1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên Quảng Nam-Đà Nẵng giai đoạn 1969-1975.

69 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 702,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hòa mình vào phong trào chung của quần chúng nhân dân, lực lượng học sinh, sinh viên đã thể hiện vai trò vừa là “ngòi pháo” vừa là lực lượng “chủ công” trong các phong trào đấu tranh, n

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Học sinh, sinh viên là thành phần quan trọng trong tầng lớp trí thức tiểu tư sản Ngay từ khi ra đời, họ đã có những đóng góp xuất sắc trong phong trào giải phóng dân tộc Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã xung trận với một quyết tâm lớn, một tinh thần quả cảm tuyệt vờí để giành được thắng lợi cuối cùng, bảo vệ được độc lập tự do cho dân tộc Hòa mình vào phong trào chung của quần chúng nhân dân, lực lượng học sinh, sinh viên đã

thể hiện vai trò vừa là “ngòi pháo” vừa là lực lượng “chủ công” trong các phong

trào đấu tranh, nhất là đấu tranh chính trị ở đô thị Chính bộ phận này, với nhiều hình thức đấu tranh đa dạng, sáng tạo và linh hoạt đã trở thành lực lượng xung kích trong việc gây rối loạn nội bộ chính quyền Sài Gòn và từng bước làm thất bại âm mưu của Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam

Tại Quảng Nam - Đà Nẵng, học sinh, sinh viên là một lực lượng rất quan trọng trong phong trào đấu tranh ở đô thị Đặc biệt, họ đã góp phần làm nên 76 ngày đêm làm chủ thành phố Đà Nẵng (1966), là đỉnh cao của phong trào đô thị miền

Nam, góp phần làm thất bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, buộc Mỹ và

tay sai phải xuống thang và thay đổi chiến lược chiến tranh

Trong giai đoạn 1969-1975, Đế quốc Mỹ tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa cuộc

chiến tranh bằng việc thực hiện chiến lược chiến tranh mới - chiến lược “Việt Nam

hóa chiến tranh” với âm mưu thay “màu da trên xác chết” Phong trào học sinh,

sinh viên Quảng Nam - Đà Nẵng ở thời kỳ này cũng phát triển sang một bước mới

và có sự thay đổi về chất Đây là thời kì phong trào phát huy tối đa các hình thức đấu tranh, các biện pháp đấu tranh, huy động tối đa lực lượng tham gia

Tuy nhiên, cho đến nay giới Sử học cả nước và địa phương vẫn chưa có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu về phong trào học sinh, sinh viên Quảng Nam -

Đà Nẵng ở giai đoạn này Các công trình nghiên cứu chủ yếu là hồi ký của những người trực tiếp tham gia phong trào như Lê Công Cơ, Hồ Duy Lệ, Hoàng Phủ Ngọc Phan… Chính điều này đã gây nên những khó khăn trong vấn đề đánh giá vai trò

Trang 3

của lực lượng học sinh sinh viên đối với phong trào đấu tranh đô thị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng Cũng như sẽ không thấy được sự phát triển vượt bậc về mục tiêu và hình thức đấu tranh của học sinh, sinh viên qua các thời kỳ kháng chiến Là một sinh viên nên tôi rất khâm phục tinh thần đấu tranh của học sinh, sinh viên Quảng Nam - Đà Nẵng trong cuộc kháng

chiến chống Mỹ cứu nước Lịch sử mãi ghi công những “chiến sĩ áo trắng” đã học

tập và chiến đấu hy sinh cho mảnh đất này

Với mong muốn giúp thế hệ trẻ hiểu sâu sắc hơn những trang sử hào hùng của dân tộc, nhằm khơi dậy ngọn lửa nhiệt tình, xung kích của thế hệ trẻ đối với

công cuộc xây dựng và phát triển đất nước tôi đã chọn đề tài “Phong trào đấu tranh

của học sinh, sinh viên Quảng Nam-Đà Nẵng giai đoạn 1969-1975 ” làm khóa luận

tốt nghiệp

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Phong trào học sinh, sinh viên nói chung và ở QN - ĐN nói riêng đã được các các học giả và các tập thể, ban ngành nghiên cứu ở một số khía cạnh khác nhau

Hội Sinh viên Việt Nam (1999), Sơ thảo lịch sử phong trào học sinh - sinh

viên Việt Nam và Hội sinh viên Việt Nam, Nxb Thanh niên, Hà Nội Đây là công

trình của Tổng hội sinh viên Việt Nam, viết chung về phong trào của sinh viên Việt Nam từ khi thành lập đến nay chứ không đề cập đến địa điểm cụ thể nào và cũng chưa đề cập đến phong trào của HSSV QN - ĐN trong giai đoạn 1969-1975

Lê Cung (2007), “Phong trào học sinh, sinh viên các đô thị miền Nam trong

kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)”, Một số chuyên đề lịch sử Việt Nam,

nxb Đại học quốc gia Hà Nội Chuyên đề nghiên cứu này chung cho phong trào HSSV toàn miền Nam chứ không đề cập đến một thời gian hay địa điểm cụ thể nào

Bên cạnh những cuốn sách phục vụ trực tiếp vào việc nghiên cứu còn có nhiều cuốn sách sưu tầm những hoạt động của HSSV trong các lĩnh vực văn hóa

nghệ thuật, như: “Tiếng hát những người đi tới”, (Nxb Trẻ, 1993) của Nguyễn

Công Khế Cuốn sách tập hợp các sáng tác về thơ, văn, nhạc, họa và báo chí của HSSV miền Nam chống Mỹ 1969-1975 Qua đó, họ thể hiện sự tinh tế và khéo léo

Trang 4

nhưng hiệu quả của HSSV trong cuộc đấu tranh chống Mỹ và Chính quyền Sài Gòn

Ở QN - ĐN, một số công trình nghiên cứu về lịch sử địa phương đã được

công bố như “Lịch sử Đảng bộ Quảng Nam-Đà Nẵng (1954-1975)” của Tỉnh ủy Quảng Nam-Đà Nẵng, xuất bản năm 1996; “Lịch sử Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng,

tập II (1954-1975)” của Ban Thường vụ Thành phố Đà Nẵng, xuất bản năm 1997…

Những công trình này phản ánh về phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân

QN - ĐN trong kháng chiến chống Mỹ Các công trình này có đề cập đến một số hoạt động của HSSV nhưng chỉ mang tính đơn lẻ, sơ lược

Cùng với các công trình trên còn có công trình “Lịch sử Đoàn thanh niên

cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào thanh thiếu niên tỉnh Quảng Nam 2011)” của Ban chấp hành Tỉnh Đoàn Quảng Nam ấn hành năm 2011 Công trình

(1927-này cũng có đề cập đến phong trào HSSV trong giai đoạn 1969-1975 nhưng rất ít và chưa rõ ràng, không đủ để hiểu sự đóng góp và hoạt động của phong trào

Ngoài ra, còn có một số hồi ký của những người từng tham gia phong trào

như “Năm tháng dâng người” của Lê Công Cơ (Nxb Phụ nữ xuất bản năm 2006),

“Chúng tôi có một thời như thế” của Ban Liên lạc Tổng đoàn học sinh Đà Nẵng

(Nxb Đà Nẵng, năm 2011), “Từ xếp bút nghiên lên đàng đến xuống đường dậy mà

đi” do nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 2010 là tập hồi kí của nhiều nhân chứng đã

từng tham gia vào phong trào, kể lại lại một số hoạt động của phong trào HSSV ở miền Nam, Huế, Đà Nẵng, Tam Kỳ trong kháng chiến chống Mỹ giai đoạn 1954-

1975

Nhìn chung, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên khảo về phong trào HSSV QN - ĐN trong giai đoạn 1969-1975 Những công trình trên chỉ mới đề cập ở mức độ sơ lược một số hoạt động tiêu biểu của phong trào chứ chưa

có sự phân tích, đánh giá, rút ra đặc điểm, cũng như chưa tái hiện được đầy đủ những sự kiện, những đóng góp của phong trào đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở QN - ĐN Dẫu vậy, những công trình này là tài liệu tham khảo bước đầu cho khóa luận của chúng tôi

Trang 5

3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phong trào HSSV QN - ĐN trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giai đoạn 1969-1975 Nhiệm vụ của đề tài là làm rõ nguyên nhân, diễn biến và mục tiêu đấu tranh của HSSV Cuối cùng rút ra tính chất, đặc điểm và ý nghĩa của phong trào

Về phạm vi không gian, khóa luận nghiên cứu phong trào HSSV QN - ĐN giai đoạn 1969-1975 chủ yếu tập trung ở thành phố Đà Nẵng và hai thành phố Hội

An, Tam Kỳ (Quảng Nam)

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng các phương pháp chính của chuyên ngành lịch sử:

Phương pháp sưu tầm, tra cứu, tập hợp các tài liệu liên quan đến đề tài

Phân tích, so sánh đối chiếu các tư liệu kết hợp với việc sử dụng phương pháp logic, phương pháp luận sử học macxit

Đồng thời chúng tôi còn tiến hành khảo sát điền dã tại một số trường, một số địa điểm tại thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam

Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng phương pháp phỏng vấn những nhân chứng lịch sử trực tiếp tham gia phong trào như: ông Phan Duy Nhân, Nhà báo Lê Đức Hùng để tìm hiểu và thu thập tài liệu nhằm làm sáng tỏ cho đề tài nghiên cứu

5 Nguồn tài liệu

Nguồn tư liệu chủ yếu của khóa luận là một số các văn kiện của Đảng bộ Địa phương, một số sách, hồi ký của những người tham gia phong trào, một số công trình nghiên cứu ở tỉnh QN-ĐN Đặc biệt chúng tôi tập trung nghiên cứu các bản báo cáo, văn kiện về phong trào đấu tranh của HSSV QN - ĐN trong giai đoạn Mỹ

tiến hành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” do Ban Tuyên Giáo Thành ủy Đà

Nẵng cung cấp Đồng thời chúng tôi còn gặp gỡ, phỏng vấn một số nhân chứng từng tham gia phong trào này

6.Đóng góp của đề tài

Trang 6

Trước hết, khóa luận sẽ là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho những công trình nghiên cứu về phong trào HSSV phong trào đấu tranh đô thị, lịch sử của địa phương và những ai yêu thích lịch sử

Là công trình chuyên khảo về phong trào HSSV QN - ĐN trong giai đoạn 1969-1975, đề tài hi vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ vai trò, vị trí, sự đóng góp của lực lượng HSSV trong kháng chiến chống Mỹ cũng như trong giai đoạn xây dựng đất nước hiện nay Từ đó, khóa luận có thể giúp ích cho việc tìm hiểu phong trào HSSV QN - ĐN nói riêng và miền Nam nói chung, cho thấy được sự phát triển của phong trào đô thị miền Nam

Qua đề tài này, có thể cung cấp một số nguồn tư liệu có giá trị cho các trường học, các bậc học ở QN - ĐN sử dụng vào việc giáo dục truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng cho thế hệ trẻ, trước hết là thế hệ trẻ ở QN - ĐN

