Theo Tổ chức Du lịch thế giới thì có tới 83% các quốc gia xếp du lịch là một trong năm ngành xuất khẩu lớn nhất, và cứ ba nước thì có một nước coi du lịch là nguồn du lịch ngoại tệ quan
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SỬ
- -
ĐOÀN THỊ KIM ANH
Tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển các loại hình du lịch ở Thành phố Cam Ranh –
tỉnh Khánh Hòa
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu tất yếu của xã hội Ở nhiều quốc gia trên thế giới, du lịch không những là ngành kinh tế mũi nhọn mà còn là cầu nối giao lưu giữa các dân tộc, quốc gia và các miền trong một nước Du lịch ngày nay đã trở thành một hoạt động không thể thiếu trong đời sống xã hội, làm cho đời sống xã hội ngày một phong phú hơn,
lý thú, và bổ ích hơn Về phương diện kinh tế, nó đóng góp không nhỏ trong thu nhập kinh tế quốc dân, góp phần phát triển kinh tế ở vùng chậm phát triển, giúp xóa đói, giảm nghèo các vùng sâu vùng xa Về phương diện xã hội, du lịch có vai trò trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Chính vì vậy mà
du lịch trở thành ngành kinh tế không thể thiếu trong chính sách phát triển kinh
tế - xã hội của một quốc gia
Trên thế giới, du lịch được xem là ngành “công nghiệp không khói” được nhiều nước quan tâm và được xem là ngành kinh tế đóng góp rất lớn vào thu nhập quốc dân Theo Tổ chức Du lịch thế giới thì có tới 83% các quốc gia xếp
du lịch là một trong năm ngành xuất khẩu lớn nhất, và cứ ba nước thì có một nước coi du lịch là nguồn du lịch ngoại tệ quan trọng
Cùng với sự phát triển của du lịch thế giới, ngành du lịch Việt Nam ngày càng được Đảng và Nhà nước quan tâm Năm 1999 Pháp lệnh Du lịch được ban hành và năm 2001 Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định đưa du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Năm 2010 được Chính phủ phê duyệt Đặc biệt, tháng 5 năm 2006 Luật Du lịch ra đời tạo nên một môi trường hết sức thuận lợi phát triển du lịch đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển – kinh tế, xã hội của đất nước
Hòa nhập với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nền kinh tế Khánh Hòa thời gian qua đã có những thay đổi đáng kể, ảnh hưởng quan trọng đến định hướng phát triển của các ngành và các lĩnh vực trên địa bàn, trong đó
có du lịch Như việc Chính phủ phê duyệt quy hoạch khu kinh tế tổng hợp vịnh
Trang 3Vân Phong, vịnh Nha Trang được gia nhập Câu lạc bộ các vịnh đẹp nhất thế giới, nâng cấp sân bay Cam Ranh thành sân bay quốc tế,…Việc UBND tỉnh Khánh Hòa phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Khánh Hòa đến năm
2010 và định hướng đến năm 2020 Tất cả tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nói chung và du lịch nói riêng
Là một địa phương giàu tiềm năng du lịch của tỉnh Khánh Hòa, TP Cam Ranh bên cạnh những lợi thế về công nghiệp, vận tải, Cam Ranh còn sở hữu những bờ biển đẹp, quyến rũ với các công trình di tích, thắng cảnh phong phú rất có tiềm năng để phát triển du lịch trong tương lai
Tuy nhiên, cho đến nay những tiềm năng du lịch này của thành phố Cam Ranh vẫn chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức và chưa mang lại nguồn lợi kinh tế cao Xuất phát từ nhận thức và yêu cầu thực tiễn trên, là một người con của quê hương Cam Ranh, cũng muốn góp một phần công sức của mình cho sự
phát triển của du lịch địa phương, chúng tôi lựa chọn đề tài “Tiềm năng, thực
trạng và giải pháp phát triển các loại hình du lịch ở Thành phố Cam Ranh – tỉnh Khánh Hòa” làm khóa luận tốt nghiệp của mình
Trang 42 Lịch sử vấn đề
Trong thời gian gần đây, khi mà du lịch có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế thì du lịch trên phạm vi cả nước được quan tâm nghiên cứu hơn Trong số đó tiêu biểu là công trình nghiên cứu của Nguyễn Trần Cầu, Phạm Trung Lương “Đánh giá tài nguyên và tổ chúc lãnh thổ du lịch Việt Nam ” Công trình đã dựa trên việc phân tích cơ sở lý luận chung của tổ chức lãnh thổ du lịch bằng việc nghiên cứu các vấn đề như: Tổ chức lãnh thổ du lịch, phân vùng du lịch, hệ thống phạm vi trong phân vùng, phạm vi phân vùng du lịch, xây dựng các tuyến điểm du lịch
Xét trên phạm vi tỉnh Khánh Hòa cho đến nay những công trình nghiên cứu về
du lịch có nhiều nhưng chỉ tập trung phát triển nghiên cứu ở các di tích trong tỉnh Khánh Hòa, còn các công trình nghiên cứu về du lịch ở các địa phương khác thì ít được quan tâm Xin được nêu một số công trình nghiên cứu tiêu biêu đã được thực hiện:
- “Việt Nam Non Nước Xanh Biếc” của Hoàng Thiếu Sơn và Tạ Thị Bảo Kim (2008) Trong cuốn sách này tác giả đã giới thiệu về các tiềm năng của du lịch tỉnh Khánh Hòa, trong đó có các điểm du lịch ở Thành phố Cam Ranh như: Vịnh Cam Ranh, Chùa Từ Vân
- Cuốn: “Địa Danh Khánh Hòa Xưa và Nay” của Ngô Văn Ban (2010), tác giả
đã giới thiệu một số địa danh nổi tiếng của tỉnh Khánh Hòa Trong đó có vài nét về lịch sử hình thành và các điểm du lịch ở Cam Ranh như: Nhà Lao Cam Ranh, Chùa
Từ Vân, Bãi Dài, Đá Bạc, Bán Đảo Cam Ranh…
- Cuốn: “Khánh Hòa Địa chỉ văn hóa và danh thắng” của sở Văn Hóa Thông tin Khánh Hòa xuất bản (2007) Trong sách này cũng có đề cập nhiều đến các tiềm năng du lịch nhân văn và tự nhiên của Thành phố Cam Ranh
- Cuốn : “Cam Ranh lịch sử hình thành, phát triển định hướng tương lai” của Ban Tuyên giao Thị ủy Cam Ranh biên soan (2010) Sách này chủ yếu nghiên cúu chung về vùng đất Cam Ranh ở nọi lĩnh vực từ lịch sử hình thành đến kinh tế, xã
Trang 5hội, chính trị, văn hóa, những tiềm năng cũng như lợi thế của Thành phố Cam Ranh, định hướng và phát triển Thành phố trong tương lai
Những tài liệu quan trọng trên làm cơ sở để chúng tôi kế thừa trong việc nghiên cứu của mình
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nhằm mục đích tìm hiểu, phân tích, đánh giá các tiềm năng phát triển du lịch của thành phố Trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp, kiến nghị để thúc đẩy du lịch ở khu vực này phát triển một cách mạnh mẽ nhất Đây chính là nguồn kiến thức, thông tin tham khảo để du lịch thành phố Cam Ranh điều chỉnh các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách, nâng cao hiệu quả kinh tế, nâng cao mức sống cho người dân địa phương, bảo vệ môi trường và bảo đảm phát triển theo hướng bền vững
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu về tiềm năng du lịch của thành phố Cam Ranh từ tài nguyên du lịch
tự nhiên đến tài nguyên du lịch nhân văn, đánh giá tình hình hoạt động, tình hình khai thác, tình hình đầu tư và các chính sách phát triển du lịch của TP Cam Ranh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Là toàn bộ tài nguyên về nhân văn và tự nhiên trên địa bàn thành phố Cam Ranh phục vụ cho du lịch
4.2 Phạm vị nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này tôi xác định phạm vi nghiên cứu về mặt không gian là Thành phố Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hòa Về mặt thời gian là hiện trạng khai thác, tiềm năng du lịch của địa bàn Cam Ranh từ 2001 – 2010
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi dựa vào các nguồn tài liệu sau:
- Tư liệu thành văn
+ Sách chuyên ngành
+ Các bài viết về du lịch được đăng tải trên tạp chí
Trang 6- Tài liệu thực địa: Thông qua việc tiếp xúc với thực tế, khảo sát, chụp ảnh, phỏng vấn, chúng tôi đánh giá chính xác và sâu sắc hơn những vấn đề có liên quan đến đề tài
- Tài liệu trên Internet
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và nội dung nghiên cứu, những phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu của đề tài là:
5.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin
Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong các công trình nghiên cứu, nội dung của phương pháp này chủ yếu là thu thập các thông tin, sau đó xử lý và phân tích các thông tin đó để tìm ra các thông tin cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu
Các tài liệu, thông tin, số liệu về tự nhiên, kinh tế, xã hội, sự phát triển cơ
sở hạ tầng kỹ thuật, cũng như quy định quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển du lịch nói riêng ở Cam Ranh đều được thu thập, tổng hợp và xử lý có hiệu quả phục vụ cho việc nghiên cứu
5.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa
Đây là phương pháp truyền thống trong việc khảo sát không gian hoạt động của ngành du lịch Được sử dụng như là công cụ quan trọng để thu thập các tài liệu cụ thể và thực tế về sự phân bố, đặc điểm của các dạng tài nguyên du lịch, đặc điểm hình thành và phân bố hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc phát triển du lịch tại một vùng nhất định
Áp dụng phương pháp tiến hành khảo sát thực địa sự phân bố các dạng tài nguyên du lịch ở Cam Ranh, khả năng vận hành của hệ thống cơ sở hạ tầng Từ
đó đưa ra các hướng khai thác và quy hoạch các loại hình và sản phẩm du lịch, không gian phân bố các khu điểm, các tuyến điểm du lịch tại Cam Ranh
5.2.3 Phương pháp bản đồ
Phương pháp bản đồ là phương pháp được sử dụng nhiều trong các lĩnh vực liên quan đến việc nghiên cứu tổ chức quy hoạch không gian lãnh thổ Bản đồ không chỉ như một phương tiện phản ánh những đặc điểm không gian về phân
Trang 7bố nguồn tài nguyên du lịch, hệ thống cơ sở hạ tầng và hệ thống cơ sở vật chất phục vụ phát triển du lịch, mà còn là cơ sở để nhận được các thông tin và vạch
