1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp khai thác hệ thống di tích lịch sử văn hóa tỉnh Quảng Ngãi vào phát triển du lịch địa phương.

102 132 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 795,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong suốt chiều dài lịch sử của mình, Quảng Ngãi khiến người ta không khỏi ngạc nhiên bởi đóng góp của mảnh đất này vào sự phát triển kinh tế-xã hội, văn hóa của cộng đồng các dân tộc V

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA LỊCH SỬ

- -

MAI THỊ LAN

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TỈNH QUÃNG NGÃI VÀO PHÁT

TRIỂN DU LỊCH ĐỊA PHƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngày nay, trong cuộc sống hiện đại với những căng thẳng về công việc, gia đình đã khiến không ít người rơi vào tình trạng stress Và du lịch là một giải pháp tối ưu được nhiều người lựa chọn để thư giãn, phục hồi sức khỏe sau những giờ lao động mệt nhọc Có lẽ vì vậy mà ngành du lịch trên thế giới không ngừng phát triển mạnh mẽ Hiện nay, bên cạnh các loại hình du lịch sinh thái, du lịch biển, du lịch mice…thì loại hình du lịch tìm hiểu văn hóa lịch sử đang được rất nhiều khách du lịch quan tâm

Đất nước ta, với một bề dày lịch sử vẻ vang đã ghi dấu lại bằng hàng nghìn di tích lịch sử văn hóa có giá trị Những di tích lịch sử là quà tặng vô giá mà lịch sử để lại cho chúng ta Chúng vừa chứa đựng những giá trị vật thể

và phi vật thể, phản ánh bản sắc tâm hồn, bản lĩnh, khí phách của dân tộc Việt Nam Vì vậy, bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử văn hóa cũng chính là bảo tồn và phát huy nội lực và là nguồn lực góp phần cho sự phát triển bền vững của đất nước Điều này đã được khẳng định trong Nghị quyết

của hội nghị lần V Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII “ văn hóa vừa

là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - văn hóa xã hội”

Hòa vào dòng lịch sử chung của đất nước, Quảng Ngãi- quê hương của nhà cách mạng, nhà văn hóa lớn Phạm Văn Đồng – mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, hiếu học, đoàn kết, lao động cần cù, sáng tạo Trong suốt chiều dài lịch sử của mình, Quảng Ngãi khiến người ta không khỏi ngạc nhiên bởi đóng góp của mảnh đất này vào sự phát triển kinh tế-xã hội, văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Nơi đây từng là cái nôi của nền văn minh

Sa huỳnh với những di chỉ khảo cổ hết sức phong phú và đa dạng, hay những

Trang 3

công trình kiến trúc đồ sộ của văn hóa Chăm pa Đặc biệt, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc, Quảng Ngãi cũng là nơi chịu nhiều đau thương mất mát, điển hình là vụ thảm sát Sơn Mỹ làm chấn động thế giới và lương tâm loài người Trải qua các cuộc chiến tranh

vệ quốc, Quảng Ngãi đã xuất hiện biết bao tấm gương hi sinh vì nước, rèn đúc được nhiều nhà lãnh đạo, nhiều vị tướng tài ba như Nguyễn Chánh, Trần Văn Trà, Phạm Kiệt, Nguyễn Đôn…Và nổi bật là đồng chí Phạm Văn Đồng, người đã hiến dâng cả cuộc đời cho cách mạng

Với một số lượng lớn các di tích lịch sử văn hóa có giá trị, Quảng Ngãi là một trong những trọng điểm của con đường di sản miền Trung, là nơi

có đầy đủ tiềm năng để phát triển du lịch tìm hiểu lịch sử văn hóa Tuy nhiên,

hệ thống di tích lịch sử văn hóa ở Quảng Ngãi chưa được quan tâm và khai thác hiệu quả để phát triển du lịch Với những lí do trên cùng với sự quan tâm của mình về các di tích lịch sử văn hóa ở Quảng Ngãi, tôi đã chọn đề tài

“Thực trạng và giải pháp khai thác hệ thống di tích lịch sử văn hóa tỉnh

Quãng Ngãi vào phát triển du lịch địa phương” làm khóa luận tốt nghiệp

chuyên nghành văn hóa-du lịch của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hiện nay, nguồn tài liệu nói về di tích lịch sử - văn hóa Việt Nam rất ít và chưa được đề cập thành một hệ thống hoàn chỉnh

Trong cuốn “Việt Nam Văn hóa và du lịch” (2005) của Trần Mạnh

Thường ( biên soạn) đã giới thiệu các danh lam thắng cảnh , di tích lịch sử văn hóa, dến lễ hội, phong tục tập quán… của 64 tỉnh thành trong cả nước

Ngoài ra, trên tạp chí du lịch Việt Nam có bài “ Phát huy giá trị di sản văn

hóa và làng nghề truyền thống trong phát triển du lịch” của Ths.Nguyễn Tư

Lương đã đi vào nghiên cứu tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch của một

Trang 4

số điểm di tích như Vịnh Hạ Long, Phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn… đồng thời đưa ra một số giải pháp khai thác hiệu quả các di tích lịch sử văn hóa và làng nghề truyền thống

Xét về phạm vi lãnh thổ, thì việc nghiên cứu đề tài này ở Quảng

Ngãi còn rất ít và chưa đi sâu Như trong sách “Di tích và thắng cảnh Quảng

Ngãi” (2001) do Sở Văn hóa thông tin Quảng Ngãi xuất bản, chỉ đề cập đến

một số di tíc lịch sử văn hóa tiêu biểu như: Di tích chiến thắng Vạn Tường, chùa Thiên Ấn, khu chứng tích Sơn Mỹ…Hay trong “Quảng Ngãi – đất nước – con người- văn hóa” (2001) của Bùi Hồng Nhân; “Địa chí Quảng Ngãi” (2008) của Ts.Nguyễn Kim Hiệu (chủ biên) cũng chỉ nói đến một vài di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên chỉ mang tính chất trình bày, giới thiệu một số di tích của Quảng Ngãi mà chưa đi sâu vào khai thác giá trị du lịch tại các di tích này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng từ đó đưa ra giải pháp khai thác

hệ thống di tích lịch sử-văn hóa để phát triển du lịch trên địa bàn Quảng Ngãi

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Do nhiều điều kiện chủ quan và khách quan nên đề tài được nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Quảng Ngãi trên khía cạnh khai thác các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia để phát triển du lịch

4 Mục đích và phương pháp nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này nhằm tìm hiểu thực trạng khai thác, quản lý các di tích lịch sử - văn hóa để phát triển du lịch Trên cơ sở đó định hướng và

Trang 5

đưa ra giải pháp để khai thác các di tích lịch sử-văn hóa vào phát triển du lịch một cách hiệu quả và bền vững

4.2 Phương pháp nghiên cứu

4.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

Việc tiến hành nghiên cứu đề tài cần đến rất nhiều nguồn tài liệu khác nhau của nhiều cơ quan, ban nghành liên quan Do đó, cần phải thu thập nhiều số liệu thông tin, trên cơ sở đó xử lý phù hợp với nội dung đề tài

4.2.2 Phương pháp thực địa

Đây là phương pháp dùng kiểm tra đối chứng các thông tin, để các thông tin thu được chính xác hơn, thuyết phục hơn Trong quá trình thực địa tác giả tiến hành chụp một số bức ảnh để tăng tính khoa học cho đề tài

4.2.3 Phương pháp chuyên gia

Là phương pháp phỏng vấn ý kiến của các lãnh đạo, chính quyền, cán

bộ chuyên nghành để các những kiến thức, kinh nghiệm để nghiên cứu đề tài Đồng thời dựa vào đây đánh giá đúng được thực trạng của các di tích lịch sử -văn hóa

5 Nguồn tư liệu

Đề tài đã sử dụng nhiều nguồn tư liệu, tài liệu khác nhau

-Tài liệu thành văn:

+ các sách chuyên nghành

+ các bài viết trên báo tạp chí

+các khóa luận tốt nghiệp

-Tài liệu điền dã:

Đây là nguồn tài liệu quan trọng, góp phần không nhỏ vào thành công của đề tài

-Trang web điện tử:

Trang 6

6.2 Về mặt thực tiễn

Giúp các nhà quản lý, kinh doanh, du lịch thấy được tiềm năng lớn của loại hình du lịch văn hóa, và đưa ra những chiến lược phát triển hiệu quả Ngoài ra, đề tài còn giúp người dân địa phương hiểu biết sâu sắc về những giá trị văn hóa, tinh thần của các di tích lịch sử-văn hóa mà phát triển và bảo tồn chúng

7 Cấu trúc của đề tài:

Ngoài phần mở bài, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo thì phần nội dung gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về du lịch và di tích lịch sử văn hóa

Chương 2: Thực trạng khai thác lịch sử - văn hóa tỉnh Quảng Ngãi trong phát triển du lịch

Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác các di tích lịch sử-văn hóa tỉnh Quảng Ngãi vào phát triển du lịch

Trang 7

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH VÀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA

1.1 Một số khái niệm về du lịch

1.1.1 Khái niệm du lịch

Thuật ngữ du lịch có nguồn gốc từ rất xa xưa, nó bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Tornos” với nghĩa là đi một vòng Thuật ngữ này được La Tinh hóa thành “Tornus” và sau đó thành “Tourisme” (Tiếng Pháp), “Tourism” (Tiếng Anh) Từ trước thế kỷ XIX du lịch chỉ là một hiện tượng tự phát của giai cấp

