1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát câu đơn trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái từ bình diện cấu trúc thông tin

66 112 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phan Văn Tú, Cõi người rung chuông tận thế - nhìn từ vài con số thống kê được in trên trang cá nhân ngày 11/10/2006 đã phân tích và thống kê về nghệ thuật được tác giả sử dụng trong tiể

Trang 1

KHOA NGỮ VĂN

KHẢO SÁT CÂU ĐƠN TRONG TIỂU THUYẾT CÕI NGƯỜI RUNG CHUÔNG TẬN THẾ CỦA HỒ ANH THÁI TỪ BÌNH DIỆN

CẤU TRÚC THÔNG TIN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Ngưởi hướng dẫn:

PGS.TS TRẦN VĂN SÁNG

Người thực hiện:

NGUYỄN THỊ SEN (Khóa 2014 – 2018)

Đà Nẵng, tháng 05/201

Trang 2

Đà Nẵng, đặc biệt là quý thầy cô trong khoa Ngữ văn đã luôn tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong thời gian qua để tôi có thể bổ sung kiến thức hoàn thành khóa luận này

Đặc biệt tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến thầy hướng dẫn PGS.TS Trần Văn Sáng đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình viết khóa luận tốt nghiệp

Xin gửi lời cám ơn đến các thầy cô trong thư viện nhà trường đã tạo điều kiện cho tôi có được những nguồn tài liệu cần thiết

Lời cám ơn cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, anh chị, bạn bè,…

là nguồn động viên to lớn khích lệ tôi, là chỗ dựa tinh thần giúp tôi hoàn thành luận văn này

Đề tài của chúng tôi chắc chắn còn nhiều thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến, bổ sung, giúp đỡ của Hội đồng bảo vệ, Qúy thầy cô và toàn thể các bạn sinh viên

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, ngày 26 tháng 04 năm 2018

Người thực hiện

Nguyễn Thị Sen

Trang 3

Trần Văn Sáng, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa hề được công bố

dưới bất kì hình thức nào Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, đánh giá nhận xét được chính tác giả thống kê thu thập

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung tính khoa học trong công trình này

Trang 4

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Lịch sử vấn đề 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của đề tài 6

7 Cấu trúc đề tài 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN 8

1.1 Câu đơn và câu đơn từ bình diện cấu trúc thông tin 8

1.1.1 Khái niệm về câu đơn 8

1.1.2 Một số quan niệm về CTTT 12

1.1.3 Khái niệm CTTT 16

1.2.4 Khái niệm thông tin cũ (TTC), thông tin mới (TTM), tiêu điểm thông tin (TĐTT) 18

1.2.5 Dấu hiệu nhận biết TĐTT 21

1.2 Tác giả Hồ Anh Thái và tiểu thuyết “Cõi người rung chuông tận thế” 27

1.2.1 Tác giả Hồ Anh Thái 27

1.2.1.1.Cuộc đời 27

1.2.1.2 Sự nghiệp sáng tác văn chương 28

1.2.2 Tiểu thuyết “Cõi người rung chuông tận thế” 29

1.3 Tiểu kết chương 1 30

CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT CÂU ĐƠN TRONG TÁC PHẨM “CÕI NGƯỜI RUNG CHUÔNG TẬN THẾ” CỦA HỒ ANH THÁI TỪ BÌNH DIỆN CẤU TRÚC THÔNG TIN 32

2.1 Cấu trúc thông tin lưỡng phân cơ sở và tiêu điểm thông tin 33

2.1.1 Cấu trúc thông tin cơ sở - tiêu điểm (CS-TĐ) 33

2.1.2 Cấu trúc thông tin tiêu điểm – cơ sở 36

2.2 Cấu trúc thông tin xen kẽ cơ sở và tiêu điểm thông tin 39

2.2.1 Cấu trúc thông tin cơ sở - tiêu điểm – cơ sở 39

Trang 5

2.3.2 Cấu trúc thông tin có tiêu điểm là thuyết 443 2.3.3 Cấu trúc thông tin có tiêu điểm là cấu trúc đề thuyết 44 2.4 Tiểu kết chương 2 46

CHƯƠNG 3 TIÊU ĐỂM THÔNG TIN VÀ GIÁ TRỊ BIẾU ĐẠT CỦA CÂU ĐƠN TRONG TÁC PHẨM CÕI NGƯỜI RUNG CHUÔNG TẬN THẾ 47

3.1 TĐTT được đánh dấu bằng hình thức câu trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế 47 3.2 Giá trị biểu đạt trong việc sử dụng hình thức câu đơn từ bình diện cấu trúc

thông tin trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế 49 3.3 Tiểu kết chương 3 54

KẾT LUẬN 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO

NGUỒN NGỮ LIỆU KHẢO SÁT

Trang 7

Số hiệu bảng Tên bảng Trang 2.1 Thống kê lời thoại theo vị

CS – TĐ)

42

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong lĩnh vực ngôn ngữ, câu là vấn đề quan trọng của phân môn cú pháp học, một phạm trù có ý nghĩa đặc biệt của ngữ pháp Còn trong đời sống, câu được xem là một phương tiện giao tiếp, phương tiện tạo văn bản Câu có chức năng dùng

để thông báo hay giải thích một vấn đề nào đó Khi sử dụng các từ được sắp xếp lại thành một câu, người ta muốn diễn đạt sao cho người khác hiểu được ý của mình Câu có thể là những câu đơn giản hay phức tạp và giữ những chức năng khác nhau

Để làm tròn chức năng của mình, câu còn được xếp vào các bình diện khác nhau giúp con người dễ hiểu và sử dụng hơn Chính vì thế, khi lựa chọn nghiên cứu câu đơn trên bình diện cấu trúc thông tin, chúng tôi hi vọng nó sẽ đóng góp cho việc con người dựa trên đó để hình thành và biết sử dụng những cấu trúc câu phức tạp hơn

Cấu trúc thông tin (CTTT) dùng để phân đoạn cấu trúc của câu theo vị thế thông tin Trong thời gian qua, CTTT đã được các nhà ngôn ngữ học thế giới lẫn Việt ngữ học nghiên cứu, tiếp cận từ nhiều góc độ, từ ngữ âm, ngữ pháp đến từ vựng ngữ nghĩa, trong mối quan hệ với nhiều yếu tố ngoài ngôn ngữ như ngữ cảnh, tiền giả định, kiến thức nền, tâm lí….Việc tìm ra cách để đánh dấu thông tin mới và nhận diện thông tin mới sẽ góp phần không nhỏ để quá trình giao tiếp đạt hiệu quả cao

Hồ Anh Thái, được đánh giá là một trong những nhà văn đã gây được tiếng vang lớn trong văn học Việt Nam thời đương đại Hồ Anh Thái tạo dấu ấn của mình

trong làng văn qua nhiều tác phẩm như: “Trong sương hồng hiện ra”; “Người đứng một chân”; “Tiếng thở dài qua rừng kim tước”; “Mười lẻ một đêm”;… Trong các tác phẩm đó, tiểu thuyết “Cõi người rung chuông tận thế” có thể coi là sự tổng hợp

sức sáng tạo của nhà văn về thế giới tư tưởng cũng như sự đa dạng, độc đáo về mặt ngôn ngữ nghệ thuật chất văn cũng như ngôn ngữ và cách sử dụng câu, một thành công lớn của nhà văn trong sự vận động của tư duy tiểu thuyết hiện đại giai đoạn hiện nay Với một giọng văn trẻ trung, tươi mới về đời sống thanh niên, sinh viên với những cuộc phiêu lưu, những khát khao khám phá đời sống, những tác phẩm

Trang 9

của ông đã có những phát kiến về ngôn ngữ, tạo cho tiếng Việt thêm màu sắc, đa dạng và phong phú hơn

Cuối cùng, một trong những lí do quan trọng để tôi lựa chọn đề tài này là xuất phát từ đặc trưng, yêu cầu và sự đổi mới của công tác dạy học hiện nay Trên thực tế, học sinh chỉ được tiếp xúc với những kiểu câu được phân tích theo ngữ pháp truyền thống, vì thế đây được xem là một lý thuyết khá mới mẻ trong nhà trường Với dự định đổi mới sách giáo khoa của Bộ Giáo dục, tôi hi vọng những kiến thức này được đưa vào nhà trường để học sinh được tiếp xúc làm quen, và những nghiên cứu của tôi sẽ đóng góp cho quá trình giảng dạy sau này