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo thì phần nội dung gồm có 3 chương:

Chương 1: Khái quát pong trào học sinh, sinh viên Quảng Nam – Đà Nẵng trước năm 1969

Chương 2: Phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên giai đoạn 1969-1975

ở Quảng Nam - Đà Nẵng

Trang 7

NỘI DUNG

Chương 1:

KHÁI QUÁT PHONG TRÀO HỌC SINH, SINH VIÊN

QUẢNG NAM-ĐÀ NẴNG TRƯỚC NĂM 1969 1.1 Vài nét về vùng đất và con người Quảng Nam - Đà Nẵng

QN - ĐN1 thuộc khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, tọa lạc ở trung độ của

cả nước Nằm ở vĩ độ từ 15013’ đến 16012’ Bắc và từ 107013’ đến 108044’ kinh độ Đông, có tổng điện tích là 11.989 km2 Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và Kon Tum, phía Tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, phía Đông giáp biển Đông Có thể nói, QN - ĐN là cửa ngõ phía Bắc của địa bàn chiến lược Nam Đông Dương, là một đầu mối quan trọng trên đường hàng hải quốc tế, với hai cảng biển là Đà Nẵng và Chu Lai, đặc biệt là cảng Đà Nẵng

Địa hình QN - ĐN rất đa dạng, có bờ biển dài 150 km, từ đèo Hải Vân đến vịnh Dung Quất với nhiều hải cảng tốt Ngoài ra trên vùng biển QN - ĐN, đảo Cù Lao Chàm và quần đảo Hoàng Sa có vị trí đáng kể về quân sự và kinh tế

Rừng núi chiếm ¾ diện tích tự nhiên, từ biên giới nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, qua các tỉnh Kon Tum, Thừa Thiên Huế kéo xuống tận đồng bằng với nhiều đỉnh núi cao trên 2000m, cây cối trùng điệp, bên trong có nhiều hang động, đèo dốc hiểm trở Các núi Hải Vân, Bà Nà, Phước Tường đều là những vị trí quân sự quan trọng, nhất là từ cao độ của bán đảo Sơn Trà nằm ở hướng đông bắc thành phố có thể kiểm soát được cả vùng biển rộng

QN - ĐN cách Thủ đô Hà Nội 765 km về phía Nam (tính đến Đà Nẵng), cách thành phố Hồ Chí Minh 853 km (tính đến Tam Kỳ) và có hệ thống giao thông thủy, bộ khá hoàn chỉnh, rất thuận lợi cho việc giao lưu văn hóa, kinh tế với các vùng, miền trong nước và khu vực

Do QN - ĐN có vị trí chiến lược quan trọng như vậy nên cả thực dân Pháp

và đế quốc Mỹ đều chọn đây là điểm đổ bộ đầu tiên để mở đầu cuộc chiến tranh

1 QN - ĐN: ngày nay tách thành 2 tỉnh Quảng Nam và Thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung Ương

Trang 8

xâm lược Việt Nam và đế quốc Mỹ cũng đã chọn Đà Nẵng làm nơi tập kết quân sự, biến nơi đây thành căn cứ liên hiệp quân sự lớn thứ hai ở miền Nam

Lịch sử hình thành vùng đất này gắn liền với sự kiện hết sức quan trọng trong hành trình mở cõi về phương Nam của dân tộc Việt Năm 1306, vua Chế Mân

đã dâng hai châu Ô và Lý cho nhà Trần để làm quà cưới công chúa Huyền Trân từ đây một phần lãnh thổ QN - ĐN ngày nay từ bờ bắc sông Thu Bồn trở ra đã thuộc lãnh thổ Đại Việt Sau sự kiện này người Việt ở phía Bắc bắt đầu di cư vào lập nghiệp trên vùng đất Bắc Quảng Nam

Đến thời vua Lê Thánh Tông, sau chiến thắng Trà Bàn (1471) đã thành lập Thừa tuyên Quảng Nam và danh xưng Quảng Nam bắt đầu từ đó Năm 1602, Nguyễn Hoàng đổi tên thừa tuyên Quảng Nam thành dinh Quảng Nam Từ đây, dinh Quảng Nam bao gồm toàn bộ tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng hiện nay

và kéo dài đến Hoài Nhơn (Bình Định) Đến năm 1832, Minh Mạng đổi thành tỉnh Quảng Nam nhưng không thay đổi địa giới Trong thời kì thực dân Pháp xâm lược

nước ta, triều đình Huế đã kí hiệp ước giao Đà Nẵng cho Pháp làm “đất nhượng

địa”

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, do yêu cầu chỉ đạo cách mạng, QN - ĐN đã có hai lần sát nhập và chia tách với những tên gọi khác nhau Tháng 11/1946, Trung ương Đảng quyết định sát nhập Quảng Nam

và Đà Nẵng thành một đơn vị hành chính Đến tháng 2/1950, để động viên nhân dân đẩy mạnh phong trào kháng chiến và xây dựng Đà Nẵng ngang như một tỉnh, Trung ương quyết định tách Đà Nẵng ra khỏi Quảng Nam

Về phía chính quyền Sài Gòn, ngày 31/7/1962, Quảng Nam được chia thành

2 tỉnh là Quảng Nam và Quảng Tín, đồng thời tách Đà Nẵng ra khỏi Quảng Nam để thành lập thị xã Đà Nẵng trực thuộc chính quyền Trung ương Cũng trong thời gian này, vào tháng 11/1962 chính quyền cách mạng chia Quảng Nam thành hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà

Sau khi đất nước thống nhất (1975), Quảng Nam và Quảng Đà lại được sát nhập thành tỉnh QN - ĐN Đến năm 1996, do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội

Trang 9

trong thời kỳ đổi mới, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX đã quyết định tách hai tỉnh QN -ĐN thành hai đơn vị hành chính độc lập trực thuộc Trung ương là tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng

Cư dân và văn hóa của QN - ĐN khá đa dạng Ngoài người Kinh còn có khoảng 30 dân tộc ít người khác sinh sống như: Cơ tu, Ve, Gié Triêng, Xê đăng, Tà ôi… Ngoài ra, trong cộng đồng người Việt còn có người Hoa và người có nguồn gốc Champa mang các họ Ông, Ma, Trà, Chế

Các bằng chứng khảo cổ đã cho thấy con người sinh sống trên mảnh đất này

từ khá sớm Chủ nhân của văn hóa Sa Huỳnh có mặt ở đây cách ngày nay từ 2.500 đến 2.600 năm Đến thế kỷ XV, nhất là nửa cuối thế kỷ XVI, khi người Việt ở các tỉnh phía Bắc di cư vào lập làng và dần trở thành những cư dân chủ yếu ở đây, làm cho QN - ĐN trở thành nơi hòa nhập giao lưu sâu sắc giữa văn hóa Đại Việt với văn hóa Champa Người QN - ĐN dù thuộc tộc người nào, đa số hay thiểu số đều có đặc tính chung là cần cù trong lao động, chất phác, thật thà nhưng cương trực, thẳng thắn trong quan hệ ứng xử, quyết đoán trong hành động, sống chung thủy và trọng nghĩa tình

Quá trình định cư và khai phá xứ Quảng của người dân không diễn ra theo một chiều nhất định phần lớn đi sâu vào phía nam, phía núi trước rồi mới quay lại phía bắc, phía đồng bằng hay ven biển Chính vì thế mà các dòng tộc có hiện tượng thường được rải ra khắp các vùng miền khá xa nhau nhưng vẫn giữ được mối quan

hệ chặt chẽ với nhau Đặc điểm này đã có ảnh hưởng nhất định đến quá trình đấu tranh chính trị trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ

Gia đình của cư dân xứ Quảng là những gia đình của lưu dân cho nên mang tính cởi mở hơn chứ không còn mang tính thuần túy cổ truyền như các gia đình Bắc

Bộ Sống trong kiểu gia đình như thế con người sẽ ngày càng tiếp thu được nhiều thông tin hơn, làm cho họ không chỉ quan tâm đến việc gia đình mà cả những vấn

đề thời cuộc, quốc sự, không chỉ trên lĩnh vực sản xuất kinh tế mà còn cả chính trị, quân sự Đặc điểm này đã tạo cho đấu tranh chính trị mang một hình thái liên kết, phát huy được sức mạnh của cộng đồng dân cư

Trang 10

Tất cả các yếu tố địa lý, con người, không gian xã hội đã hun đúc nên truyền thống yêu nước quý báu: lao động cần cù, sáng tạo, tinh thần thượng võ, hiếu học, thông minh, lối sống giản dị, thẳng thắn, sâu đậm nghĩa tình, tinh thần yêu nước nồng nàn, đấu tranh kiên cường bất khuất, chống mọi kẻ thù xâm lược, truyền thống đó được nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác Điều đó cũng lý giải vì sao

QN – ĐN là nơi đi đầu trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược vào năm 1858, là trung tâm của Nghĩa hội Quảng Nam cuối thế kỷ XIX, là địa bàn khởi xướng của phong trào Duy Tân và Đông Du đầu thế kỷ XX rồi lại trở thành vùng

đất “Trung dũng kiên cường đi đầu diệt Mỹ” Tính quyết liệt và sôi nổi của phong

trào học sinh, sinh viên ở QN – ĐN trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng có những lý do bắt nguồn từ chính truyền thống lịch sử đó

1.2 Truyền thống yêu nước của nhân dân QN-ĐN

Nhân dân QN-ĐN luôn nêu cao ý thức bảo vệ chủ quyền của đất nước khi

có giặc ngoại xâm Ngay từ phát súng đầu tiên của Thực dân Pháp tại cửa biển Đà Nẵng (1-9-1858) thì quân và dân nơi đây đã anh dũng đứng lên chiến đấu chống quân xâm lược Nhân dân QN – ĐN đã tích cực theo đồ đốc Phạm Gia Vĩnh cùng quân đội triều đình do Nguyễn Tri Phương chỉ huy chặn đường tiến của thực dân Pháp Sau gần 20 tháng chiến đấu (từ ngày 01/9/1858 đến ngày 23/3/1860), nhân dân QN-ĐN đã gây cho quân Pháp nhiều tổn thất buộc phải rút bỏ khỏi mặt trận Đà Nẵng Đô đốc Rigault de Genouilly, người trực tiếp chỉ huy các lực lượng hải quân

Pháp đánh chiếm Đà Nẵng đã phải thừa nhận: “Người ta nói rằng xứ này không có

binh lính, quân đội, thì sự thật, quân đội ở đây rất dũng cảm và dân quân gồm tất

cả những người lạnh mạnh trong dân chúng” [5, tr.19]

Sau khi kinh thành Huế thất thủ (5/7/1885), vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở

hạ chiếu Cần Vương kêu gọi văn thân, sĩ phu giúp vua cứu nước Hưởng ứng chiếu Cần Vương, tháng 9-1885, Nghĩa hội Quảng Nam được thành lập do Trần Văn Dư đứng đầu Nghĩa hội Quảng Nam là một bộ phận quan trọng của phong trào Cần Vương ở phía Nam Cuộc kháng chiến do Nghĩa hội Quảng Nam lãnh đạo đã gây cho Pháp và chính quyền phong kiến tay sai nhiều thiệt hại