ra những phương hướng phát triển của hoạt động du lịch trong vùng
Phương pháp bản đồ được sử dụng như là công cụ để điều tra về sự phân bố các tài nguyên du lịch ở Cam Ranh (tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn), là công cụ để phát thảo các định hướng quy hoạch phát triển các khu điểm du lịch, các tuyến du lịch liên vùng (giữa Cam Ranh và các địa bàn khác trong nước) và liên kết với các tuyến du lịch quốc tế dựa trên hệ thống các bản đồ
5.2.4 Phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống
Việc sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống cho phép tìm kiếm và nêu bật được các đối tượng nghiên cứu, thu thập và phân tích các thông tin ban đầu, vạch ra các hướng nghiên cứu
Trong nội dung nghiên cứu cụ thể của đề tài, phương pháp phân tích hệ thống được áp dụng nhằm mục đích nghiên cứu tác động qua lại giữa các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch nói chung và ảnh hưởng đến quá trình dự báo, định hướng qui hoạch phát triển du lịch ở Cam Ranh
6 Đóng góp đề tài
Thành phố Cam Ranh vốn là vùng đất giàu tiềm năng về du lịch, đặc biệt là du lịch biển, nhưng chưa được đầu tư nhiều để khai thác đúng mức Thực hiện đề tài này, chúng tôi đánh giá tiềm năng, thực trạng du lịch ở TP Cam Ranh và đưa ra một
số giải pháp để phát triển du lịch tại TP Cam Ranh trong tương lai Kết quả nghiên cứu là tư liệu cần thiết cho nhưng ai quan tâm
7 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về du lịch
Chương 2:Thực trạng phát triển du lịch tại TP Cam Ranh- tỉnh Khánh Hòa giai đoạn (2001- 2010)
Chương 3: Giải pháp phát triển du lịch tại TP Cam Ranh- tỉnh Khánh Hòa
Trang 8NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận chung về du lịch
1.1 Một số khái niệm chung
1.1.1 Khái niệm về du lịch
Thuật ngữ du lịch trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp và
La tinh hóa: tornus (đi một vòng) Sau đó xuất hiện trong các ngôn ngữ khác: tourisme (tiếng Pháp), tourism (tiếng Anh) Trong tiếng Việt, khái niệm du lịch xuất phát từ tiếng Hán: du có nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là từng trải Tuy nhiên người Trung Quốc gọi du lịch là đi chơi để nâng cao nhận thức
Trong Hội nghị của Liên hợp quốc về du lịch tổ chức tại Roma thủ đô Italia (21/8 – 5/91963), du lịch được định nghĩa như sau: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của
họ
Còn trong Luật du lịch Việt Nam (được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua vào năm 1995), thì du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
1.1.2 Khái niệm về các loại hình du lịch
Loại hình du lịch là: Sở thích, thị hiếu và nhu cầu của du khách là hết sức đa dạng, phong phú, chính vì vậy cần phải tiến hành phân loại các loại hình du lịch, chuyên môn hóa các sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn cho sự lựa chọn và đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu của du khách
Các loại hình du lịch như:
Nếu phân loại theo tổng quát có du lịch sinh thái và du lịch văn hóa
- Du lịch sinh thái gồm:
Trang 10- Du lịch ở Motel
- Du lịch nhà trọ
- Du lịch camping
Phân loại căn cứ vào thời gian đi du lịch
- Du lịch dài ngày từ 2 tuần đến 5 tuần
- Mua từng phần dịch vụ của tour du lịch
1.2 Vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
1.2.1 Vai trò du lịch đối với sự phát triển kinh tế chung
Hoạt động du lịch có hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vào làm tăng giá trị Tổng sản phẩm trong nước (GDP) và ngân sách của một quốc gia hay địa phương Đồng thời góp phần vào việc giải quyết việc làm, nâng cao mức sống của dân cư bản địa
Sự phát triển du lịch còn tạo điều kiện tăng cường thu hút vốn đầu tư (trong và ngoài nước), tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng thị trường (qua việc quảng bá sản phẩm ra thị trường trong và ngoài nước thông qua khách du lịch)
Trang 11Đồng thời, hoạt động du lịch góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một vùng lãnh thổ, ngành, thành phần kinh tế, góp phàn cân bằng cán cân thanh toán quốc tế,…
1.2.2 Vai trò của du lịch đối với xã hội
Đối với xã hội, hoạt động du lịch có những tác động tích cực như nâng cao sức khỏe và sự hiểu biết của dân chúng, tăng thêm sự đoàn kết và thân ái giữa các cộng đồng dân cư, giáo dục tinh thần yêu nước, giáo dục ý thức bảo tồn các giá trị văn hóa bản địa,…
Tuy nhiên, nó cũng có những tác động tiêu cực như tạo ra các xung đột xã hội (do sự khác biệt về văn hóa, tôn giáo, ý thức hệ chính trị giữa du khách và dân cư bản địa), các giá trị văn hóa bản địa bị thương mại hóa, ảnh hưởng văn hóa lai căng,…
1.3 Những yếu tố tác động đến sự phát triển của du lịch
1.3.1 Nguồn tài nguyên
Tài nguyên du lịch có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát triển du lịch Tài nguyên nghĩa là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần được khai thác
và ohục vụ cho mục đích phát triển nào đó của con người Theo Buchvakop – Nhà địa lý học người Bungari “Tài nguyên du lịch bao gồm các thành phần và những kết hợp khác nhau của cảnh quan thiên nhiên cùng cảnh quan nhân văn có thể được sử dụng cho dịch vụ du lịch và thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi hay tham quan của khách du lịch” Xét dưới góc độ cơ cấu tài nguyên du lịch, có thể phân thành hai bộ phận hợp thành: Tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn
Di sản thế giới: Đây được coi là tiềm năng lớn nhất và quan trong nhất, để phát triển du lịch Di sản văn hoá được hiểu là toàn bộ các tạo phẩm chứa đựng những giá trị tích cục mà loài người đã đạt được trong xã hội thực tiễn do thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau Di sản văn hoá được chia ra làm hai loại:
Di sản văn hoá vật thể: Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học Toàn bộ các sản phẩm vật chất hiện hữu dược hình thành do bàng tay sáng tạo của con người, bao gồm: Hệ thống di tích lịch sử văn hoá, thể thống danh lam thắng cảnh, thể thống di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Trang 12Di sản văn hoá phi vật thể: là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu dữ bằng trí nhớ, chữ viết truyền miệng, truyền nghề, trình diễn, lễ hội truyền thống, ý thức về y dược học, trang phục truyền thống Trên thế giới, khá nhiều quốc gia có số di sản tương đối lớn được thế giới công nhận như Pháp (18 di sản), Ấn Độ (18), Trung Quốc (14), Tây Ban Nha (16), Anh (14), Canada (10), Nhật Bản (5).v.v… Tính đến nay, Việt Nam có 6 di sản thế giới (trong đó di sản văn hoá chiếm 4, đó là: Kinh Thành Huế, Nhã nhạc cung đình Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn) Nếu nhìn từ gốc độ kinh tế (nói chung) và du lịch (nói riêng) thì di sản văn hóa là một tiềm năng mang lại nguồn thu lớn cho đất nước
1.3.2 Chính sách đầu tư phát triển của nhà nước
Chính sách phát triển du lịch là chìa khóa dẫn đến thành công trong việc phát triển du lịch Nó có thể kìm hãm nếu đường lối sai với thực tế Chính sách phát triển du lịch được ở hai mặt: Thứ nhất là chính sách chung của Tổ chức du lịch thế giới đối với các nước thành viên; thứ hai là chính sách của cơ quan quyền lực tại địa phương, quốc gia đó Mặt thứ hai có ý nghĩa quan trọng hơn cả
vì nó huy động được sức người, căn cứ vào khả năng thực tế tại mỗi vùng, quốc gia đó để đưa ra chính sách phù hợp
Những biện pháp để thúc đẩy du lịch Việt Nam được Đảng và Nhà nước đề
ra ở Đại Hội VIII:
“Triển khai thực hiện quy hoạch tổng thể du lịch Việt Nam tương xứng với tiềm năng du lịch của đất nước theo hướng du lịch văn hoá, du lịch môi trường sinh thái Xây dựng các chương trình và điểm hấp dẫn về văn hoá, di tích lịch sử
và danh lam thắng cảnh Huy động nguồn nhân lực của nhân dân tham gia kinh doanh du lịch, ưu tiên xây dựng cơ sở hạ tầng ở những khu du lịch, tập trung ở những trung tâm lớn Nâng cao trình độ văn hoá và chất lượng dịch vụ với các loại khách khác nhau Đẩy mạnh việc huy động vốn trong nước đầu tư vào khách sạn, chuyển các nhà nghỉ, nhà khách từ cơ chế bao cấp sang kinh doanh khách sạn và du lịch.”
Nhận thức được ảnh hưởng tiêu cực của thủ tục visa trên lượng du khách, chính phủ Việt Nam đã sớm có sáng kiến về visa như từ tháng 1/2004 bãi bỏ thị nhập cảnh cho du khách Nhật đến Việt Nam từ 15 ngày trở xuống.Tháng
Trang 137/2004, sáng kiến này cũng được áp dụng với du khách Hàn Quốc Các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, Inđonesa, Philippines, Singapore và Lào cũng có các thỏa hiệp visa với Viêt Nam
Đa dạng hoá các sản phẩm du lịch Việt Nam là chính sách dài hạn của Tổng cuc Du lịch Viêt Nam Từ năm 1995, chính phủ đã chuẩn bị kế hoạch lớn thời kì 1995 – 2010 nhằm phát triển du lịch, biến du lịch thành cánh tay đắc lực mang lại ngoại tệ và công ăn việc làm cho người dân đồng thời giới thiệu phong cảnh, văn hoá và con người Việt Nam với du khách nước ngoài Năm 2000 kế hoạch được bổ sung và chỉnh sửa Theo kế hoạch, kỹ nghệ du lịch Việt Nam sẽ thu hút đầu tư phát triển các cơ sở hạ tầng và phục vụ du khách đi kèm với việc phát triển các sản phẩm du lịch độc đáo mang bản sắc Việt Nam