Với những lí do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Khảo sát câu đơn

trong tác phẩm Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái từ bình diện cấu

trúc thông tin” Vì những lí do khách quan nên chúng tôi chỉ khảo sát số lượng câu đơn dựa vào lời thoại của nhân vật

2 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận tập trung hướng vào những mục đích cụ thể sau:

- Khảo sát, thống kê số lượng các câu đơn có trong tác phẩm Cõi người rung chuông tận thế từ bình diện cấu trúc thông tin và chỉ khảo sát trên lời thoại của nhân

vật

- Phân tích, chỉ ra các hình thức đánh dấu tiêu điểm thông tin trong câu

- Nêu lên ý nghĩa của việc đánh dấu tiêu điểm thông tin trong câu

3 Lịch sử vấn đề

3.1 Vấn đề cấu trúc thông tin (CTTT)

Vấn đề lý thuyết CTTT thực ra đã được nghiên cứu từ rất sớm (khoảng thế kỉ XIX)

Người đầu tiên đề cập đến lý thuyết về CTTT là V.Mathesius (1929), thuộc trường phái Prague Các nhà ngôn ngữ học thuộc trường phái này đề cập đến vấn đề phân đoạn thực tại của câu Theo V Mathesius, các yếu tố cơ bản của phân đoạn thực tại là: điểm xuất phát/ hay là cơ sở của câu nói và hạt nhân của câu nói Điểm

Trang 10

xuất phát đươc hiểu là cái đã được biết trong tình huống đó hoặc chí ít cũng có thể

dễ dàng hiểu ra và người nói lấy nó làm điểm xuất phát Các nghiên cứu tiếp theo,

V.Mathesius đã phân cấu trúc câu làm hai phần là đề (topic, theme) và thuyết (comment, rtheme) Trong đó đề thường là cái gì đã được biết hoặc có thể suy ra từ ngữ cảnh tình huống Thuyết thường là cái gì mới hoặc chưa biết vào thời điểm của

giao tiếp Quan niệm này của V Mathesius sau này được các nhà ngôn ngữ trên thế giới hưởng ứng (Firbas (1964), Halliday (1967), Dahl (1969)….) Halliday cũng là người đầu tiên đưa đơn vị thông tin (information unit) và chỉ ra mức độ độc lập riêng cho cấu trúc thông tin Từ đó đến nay, CTTT đã được tiếp cận từ nhiều bình diện ngôn ngữ khác nhau, từ ngữ âm, ngữ pháp, đến từ vựng – ngữ nghĩa, trong mối quan hệ với nhiều yếu tố ngoài ngôn ngữ như ngữ cảnh, tiền giả định, kiến thúc nền, tâm lý,… hình thành nên hệ thống các khái niệm với nhiều cách lý giải khác

nhau như: Tiền giả định – Tiêu điểm (Presupposition – Focus), Chủ đề - Tiêu điểm

(background – Focus) ,…trong đó TĐ là trọng tâm nghiên cứu

Wallace Chafe (1976) mở rộng quan niệm Halliday về thông tin “mới” và thông tin “cho sẵn” sang mô hình tâm lý về ý thức của người nói và người nghe Dùng thuật ngữ “đóng gói thông tin”, Chafe (1976) giải thích về thuật ngữ này như sau: “Tôi dùng thuật ngữ đóng gói để chỉ một hiện tượng đưa ra ở đây, là việc nó chủ yếu liên quan đến cách mà thông điệp được đưa ra và sau đó mới chính là thông điệp; cũng giống như việc đóng gói một hộp kem đánh răng có thể ảnh hưởng tới sản lượng bán của cái chất lượng kem đánh răng vốn có một phần độc lập bên trong [29] Nhà nghiên cứu còn cho rằng, cấu trúc thông tin gồm ba phần: chủ đề (topic), chú giải và tiêu điểm (focus)

Ở Việt Nam, vấn đề này được quan tâm từ những năm 80 – 90 của thế kỉ XX như trong một số chuyên đề ở các trường đại học hay trong một số công trình của một số tác giả như Trần Ngọc Thêm, Đỗ Hữu Châu, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp

Tuy nhiên, các quan điểm không thống nhất, các khái niệm đưa ra mỗi người mỗi

cách, vẫn chưa có tiếng nói chung

Trang 11

3.2 Về tiểu thuyết “Cõi người rung chuông tận thế” của Hồ Anh Thái

Trên thực tế, đã có rất nhiều bài viết, đề tài, khóa luận nghiên cứu về tiểu thuyết của Hồ Anh Thái Với lối viết trẻ trung cùng kĩ thuật viết hiện đại, sáng tác của Hồ Anh thái luôn thu hút sự quan tâm của dư luận từ bạn đọc đến giới phê bình trong và ngoài nước Tuy nhiên nó chỉ chủ yếu thiên về mảng phê bình nghệ thuật

mà ít có công trình đi vào nghiên cứu về mảng ngôn ngữ Cụ thể về mảng phê bình

văn học trong tác phẩm Cõi người rung chuông tận thế có các công trình:

Phạm Xuân Thạch trong bài viết Từ tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, suy nghĩ về một hiện tượng phê bình đã nhận xét đúng như Ban chấp hành hội nhà

văn Việt Nam rằng: “Tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái

là một tác phẩm được viết một cách công phu, chuyên nghiệp, thể hiện những tìm tòi trong phương pháp tiếp cận và phản ánh hiện thực, trong giáo lý đạo Phật và thi pháp tiểu thuyết của các tác giả hiện đại”.[30] Quả thực, cuốn tiểu thuyết là thành quả của một lao động văn học có tính chuyên nghiệp của một nhà văn có tuổi đời và

tuổi nghề không còn trẻ

Võ Minh Anh, Cõi người rung chuông tận thế từ góc nhìn Phật giáo cũng đã

nhận định chủ đề tư tưởng các tiểu thuyết mang đậm màu sắc giáo lý Phật giáo và tín ngưỡng dân gian với cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, và qua đó cũng thể hiện niềm hi vọng về sự cữu rỗi cho những người ăn năn hối lỗi

Phan Văn Tú, Cõi người rung chuông tận thế - nhìn từ vài con số thống kê được

in trên trang cá nhân ngày 11/10/2006 đã phân tích và thống kê về nghệ thuật được tác giả sử dụng trong tiểu thuyết như tính biểu tượng của hai mặt đối lập, hình thức điệp ngữ với dạng câu có lặp lại chủ ngữ, cách sử dụng đại từ xưng tôi chiếm một tỉ

lệ cao trong tác phẩm, các thành ngữ, tục ngữ, ca dao,…Tuy nhiên, tác giả cũng nhận định rằng: “Dù cố gắng lượng hóa những yếu tố vật chất của tác phẩm theo hướng nào, chúng ta cũng đành bất lực khi giải mã được hết những thông điệp nghệ thuật từ tác phẩm, bởi cuộc đời đâu lúc nào cũng đối xứng, cũng chỉ là những biểu trưng, hoặc trắng đen rạch ròi cho ta lựa chọn…”

Trang 12

Ngô Thị Kim Cúc trong bài viết Cái ác ở phía ít ngờ nhất trên tờ báo thanh niên, 3-11-2002đã nhận xét rằng: “Với tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, Hồ

Anh Thái đã tiến thêm một bước trong kĩ thuật tiểu thuyết, thành công trong việc sử dụng những yếu tố ảo nhằm phục vụ hàm ý của tác phẩm” [5] Tác phẩm cũng đưa

ra những giá trị bài học cho con người, đó là: Con người phải biết sợ cái ác, nhất là cái ác không ngờ đến ngay trong chính những ý định tưởng chừng như tốt đẹp cửa