Trang 8

quý tộc Đến thế kỷ XX nhiều người đi du lịch với nhiều lý do khác nhau nhưng phải tự túc việc ăn ở và đi lại Vì vậy, du lịch thời kì này chỉ là một

hiện tượng nhân văn:“ Du lịch là hiện tượng những người đi đến một nơi khác

ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình theo nhiều nguyên nhân khác nhau ngoại trừ mục đích kiếm tiền và ở đó họ phải tiêu tiền mà họ đã kiếm được ở

nơi khác.” [15;98]

Từ sau thế chiến thứ hai, dòng khách du lịch ngày càng đông, việc giải quyết nhu cầu ăn, ở, giải trí… đã trở thành một cơ hội kinh doanh, với góc độ

đó du lịch không chỉ là một hiện tượng nhân văn mà nó còn là một hoạt động

kinh tế:“ Du lịch được coi là toàn bộ những hoạt động và những công việc

phối hợp nhau nhằm thỏa mãn các yêu cầu của khách du lịch”.[15;99]

Du lịch càng phát triển, các hoạt động kinh doanh du lịch ngày càng gắn

bó và phối hợp nhau tạo thành một hệ thống rộng lớn và chặt chẽ Với góc độ

này du lịch được xem là:“ một ngành công nghiệp với toàn bộ các hoạt động

mà mục tiêu là kết hợp giá trị của các tài nguyên du lịch thiên nhiên và nhân văn với các dịch vụ, hàng hóa để tạo ra sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu của khách”.[15;99]

Với tư cách là đối tượng nghiên cứu của môn du lịch học thì du lịch được

hiểu:“ Du lịch là tổng thể những hiện tượng và những mối quan hệ phát sinh

từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, những nhà kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và lưu giữ khách du lịch”.[15;100]

Tuy đến nay khái niệm du lịch được hiểu rất khác nhau tại các quốc gia khác nhau và nhiều góc độ khác nhau Nhưng với đặc thù riêng của mình, du lịch đã đóng góp một phần không nhỏ vào nền kinh tế quốc dân và thương mại quốc tế Vai trò thiết thực của du lịch trong hoạt động kinh tế quốc dân,

Trang 9

trong trao đổi kinh tế và trong sự cân bằng cán cân thanh toán đang đặt du lịch vào vị trí một trong số các nghành hoạt động kinh tế thế giới quan trọng nhất

1.1.2 Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là nền tảng để du lịch hình thành và phát triển Nó ảnh hưởng trực tiếp đến loại hình du lịch, hình thành chuyên môn hóa vùng

du lịch

Theo Pirojnik: “ Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên, văn hóa

lịch sử và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển thể lực, trí tuệ của con người, khả năng lao động và sức khỏe của

họ trong cấu trúc nhu cầu du lịch hiện tại, tương lai, trong khả năng kinh tế kĩ thuật cho phép, chúng được dùng để trực tiếp và gián tiếp sản xuất ra những dịch vụ du lịch và nghỉ ngơi.” [39;19]

Theo các nhà khoa học du lịch Trung Quốc định nghĩa là:“Tất cả giới tự

nhiên và xã hội loài người có sức hấp dẫn khách du lịch, có thể sử dụng cho ngành du lịch, có thể sản sinh ra hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường đều

có thể gọi là tài nguyên du lịch” [39;19]

Trong khoản 4 ( Điều 4 chương 1) của Luật du lịch Việt Nam năm 2005

ghi rõ: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích

lịch sử văn hóa, công trình sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch , là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”

[39;19]

Thực chất tài nguyên du lịch là các điều kiện tự nhiên, các đối tượng văn hóa lịch sử đã bị biến đổi ở mức độ nhất định dưới ảnh hưởng của nhu cầu xã hội và khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch Tài nguyên du lịch

Trang 10

càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu

Hiện nay, có nhiều cách phân loại tài nguyên du lịch khác nhau, căn cứ trên đặc điểm, đồng thời dựa vào thực tiễn bảo tồn, khai thác và thực trạng của tài nguyên du lịch Việt Nam, Bùi Thị Hải Yến đã chia tài nguyên du lịch thành 3 loại chính là: Tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn, tài nguyên kinh tế-kĩ thuật và bổ trợ

1.1.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Theo khoản 1 ( Điều 3 chương 2) Luật du lịch việt Nam 2005 quy định:

“Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các yếu tố điều kiện địa hình, địa mạo,

khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc

là nơi hình thành các nền văn minh, văn hóa lớn, nơi lưu giữ những giá trị văn hóa lớn của loài người nên phát triển loại hình du lịch sinh thái nhân văn, du lịch văn hóa…

Tài nguyên khí hậu là sự tổng hợp các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, áp suất không khí, tốc độ gió, hướng gió, bức xạ nhiệt ảnh hưởng trực tiếp sức khỏe con người Vì vậy, khí hậu là yếu tố quan trọng trong quyết định điểm đến

Trang 11

của du khách cũng như ảnh hưởng sâu sắc đến thời vụ du lịch Khí hậu cũng trở thành một sản phẩm du lịch đặc sắc như mưa, tuyết

Tài nguyên nước bao gồm nước chảy trên mặt và nước ngầm tạo ra các loại hình du lịch biển, sông, hồ, đặc biệt là nguồn tài nguyên nước khoáng có giá trị lớn về mặt nghỉ dưỡng

Hệ thống tài nguyên sinh vật phong phú cũng tạo ra nhiều loại hình du lịch hấp dẫn như du lịch sinh thái, lặn biển, tham quan…

1.1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn do con người tạo ra, có những điểm khác biệt so với tài nguyên du lịch tự nhiên Tuy nhiên, chỉ những tài nguyên có sức hấp dẫn du khách, có thể khai thác phát triển du lịch để tạo ra hiệu quả kinh tế, xã hội mới được gọi là tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm:

Các di sản văn hóa thế giới và di tích lịch sử - văn hóa là những nguồn tài nguyên du lịch quan trọng Các tài nguyên này gắn liền với lịch sử phát triển của con người Chúng dễ bị tác động từ môi trường xung quanh và khó khôi phục lại vì vậy cần phải có những biện pháp bảo tồn hợp lý

Các lễ hội cũng là một dạng của tài nguyên du lịch nhân văn Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, là một kiểu sinh hoạt của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hay là dịp để con người hướng vào một sự kiện trọng đại mang ý nghĩa tâm linh như thờ mẫu, thờ tổ nghề…

Các đối tượng gắn liền với dân tộc học như tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội…của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia cũng là tài nguyên thu hút khách

du lịch

Trang 12

Các đối tượng văn hóa – thể thao và hoạt động nhận thức khác: là các trung tâm của các viện khoa học, các trường đại học, thư viện lớn và nổi tiếng…

1.1.2.3 Tài nguyên kinh tế-kĩ thuật và bổ trợ

Tài nguyên kinh tế- kỹ thuật và bổ trợ không phải là tài nguyên trực tiếp hấp dẫn khách du lịch mà là những nguồn lực, nhân tố quan trọng để tạo

ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn

Theo hệ thống phân loại tài nguyên du lịch của UNWTO thì tài nguyên kinh tế - kỹ thuật và bổ trợ gồm:

Các hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch để đưa sản phẩm tới khách

du lịch Do sản phẩm du lịch không thể vận chuyển đến nơi ở của khách hàng

mà thường bán tại chỗ nên du khách không thể trực tiếp thử nghiệm, đánh giá chất lượng sản phẩm, niềm tin của họ vào sản phẩm là không cao.Vì thế cần

có những hoạt động xúc tiến, tuyên truyền quảng bá du lịch để du khách nắm

rõ thông tin về sản phẩm, kích thích nhu cầu du lịch của khách hàng Hoạt động xúc tiến du lịch diễn ra với nhiều hình thức như in ấn, phát hành sách, báo, tạp chí, thành lập trung tâm thông tin, xúc tiến du lịch, lâp trang wed… Đường lối và chính sách phát triển du lịch của từng địa phương, từng quốc gia rất quan trọng Nếu địa phương, quốc gia nào có những chính sách phát triển du lịch đúng đắn, phù hợp thuận lợi cho phát triển du lịch thì ngành du lịch nước đó sẽ phát triển nhanh chóng, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, mang lại hiệu quả kinh tế cao Những chính sách thuận lợi cho phát triển du lịch như: chính sách đầu tư phát triển du lịch, hệ thống văn bản luật, quy phạm làm hành lang pháp lý kiểm tra, an ninh xã hội, môi trường…

Trang 13

Hợp tác, đầu tư phát triển du lịch và quy hoạch du lịch là những nhân tố thúc đẩy du lịch phát triển Ngành du lịch là ngành mang tính quốc tế hóa cao Vì vậy nhiều quốc gia đã ra nhập các tổ chức du lịch trong khu vực

và quốc tế, kí kết các hiệp định phát triển du lịch khu vực ngoài ra, việc lập quy hoạch du lịch là nhiệm vụ quan trọng để xây dựng các chương trình, kế hoạch phát triển du lịch có tổ chức

Các cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch như: các cơ sở lưu trú, ăn uống, các cơ sở vui chơi, các phương tiện vận chuyển, các trạm đón tiếp, trung tâm mua sắm, các khu du lịch Cơ sở vật chất kĩ thuật tạo ra sự tiện nghi và mức