Thực hiện đường lối của Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã có những văn bản chỉ đạo hoạt động du lịch khoa học, thực tiễn và có hiệu quả từ Đại hội VIII đến nay Pháp lệnh du lịch Việt Nam ban hành ngày 20/2/1999 đã đi vào cuộc sống
và tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch Việt Nam ngày một đi lên
1.3.3 Vấn đề môi trường và an ninh xã hội
Để du lịch không ngừng phát triển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, sự phối hợp chặt chẽ giữa quốc phòng và an ninh với các hoạt động du lịch cũng như các ngành kinh tế khác có ý nghĩa cực kì quan trọng Sự bảo đảm vững chắc về quốc phòng, an ninh tạo môi trường ổn định cho đất nước và khách tới tham quan
Du lịch, bên cạnh việc nghỉ ngơi là “thẩm nhận những giá trị vật chất, tinh thần độc đáo, khác lạ với quê hương mình” Điều này đòi hỏi sự giao lưu, đi lại của du khách giữa các quốc gia, các vùng với nhau Bầu chính trị hòa bình, hữu nghị sẽ kích thích sự phát triển của du lịch quốc tế Một thế giới bất ổn về chính trị, xung đột về sắc tộc, tôn giáo làm ảnh hưởng tới việc phát triển du lịch tức là
nó không làm tròn “sứ mệnh” đối với du lịch, gây nên nỗi hoài nghi, tâm lý sợ hãi cho du khách Bên cạnh đó, những cuộc nội chiến, những cuộc chiến tranh xâm lược với nhiều loại trang thiết bị lợi hại làm hủy hoại tài nguyên du lịch, các công trình nghệ thuật kiến trúc do loài người sáng tạo nên Ở Việt Nam qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhiều công trình phục vụ phát triển du lịch bị phá hoại, nếu tồn tại thì chỉ còn một phần và chúng ta đang ra sức
Trang 14kiến tạo lại tức là chúng ta quá lạm dụng “bê tông hoá”, “nhựa hoá”, dù biết rằng nó đã mất đi phàn nào đó giá trị nguyên bản Năm 2000, tại hòn đảo Bali (Inđônêxia) – nơi hấp dẫn khách du lịch của nhiều nước trên thế giới bị đánh bom khủng bố để lại nổi kinh hoàng cho khách du lịch Năm 2003 bệnh SAT ở Trung Quốc, dịch Cúm gà ở Việt Nam gây nên những tổn thất lớn cho du lịch Trung Quốc và Việt Nam và gián tiếp ảnh hưởng đến du lịch thế giới
Thiên tai cũng có tác động xấu đến sự phát triển du lịch Nhật Bản là đất nước giàu và đẹp nhưng luôn phải hứng chịu những trận động đất, gây khó khă cho phát triển du lịch, có chăng chỉ phát triển du lich bị động Vào những ngày cuới năm 2004, một trận sóng thần lớn nhất từ trước tới nay xảy ra ở Đông Nam
Á, Nam Á đã gây thiệt hại lớn về người và của, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển du lịch Điều đáng nói là sóng thần đã làm cho nhiều du khách bị thiệt mạng, cơ sở vật chất phục vụ phát triển du lịch bi huỷ hoại nặng nề Bên cạnh đó
là sự phát sinh và lây lan các loại dịch bệnh như tả lỵ, dịch hạch sốt rét
Từ những ví dụ trên cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của an ninh chính trị, an toàn xã hội cho khách du lịch, và là nhân tố quan trọng tạo nên sự thành bại của ngành du lịch
số của cải vật chất cần thiết cho du lịch
Sự phát triển của nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm có ý nghĩa quan trọng với phát triển du lịch Đây là cơ sở cung ứng nhiều hàng hoá nhất cho du lịch Ngành công nghiệp dệt cung cấp cho các xí nghiệp du lịch các loại vải để trang bị phòng khách, các loại khăn trải bàn, ga giường Ngành công nghiệp chế biến gỗ trang bị đồ gỗ cho các văn phòng, cơ sở lưu trú
Khi nói đến nền kinh tế của đất nước, không thể không nói đến giao thông vận tải Từ xa xưa, giao thông vận tải đã trở thành một trong những nhân tố chính cho sự phát triển của du lịch, đặc biệt là du lịch quốc tế Giao thông vận tải ảnh
Trang 15hưởng đến sự phát triển du lịch trên hai phương diện: Số lượng và chất lượng Sự phát triển về số lượng làm cho mạng lưới giao thông thông vươn tới mọi miền trái đất Chất lượng của phương tiện giao thông ảnh hưởng tới chuyến du lịch ở các mặt sau: tốc độ, an toàn, tiện nghi, giá cả
Chúng ta có thể khẳng định ngày nay với sự tiến bộ của khoa học – kỹ thuật nhiều thành tựu được áp dụng vào sản xuất Điều đó đồng nghĩa vói điều kiện kinh tế của con người được nâng cao rõ rệt và vấn đề ăn, mặc, trở thành thứ yếu Nhu cầu được nghỉ ngơi, giải trí và giao lưu tình cảm xuất hiện Hiện nay, trong các nước kinh tế phát triển, du lịch trở thành nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống của họ Các nhà nghiên cứu kinh tế Du lịch đã đưa ra nhận định là ở các nước kinh tế phát triển nếu nhu cầu quốc dân trên mỗi người tăng lên 1% thì chi phí du lịch tăng lên 1,5% Xu hướng ngày nay là hầu hết các du khách ở các nước phát triển đều thích tham quan ở các nước đang phát triển Điều này rất dễ hiểu vì chi phí ở các nước đang phát triển thấp, phù hợp với điều kiện kinh tế của người dân hạng trung lưu và nghèo ở các nước phát triển
Kinh tế và phát triển luôn có mối quan hệ hữu cơ, nghịch thuận lẫn nhau Trong quá trình phát triển của mình, du lịch luôn xem kinh tế là một trong những nguồn lực quan trọng Sự tác động của điều kiện kinh tế tới phát triển du lịch thể hiện ở nhiều góc độ khác nhau Tìm hiểu rõ vấn đề này là cách giúp những nhà quản lí và làm du lịch có những chính sách phát triển của ngành phù hợp
Như chúng ta đã biết, du lịch là ngành dịch vụ, nhận nhiệm vụ “chuyển tải” sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của các ngành kinh tế khác để cung cấp cho du
khách nhằm tìm kiếm lợi nhuận Vì vậy điều kiện kiện kinh tế đóng vai trò góp
phần cung cấp các hàng hóa, dịch vụ cho du lịch Khi khách tới Vũng Tàu không
có nghĩa là chỉ tới để nghỉ dưỡng và tắm biển, bên cạnh hoạt động đó du khach còn có cơ hội và mong muốn thưởng thức hải sản Vậy ngành kinh tế biển (đánh bắt cá) đóng vai trò cung cấp nguồn lợi thủy sản cho các nhà hàng tại Vũng Tàu phuc vụ nhu cầu ăn uống và mua về là quà của du khách Ngành kinh doanh khách sạn cũng thế, nếu như không có ngành xây dựng, ngành sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, ngành sản xuất đồ dùng thì hoạt động kinh doanh của nó liệu có tồn tại không? Từ những ví dụ trên chúng ta khẳng định điều kiện kinh tế là một trong những nhân tố tiên quyết quyết định sự thành bại tong kinh doanh khách sạn
Trang 16Ngành du lịch chỉ phát triển khi có khách du lịch Nhân tố hình thành nên khách du lịch bao gồm thời gian rỗi, đông cơ – nhu cầu đi du lich, khả năng tài chính Chúng ta thấy rằng khả năng tài chính của cá nhân mỗi du khách đóng vai trò rất quan trong trong việc thúc đẩy bước chân của du khach tham gia cuộc hành trình Nếu như sau thế chiến II, mục tiêu của con người là kiến thiết lại nền kinh tế
đã bị kiệt quệ với nhu cầu chính là cơm ăn, áo mặc, nhà ở Do đời sống còn thiếu thốn nên nhu cầu du lịch xuất hiện Trong những năm gần đây, có sư bùng nổ về
du lịch thế giới, người ta ước tính rằng có khoảng 3 tỷ lượt khách du lich nội địa
và 750 triệu lượt khách du lịch quốc tề Điều này co nghĩa là khi nền kinh tế phát triển, đời sống con người được nâng cao, các nhu cầu hàng ngày được đáp ứng thì con người xuất hiện những nhu cầu cao hơn trong đó có nhu cầu du lịch Như vậy điều kiện kinh tế phát triển là cơ sở để ngành du lịch khai thác kinh doanh các nguồn khách khác nhau
Tuy nhiên, như đã nói ở trên, giữa kinh tế và du lịch luôn có mối quan hệ nghịch thuận tức là hoăc là kìm hãm, hoăc là thúc đẩy nhau phát triển Cuộc khủng hoảng kinh tế xuất phát từ Mỹ lan sang hầu hết các quốc gia trên thế giới
đã kiến cho nhiều ngành kinh tế rơi vào hoàn cảnh “đêm tối không có đường ra”, trong đó có ngành du lịch Cuôc khủng hoảng kinh tê khiến không ít doanh nghiệp
du lịch phá sản, nhiều điểm du lịch, khu du lịch, các cơ sở lưu trú vắng khách Nguồn thu từ du lịch thấp Hậu quả là lương người lao động thấp, chán nản, bỏ việc, mức sống của con người giảm Vì thế nhu cầu du lịch của con người chạy về theo hướng số không
Ngày nay, xu thế thế giới là toàn cầu hóa Từng dòng tư bản và trí thức có
sự luân chuyển giữa các quốc gia với nhau Trước xu thế đó, các công ty lớn thường có kế hoạch khai phá thị trường của mình Hoạt động kinh tế, trao đổi thương mại giữa các quốc gia phát triển mạnh Qua sư giao lưu, tìm hiểu kinh tế với các đối tác nước ngoài cũng như qua các hôi nghị kinh tế lớn, ngành du lịch có
cơ hội quảng bá điểm mạnh của mình ra thế giới Bên cạnh đó, các hoạt động văn hóa thể thao lớn ngày càng có yếu tố “thương mại hóa” và kéo đó là truyền hình vào cuộc Tất nhiên sự vào cuộc của truyền hình là đòn bẩy kính thích ngành du lịch của nhiều quốc gia hồi sinh Điều đó để chúng ta tự hỏi tại sao các nước luôn
Trang 17muốn tranh chấp để đươc đăng cai các sự kiện lớn như Worldcup, Olimlpic, Hoa hậu
Đất nước Việt Nam ngày càng hội nhập Bằng chứng là chúng ta được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (LHQ) nhiệm kỳ 2008-2009 và chính thức đảm nhiệm chức Chủ tịch luân phiên HĐBA LHQ nhiệm kỳ 01/07/2008 đến 31/07/2008, được gia nhập tổ chức Thương mại thế giới WTO (11/1/2007) đã tạo chỉ số uy tín rất cao của Việt Nam trên trường quốc tế Nhờ có chỉ số uy tín cao nên chúng ta rất thuận lợi trong phát triển kinh tế và có
khả năng “hút” các sự kiện thể thao lớn trong khu vực, châu lục cũng như trên thế
giới Và nếu như các sự kiện thể thao lớn được tổ chức thì cơ hội phát triển du lịch đạt hiểu quả cao Thông qua du lịch, chúng ta có cơ hội quảng bá hình ảnh đất
nước trên mọi lĩnh vực và lấy đó làm “thế” để thu hút các sự kiện thể thao khác