Ngoài những bài nghiên cứu về mảng văn chương, cũng có một số bài nghiên

cứu về mảng ngôn ngữ như: Trần Thị Thanh Hải với luận văn Nghệ thuật kể chuyện trong cõi người rung chuông tận thế Trần Thị Hồng Nhung với luận văn Cấu trúc câu trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái, Đà Nẵng, 2012 Phạm Thị Tâm với luận văn tốt nghiệp Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, Đà nẵng, 2013 Tuy nhiên, những bài viết về

mảng ngôn ngữ chưa nhiều, đặc biệt chưa có đề tài nào đi sâu vào nghiên cứu câu trong văn chương của Hồ Anh Thái từ bình diện cấu trúc thông tin Vì vậy, với việc chọn lựa đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ đóng góp vào công trình ngôn ngữ cũng như giúp người đọc có cái nhìn đa diện hơn về văn chương của Hồ Anh thái

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Trang 13

Để thực hiện đề tài “Khảo sát câu đơn trong tác phẩm Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái trên bình diện cấu trúc thông tin”, trước tiên chúng tôi tìm

hiểu lý thuyết về câu đơn trên bình diện cấu trúc thông tin của các nhà Việt ngữ Trên cơ sở đó có thể khảo sát, thống kê và phân tích câu đơn trên bình diện cấu trúc

thông tin trong tiểu thuyết “Cõi người rung chuông tận thế” của Hồ Anh Thái

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi khóa luận, chúng tôi tập trung tìm hiểu khảo sát câu đơn từ

bình diện cấu trúc thông tin qua các lời thoại của nhân vật trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái do NXB Đà Nẵng xuất bản năm 2003

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành khóa luận, trong quá trình tiếp cận và phân tích tác phẩm, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp Các phương pháp được sử dụng kết hợp để hộ trợ, tác động lẫn nhau Trong đó, một số phương pháp chủ yếu được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu như sau:

5.1 Thủ pháp khảo sát, thống kê, phân loại: thủ pháp này chúng tôi vận dụng

để khảo sát, thống kê số lượng câu đơn từ bình diện cấu trúc thông tin trong tiểu thuyết và phân loại theo tiêu chí cụ thể

5.2 Phương pháp miêu tả ngôn ngữ: Sau khi thống kê phân loại các câu đơn,

chúng tôi sử dụng phương pháp này để phân tích, miêu tả và đưa ra những nhận xét đánh giá Vận dụng phương pháp này, trong từng chương, phần, mục của khóa luận, chúng tôi sử dụng các thủ pháp nghiên cứu cụ thể để phân tích thành tố, ngữ cảnh…

6 Đóng góp của đề tài

Về mặt lý thuyết, CTTT vẫn còn là một lý thuyết mới mẻ và chưa có sự thống nhất của các nhà ngôn ngữ trên thế giới Tại Việt Nam, lý thuyết này cũng còn những ý kiến trái chiều Và trong khuôn khổ khóa luận, chúng tôi chưa đưa

ra được vấn đề lý thuyết mới mẻ nhưng chỉ bày tỏ quan niệm của mình đồng tình hay không đồng tình với các ý kiến của các nhà Việt ngữ học

Về mặt thực tiễn, những lý thuyết mới mẻ cần được nghiên cứu và bổ sung nhiều để người học không còn xa lạ Có thể trong chương trình đổi mới sách giáo

Trang 14

khoa, lý thuyết phân tích câu không chỉ theo ngữ pháp truyền thống nhưng có cái nhìn đa diện hơn, tiếp xúc câu theo bình diện CTTT một cách dễ dàng hơn

7 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và những vấn đề có liên quan

Chương 2: Khảo sát câu đơn trong tác phẩm “Cõi người rung chuông tận thế” của Hồ Anh Thái từ bình diện cấu trúc thông tin

Chương 3: Tiêu điểm thông tin và giá trị biểu đạt của câu đơn trong tác phẩm Cõi người rung chuông tận thế

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN

1.1 Câu đơn và câu đơn từ bình diện cấu trúc thông tin

1.1.1 Khái niệm về câu đơn

Theo quan niệm truyền thống, ở bình diện ngữ pháp, câu được cấu tạo bởi các thành phần ngữ pháp Mỗi thành phần ngữ pháp đó có những đặc trưng riêng về

ý nghĩa ngữ pháp và hình thức ngữ pháp Toàn bộ các thành phần ngữ pháp trong câu tạo nên hệ thống thành phần ngữ pháp của câu Như ở tiếng Việt, các thành phần ngữ pháp trong câu được quan niệm gồm ba loại: các thành phần chính (chủ ngữ, vị ngữ), các thành phần phụ, thứ yếu (trạng ngữ, khởi ngữ, bổ ngữ, định ngữ), các thành phần biệt lập (chú ngữ, hô ngữ, tình thái ngữ, cảm thán ngữ) Mỗi thành phần ngữ pháp như thế được xác định đặc tính bởi các đặc điểm về ý nghĩa ngữ pháp khái quát và đặc điểm về hình thức ngữ pháp Chính vì thế, khi định nghĩa về

câu, ngữ pháp truyền thống cho rằng: “Câu là đơn vị ngữ pháp dùng để thông báo

có tính giao tiếp, tính tình thái và tính vị ngữ” Tính giao tiếp của câu tức là mục

đích giao tiếp nhất định của câu Tính tình thái là sự biểu thị về thái độ và ý thức hay sự biểu cảm nào đó của con người đối với nội dung câu (khẳng định, phủ định, nghi vấn, yêu cầu, than gọi) Tính vị ngữ của câu là sự kết hợp cú pháp có quan hệ tương tự [18, tr 208] Câu đơn tiếng Việt phần lớn do các đơn vị tính vị ngữ có quan hệ chủ - vị tạo nên, một bộ phận khác của câu đơn do các đơn vị tính vị ngữ có dạng một từ hay cụm từ kết hợp với ngữ điệu tạo nên Phan Thiều, Nguyễn Kỳ

Thục, trong sách tiếng Việt 7 quan niệm rằng: “Câu đơn là câu chỉ có một nòng cốt chính C – V hay một mệnh đề” Giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt của trường ĐHSP Vinh, sách Nghiên cứu Ngữ pháp tiếng Việt của Nguyễn Kim Thản, và Ngữ pháp tiếng Việt của UBKHXH, Ngữ pháp tiếng Việt của Diệp Quang Ban, Ngữ pháp tiếng Việt của Hữu Quỳnh lại cho rằng: “Câu đơn là câu chỉ có một nòng cốt C – V

Căn cứ vào cấu tạo ngữ pháp, có thể chia câu đơn thành hai loại: câu đơn hai thành phần và câu đơn một thành phần

Trang 16

Câu đơn hai thành phần (câu đơn bình thường) là câu đơn gồm một đơn vị tính vị ngữ có quan hệ chủ - vị làm nòng cốt tức là một đơn vị nòng cốt gồm hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ Đơn vị tính vị ngữ có quan hệ chủ - vị (gọi tắt là C –

V) có thể có cấu tạo khác nhau [18, tr 209]

Ví dụ:

- Anh bộ đội// đứng gác đêm khuya

- Hoa thơm// bay dậy vòng quanh đồi

từ đó, cuối cùng là xác định các tham thể mở rộng

Trang 17

Nếu như ở bình diện ngữ pháp câu ở trạng thái cô lập, tách ra khỏi ngữ cảnh

và khỏi hoạt động giao tiếp, chưa gắn với mục đích của người nói thì bình diện dụng học câu không tồn tại ở dạng biệt lập, tách khỏi hoạt động giao tiếp, mà luôn gắn liền với các nhân vật giao tiếp, với ngữ cảnh, với mục đích giao tiếp, nhiệm vụ

và hiệu quả giao tiếp,…

Ngữ pháp chức năng không phân tích cú pháp câu theo chủ - vị như quan niệm truyền thống nhưng lại phân tích câu theo bình diện cú pháp Ở bình diện cú pháp, câu tiếng Việt được phân tích làm hai phần: Đề và Thuyết, tương ứng với hai thành phần của mệnh đề Nó thường đi theo trật tự bình thường là Đề trước Thuyết sau Câu hai phần có thể chỉ gồm một bậc Đề - Thuyết hoặc có từ hai bậc Đề Thuyết trở lên Người ta có thể chia thành câu một bậc, và câu nhiều bậc