độ hấp dẫn du khách rất lớn

Tổ chức nhà nước về du lịch và nguồn lao động du lịch là nguồn tài nguyên mang tính quyết định sự phát triển của du lịch mỗi quốc gia cũng như mỗi địa phương Tổ chức quản lý nhà nước về du lịch bao gồm mô hình tổ chức quản lý, các cán bộ quản lý, nội dung, nhiệm vụ và cách thức quản lý trực tiếp và gián tiếp đến tất cả mọi hoạt động du lịch ở mỗi địa phương, quốc gia

Các kết cấu hạ tầng như hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy, nhà ga, bén cảng, hệ thống thông tin liên lạc, cấp thoát nước, xử lý chất thải không chỉ riêng ngành du lịch sử dụng nhưng đây là nguồn lực quan trọng tạo sức hút với du khách và thuận lợi cho phát triển du lịch tại điểm đến

1.1.3 Du lịch văn hóa

Du lịch văn hóa là loại hình du lịch khá quen thuộc với du khách, và là một trong những loại hình du lịch thu hút đông đảo du khách nhất hiện nay

Theo GS.TS.Nguyễn Văn Đính thì du lịch văn hóa là “du lịch với mục

đích chính là nhằm nâng cao hiểu biết cho cá nhân về mọi lĩnh vực như: lịch

Trang 14

sử, kiến trúc, kinh tế, hội họa, chế độ xã hội, cuộc sống của người dân cùng các phong tục tập quán của đất nước du lịch”.[4; 66]

Du lịch văn hóa được phân làm hai loại:

Du lịch văn hóa với mục đích cụ thể: khách du lịch thuộc thể loại này thường đi du lịch với mục đích đã định sẵn Thường họ là những cán bộ khoa học, sinh viên và các chuyên gia

Du lịch văn hóa với mục đích tổng hợp: gồm đông đảo những người ham thích mở mang kiến thức về thế giới và thỏa mãn tò mò của mình

1.2 Di tích lịch sử - văn hóa

1.2.1 Khái niệm di tích

Trong từ điển Hán Việt “Di là sót lại, rơi lại, để lại Tích là tàn tích, dấu

vết Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử”

Từ điển Bách Khoa Việt Nam ghi: “ Di tích là loại dấu vết của quá khứ,

đối tượng cuả khảo cổ học, sử học Có nhiều loại di tích nhưng phổ biến nhất

là di tích cư trú và mộ táng Phần lớn di tích khảo cổ học đều bị chôn trong lòng đất, nhưng cũng có một số di tích ở trên mặt đất như đền, chùa, tháp , các pho tượng, các bức vẽ ở vách hang v.v Nơi thờ cúng, lò gốm cổ, lò luyện kim cổ, kho chức, hầm lò…cũng là di tích khảo cổ Di tich cũng là di sản văn hóa – lịch sử được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy”

1.2.2 Di tích lịch sử - văn hóa

Mỗi quốc gia trên thế giới đều có những quy định riêng về di tích lịch sử

văn hóa Theo quy định trong hiến chương Vơnidơ – Italia, 1964 “di tích lịch

sử văn hóa bao gồm các công trình xây dựng riêng lẻ, những khu di tích ở đô

Trang 15

thị hay ở nông thôn, là những bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt

của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay là một biến cố về lịch sử”.[39; 62]

Theo đạo luật 16 về Di sản lịch sử ban hành ngày 25/06/1985 của Tây

Ban Nha, di tích lịch sử văn hóa được gọi là di tích lịch sử: “Di tích lịch sử

bao gồm các bất động sản và các động sản có lợi ích nghệ thuật, có lợi ích sinh vật học, khảo cổ học, dân tộc học, khoa học hoặc kĩ thuật, cũng kể cả di sản thiên nhiên và thư mục, các lớp mỏ, các khu vực khảo cổ, các thắng cảnh thiên nhiên, các công viên, các vườn có giá trị nghệ thuật lịch sử hay nhân

chủng học” ” [39; 62]

Nước ta với nền văn hóa đa dạng, bề dày lịch sử vẻ vang được ghi dấu lại bằng hàng nghìn di tích lịch sử - văn hóa có giá trị Theo từ điển Tiếng Việt

“di tích lịch sử- văn hóa là tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc

tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóa được lưu lại.”

Trong từ điển Bách Khoa Việt Nam viết: “ Di tích lịch sử - văn hóa là

những công trình xây dựng, những đồ vật, hiện vật …có liên quan đến những

sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội của một dân tộc, một đất nước

Theo pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh ngày 4/4/1984, di tích lịch sử văn hóa được quan niệm như sau:

“Di tích lịch sử văn hóa là những công trình xây dựng địa điểm, đồ vật, tài

liệu và các tác phẩm nghệ thuật, cũng như có giá trị văn hóa khác, hoặc liên

quan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa- xã hội” ” [39;

62]

Luật di sản văn hóa của nước CHXHCN Việt Nam 2003 ghi rõ: “Di tích

lịch sử văn hóa là công trình xây dựng và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

Trang 16

thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử- văn hóa và khoa học”.[39;

62]

Như vậy, di tích lịch sử - văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các

di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử,

văn hoá, khoa học

Theo tiêu chuẩn xếp hạng của Việt Nam thì di tích lịch sử văn hóa bao gồm:

Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như đền Hùng, Cổ Loa, cố đô Hoa Lư, chùa Thiên Mụ, Cột cờ

Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như khu di tích lịch sử Kim Liên, đền Kiếp Bạc, Đền Mẫu Đợi , Lam Kinh, đền Đồng Nhân

Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như khu

di tích chiến thắng Điện Biên Phủ, Địa đạo Củ Chi, khu di tích lịch sử cách mạng Pắc Bó…

1.3 Vai trò của di tích lịch sử - văn hóa trong phát triển du lịch

Với bề dày lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước đã đem lại cho Việt Nam nhiều di tích lịch sử văn hóa rất có giá trị trải dọc theo chiều dài của đất nước

Trong đó có những di tích lịch sử văn hóa có ý nghĩa cực kỳ quan trọng,

là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, đã được Unesco công nhận là di sản văn hóa thế giới như: Cố đô Huế, Thánh địa Mỹ Sơn, Phố cổ Hội An Những giá

Trang 17

trị đó là nguồn tài nguyên quan trọng có ý nghĩa sống còn với ngành du lịch Việt Nam

Hệ thống di tích lịch sử văn hóa Việt Nam chính là minh chứng cho qúa trình dựng nước và giữ nước vẻ vang của dân tộc Việt Nam Để có nền độc lập dân tộc ngày hôm nay, cha ông ta đã phải đánh đổi bằng những giọt mồ hôi, nước mắt và xương máu của mình Chính vì vậy, di tích lịch sử văn hóa

có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống lịch

sử văn hóa, truyền thống yêu quê hương, đất nước, bảo vệ chủ quyền dân tộc Những bài học lịch sử sẽ trở nên khô cứng nếu như không có những di tích, dấu tích chứng minh Những người đời sau sẽ không thể nào hình dung được

sự tàn ác, dã man của kẻ thù đối với đồng bào, đồng chí của ta nếu chưa được tận mắt nhìn thấy cảnh giam cầm, tù đầy tại các nhà lao của địch, dù chỉ là hình ảnh tái hiện

Du khách quốc tế thường rất ham học hỏi, tìm hiểu văn hóa truyền thống của đất nước khác Khách du lịch khi đến một nơi nào đó, họ không chỉ muốn tham quan cảnh đẹp, hay nghỉ dưỡng mà họ luôn muốn tìm hiểu về lịch sử, văn hóa đất nước họ đặt chân đến Vì vậy, di tích lịch sử văn hóa là điểm nhấn quan trọng để thu hút khách du lịch, tài nguyên này càng đa dạng, phong phú thì càng hấp dẫn khách du lịch

Với những giá trị lịch sử và văn hóa to lớn như vậy, hệ thống di tích lịch

sử văn hóa Việt là tài nguyên, là cơ sở hình thành và phát triển các sản phẩm

du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa góp phần đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm du lịch của khu vực, thu hút lượng khách quốc tế ngày càng tăng, đem lại nguồn thu lớn cho nền kinh tế quốc dân

Trang 18

Tại các địa phương, các di tích lịch sử được bảo tồn, du lịch phát triển tạo ra sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế địa phương, người dân được hưởng lợi nhiều hơn thông qua việc tham gia dịch vụ du lịch, các ngành nghề thủ công truyền thống được phục hồi giải quyết vấn đề lao động nên đời sống người dân được nâng cao hơn

Trang 19

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TỈNH QUẢNG NGÃI TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH

2.1 Khái quát chung về tỉnh Quảng Ngãi

2.2.1 Điều kiện tự nhiên

2.2.1.1 Vị trí địa lý

Tỉnh Quảng Ngãi nằm ở vùng duyên hải miền Trung, tựa vào dãy Trường Sơn, hướng ra biển Đông (với chiều dài bờ biển 144 Km), phía Bắc giáp Quảng Nam (với chiều dài đường địa giới 98 Km), phía Nam giáp Bình Định (với chiều dài đường địa giới 83 Km), phía Tây Nam giáp Kon Tum (với chiều dài đường địa giới 79 Km) Quảng Ngãi có quốc lộ 1A chạy qua tỉnh, cách Hà Nội 883km về phía Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh 838 km

về phía Bắc; quốc lộ 24A nối Quảng Ngãi với Tây Nguyên, Lào và vùng Đông Bắc Thái Lan Bờ biển với nhiều bãi tắm và phong cảnh đẹp.Tỉnh Quảng Ngãi nằm ở toạ độ địa lý: Từ 14°31'50" đến 15°25'30" vĩ độ Bắc, từ 108°14'05" đến 109°05'00" kinh độ Đông