Trong nước, đời sống của người dân ngày càng cao, cố lượng khách du lịch nội địa cua Việt Nam gần đạt ngưỡng 20 triệu, ngày lễ, ngày tết nhu cầu đi du lịch rất cao, có lúc quá tải Điều đó khiến chúng ta có thể khẳng định là do đời sống kinh tế của người dân ngày càng cao, mức lương và thưởng hấp dẫn
Trên bình diện cả nước, nền kinh tế ngày càng phát triển “thay da đổi thịt”, nhiều công trình cao cấp, nhiều khách sạn, resort liên kết với nước ngoài được đầu
tư xây dựng Đó là cơ sở để chúng ta có cơ sở và đảm bảo khả năng khai thác và đón tiếp nguồn khách quốc tế tới tham quan
Điều kiện kinh tế có vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển du lịch Điều này cũng đòi hỏi ngành du lịch trong qua trình phát triển của mình phải quảng bá, góp phần xây dựng kinh tế Có như vậy mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau mới bền vững
1.3.5 Yếu tố văn hóa
Trình độ văn hoá cao tạo điều kiên cho việc phát triển du lịch Phần lớn những người tham gia vào cuộc hành trình du lịch là những người có trình độ văn hoá nhất định, nhất là những người đi du lịch nước ngoài Bởi vì họ có sở thích (nhu cầu) đối với việc tìm hiểu các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, bản sắc văn hoá dân tộc hay nói đúng hơn tài nguyên, điểm du lịch tác động đến họ theo một quá trình: Thông tin đến Tiếp xúc đến Nhận thức đến Đánh giá Phải có trình
độ văn hoá thì mới hiểu hết giá trị của chuyến tham quan du lịch Trong các nước
Trang 18mà nhân dân có trình độ văn hoá cao thì số người đi du lịch ra ngoài tăng lên không ngừng với cường độ cao Bên cạnh độ, trình độ của người dân nước sở tại, nơi đón khách cũng phải chú ý Trình độ văn hóa thấp ảnh hưởng đến phát triển
du lịch: Ăn xin, cướp giật, ép khách mua hàng
Việc phát triển du lịch phải mang dấu ấn của con người, tức là con người thông qua trí tuệ của mình đưa ra những biện pháp, cách thức để phát triển du lich Một quốc gia giàu có về tài nguyên du lịch nhưng nếu không biết sử dụng trí óc của con người để phát huy hết giá trị của tài nguyên đó thì coi như “muối bỏ bể” Ngược lai có những quốc gia nghèo về tài nguyên du lịch nhưng biết phát huy hợp
lí sẽ thu hút được lượng khách du lịch rất lớn và ngành du lịch sẽ phát triển bền vững
Trang 19Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch tại TP Cam Ranh- tỉnh
Khánh Hòa giai đoạn (2001- 2010)
2.1 Vài nét về vùng đất Cam Ranh
2.1.1 Lịch sử hình thành
Đầu thế kỷ XIX, Cam Ranh vẫn là một vùng đất hoang vu, hẻo lánh, nơi triều đình lưu đày các tù phạm đến khai khẩn, làm ruộng Cho đến cả trăm năm sau đó, dân cư vùng này vẫn còn khá thưa thớt, rải rác vài thôn làng người Việt ở Hòa Tân, Lập Định, Thủy Triều, Ba Ngòi, Cam Linh, Bình Ba Trong sự nghiệp mở mang bờ cỏi thời các chúa Nguyễn, năm 1653 hình thành đơn vị hành chính là Dinh Thái khang gồm 2 phủ là Thái Khang và Diên Ninh, trong đó vùng đất Cam Ranh nằm trong phủ Diên Ninh
Đầu thế kỷ XX, năm 1901 một người Pháp là hầu tước De Barthelemy đến lập nghiệp ở Cam Ranh Nhìn thấy triển vọng rực rỡ của vùng này, ông ta xin cấp nhượng mấy ngàn ha đất để khai khẩn, lập nhà cửa, mở ruộng muối, khuếch trương nghề cá, lại in hình ảnh, bản đồ cửa biển Cam Ranh để quảng bá ra nước ngoài Song ý định này không được chính quyền thuộc địa và giới tư bản mẫu quốc ủng
hộ Dưới thời vua Duy Tân (1907 -1916), chính quyền thực dân cắt một phần đất huyện Vĩnh Xương lập thành Tổng Cam Ranh
Ngày 08/6/1939, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định lập Nha Đại lý hành chính Ba Ngòi trực thuộc tỉnh Khánh Hòa
Dưới thời chính quyền Ngô Đình Diệm, vùng đất này trải qua nhiều lần tách, nhập, đổi tên Tháng 7/1951 huyện Cam Lâm gọi là Nha Kiêm ký Bang tá Cam Lâm, trực thuộc Tòa Tỉnh trưởng Khánh Hòa Đến tháng 12/1954, Nha Bang tá Cam Lâm đổi là Nha Đại diện hành chánh Cam Lâm
Trang 20Ngày 17/5/1958, theo Nghị định số 216-BNV/NĐ giải thể Nha Đại diện hành chánh Suối Dầu, xác nhập vào địa hạt Cam Lâm lập thành một quận mới gọi là quận Cam Lâm, gồm cả vùng bán đảo Cam Ranh và Vịnh Cam Ranh
Ngày 06/4/1960, theo Sắc lệnh số 84-BNV tách các xã Cam Thọ, Cam Ly, hai thôn Ma Dú và Sông Cạn (xã Cam Lục), thôn Trại Láng (xã Cam Lương) và một phần đất thôn Hòa Diêm (xã Cam Lộc) thuộc quận Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa sáp nhập vào quận Du Long thuộc tỉnh Ninh Thuận
Tháng 10/1965, theo Sắc lệnh số 209-NV, lấy 08 xã của quận Cam Lâm là Suối Vĩnh, Suối Hòa, Suối Hải, Cam Phúc, Cam Ranh, Cam Bình, Cam Linh, Cam Lộc, thêm núi Hòn Rồng thuộc ấp Văn Thủy Hạ (xã Cam Phú) giáp đường xe lửa xuyên việt, cùng các phần đất đã sáp nhập vào quận Du Long (tỉnh Ninh Thuận) trước đó là các thôn Hòa Diêm, Trại Láng, Ma Dú, Sông Cạn, Mỹ Thanh thành lập thị xã Cam Ranh trực thuộc chính quyền Trung ương Sài Gòn
Ngày 06/7/1966, theo Nghị định số 620 BNV/NC/NĐ đổi các xã thuộc thị xã Cam Ranh thành khu phố
Ngày 20/02/1968 theo Sắc lệnh số 17-SL/NV lấy thêm xã Cam Sơn và một phần Cam Phú, Cam Thượng của quận Cam Lâm sáp nhập vào thị xã Cam Ranh Ngày 07/11/1970 theo Nghị định số 1048-NĐ/NV, thị xã Cam Ranh được chia tách thành 2 quận là quận Bắc (gồm các khu phố Suối Hòa, Suối Vĩnh, Suối Hải, Suối Cam) và quận Nam (gồm các khu phố Cam Phúc, Cam Bình, Cam Ranh, Cam Phú, Cam Lộc, Cam Sơn, Cam Thịnh)
Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Cam Ranh là một trong những vị trí bị quân đội Hoa Kỳ xâm chiếm đầu tiên Từ năm 1965 - 1972, Mỹ đã xây dựng
Cam Ranh thành một căn cứ quân sự được bảo vệ với tinh thần “bất khả xâm
phạm” làm căn cứ tiếp liệu và khí tài quân sự cho chiến tranh, đồng thời khống chế
hành lang phía Tây Thái Bình Dương Tháng 3/1967, ngụy quyền Sài Gòn đã ký hiệp định bán đứt cho Mỹ vùng bán đảo và vịnh Cam Ranh trong 99 năm và Mỹ đã biến Cam Ranh thành căn cứ hải quân lớn nhất Đông Nam Á
Trong chiến dịch Mùa Xuân 1975, ngày 02/4/1975, thành phố Nha Trang được giải phóng; ngày 03/4/1975, Sư đoàn 10 tiến vào giải phóng Cam Ranh và tổ chức tiếp quản toàn bộ khu vực Cảng Cam Ranh Nơi đây trở thành một bàn đạp chiến lược, căn cứ của ta phục vụ cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử
Trang 21Ngày 29/10/1975, theo Quyết định của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa hợp nhất thành tỉnh Phú Khánh, Cam Ranh là đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnh Phú Khánh
Ngày 10/3/1977, theo Quyết định số 49-CP của Chính phủ, nhập 2 đơn vị hành chính Cam Ranh và Khánh Sơn thành huyện Cam Ranh
Ngày 27/6/1985, theo Quyết định số 189-HĐBT, huyện Cam Ranh lại chia tách thành 2 huyện: huyện Cam Ranh (gồm thị trấn Ba Ngòi và 16 xã có tên bắt đầu bằng chữ Cam) và huyện miền núi Khánh Sơn
Ngày 01/7/1989, Nghị quyết kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá VIII nước CHXHCN Việt Nam đã quyết định chia tỉnh Phú Khánh thành 2 tỉnh mới là Phú Yên và Khánh Hòa, huyện Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hòa
Ngày 07/7/2000, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 21/2000/NĐ-CP thành lập thị xã Cam Ranh và các phường thuộc thị xã
Ngày 11/4/2007, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 65/2007/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính thị xã Cam Ranh và huyện Diên Khánh để thành lập huyện Cam Lâm; điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập xã, thị trấn thuộc huyện: Cam Lâm, Trường Sa và mở rộng phường Cam Nghĩa thuộc thị xã Cam Ranh tỉnh Khánh Hòa Thị xã Cam Ranh có 15 đơn vị hành chính gồm 9 phường, 6
xã
Ngày 30/6/2009, Bộ Xây dựng ban hành Quyết định số 717/2009/QĐ-BXD công nhận thị xã Cam Ranh tỉnh Khánh Hòa là đô thị loại III Trong quá trình xây dựng và phát triển, ngày 23/12/2010 Chính phủ ra Nghị quyết só 65/NQ-CP thành lập thành phố Cam Ranh trực thuộc tỉnh Khánh Hòa
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
2.1.2.1 Vị trí địa lý
Thành phố Cam Ranh tọa lạc ở vị trí địa đầu phía Nam của tỉnh Khánh Hòa, phía Bắc giáp Thành phố Nha Trang, huyện Cam Lâm và huyện Diên Khánh, phía Tây giáp huyện Khánh Sơn, phía Nam giáp tỉnh Ninh Thuận, phía Đông giáp biển Thành phố Cam Ranh có 6 xã, 9 phường với diện tích tự nhiên gần 326 km2, có chiều dài bờ biển trên 25km, chiều ngang rộng nhất 31km, hẹp nhất 3,5km, dân số trên 130.930 người, mật độ bình quân 400 người/km2, cách Nha Trang khoảng 60km về phía Bắc, cách Phan Rang 40km về phía Nam Các cơ quan hành chính của
Trang 22Thành phố nằm ngay quốc lộ 1 và ngã ba tỉnh lộ 9 đi Khánh Sơn Ngoài ra, Cam Ranh còn có hệ thống giao thông rất thuận lợi: Quốc lộ 1a đi ngang qua trên 40 km, tỉnh lộ 9, tỉnh lộ 3, tuyến đường sắt Bắc- Nam, ga xe lửa, cảng biển, sân bay quốc tế Cam Ranh đang từng bước xây dựng và nâng cấp góp phần để Cam Ranh cất cánh trong thời gian không xa