Câu một bậc là câu mà cả Đề lẫn Thuyết đều có cấu trúc không thể chia thành hai phần Đề và Thuyết ở cấp bậc thấp hơn

Trang 18

C

Đ T

đ t

Ông cụ // dạo này yếu lắm

(Ghi chú kí hiệu: C: Câu, vế câu; Đ,T: Đề thuyết bậc 1; đ,t: Đề, thuyết bậc 2)

Trong câu hai bậc, ta có những kiểu câu như: Câu có thuyết là tiểu cú, câu có

Đề là tiểu cú, đề và thuyết của câu cũng có thể ghép, cấu trúc tiểu cú có thể có cả ở

Đề lẫn Thuyết đơn hoặc ghép

Ngoài câu hai thành phần, ta còn có câu 1 thành phần còn gọi là câu không

đề Đây là câu chỉ gồm một phần thuyết, không có đề trên bề mặt của câu

Ví dụ: a Cấm hút thuốc lá

b Không chạy xe trong trường

Đọc những câu lệnh trên, người đọc biết ngay là mình bị cấm, mình không được, mình phải,…nhưng Đề của câu đã bị tỉnh lược nhưng người nghe vẫn hiểu rõ

thông tin, có nghĩa là (Ở đây) cấm hút thuốc lá, (Ở đây) Không chạy xe trong trường Đề “Ở đây” đã bị tỉnh lược

Ở bình diện dụng pháp, câu được chia theo thành hai phần là cái cho sẵn và cái mới Nó cũng có thể được gọi là nêu – báo mà chúng tôi sẽ phân tích kĩ hơn các quan niệm của các nhà ngôn ngữ học phía dưới Trong cái cho sẵn và cái mới, thì cái cho sẵn (phần nêu) là xuất phát điểm của thông báo, là đối tượng của cuộc nói chuyện, tức là thông tin đã biết hoặc dễ nhận biết mà từ đó người nói bắt đầu thông báo của mình; còn cái mới (phần báo) là trọng tâm của thông báo, là hạt nhân của cuộc thoại V.Mathesius cũng cho rằng cái cho sẵn tương ứng với phần đề của câu, còn cái mới tương ứng với phần thuyết Sau này, M.A.K Halliday phát hiện cái cho sẵn – cái mới không tương ứng với cấu trúc đề - thuyết của câu

Trang 19

Ví dụ: Cô ấy // đã thức suốt đêm qua

CC CM

(ghi chú: Cái cũ// cái mới)

Trên cơ sở và đề tài của đề tài, chúng tôi sẽ đi theo hướng phân tích câu từ bình diện CTTT Cụ thể hơn về khái niệm, quan niệm câu từ bình diện CTTT, chúng tôi sẽ làm rõ trong các phần sau của khóa luận

1.1.2 Một số quan niệm về CTTT

CTTT vẫn còn là một vấn đề gây nhiều tranh luận của các nhà ngôn ngữ học hiện nay Chính vì thế mà có rất nhiều quan niệm về CTTT, có những quan niệm đồng nhất với nhau, có những quan niệm trái ngược nhau Nhà ngôn ngữ học đầu tiên nghiên cứu về lý thuyết phân đoạn thực tại câu là V.Mathesius cho rằng CTTT

đồng nhất với cấu trúc đề thuyết (theme – rheme/ comment), trong đó đề/ chủ đề

được gọi là thành phần biểu hiện TTC, thông tin đã được tiền giả định trong ngữ

cảnh, có tỉ lực thông báo thấp nhất, còn thuyết/ tiêu điểm thường được xác định là

thành phần mang TTM, thông tin chưa được tiền giả định hoặc là thành phần có tỉ lực thông báo cao nhất Đây là quan niệm phổ biến nhất được nhiều nhà ngôn ngữ học tán thành Nói một cách vắn tắt và sơ lược thì theo cách phân chia này, CTTT của câu được chia làm hai phần: phần thứ nhất là phần chứa cái đã biết hoặc chỉ ít

cũng dễ dàng hiểu được và người nói lấy đó làm điểm xuất phát thì được gọi là đề (

cơ sở), phần còn lại thông báo về điểm xuất phát là phần thuyết (hạt nhân) của phát

ngôn Trong một câu trật tự đề và thuyết có thể thay đổi Nếu đề là T (viết tắt của Theme) đứng trước thì phần thuyết là R (viết tắt của Rheme) đứng sau và ngược lại:

Cả làng Vũ Đại # nhao lên

T R

Trật tự T – R đươc gọi là trật tự khách quan

Đen đủi # cho nó quá

R T

Trang 20

Trật tự R – T được coi là trật tự chủ quan [Dẫn theo 22, tr 10]

Tuy nhiên, ý kiến đồng nhất Đề/thuyết với Thông tin cũ/thông tin mới đã phải gặp phải những rắc rối khi phân tích câu, đặc biệt là phân tích câu theo tình huống và ngữ cảnh

Trong khi một số tác giả tiếp tục duy trì cách phân đoạn đề - thuyết theo tiêu chí “cũ – mới” truyền thống hoặc mở rộng hơn theo tiêu chí coi đề là “cái được nói đến” còn thuyết là bộ phận “thuyết minh” cho đề thì một số nhà nghiên cứu khác lại

đi chệch khỏi sự phân chia lưỡng phân này Chẳng hạn, J Firbas (1996) đưa ra cách

phân đoạn tam phân là đề - chuyển đề- thuyết, trong đó chuyển đề là bộ phận S.Dik

(1981) phân biệt vị thế thông tin của các thành tố câu ở cấp độ dụng học (trong sự khu biệt với các cấp độ kết học và nghĩa học) bằng bốn chức năng dụng học: khởi

đề, kết đề (nằm ngoài nòng cốt) và chủ đề, tiêu điểm (nằm trong nòng cốt) Điều đáng lưu ý trong quan niệm của Dik là tác giả không cho rằng các chức năng dụng học phải tác động đến sự phân đoạn lưỡng phân hình thức theo kiểu “nếu chúng ta gắn một chức năng dụng học nào đó cho một thành tố bất kì của câu, thì toàn bộ phần còn lại của câu nhất thiết cũng phải có một chức năng dụng học khác”, đồng thời tác giả nhấn mạnh đến vai trò của tiêu điểm (Focus) với tư cách là trọng tâm thông báo của câu Khác với các tác giả trên, Dooley (1982) cho rằng phần duy nhất bắt buộc phải có trong câu là hạt nhân dụng pháp, tức là một cái lõi “mang thông báo quan trọng nhất”, có “tác dụng cơ bản nhất đối với lực ngôn trung”, còn phần còn lại chỉ là một cái khung mà nội dung là một tiền giả định được chia sẻ giữa người nói và người nghe Như vậy, với R Dooley cấu trúc câu xét theo quan điểm thông báo là cấu trúc một trung tâm với cốt lõi là hạt nhân dụng pháp hay hạt nhân

thông báo [ Dẫn theo 18]

Trong Việt ngữ học, Panfilov (1980) là người đầu tiên áp dụng cách tiếng

Việt theo tiêu chí lưỡng phân “cũ- mới” và mô tả khá chi tiết các kiểu phân đoạn thực tại câu trong tiếng Việt Trần Ngọc Thêm cũng cho rằng, xét theo sự phân đoạn thông báo, cấu trúc câu được chia thành hai phần rõ rệt là “phần nêu (cái mà người

Trang 21

đọc đã biết hoặc giả định đã biết) và phần báo (cái mới, thông báo về phần nêu)”, và phân biệt chúng với cặp đề - thuyết ở bình diện ngữ pháp: “nêu-báo là sự phân đoạn thông báo được áp dụng cho từng phát ngôn cụ thể trong vị trí thực tại của nó ở một văn bản cụ thể; còn đề - thuyết là sự phân đoạn cấu trúc với các mô hình cấu trúc áp dụng cho từng loạt phát ngôn” Lý Toàn Thắng (1981) và Diệp Quang Ban (1989) cũng vận dụng sự đối lập lưỡng phân (đề - thuyết) của lí thuyết phân đoạn thực tại

