi hỏi có bổ ngữ trực tiếp Ví

Trang 18

Ví dụ: làm tôm, chặt cây, vẽ tranh, Và dựa vào ý nghĩa tiểu phạm trù và khả năng chi

phối các thành tố phụ sau, các ngoại động từ có thể chia tách thành một số nhóm nhỏ sau:

Nhóm động từ ban phát: Là động từ biểu thị những hoạt động có tính chất ban

phát hoặc tiếp nhận Ví dụ: đưa, gửi, biếu, cho, tặng, cấp,…(ban phát); nhận, vay, lĩnh,

chiếm, đoạt, lấy, thu,…(tiếp nhận) Nó thường cần hai bổ ngữ: một biểu thị đối tượng tiếp

nhận và một biểu thị đồ vật, sự vật do hoạt động của động từ chi phối Ví dụ: tặng bạn/

quyển sách

Nhóm động từ gây khiến: Biểu thị sự hoạt động có tác dụng cho phép, thúc đẩy

hay cản trở việc thực hiện những hoạt động khác (giúp, bảo, khuyên, cho phép, yêu cầu,

ngăn, đề nghị,…) Loại động từ này cũng cần hai bổ ngữ Một chỉ đối tượng tiếp nhận sự

gây khiến, một chỉ kết quả hoạt động gây khiến Ví dụ: khuyên tôi/ ngừng hút thuốc

Nhóm động từ cảm nghĩ, nói năng: Biểu thị sự hoạt động thuộc nhận thức như:

biết, nghĩ, hiểu, nghe, thấy, tin,… Nó thường đòi hỏi thành tố phụ là kết cấu C-V (có thể

có từ là, rằng chen vào giữa) Ví dụ: Tôi nghĩ rằng anh ấy sẽ đến

Nhóm động từ tình thái: Biểu thị khả năng, ý chí, mong muốn như: cần, phải,

định, có thể, không thể, mong, ước,… Nhóm này đòi hỏi thành tố phụ phía sau là một

động từ mang ý nghĩa từ vựng chân thực Ví dụ: Anh ấy bèn bỏ đi

Nhóm động từ trạng thái tâm lý: yêu thương, thích, ghét, lo,mong, nhớ, sợ,… Loại động từ này có khả năng kết hợp với các phó từ chỉ mức độ: rất, quá, cực kì, hơi, …(tôi rất thích buổi học hôm nay)

Nhóm động từ chuyển động: ra, vào, lên, xuống, chạy, bò, lăn, kéo, xô, … Bổ ngữ của nó thường là những từ chỉ địa điểm (ra Thanh Hóa, vào miền Nam, …)

Nhóm động từ tồn tại hoặc tiêu biến, tức là những động từ biểu thị sự xuất hiện,

tồn tại, biến mất của sự vật: có, còn, nổi lên, xuất hiện, biến mất, hết, vỡ,… Loại động từ

này thường tham gia cấu tạo nên câu đơn đặc biệt có trạng ngữ chỉ nơi chốn Ví dụ:

Ngoài vườn mọc lên cây thị

Nhóm động từ nối kết: Biểu thị hành động nối kết giữa hai sự vật do con người

gây nên: Buộc, pha, trộn, nối kết, đấu, …Nhóm này đòi hỏi thành tố phụ là hai danh từ

Ví dụ: trộn cơm với cá

Trang 19

Nhóm động từ bị động: Biểu thị ý nghĩa bị động Nó có khả năng kết hợp với

thành tố phụ ở phía sau là một kết cấu chủ - vị Chẳng hạn như: Tôi bị mẹ đánh, Nam

được thầy giáo khen

* Tính từ

Tính từ có ý nghĩa khái quát chỉ tính chất, đặc điểm của sự vật, của hoạt động, của trạng thái Nó thường làm thành tố trung tâm của cụm tính từ và đảm nhận chức năng vị

ngữ trong câu Từ khóa nhận diện tính từ là các phó từ như: rất, hơi, quá, lắm,…

Căn cứ vào ý nghĩa khái quát của tính từ được chia nhỏ thành:

Tính từ chỉ phẩm chất: tốt, xấu, đẹp, khéo, vụng, hèn, mạnh, dũng cảm,…

Tính từ chỉ đặc trưng về lượng: nhiều, ít, cao, thấp, dài, ngắn, …

Tính từ chỉ đặc trưng về cường độ: nhanh, mạnh, yếu,nóng, lạnh,…

Tính từ chỉ đặc trưng về hình thể: vuông, tròn, cong, thẳng, gầy, béo,…

Tính từ chỉ đặc trưng về màu sắc: xanh, đỏ, tím, vàng,…

Tính từ chỉ đặc trưng về âm thanh: ồn, im, vắng, lặng, …

Tính từ chỉ đặc trưng mùi vị: thơm, cay, chua, mặn, ngọt,…

Tính từ chỉ đặc trưng tuyệt đối: đỏ lòm, trắng phau, công, tư, …

* Số từ

Số từ là những từ biểu thị ý nghĩa số ý nghĩa số vừa có tính chất thực, vừa có tính chất hư Nó được chia làm hai loại: Số từ xác định và số từ không xác định Ở đây, số từ

xác định là những từ chỉ ý nghĩa số lượng chính xác như: một, hai, ba, hai phần ba, bốn

phần năm,… Ngược lại, số từ không xác định biểu thị số không chính xác như: vài, dăm, mươi, mấy, vài ba, đôi ba, hai ba, năm sáu,…

* Đại từ

Đại từ là lớp từ dùng để thay thế và chỉ trỏ Nó mang nội dung phản ánh vốn có của thực từ được chúng thay thế Nó được chia làm hai lớp sau:

Đại từ xưng hô là từ dùng để thay thế hay chỉ trỏ người Ví dụ: tôi, tao, chúng tôi,

chúng tao, mày, chúng mày, chúng nó, họ,…

Trang 20

Đại từ chỉ định là từ dùng để thay thế và chỉ trỏ có phạm vi không gian, thời gian

gần hoặc xa so với người nói: này, kia, ấy, nọ, đó, đây, …

b) Nhóm hư từ

Nhóm hư từ là không mang ý nghĩa từ vựng cụ thể như: và, tuy, nhưng, đang,

đã,…; không có khả năng làm trung tâm trong cấu trúc cụm từ như: ôi, à, ạ, …; không

giữ các chức năng ngữ pháp chính trong câu và không độc lập tạo thành câu Nó làm thành tố phụ và làm chức năng nối kết trong cụm từ hoặc trong câu Nhóm này bao gồm các từ loại sau:

* Phụ từ

Phụ từ không mang ý nghĩa từ vựng chân thực mà chỉ đi kèm danh từ, động – tính

từ đổ bổ sung ý nghĩa phụ cho các từ loại đó Ví như: đã, đang, sẽ, những, các, mọi,…

Từ loại này bao gồm: Định từ và phó từ

Định từ là những từ biểu thị quan hệ về số lượng với sự vật được nêu ở danh từ và thường đi kèm với danh từ, làm thành tố phụ trong cụm danh từ Nó được chia thành ba

nhóm nhỏ là: Định từ chỉ xuất cái (thường đứng trước danh từ chỉ loại Ví dụ: cái thằng

lính Mỹ ấy, cái con gà mái tơ ấy, …) Định từ chỉ lượng: mỗi, mọi, từng, mấy (thường đứng trước danh từ chỉ ý nghĩa phân phối về lượng như: Mỗi người một phần quà) Định

từ tạo ý nghĩa số: những, các, một (thường để cấu tạo ý nghĩa số nhiều và số ít)

Phó từ là là những từ biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa quá trình và đặc trưng với thực tại, biểu thị ý nghĩa về cách thức nhận thức và phản ánh các quá trình, đặc trưng

trong hiện thực Ví như: đã, đang, sẽ, rất, cực kì, vô cùng, … Nó thường đi kèm với động

từ, tính từ Có thể chía phó từ thành các nhóm sau: Nhóm phó từ chỉ thời gian của hành

động (đã, từng, vừa, mới, đang, sắp, sẽ, …); nhóm phó từ chỉ sự tiếp diễn của hành động (đều, vẫn, cũng, còng, lại, mãi, thỉnh thoảng, thường xuyên,…); nhóm phó từ chỉ sự khẳng định hay phủ định của hành động (chỉ, có, chưa, không, chẳng,…); nhóm phó từ chỉ sự cầu khiến (hãy, đừng, chớ, …); nhóm phó từ chỉ mức độ (rất, quá, lắm, hơi, khá,

giỏi,…); nhóm phó từ chỉ kết quả (mất, được, ra, đi, lên,…); nhóm phó từ tác động (cho);

nhóm phó từ tình thái (chợt, bỗng, đột nhiên, thình lình,…)

* Quan hệ từ

Trang 21

Quan hệ từ là những từ không mang ý nghĩa từ vựng chân thực mà chỉ dùng để liên kết từ, cụm từ kết cấu chủ - vị Nó không có khả năng làm thành tố chính của cụm từ, của câu mà thường chỉ xúc tác để tạo cụm từ

Dựa trên tính chất quan hệ từ biểu thị, có thể chia quan hệ từ thành ba nhóm:

Nhóm biểu thị quan hệ chính – phụ như: vì, bởi, do, của, bằng, về,… Nhóm từ biểu thị quan hệ đẳng lập như: và, hay, hoặc, nhưng, song, mà, … Và nhóm biểu thị quan hệ chủ - vị: là (Bạn ấy tên là Hường)

* Trợ từ

Trợ từ không mang ý nghĩa từ vựng mà mang ý nghĩa tình thái, tức chỉ phụ trợ cho một từ nào đó trong câu để thể hiện thái độ người nói hoặc nhằm mục đích nhấn mạnh

Nó không có khả năng làm thành phần câu Trợ từ được chia làm các nhóm sau:

Trợ từ thể hiện thái độ đánh giá khác nhau của người nói (Những, có, chỉ, đã, mới,…) Ví như: Lan may những ba bộ áo dài (đánh giá nhiều), tôi may chỉ một bộ áo dài thôi (đánh

giá ít)

Trợ từ thể hiện thái độ khẳng định (tự, chính, ngay, đích, …)

Trợ từ thể hiện sự nhấn mạnh (thì, mà) như: Nam mà đánh bạn bè à?

* Tình thái từ

Tình thái từ là từ loại dùng để biểu thị những sắc thái tình cảm, cảm xúc (ngạc

nhiên, đau đớn, vui mừng, tức giận, …) của người nói hoặc dùng làm lời gọi, đáp

Loại từ này thường đứng trong câu và không phụ thuộc vào bất cứ thành phần nào

Nó bao gồm: Tình thái từ thể hiện cảm xúc (chao ôi, ôi, ô kìa, trời ơi, …), thường đi kèm với dấu chấm than (Ôi! Con mèo Tam thể của tôi) Và tình thái từ gọi đáp (hỡi, ơi, này,

vâng, dạ,…)

Trên đây là những từ loại Tiếng Việt chính Và khi đi vào tìm hiểu lớp từ ngữ biểu

thị chiến tranh trong tác phẩm Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, chúng sẽ là

những cơ sở lí luận phục vụ đắc lực cho đề tài

1.1.2 Khái quát về cụm từ Tiếng Việt

Khi nói và viết, con người thường sử dụng đơn vị thông báo ở cấp độ câu Để tạo câu cần có từ Và các từ thường sắp xếp theo những quan hệ nào đó nhằm tạo nên đơn vị

Trang 22

lớn hơn từ, đó là cụm từ Như vậy để đạt được hiệu quả cao trong giao tiếp ngoài việc có vốn từ phong phú, chúng ta cần phải quan tâm tới đơn vị lớn hơn từ là cụm từ để hình thành câu Vậy cụm từ là gì?