Cam Ranh nằm trải dài trên Quốc lộ 1A, nơi có tuyến đường bộ ra Bắc vào Nam lên Tây Nguyên; cùng với đó là tuyến đường tỉnh lộ, đặc biệt là Đại lộ Nguyễn Tất Thành nối liền Cam Ranh với Nha Trang và nhiều tuyến đường nội thị khác khá hoàn thiện Ngoài ra còn có tuyến đường thuỷ, đường hàng không, đường sắt khá phong phú và đa dạng Đi kèm với hệ thống tuyến đường là các cơ sở hạ tầng, bến cảng, nhà ga, sân bay… cũng rất phong phú và khá thuận lợi trong việc đi lại Sân bay Cam Ranh, cảng Cam Ranh là hai thành phần cơ bản trong hệ thống cơ sở hạ tầng đã được quốc tế biết đến Tất cả những yếu tố trên đã cất thành nên một mạng lưới giao thông của thành phố Cam Ranh hết sức đa dạng Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại một cách dễ dàng- người đi lại sẽ có nhiều phương án để lựa chọn mỗi khi muốn đến nơi này những vấn đề trên đã chứng minh, thành phố Cam Ranh đã có một vị trí địa lý hết sức thuận lợi trong việc giao thông đi lại- là một trong những yếu tố quan trọng để phát triển du lịch Vào Nam ra Bắc hay lên Tây Nguyên để đi du lịch, du khách đều có thể dừng chân tại Cam Ranh tham quan hay nghỉ ngơi
Vị trí địa lý, Cam Ranh đã nổi tiếng từ lâu, với hai thành phần chủ yếu là bán đảo Cam Ranh và vịnh Cam Ranh, cùng với đảo Bình Ba và hàng loạt cù lao lớn nhỏ ngoài khơi, đã tạo nên hai cửa là cửa Lớn và cửa Nhỏ, tất cả đã hội tụ thành một “ bức bình phong” chắn gió khá hữu hiệu Đáy biển có độ sâu trung bình từ 18m- 20m lại không bao giờ bị bồi nong và được cấu tạo bởi các lớp cát pha bùn nên cấu kết rất chắc chắn, dòng thuỷ triều lên xuống khá đúng giờ và hệ thống nước ngọt rất phong phú Chính vì thế, đã tạo ra cho vịnh Cam Ranh hầu như quanh năm được khép kín, yên tĩnh mà không hề bị ảnh hưởng của mưa to, bão lớn đang diễn
ra ở ngoài đại dương, tạo điều kiện cho việc neo đậu các loại tàu thuyền và nhu cầu sinh hoạt của con người Do đó đã từ lâu các nhà hàng hải Quốc tế đã liệt kê vịnh Cam Ranh vào danh sách một trong ba hải cảng có điều kiện thiên nhiên tốt nhất thế giới ( cùng với cảng San Fransisco của Mỹ và Rio de Janciro của Brazin) Nhưng
Trang 23rất tiếc cho đến nay, tiềm năng này chưa được đầu tư xây dựng thích đáng để đưa vào khai thác nhất là trên lĩnh vực về du lịch Khí hậu thiên nhiên biển- đảo- núi rừng, là những tiêu chí lý tưởng cho tour du lịch sinh thái trong cuộc sống hiện đại hôm nay và tương lai
2.1.2.5 Sinh vật
Diện tích đất còn rừng ở Cam Ranh hiện nay chỉ chiếm khoảng 4,9% diện tích đất tự nhiên, chủ yếu là rừng phòng hộ ven biển Rừng tự nhiên chủ yếu là rừng nghèo, rừng non, rừng khoang nuôi tái sinh, với độ che phủ thấp và phân bố chủ yếu
ở các vùng núi phía Tây
2.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.4.1 Về kinh tế
Nằm giữa thành phố Nha Trang và thành phố Phan Rang - Tháp Chàm (Ninh Thuận), nằm trên các trục giao thông quan trọng của cả nước (đường sắt - đường
Trang 24biển - đường bộ - đường hàng không), Cam Ranh hội đủ những điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu trong nước và quốc tế, phát triển kinh tế hàng hóa, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, trở thành một trung tâm kinh tế năng động phía Nam của tỉnh Khánh Hòa và của cả vùng duyên hải Nam Trung bộ
Án ngữ phía đông và phía Nam của thành phố là vịnh Cam Ranh, vũng Bình
Ba nước sâu, kín gió, kín sóng rất thuận tiện cho xây dựng cảng neo đậu tàu thuyền tránh bão và cung cấp dịch vụ đi biển Bên cạnh đó, Cam Ranh gần đường hàng hải quốc tế quan trọng của biển Đông, đồng thời có cảng Ba Ngòi đã và đang được nâng cấp mở rộng thành cảng quan trọng trong hệ thống cảng biển của vùng Nam Trung bộ, thuận lợi để phát triển giao lưu quốc tế, tạo cơ hội tốt hơn cho Cam Ranh tham gia thị phần vận tải biển quốc tế và khu vực
Với tài nguyên biển, tài nguyên ven bờ đa dạng và phong phú, Cam Ranh là vùng có nhiều tiềm năng phát triển các ngành kinh tế biển như: công nghiệp đóng tàu; xây dựng hệ thống cảng tiếp nhận, trung chuyển hàng hóa, cảng thương mại; phát triển mạng lưới các cơ sở dịch vụ du lịch; nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy, hải sản; sản xuất muối tập trung và các sản phẩm sau muối, nhất là muối công nghiệp Sự phát triển của hệ thống cảng biển sẽ kéo theo hoạt động của nhiều ngành dịch vụ khác, tạo cơ hội thu hút nhiều lao động, giải quyết việc làm, trước hết là cho lực lượng lao động của thị xã và của tỉnh
Bên cạnh sân bay Cam Ranh - một trong số ít sân bay có đường băng lớn và dài nhất ở Việt Nam hiện nay, sân bay có tốc độ tăng trưởng hành khách khá cao, thị xã Cam Ranh còn nằm trên các trục giao thông huyết mạch của cả nước (Quốc
lộ 1A, tuyến đường sắt thống nhất Bắc - Nam ) rất thuận lợi cho xây dựng trung tâm tiếp nhận và trung chuyển khách du lịch
Ngoài ra, Cam Ranh có điều kiện tự nhiên đa dạng với địa hình đất bằng, rừng, biển - vịnh, khí hậu tương đối ôn hòa, có nguồn bùn khoáng, nước khoáng nóng dồi dào là điều kiện tốt cho du lịch và nghỉ dưỡng
2.1.4.2 Về văn hóa- xã hội
Cùng với sự tăng trưởng về kinh tế, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân những năm qua cũng được cải thiện rõ rệt Đến nay 100% xã phường trong thành phố đã được phủ điện, trên 95% hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia Hệ thống đường giao thông nông thôn, đô thị, trường học, trạm Y tế, trụ sở làm việc của các xã
Trang 25phường, khu vui chơi giải trí cho thiếu nhi, trung tâm thương mại, cơ quan làm việc nhà ở … ngày càng khang trang sạch đẹp, làm cho bộ mặt đô thị Cam Ranh không ngừng đổi mới, đáp ứng tốt hơn yêu cầu đời sống sinh hoạt của nhân dân Mặt bằng dân trí được nâng cao, số học sinh trong độ tuổi đi học ra lớp ngày càng tăng, chất lượng dạy và học ngày một tốt hơn Song song với nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện trong các trường học phổ thông, chương trình xóa mù chữ - phổ cập tiểu học – phổ cập trung học cơ sở cũng được triển khai thực hiện có hiệu quả Đến nay 100%
xã phường được công nhận đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ - phổ cập tiểu học và 18% xã phường đạt chuẩn quốc gia về phổ cập THCS Ngành Giáo dục thành phố 5 năm liền đạt danh hiệu xuất sắc toàn diện Mạng lưới Y tế từng bước được đầu tư về
cơ sở vật chất và trang thiết bị Đến nay 92% trạm Y tế xã phường có bác sỹ, các thôn khóm đều có nhân viên Y tế cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân và thực hiện có hiệu quả các chương trình Y tế quốc gia Ngành Y tế Cam Ranh nhiều năm liền dẫn đầu toàn Tỉnh, được nhà nước phong tặng huân chương lao động hạng ba
Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn thành phố được đẩy mạnh, đi vào chiều sâu Toàn thành phố đã có 26/27 xã phường phát động xây dựng 80 làng, khu phố văn hóa, chiếm hơn 74% số thôn khóm hiện có Thông qua qui ước xây dựng làng, khu phố văn hóa đã khơi dậy và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc và địa phương, thể hiện qua phong trào đền ơn đáp nghĩa, đoàn kết giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, xóa đói giảm nghèo, đẩy lùi các tệ nạn xã hội Các bà mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình đối tượng chính sách, hộ nghèo khó khăn được quan tâm chăm sóc ổn định cuộc sống Cuộc vận động xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa, quỹ vì người nghèo được được các tổ chức, cá nhân hưởng ứng tích cực với số tiền đóng góp hơn 3 tỷ đồng Bằng nguồn huy động tại địa phương và Tỉnh hỗ trợ thêm, những năm qua thành phố đã xây dựng mới và sửa chữa 258 căn nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết giúp các đối tượng có nơi ở ổn định, giảm bớt khó khăn trong cuộc sống Hệ thống Truyền thanh - Tiếp hình, phát hành báo chí đã đến tận cơ sở cung cấp thông tin có định hướng cho nhân dân Hệ thống bưu chính viễn thông, đặc biệt là bưu điện văn hóa xã phát triển tận địa bàn dân cư tạo thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội và đáp ứng nhu cầu giao lưu thông tin liên lạc của nhân dân ngày một tốt hơn Phong trào rèn luyện thân thể theo
Trang 26gương Bác Hồ vĩ đại đã được nhân rộng, số người luyện tập thường xuyên tăng dần hàng năm, các môn thể thao thành tính cao đã được chú trọng Từ năm 2005-2010, toàn thành phố đã giành 658 huy chương các loại trong giải TDTT của Tỉnh, cung cấp cho Tỉnh 120 lượt VĐV tham gia giải quốc gia và quốc tế đạt thành tích cao
- Tôn giáo
Trên địa bàn thành phố Cam Ranh có sự hiện diện và hoạt động của 04 tôn giáo lớn ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới là đạo Công giáo, đạo Tin lành, đạo Phật giáo và đạo Cao đài với số người theo đạo chiếm trên 38% dân số của Cam Ranh Các cơ sở phụng tự tôn giáo trên địa bàn thành phố khá nhiều, chẳng hạn Công giáo có 07 Giáo xứ; Tin lành có 03 Chi hội; Phật giáo có 20 cơ sở Chùa chiềng và Tịnh thất, các cơ sở phụng tự và số người theo đạo phân bố nhiều nhất ở phường Cam Nghĩa, Phường Cam Linh, phường Cam Thuận Trong những năm gần đây, đồng bào dân tộc thiểu số ở xã Cam Thịnh Đông, xã Cam Thịnh Tây theo đạo khá động, đặc biệt là theo đạo Tin lành Các tôn giáo trên địa bàn được sự quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện của MTTQ, ngành Văn hóa- Thông tin và các ban, ngành, đoàn thể địa phương mà đời sống sinh hoạt, hoạt động tôn giáo diễn ra thuận lợi theo đúng quy định của pháp luật như hàng năm tổ chức lễ Giáng Sinh, Phục sinh (đạo Công giáo); lễ Phật Đản (đạo Phật giáo) đã quy tụ hàng ngàn tín hữu, phật tử
về đây tổ chức nghi lễ, giúp họ “ sống tốt đời đẹp đạo” ở trong gia đình và xã hội,