để phân tích cấu trúc phân đoạn thực tại của câu tiếng Việt nhưng nghiêng theo tiêu chí mở rộng coi đề là “cái được nói đến” hay là “phần được giải thích” còn thuyết là cái “nói về chủ đề” hay “giải thích cho chủ đề” Tuy nhiên, giữa hai tác giả cũng có điểm khác biệt Theo Lí Toàn Thắng, chủ đề (thuật ngữ Lí Toàn Thắng dùng để chỉ phần đề) có thể đứng trước hoặc sau thuật đề (phần thuyết) và trật tự có thể trùng với vị ngữ, và câu có trật tự khách quan Còn nếu chủ ngữ được nhấn mạnh bằng một trọng âm logic thì thuật đề lại rơi vào chủ ngữ, chủ đề trùng với vị ngữ, và câu

có trật tự chủ quan Trái lại, Diệp Quang Ban lại cho rằng trong cấu trúc phân đoạn thực tại của câu “phần đề luôn đứng trước phần thuyết” và “trong câu đơn hai thành phần với trật tự chủ ngữ - vị ngữ, chủ ngữ sẽ là phần đề, vị ngữ sẽ là phần thuyết” Mặc dù về mặt lý thuyết, các tác giả theo cách tiếp cận lưỡng phân này chủ trương khu biệt sự phân đoạn thực tại (đề - thuyết hay nêu – báo) với phân đoạn ngữ pháp (chủ - vị) nhưng trên thực tế việc phân định và xác lập mối tương liên giữa các chức năng của hai bình diện này rất phức tạp bởi vì tiếng Việt không có các dấu hiệu hình thức thỏa đáng nào cho phép phân biệt rạch ròi các cấu trúc lưỡng phân của hai bình diện [ Dẫn theo 25]

Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo, Lưu Vân Lăng, Nguyễn Hồng Cổn đi ngược lại với quan điểm trên Nhóm tác giả này cho rằng CTTT không thể trùng với cấu trúc đề thuyết Dưới góc độ loại hình ngôn ngữ và ngữ pháp chức năng, các nhà ngôn ngữ học này cho rằng cần phân biệt rõ cấu trúc

đề thuyết ở bình diện cú pháp với CTTT ở bình diện dụng pháp Phê phán cách tiếp cận trên, Cao Xuân Hạo (1991) cho rằng việc đồng nhất cấu trúc đề thuyết với cấu trúc thông báo “may ra chỉ có thể chấp nhận được cho những ngôn ngữ quy chế hóa

Trang 22

sự khác biệt giữa đề và chủ ngữ nhưng lại không có sự phân biệt giữa đề và cái cho sẵn”, còn “trong các ngôn ngữ mà cấu trúc cú pháp cơ bản của câu trực tiếp phản ánh cấu trúc logic ngôn từ (như tiếng Hán và tiếng Việt), cấu trúc thông báo và cấu trúc đề - thuyết phân biệt nhau rất rõ” Cấu trúc đề - thuyết với tư cách là cấu trúc

cú pháp của câu, luôn “chia hết câu thành hai phần”, trong khi “thông tin mới” có thể hết cả câu, một phần bất kì (đôi khi một từ làm bổ ngữ hay định ngữ) hoặc hai phần cách nhau trong câu (chẳng hạn như khi trả lời một câu hỏi như “ai đánh ai”?)

Cụ thể hơn, theo Cao Xuân Hạo cấu trúc thông báo của câu chỉ có một “trọng tâm thông báo” hay là “tiêu điểm” biểu thị thông tin mới, được đánh dấu bằng trọng âm cường điệu [ Dẫn theo 25] Theo Lưu Vân Lăng (1994) “Cần phân biệt phân tích ngữ pháp, cú pháp Ở đây xét chung nhiều mặt, cả hình thức cấu trúc lẫn nội dung chức năng ngữ nghĩa Trong phân tích thông tin mới, chỉ cần nói rõ trọng tâm thông báo Tùy trường hợp trả lời câu hỏi, tiêu điểm thông báo có thể ở bất kỳ thành tố nào trong câu, có khi chỉ là một bộ phận phụ, có khi cả câu”

So với cách tiếp cận lưỡng phân, quan niệm của Cao Xuân Hạo, Lưu Vân Lăng, Nguyễn Hồng Cổn về cấu trúc của câu tiếng Việt với một trung tâm là tiêu điểm hay trọng tâm thông báo quả thật làm cho việc phân tích câu tránh được nhiều phức tạp rắc rối, và điều quan trọng là nó cho phép phân định được một cách rạch ròi cấu trúc thông tin với cấu trúc cú pháp và cấu trúc ngữ nghĩa của câu, nhất là đối với một ngôn ngữ thiếu vắng các phương tiện hình thái học như tiếng Việt [ Dẫn theo 25] Cấu trúc đề thuyết thường biểu hiện chức năng truyền đạt thông điệp còn CTTT thường biểu hiện sự khác biệt về vị thế thông tin của các thành tố của thông điệp trong các tình huống giao tiếp cụ thể Chúng tôi xét ví dụ sau để làm rõ hơn về ý kiến CTTT không đồng nhất với cấu trúc đề thuyết:

(1) Lan// là lớp trưởng lớp 5A

Ở câu này, chủ ngữ (Lan) của câu được chọn làm đề và vị ngữ mở rộng (là lớp trưởng lớp 5A) đóng vai trò là thuyết Nếu cho CTTT trùng với cấu trúc đề thuyết thì chỉ có thể xuất hiện trong một ngữ cảnh duy nhất Điều này nếu xét vào các ngữ cảnh khác nhau thì ta có các câu như sau:

Trang 23

1a) Lan// là lớp trưởng lớp 5A (Ai// là lớp trưởng lớp 5A?)

1b) Lan// là lớp trưởng lớp 5A (Lan // là lớp trưởng lớp nào?)

1c) Lan// là lớp trưởng lớp 5A (Lan //giữ chức vụ gì?)

1d) Lan// là lớp trưởng lớp 5A ( Lan // là lớp phó lớp 5A?)

(Ghi chú: Đề // thuyết; cơ sở - tiêu điểm)

Như vậy, cùng một cấu trúc đề - thuyết nhưng các phát ngôn trên đây khác nhau về giá trị thông tin tương ứng với sự khác biệt về ngữ cảnh sử dụng (thể hiện qua các câu hỏi kiểm chứng)

Chính vì việc phân tích và làm rõ những lý thuyết trên, chúng tôi cũng nghiên cứu đề tài dựa theo quan niệm CTTT là một hướng độc lập (mặc dù có liên quan) chứ không đồng nhất với cấu trúc đề thuyết

đề dưới dạng các thành phần như chủ ngữ - tân ngữ và tác thể - đối thể, một mệnh

đề còn là một tổ chức tương tác phản ảnh mối quan hệ giữa người nói và người nghe Người ta có thể phân tích mệnh đề thông tin theo hai loại cấu trúc: a) cấu trúc

đề thuyết (thematic structure), b) cấu trúc thông tin (information structure) [ Dẫn

theo 23]

Khái niệm về CTTT cũng được các nhà Việt ngữ đưa ra những khái niệm khác nhau Trước đây họ vẫn dùng thuật ngữ “cấu trúc thông báo” để chỉ sự phân đoạn cấu trúc của câu theo vị thế thông tin của các thành tố với hàm ý khu biệt nó

Trang 24

với cấu trúc cú pháp và cấu trúc ngữ nghĩa của câu Theo Cao Xuân Hạo (1991), Cấu trúc thông báo của câu chỉ có một trọng tâm thông báo hay là tiêu điểm biểu thị thông tin mới, được đánh dấu bằng trọng âm cường điệu [ Dẫn theo 22] Còn

Nguyễn Hồng Cổn lại cho rằng: “Cấu trúc thông báo là cấu trúc có một trọng tâm

là tiêu điểm thông báo” [25] và cho rằng tiêu điểm thông báo là thành tố quan trọng

nhất biểu thị phần thông tin mà người nói giả định là người nói và người nghe không cùng chia sẻ Nguyễn Hồng Cổn còn chia CTTT của câu gồm hai phần, đó là: tiêu điểm thông tin (information focus) – giữ chức năng làm nổi bật về mặt

thông tin và cơ sở (background)