Quảng Ngãi có diện tích 5.135,2 km2 (2012) với 14 đơn vị hành chính gồm 01 thành phố ( Quảng Ngãi) và 13 huyện Trong đó có 01 huyện đảo (Lý

Sơn), 06 huyện đồng bằng (Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Đức Phổ), 06 huyện miền núi ( Ba Tơ, Trà Bồng, Tây Trà, Sơn Tây, Sơn

Hà, Minh Long); 180 xã phường, thị trấn (8 phường, 10 thị trấn và 162 xã) 2.2.1.2 Sông ngòi

Quảng Ngãi là vùng đất trù phú được phù sa bồi đắp bởi 04 con sông chính:

Sông Trà Bồng: dài 55 km, phát nguyên từ nguồn Thanh Bồng (Trà

Bồng), chảy xuyên qua huyện Trà Bồng và huyện Bình Sơn, đến thôn Giao Thuỷ (xã Bình Dương) lại chảy về hướng Đông Bắc, đổ ra cửa Sa Cần Sông

Trang 20

Trà Bồng có các phụ lưu như: Sa Thin, Trà Pốt, Trà San, Bán Điền Nước sông cạn, về mùa nắng thuyền bè từ 3 đến 5 tấn không đi lại được

Sông Trà Khúc: dài 120 km, phát nguyên từ núi Đac Tơrôn với đỉnh

cao 2.350m do hợp nước của 4 con sông lớn là sông Rhe, sông Xà Lò, sông Rinh, sông Tang, chảy xuống hướng Đông qua ranh giới các huyện Sơn Hà, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, thành phố Quảng Ngãi và đổ ra cửa biển Cổ Luỹ (cửa Đại) Sông Trà Khúc còn có các phụ lưu như Đac Lang, Nước Lác, Đăc Sêlơ, Tam Dinh, Xã Điệu, Tầm Rao, sông Giang, sông Phước…

Sông Vệ: dài khoảng 80km, phát nguyên từ vùng rừng núi phía Bắc

huyện Ba Tơ, thượng nguồn là sông Liên chảy theo hướng Tây Nam – Đông Bắc, xuyên qua các huyện Ba Tơ, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Tư Nghĩa và đổ ra cửa Lở (An Chuẩn, Đức Lợi, Mộ Đức) và cửa Cổ Luỹ Sông vệ có các phụ lưu: Trà Nu, sông Lã, sông La Châu… Chi lưu của sông Vệ là sông Thoa chảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam tưới cho đại bộ phận đồng lúa Mộ Đức

Sông Trà Câu: dài 40 km, phát nguyên từ vùng Hồng Thuyền, Vực

Liêm (phía Nam đèo Đá Chát) chảy xuyên qua huyện Đức Phổ để ra cửa biển

Trang 21

- Miền núi : Rộng gần bằng 2/3 diện tích toàn tỉnh Miền này thuộc loại

đất núi có nhiều đá, khả năng khai thác kém Núi cao hiểm trở, rừng rậm bao

la, nơi đây có nguồn lâm sản dồi dào, đặc biệt có quế Trà Bồng, một lâm sản quý Quảng Ngãi có nhiều núi cao như núi Cà Đam tục gọi "Hòn Ông, Hòn Bà" cao độ 1.600m ngăn cách Sơn Hà và Trà Bồng, về phía Tây Bắc có núi Đá Vách (Thạch Bích) cao độ 1.500m ngăn cách Sơn Hà và Minh Long, núi U Bò cao độ 1.200m Núi cao trung bình 700m như núi Cao Môn ở ngoài Trường Luỹ phía Tây huyện Đức Phổ Các núi ở Quảng Ngãi có một số được xếp vào hạng danh sơn, được vịnh làm thắng cảnh như : Thiên Ấn, Thiên Bút, Thạch Bích, Vân Phong

- Miền đồng bằng: đất đai phần lớn là phù sa do các sông bồi lên thành

phần cát khá cao của đất với sự xói mòn huỷ phá do thời tiết mưa nắng Đặc biệt ở Quảng Ngãi, người ta thấy rằng chất đất ở đây tương đối nghèo, sự thoát thuỷ lại khá nhanh, thêm vào đó sự khô hạn kéo dài chứng tỏ một sự thiếu nước trong nhiều tháng của năm, một màu sắc nhạt ở bề mặt đất cho biết

sự thiếu chất bùn

- Hải đảo Lý Sơn : Nằm về phía Đông Bắc Quảng Ngãi, cách đất liền 24

km, vĩ độ Bắc 15'40 và kinh độ 19' có hải đảo Lý Sơn tục gọi là Cù Lao Ré vì trước kia có nhiều cây Ré dùng làm dây rất dài và bền

Hải đảo hình đa giác không đều cạnh, chiều dài lớn nhất 7 km, chiều ngang 3 km, diện tích ước chừng 19 km2 Núi chiếm 1/4 diện tích của đảo, bốn phía cao, ở giữa trũng thấp, có đồi rẫy nằm vào khoảng giữa núi

2.2.1.4 Khí hậu

Quảng Ngãi có khí hậu nhiệt đới và gió mùa Nhiệt độ trung bình 250 đến 26,90C, thượng tuần tháng 7 và tháng 8 nóng không quá 340 C, thượng tuần tháng giêng lạnh nhất không dưới 180C

Trang 22

Thời tiết Quảng Ngãi được chia làm 2 mùa: mưa, nắng rõ rệt Mùa nắng

từ hạ tuần tháng giêng âm lịch đến thượng tuần tháng 8 âm lịch Mùa mưa từ

hạ tuần tháng giêng âm lịch đến thượng tuần tháng giêng âm lịch Gió mùa từ

hạ tuần tháng giêng âm lịch đến tháng 8 âm lịch, gió thổi từ Đông Nam qua Tây Bắc, hết sức mát mẻ dễ chịu gọi là gió Nồm Khí hậu Quảng Ngãi có nhiều gió Đông Nam ít gió Đông Bắc vì địa hình địa thế phía Nam, hơn nữa

do thế núi địa phương tạo ra

Quảng Ngãi có lượng mưa trung bình hằng năm 2.198 mm nhưng chỉ quy tụ vào 4 tháng cuối năm còn các tháng khác thì khô hạn Trung bình hằng năm mưa 129 ngày, nhiều nhất vào các tháng 9, 10, 11, 12 Sự phân phối vũ lượng không đều cũng như sự kéo dài mùa khô hạn rất có hại cho cây cối, đất đai và gây khó khăn cho việc dẫn thoát thuỷ Đặc biệt, ở Quảng Ngãi các trận bão chỉ có thể xảy ra trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 12 dương lịch nhất là hai tháng 10 và 11

Nhìn chung, điều kiện tự nhiên phong phú và đa dạng với địa hình, sông ngòi, khí hậu như vậy, Quảng Ngãi có đầy tiềm năng để phát triển các loại hình du lịch khác nhau dựa vào nguồn tài nguyên tự nhiên này

Trang 23

Ðầu thế kỷ XIV, sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông, triều đình phong kiến Ðại Việt và nhà nước phong kiến Chămpa nhận thấy sự cần thiết phải chấm dứt những cuộc can qua, ít ra là tạm hoà hoãn chiến cuộc để khoan thư sức dân và kiến thiết đất nước Ðỉnh cao của thời kỳ giao hảo giữa 2 vương quốc lân bang là sự kiện Thượng hoàng Trần Nhân Tông của nước Ðại Việt gả con gái là Công chúa Huyền Trân cho vua Chămpa Chế Mân (Jaya Sinhavarman III) vào năm 1306 (niên hiệu Hưng Long thứ 14) Ðáp lại, vua Chămpa dâng 2 châu Ô và Lý (nay là vùng đất từ phía Nam đèo Ngang đến Thừa Thiên - Huế và tây bắc Quảng Nam), tiếp giáp biên giới Ðại Việt, cho vua Trần để làm sính lễ

Đến đời nhà Lê, năm Hồng Đức thứ 2 (1471), tháng 6, vua Lê Thánh Tông lấy đất Chiêm Thành vừa chiếm lại đặt đạo Thừa tuyên Quảng Nam Đạo Thừa tuyên này là 1 trong số 13 đạo thừa tuyên cả nước, thống lãnh 3 phủ, 9 huyện trong đó có phủ Tư Nghĩa gồm 3 huyện: Bình Dương (sau đổi thành Bình Sơn), Mộ Hoa, (đời Thiệu Trị đổi Mộ Đức) và Nghĩa Giang (năm Thành Thái chia đất Nghĩa Giang nhập vào huyện Nghĩa Hành và phủ Tư Nghĩa)

Năm Hoằng Định thứ 5 (1604) cải đặt và đổi tên các khu vực hành chánh Thuận Quảng, đổi phủ Tư Nghĩa thành Quảng Nghĩa phủ đặt chức tuần

vũ, khám lý nhưng cũng thuộc Quảng Nam dinh

Đời Tây Sơn (1788-1802) cải đặt và đổi tên các khu vực hành chánh Thuận Quảng, đổi phủ Tư Nghĩa thành Hoà Nghĩa phủ

Đời Nguyễn, năm 1802 vua Gia Long khôi phục Hoà Nghĩa phủ đặt tên

là Quảng Nghĩa dinh, các chức quan cai trị gọi là Lưu thủ, Cai bộ, Ký lục

Từ 1909 đến cuối của triều Nguyễn (1945) miền Trung châu Quảng Ngãi được chia thành 4 phủ: Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức: 2 huyện