1.1.2.1 Khái niệm cụm từ

Hiện nay, vấn đề định nghĩa cụm từ vẫn đang còn tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu Vì vậy mà việc đưa ra một khái niệm chung nhất về cụm từ cũng là một vấn đề phức tạp

Theo Đỗ Thị Kim Liên quan niệm: “Cụm từ là những cấu trúc gồm hai từ trở lên, chúng kết hợp tự do với nhau theo những kiểu quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp nhất định”

[19, tr 75] Bùi Minh Toán trong Giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt cũng có ý kiến tương

tự: “Cụm từ là tổ hợp các từ theo một quan hệ ý nghĩa và quan hệ ngữ pháp nhất định, nằm trong giới hạn của một câu, đảm nhiệm chức năng một thành phần cú pháp trong câu” [25, tr.63] Còn theo Diệp Quang Ban thì xem “Cụm từ là những kiểu cấu trúc gồm hai từ trở lên kết hợp “tự do” với nhau theo những quan hệ ngữ pháp hiển hiện nhất định

và không chứa kết từ ở đầu (để chỉ chức vụ ngữ pháp của kiến trúc này) Đối với Đái Xuân Ninh lại cho rằng: “Cụm từ là một cấu trúc mở rộng của một từ giữ một chức năng nào đó trong câu” [3, tr.225]

Qua quá trình tìm hiểu các công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ trên, chúng tôi hiểu một cách khái quát về cụm từ như sau: Cụm từ là những kết hợp từ gồm hai từ hoặc hai kết hợp từ trở lên theo một quan hệ ngữ pháp nhất định

Trang 23

từ chính - phụ ấy nhằm phục vụ cho quá trình phân tích và lĩnh hội từ ngữ biểu thị chiến

tranh sử dụng trong Dấu chân người lính được hiệu quả

Cụm danh từ (hay còn gọi là danh ngữ) là cụm từ trong đó danh từ làm thành tố trung tâm và có một hoặc nhiều thành tố phụ quây quần xung quanh để bổ sung ý nghĩa ngữ pháp cho danh từ trung tâm đó Trong cụm danh từ sự phân bố các thành tố phụ trước và phụ sau khá chặt chẽ Đó là những lớp con từ khác nhau khá rõ về bản chất từ loại (tiểu loại) và về chức vụ cú pháp Cấu tạo chung của cụm danh từ gồm có ba phần: phần phụ trước, phần trung tâm, phần phụ sau Tại phần trung tâm gồm một danh từ và một ngữ danh từ Ngữ danh từ gồm một danh từ chỉ loại đứng trước và một danh từ chỉ

sự vật hay một động từ, tính từ chỉ hoạt động, trạng thái, tính chất, quan hệ đứng sau và

cả hai gộp lại để chỉ một sự vật như: cái nhà, cây tre, con mèo, cuộc họp, quả lựu đạn,…

Và mô hình đầy đủ của cụm danh từ là:

Phần phụ trước Phần trung tâm Phần phụ sau

Từ chỉ

tổng thể

Từ chỉ lượng

Từ chỉ xuất

Danh từ Từ nêu đặc

trưng miêu tả

Từ chỉ định

Cụm động từ (hay còn gọi là động ngữ) là một cụm từ tự do có quan hệ chính phụ, trong đó có động từ làm trung tâm, ngoài ra còn có khác thành tố khác quây quần xung quanh để bổ sung ý nghĩa ngữ pháp cho động từ trung tâm đó Cũng như cụm danh từ, cụm động từ cũng gồm ba phần:

Trang 24

Nếu ở cụm danh từ, sự phân bố các thành tố phụ trước và phụ sau khá chặt chẽ, cố định thì ở cụm động từ có những thành tố vừa có thể đứng trước, vừa có thể đứng sau trung

tâm Ví dụ: chảy róc rách -> róc rách chảy

Cụm tính từ (hay còn gọi là tính ngữ) là một cụm từ tự do có quan hệ chính phụ, trong đó có tính từ làm trung tâm và các thành tố phụ khác quây quần xung quanh để bổ sung ý nghĩa cho từ trung tâm đó Ở dạng đầy đủ, cấu tạo của cụm từ gồm ba phần sau:

Trên đây là những căn cứ làm tiền đề lí luận cơ sở để chúng tôi đi sâu vào giải quyết đề tài

1.2 Vài nét về Nguyễn Minh Châu và tiểu thuyết Dấu chân người lính

1.2.1 Nguyễn Minh Châu và hành trình sáng tạo nghệ thuật

Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989) thuộc vào những tác giả hàng đầu của văn xuôi Việt Nam hiện đại Ông quê ở làng Thơi, xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ

An Tuổi thơ Nguyễn Minh Châu lớn lên trong tiếng mẹ ru, tiếng sóng biển rì rào và cả trong những tiếng mưa gào gió giật của những trận cuồng phong Sinh ra trong một gia đình nông dân đông con (bốn trai hai gái), Nguyễn Minh Châu là con út nên được bố mẹ, nhất là các chị chăm chút nuôi dưỡng và được học hành đến nơi đến chốn