Lambrecht đưa ra các phạm trù liên quan đến khái niệm CTTT: i) tiền giả

định và thuyết định (tương đương TTC – TTM, tiền giả định – tiêu điểm), liên quan đến quá trình cấu trúc hóa các mệnh đề thành các phần mà người nói cho rằng

người nghe đã biết hoặc chưa biết ii) tính khả định và tính hoạt hóa, liên quan đến

các giả định của người nói về trạng thái biểu hiện tinh thần của các sở chỉ diễn ngôn

trong nhận thức của người nghe tại thời điểm phát ngôn iii) chủ đề và tiêu điểm,

liên quan đến sự đánh giá của người nói đối với tính có thể dự đoán tương đối và tính không thể dự đoán của các quan hệ giữa mệnh đề và các yếu tố của chúng trong các tình huống diễn ngôn nhất định [ Dẫn theo 22, tr 16] Chúng tôi cũng đồng ý với quan niệm này

Từ việc tìm hiểu và phân tích trên, chúng tôi nhận thấy có một số vấn đề cần làm rõ:

Thứ nhất, có hai hình thức để xác định tính trạng thông tin của câu: TTC – TTM

Thứ hai, khi phân tích CTTT bắt buộc phải dựa vào tình huống và ngữ cảnh

để xác định được đâu là tiêu điểm, đâu là tiền giả định và dựa vào yếu tố nào để xác định được TĐTT

Từ đó, có thể hiểu một cách cơ bản về khái niệm CTTT như sau: “CTTT là

sự mã hóa các thành phần của câu thành hai bộ phận, phần thứ nhất có chức năng bổi bật về mặt thông tin là tiêu điểm thông tin (gọi tắt là tiêu điểm) Phần thứ hai là

Trang 25

phần cơ sở thông tin (gọi tắt là cơ sở) Tùy thuộc vào thời điểm phát ngôn (ngữ cảnh, tình huống) cụ thể để xác định đâu là TĐTT, và TĐTT có thể được nhận diện bằng nhiều yếu tố (ngữ điệu, từ vựng,…) [22, tr 17]

Từ khái niệm này chúng tôi đi theo hướng phân tích CTTT theo các phạm trù: Thông tin cũ, thông tin mới, tiêu điểm thông tin

1.2.4 Khái niệm thông tin cũ (TTC), thông tin mới (TTM), tiêu điểm thông tin (TĐTT)

Khi nói về tình trạng cũ/ mới của thông tin Halliday đã cho rằng: “TTC được

mô tả như là được người nói xử lý như có thể tìm lại được bằng phép trùng lặp hay nhờ tình huống và TTM được cho là tiêu điểm thể hiện ở chỗ người nói trình bày nó như là không thể tìm lại được từ diễn ngôn đi trước” [Dẫn theo 22, tr 17]

Còn W Chafe cho rằng TTC là cái người nghe đã biết rồi, là cái mà người nói tin rằng cả hai đều đồng ý và đang khẳng định niềm tin của mình về thông tin

ấy, còn TTM là cái chưa được biết

Khác với Halliday và Chafe, đưa ra quan niệm về TTC như sau: “TTC không phải vì tình trạng được người nói viết gắn cho thông tin, cũng không phải vì nó nổi trội trong ngữ cảnh hoặc được đề cập đến trước trong ngôn cảnh mà bởi vì tình trạng trong kịch bản mà ngôn ngữ gợi nên Như vậy nền kịch bản tòa án được xác lập, một “luật sư” sẽ hình thành nên một phần của kịch bản này và vì thế có thể được xem như là “cũ” [Dẫn theo 22, tr 18]

Lambreacht đề nghị thay các thuật ngữ “tiền giả định” (tiền giả định dụng học) và “thuyết giả định” (thuyết định dụng học) Trong đó, tiền giả định dụng học

là tập hợp tất cả các mệnh đề được gợi ra về mặt từ vựng ngữ pháp trong một câu

mà người nói cho rằng người nghe đã biết hoặc đã coi là chuyện đương nhiên tại thời điểm câu đó được phát ngôn Thuyết định dụng học là mệnh đề được diễn đạt bởi một câu mà người nghe được hi vọng là sẽ biết hoặc sẽ coi là chuyện đương nhiên sau khi nghe câu đó được phát ra

Trang 26

CTTT vẫn là một lý thuyết đang khá mới mẻ, vì thế các nhà ngôn ngữ học trên thế giới vẫn chưa nhất trí, đi đến quan niệm thống nhất về CTTT, nó vẫn còn chờ sự nghiên với nhiều đóng góp hơn nữa trong tương lai

Vì những quan niệm chưa đi đến thống nhất của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới, CTTT khi được các nhà Việt ngữ học cũng đưa ra những khái niệm khác nhau về TTC, TTM

Các nhà nghiên cứu Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp, Bùi Minh Toán đều cho rằng CTTT của phát ngôn gồm hai phần: phần tin cũ và tin mới (cái cho sẵn – cái mới) và tình trạng cũ – mới của thông tin phụ thuộc vào ngữ cảnh

Tác giả Diệp Quang Ban cũng sử dụng cặp tin cũ – tin mới Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (2001) ông cho rằng tin cũ là phần tin đã biết hoặc dễ nhận biết, tin

mới là phần tin chưa biết Ông cũng đưa ra quan niệm về mối quan hệ giữa CTTT

và cấu trúc đề thuyết và cho rằng CTTT trùng với cấu trúc đề thuyết Đến năm

2004, ông thay cặp khái niệm tin cũ – tin mới bằng thuật ngữ cái cho sẵn và cái mớivì ông cho rằng phần mang thông tin mang đúng nghĩa của từ tin nên không thể gọi là tin cũ

Với quan niệm CTTT gồm hai bộ phận: thông tin tiền giả định và tiêu điểm thông tin, Nguyễn Hồng Cổn đã cho rằng khái niệm “tiêu điểm thông tin” không trùng với khái niệm “thông tin mới” Theo Nguyễn Hồng Cổn, nếu dùng khái niệm TTM theo định nghĩa của Cao Xuân Hạo thì chỉ đúng với trường hợp các câu tường thuật, mà chủ yếu là của các câu trả lời cho những câu hỏi Ai? Gì? Nào? Ở những câu này, cái “mới” quả là cái “chưa có trong ý thức của người nghe” hay cái mà

“người nghe chưa biết” Tuy nhiên, đối với các câu hỏi thì tình hình không phải như vậy Ở đây, cái mới không phải là cái người chưa biết mà chính là cái người nói chưa biết hay đang muốn biết, được đánh dấu bằng chính các đại từ để hỏi như Ai? Gì? Nào? Thế nào? Người nói sử dụng câu hỏi này dựa trên tiền giả định rằng những thông tin thiếu hụt ở tiêu điểm hỏi có trong ý thức của người nghe tại thời điểm nói [Dẫn theo 22, tr 21] Nguyễn Hồng Cổn còn giải thích rằng không phải lúc nào TĐTT cũng mang thông tin mới và là tin quan trọng nhất

Trang 27

người nói và người nghe cùng chia sẻ [Dẫn theo 22, tr 21]