Trang 11

Năm 1904, Phan Bội Châu thành lập Duy Tân hội tại Quảng Nam với mục

tiêu: “Đánh giặc phục thù, mà thủ đoạn là bạo động” nhằm “khôi phục nước Việt

Nam, lập ra một chính phủ độc lập” Duy Tân hội dấy lên phong trào Đông Du đưa

các thanh thiếu niên Việt Nam sang Nhật học và gắn liền với phong trào này là tên tuổi của các nhà yêu nước QN - ĐN như: Nguyễn Thành, Đỗ Đăng Tuyển, Châu Thượng Văn,… Cùng với hoạt động của Duy Tân hội là phong trào Duy Tân do bộ

ba Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng khơi xướng.Phong trào đã góp phần thức tỉnh tinh thần dân tộc, ý thức tự lực, tự cường của nhân dân cả nước

Có thể nói, những hoạt động bí mật và công khai của Duy Tân hội mà QN - ĐN là nơi khởi phát đã trở thành phong trào yêu nước rộng lớn của nhân dân cả nước đầu thế kỷ XX

Cuối năm 1915, nhân lúc nước Pháp đang xoay xở với quân đội Đức đang ồ

ạt tiến quân vào Pari, các sĩ phu yêu nước mà đứng đầu là Thái Phiên, Trần Cao Vân đã bí mật chuẩn bị cho một cuộc quật khởi mới sẽ tiến hành vào vào đầu năm

1916 Hai ông đã mời vua Duy Tân tham gia khởi nghĩa Tuy nhiên, kế hoạch khởi nghĩa bị lộ Vua Duy Tân bị bắt, nhiều người yêu nước ở QN - ĐN như: Thái Phiên, Trần Cao Vân và Phan Thành Tài bị xử tử, một số khác bị tù đày ở Lao Bảo và các nhà lao ở tỉnh Tuy không thành nhưng cuộc vận động khởi nghĩa đã phản ánh ý chí yêu nước và lòng căm thù của nhân dân QN - ĐN, qua đó cũng thể hiện được khả năng phát động, tổ chức, chỉ huy một phong trào lớn của sĩ phu đất Quảng

Các phong trào yêu nước trên đều không thành công, song đã tạo được một tiền đề thuận lợi, là mảnh đất tốt để hạt giống đỏ của đường lối cách mạng vô sản gieo vào

Đầu những năm 20 của thế kỷ XX, tình hình chính trị ở QN - ĐN có những chuyển biến mới Một số nhà yêu nước bị bắt trong vụ khởi nghĩa 1916 nay hết hạn tù về tiếp tục hoạt động trở lại, tích cực tuyên truyền tư tưởng cứu nước trong nhân dân Cũng trong thời gian này các hội quần chúng ra đời và hoạt động nhằm tương trợ lẫn nhau, bồi dưỡng nâng cao tinh thần yêu nước cho các hội viên

Trang 12

Các tổ chức như: Tân Việt cách mạng đảng và Hội Việt Nam cách mạng thanh niên cũng xuất hiện tại QN -ĐN

Trong giai đoạn này còn có hàng loạt cuộc vận động chính trị dưới các hình thức đòi dân sinh, dân chủ diễn ra ở Đà Nẵng, Tam Kỳ, Hội An… Tiêu biểu phải kể đến tiếng bom của Phạm Hồng Thái cảnh báo tội ác của tên toàn quyền Meclanh; phong trào đòi thả cụ Phan Bội Châu (1925), phong trào để tang cụ Phan Châu Trinh (1926)… Trong thời gian này tại QN - ĐN nhiều sách báo tiến bộ cũng được

lưu hành như báo Tiếng Dân của Huỳnh Thúc Kháng, Tiếng chuông rè của Nguyễn

An Ninh… Đặc biệt là báo Người cùng khổ và Việt Nam hồn của Nguyễn Ái Quốc

được nhiều thanh niên yêu nước bí mật truyền tay nhau Thông qua báo chí, khuynh hướng vô sản đã thâm nhập vào phong trào yêu nước và phong trào công nhân ở

QN - ĐN Năm 1926, tổ chức Tân Việt ở Đà Nẵng được thành lập gồm 1 chi bộ với

8 đảng viên Tháng 9/1927, chi bộ đầu tiên của hội Việt Nam cách mạng Thanh niên (VNCMTN) ở Đà Nẵng được thành lập Đến năm 1928 chuyển lên thành Tỉnh

bộ lâm thời Quảng Nam Chi bộ Hội VNCMTN tiến hành xây dựng, phát triển các

tổ chức quần chúng như Công hội, Nông hội, Hội cứu tế…

Từ khi có sự lãnh đạo của các chi bộ Hội VNCMTN, QN - ĐN đã trở thành nơi có phong trào cách mạng khá nhất so với các tỉnh Trung Kỳ Những cuộc đấu tranh của công nhân liên tiếp nổ ra Những cuộc đấu tranh cho thấy sự trưởng thành

về ý thức chính trị của công nhân và xu thế đi lên tất yếu của phong trào Hội VNCMTN và Tân Việt giữ vai trò là các tổ chức tiền thân cho sự ra đời Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ở QN - ĐN

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời thì vào ngày 28-3-1930, Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Nam được thành lập, mốc đánh dấu phong trào cách mạng QN - ĐN đã chuyển biến mới về chất, bước vào thời kì mới, thời kì đấu tranh theo khuynh hướng vô sản Ngay sau khi thành lập Đảng đã nhanh chóng xây dựng cơ sở quần chúng và phát triển đảng viên

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, ngày 12-3-1945, Ban thường vụ

Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”

Trang 13

Thực hiện chỉ thị, Đảng bộ Quảng Nam đã tiến hành nhiều biện pháp để chuẩn bị lực lượng Ngày 4-5-1945, đội du kích Vũ Hùng được thành lập, làm nòng cốt chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền ở QN-ĐN

Ngày 15-8-1945, nhận được tin Nhật đầu hàng Đồng minh, mặc dù chưa nhận được lệnh khởi nghĩa của Trung ương nhưng qua phân tích tình hình thực tế, Tỉnh ủy Quảng Nam quyết định phát động quần chúng khởi nghĩa Hội An là nơi giành chính quyền sớm nhất trong tỉnh (chiều 17-8-1945), sau đó lan nhanh sang các huyện khác Đến ngày 26-8-1945, cách mạng giành được chính quyền ở Đà Nẵng Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn cùng với cả nước Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở QN -ĐN đã giành thắng lợi Bộ máy thống trị của đế quốc, phong kiến bị sụp đổ hoàn toàn

Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân QN - ĐN vừa đối phó với thù trong giặc ngoài, vừa khẩn trương củng cố chính quyền cách mạng và ổn định đời sống nhân dân

Trong kháng chiến chống Pháp, quân và dân QN - ĐN đã tập trung đập tan nhiều cuộc hành quân càn quét của Pháp ra các vùng tự do, giữ vững vùng giải phóng Căn cứ kháng chiến của QN - ĐN trở thành hậu phương của Quân khu V Thanh niên QN - ĐN tích cực nhập ngũ và tham gia chiến đấu ở các chiến trường Đặc biệt trong chiến dịch Đông - Xuân 1953-1954, các lực lượng vũ trang của QN -

ĐN đã đánh 1.200 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 7.974 tên địch, bắt sống hàng nghìn tên khác, phá hủy 155 xe quân sự và 15 máy bay, đẩy địch vào thế bị động lúng túng và góp hần không nhỏ đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đi đến thắng lợi

Khi hiệp định Genève được kí kết (21-7-1954), chấp hành chỉ thị của Trung ương, mọi hoạt động quân sự ở QN - ĐN tạm thời chấm dứt Cách mạng QN - ĐN bước vào một giai đoạn mới

Ngay sau hiệp định Genève, tại các đô thị QN - ĐN phong trào đấu tranh đòi chính quyền Ngô Đình Diệm thi hành hiệp định diễn ra khá sôi nổi bằng nhiều hình thức phong phú đã thu hút được hầu hết các thành phần khác nhau trong xã hội tham gia

Trang 14

Khi cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm diễn ra (01-11-1963), Tỉnh ủy Quảng Nam và Quảng Đà chỉ đạo các đơn vị địa phương, nhất là các đô thị nhanh chóng tập hợp quần chúng, tấn công mạnh vào chính quyền địch khi chúng chưa ổn định Sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, quần chúng Đà Nẵng phát động phong trào

“Diệt trừ đảng Cần Lao” Trước áp lực của quần chúng, thị trưởng Đà Nẵng phải

từ nhiệm và trốn vào Sài Gòn, chính quyền địch bị tiêu diệt Trong những tháng đầu năm 1964, quần chúng đô thị tiến hành hàng trăm cuộc mitting, biểu tình để tố cáo tội ác của Mỹ - ngụy, đòi quyền dân sinh, dân chủ

Tháng 3 năm 1965, Mỹ cho quân viễn chinh đổ bộ vào thành phố Đà Nẵng

Sự có mặt của quân đội Sài Gòn và tội ác do chúng gây ra làm cho mâu thuẫn dân tộc, giai cấp và xã hội trở nên sâu sắc Phong trào đấu tranh của nhân dân, đặc biệt

là phong trào đô thị đã bùng lên mạnh mẽ và luôn duy trì, phát triển trong suốt thời chống Mỹ Trong giai đoạn này nhân dân QN - ĐN đã hai lần làm tê liệt toàn bộ chính quyền Mỹ - ngụy làm chủ hoàn toàn thành phố trong 9 ngày đêm năm 1964

và 76 ngày đêm năm 1966 Ngày 30-3-1966, tại Đà Nẵng đã diễn ra cuộc xuống đường với quy mô lớn của hơn 10.000 người, cùng với 1.457 xe tải và biểu ngữ chống Mỹ, chống Thiệu-Kỳ Tuy trong thời gian không dài chỉ có 76 ngày đêm và không giành được thắng lợi trọn vẹn nhưng nó đã cho thấy được tinh thần đòi độc lập và dân chủ của nhân dân QN-ĐN Như vậy, chúng ta có thể thấy được rằng truyền thông yêu nước của nhân dân QN-ĐN đã được hình thành từ rất sớm và được tôi luyện qua các thời kì của lịch sử Từ những phong trào đấu tranh mang tính tự phát của các chí sĩ, các nhà Nho phát động cho đến khi Đảng được thành lập thì những phong trào đấu tranh của quần chúng đã được nâng lên từng bước từ thấp đến cao và ngày càng sôi nổi hơn, nhất là kể từ sau khi quân Mỹ vào nước ta Trải qua một quá trình dài quần chúng đã được chuẩn bị tốt hơn về mặt tổ chức và đã đem lại nhiều bài học kinh nghiệm bổ ích để chuẩn bị cho một giai đoạn mới cam

go và quyết liệt hơn

1.3 Phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên trước năm 1969

Trang 15

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở QN - ĐN, có rất nhiều phong trào đấu tranh của nhiều tầng lớp, giai cấp, thành phần trong xã hội như phụ

nữ, nông dân, lực lượng vũ trang, … Nhưng đặc biệt hơn cả vẫn là lực lượng

HSSV, bao giờ cũng đông đảo, sôi nổi nhất, luôn là “ngòi pháo” mở đầu cho các

phong trào đấu tranh Đây là lực lượng hoạt động chủ yếu ở các đô thị, ở các khu trung tâm Xuyên suốt lịch sử đấu tranh của phong trào HSSV có thể chia thành các giai đoạn:

Do vị trí trọng yếu của mình, QN - ĐN trở thành một trong những địa điểm đánh phá của bọn Mỹ - Diệm Ngay sau khi vừa tiếp quản vùng tự do của ta, Mỹ-Diệm đã tiến hành truy lùng đánh phá các tổ chức cách mạng, kìm kẹp nhân dân, chúng câu kết với bọn phản động địa phương ra sức bắn giết nhân dân ta, gây ra nhiều vụ tàn sát đẫm máu

Trước hành động khủng bố ngày càng tàn bạo đó, nhân dân QN - ĐN mà nhất là những người trẻ tuổi đã đứng lên đấu tranh chống lại đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm Ngày Quốc tế Lao động (1-5-1955), lực lượng thanh niên học sinh cùng với các hàng vạn đồng bào, công nhân tổ chức mít tinh, biểu tình đòi cải thiện đời sống, đòi tự do ngôn luận, chống đàn áp, khủng bố, đòi hiệp thương thống nhất đất nước

Ngày 25-10-1955, Ngô Đình Diệm tổ chức “Trưng cầu dân ý” bầu cử Quốc

hội nhằm hợp thức hóa việc phế truất Bảo Đại để đưa Ngô Đình Diệm lên ghế Tổng

Trang 16

thống Dù Ngô Đình Diệm ra sức cưỡng bức, nhưng cùng với nhân dân, thanh niên

học sinh ở nhiều nơi đã tham gia đấu tranh với các khẩu hiệu: “Đòi hiệp thương

tổng tuyển cử, đòi hòa bình, chống trưng cầu dân ý, chống bầu cử Quốc hội kết hợp với phong trào đòi dân sinh, dân chủ” được diễn ra ở khắp các nơi trong địa bàn

QN - ĐN [2, tr 83]

Để chống chính sách “tố Cộng”, “diệt Cộng” của Ngô Đình Diệm, cùng với

nhân dân, nhiều thanh niên đấu tranh bằng cách không dự các cuộc mít ting, biểu tình do địch tổ chức, lên án hành động đánh người vô cớ, bảo vệ cán bộ của kẻ địch Nhiều cán bộ, đoàn viên bị địch tra tấn dã man nhưng vẫn giữ vững khí tiết, thà chết chứ không đầu hàng, một số còn rạch bụng chết một cách oanh liệt trước mặt quân thù Và tiêu biểu cho tấm gương dũng cảm của thanh niên, học sinh Quảng Nam thời kì này là đoàn viên Trần Thị Lý2

Dưới sự chỉ huy của Khu ủy, cuộc đấu tranh chống “tố Cộng” của nhân dân

QN - ĐN diễn ra dưới niều hình thức khác nhau Tháng 8-1955, nhân dân Đà Nẵng

và Hội An rải truyền đơn, dán biểu ngữ ở các bến chợ, trường học, cầu tàu, … với

nội dung “phản đối hành động khủng bố trả thù”

Cuối năm 1959, theo chủ trương của Tỉnh ủy QN - ĐN, Lê Công Cơ đã xây

dựng được một “bàn đạp” để đưa thanh niên, học sinh ra các thành phố, thị xã của

QN-ĐN, những nơi mà lần đầu tiên họ được đặt chân đến

Giai đoạn 1954-1960, phong trào cách mạng Việt Nam chủ yếu diễn ra dưới hình thức đấu tranh chính trị, sôi nổi nhất là các cuộc đấu tranh công khai ở các đô

thị đòi thi hành hiệp định Gèneve, chống chiến lược “tố Cộng, diệt Cộng” của Mỹ

và chính quyền Sài Gòn đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ Các phong trào này đã thu hút được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, trong đó có lực lượng HSSV Trong giai đoạn này, lực lượng HSSV mới chỉ bước đầu tham gia vào phong trào đấu tranh ở các đô thị cùng các tầng lớp khác trong xã hội, chứ chưa hình thành một phong trào rộng lớn với những hoạt động riêng do lực lượng HSSV tự tổ chức

2 Trần Thị Lý (Trần Thị Nhâm): sinh ngày 30-12-1933, tại xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam Tham gia phong trào lúc 13 tuổi và phụ trách phong trào thiếu nhi huyện Điện Bàn

Trang 17

Lực lượng HSSV tham gia vào phong trào cũng còn khá khiêm tốn, chủ yếu là các học sinh tích cực chứ chưa lôi kéo được số đông HSSV tham gia

1.3.2 Giai đoạn 1961-1965

Đến năm 1961, “Chiến lược Ai-xen-hao” của đế quốc Mỹ áp dụng tại chiến

trường miền Nam bị thất bại hoàn toàn Lên thay Ai-xen-hao, Giôn Ken-nơ-đi đã

đưa ra chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” với kế hoạch Xtalay-Taylo nhằm bình

định miền Nam trong vòng 18 tháng

Trước âm mưu thủ đoạn mới đầy nham hiểm của Mỹ-Diệm phong trào cách mạng ở miền Nam tiếp tục dâng cao Trong bối cảnh đó, tháng 1-1959, Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung Ương Đảng đã được tiến hành tại Hà Nội Bộ chính trị, Trung ương Đảng ra chỉ thị về phương hướng chiến lược về nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới là đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang Nghị quyết 15 có ý nghĩa vô cùng to lớn, đáp ứng nhu cầu bức thiết của cách mạng miền Nam lúc đó, đã làm xoay chuyển tình thế và đưa cách mạng miền Nam tiến lên, thoát khỏi cơn nguy hiểm

Nghị quyết 15 đã thổi bùng ngọn lửa “đồng khởi” trên nhiều vùng rộng lớn ở miền

Nam

Sau phong trào Đồng Khởi, cùng với sự ra đời của Mặt trận Dân tộc giải

phóng miền Nam (20-12-1960), Hội Liên hiệp thanh niên Giải phóng miền Nam

cũng được thành lập

Ở Đà Nẵng, đến giữa năm 1961, lực lượng cách mạng đã dần khôi phục và phát triển cơ sở trong học sinh và tổ chức được phong trào học sinh trong lực lượng

này Tháng 12-1961, Hội liên hiệp Sinh viên - Học sinh giải phóng Đà Nẵng được

thành lập với những thành viên đầu tiên gồm: Nguyễn Văn Sơn (tức Sơn Hải) thư

ký, Nguyễn Ngọc Trình, phó thư ký, Phạm Thị Cẩm Nhung - ủy viên Thường vụ,

Hoàng Lâm - ủy viên Hội đã cho ra đời tổ báo “Đoàn kết”, sau đó đổi tên thành

“Hướng sống” để cổ vũ, tuyên truyền vận động thanh niên vào tổ chức Lực lượng

học sinh có chi hội ở các trường Phan Châu Trinh, Nguyễn Công Trứ, Sao Mai, Bán Công, Tây Hồ

Trang 18

Để chống âm mưu bắt lính, trong những năm 1961-1962 ở QN - ĐN đã dấy lên phong trào khai sụt tuổi trong thanh niên, học sinh, khai ốm đau, không chịu tập quân sự Ngoài ra, các gia đình có con em bị bắt đi lính kéo đến bến xe, sân ga để khóc lóc, đòi lại con làm cho chính quyền địch ở đây phải tìm mọi cách để đối phó

Từ giữa năm 1963, phong trào đấu tranh chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm ở miền Nam dâng cao Ngày 1-8-1963, hơn 1000 thanh niên, học sinh đã tham gia cuộc biểu tình đi bộ từ Đà Nẵng vào Hội An nhằm phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm Đến ngày 18-9-1963, 10.000 thanh niên và nhân dân ở Đà Nẵng đã

tổ chức biểu tình qua các đường phố và hô vang các khẩu hiệu “Đả đảo đế quốc

Mỹ” khiến cho quân Mỹ phải ra lệnh cấm trại toàn thể học sinh của các trường

trung học ở Đà Nẵng

Trước âm mưu muốn biến trường học thành nơi bắt lính và trung tâm văn hóa nô dịch của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, ở Đà Nẵng, từ năm 1963-1964 chi đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng trường Phan Châu Trinh đã ra đời hoạt động mạnh mẽ và trở thành một trong những trung tâm đầu não của phong trào thanh niên, học sinh ở Đà Nẵng Các trường trung học ở Đà Nẵng, Hội An, Tam Kỳ các hình thức tổ chức công khai của Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng, học sinh cũng được phát triển rộng rãi Tổ chức Đoàn, Hội Thanh niên trở thành hạt nhân trung kiên của phong trào đấu tranh tuổi trẻ học đường

Sau cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm (1-11-1963), quần

chúng phát động phong trào “Diệt trừ đảng Cần Lao” Thanh niên và học sinh đã

không ngừng tố giác, truy bắt bọn chúng và tấn công chính quyền khiến cho Thị trưởng Đà Nẵng phải từ chức và bỏ trốn vào Sài Gòn Trong lúc đó thanh niên Phật

tử Đà Nẵng đã tổ chức hội thảo về chủ đề “Trước tình hình hiện tại của đất nước

thanh niên phải làm gì? Tại sao có chiến tranh?” nhằm xác định lí tưởng, nâng cao

lòng yêu nước, động viên nhân dân đẩy mạnh đấu tranh

Cùng với những chiến thắng liên tiếp về quân sự, binh vận, phong trào đấu tranh chính trị ở các vùng thành thị vẫn diễn ra dưới nhiều hình thức linh hoạt như

Trang 19

biểu tình, bãi khóa, tuyệt thực… thu hút được sự tham gia đông đảo của tầng lớp thanh niên, học sinh, sinh viên