có nhiều đóng góp tích cực cho địa phương Ngoài ra, đời sống tín ngưỡng dân gian của nhân dân cũng khá phong phú, thông qua tổ chức các lễ hội hàng năm như lễ hội Ngư ông ( ở phường Cam Linh); lễ hội Thiên Y A Na ( ở Cam Phước); các lễ hội đình, miếu…Từ thực trạng trên, cho thấy đời sống tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân phong phú, đời sống tinh thần ngày càng được cải thiện góp phần vào sự phát triển kinh tế, chính trị xã hội ổn định, an ninh được giữ vững sẽ là điều kiện thúc đẩy Cam Ranh phát triển hơn nữa trong tương lai
2.2 Tiềm năng du lịch của Thành phố Cam Ranh
2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
2.2.1.1 Tài nguyên du lịch gắn với vị trí địa lý và pham vi lãnh thổ
Vị trí địa lý là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế xã hội nói chung
và phat triển du lịch nói riêng, đặc biệt là việc định hướng quy hoạch phát triển của
Trang 27một vùng, một quốc gia Cam Ranh có vị trí địa lý thuận lợi để phát triển kinh tế nói chung và phát triển du lịch nói riêng
Cam ranh nằm ở phía Nam của tỉnh Khánh Hòa và cách thành phố Nha Trang 60km Phía Bắc giáp huyện Cam Lâm (tỉnh Khánh Hòa), phía Nam giáp với huyện Thuận Bắc (tỉnh Ninh Thuận), phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp huyện Khánh Sơn (tỉnh Khánh Hòa) và phía Tây Nam giáp huyện Bác Ái (tỉnh Ninh Thuận)
Tp Cam Ranh có 15 đơn vị hành chính gồm 9 phường và 6 xã Có diện tích tự nhiên gần 326 km2 (chiếm 6,23% diện tích tự nhiên của tỉnh Khánh Hòa) và
có đường bờ biển dài 25km Lãnh thổ kéo dài từ Bắc vào Nam với chiều ngang rộng nhất 31km và hẹp nhất 3,5km
Là đô thị ven biển Duyên hải Nam Trung Bộ, Cam Ranh có vị trí đặc biệt quan trọng để phát triển văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng và đặc biệt là phát triển
du lịch
Cam Ranh nằm ở vị trí các đầu mối giao thông quan trọng Có tuyến đường quốc lộ 1A và tuyến đường sắt xuyên Việt chạy qua trên 40km và là cầu nối các tuyến du lịch xuyên Việt từ Bắc vào Nam theo đường bộ Tuyến quốc lộ 27B nối Cam Ranh với huyện Bác Ái (tỉnh Ninh Thuận) và từ đây đi tiếp qua đèo Ngoại Mục đến với thành phố nghỉ mát Đà Lạt Đặc Biệt, Cam Ranh có cảng biển nước sâu và nằm gần tuyến đường hàng hải quốc tế từ Bắc Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương, nên rất thuận lợi cho sự phát triển giao thông đường biển với các nước trong khu vực và trên thế giới, cũng như nối kết các tuyến du lịch biển quốc tế bằng
du thuyền
Ngoài ra, do Cam Ranh có cảng hàng không quốc tế là cầu nối các chuyến bay nội địa chuyên chở khách du lịch từ Tp Hồ Chí Minh đến các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ và với các tỉnh phía Bắc Đồng thời, là cầu nối các chuyến bay quốc
tế chở du khách nước ngoài đến các tỉnh cực Nam Trung bộ
Với vị trí thuận lợi như trên, Cam Ranh có điều kiện phát triển du lịch dựa trên
sự nối kết các tuyến du lịch xuyên Việt (từ Bắc vào Nam theo tuyến đường quốc lộ 1A), nối kết các tuyến du lịch liên vùng từ các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ đến Tây nguyên (theo các tuyến ô tô xuyên hành lang Đông – Tây), nối kết các tuyến du lịch đường biển và đường hàng không với các vùng trong nước và quốc tế
Trang 282.2.1.2 Tiềm năng du lịch gắn với địa hình
Địa hình là một phần quan trọng của tự nhiên, là nơi diễn ra mọi hoạt động của con người Đối với hoạt động du lịch, các dạng địa hình tạo nền cho phong cảnh tự nhiên Một số kiểu địa hình đặc biệt và các di tích tự nhiên có giá trị phục vụ cho nhiều loại hình du lịch Tâm lý và sở thích chung của khách du lịch là muốn đến những nơi có phong cảnh đẹp và có kiểu địa hình khác lạ so với nơi họ sinh sống Bên cạnh đó, địa hình của một vùng còn còn có vai trò quan trọng định hướng phát triển các loại hình du lịch
Cam Ranh có địa hình phong phú và đa dạng, bao gồm các dạng địa hình: đồi núi ở phía Tây, địa hình đồng bằng và điạ hình duyên hải nằm ở phía Đông giáp biển Đây chính là cơ sở cho sự phát triển nhiều loại hình du lịch khác nhau phù hợp với từng dạng địa hình Như phát triển loại hình du lịch miền núi gắn với địa hình miền núi, du lịch nông thôn gắn với địa hình đồng bằng, du lịch biển gắn với địa hình duyên hải
- Địa hình miền đồi núi
Địa hình miền đồi núi có tổng diện tích vào khoảng 11.685,5ha (chiếm 36% tổng diện tích tự nhiên của Cam Ranh) Trong đó có các dãy núi tạo ra phong cảnh đẹp, thuận lợi cho sự phát triển các loại hình du lịch tham quan dã ngoại ngắm cảnh,
du lịch sinh thái, du lịch thể thao mạo hiểm như: dãy núi Hàm Rồng, núi Hòn Quy, núi Hòn Phụng, núi Hòn Lân, núi Hòn Bà Trong đó có các núi và dãy núi Cổ phong cảnh đẹp và hùng vĩ, có sức thu hút mạnh với các du khách trong và ngoài nước đến ngắm cảnh và thực hiện các hoạt động du lịch thể thao mạo hiểm, du lịch sinh thái như:
+ Dãy núi Hòn Rồng kéo dài từ phường Cam Nghĩa, qua phường Cam Phúc Bắc, Cam Phúc Nam, Cam Lộc, Ba Ngòi và thị xã Cam Phước Đông có độ cao trung bình vào khoảng 728m
+ Núi Hòn Quy có hình dáng giống con rùa đang bò ra biển với độ cao trung bình khoảng 82m, nằm tại khu vực xã Cam Thịnh Đông
+ Dãy núi Hòn Lân (có độ cao trung bình 338m) nằm ở khu vực xã Cam Lập, nằm gần kề với khu du lịch sinh thái Cam Lập và khu du lịch biển Bình Tiên Tại khu vực dãy núi này có hệ động thực vật phong phu đa dạng: Hươu, nai, sóc bay, trĩ, gà rừng Đặc biệt là những khối núi đá hoa cương với nhiều hình thù kỳ dị như:
Trang 29hình người, hình các loại thú Thiên nhiên ban tặng nơi đây địa hình lý tưởng phù hợp phát triển loại hình du lịch dã ngoại ngắm cảnh, du lịch thể thao mạo hiểm, du lịch sinh thái
+ Núi Hòn Phụng và các dãy núi đâm ngang ra biển Các ngọn núi này án ngữ ngay cửa biển và quanh đảo tạo nên nhiều vùng, vịnh và như bức bình phong che chắn gió cho đảo, nên ở đây xung quanh năm biển êm ả không có sóng lớn tạo điều kiện du lịch tắm biển Đặc biệt trên núi Hòn Phụng có hồ chứa nước ngọt rất lớn có nước quanh năm với chiều dài 1km, chỗ rộng nhất 250m và hẹp nhất 50m với khối lượng nước khoảng 16.000m³, rất thuận lợi cho sự phát triển các loại hình du lịch sông nước và du lịch sinh thái Trong đó, đặc biệt ở đây có những nét địa hình độc đáo riêng phù hợp phát triển loại hình du lịch du ngoạn trên hồ và tham quan các đảo trên hồ
Với các đặc điểm như trên, địa hình đồi núi của Cam Ranh thích hợp để phát triển loại hình du lịch miền núi, trong đó có sự kết hợp chặc chẽ các loại hình du lịch thể thao, dã ngoại, ngắm cảnh, mạo hiểm, du lịch sinh thái,…
- Địa hình duyên hải ven biển:
Địa hình duyên hải ven biển Cam Ranh trải dài từ Cam Nghĩa đến Cam Thịnh Đông, có 1 xã đảo và hơn 1000 ha đất ngập nước, thuận lợi cho việc khai thác nuôi trồng thủy sản và du lịch sinh thái biển
Từ lâu người ta chỉ biết Cam Ranh như một hải cảng quân sự hơn là một nơi
có tiềm năng du lịch Trong khi thực tế, Cam Ranh được thiên nhiên ưu đãi có bờ biển chạy dọc suốt chiều dài của thành phố và có nhiều đảo, các dãy núi đâm ngang
ra biển, địa hình bờ biển thoai thoải không dốc, nhiều cát nên đã tạo ra nhiều bãi
Trang 30tắm đẹp và hoang dã phù hợp với rất nhiều loại hình du lịch biển như: tắm biển, thể thao biển, du lịch sinh thái biển,…
Hệ thống các đảo, bán đảo và các dãy núi đâm ngang ra biển đã tạo nên một vịnh Cam Ranh độc đáo (mực nước sâu và kín gió) Không chỉ thuận lợi trong việc phát triển cảng biển, mà còn là điều kiện thuận lợi phát triển nhiều loại hình du lịch độc đáo, như: du ngoại trên vịnh bằng du thuyền, thể thao biển, du thuyền buồm, lặn biển, tắm biển,…
Tóm lại với địa hình có đồi núi, có biển, có đồng bằng sẽ tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch đặc trưng, như: du lịch dã ngoại, du lịch biển
du lịch sinh thái, du lịch thể thao mạo hiểm, du lịch homestay Trong tương lai không xa Cam Ranh sẽ là một điểm du lịch hấp dẫn của tỉnh Khánh Hòa, thu hút du khách từ mọi miền đến tham quan
2.2.1.3 Tiềm năng du lịch gắn với tài nguyên khí hậu:
Khí hậu là thành phần tự nhiên sớm được khai thác như một dạng tài nguyên quan trọng Khí hậu được xác định trước hết là tổng hợp các yếu tố: nhiệt độ, độ
ẩm, áp xuất không khí, gió, ánh nắng mặt trời Các điều kiện khí hậu có liên quan rất nhiều đến chữa bệnh, thậm chí còn được coi là liệu pháp quan trọng để chữa bệnh Như các bệnh về thần kinh, huyết áp, hô hấp cần nghỉ ngơi ở những vùng có điều kiện khí hậu thích hợp Do vậy các nhà an dưỡng, các nhà nghỉ, các resort cao cấp thường được xây dựng ven hồ, ven biển, trên các đảo và bán đảo và ở các vùng núi cao Trong thực tế những người sống trong thời điểm và điều kiện khí hậu không phù hợp thường đi du lịch đến nơi có điều kiện khí hậu thích hợp hơn
Cam Ranh nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương nên tương đối mát mẻ và ôn hòa quanh năm Một năm khí hậu chia làm hai mùa: mùa mưa và mùa khô Mùa khô bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 8,
độ ẩm trung bình 78% và nhiệt độ trung bình vào khoảng 32ºC Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12, lượng mưa trung bình 1.139 mm/năm Mùa khô thời tiết không quá lạnh, do vậy rất thích hợp cho du lịch nghỉ dưỡng (nhất là du lịch nghỉ dưỡng nghỉ mát ven biển)
Với khí hậu luôn nắng ấm quanh năm, không những thuận lợi cho phát triển loại hình du lịch nghỉ dưỡng và du lịch biển, mà còn thuận lợi trong việc nuôi trồng các loại cây ăn trái để phục vụ cho du khách
Trang 312.2.1.4 Tiềm năng du lịch gắn với tài nguyên nước