Trang 24

Nghĩa Hành, Đức Phổ gồm 21 tổng, 403 làng Miền thượng được chia thành 4 nha: Trà Bồng, Sơn Hà, Minh Long, Ba Tơ với 27 tổng, 199 nóc, miền Trung duyên hải có nha Lý Sơn 2 làng

Giữa thế kỉ XIX thực dân Pháp đã dần dần xâm lược nước ta Triều đình nhà Nguyễn đã không bảo vệ được chủ quyền dân tộc, để đất nước rơi vào tay thực dân Pháp Sau khi thôn tính toàn bộ Việt Nam Pháp chia Việt Nam thành

3 kỳ là Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ để cai quản

Nước Việt Nam, trong đó có tỉnh Quảng Ngãi, từ một nước tự chủ trở thành thuộc địa của thực dân Pháp Tỉnh Quảng Ngãi nằm trong xứ "Trung

Kỳ bảo hộ" dưới sự cai trị vừa khắc nghiệt vừa bảo thủ của thực dân và Nam triều bù nhìn

Ngày 3.2.1930, Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, tháng 3.1930, Đảng

bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi ra đời trên cơ sở thống nhất các chi bộ "Dự bị Cộng sản", do Nguyễn Nghiêm làm Bí thư Tỉnh ủy lâm thời Ngay vừa khi mới thành lập, Đảng bộ Quảng Ngãi và huyện ủy Đức Phổ đã lãnh đạo nhân dân biểu tình chống đế quốc và phong kiến

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi, nhân dân Quảng Ngãi đã đấu tranh sôi nổi Đặc biệt, Cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ là cuộc khởi nghĩa từng phần đầu tiên trong cả nước nổ ra và giành thắng lợi Cùng với cả nước, nhân dân Quảng Ngãi đã lợi dụng thời cơ đứng lên giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám Đêm 16.8.1945, lực lượng cách mạng đã giành được chính quyền Do đó, chính quyền cách mạng các cấp nhanh chóng được thành lập Đơn vị hành chính cũng thay đổi, 6 phủ, huyện ở Trung châu, 4 đồn ở miền núi đều gọi là huyện, đảo Lý Sơn sát nhập vào huyện Bình Sơn

Trang 25

Sau khi giành được chính quyền, ủng hộ lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Quảng Ngãi vừa kháng chiến vừa kiến quốc

Từ 1950 đến 1952, địch tăng cường các hoạt động bắn phá, càn quét, đẩy mạnh do thám, tung gián điệp vào vùng tự do Liên khu V nhằm thực hiện âm mưu xâm chiếm, phá hoại hậu phương, căn cứ địa của cuộc kháng chiến ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Ở Quảng Ngãi, địch tiến hành nhiều cuộc đổ

bộ, bắn phá vùng biển, càn quét vào đất liền, cướp phá tàu thuyền, tài sản, đốt phá lương thực của nhân dân ven biển Nhân dân cùng với lực lượng vũ trang, bán vũ trang kịp thời phát hiện và đánh trả quyết liệt các cuộc đổ bộ, càn quét của địch

Những thành tích của nhân dân Quảng Ngãi từ 1953 đến tháng 7.1954 đã góp phần vào thắng lợi của chiến dịch Xuân - Hè năm 1954 - chiến thắng lớn nhất của quân và dân Nam Trung Bộ trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp Thắng lợi vĩ đại của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ cùng những chiến thắng giòn giã của quân và dân ta trên khắp chiến trường, trong đó có sự đóng góp công sức của quân và dân Quảng Ngãi đã góp phần phá tan kế hoạch Nava, buộc thực dân Pháp ký kết Hiệp định Giơnevơ (Genève) 1954

Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương được ký kết, đế quốc Mỹ hất cẳng Pháp, trực tiếp xâm lược Việt Nam, lập nên chính phủ bù nhìn Ngô Đình Diệm Ngụy quyền Sài Gòn đổi tên gọi các đơn vị hành chính lãnh thổ Huyện đổi thành Quận gồm 10 quận ( Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ đức, Đức Phổ, Trà Bồng, Sơn Hà, Minh Long, Ba Tơ), thôn đổi thành ấp Tỉnh lỵ Quảng Ngãi đặt tại thị tứ Cẩm Thành

Mỹ - Diệm bắt đầu mở các chiến dịch "tố cộng", "diệt cộng", đánh phá quyết liệt, hòng gây không khí khủng khiếp trong nhân dân, làm cho hàng ngũ đảng viên và quần chúng cách mạng bị rối loạn Từ giữa năm 1956 đến năm

Trang 26

1957, khắp nơi ở Quảng Ngãi nhà tù mọc lên như nấm Vào những năm 1957,

1958 địch tra tấn, giết hại nhiều người, trong đó có những hành động man rợ như mổ bụng lấy tim gan uống rượu, kéo lê xác trên đường, treo đầu Mỹ- Diệm và quân đội tay sai đã thực hiện những cuộc thảm sát dã man như cuộc thảm sát Sơn Mỹ, vụ thảm sát địa đạo Đám toái… làm chấn động thế giới Với sự chiến đấu kiên cường, quân và dân Quảng Ngãi đã giành nhiều chiến thắng vang dội như chiến thắng Vạn Tường, chiến thắng Ba Gia, chiến thắng Đình Cương… có ý nghĩa chiến lược trong cuộc đấu tranh của cả nước

Từ cuối năm 1974, khi thời cơ giải phóng miền Nam đã đến, Đảng bộ và nhân dân Quảng Ngãi đẩy mạnh tiến công liên tục, giải phóng Quảng Ngãi vào ngày 24.3.1975, đóng góp sức người, sức của cùng cả nước giành thắng lợi trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và thống nhất Tổ quốc

Từ 10/11/1975 đến 30/06/1989 Quảng Ngãi hợp nhất với Bình Định gọi

là tỉnh Nghĩa Bình Từ 1/7/1989 tỉnh Quảng Ngãi trở lại đơn vị hành chính cũ Hiện nay Quảng Ngãi có 1 thành phố, 12 huyện, 6 phường, 163 xã và 10 thị trấn

2.2.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội

Trang 27

ngân sách nhà nước 14.370 tỷ đồng, tỷ lệ hộ nghèo dưới 15% Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) 6 tháng đầu năm 2011 ước đạt 4.543,08 tỷ đồng (theo giá so

sánh 1994), tăng 12,8% so với cùng kỳ năm 2010 [31]

*Nghành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

Hiện nay, toàn tỉnh có 4 khu công nghiệp là khu công nghiệp Quảng Phú (Thành phố Quảng Ngãi), Khu công nghiệp Tịnh Phong (huyện Sơn Tịnh), Khu công nghiệp Phổ Phong (huyện Đức Phổ), Khu kinh tế Dung Quất (tiền thân là khu công nghiệp Dung Quất, huyện Bình Sơn) trong đó quan trọng

nhất là Nhà máy lọc dầu Dung Quất Khu kinh tế Dung Quất đến thời điểm

năm 2010 đã thu hút vốn đầu tư trên 10,6 tỷ đô la Mỹ, với 112 dự án được cấp phép đầu tư, vốn đăng ký hơn 125.600 tỷ đồng Nhà máy lọc dầu Dung Quất

đã vận hành và cho ra sản phẩm

Trong 6 tháng đầu năm 2011 khu vực công nghiệp - xây dựng đạt

2.652,72 tỷ đồng, tăng 17,5%, Quý I/2012, sản xuất công nghiệp của tỉnh tiếp

tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá Giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 6.267,9 tỷ đồng, tăng 23,9% so với cùng kỳ năm 2011, đạt 28,3% kế hoạch năm; trong đó, khu vực kinh tế nhà nước đạt 5.029 tỷ đồng, tăng 24,9%; kinh

tế ngoài nhà nước đạt 1.113,9 tỷ đồng, tăng 16,4%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt gần 124,9 tỷ đồng, tăng 66% [32]

* Sản xuất nông, lâm, thuỷ sản

- Sản xuất nông nghiệp: Tỷ trọng của nghành nông nghiệp trong cơ

cấu kinh tế của tỉnh giảm dần nhưng vẫn chiếm tỷ lệ cao 28% năm 2011 Lúa là cây lương thực chính, tính đến quý I năm 2012 toàn tỉnh đã gieo sạ

và chăm sóc lúa vụ Đông-Xuân với diện tích khoảng 37.116 ha, đạt 100,2%

kế hoạch Ngoài trồng lúa thì các loại cây lương thực khác như ngô, khoai,

sắn, các loại rau đậu cũng chiếm diện tích lớn trong nông nghiệp

Trang 28

Về cây công nghiệp, Quảng Ngãi là đất của mía, dừa, quế, thuốc lá… các loại cây công nghiệp ngắn ngày đều tăng cả về diện tích và sản lượng Hiện toàn tính có hơn 6.000 ha mía, 1.000 ha trồng quế trồng nhiều nhất ở huyện Trà Bồng và Sơn Tây, mỗi năm khai thác từ 300 đến 400 tấn quế vỏ xuất khẩu

Về chăn nuôi: Số lượng gia súc, gia cầm của tỉnh ngày càng tăng Xuất hiện nhiều hộ gia đình và cơ sở sản xuất nuôi gà siêu thịt, vịt siêu trứng…