Ngày 16-8-1964, Nguyễn Khánh cho ra đời “Hiến chương Vũng Tàu” Với hiến chương này, Nguyễn Khánh nắm giữ chức vụ: “Chủ tịch Việt Nam cộng hòa” kiêm Thủ tướng Chính phủ và chủ tịch “Hội đồng quân nhân”, thực chất là thiết lập

chế độ độc tài quân phiệt

Để phản đối “Hiến chương Vũng Tàu”, ngày 22-8-1964, “Lực lượng học

sinh tranh đấu Đà Nẵng” được thành lập Ngày 24-8-1964, cùng với các đô thị

khác trên toàn miền Nam, hàng vạn quần chúng Đà Nẵng xuống đường biểu tình Đoàn biểu tình “hội quân” tại hội trường Trưng Vương, đoàn biểu tình tuần hành

qua các phố, giơ biểu ngữ và hô các khẩu hiệu: “Tranh đấu cho tự do, dân chủ,

công bằng xã hội”, “Phản đối Hiến chương Vũng Tàu ngày 16 -8-1964”; “Giải tán hội đồng quân nhân cách mạng”; “Đả đảo chế độ độc tài quân phiệt”; “Cương quyết tiêu diệt bọn dư đảng Cần lao”… [36, tr 249-250] Các thí sinh đang thi Tú

tài cũng bỏ thi để xuống đường tham gia đấu tranh

Trong lúc đoàn biểu tình đang tuần hành thì lính Mỹ trong cư xá Đống Đa

đã nổ súng khiêu khích Cũng lọi dụng tình hình đó thì dư đảng của đảng Cần lao ở khu Thanh Bồ - Đức Lợi đã ném lựu đạn, nổ súng vào đoàn người làm 13 người chết và 105 người bị thương Hành động dã man này đã khiến quần chúng thêm căm phẫn

Từ Đà Nẵng, phong trào nhanh chóng lan rộng đến các đô thị Hội An và Tam Kỳ Tại thị xã Hội An, ngày 25-8-1964, có hơn 1000 học sinh biểu tình tuần

hành qua các đường phố để phản đối “Hiến chương Vũng Tàu” Cùng ngày đó, tại Tam Kỳ, hàng ngàn học sinh đã biểu tình với các khẩu hiệu: “Đả đảo bản Hiến

chương ngày 16-8-1964 đưa đến độc tài quân phiệt”, “Yêu cầu hội đồng quân đội cách mạng trao trả quyền hành cho chính phủ dân sự”

Cùng với Huế và Sài Gòn, phong trào đấu tranh phản đối “Hiến chương

Vũng Tàu” ở các đô thị QN - ĐN đã làm cho không khí chính trị ở miền Nam mang

tính chất bạo động Nói về điều này, một quan chức của Mỹ ở Sài Gòn đã phải thốt

Trang 20

lên rằng: “Tình hình này có nghĩa là trao sự lãnh đạo cho dân đường phố Các kế

hoạch chống Việt Cộng lại một lần nữa bị ngưng trệ hết sức tệ hại”[21, tr 80]

Trước cường độ ngày càng cao của phong trào, đến chiều ngày 25-8-1964,

Nguyễn Khánh đã ra “Tuyên cáo” chấp nhận xóa bỏ “Hiến chương Vũng Tàu” và

giải tán Hội đồng quân đội cách mạng kể từ ngày 27-8-1964 vầ quân đội của Việt Nam cộng hòa cũng sẽ trở về với nhiệm vụ trước đây của mình

Trong những ngày cuối tháng 8 đầu tháng 9 năm 1964, tại Đà Nẵng nhân

dân và HSSV liên tục đấu tranh chống Khánh, chống “Hiến chương Vũng Tàu”,

đập phá nơi ở của bọn dư đảng Cần lao và chiếm đài phát thanh để phát đi tin thắng lợi và kêu gọi mọi người tham gia đấu tranh Nó đã làm cho chính quyền địch ở cả thành phố bị tê liệt, nhân dân đã làm chủ được thành phố trong vòng 9 ngày đêm

Còn tại Quảng Nam, trong hai ngày 27 và 28-8-1964, hàng ngàn học sinh

đã biểu tình, diễu hành qua các đường phố rồi bao vây Tỉnh tòa Quảng Nam Tại nơi đây thì bản tuyên ngôn của HSSV đã được công bố với nội dung chủ yếu là:

“Bãi bỏ toàn vẹn bản Hiến chương ngày 16-8-1964, trả các tướng lĩnh “Hội đồng quân đội”về mặt trận và trao quyền hành pháp cho một chính phủ dân sự; sớm bãi

bỏ tình trạng khẩn trương và tái lập quyền tự do ngôn luận; thanh toán dứt khoát

dư đảng Cần lao và tay sai của chế độ cũ” [23, tr 61]

Giữa lúc phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam nói chung, nhân đan Quảng Nam nói riêng đang phát triển sôi nổi thì có một sự kiện đã làm chấn động

cả dư luận thế giới và trong nước Ngày 15-10-1964, anh Nguyễn Văn Trỗi - người con ưu tú của mảnh đất xứ Quảng đã hi sinh anh dũng tại pháp trường Chí Hòa Sau

sự kiện này, khắp các huyện, thị, thành phố không khí cách mạng dâng lên như vũ bão đã làm rung chuyển ngụy quyền Sài Gòn Thanh niên, HSSV đã tổ chức nhiều đêm hội thảo, sinh hoạt để học tập theo tấm gương của Anh - người đoàn viên ưu tú

và với quyết tâm trả thù cho Anh Hàng trăm học sinh các trường trung học ở Đà Nẵng, Duy Xuyên, Hội An, Tam Kỳ đã bí mật xung phong thoát li ra chiến khu để gia nhập vào tiểu đoàn Nguyễn Văn Trỗi

Trang 21

Trước sự mạnh mẽ của phong trào, ngày 25-10-1964, Nhà Trắng đã nhượng

bộ bằng cách cho thiết lập chính quyền dân sự thay cho chính quyền quân sự Phan Khắc Sửu được đưa lên làm Quốc trưởng và Trần Văn Hương được chỉ định làm Thủ tướng

Sau khi âm mưu chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” thất bại, chính quyền

Giôn-xơn lại tiếp tục chuyển sang một chiến lược chiến tranh mới, chiến lược

“Chiến tranh cục bộ” Địa bàn Quảng Nam và Quảng Đà là mục tiêu quan trọng

của chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ Mỹ cũng đã chọn Đà Nẵng

làm nơi đổ quân đầu tiên vào chiến trường miền Nam Ngày 8-3-1965, hai tiểu đoàn Thủy quân lục chiến đổ bộ vào bãi biễn Đà Nẵng, mở đầu cho việc triển khai chiến

lược “Chiến tranh cục bộ” Quân đội Mỹ phối hợp với quân đội Sài Gòn đã tiến hành nhiều cuộc tiến công “tìm diệt” và “bình định” ở quanh các nơi chiếm đóng

và ráo riết thực hiện phương châm “giết sạch, đốt sạch, phá sạch”

Từ đầu năm 1965, phong trào cách mạng QN-ĐN được củng cố và từng bước phát triển Song song với phong trào của đoàn viên, thanh niên ở nông thôn là

“Năm xung phong” thì ở thành phố các cấp bộ Đoàn đã phát động phong trào “Xếp bút nghiên” ra căn cứ làm cách mạng

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương và Khu Đoàn 5, Đoàn Thanh niên và Hội Liên hiệp thanh niên các cấp đã liên tục tiến hành nhiều biện pháp giáo

dục cho tuổi trẻ toàn tỉnh tư tưởng “Không sợ Mỹ, dám đánh Mỹ, quyết đánh thắng

Mỹ” Quyết tâm này đã trở thành hành động cụ thể của tuổi trẻ QN-ĐN lúc này

Ngày 16-7-1965, máy bay Mỹ ném bom xuống trường tiểu học Mân Quang làm 45 học sinh chết Bức xúc trước tội ác này, nhân dân Hòa Vang đã tham gia đấu tranh đưa xác các em tiến thẳng về Đà Nẵng, bao quanh tòa thị chính, hô vang các khẩu hiệu lên lên án tội ác của Mỹ, đòi Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, bồi thường thiệt hại…

Phong trào học sinh, sinh viên ở QN-ĐN trong giai đoạn này đã chứng tỏ rằng phong trào không ngừng phát triển từ thấp đến cao, càng về sau càng quyết liệt Tiêu biểu là sự kiện học sinh, sinh viên góp phần làm chủ Đà Nẵng trong 9

Trang 22

ngày đêm trong phong trào đấu tranh phản đối “Hiến chương Vũng Tàu” năm 1964

Thông qua phong trào, ý thức dân tộc đã không ngừng được nâng lên, sự giác ngộ chính trị cũng ngày được nâng cao

1.3.3 Giai đoạn 1966-1968

Bước sang năm 1966, tình hình chiến trường ở QN-ĐN chuyển sang một giai đoạn mới ác liệt hơn Sự có mặt của quân đội Mỹ và tội ác do chúng gây ra làm cho mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp trở nên sâu sắc hơn Phong trào đấu tranh của nhân dân chỉ chờ cơ hội bùng nổ Việc Mỹ cách chức Nguyễn Chánh Thi

đã gây sự phẫn nộ trong sĩ quan, binh lính Vùng I chiến thuật và các lực lượng đối lập với Thiệu - Kỳ, nhất là Phật giáo, là cái cớ để phát động phong trào đấu tranh chống Mỹ - Thiệu -Kỳ

Nhân cơ hội nổi dậy của quần chúng, cơ sở cách mạng ở Đà Nẵng đã cử anh Vĩnh Kha - Chủ tịch Tổng Hội sinh viên, học sinh cùng một số thanh niên là cơ

sở của ta tham gia vào các tổ chức thanh niên, học sinh, Phật tử… để hướng các hoạt động đấu tranh theo chủ trương của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam

Tại thị xã Hội An, ngày 12-3-1966, lực lượng học sinh đã dùng xe Jeep của

Ty Điền Địa Quảng Nam, có biểu ngữ và máy phóng thanh, chạy khắp các ngã đường kêu gọi nhân dân thị xã tham gia đấu tranh chống Mỹ - Thiệu - Kỳ

Tại Tam Kỳ, chiều ngày 13-3-1966, dưới sự chỉ đạo của “Ủy ban quân dân

Vùng I chiến thuật”, lực lượng quần chúng gồm Phật tử, thanh niên, giáo viên, học

sinh các trường trung học đã chiếm Ty Thông tin Quảng Tín, lấy nơi đây làm trụ sở

và dùng xe phóng thanh của cơ quan này chạy khắp các ngả đường để kêu gọi nhân dân tham gia đấu tranh bài trừ tham nhũng, ủng hộ Nguyễn Chánh Thi

Cùng ngày này tại Đà Nẵng, lực lượng thanh niên học sinh đã ra lời kêu gọi truyền đi khắp thành phố, kêu gọi đồng bào vùng dậy đấu tranh lật đổ ngụy quyền tay sai, đòi hòa bình, độc lập Tất cả các học sinh ở các trường trung học đều bãi khóa xuống đường cùng với phong trào quần chúng đình công, bãi chợ