Đối với hoạt động du lịch, hệ thống thủy văn cũng được xem như một tài nguyên quan trọng Nhiều loại hình du lịch gắn với đối tượng này như: tắm biển, và các loại thể thao biển, tắm sông, suối, dã ngoại, câu cá, du ngoạn trên sông hồ, sử dụng các nguồn suối khoáng nóng tự nhiên vào việc chữa bệnh nghỉ dưỡng,…
Trong các nguồn tài nguyên quan trọng của Cam Ranh thì tài nguyên nước ở Cam Ranh cũng rất phong phú đa dạng Trong đó đáng chú ý:
- Có bờ biển trải dài khoảng 25km, nguồn nước biển chưa bị ô nhiểm như các vùng biển khác, độ mặn thấp, thủy triều thấp biên độ giao động từ 2 đến 2,5m, ít sóng lớn và vùng xoáy Do đó phù hợp với loại hình du lịch biển như: tắm biển, lướt ván, du ngoạn bằng du thuyền trên biển
- Hệ thống sông suối không nhiều nhưng phân bố khá đều về không gian Thuận lợi cho phát triển các loại hình du lịch theo tuyến sông
- Cam Ranh có hai suối khoáng nóng, hai mỏ bùn khoáng có trữ lượng lớn, là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển du lịch vật lý trị liệu và nghĩ dưỡng
Trong hệ thống tài nguyên nước ở Cam Ranh, thì các vịnh, các bãi tắm chiếm một vị trí quan trọng trong chiến lược định hướng phát triển du lịch đến năm 2020, đặc biệt là du lịch biển
- Vịnh Cam Ranh được xem là một trong ba vịnh thiên nhiên tốt và đẹp nhất thế giới cùng với vịnh San Fransico (Mỹ) và vịnh Rio De Janiero (Brazil) Với diện tích gần 60km², chỗ đẹp nhất khoảng 10km, rộng nhất 20km, độ sâu trung bình từ
18 – 20m Vịnh gần như khép kín bởi bán đảo Cam Ranh từ phía bắc chạy phủ kín
cả phía đông và phía tây Phía nam vịnh là đất liền, chỉ mở ra một cửa lớn (được ví như một cánh tay ôm lấy vịnh), tạo thành một vành đai, nên mặt nước luôn êm đềm Quanh năm nắng ấm chan hòa, bầu trời trong xanh tạo cho mặt vịnh một màu xanh rất dễ chịu Thiên nhiên ở vịnh Cam Ranh đẹp gần như còn nguyên sơ: những bãi cát trắng vàng, trải dài mịn màng như chưa bao giờ có dấu chân người (cát ở Cam Ranh có hàm lượng silic và titan rất lớn, từng xuất khẩu sang Nhật để sản xuất thủy tinh), dưới lòng vịnh có những rặng san hô và những đàn cá nhiều màu sắc rất đẹp mắt Nhưng đẹp nhất vẫn là quần thể ghềnh đá granit do sự xâm thực của gió, của
Trang 32nước biển đã tạo nên những hình thù chồng chất Vịnh còn có nhiều bãi tắm hoang
sơ tuyệt đẹp, bên cạnh những rặng dừa xanh cao vút, tạo nên nét đặc trưng của miền duyên hải Trung Bộ Bán đảo Cam Ranh còn có một ưu thế rất lớn là trữ lượng nước ngọt đáng kể trong lòng đất (mặc dù ba phía là biển) khiến cho đất đai nơi này trù phú, phủ kín bởi màu xanh tươi của cây trái Nơi đây khi mùa xuân về, mai rừng
nở rộ cả một khoảng trời Bán đảo còn là nơi cư trú của nhiều loài thú rừng và không thể không kể đến những loại hải sản nổi tiếng xưa nay như:
“Tôm hùm Bình Ba, sò huyết Thủy Triều”
Với những ưu thế trên vịnh Cam Ranh là nơi lý tưởng để tổ chức các loại hình
du lịch biển phục vụ du khách trong và ngoài nước, như: bơi thuyền, câu cá, lặn biển xem san hô, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, leo núi,…
- Khu vực bán đảo Cam Lập, là một xã bán đảo nằm về phía đông nam thị xã Cam Ranh, cách trung tâm thị xã 20km Xã Cam Lập được thành lập năm 1976 với
2 thôn, Bình Lập và Nước Ngọt Xã có tổng diện tích tự nhiên 2190 ha, dân số 1890 người Dân cư Cam Lập chủ yếu từ Bình Định và Phú Yên đến đây sinh cơ lập nghiệp hơn 100 năm nay Là một địa phương có những ưu thế về thiên nhiên, đồi núi nhấp nhô với những mũi đá vươn mình ra biển đã tạo thành các eo vịnh, đặc biệt
là những khối đá chồng chất lên nhau tạo thành những khối đá chồng chất lên nhau tạo thành những hình ảnh kỳ thú Bên cạnh đó có nhiều bãi tắm với bãi cát dài trắng mịn Nước biển quanh năm trong xanh hầu như còn nguyên vẹn tính hoang sơ Trong đó có bãi tắm đẹp, như: bãi Hồng, bãi tắm Cam Phúc Nam, bãi Chướng, bãi Nồm, bãi Bồ Đề (đảo Bình Ba),…
2.2.1.5 Tiềm năng du lịch gắn với tài nguyên sinh vật
Diện tích đất còn rừng ở Cam Ranh hiện nay chỉ chiếm khoảng 4,9% diện tích
tự nhiên và chủ yếu là rừng phòng hộ ven biển Rừng tự nhiên chủ yếu là rừng nghéo, rừng non, rừng khoang nuôi tái sinh, với độ che phủ thấp và phân bố chủ yếu
ở các vùng núi phía Tây
Tuy nhiên, nếu được bảo vệ và khai thác hợp lý thì tài nguyên rừng ở đây có thể góp phần vào phát triển các loại hình du lịch sinh thái Ngoài ra, hệ thống rừng phòng hộ đóng vai trò quan trọng bảo vệ các bãi tắm ven biển
2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
2.2.2.1 Hệ thống các di tích lịch sử văn hóa
Trang 33Các di tích lịch sử văn hóa được coi là một trong những nguồn tài nguyên du lịch quan trọng, bao gồm những công trình xây dựng, các sự kiện, các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học nghệ thuật
Cam Ranh là vùng đất có vị trí chiến lược quân sự quan trọng ngay từ thế kỷ thứ hai sau công nguyên Đây là nơi thường xuyên diễn ra các trận đánh ác liệt để giành giật vùng vịnh giữa các vương quốc Chân Lạp và Chiêm Thành Từ thế kỷ
XI, Cam Ranh đã đi vào lịch sử dựng nước và giữ nước
Đầu thế kỷ XX, đây là nơi triều đình đày các tù nhân bị tội lưu đày đến khai khẩn Trong chiến tranh xâm lược Việt Nam thì Mỹ đã xây dựng nơi đây thành một căn cứ địa quân sự cho chiến tranh, đồng thời khống chế hành lang phía Tây Thái Bình Dương Cam Ranh trở thành căn cứ hải quân lớn nhất Đông Nam Á Do đó hệ thống di tích lịch sử ở Cam Ranh chủ yếu là di tích lịch sử cách mạng, gắn liền với các sự kiện như: mộ ông tướng, nhà tù trên đảo Bình Ba, hệ thống đồn bốt lô cốt và hầm súng thần công tại đảo Bình ba, khu di tích lưu niệm sự kiện Đại hội Đảng bộ thị trấn Ba Ngòi lần thứ I tại Gò Hàu (Cam Lập), khu tiếp tế và nuôi dấu cán bộ cách mạng tại xã Cam Phước Đông, trụ sở UBND cách mạng lâm thời huyện Ba Ngòi, di tích lịch sử ao hồ vùng 4 hải quân (trên núi Phụng), sự kiện Bác Hồ đến vịnh Cam Ranh với tượng đài Bác Hồ, tượng đài Cam Ranh ghi lại những hy sinh của chiến sĩ Việt – Nga trong thực hiện nhiệm vụ hợp tác quân sự hòa bình,…
Hệ thống các di tích lịch sử văn hóa gắn với truyền thuyết khai hoang, lập ấp, như: miếu Cam Linh do vua Gia Long lập năm 1802 dưới chân núi Hòn Phụng, đình Khánh Cam, đình Trà Long
Hệ thống di tích lịch sử văn hóa gắn với tín ngưỡng dân gian mà đặc trưng là tín ngưỡng thờ cúng cá ông như: di tích cấp tỉnh lăng ông Hải Nam (đảo Bình Ba), lăng Ông đền Bà (Cam Phúc Nam) và các lăng, miếu thờ ông Nam Hải dọc theo các
xã, phường ven biển đều có
Hệ thống các di tích – danh thắng gắn với tôn giáo, có: chùa Từ Vân (chùa Ốc), chùa Núi Một, Phổ Hiển Ni tự,…
Các di tích kể trên là các di tích tiêu biểu, hiện tại trên địa bàn tp theo thông kê
có 98 di tích lịch sử các loại, trong đó có 6 di tích được công nhận là di tích cấp tỉnh
Trang 34Bảng 1 Danh sách các di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng cấp tỉnh
1 Lăng Ông Nam Hải Bình Ba Di tích kiến trúc nghệ thuật
2 Lăng Ông đền Bà xã Cam Phúc Nam Lịch sử văn hóa
3 Đình Khánh Cam phường Ba Ngòi Kiến trúc nghệ thuật
4 Đình Trà Long phường Ba Ngòi Kiến trúc nghệ thuật
5 Trụ sở UBND Cách mạng lâm thời Lịch sử văn hóa
Nguồn Trung tâm quản lý di tích tỉnh Khánh Hòa
Với hệ thống các di tích lịch sử văn hóa kể trên, làn cơ sở cho sự phát triển các loại hình và sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng, như: du lịch tham quan, du lịch nghiên cứu văn hóa, du lịch tôn giáo, du lịch hành hương,…
2.2.2.2 Tài nguyên du lịch gắn với các lễ hội truyền thống
Trong các dạng tài nguyên du lịch nhân văn, lễ hội truyền thống là tài nguyên
có giá trị phục vụ du lịch rất quan trọng Đây là sinh hoạt văn hóa đặc sắc của nhân dân như: sinh hoạt thể sau những ngày lao động vất vả, những sinh hoạt tín ngưỡng hoặc chỉ là những hoạt động vui chơi giải trí
Bất cứ lễ hội nào cũng có 2 phần chính: phần lễ và phần hội Các lẽ hội làm cơ
sở cho sự phát triển các loại hình du lịch đặc trưng như: du lịch tham quan nghiên cứu, du lịch tôn giáo, hành hương, du lịch vui chơi giải trí,…
Cam Ranh do đặc điểm địa hình, vị trí địa lý và văn hóa đã hình thành nhiều dân tộc khác nhau cùng sinh sống do đó các lễ hội truyền thống cũng rất đa dạng, phong phú và diễn ra trong những thời điểm khác nhau Trong đó tiêu biểu nhất là:
lễ hội Cầu ngư, lễ hội Thanh minh, lễ hội Cúng lúa mới, lễ bỏ mả, lễ cúng Giang của dân tộc Raclay,…Trong đó đáng chú ý là lễ hội cầu ngư trên đảo Bình Ba
Lễ hội Cầu ngư là hình thức tín ngưỡng sùng bái, thờ cúng cá Ông rất phổ biến
và là hoạt động tín ngưỡng dân gian không thể thiếu của ngư dân sống ven biển Theo bà con ngư dân, cá Ông là một vị thần biển thường xuyên xuất hiện cứu vớt kịp thời những người bị nạn trên biển
Trang 35Lễ Cầu ngư được diễn ra theo nghi thức tế lễ truyền thống vốn có từ bao đời nay của địa phương Lễ tế thường diễn ra trong 2 ngày Ngày đầu, người ta tổ chức bài trí trần thiết trong lăng, đến tối thì tiến hành cúng lễ túc (lễ cáo yết hay lễ tiên thường) Ngày thứ hai, tổ chức lễ nghinh thần Để tiến hành lễ nghinh, người ta làm một kiệu thần rồi đặt lên một chiếc thuyền lớn, trên thuyền trang trí cờ hoa, cờ hội lộng lẫy Ngoài ra, còn bố trí chiên trống, đội nhạc để phụ trợ trong lễ nghinh thần Sau khi nghinh thần về thì tiến hành cúng âm linh, cầu an Lễ cúng âm linh kéo dài khoảng hơn 1 giờ, sau đó người ta hóa vàng mã và tiếp tục phần tế Ông thường bao gồm 3 phần chính, đó là phần sơ hiến lễ, á hiến lễ và chung hiến lễ Trong lễ cúng bao giờ cũng có xướng tế, đọc văn tế và đi gia tế Thành phần tham dự chủ yếu trong tế lễ là các cụ cao tuổi, cư dân địa phương và ngư dân ở các vùng lân cận Thông thường sau khi kết thúc tế lễ là phần hát chèo bả trảo, trước đây, người ta còn tổ chức hát bội