Năm 1945, ông tốt nghiệp Trường kỹ Nghệ Huế với bằng thành chung Tháng 1 năm 1950, ông học chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng tại Nghệ Tĩnh và sau đó gia nhập quân đội, học ở trường sĩ quan Trần Quốc Tuấn Từ 1952 đến 1956, ông cũng công tác tại ban tham mưu các tiểu đoàn 722, 706 thuộc sư đoàn 320 Từ 1956 đến 1958, Nguyễn Minh Châu làm trợ lý văn hoá trung đoàn 64 thuộc sư đoàn 320 Năm 1961, ông theo học trường văn hoá Lạng Sơn Năm 1962, Nguyễn Minh Châu về công tác tại phòng văn Nghệ quân đội, sau đó chuyển sang tạp chí Văn nghệ quân đội

Trang 25

Ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam năm 1972 Nguyễn Minh Châu qua đời ngày 23/01/ 1989 tại Hà Nội, hưởng thọ 59 tuổi

Nguyễn Minh Châu được phong tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ

thuật vào năm 2000 Tác phẩm Cỏ lau đạt giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam vào năm

1990 Giải thưởng văn học bộ quốc phòng 1984 – 1989 cho toàn bộ sáng tác của Nguyễn Minh Châu viết về chiến tranh và người lính

Ông sáng tác trên nhiều thể loại và thể loại nào cũng đạt được kết tinh nghệ thuật

cao Các phẩm chính của ông thuộc các thể loại có : Tiểu thuyết gồm: Cửa sông (1966),

Dấu chân người lính (1972), Lửa từ những ngôi nhà (1977), Miền cháy (1977), Những người đi từ trong rừng ra (1982), Mảnh đất tình yêu (1987) Truyện ngắn gồm: Những vùng trời khác nhau (1970), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983), Bến quê

(1985) Truyện vừa : Cỏ lau (1989) Ngoài ra còn phải kể đến tập tiểu luận Hãy đọc lời ai

điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ (1987) và cuốn Nguyễn Minh Châu toàn tập

(2001)

Với hành trình hăng say sáng tạo, mặc dù số lượng tác phẩm của Nguyễn Minh Châu không đồ sộ về số lượng nhưng lại đạt đỉnh cao về chất lượng Ông xứng đáng được xem là một trong những nhà văn hàng đầu của nền văn học Việt Nam hiện đại Là cây bút văn xuôi có đóng góp xuất sắc cho văn học thời kỳ kháng chiến chống Mỹ

1.2.2 Tiểu thuyết Dấu chân người lính

Dấu chân người lính được ra đời năm 1972 và lập tức gây được tiếng vang lớn

trên thi đàn văn xuôi chống Mỹ Việt Nam Đây là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm cuộc sống và nghiệm thu của những chuyến đi thực tế vào các vùng chiến trường

ác liệt thời chống Mỹ So với Cửa sông, Dấu chân người lính đánh dấu một bước tiến rõ

rệt trong kĩ thuật tái hiện thực tế chiến trường, cảm xúc cũng “chín” hơn và vốn sống cũng già dặn hơn Nó được coi như là cái bản lề khép lại một tư tưởng cũ và mở ra một hành trình sáng tạo mới khi viết về đề tài chiến tranh của Nguyễn Minh Châu

Dấu chân người lính đã dựng lại khung cảnh rộng lớn, hào hùng của cuộc chiến

tranh với những cảnh vượt Trường Sơn của các binh đoàn chủ lực rồi những chiến dịch Khe Sanh, Tà Cơn, … trên vùng đất Quảng Trị Cùng với việc tái hiện bối cảnh và không

Trang 26

khí lịch sử, ngòi bút Nguyễn Minh Châu đã tập trung khắc họa hình tượng người lính cách mạng rất gần gũi, sinh động Họ vừa là những anh hùng vừa là những con người đời thường với những cá tính độc đáo: Lượng có vẻ bề ngoài nghiêm nghị, cứng nhắc và vụng về nhưng bên trong lại nóng bỏng yêu thương; Khuê dũng cảm, gan dạ, hài hước nhưng lúc cần lại biết nén đau thương cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ; … Mỗi nhân vật trong tác phẩm là một điển hình cho tính cách và bản lĩnh của thế hệ thanh niên Việt nam thời kháng chiến chống Mỹ

Dấu chân người lính lôi cuốn người đọc bằng chất sử thi hào hùng cùng với màu

sắc trữ tình lãng mạn, nhất là những trang miêu tả thiên nhiên, những rung động trong tâm hồn các nhân vật

Và một điều đáng lưu ý trong tiểu thuyết nổi tiếng này nữa là ngôn từ đậm đặc màu sắc chiến tranh Chính nhờ việc vận dụng linh hoạt hàng loạt từ ngữ biểu thị chiến

tranh trong vốn ngôn ngữ của mình vào Dấu chân người lính mà Nguyễn Minh Châu mới

đưa được vào tác phẩm không khí chiến đấu hào hùng một thời của dân tộc tạo nên chất

sử thi thấm đượm trên từng trang tiểu thuyết bởi “Cái thú vị nhất khi đọc Dấu chân người

lính là cảm tưởng được tắm giữa cái tươi ròng của sự sống, một cuộc sống đang hết sức

nóng hổi và tươi mới” (Phan Cự Đệ) [13, tr.52]