Trang 23

Ngày 15-3-1966, Tổng Hội sinh viên và Đoàn sinh viên Phật tử Huế cử đại diện vào Đà Nẵng để phối hợp và hỗ trợ phong trào đấu tranh Ngày 18-3-1966, tại hội trường Trưng Vương, lực lượng này đã cùng với thanh niên, sinh viên và Phật

tử Đà Nẵng tổ chức hội thảo bàn về “tác hại của đồng đô la” và “vấn đề cướp

nước, bán nước”, lên án sự xâm lược của Thiệu - Kỳ Phong trào đấu tranh ở

QN-ĐN nhờ đó được kích thích và phát triển mạnh mẽ

Ngày 24-3-1966, đại đội thanh niên học sinh “bài trừ gian thương” ra đời

Đà Nẵng đặt trong tình trạng khẩn trương Các tổ chức học sinh biệt động thành, tổ học sinh cảm tử, đội tự vệ thanh niên công nhân và thanh niên học sinh vũ trang phát huy tác dụng xung kích hoạt động trên tất cả các lĩnh vực đấu tranh trong phong trào quần chúng Từ cuối tháng 3, phong trào chuyển sang một bước phát triển mới, cả Đà Nẵng vùng lên đã làm tê liệt mọi hoạt động của địch trong thành phố Học sinh, sinh viên tổng bãi khóa, thanh niên công nhân tổng đình công… làm cho chính quyền hết sức lúng túng

Ngày 02-04-1966, tại Đà Nẵng, công nhân và công chức đình công, bãi thị, học sinh bãi khóa Dự đoán chính quyền Sài Gòn sẽ đàn áp phong trào, tại Tam Kỳ,

Quốc dân đảng lôi kéo một bộ phận thanh niên, học sinh để thành lập “Ban đại diện

học sinh liên trường Quảng Tín” và rải truyền đơn phản đối các cuộc đấu tranh của

“Lực lượng nhân dân tranh thủ cách mạng”

Ngày 2-4-1966, tại Hội An, học sinh các trường trung học và tiểu học tiếp tục bãi khóa để tham gia cuộc mít tinh tại chùa Tỉnh hội Phật giáo

Ngày 04-04, Thiệu - Kỳ đã đưa quân từ Sài Gòn ra để đàn áp phong trào,

nhưng trước làn sóng đấu tranh của “lực lượng thanh niên tranh thủ cách mạng”

chống trả quyết liệt buộc chúng phải rút về

Phản ứng trước việc Thiệu-Kỳ đưa quân ra đàn áp ở Đà Nẵng, Tổng hội

sinh viên Huế thành lập “Đoàn sinh viên quyết tử” (5-4) gồm 500 người và sau đó

cử một bộ phận vào chi viện Đà Nẵng và Tam Kỳ Ngày 13-4-1966, một đơn vị khoảng 200 người của Tổng hội sinh viên và Đoàn sinh viên quyết tử của Huế có vũ trang tiến vào Tam Kỳ Lực lượng này cùng thanh niên, học sinh, Phật tử Tam Kỳ

Trang 24

tấn công mạnh vào bọn phản động làm cho Tỉnh trưởng Quảng Tín Nguyễn Thành Toại buộc phải xin từ chức

Cùng với các tầng lớp, giai cấp, thành phần khác nhau trong xã hội, lực lượng HSSV đã tham gia vào cuộc nổi dậy làm chủ thành phố Đà Nẵng trong 76 ngày đêm (10/3 – 24/5/1966) Tuy không giành được thắng lợi trọn vẹn, nhưng xuyên suốt phong trào đã cho thấy được tinh thần đòi độc lập và dân chủ Phong trào thực sự là một cuộc nổi dậy có quy mô lớn, đã chứng tỏ được sự liên kết hành động của nhân dân Đà Nẵng với các đô thị miền Nam, trong đó có cả lực lượng HSSV

Ngày 3-9-1967, Thiệu - Kỳ tổ chức bầu cử Tổng thống và Thượng nghị viện để hợp thức hóa việc cầm quyền của chúng Nhân dân toàn thành phố đã xuống

đường đấu tranh chống Mỹ - ngụy Ngày 5-9-1967, “Lực lượng thanh niên, học

sinh, sinh viên tranh thủ dân chủ” kêu gọi nhân dân thành phố xuống đường lên án

cuộc bầu cử gian lận của Thiệu - Kỳ, không thừa nhận kết quả và đòi xóa bỏ cuộc bầu cử này

Nhìn chung, giai đoạn 1966-1968, phong trào HSSV diễn ra rộng khắp ở các đô thị QN - ĐN và được duy trì trong mọi điều kiện Trong giai đoạn này phong trào đã thể hiện được tinh thần xung kích, đi đầu, luôn có mặt ở mọi nơi, những lúc khó khăn nhất của lực lượng học sinh, sinh viên Lực lượng học sinh, sinh viên đã cùng các tầng lớp nhân dân QN-ĐN đạt đến đỉnh cao trong sự kiện 76 ngày đêm làm chủ thành phố Đà Nẵng (1966), gây tiếng vang trong cả nước và được báo chí đưa tin

Tóm lại, phong trào học sinh, sinh viên ở QN - ĐN trước năm 1969 diễn ra liên tục, mạnh mẽ với nhiều hình thức phong phú Phong trào ở các giai đoạn sau phát triển trên một bước cao hơn so với giai đoạn trước Giai đoạn 1954-1968, phong trào đi từ đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, chống khủng bố, đòi bình đẳng tôn giáo, … dần đi đến tấn công trực diện kẻ thù Phong trào đã góp phần cùng với các phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân lật đổ nền “Đệ nhất cộng hòa” của Ngô Đình Diệm, làm cho ngụy quyền ở các đô thị-nơi tưởng chừng như là hậu

Trang 25

phương vững chắc nhất của Mỹ và chính quyền tay sai trở nên rối loạn, khủng hoảng ngay từ bên trong Nhận định về phong trào, Tỉnh ủy Quảng Nam đã có nhận

xét: “Trong những năm gần đây, phong trào của Đoàn thanh niên có nhiều tiến bộ,

nhất là tư tưởng và tổ chức”[2, tr 138]

Chương 2:

PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA HỌC SINH, SNH VIÊN TRONG GIAI

ĐOẠN 1969 – 1975 Ở QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG 2.1 Chính sách thống trị của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở Quảng Nam - Đà Nẵng giai đoạn 1969 - 1975

Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân là cột mốc đánh dấu sự thất

bại của “chiến tranh cục bộ”, góp phần quan trọng làm phá sản chiến lược quân sự toàn cầu “phản ứng linh hoạt” của đế quốc Mỹ Sau khi trúng cử Tổng thống, chính

thức bước chân vào Nhà Trắng (20-1-1969), Nich-xơn và những người cầm quyền nước Mỹ nhận thấy những thất bại liên tiếp của Mỹ trên thế giới, nhất là ở Việt Nam đã và đang làm biến đổi cán cân trên thế giới không có lợi cho Mỹ Vì vậy,

Mỹ chủ trương điều chỉnh chiến lược hòng tiếp tục thực hiện chính sách bá chủ toàn cầu và duy trì thống trị ở miền Nam bằng chủ nghĩa thực dân mới Đế quốc Mỹ đề

ra chiến lược toàn cầu mới mang tên “Học thuyết Ních xơn” và chiến lược quân sự

“răn đe thực tế” thay cho chiến lược “phản ứng linh hoạt” đã bị phá sản “Học thuyết Ních xơn” được thực hiện thí điểm ở Việt Nam và Đông Dương, học thuyết

này được vận dụng cụ thể trong những chiến lược chiến tranh của từng nước Ở

Việt Nam, “học thuyết Ních xơn” được cụ thể hóa bằng chiến lược “Việt Nam hóa” chiến tranh Chiến lược này được đề ra trên cơ sở điều chỉnh chủ trương “phi Mỹ

hóa” chiến tranh của Giônxơn với mục đích rút dần quân Mỹ về nước, tránh những

Trang 26

tổn thất lớn hơn đối với quân viễn chinh Mỹ Với quá trình chuyển giao trách nhiệm chiến đấu, bảo vệ an ninh cho chính quyền và quân đội Sài Gòn Mỹ đã lộ rõ âm

mưu cơ bản của Mỹ là “dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam”, “dùng người

Đông Dương đánh người Đông Dương”

Để thực hiện chiến lược này, Mỹ đã tập trung xây dựng ngụy quân thành lực lượng mạnh, đủ sức đương đầu với lực lượng vũ trang của ta; củng cố ngụy quyền các cấp, ổn định và tăng trưởng nền kinh tế miền Nam; tập trung sức lực thực hiện chương trình bình định; chặn đứng các nguồn tiếp tế, chi viện cho Việt Nam, xúc tiến quan hệ ngoại giao để kiềm chế, cô lập cuộc đấu tranh của ta; tập hợp liên minh phản động khu vực do ngụy quyền, ngụy quân Việt Nam làm nòng cốt

Mục đích của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” là nhằm làm “tàn

lụi” cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam, tạo thế mạnh cho đế

quốc Mỹ và bọn tay sai giành thắng lợi cả về quân sự và chính trị Để đạt được mục

tiêu này, Ních xơn đưa ra thực hiện cùng lúc ba loại chiến tranh là “chiến tranh

giành dân”, “chiến tranh hủy diệt”, “chiến tranh bóp nghẹt”, trên cơ sở huy động

sức mạnh tối đa về quân sự của nước Mỹ, kết hợp những thủ đoạn chính trị và ngoại giao xảo quyệt

Thực hiện kế hoạch đã vạch ra, đế quốc Mỹ gấp rút củng cố bộ máy chỉ đạo chiến tranh ở miền Nam bao gồm Đại sứ quán Mỹ, Bộ tư lệnh viện trợ quân sự MACV, phân cục tình báo CIA và hệ thống cố vấn dân sự, quân sự, đồng thời buộc chính quyền Sài Gòn ban hành lệnh tổng động viên, bắt lính, đôn quân và hiện đại hóa quân đội Trong gần 4 năm 1969-1972, địch đã nâng quân chủ lực, quân địa phương (bảo an, dân vệ) từ 70 vạn lên 110 vạn, lực lượng bán vũ trang (phòng vệ dân sự) từ 150 vạn lên hơn 200 vạn, tạo thành một đội quân tay sai đông nhất trong các nước chư hầu của Mỹ Các quân binh chủng quân đội Sài Gòn được Mỹ trang bị các loại vũ khí, kĩ thuật hiện đại Binh chủng không quân được trang bị máy bay F.5, C.119, C.130 và 1500 máy bay trực thăng các loại Về thiết giáp, Mỹ đã đưa sang 200 xe tăng M.41, M.48, 1000 xe bọc thép

Trang 27

Đồng thời với việc tăng cường lực lượng ngụy quân, củng cố ngụy quyền,

đế quốc Mỹ mở hàng ngàn cuộc hành quân càn quét, phản kích hòng đẩy lực lượng chủ lực của ta lên vùng núi dọc biên giới, tăng cường đánh phá, huỷ diệt các vùng

giải phóng, các vùng căn cứ cách mạng Chính sách “bình định” được Mỹ coi là

quốc sách, là biện pháp chủ chốt, quyết định sự tồn vong của ngụy quyền và sự thành bại của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh Từ 1969, Mỹ - ngụy dồn sức bình định quyết liệt vùng nông thôn, mở nhiều cuộc hành quân càn quét đánh phá, chà đi xát lại nhằm tiêu diệt cơ sở cách mạng của ta bằng cả biện pháp quân sự lẫn kinh tế