Hát bá trảo được trình diễn với sự điều khiển của 3 ông tổng, đó là tổng tiền, tổng khoang và tổng lái, đám bạn chèo khoảng từ 10 – 16 người Đội hình bá trạo được sắp theo lối chèo thuyền, 3 tổng đứng giữa theo thứ tự trước sau: tổng tiền – tổng khoang và tổng lái, đám bạn chèo chia làm hai hàng đứng hai bên như đang đứng trên mạn thuyền Nhạc khí là chiên trống và dàn cổ nhạc Nội dung hát bả trảo thường gồm 3 phần chính đó là “ra khơi”, “bủa lưới” và “thuyền bị gặp nạn và được Ông cứu giúp” Trình tự của buổi diễn bá trảo giống như kết cấu của một hoạt cảnh thể hiện diễn biến từ khi thuyền ra khơi đến khi thuyền cập bến an toàn Ngoài lối múa chèo thuyền đã được nghệ thuật hóa, trong lối hát bả trảo còn có lối xướng, xô
và trình diễn các làn điệu dân ca như: lý, hò, ngâm,…được thể hiện qua tài năng của các nghệ nhân (các ông tổng) và đám bạn chèo, tạo nên sự lôi cuốn hấp dẫn người xem từ mở đầu đến khi kết thúc
Sau lễ cầu ngư, ngư dân thường tổ chức các hoạt động thể thao, vui chơi giải trí như đua thuyền, lắc thúng chai, kéo co Mục đích chính của lễ hội cầu ngư và hát
bả trảo là nhân lúc trước khi ra khơi, người ta tổ chức cúng ông Nam Hải và chư thần để cầu mong làng xóm bình yên, những người ra khơi được thuận buồm xuôi gió, đánh bắt được nhiều thủy sản Lễ cầu ngư ở đảo Bình Ba là một trong những lễ hội dân gian truyền thống tiêu biểu của xứ đảo này Đây là một lễ hội gắn liền với
Trang 36tín ngưỡng sông nước của đại đa số nhân dân làm nghề biển nên mỗi khi tổ chức đều thu hút đông đảo quần chúng tích cực tham gia
Xét về du lịch thì lễ hội Cầu Ngư là tài nguyên quan trọng để phát triển loại hình du lịch văn hóa, du lịch nghiên cứu, du lịch vui chơi giải trí, góp phần vào việc làm đa dạng hóa các loại hình du lịch và sản phẩm du lịch
2.2.2.3 Hệ thống các làng nghề và sản phẩm làng nghề
Với ngư dân ở Cam Ranh, các sản phẩm được dùng trong sinh hoạt sản phẩm hàng ngày mà do chính đôi tay khéo léo của họ tự làm không áp dụng công cụ máy móc hiện đại để phục vụ cho việc đánh bắt và nuôi trồng thủy sản cũng là một sản phẩm du lịch đặc trưng Việc nuôi tôm hùm trên các bè quanh khu vực biển và tại các đảo (đặc biệt ở các đảo Bình Ba), làng nghề sản xuất muối tại khu vực xã Cam Thịnh Đông,…
Bên cạnh những làng nghề đang hoạt động, còn có các làng nghề ngày bị mai một như nghề đan lác tại vùng Đồng Lác xã Cam Phước Đông (các sản phẩm dân dụng được đan từ cây lác, một loại cây thuộc loại tre nứa)
Nhìn chung các làng nghề truyền thống trên địa bàn thị xã Cam Ranh tuy không nhiều nhưng có nét đặc thù riêng của vùng đất có địa hình phong phú biển, núi, đồng bằng và có nhiều cộng đồng dân cư các dân tộc sinh sống Góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch và phát triển loại hình du lịch tham quan dã ngoại, nghiên cứu học hỏi, văn hóa, mua sắm,…
2.3 Thực trạng phát triển du lịch ở Thành phố Cam Ranh giai đoạn(2001 - 2010)
2.3.1 Các loại hình du lịch ở Thành phố Cam Ranh
2.3.1.1 Du lịch nghỉ ngơi, giải trí
Có các điểm du lịch như:
+ Điểm du lịch biển dảo Bình Ba Tại đây, tập trung vào phát triển các loại hình
và sản phẩm du lịch chuyên đề, như: tắm biển, du lịch du ngoạn trên biển và du lịch homestay (nuôi trồng, đánh bắt và chế biến tôm hùm)
+ Điểm du lịch chùa Ốc (chùa Từ Vân) Tại đây, tập trung vào phát triển các loại hình và sản phẩm du lịch chuyên đề, như: du lịch văn hóa, lễ hội, hành hương và du lịch nghiên cứu học hỏi
Trang 37+ Điểm du lịch biển đảo Bình Lập, Cam Lập.Tại đây, tập trung vào phát triển các loại hình và sản phẩm du lịch chuyên đề, như: tắm biển, du lịch du ngoạn trên biển tham quan các đảo, du lịch lặn biển
+ Điểm du lịch Trại Mát Ngọc Sương Tại đây, tập trung vào phát triển các loại hình và sản phẩm du lịch chuyên đề, như: du lịch nghỉ dưỡng, nghỉ mát, chữa bệnh, kết hợp phát triển các loại hình và sản phẩm du lịch khác, như: vui chơi, giải trí, mua sắm
+ Điểm du lịch bãi tắm phía bắc cảng hàng không quốc tế Cam Ranh Tại đây, tập trung vào phát triển các loại hình và sản phẩm du lịch chuyên đề, như: tắm biển, thể thao biển (du thuyền, lướt sóng, nhảy dù, đi kinh khí cầu trên biển.)
2.3.1.2 Du lịch văn hóa
- Du lịch văn hóa, bao gồm các hoạt động tham quan các lễ hội, các di tích lịc h
sử văn hóa, tham quan hệ thống các làng nghề và sản phẩm làng nghề truyền thống trên địa bàn thị xã và phần phụ cân (đặc biệt là văn hóa các dân tộc ít người sinh sống ở khu vực phía Tây của thị xã) Điểm du lịch Văn hóa Công viên 18 tháng 10
và tượng đài Bác Hồ Tại đây, tập trung vào phát triển các loại hình và sản phẩm du lịch chuyên đề, như: du lịch lễ hội, tổ chức các sự kiện lịch sử - văn hóa, du lịch tham quan, du lịch tưởng niệm,…
Bảng 1 Danh sách các di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng cấp tỉnh
1 Lăng Ông Nam Hải Bình Ba Di tích kiến trúc nghệ thuật
2 Lăng Ông đền Bà xã Cam Phúc Nam Lịch sử văn hóa
3 Đình Khánh Cam phường Ba Ngòi Kiến trúc nghệ thuật
4 Đình Trà Long phường Ba Ngòi Kiến trúc nghệ thuật
5 Trụ sở UBND Cách mạng lâm thời Lịch sử văn hóa
Nguồn Trung tâm quản lý di tích tỉnh Khánh Hòa
Với hệ thống các di tích lịch sử văn hóa kể trên, làn cơ sở cho sự phát triển các loại hình và sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng, như: du lịch tham quan, du lịch nghiên cứu văn hóa, du lịch tôn giáo, du lịch hành hương
2.3.2 Thực trạng phát triển du lịch ở Thành phố Cam Ranh giai đoạn (2001 - 2010) 2.3.2.1 Về quy mô và cơ cấu khách du lịch
Trang 38Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển du lịch của cả nước nói chung và ở tỉnh Khánh Hòa nói riêng, du lịch Cam Ranh cũng đã phát triển tương đối nhanh, thể hiện qua lượng khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, nghỉ dưỡng và khám phá vùng đất này So với năm 2000, tổng lượng khách nội địa tăng khoảng 1,6 lần và lượng khách quốc tế tăng 1,71 lần
Tổng lượng khách du lịch nói chung đến Cam Ranh ngày càng tăng là do nhiều nguyên nhân Thứ nhất là hoàn thiện và đưa vào sử dụng sân bay quốc tế Cam Ranh Thứ hai là tuyến đường du lịch nối Cam Ranh và Nha Trang (đại lộ Nguyễn Tất Thành) được hoàn thành, rút ngắn khoảng cách từ 60km còn 45km Hiện nay, hầu hết các tour du lịch được đưa khách từ Tp.Hồ Chí Minh đến Nha Trang không
đi đường quốc lộ 1A, mà chỉ đi theo con đường này qua thị xã Cam Ranh Thứ ba, trong mấy năm gần đây ở thành phố Nha Trang diễn ra nhiều sự kiện quan trọng như: tổ chức các cuộc thi Hoa hậu (Hoa hậu Hoàn vũ, Hoa hậu Trái đất, Hoa hậu Thế giới người Việt…) làm cho lượng khách đến Nha Trang tăng đột biến và trong thời gian lưu trú tại Nha Trang, một phần lượng khách này đến tham quan và sử dụng dịch vụ du lịch các vùng lân cận trong đó có Cam Ranh
Bảng 3 Lượng khách du lịch đến Cam Ranh thời kỳ 2000-2009
Năm Tổng số khách du lịch Khách nội địa Khách quốc tế
Lượt khách Tỷ lệ tăng Lượt
Nguồn phòng Văn hóa – Thông tin thị xã Cam Ranh
Xét về cơ cấu, thì khách du lịch đến Cam Ranh vẫn chủ yếu là khách du lịch nội địa (chiếm 90% tổng lượng khách), còn lượng khách quốc tế chiếm tỷ trọng nhỏ (trên 10%) Nguyên nhân chủ yếu là do hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch ở Cam Ranh chưa phát triển (chủ yếu chỉ có hệ thống các nhà nghỉ, còn hệ
Trang 39thống cơ sở lưu trú cao cấp thì chưa phát triển) Thứ hai là do chưa có các sản phẩm hấp dẫn đối với khách du lịch quốc tế (nhất là sản phẩm du lịch vui chơi giải trí cao cấp) Thứ ba, là do chưa có chiến lược quảng bá sâu rộng ra nước ngoài của ngành
du lịch ở địa phương Khách quốc tế đến với Cam Ranh vẫn chủ yếu là khách đến Nha Trang và sau đó đến tham quan tìm hiểu các danh lam thắng cảnh ở Cam Ranh Bảng 4 Cơ cấu khách du lịch đến Cam Ranh phân theo xuất xứ
Nguồn Phòng Văn hóa – Thông tin thị xã Cam Ranh
Trong năm 2009, mặc dù bị tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, song số lượng khách đến Cam Ranh vẫn tăng Mặc dù, cũng giống như cả nước nói chung, lượng khách quốc tế tăng chậm lại (nếu năm 2008 tăng 9,6% thì năm 2009 chỉ tăng 8,0%)
- Tình hình khách du lịch quốc tế
Theo số liệu thống kê (bảng 4) có thể nhận thấy tổng số lượt khách quốc tế đến Cam Ranh trong giai đoạn 2000- 2009 ngày một tăng, phù hợp với xu thế phát triển
du lịch chung của cả nước
Nhờ chính sách đổi mới công tác đối ngoại và mở rộng quan hệ hợp tác phát triển với các nước trên thế giới, nên từ năm 2000 trở về đây thương hiệu du lịch của Khánh Hòa nói chung và Cam Ranh nói riêng ngày càng được khẳng định trên thị trường quốc tế Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có khách du lịch đến Cam Ranh Trong đó thị trường khách châu Âu (chủ yếu từ Anh, Pháp, Đức, Hà Lan) chiếm gần 40%; châu Á (chủ yếu từ Nhật Bản, Hàn quốc, Trung Quốc, Đài Loan) chiếm gần 22% châu Mỹ (chủ yếu từ Úc và New Zealand) chiếm 13% và khu vực khác chiếm 6,5%