TTC, TTM, TĐTT là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đề tài Có những quan niệm cho rằng CTTT của câu gồm 2 thành phần TTC – TTM, TĐTT là thành phần được nhấn mạnh ở TTM Quan điểm này không sai nhưng chưa đúng ở một số trường hợp như Nguyễn Hồng Cổn đã phân tích Có những quan điểm nói về tính chất mới của thông tin Đó là quan điểm của Đào Thị Thanh Huyền, người cùng quan niệm với Nguyễn Hồng Cổn đã nói về TTC, TTM như sau: “TTC là điều người nói và người nghe cùng biết do sự hiện hữu của đối tượng hoặc được được qui chiếu bằng các biểu thức hồi chỉ trong phát ngôn hiện hữu Còn TTM, cái mới

là cái mà người nói cho là người nghe chưa biết trước đó hay chưa biết vào thời điểm nói, hoặc không xác định hay đôi khi là xác định, hoặc là phần đi theo sau các

biểu thức khứ chỉ của câu/ phát ngôn trước [28, tr 37] Từ việc phân tích quan niệm

về TTC, TTM Nguyễn Thị Thanh Huyền đi đến kết luận về TĐTT: TĐTT là phần đảm nhận trọng trách tập trung thông tin Tiêu điểm thông tin có thể là một yếu tố đơn lẻ, có thể là một ngữ đoạn, một cú đoạn, hay rộng hơn có thể là cả một câu Tiêu điểm được nêu bật bằng phương thức ngôn ngữ nhất định nào đó nhằm đối lập

nó với những yếu tố lẽ ra có thể thay thế nó trên trục đối vị trong biểu thức ngôn ngữ đang dùng gắn với một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể [28, tr 40] Theo hướng tiếp

cận và phân tích chúng tôi cũng đồng ý với quan niệm đó

Trang 28

Vì CTTT còn là một lý thuyết khá mới mẻ nên có rất nhiều ý kiến và quan niệm khác nhau Hiện nay, các nhà ngôn ngữ học vẫn chưa thể và đưa ra một quan niệm thống nhất, điều này gây khó khăn trong cách tiếp cận và nghiên cứu để biết được đâu là quan niệm chính xác, hợp lí Nhưng nó cũng hứa hẹn sẽ mang lại nhiều

vấn đề thú vị cho các nhà ngôn ngữ quan tâm và nghiên cứu nó

1.2.5 Dấu hiệu nhận biết TĐTT

Khi phân tích câu theo bình diện CTTT, phần quan trọng nhất mà chúng ta cần xác định được đó là TĐTT Vậy để xác định rõ hơn về TĐTT chúng tôi dựa vào những tiêu chí sau:

1.1.5.1 Dựa vào hình thức trình bày của ngôn ngữ

Trong giao tiếp, chức năng quan trọng nhất mà người nói muốn truyền đến

và người nghe tiếp nhận chính là chức năng thông tin Trong ngôn ngữ nói thì TĐTT được đánh dấu bằng sự nhấn mạnh của trọng âm cười điệu Nhưng với ngôn ngữ viết TĐTT được nhấn mạnh bằng hình thức trình bày của ngôn ngữ

Vấn đề hình thức trình bày của ngôn ngữ ở đây có thể được xem xét ở 2 góc

độ hình thức thuần túy ngôn ngữ và hính thức hộ trỡ ngôn ngữ i) hình thức thuần

túy ngôn ngữ được thể hiện thông qua sự hiện diện của câu chữ Đó có thể là cách viết hoa các từ, cách dùng dấu câu: dấu ba chấm (…); dấu gạch nối (-); dấu ngoặc

kép (“”); … để đánh dấu TĐTT ii) hình thức trợ ngôn ngữ có thể là cỡ chữ to nhỏ,

kiểu chữ khác thường như in đậm, in hoa, màu,…

Như vậy, qua hai ví dụ trên ta dễ nhận thấy được đâu là tiêu điểm thông tin Ở ví

dụ (a), TĐTT được đánh dấu trong chữ in nghiêng sinh nhật cái Lan và sẽ tổ chức

đi dã ngoại, còn trong ví dụ (b) tiêu điểm được đặt trong dấu ngoặc kép“có bằng tin

học và bằng tiếng anh B1”

Trang 29

1.1.5.2 Dựa vào ngôn điệu

Hiện tượng ngôn điệu gồm có: ngữ điệu, thanh điệu, trọng âm CTTT theo Halliday được hiện thực hóa qua ngữ điệu, thể hiện qua ba yếu tố

Thứ nhất, đóng gói thông tin, tức là nhóm lời nói thành những đơn vị thông

tin và người nói tự do quyết định thông tin bắt đầu và kết thúc ở đâu

Ví dụ: John đã đi ra vườn với Mary có thể thành 2 hoặc 3 nhóm

(a) John - đã đi ra vườn với Mary

(b) John – đã đi ra vườn với – Mary [Dẫn theo 22, tr.26]

Thứ hai, nhóm trọng âm và nhóm âm (tone group and tonics)

Các đơn vị thông tin được hiện thực hóa trực tiếp qua lời nói như là các nhóm trọng âm và người nói sẽ phân bố định lượng thông tin mà anh ta muốn biểu hiện thành các đơn vị xác định về mặt âm vị

Ví dụ: Lời kể chuyện của một cô bé 4 tuổi

a // in a /far – away/ LAND//

b // there / lived a / bad / naughty / FAIRy//

c // and a handsome / PRINCE //

d // and a / lovely / PRINcess //

e // she was a / really / WICKed / fairly // [ Dẫn theo 22, tr 26]

(Cách viết hoa: trọng âm, dấu // là: nhóm trọng âm bằng và dấu là: khoảng lặng)

Thứ ba, đơn vị dừng xác định, nghĩa là dựa vào các khoảng dừng trong phát ngôn để

xác định thành phần tin nào mà người nói cho là quan trọng hơn

Trang 30

1.1.5.3 Dựa vào hình thức từ vựng

Harris cho rằng hình thức cú pháp thường liên hệ thông tin cũ bao gồm : i)

ngữ danh từ (các đơn vị từ vựng được đề cập đến lần thứ hai, các đơn vị là trường

ngữ nghĩa của các đơn vị từ vựng trước đó); ii) đại từ (đại từ dùng theo phép trùng

lặp, đại từ dùng theo phép ngoại chiếu) Trong tiếng Anh, sự có mặt của hai mạo từ

A và THE cũng xác định được trình trạng cũ mới của thông tin

Ví dụ: Khi đề cập đến tri giác ban đầu chưa biết: “The goes A Beggar, with

A long Beard” Người đàn ông ấy đi ra và quay lại một tuần sau Lúc này phát ngôn

sẽ là: “The goes THE Beggar, with THE long Beard”, chỉ có mạo từ thay đổi và vẫn còn phần được giữ nguyên [ Dẫn theo 22, tr 27]

Để nhận biết TĐTT, còn có dựa vào từ hồi chỉ - khứ chỉ, trợ từ, phó từ

Ở ví dụ (1) người ta đưa ra phát ngôn đã định vị thông tin việc nó bỏ nhà ra

đi là thông tin mà người nghe đã biết, vì nó đã từng bỏ nhà ra đi rồi Lần này nó “lại

bỏ nhà ra đi” thì từ hồi chỉ “lại” đánh dấu phần từ ngữ đi sau nó chính là TĐTT mà người nói muốn thông báo

Đối với ví dụ (2) cũng tương tự, người đưa ra phát ngôn đã định vị thông tin

việc người chết vì nạn dịch là chuyện đã xảy ra và người nghe đã biết rồi Bây giờ thêm người chết vì nạn dịch thì từ khứ chỉ “thêm” đánh dấu thành phần phía sau là

TĐTT của phát ngôn [ Dẫn theo 22, tr 28]

Từ hai ví dụ trên chúng ta có thế thấy rằng: Nếu trong một phát ngôn có xuất hiện từ hồi chỉ hoặc khứ chỉ thì thành phần theo sau từ hồi chỉ hay khứ chỉ là TĐTT

- Trợ từ:

Trang 31

Có hai loại trợ từ là trợ từ tình thái và trợ từ nhấn mạnh

Trợ từ tình thái biểu thị tình cảm và các từ thường đứng ở cuối phát ngôn và thêm vào nội dung chính của phát ngôn một số ý nghĩa tình thái nhất định Chẳng

hạn à, ư, hả trong câu nghi vấn; đi, thôi, mà trong câu mệnh lệnh; mà, đấy trong câu

cứ, lại, vẫn, đều,…)…có tác dụng chỉ xuất TĐTT

Trang 32

Với phó từ “đang”, câu nói trên còn có thêm các ý nghĩa

+ Việc cửa hàng bán xe máy là việc quan trọng đối với người nghe, là việc mà

có lẽ người nghe đang quan tâm, chờ đợi

+ Cửa hàng chỉ bán xe máy trong một giai đoạn nhất định

+ Mau ra mua! (Nếu không thời cơ có thể hết) [ Dẫn theo 22, tr 30]