- Lâm nghiệp: Đây là một ngành có tiềm năng lớn ở Quảng Ngãi Từ sau khi giải phóng thì việc trồng rừng đầu nguồn, đồi núi trọc được đẩy mạnh Hiện nay, tổng diện tích rừng khoảng 25.000ha Ước tính giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2011 là 181,4 tỉ đồng Nhưng hiện nay nạn phá rừng

đã và đang ở mức báo động về nguy cơ hủy hoại môi trường và hệ sinh thái

- Hoạt động khai thác thủy sản: Quý I 2012, sản lượng thuỷ sản khai

thác ước đạt 22.613 tấn, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm 2011, đạt 18,9%

kế hoạch năm, trong đó, khai thác trên biển 22.495 tấn, khai thác nội địa

118 tấn Đến đầu năm 2012, toàn tỉnh đã thả nuôi 170 ha tôm; sản lượng

thu hoạch tôm ước đạt 65 tấn Sản lượng thu hoạch thủy sản nước ngọt ước

đạt 120 tấn [32]

* Thương mại, dịch vụ

Tỷ trọng nghành dịch vụ đạt 1.198,79 tỷ đồng, tăng 13,8% (2011) Sang 3 tháng đầu năm 2012, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong quý ước đạt gần 6.441 tỷ đồng, tăng 22,8% so với cùng kỳ năm

2011 (chưa loại trừ yếu tố trượt giá), đạt 24,9% kế hoạch năm; trong đó, thành phần kinh tế nhà nước đạt 449,7 tỷ đồng (chiếm 6,98% tổng mức), tăng 16,1%; kinh tế cá thể đạt 4.674 tỷ đồng (chiếm 72,57%), tăng 28%;

Trang 29

kinh tế tư nhân đạt 1.312,7 tỷ đồng (chiếm 20,38%), tăng 8,9% Nhìn chung, nghành dịch vụ phát triển mạnh mẽ, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dân

Tóm lại, kinh tế Quảng Ngãi ngày càng phát triển với tốc độ nhanh Đặc biệt, khu kinh tế Dung Quất phát triển nhanh chóng với nhà máy lọc dầu Dung Quất thì tương lai Quảng Ngãi sẽ trở thành một trung tâm kinh tế trọng điểm của miền Trung

2.2.3.2.Tình hình xã hội

*Dân Cư

Sự phân bố dân cư trong tỉnh không đều Ở thành phố, thị trấn mật độ dân số cao, miền trung du và ven biển đông đúc, miền núi dân số thưa thớt Trên địa bàn Quảng Ngãi có 4 dân tộc anh em sinh sống: Kinh, Hre, Cor và

Ca Dong Người Kinh hiện diện ở Quảng Ngãi bắt đầu chủ yếu từ thế kỷ XV trở đi, đa số là những nông dân ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, vùng Thanh -

Nghệ di cư vào khẩn hoang đất đai, lập thành làng mạc

Ở miền núi, về dân tộc có sự ổn định hơn Miền núi Quảng Ngãi có các dân tộc Hrê, Cor, Ca Dong sinh sống; họ là cư dân bản địa lâu đời, sống theo từng khu vực và có sự đan xen nhất định, có sự giao lưu, buôn bán với nhau

và với người Việt ở miền xuôi lên buôn bán, khai khẩn Từ sau năm 1975, có một ít người các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc vào, song chỉ là đơn lẻ

và hòa nhập vào các cộng đồng địa phương Do vậy, nói đến dân cư, dân tộc ở miền núi Quảng Ngãi cũng chỉ đề cập chủ yếu đến các dân tộc Hrê, Cor, Ca Dong và Kinh

Dân tộc Kinh chiếm 88,8%, Hrê 8,58%, Cor 1,8%, Ca Dong 0,7%; số người thuộc 13 dân tộc thiểu số khác chỉ chiếm 0,12% dân số Do vậy, nếu

Trang 30

tính về dân tộc thì ở Quảng Ngãi có đến 17 dân tộc, nhưng thực chất cũng chỉ

có 4 dân tộc có số lượng cư dân đáng kể

Nhìn chung, khối cộng đồng dân cư Quảng Ngãi phát triển theo tiến trình của lịch sử, cùng đoàn kết, chung sức chung lòng trong công cuộc chống phong kiến - đế quốc, dựng xây quê hương giàu đẹp

* Giáo dục và Đào tạo:

Quảng Ngãi, một vùng đất của truyền thống hiếu học Điều này được thể

hiện trong 100 năm qua - từ 1819 đến 1918 - Quảng Ngãi đã có 139 nhà khoa

bảng Nho học Nhiều người đã đóng góp lớn trong lịch sử nước nhà như Trương Đăng Quế, đỗ Hương Tiến năm 1819 làm quan đến Cần chánh Điện học sĩ Có người đã đỗ đại khoa như Nguyễn Bá Nghi với học vị Phó bảng, làm quan đến Cơ mật đại thần đã được chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng thán phục

về tài học

Đến nay, hệ thống giáo dục trong tỉnh đã cơ bản đều khắp với 197 trường mầm non, mẫu giáo, 238 trường tiểu học, 165 trường trung học cơ sở, 37 trường trung học phổ

Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi còn có 2 trường đại học, 2 trường cao đẳng, nhiều trường trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương…

Đến nay, Quảng Ngãi đã có 10 trường mầm non, 90 trường tiểu học, 49 trường trung học cơ sở, 8 trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia Chất lượng giáo dục tất cả các ngành học, cấp học luôn được giữ vững

Tỷ lệ cháu suy dinh dưỡng thấp so với bình quân chung trong cả nước Phong trào thi giáo viên dạy giỏi, học sinh giỏi các cấp luôn được duy trì và luôn đạt kết quả cao Bình quân hàng năm có 30% học sinh trung học phổ thông thi và

đỗ vào các trường đại học, cao đẳng trong cả nước

Trang 31

Tổng biên chế lao động toàn ngành hiện có 16.574 người Tính đến nay giáo viên (GV) đã đạt chuẩn trở lên: mầm non: 98,89%; tiểu học: 99,84%; trung học cơ sở: 99,56% trung học phổ thông: 99,55%

*Giao thông vận tải

Quảng Ngãi có hệ thống giao thông khá thuận tiện, bao gồm đường sắt, đường bộ và đường thủy

Tuyến đường sắt xuyên Việt chạy qua Quảng Ngãi dài 98km, có 10 ga,

240 cầu cống Quốc lộ 1A chạy ngang tỉnh dài 104km, có 35 cầu với tổng chiều dài 1.942m, trong đó cầu Trà Khúc dài nhất Hệ thống giao thông đường bộ nội tỉnh dày đặc từ bắc vào nam Về đường biển, Quảng Ngãi có nhiều cảng lớn như Sa kỳ, đặc biệt cảng Dung Quất đạt tiêu chuẩn quốc tế

2.2.4 Con người Quảng Ngãi

Người Việt ở Quảng Ngãi có gốc tích chủ yếu ở vùng Thanh, Nghệ, Tĩnh vào định cư, khai khẩn xây dựng quê hương từ thế kỉ XV, XVI Kế thừa truyền thống ở nơi phát tích, người Việt đã đoàn kết với cư dân bản địa trong quá trình sản xuất, chiến đấu gian nan Trải qua bao thế kỉ chinh phục thiên nhiên, chống áp bức, chống ngoại xâm, con người Quảng Ngãi đã hình thành những nét riêng trong tính cách con nguời Việt Nam

Nói về con người Quảng Ngãi, sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn chép: “ Đất bạc, dân chăm, tính tằn tiện, không

xa hoa, người quân tử thích việc nghĩa, giữ khí tiết; người tiểu nhân thì hám lợi, hay sinh kiện tụng Địa thế tuy hẹp mà khí mạch tốt nên đời nào cũng có người làm đến quan to chức trọng , bước đường thanh thản, chọn được danh vọng Ở thôn quê thì nhiều người sống lâu, học trò thì tư chất thông minh, nhiều kiến thức; duy người giàu bị của cải dời lòng, người nghèo thì thường

Trang 32

khổ vì sinh nhai không đủ, học nghiệp thì phần nhiều không chuyên nhưng nếu biết có chí thì nhiều người thành tựu[17;46]

Về các dân tộc thiểu số ở Quảng Ngãi, sách Đại Nam nhất thống chí cũng có nhận xét: “ Từ xưa đã có phong tục gác chòi để chứa thóc gạo Để

của ở ven khe, không lấy trộm của nhau Đẫu nghèo cực vẫn không ăn xin Ngoài việc săn bắn không cờ bạc chơi bời, tính thuần phác Trai gái không hòa gian”.[17;47]

Ngày nay, tìm hiểu cả quá trình phát triển lịch sử ta có thể thấy rõ nét những truyền thống của con người nơi đây

Truyền thống cần cù lao động: Đây cũng là đặc tính chung của người

Việt Nam song biểu hiện rõ nhất ở vùng đất cằn cỗi này “ Đất bạc” nên “dân chăm” và sinh hoạt “tằn tiện”, mặt khác cũng từ đó mà sản sinh ra những sáng tạo trong lao động Bờ xe nước và những công trình thủy lợi xưa cũng như nghề trồng lúa nước, trồng mía, ép mía lấy đường thủ công và nhiều nghề khác ở Quảng Ngãi cho thấy điều này

Truyền thống hiếu học: có lẽ do những buổi đầu khó khăn khai sơn phá

thạch để xây dựng quê hương nên trong suốt vài thế kỷ chúng ta không thấy gương mặt trí thức có tầm cỡ nào xuất hiện Mãi cho đến đầu thế kỷ XIX có Trương Đăng Quế khai hoa và từ đó mới xuất hiện nhiều văn vật