Đối với QN - ĐN, nhằm bẻ gãy phong trào cách mạng ở mảnh đất “đi đầu

diệt Mỹ” này, sau khi đẩy lùi các cuộc tiến công của ta vào các đô thị, Mỹ và chính

quyền Sài Gòn đã tăng cường lực lượng biến nơi đây thành một trong những trọng

điểm “bình định” QN - ĐN là nơi tập trung những sân bay lớn như Đà Nẵng, Xuân

Thiều, Nước Mặn, Nam Thọ và Chu Lai Quân cảng Tiên Sa là nơi neo đậu thường xuyên của các tàu chiến Mỹ Đây cũng là nơi tập trung các cơ quan chỉ huy của Vùng I chiến thuật, Đà Nẵng trở thành căn cứ quân sự lớn thứ hai của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam Việt Nam với 4 sân bay, 8 cầu cảng quân sự, 4 tổng kho, 23 cụm cứ điểm, 98 kho hậu cần,… Năm 1969, Mỹ đã tập trung ở đây 28 tiểu đoàn, trong đó một nửa là lính thủy đánh bộ Mỹ, còn có 6 tiểu đoàn bộ binh Mỹ, lữ

đoàn “Rồng xanh” Nam Triều Tiên, 3 tiểu đoàn thiết giáp của Mỹ, 3 tiểu đoàn thiết

giáp ngụy và hàng trăm máy bay các loại luôn thường trực ở các sân bay lớn

Dựa vào ưu thế về quân số và hỏa lực của mình, Mỹ và chính quyền Sài Gòn mở nhiều cuộc hành quân giành lại vùng nông thôn quanh Đà Nẵng, đồng thời kiểm soát chặt chẽ Tam Kỳ, Hội An, giữ vững các trục giao thông Thủ doạn đánh phá của địch ngày càng tinh vi và ác liệt Ở những vùng giải phóng, địch mở các cuộc hành quân với quy mô lớn, có sự yểm trợ của máy bay B.52, bom tọa độ, tăng thiết giáp, như cuộc càn lên Thạnh Mỹ (Nam Giang) nhằm tiêu diệt Đặc Khu ủy Quảng Đà năm 1969

Trang 28

Để bảo vệ Đà Nẵng, chúng tăng cường hệ thống phòng thủ nhiều tầng, từ

xa, từ tuyến Cầm Giơi - Núi Quế với nhiều lực lượng khác nhau từ quân Mỹ, Nam

Triều Tiên đến quân chủ lực ngụy, bảo an, phòng vệ dân sự “Tháng 1-1973, ở

Quảng Đà địch có 7 tiểu đoàn chủ lực, 11 tiểu đoàn và 4 đại đội bảo an, 190 trung đội dân vệ Toàn bộ QN-ĐN đặt dưới sự kiểm soát của Sư đoàn 3 Tính đến tháng 3-1974, tại Quảng Đà, địch có 8 tiểu đoàn chủ lực, 12 tiểu đoàn và 10 đại đội bảo

an, 25 trung đội dân vệ” [35, tr 38] Ở các vùng nông thôn quanh Đà Nẵng, Mỹ -

Thiệu ráo riết thực hiện chương trình bình định Chúng dùng B52, bom toạ độ cày

ủi, cào sạch nhà cửa những vùng tây Duy Xuyên, Gò Nổi, tây Điện Bàn, tây Hoà Vang Để kiểm soát các trục lộ giao thông, địch xúc tác dân lên bên đường, lập các khu dồn dân, lập hàng rào điện tử từ Hội An đến tây bắc Hoà Vang Đồng thời ra quy định một số vùng chúng được tự do bắn phá Trong thời gian từ 1969 đến 1972, các vùng Gò Nổi, Hòn Tàu, tây Duy Xuyên, vùng núi tây Đại Lộc liên tục bị địch dùng máy bay B52 đánh phá ác liệt

Bên trong thành phố, địch củng cố lại hệ thống cai trị, đưa Nguyễn Ngọc Khôi thay Lê Trí Cường làm Thị trưởng Đà Nẵng, chia lại các khu phố, phường,

khóm Hệ thống liên gia được tổ chức lại, mỗi liên gia gồm 5 gia đình gọi là “ngũ

gia liên bảo” để kiểm soát lẫn nhau Địch tăng cường lực lượng cảnh sát, lập các

phân chi cảnh sát, đưa các sĩ quan về làm phân chi trưởng Để thắt chặt an ninh, chúng còn cho làm lại thẻ căn cước để dễ bề kiểm soát, thường xuyên tiến hành kiểm tra giấy tờ, căn cước để chống việc xâm nhập của ta Các quận trong thành

phố luôn mở các cuộc hành quân cảnh sát, mở các chiến dịch “vì dân, thân dân” để

truy lùng, vây ráp cán bộ cơ sở của ta Những hoạt động mới của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn làm cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta căng thẳng và phức tạp hơn trước Toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đứng trước thử thách lớn, đòi hỏi sự nỗ lực vượt bậc, kiên trì đấu tranh để đưa sự nghiệp kháng chiến đến thắng lợi

Về kinh tế, lợi dụng các cuộc hành quân càn quét, binh lính Sài Gòn đã cướp bóc tài sản của nhân dân, đẩy nhiều gia đình vào cảnh khánh kiệt Để ngăn

Trang 29

chặn hành lang tiếp tế của ta, địch hạn chế việc mua lương thực của nhân dân ở mức tối thiểu, chúng còn dùng chất độc hoá học trên quy mô lớn để phá hoại mùa màng, giết hại trâu bò, phá hoại việc sản xuất của ta Việc Mỹ và chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh bình định và đánh phá vùng giải phóng đã buộc một bộ phận cư dân phải chạy

vào thành thị lánh nạn khiến số dân ở đây tăng lên nhanh chóng Chính sự “đô thị

hóa cưỡng bức này” diễn ra nên chỉ trong một thời gian ngắn đã gây nên cảnh thất

nghiệp tràn lan làm cho đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, tệ nạn xã hội diễn ra hàng ngày

Chưa đầy 2 năm sau Hiệp định Pari, giá cả những mặt hàng nhu yếu phẩm như gạo, đường, sữa,… tăng từ 2 đến 5 lần Ở Quảng Tín giá gạo tăng đến chóng mặt Trong khi đó thu nhập của những người làm công ăn lương chỉ tăng nhỏ giọt

Sự tăng giá dầu và nguyên liệu nhập ngoại trong khi sức mua giảm sút khiến mức sản xuất công nghiệp giảm, nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp bị đóng cửa vì thiếu nguyên liệu Đến tháng 7-1974, ở Đà Nẵng, 70% công nhân không có việc làm

Để thực hiện cái gọi là “quốc sách bình định”, chính quyền Nichxon đã

giúp chính quyền Sài Gòn thiết lập một hệ thống chính trị và vũ trang ở cơ sở cho

hoàn chỉnh Mĩ và chính quyền Sài Gòn đã thực thi chương trình “cải cách điền

địa”, ban hành Luật “người cày có ruộng” (26-3-1970) nhằm xóa bỏ chế độ bóc lột

phong kiến, chuyển địa chủ sang kinh doanh tư bản chủ nghĩa, phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa, tạo lập tư bản chủ nghĩa ở nông thôn, xóa bỏ ảnh hưởng sâu rộng của cách mạng đối với nông dân, tăng cường bóc lột nông dân, xây dựng cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội mới của chế độ thực dân mới của Mĩ

Không chỉ đánh phá cách mạng trước mắt mà Mỹ-ngụy còn chuẩn bị nhân

sự cho lâu dài Năm 1969, địch đã cho thành lập Khu Giáo dục Quảng Nam, đưa trên 1.200 trẻ là con em của những binh lính tử trận, bị thương và đang tại ngũ vào nuôi dưỡng nhằm mục đích để xây dựng một thế hệ tương lai có trách nhiệm tiếp

nối những người đi trước diệt Cộng

Trang 30

Để thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, Mỹ ngụy đã thực

hiện chính sách nuôi dưỡng chiến tranh, ngu hóa nhân dân để tận diệt khả năng nhận thức và đề kháng của nhân dân ta, chính quyền Sài Gòn đã đưa ra những chính sách về văn hóa-giáo dục cực kì phát xít Trong những năm 1970-1973, chính quyền Sài Gòn dự định thu tiền học phí rất cao tại các trường công và trường đại học, đề ra một chương trình học có tính cách nhồi sọ và mất gốc Qua đó, họ đã hạn chế một

số rất lớn con em của đồng bào nghèo không có đủ điều kiện tài chính theo học

Như vậy, “họ sẽ bị xô đẩy ra chiến trường chết thay cho một thiểu số không muốn

hòa bình mà chỉ muốn làm giàu trên máu xương của đồng bào khốn khổ chúng ta”

[4, tr.84]

Tóm lại, việc thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc

Mỹ ở Việt Nam nói chung và QN - ĐN nói riêng đã làm cho đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn, mâu thuẫn giữa nhân dân QN - ĐN với Mỹ - ngụy ngày càng phát triển lên cao

2.2 Chủ trương đấu tranh của Đảng

2.2.1 Chủ trương của Trung ương và khu ủy V

Cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân năm 1968 là nỗ lực rất lớn để đánh vào các thành phố, nó là đòn tấn công trực tiếp vào quân ngụy Mặc

dù trong chiến dịch này chúng ta không giành được thắng lợi, chính quyền không về tay nhân dân nhưng nó đã chứng tỏ lực lượng cách mạng của chúng ta lúc này đã lớn mạnh Đồng thời cũng chứng minh cho Mỹ thấy đây là một lực lượng không thể đánh bại được

Trước việc Mỹ và chính quyền Sài Gòn thực hiện chiến lược chiến tranh

mới “Việt Nam hóa chiến tranh” với âm mưu nhằm đẩy lực lượng cách mạng ra

khỏi thành phố, thị xã, ngày 10-5-1969, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 188-NQ/TW,

chỉ đạo các địa phương “kiên quyết giữ vững và phát triển thế tiến công và bao vây

thường xuyên, liên tục ở thành thị, nhất là thành thị lớn bằng cả quân sự và chính trị, kiên quyết không cho địch ra khỏi thế đó” [12, tr 138] Ngày 24-10-1969, trong

điện Về việc phát động phong trào đấu tranh chính trị rộng lớn ở miền Nam, Ban Bí

Trang 31

thư chỉ đạo các cấp “phát động một phong trào quần chúng rộng rãi hưởng ứng

cuộc đấu tranh sắp tới của nhân dân Mỹ và đòi Ních xơn phải rút ngay và rút hết quân Mỹ vê nước” [12, tr 340] “Lực lượng huy động là thanh niên, học sinh, sinh viên, lao động, Phật giáo và có thể lôi kéo một bộ phận lực lượng đối lập Thiệu -Kỳ- Khiêm, với những hình thức đấu tranh như mít ting, hội thảo, kiến nghị, xuống đường, phải huy động được báo chí và các cuộc hội thảo công khai” [12, tr 341]