Trang 27

Chương Hai: Khảo sát và miêu tả từ ngữ biểu thị chiến tranh trong tiểu thuyết

Dấu chân người lính

2.1 Về bình diện từ vựng

Nguyễn Minh Châu là nhà văn tham gia vào nghề lính trước khi đến với nghề văn

Vì vậy, hơn ai hết ông là người am hiểu về hai cuộc chiến đấu chống đế quốc xâm lược Pháp và đế quốc Mỹ ác liệt, hào hùng của dân tộc Và ta cũng không hề ngạc nhiên khi

tìm thấy lớp từ ngữ biểu thị chiến tranh ngồn ngộn trong tiểu thuyết Dấu chân người lính

Nhưng điều độc giả khâm phục là mặc dù nhà văn đưa vào trong tác phẩm này hàng loạt ngôn từ chính trị - quân sự thô ráp và dễ gây nhàm chán mà vẫn hấp dẫn được bạn đọc bao thế hệ Phải chăng đằng sau lớp từ ngữ nghèo cảm xúc ấy là một trái tim nóng bỏng yêu thương khi chứng kiến những giờ phút đau thương của dân tộc Hay nói đúng hơn,

tác giả đã linh hoạt kết hợp vốn từ ngữ chiến tranh trong Dấu chân người lính nhằm đem

đến cho thế hệ mai sau cảm nhận thật hơn về không khí đấu tranh ác liệt, đau thương mà

vĩ đại của nhân dân Từ đó để chúng ta có thái độ biết ơn, trân trọng từng giây từng phút bình yên của cuộc sống ngày nay

2.1.1 Từ ngữ chỉ tên đơn vị tổ chức chiến đấu

Qua quá trình khảo sát từ ngữ ở cuốn tiểu thuyết Dấu chân người lính của Nguyễn

Minh Châu, chúng tôi xin đưa ra những từ ngữ tiêu biểu chỉ tên các đơn vị tổ chức chiến đấu của “ta” và “địch” trong hai bảng thống kê sau:

 Bảng 1:

Trang 28

STT Tên đơn vị tổ chức chiến đấu của ta Tần số xuất hiện

2 Trung đoàn 5 = Nông trường 5 33

26 Đoàn cán bộ nghiên cứu chiến trường 1

Trang 29

29 Đơn vị pháo binh 4

STT Tên đơn vị tổ chức chiến đấu của địch Tần số xuất hiện

Trang 30

15 Trung đoàn lính thủy đánh bộ 2

Qua kết quả khảo sát trên, chúng tôi có thể khẳng định rằng số lượng từ chỉ tên đơn vị và tổ chức chiến đấu giữa “ta” và “địch” rất chênh lệch Quân ta huy động tới không dưới 51 đơn vị chiến đấu Còn đơn vị chiến đấu của quân địch được tác giả nhắc đến chỉ khoảng 19 đơn vị Thêm vào đó tần số xuất hiện các lớp từ ngữ ấy trong tác phẩm của quân ta cũng xuất hiện nhiều hơn quân địch Phải chăng tác giả muốn cho bạn đọc thấy rằng để chống lại một đơn vị lực lượng ít nhưng mạnh của địch cần phải có kế hoạch chuẩn bị lâu dài, phải huy động nhiều đơn vị tổ chức chiến đấu Và những từ ngữ về đơn

vị chiến đấu được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong tác phẩm chính là Nguyễn Minh Châu đang cố gắng miêu tả lại không khí chuẩn bị một cuộc tác chiến với địch rất khẩn trương

Trang 31

như: trung đoàn tới 65 lần, sư đoàn 28 lần, tiểu đoàn 31 lần, đơn vị 81 lần,… Còn phía địch số lượng xuất hiện các đơn vị được nhà văn đề cập ít hơn như: Trung đội lính Mỹ 17 lần, đơn vị quân ngụy 16 lần, đại đội lính Mỹ 6 lần, đơn vị “Ngựa bay” 6 lần, … Song ít nhưng những hoạt động của chúng thường đột kích bất ngờ với một lực lượng mạnh nên quân và dân ta dù chuẩn bị trước vẫn phải đánh trả lại hết sức gian nan, vất vả Và để

hiểu được rõ hơn tác dụng sử dụng các lớp từ chỉ đơn vị chiến đấu trong Dấu chân người

lính của Nguyễn Minh Châu, chúng tôi cùng bạn đọc ít nhất cần nắm được khái quát

nghĩa của nó Và giải nghĩa các lớp từ đó, chúng tôi dựa vào cuốn Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê kết hợp với cuốn Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông của Phan Ngọc Liên

 Bảng 1: Tên đơn vị tổ chức chiến đấu của ta

* Trung đoàn: “Đơn vị tổ chức của lực lượng vũ trang, thường gồm một số tiểu đoàn nằm trong biên chế của sư đoàn hay được tổ chức độc lập” [24, tr 1298]

* Trung đoàn pháo: Là đơn vị tổ chức của lực lượng vũ trang thuộc binh chủng của lục quân, thường gồm một số tiểu đoàn nằm trong biên chế của sư đoàn, “chủ yếu dùng các loại pháo để hiệp đồng chiến đấu với các binh chủng khác hoặc chiến đấu độc lập” [24, tr.950]

* Sư đoàn: “Đơn vị tổ chức của lực lượng vũ trang gồm hai trung đoàn trở lên” [24, tr.1084]

* Sư đoàn chủ lực: “ Lực lượng chính, nòng cốt, có tác dụng quyết định thắng lợi” [24, tr.228] thường gồm hai trung đoàn trở lên

* Binh chủng: “Bộ phận trong quân chủng, được phân loại theo trang bị vũ khí và chức năng tác chiến khác nhau” [24, tr.88]