Truyền thống yêu nước, bất khuất, đoàn kết chống ngoại xâm: đã xuất

hiện từ khá sớm, gắn liền với những tên tuổi như Trần Quang Diệu, Trương Đăng Đồ…Đặc biệt, dâng cao trong suốt thời kỳ thực dân pháp xâm lược và

đô hộ nước ta với hàng loạt chí sĩ yêu nước xuất hiện như: Trương Công Định, Lê Trung Đình, Trần Kỳ Phong, Trương Quang Trọng…Từ khi Đảng

ra đời, truyền thống này của người dân Quãng Ngãi càng được nâng cao với

Trang 33

các cuộc khởi nghĩa Ba Tơ, Trà Bồng…vang dội, với những con người ưu tú như Nguyễn Cát, Trương Quang Tân, Phạm Văn Đồng…

Ngày nay, trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, con người Quảng Ngãi luôn phát huy được những đức tính tốt đẹp nhất, cần cù, sáng tạo, xây dựng quê hương Quảng Ngãi giàu mạnh

2.2 Thực trạng khai thác hệ thống di tích lịch sử - văn hóa Quảng Ngãi

để phát triển du lịch địa phương

2.2.1 Thực trạng hệ thống di tích lịch sử - văn hóa ở tỉnh Quảng Ngãi

Hiện nay, Quảng Ngãi có 27 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia và hơn

150 di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh Các di tích lịch sử văn hóa đều có những giá trị lớn về mặt lịch sử, văn hóa không chỉ riêng của Quảng Ngãi, mà còn là tài sản vô giá của quốc gia Hầu hết các di tích lịch sử văn hóa đều được quy hoạch, bảo tồn và đưa vào phục vụ du khách đến tham quan Do điều kiện khách quan và chủ quan nên tôi chỉ đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu hệ thống

di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia tại Quảng Ngãi

2.2.1.1 Di tích cách mạng

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ vĩ đại của đất nước, Quảng Ngãi là một trong những vùng đất có tinh thần cách mạng quật khởi, góp phần không nhỏ vào cuộc chiến thắng chung của cả nước Điều này được ghi dấu bằng nhiều di tích cách mạng có giá trị

Di tích Huyện đường Đức Phổ

Địa điểm di tích phân bố ở thị trấn Đức Phổ, trong khuôn viên trụ sở Ủy ban nhân dân huyện Đức Phổ, nơi nổ ra cuộc biểu tình lớn đầu tiên của 5.000 quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi

Trang 34

Hưởng ứng cao trào cách mạng 1930-1931 và chia lửa với nhân dân Nghệ Tĩnh, dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành Đảng bộ Quảng Ngãi, Đức Phổ được chọn làm điểm khởi đầu đấu tranh chống địch

Đêm mồng 7 rạng sáng mồng 8/10/1930, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Nghiêm –Bí thư Tỉnh ủy và các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy Quảng Ngãi, huyện ủy, các chi bộ Đảng, ban chỉ huy đấu tranh và Nông hội

đỏ quần chúng Đức Phổ đã vùng lên đấu tranh Cả Đức Phổ như rực lên trong lửa đỏ Tiếng trống dục giã hoà lẫn với tiếng hô vang khẩu hiệu náo động vang dội khắp nơi

Cuộc biểu tình lúc đầu chỉ khoảng 3000 người ở cả 5 ngã kéo đến Đến đâu, nhân dân ở đó lại nhập thêm vào, điều đặc biệt là khá nhiều đoàn phu, đoàn thập và một số lý hương cũng tham gia, lúc đến huyện con số lên đến

5000 người Trước đông đảo quần chúng, các đồng chí trong Tỉnh ủy (Phan Thái Ất và Nguyễn Nghiêm - Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi) đã vạch rõ tội ác của đế quốc Pháp và Nam triều, tuyên truyền đường lối của Đảng và kêu gọi quần chúng đoàn kết đấu tranh

Đến 4h sáng ngày 8/10/1930 đoàn biểu tình kéo về bao vây huyện đường Lá cờ Đảng lớn nhất được treo lên trụ cờ chính trước huyện đường Cuộc đấu tranh của nhân dân Đức Phổ đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ, tinh thần cách mạng của quần chúng được cổ vũ, lực lượng cách mạng được bảo toàn, mở rộng và phát triển, có ảnh hưởng vang dội trong cả nước

Hiện nay, huyện đường Đức Phổ được sử dụng làm nơi làm việc của UBND huyện Đức Phổ, nằm trung tâm huyện lỵ, thuộc thị trấn Đức Phổ Nền nhà cũ của Huyện đường được nâng lên thành nhà 2 tầng, và một bức phù điêu cờ đỏ búa liềm phía trước mặt tiền ngôi nhà được xây dựng Bức phù điêu cao 10m, chân đế vuông, tái hiện lại hình ảnh cuộc biểu tình đánh chiếm

Trang 35

huyện lỵ năm 1930 của nhân dân Đức Phổ, dưới chân là tấm bia đá tóm tắt nội dung lịch sử cuộc đấu tranh ngày 8/9/1930 tại di tích huyện đường Đức Phổ

Di tích đã mở cửa đón du khách các nơi đến tham quan, tìm hiểu và nghiên cứu Đến đây, du khách sẽ cảm nhận được khí thế sục sôi của phong trào cách mạng 1930-1931 ở Quảng Ngãi nói riêng và cả nước nói chung Nó mang một giá trị lịch sử vô cùng quan trọng, là tấm gương cho thế hệ trẻ của dân tộc ta tiếp bước cha ông, bảo vệ nền độc lập này

Tuy nhiên, di tích hiện nay chưa được chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng thu hút khách du lịch Hiện trạng của di tích bị thay đổi quá lớn, khiến du khách không cảm nhận được không gian thực của cuộc biểu tình Lượng khách đến đây còn rất ít, chủ yếu khách đến nghiên cứu, tìm hiểu phong trào cách mạng Quảng Ngãi giai đoạn 1930-1931

Di tích Trụ sở ủy ban kháng chiến hành chính Nam trung bộ

Di tích thuộc thôn Phú Bình, thị trấn chợ Chùa, huyện Nghĩa Hành Tháng 12/1946, nơi đây được chọn để đặt các cơ quan đại diện của trung ương lãnh đạo cuộc kháng chiến, cũng là nơi đặt trụ sở của Ủy ban kháng chiến hành chính Nam trung bộ

Cụm di tích gồm Nhà ông Nguyễn Tương, nhà ông Nguyễn Nhượng, nhà ông Ngô Đồng Đây là nơi ở, làm việc của nhiều cán bộ cách mạng như cụ Huỳnh Thúc Kháng, đồng chí Phạm Văn Đồng

Hiện nay ngôi nhà của ông Nguyễn Tương trở thành nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng Là một chí sỹ yêu nước, cụ Huỳnh cùng với Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp khởi xướng phong trào Duy Tân và bị thực dân Pháp bắt giam tại Côn Đảo Sau khi mãn hạn tù, cụ Huỳnh tham gia hoạt động chiến trường rồi hoạt động báo chí, làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Tiếng Dân-tờ báo

Trang 36

Quốc ngữ đầu tiên ở Trung Kỳ Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, cụ Huỳnh tham gia Chính phủ liên hiệp kháng chiến, giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội

vụ rồi quyền Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Trong chuyến đi kinh lý các tỉnh miền Trung, cụ Huỳnh lâm bệnh nặng và mất tại Quảng Ngãi

Di tích đã được đầu tư tôn tạo mở của hằng ngày cho du khách và nhân dân tới tham quan, thắp hương tưởng nhớ cụ Huỳnh Thúc Kháng Đến đây,

du khách sẽ hiểu thêm được cuộc sống sinh hoạt, làm việc của những con người hy sinh vì nước, vì dân

Quần thể di tích khởi nghĩa Ba Tơ

Di tích nằm ở thị trấn Ba Tơ, huyện Ba tơ, Quảng Ngãi, cách thành phố Quảng Ngãi 60km về phía Tây Nam Lợi dụng thời cơ chính quyền Trung ương của Nhật còn chưa ổn định ở Đông Dương, chính quyền địa phương của Nhật còn chưa tới Ba Tơ, chính quyền Pháp thì bất ổn, tổ chức của Đảng Cộng sản Đông Dương ở Ba Tơ đã lập ra Ủy ban Khởi nghĩa, lãnh đạo quần chúng phá "căng" (nơi an trí tù chính trị) giành chính quyền

Chiều 11 tháng 3, hai cuộc mít tinh lớn do Việt Minh tổ chức tại sân vận động Ba Tơ rồi biến thành cuộc biểu tình tuần hành thị uy kéo đến đồn Ba Tơ Các chỉ huy Pháp và một số lính bỏ đồn chạy trốn, chỉ còn lại người cai đồn

và nhóm lính khố xanh, khố đỏ Sau khi bị quân khởi nghĩa bao vây, họ đều đầu hàng, quân khởi nghĩa cướp được 17 súng, 15 thùng đạn và nhiều quân trang, quân dụng

Ngày 12 tháng 3, Ban chỉ huy cuộc khởi nghĩa tổ chức một cuộc mít tinh, thành lập chính quyền mới Ngày 14 tháng 3, đội du kích Ba Tơ chính thức được thành lập Tháng 4 năm 1945, đội du kích hoạt động ở một vùng của người Thượng trên dãy núi Trường Sơn hiểm trở Khi đội du kích lớn mạnh thì được chia làm 2 đại đội, đại đội Phan Đình Phùng và đại đội Hoàng Hoa