Ngày 21-7-1970, tại Hội nghị lần thứ 18 Ban Chấp hành Trung ương Đảng,

Bộ Chính trị đề ra nhiệm vụ cho các thành thị là “Đẩy mạnh phong trào đấu tranh

chính trị mạnh mẽ, thường xuyên, liên tục, từ thấp đến cao tạo điều kiện và thời

cơ tiến lên một phong trào đấu tranh chính trị rộng lớn, lôi cuốn tất cả các tầng lớp yêu nước” [13, tr 76]

Một vấn đề quan trọng được Đảng ta đặt ra là phải xây dựng cho được một

đôi quân xung kích về đấu tranh chính trị ở từng địa phương và từng nhà máy “Đội

quân xung kích phải bao gồm những phần tử tích cực, kiên quyết cách mạng trong các lực lượng lao động và học sinh, sinh viên dũng cảm và sẵn sàng xông lên phía trước làm nòng cốt, lôi cuốn các tầng lớp trung gian và quần chúng đông đảo trong các cuộc đấu tranh chính trị” [13, tr 79] Trên cơ sở đó, ngày 15-3-1970, trong

Nghị quyết về tăng cường công tac xây dựng và phát triển thực lực thành phố, thị

xã, vùng ven Liên khu ủy V đã chủ trương: “Tích cực phát triển cơ sở trong công nhân và quần chúng lao động, cơ sở thanh niên, phụ nữ, học sin h, sinh viên, những người hoạt động văn hóa, giáo dục” [13, tr 497]

Trong năm 1971, điều kiện chiến tranh xâm lược và việc thực hiện chính

sách “Việt Nam hóa chiến tranh” kéo dài đã gây nên nhiều tai họa về mọi mặt cho

cuộc sống của các tầng lớp nhân dân thành thị, Mỹ-Thiệu-Kỳ-Khiêm đã phơi trần

sự gian ác, thối nát cũng như sự thất bại và suy yếu rõ rệt của mình trên chiến trường Nhiệm vụ được đặt ra lúc này là mở rộng và nâng cao hơn nữa phong trào đấu tranh của các tầng lớp về vấn đề dân sinh, kinh tế, dân chủ tự do, văn hóa xã hội

và chấm dứt chiến tranh, hòa bình lập lại Vì vậy, Đảng ta chủ trương cần phải “tiếp

Trang 32

tục củng cố mở rộng vững chắc hơn nữa các tổ chức và phong trào của học sinh, sinh viên” [14, tr 519]

Ngày 30-12-1971, Hội nghị Thường vụ Khu ủy V mở rộng ra Nghị quyết

Về tình hình Khu V năm 1971 và phương hướng, nhiệm vụ sắp tới, đề ra nhiệm vụ:

“Ra sức tranh thủ thời gian động viên, tập hợp và tổ chức quần chúng, nhanh chóng hình thành đội ngũ chính trị thật đông đảo, kết hợp phong trào quần chúng với khoét sâu và lợi dụng mẫu thuẫn nội bộ địch, mở rộng mặt trận liên hiệp hành động chống Mỹ-Thiệu, tập trung mũi nhọn đấu tranh đòi đuổi Mỹ, lật Thiệu chấm dứt chiến tranh xâm lược, vãn hồi hòa bình, hòa hợp dân tộc Mục tiêu đấu tranh củ phong trào thành thị sắp đến phải nêu bật được quyết tâm đuổi Mỹ về nước, đánh đổ Thiệu xuống, nhằm đập tan mọi âm mưu kéo dài xâm lược và chính sách Việt Nam hóa chiến tranh, lập chính phủ vãn hồi hòa bình, hòa hợp dân tộc để chấm dứt chiến tranh xâm lược, giành hòa bình, độc lập, tự do dân chủ, cơm áo và quyền sống cho nhân dân” [14, tr 604-605]

Để phối hợp với cuộc tiến công chiến lược sắp diễn ra, ngày 10-3-1972, đồng chí Lê Duẩn gửi thư cho Trung ương Cục miền Nam và các Khu ủy chỉ đạo

phát động “những phong trào có tính chất chính trị, đòi lật đổ Thiệu ngày càng

mạnh với phong trào đấu tranh đòi các quyền dân sinh dân chủ, kết hợp đấu tranh chính trị với công tác binh vận và cuối cùng phối hợp bạo lực mạnh mẽ của quần chúng với sự nổi dậy của một bộ phận binh lính địch phản chiến đứng về phía cách mạng” [15, tr 180]

Từ ngày 6 đến ngày 13-9-1972, Hội nghị Thường vụ Khu ủy V mở rộng ra Nghị quyết chỉ rõ:

“Nhiệm vụ công tác thành thị sắp đến là ra sức tuyên truyền, giáo dục, tranh thủ cho được lòng dân, dấy lên cao trào đấu tranh chính trị công khai, hợp pháp, kết hợp với binh vận, chiến tranh du kích, tạo điều kiện đưa lên bùng nổ cách mạng khi có thời cơ, phải nỗ lực phát triển thực lực chính trị, vũ trang mạnh mẽ đều khắp Khi có giải pháp chính trị đưa lên cao trào giành quyền làm chủ bên

Trang 33

dưới, có thể chiếm lĩnh, tranh chấp nơi có điều kiện, đưa lên chính quyền quá độ bên trên và tạo điều kiện tiến lên giành chính quyền về tay nhân dân” [15, tr 486]

Sau khi Hiệp định Pari được kí kết (21-7-1973), đến tháng 7-1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị lần thứ 21 Hội nghị nêu rõ:

“Nhiệm vụ trước mắt của ta ở miền Nam là, trên phương hướng đấu tranh đòi Mỹ ngụy phải thi hành Hiệp định Pari để thực sự lập lại hòa bình, phải ra sức đo àn kết toàn dân xung quanh khẩu hiệu trung tâm: hòa bình, độc lập, dân chủ, đặc biệt là lực lượng thứ ba, giương cao ngọn cờ dân tộc để phân hóa hàng ngũ địch, cô lập tập đoàn tay sai quân phiệt, phát xít đứng đầu là Thiệu” [15, tr 247]

-Trong khi lực lượng cách mạng miền Nam phát triển mạnh mẽ thì chính quyền Sài Gòn ngày càng lún sâu vào khủng hoảng kinh tế và gặp thất bại liên tiếp

về quân sự Những cuộc bãi công, biểu tình, đòi các quyền tự do, dân sinh, dân chủ, đòi Thiệu từ chức nổ ra liên tiếp ở cả thành thị lẫn nông thôn càng làm cho tình hình miền Nam thêm rối loạn

Tháng 6-1974, Hội nghị Khu ủy V lần thứ hai ra Nghị quyết Về công tác

xây dựng Đảng 1974-1975, trong đó có nhấn mạnh vào nhiệm vụ của các cấp ủy

phải “chuyển phong trào vùng địch, nhất là thành thị lên mạnh, đưa đến khủng

hoảng chính trị sâu sắc ở thành thị” [16, tr 427]

2.2.2 Chủ trương của Đảng bộ Quảng Nam - Đà Nẵng

Trước sự đánh phá ác liệt của địch, tổ chức Đảng và phong trào cách mạng

ở QN - ĐN phải đứng trước những khó khăn và thử thách to lớn Trong tình hình

đó, Thường vụ đặc khu Quảng Đà tăng cường chỉ đạo phương thức xây dựng lực

lượng theo hướng “nhiều tầng, nhiều tuyến, ngăn cách, bí mật, chủ động”, xây dựng thực lực chính trị và vũ trang mạnh mẽ, tấn công địch bằng “hai chân, ba mũi

giáp công”, tổ chức phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, mà đặc biệt là

tầng lớp học sinh, sinh viên với các khẩu hiệu đòi hòa bình, độc lập, trung lập, dân sinh dân chủ, đồng thời phát động cao trào đấu tranh chính trị của quần chúng đòi lật đổ Thiệu-Kỳ-Kiêm

Trang 34

Đối với phong trào thanh niên của tỉnh nhà, một bước tiến bộ có ý nghĩa lớn, là sự chuyển hướng chỉ đạo của các cấp bộ Đoàn từ sau hội nghị cán bộ Khu đoàn và Đặc khu Đoàn vào tháng 10 năm 1968 Tiếp đến, năm 1969, Khu đoàn lại quyết định chuyển hướng chỉ đạo của Đoàn ra vùng địch tạm chiếm với khẩu hiệu

“giành, giữ, bảo vệ thanh niên, chống dồn quân, bắt lính, phá rã phòng vệ dân sự”

Từ đầu năm 1972, được sự chỉ đạo của Khu ủy V và Đặc khu ủy Quảng Đà, Ban cán sự Đảng thành phố đã ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của công tác đấu tranh trong vùng địch kiểm soát thuộc nội thành Đà Nẵng Ban cán sự Đảng trực tiếp chỉ đạo mọi công tác trên địa bàn thành phố Đà Nẵng - là một thành phố lớn thứ hai miền Nam Tuy không có Thành ủy, nhưng do tính chất đối ngoại đặc

trưng của lực lượng thanh niên cho nên “Đặc khu ủy cho xâu các quận đoàn thành

phố thành Thành đoàn thanh niên cách mạng thành phố Đà Nẵng ” [3, tr 235]

Ngày 01-06-1972, Tỉnh ủy Quảng Nam đã ban hành Chỉ thị về việc tổng động viên nam nữ thanh niên để phục vụ cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy Đến ngày 10-11-1972, Đặc khu Đoàn Quảng Đà có thư gửi đến cán bộ đoàn viên và

thanh niên toàn Đặc khu, nội dung bức thư đã nêu rõ: “Chúng ta thề với Đảng, với

Tổ quốc và nhân dân Tuổi trẻ Quảng Đà bất chấp mọi hi sinh, gian khổ, kiên quyết đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, giành cho kì được độc lập tự do thật sự cho Tổ quốc và dân tộc” [2, tr 176-177]

Tháng 5-1974, Tỉnh ủy Quảng Nam đã tổ chức Hội nghị quán triệt chủ

trương: “Ra sức đánh bại bình định lấn chiếm của địch, nhằm giữ dân, giành quyền

làm chủ cho nhân dân, thu hẹp vùng địch, mở rộng vùng ta, giữ vững và phát triển thực lực cách mạng” [2, tr 185-186] Thực hiện nghị quyết của Khu ủy V về việc

mở chiến dịch Thu 1974 Tại hội nghị này, Tỉnh đoàn được Ban Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ rút 2500 thanh niên đưa về trường giáo dục

Sau giải phóng Buôn Ma Thuột, thực hiện chủ trương của Khu ủy V và Đặc Khu ủy Quảng Đà, Ban cán sự Đảng thành phố đã tập trung mọi nỗ lực để xâu các đầu mối, các tổ chức đơn lẻ riêng tuyến thành tổ chức đa tuyến Đưa toàn bộ cán bộ

Ngày đăng: 25/05/2019, 12:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w