* Đại đội: “Đơn vị tổ chức của lực lượng vũ trang, thường gồm ba bốn trung đội, nằm trong biên chế của tiểu đoàn hoặc được tổ chức độc lập” [24, tr 356]

* Đại đội trinh sát: Đơn vị tổ chức của lực lượng vũ trang, thường gồm ba bốn trung đội, nằm trong biên chế của tiểu đoàn, chuyên làm nhiệm vụ “dò xét, thu thập tình hình để phục vụ tác chiến” [24, tr.1283]

Trang 32

* Đại đội bộ binh: Là đơn vị tổ chức của lực lượng vũ trang thuộc binh chủng của lục quân, thường gồm ba bốn trung đội, nằm trong biên chế của tiểu đoàn hoặc được tổ chức độc lập, trong đó quân sĩ đi bộ tác chiến khi có chiến tranh

* Đại đội xuất kích: Đơn vị tổ chức của lực lượng vũ trang gồm ba bốn trung đội, nằm trong biên chế của tiểu đoàn, thường rời trận địa hoặc căn cứ để đi đánh địch

* Tiểu đoàn: “Đơn vị tổ chức của lực lượng vũ trang, thường gồm ba hoặc bốn đại đội, nằm trong biên chế của trung đoàn hay được tổ chức độc lập” [24, tr.1229]

* Tiểu đoàn công binh: Đơn vị tổ chức của lực lượng vũ trang thuộc binh chủng kĩ thuật; thường gồm ba hoặc bốn đại đội; nằm trong biên chế của trung đoàn; chiến đấu chủ yếu bằng mìn, chất nổ,…và bảo đảm chiến đấu

* Tiểu đoàn quân báo: Đơn vị tổ chức của lực lượng vũ trang, thường gồm ba hoặc bốn đại đội, nằm trong biên chế của trung đoàn, chuyên làm tình báo cho quân đội

* Tiểu đoàn bộ binh: Đơn vị tổ chức của lực lượng vũ trang thuộc binh chủng của lục quân, thường gồm ba hoặc bốn đại đội, nằm trong biên chế của trung đoàn hay được tổ chức độc lập, trong đó quân sĩ đi bộ tác chiến khi có chiến tranh

* Tiểu đoàn pháo: Đơn vị tổ chức của lực lượng vũ trang thuộc binh chủng của lục quân, thường gồm ba hoặc bốn đại đội, nằm trong biên chế của trung đoàn, “chủ yếu dùng các loại pháo để hiệp đồng chiến đấu với các binh chủng khác hoặc chiến đấu độc lập” [24,

* Tiểu đội bộ binh: Đơn vị tổ chức nhỏ nhất của lực lượng vũ trang thuộc binh chủng của lục quân, thường gồm từ sáu đến mười hai người và nằm trong biên chế của trung đội, trong đó quân sĩ đi bộ tác chiến khi có chiến tranh

Trang 33

* Tiểu đội cảnh giới: Đơn vị tổ chức nhỏ nhất của lực lượng vũ trang, thường gồm từ sáu đến mười hai người và nằm trong biên chế của trung đội, chuyên làm nhiệm vụ “canh gác, tuần phòng ở phía ngoài để phát hiện địch và kịp thời đối phó” [24, tr 144]

* Quân y: “Y tế trong quân đội” [24, tr.999]

* Đoàn quân y giải phẫu: Đoàn y tế trong quân đội làm nhiệm vụ phẫu thuật để nghiên cứu hoặc chữa bệnh

* Đoàn văn công: Đoàn “công tác biểu diễn nghệ thuật sân khấu”[24, tr.1360]

* Đoàn cán bộ nghiên cứu chiến trường: Đoàn cán bộ xem xét tìm hiểu nơi diễn ra các cuộc chiến đấu để nắm vững tình hình và rút ra những kế hoạch chiến đấu mới

* Đơn vị: “Bộ phận lực lượng vũ trang được biên chế theo quy định” [24, tr.443]

* Trinh sát đặc công: “Lực lượng tinh nhuệ của quân đội chuyên dùng lối đánh đặc công” [24, tr 373]

* Đơn vị pháo binh: Bộ phận lực lượng vũ trang thuộc binh chủng của lục quân, “chủ yếu dùng các loại pháo để hiệp đồng chiến đấu với các binh chủng khác hoặc chiến đấu độc lập” [24, tr 950]

* Đơn vị bộ binh: Bộ phận lực lượng vũ trang thuộc binh chủng của lục quân, trong đó quân sĩ đi bộ tác chiến khi có chiến tranh

* Đơn vị dân công: Bộ phận lực lượng vũ trang làm nghĩa vụ lao động trong một thời hạn quy định

* Đơn vị hậu cần: Bộ phận lực lượng vũ trang “bảo đảm vật chất, kĩ thuật, y tế, quân trang, quân dụng cho lực lượng vũ trang” [24, tr 536]

* Cơ quan tham mưu binh trạm: “Cơ quan: Đơn vị trong bộ máy nhà nước hoặc đoàn thể làm những nhiệm vụ về hành chính, sự nghiệp”[24, tr 279]; “Tham mưu: giúp người chỉ huy trong việc xếp đặt và tổ chức thực hiện các kế hoạch quân sự” [24, tr.1129]; “Binh trạm: Đơn vị hậu cần trong quân đội phụ trách một đoạn đường hoặc một khu vực” [24, tr.89] Gộp các nghĩa trên lại ta có nghĩa khái quát là: Đơn vị hậu cần trong quân đội phụ trách các kế hoạch quân sự trên một đoạn đường hoặc một khu vực