Trang 37

Thám là lực lượng nòng cốt để khởi nghĩa dành chính quyền trong cách mạng tháng 8/1945 ở Quảng Ngãi

Khu trung tâm diễn ra cuộc khởi nghĩa đã được xây dựng nhà Bảo tàng khởi nghĩa Ba Tơ năm 1985, có trưng bày sa bàn, hình ảnh, tư liệu, hiện vật

về đội du kích Ba Tơ, những địa danh gắn liền với cuộc khởi nghĩa Các địa điểm khác như khúc sông Liêng, dốc Ông Tài, suối Loa, hang Én… được Nhà nước đầu tư kinh phí để phục dựng hoặc gắn bia di tích Ngắm nhìn những tranh ảnh, hiện vật, nghe thuyết minh về cuộc khởi nghĩa, du khách hiểu rõ về bản lĩnh và trí tuệ của những tù chính trị, những đội viên du kích Ba Tơ cùng tình đoàn kết của đồng bào các dân tộc anh em ở huyện miền núi Ba Tơ này

Quần thể di tích khởi nghĩa Trà Bồng

Địa điểm di tích nằm tại huyện Trà Bồng và huyện Tây Trà, các huyện vùng cao phía bắc Quảng Ngãi Di tích ghi dấu sự kiện lịch sử diễn ra vào ngày 28/8/1959, nhân dân các huyện vùng cao Trà Bồng dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đứng lên khởi nghĩa, phá xiềng xích của chính quyền Ngô Đình Diệm

Ngày 28.8.1959, khởi nghĩa bùng nổ Binh lính bỏ đồn tháo chạy Bộ máy chính quyền Sài Gòn ở địa phương bị phá bỏ Chính quyền cách mạng dưới hình thức Uỷ ban Nhân dân tự quản được thành lập Cuộc khởi nghĩa có ảnh hưởng thúc đẩy các huyện Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long nổi dậy giành chính quyền Phối hợp với cuộc nổi dậy của quần chúng, các đơn vị vũ trang cách mạng của tỉnh Quảng Ngãi và các nhóm vũ trang tuyên truyền đã mở nhiều đợt tiến công quân sự, chống phản kích của quân đội Sài Gòn, bảo vệ thành quả cách mạng Hơn 40 xã thuộc các huyện miền Tây Quảng Ngãi được giải phóng, tạo ra một thế đứng vững chắc của cách mạng, trên một địa bàn hiểm yếu nối liền với căn cứ cách mạng ở Tây Nguyên Thắng lợi của các

Trang 38

cuộc khởi nghĩa ở Trà Bồng và các huyện miền Tây Quảng Ngãi mở đầu thời

kì đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, góp phần đẩy mạnh cao trào khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền bộ phận của nhân dân Miền Nam trong những năm 1959 -1960

Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi có thể ví như một lượng nổ cực mạnh làm rung chuyển chính quyền nguỵ ở nhiều tỉnh, thành phố, có tác động tích cực đến phong trào đấu tranh chống Mĩ-Diệm không chỉ

ở Quảng Ngãi mà cả Trung Trung Bộ, góp phần thúc đẩy phong trào đấu tranh cách mạng trên toàn miền Nam

Hiện nay, di tích cuộc khởi nghĩa Trà Bồng gồm các điểm: Eo Chim, Đá Liếp, Trà Xuân, Gò Rô, Làng Ngãi….được xây dựng các bia bảng, và xây dựng Bảo tàng Trà Bồng, trưng bày những hiện vật, tư liệu, hình ảnh liên cuộc khởi nghĩa phục vụ khách tham quan Dù được quan tâm đầu tư, tôn tạo nhưng di tích vẫn bị xuống cấp, bị người dân xâm chiếm làm đất nông nghiệp, trồng rừng

2.2.1.2 Di tích chiến thắng

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Quảng Ngãi đã anh dũng đấu tranh và giành không ít chiến thắng vang dội Trong số đó phải nói đến chiến thắng Vạn Tường oanh liệt, chiến thắng Ba Gia, chiến thắng Đình Cương đã góp phần đánh bại các nước thực dân và đế quốc sừng sỏ nhất

Di tích chiến thắng Ba Gia

Di tích thuộc các xã Tịnh Bắc, Tịnh Sơn, Tịnh Bình ở phía tây huyện Sơn Tịnh Trận đánh Ba Gia diễn ra từ đêm 28/4 đến 31/5/1965, do Trung đoàn 1 quân khu V phối hợp với bộ đội địa phương, dân quân du kích tiêu diệt một chiến đoàn chủ lực quân đội Sài Gòn Đây là di tích chiến thắng oanh

Trang 39

liệt của quân và dân ta, góp phần là phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và chính quyền Sài Gòn Hơn một tháng sau, ngày 5/7/1965, trung đoàn 1 quân khu V tấn công tiêu diệt Tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn 51 quân đội Sài Gòn chốt giữ ở đồn Gò Cao

Chiến thắng Ba Gia có ý nghĩa quan trọng cả về mặt chiến thuật và chiến lược, góp phần làm phá sản hoàn toàn chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của

đế quốc Mỹ trong phạm vi toàn miền Nam

Di tích hiện nay đã được khoanh vùng quy hoạch và đầu tư tôn tạo đưa vào phục vụ khách du lịch đến tham quan, tìm hiểu Các địa điểm di tích chiến thắng Ba Gia gồm: núi Khỉ, cầu Miễu Ngói, núi Chóp Nón, đồi Mả Tổ, mỏm Cổ Rùa đã được xây dựng bia bảng Nhưng hiện nay, công tác bảo vệ di tích còn kém, nhiều điểm di tích như núi Khỉ bị đang có nguy cơ bị xóa sổ, do tình trạng khai thác đá bừa bãi của người dân

Di tích chiến thắng Vạn Tường

Di tích nằm ở hai xã Bình Hải, Bình Hòa huyện Bình Sơn Trận dánh Vạn tường diễn ra ngày 18/8/1965 chủ yếu diễn ra trên các thôn Vạn Tường,

An Cường thôn Bình Hải, thôn Lộc Tự xã Bình Hòa

Đúng 6 giờ 15 sáng 18/8/1965, Mỹ cho quân chia ba hướng bao vây khu Vạn Tường Không quân của Mỹ cho xuất kích 20 lần chiếc máy bay ném 18 tấn bom sát thương, bom napalm xuống Vạn Tường và các địa điểm lân cận Ngoài ra, còn có các pháo hạm trên biển bắn phá dọn bãi cho máy bay trực thăng bộ, có 5 xe tăng, 3 xe tăng phun lửa đổ bộ lên An Cường, hình thành vòng vây phía Nam, đánh chiếm thôn An Cường 1 và tiến quân về phía Tây

Và nhiều chiến đội máy bay đổ bộ xuống thôn Bình Phước, Bình Long Bình Thạnh Tây hình thành cánh quân bao vây phía Tây

Trang 40

Từ Chu Lai có 8 xe tăng và 18 xe bọc thép đột kích theo đường bộ vượt sông Trà Bồng đánh xuống, hình thành cánh quân bao vây phía Bắc Ý đồ của

Bộ chỉ huy Mỹ là dồn lực lượng quân giải phóng ra biển, buộc họ phải giao chiến trên địa bàn trống trải Ở đó, không quân, pháo binh và xe tăng - thiết giáp Mỹ có thể phát huy hết khả năng tác chiến

Nhưng kế hoạch đánh chiếm của Mỹ nhanh chóng bị thất bại, và tổn thất không ít Ở phía Tây Nam Vạn Tường, quân Mỹ gặp phải sự chống cự quyết liệt của quân giải phóng, đến trưa 18/8 mới chiếm được thôn An Cường 2 và

đã bị tổn thất khoảng 1 trung đội

Chiều 18/8/1965, quân giải phoáng nằm ngoài vòng vây từ Châu Bình

mở một mũi đột kích đánh vào sau lưng cánh quân đổ bộ đường biển của Mỹ

Bị đánh bất ngờ từ sau lưng quân Mỹ phải xoay chính diện về hướng Tây Nam để chống lại các mũi tập kích Do đó cánh quân này đã bị hở sườn phía Bắc, bị quân giải phóng phản kích và buộc phải lùi về co cụm tại Bình Hòa với sự yểm họ của các xe tăng và trực thăng vũ trang

Phối hợp với chiến trường chính, chiều 18/8/1965, Đại đội 21 địa phương tỉnh Quảng Ngãi mở mũi đột kích sâu từ Tây Hy, qua Thượng Hòa xuống Lệ Thủy, phối hợp với du kích các xã Đồng Lễ và Bình Trị đánh vào sau lưng cánh quân của Mỹ, làm đứt vòng vây giữa cánh Bắc và cánh Nam của Mỹ

Trung đoàn Ba Gia đã rút được phần lớn sở chỉ huy nhẹ và tiểu đoàn 40

ra khỏi vòng vây Riêng đại đội trinh sát phòng ngự độc lập tại Cao điểm 45 (núi Đầm Tái, thôn Vạn Tường) bị tổn thất hầu hết quân số

Trong trận Vạn Tường, quân giải phóng đã đập tan cuộc hành quân

“Starlight” của Mỹ, tiêu diệt 919 lính Mỹ và bắn rơi nhiều máy bay, bắn cháy nhiều xe tăng Chiến thắng Vạn Tường đem lại niềm tin quân và dân ta có thể

Ngày đăng: 25/05/2019, 12:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w