* Bộ tư lệnh mặt trận: Là cơ quan chỉ huy quân sự trên các mặt trận cấp liên binh đoàn

Trang 34

* Bộ tư lệnh chiến dịch: Là cơ quan chỉ huy toàn bộ các trận chiến đấu trên chiến trường cấp liên binh đoàn

* Sở chỉ huy: “Nơi bố trí để tiện cho người chỉ huy và cơ quan giúp việc ở đó trực tiếp chỉ huy tác chiến” [24, tr.1077]

* Sở chỉ huy trung đoàn: Nơi bố trí để tiện cho người chỉ huy và cơ quan giúp việc ở đó trực tiếp chỉ huy tác chiến cấp trung đoàn

* Sở chỉ huy dã chiến: Nơi bố trí để tiện cho người chỉ huy và cơ quan giúp việc ở đó trực tiếp chỉ huy tác chiến nhưng không cố định

* Du kích: “ Lực lượng nòng cốt của dân quân, tác chiến linh hoạt bằng lực lượng nhỏ lẻ, kết hợp mọi thứ vũ khí thô sơ và hiện đại, kết hợp đánh tiêu diệt nhỏ với đánh tiêu hao rộng rãi” [24, tr.339]

* Trung đội: “Đơn vị tổ chức của lực lượng vũ trang, thường gồm ba tiểu đội và nằm trong biên chế của đại đội” [24, tr.1298]

* Trung đội cảnh vệ: Đơn vị tổ chức của lực lượng vũ trang, thường gồm ba tiểu đội và nằm trong biên chế của đại đội, chuyên làm nhiệm vụ canh gác, bảo vệ

* Ban tham mưu trung đoàn: Tổ chức gồm một nhóm người được lập ra để giúp người chỉ huy trong việc xếp đặt và tổ chức thực hiện các kế hoạch quân sự cấp trung đoàn

* Trung đội trinh sát: Đơn vị tổ chức của lực lượng vũ trang, thường gồm ba tiểu đội và nằm trong biên chế của đại đội, chuyên làm nhiệm vụ “dò xét, thu thập tình hình để phục

vụ tác chiến” [24, tr.1283]

* Quân đội “Việt cộng”: Ở đây, “Việt cộng” là “từ mà Mỹ và tay sai dùng để chỉ những người yêu nước ở miền Nam Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước Chúng cho đó là những đảng viên cộng sản người địa phương “nằm vùng” hay từ miền Bắc “thâm nhập” vào quấy rối “quốc gia”, cần phải tiêu diệt Thực ra, “Việt cộng” mà

Mỹ - Ngụy gọi, là những chiến sĩ Việt Nam yêu nước nhất, kiên quyết đấu tranh cho độc lập, tự do, thống nhất đất nước” [20, tr 473] Vậy quân đội “Việt cộng” chính là lực lượng vũ trang tập trung của nước ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ

* Đội phẫu thuật: Đội y tế chuyên mổ để chữa bệnh

* Đội điều trị: Đội y tế chuyên chữa bệnh tật, vết thương nói chung

Trang 35

* Đảng: “Nhóm người kết với nhau để cùng thực hiện một mục đích chung nào đó, trong

sự đối lập với những nhóm người khác” [24, tr 362 – 363]

* Đảng ủy: “Ban chấp hành của một đảng bộ” [24, tr 363]

* Đoàn cáng thương: Bộ phận thường dùng cáng để khiêng người ốm hoặc người bị thương

 Bảng 2: Tên đơn vị tổ chức chiến đấu của địch

* Đại đội ngụy binh: Đại đội binh lính ngụy quân

* Đội quân viễn chinh: Đội quân đi đánh nhau ở phương xa ngoài bờ cõi nước mình

* Đơn vị quân ngụy: Đơn vị thuộc quân đội của ngụy quyền – chính quyền tay sai được lập ra để chống lại chính quyền hợp pháp của nhân dân

* Bộ Tư lệnh viễn chinh Mỹ: Cơ quan chỉ huy quân sự cấp binh đoàn hoặc tương đương của quân đội Mỹ đi đánh nhau ở phương xa, ngoài bờ cõi nước mình

* Quân ứng cứu: Quân cứu giúp, giải nguy kịp thời cho các đơn vị khác lúc gặp hoạn nạn

* Lữ đoàn: “Đơn vị tổ chức của lực lượng vũ trang, lớn hơn trung đoàn, nhỏ hơn sư đoàn” [24, tr.737]

* Lữ đoàn Kỵ binh: “Đơn vị tổ chức của lực lượng vũ trang, lớn hơn trung đoàn, nhỏ hơn

sư đoàn” [24, tr.737], thường cười ngựa chiến đấu

* Trung đội: “Đơn vị tổ chức của lực lượng vũ trang, thường gồm ba tiểu đội và nằm trong biên chế của đại đội” [24, tr.1298]

* Đơn vị “Ngựa bay”: Đơn vị chiến đấu của phi công Mỹ

* Trung đoàn lính thủy đánh bộ: Đơn vị tổ chức của lực lượng vũ trang thuộc binh chủng của hải quân, thường gồm một số tiểu đoàn nằm trong biên chế của sư đoàn, chuyên hoạt động đổ bộ, đánh chiếm đoạn bờ biển, hải đảo, mục tiêu trên bờ

* Đại đội lính ngụy: Đơn vị tổ chức của lực lượng vũ trang ngụy quyền, thường gồm ba bốn trung đội, nằm trong biên chế của tiểu đoàn

* Sở chỉ huy đại đội: “Nơi bố trí để tiện cho người chỉ huy và cơ quan giúp việc ở đó trực tiếp chỉ huy tác chiến” [24, tr.1077]

2.1.2 Từ ngữ chỉ con người tham gia cuộc chiến

Trang 36

Hòa bình là niềm khát khao của con người Việt Nam Hiếu chiến là bản chất của các nước đế quốc xâm lược Vì vậy, khi nước ta đặt dưới tầm ngắm của các nước đế quốc khát máu mà cụ thể là đế quốc Mỹ thì nhân dân ta dù đau thương đến đâu cũng cố vươn lên giành lại độc lập, thống nhất nước nhà Và trong cuộc đấu tranh đó, cả ta và địch hầu như đều dốc toàn tâm toàn lực để đạt được mục đích cuối cùng Điều này được thể hiện

rất rõ qua lớp từ ngữ chỉ con người kháng chiến trong Dấu chân người lính sau:

7 Chiến sĩ giao liên = Đồng chí giao liên 7

9 Chiến sĩ quyết tử = Quyết tử quân 6

12 Chiến sĩ vận tải = Lính vận tải 15

19 Bộ đội giải phóng = Chiến sĩ giải phóng 20

Trang 37

28 Tiểu đội trưởng phụ trách đài quan sát 5

31 Trung đội trưởng phụ trách tổ bắn tỉa 2

Trang 38

65 Đại đội trưởng đại đội tải thương 4

Trang 39

trạm

76 Đồng chí thương binh = Thương binh 48

Lớp từ con người tham gia cuộc chiến trên của “ta” được sử dụng chủ yếu trong chiến tranh nền không được phổ biến Vì vậy để hiểu được hết dụng ý sử dụng lớp từ này

trong tiểu thuyết Dấu chân người lính, chúng tôi cần hiểu được nghĩa của chúng

* Chiến sĩ = Đồng chí chiến sĩ: “Người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân [thường không phải là cấp chỉ huy] Người chiến đấu cho một sự nghiệp, một lí tưởng” [24, tr.205]

* Chiến sĩ bộ binh: “Binh chủng của lục quân, quân sĩ đi bộ tác chiến khi có chiến tranh” [24, tr.104]

* Chiến sĩ cần vụ: “Nhân viên phục vụ riêng về mặt sinh hoạt hằng ngày cho cán bộ trung, cao cấp [thường là trong quân đội]” [24, tr.160]

* Chiến sĩ cảnh giới: Người thuộc lực lượng vũ trang chuyên làm nhiệm vụ “canh gác, tuần phòng phía ngoài để phát hiện địch và kịp thời đối phó” [24, tr.144]

* Chiến sĩ cảnh vệ: “Người thuộc lực lượng vũ trang chuyên làm nhiệm vụ canh gác, bảo vệ” [24, tr.144]

* Chiến sĩ thông tin = Lính thông tin: Người thuộc lực lượng vũ trang chuyên làm nhiệm

vụ truyền tin, báo tin

Trang 40

* Chiến sĩ giao liên = Đồng chí giao liên: “[người] chuyên làm liên lạc và dẫn đường qua vùng địch hoặc gần vùng địch” [24, tr.491]

* Chiến sĩ xung kích: “Người làm nhiệm vụ xung phong trong chiến đấu” [24, tr.1431]

* Chiến sĩ quyết tử = Quyết tử quân: Những người “dám hi sinh, sẵn sàng hi sinh, nhận những nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểm nhất trong chiến đấu” [20, tr 356]

* Chiến sĩ liên lạc: “Người làm công tác đưa tin, đưa mệnh lệnh, … từ nơi này đến nơi khác” [24, tr.702]

* Chiến sĩ đài quan sát: Người làm công tác quan sát, nghiên cứu chiến trường ở “công trình xây dựng trên nền cao, thường không có mái che” [24, tr 354]

* Chiến sĩ vận tải = Lính vận tải: Người “chuyên chở người hoặc đồ vật, hàng hóa trên quãng đường tương đối dài” [24, tr.1365]

* Chiến sĩ trinh sát: “Người làm nhiệm vụ trinh sát” [24, tr.1283]

* Chiến sĩ cao xạ: Người làm nhiệm vụ bắn các mục tiêu trên không

* Chiến sĩ điện thanh: Người phụ trách ghi lại âm thanh nhờ dòng điện

* Chiến sĩ phòng ngự: Người làm nhiệm vụ “phòng chống và đánh trả nhằm đẩy lùi các cuộc tiến công của đối phương” [24, tr.971]

* Chiến sĩ phụ trách điện đài: Người phụ trách “máy thu vô tuyến điện” [24, tr.405]

* Bộ đội: “người trong quân đội” [24, tr.104]

* Bộ đội giải phóng = Chiến sĩ giải phóng: Người trong quân đội có nhiệm vụ giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân, khỏi nạn ngoại xâm

* Chính ủy = Đồng chí chính ủy: “Cán bộ chỉ huy chịu trách nhiệm về công tác chính trị trong lực lượng vũ trang nhân dân, thường ở cấp trung đoàn trở lên” [24, tr.214]

* Lính: “Người trong quân đội nói chung Người trong quân đội ở cấp thấp nhất, không phải là cấp chỉ huy” [24, tr.706]

* Tiểu đội trưởng: “Người chỉ huy một tiểu đội” [24, tr.1229]

* Tiểu đội trưởng trinh sát: Người chỉ huy một tiểu đội trinh sát

* Tiểu đội trưởng phụ trách đài quan sát: Người chỉ huy một tiểu đội phụ trách đài quan sát

* Trung đội trưởng: Người chỉ huy một trung đội

Ngày đăng: 25/05/2019, 12:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w