Phó từ có thể được lặp lại về ý nghĩa, nhưng khi phân tích thông tin theo sự lặp lại của câu thì TTM và TĐTT không trùng nhau:

Ví dụ: Chị ấy kết hôn đã 5 năm rồi mà vẫn chưa có con

TĐTT

Thông tin “vẫn chưa có con” là TTC Nhưng khi đi sau với phó từ “vẫn” thì

thông tin chưa có con trở thành TĐTT Bởi ngoài giá trị thông báo, phó từ vẫn còn

mang giá trị tình thái: theo đánh giá của người nói, phụ nữ sau khi kết hôn thường sinh trong năm kế tiếp hoặc cách vài năm, nhưng ở đây đã kết hôn 5 năm mà chưa

có con thì đó là một điều lạ so với mọi người Điều này đã làm nên tính mới về mặt thông tin

Từ ví dụ trên, chúng ta có thể nhận diện ra rằng: Nếu trong phát ngôn có xuất hiện phó từ thì thành phần theo sau phó từ là TĐTT

1.1.5.4 Dựa vào hình thức câu

Lambrecht (1994) xác định: “CTTT là bộ phận cấu thành ngữ pháp của câu Ở

đó, các mệnh đề biểu thị sự tình được kết đôi với các cấu trúc ngữ pháp, thể hiện trạng thái tâm lý của những người đối thoại – những người thể hiện và sử dụng những cấu trúc này như những đơn vị thông tin, trong ngữ cảnh diễn ngôn nhất định [Dẫn theo 22, tr.31] Chúng tôi phân chia hình thức CTTT thành hai trường hợp: đánh dấu và không đánh dấu

Trang 33

 Với trường hợp không được đánh dấu thì trật tự cơ sở - tiêu điểm trùng với trật tự đề thuyết

Ví dụ: Mẹ// mua cho Hoa chiếc cặp mới

(đề // thuyết; cơ sở // tiêu điểm)

Trường hợp câu được đánh dấu theo là tỉnh lược và trật tự từ

+ Tỉnh lược (ellipsis) là thủ pháp rút gọn hình thức câu bằng cách loại bỏ bớt các thành tố không qua yếu về mặt thông tin trong cấu trúc cú pháp của câu Có nhiều nhân tố chế định khả năng tỉnh lược các thành tố cú pháp của câu (ngữ cảnh, ý định của người nói, nguyên tắc hội thoại,…), trong đó đóng vai trò quan trọng là sự khác biệt về vị thế thông tin của các thành tố được phản ánh qua CTTT [4]

Trong CTTT, phần cơ sở có thể bị tỉnh lược, còn TĐTT thì không thể tỉnh lược

Ví dụ: 1) a Ø Đói không?

b Ø Không đói Ø Chỉ mệt thôi

2) a Anh đến đây bao giờ?

b Ø Từ hôm kia [4]

+ Trật tự từ: Trật tự từ cũng là một phương tiện để đánh dấu TĐTT của câu tiếng Việt Dựa vào khả năng thay đổi trật tự từ để đánh dấu TĐTT Nguyễn Hồng Cổn

chia trật tựu từ thành hai loại là: tiền đảo và hậu đảo

- Tiền đảo: được tạo thành bằng cách chuyển thành tố có chức năng tiêu điểm khỏi vị trí cuối câu (không đánh dấu) lên vị trí đầu câu (đánh dấu), ví dụ:

a Ông Tư mắng ai vậy?

b Ông ấy mắng tất cả mọi người Ông ấy mắng cả tôi

-> c Ông ấy mắng tất cả mọi người Cả tôi ông ấy cũng mắng [4]

Ngày đăng: 25/05/2019, 12:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Diệp Quang Ban (2009), Ngữ pháp Việt Nam – phần câu, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Việt Nam – phần câu
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2009
4. Nguyễn Hồng Cổn (2010), Cấu trúc thông tin và biến thể cú pháp của câu tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc thông tin và biến thể cú pháp của câu tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn
Năm: 2010
5. Ngô Thị Kim Cúc (2002), “Cái ác ở phía ít ngờ nhất”, Cõi người rung chuông tận thế, 2003, NXB Đà Nẵng (tr.310 -313) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái ác ở phía ít ngờ nhất”, "Cõi người rung chuông tận thế
Tác giả: Ngô Thị Kim Cúc
Nhà XB: NXB Đà Nẵng (tr.310 -313)
Năm: 2002
6. Nguyễn Đăng Điệp (2002), “Hồ Anh Thái, người mê chơi cấu trúc”, Cõi người rung chuông tận thế, 2003, NXB Đà Nẵng (tr.338-360) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Anh Thái, người mê chơi cấu trúc”, "Cõi người rung chuông tận thế
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: NXB Đà Nẵng (tr.338-360)
Năm: 2002
7. Cao xuân Hạo (chủ biên), Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tươm (1999), Ngữ pháp chức năng Tiếng Việt, quyển 1, Câu trong tiếng việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng Tiếng Việt, quyển 1, Câu trong tiếng việt
Tác giả: Cao xuân Hạo (chủ biên), Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tươm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
8. Cao xuân Hạo (chủ biên), Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tươm (1999), Ngữ pháp chức năng Tiếng Việt, quyển 2, Ngữ đoạn và từ loại, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng Tiếng Việt, quyển 2, Ngữ đoạn và từ loại
Tác giả: Cao xuân Hạo (chủ biên), Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tươm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
9. Cao xuân Hạo (2004), Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao xuân Hạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
10. Nguyễn Văn Hiệp (2012), Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
11. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2008), Về cấu trúc tiêu điểm thông tin, Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TP.HCM, số 15, tr. 137-148 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về cấu trúc tiêu điểm thông tin
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Huyền
Năm: 2008
12. Lê Minh Khuê, “Cõi người rung chuông tận thế và Hồ Anh Thái”, Cõi người rung chuông tận thế, 2003, NXB Đà Nẵng (tr.273-285) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cõi người rung chuông tận thế và Hồ Anh Thái”, "Cõi người rung chuông tận thế
Nhà XB: NXB Đà Nẵng (tr.273-285)
13. Lê Hồng Lâm (2002), “Người đi qua bóng mình”, Cõi người rung chuông tận thế, 2003, NXB Đà Nẵng (tr.265-272) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người đi qua bóng mình”, "Cõi người rung chuông tận thế
Tác giả: Lê Hồng Lâm
Nhà XB: NXB Đà Nẵng (tr.265-272)
Năm: 2002
16. Hoàng Phê (chủ biên) (2004), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2004
17. Trần Kim Phượng (2010), Bàn thêm về cấu trúc Đề - Thuyết của câu tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về cấu trúc Đề - Thuyết của câu tiếng Việt
Tác giả: Trần Kim Phượng
Năm: 2010
23. Nguyễn Phước Vĩnh Cố (2011), Cấu trúc thông tin và cấu trúc đề thuyết trong dịch thuật, nguồn:https://nguyenphuocvinhco.com/2011/07/27/c%E1%BA%A5u-truc-thong-tin-va-c%E1%BA%A5u-truc-d%E1%BB%81-thuy%E1%BA%BFt-trong-d%E1%BB%8Bch-thu%E1%BA%ADt/, ngày truy cập: 10/04/2018 Link
24. Nguyễn Hồng Cổn (2011), Các kiểu cấu trúc thông tin của câu đơn tiếng Việt, nguồn: http://nguyentienhai.blogspot.com/2011/05/cac-kieu-cau-truc-thong-tin-cua-cau-on.html, ngày truy cập: 28/10/2017 Link
25. Nguyễn Hồng Cổn (2001), Bàn thêm về cấu trúc thông báo của câu Tiếng Việt, nguồn: http://luanvan.net.vn/luan-van/ban-them-ve-cau-truc-thong-bao-cua-cau-tieng-viet-44762/, ngày truy cập: 28/03/2018 Link
27. Trần Thị Thanh Hải, Nghệ thuật kể chuyện trong cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái, Luận văn tốt nghiệp, nguồn:https://123doc.org/document/2635024-nghe-thuat-ke-chuyen-trong-coi-nguoi-rung-chuong-tan-the-cua-ho-anh-thai.htm, ngày truy cập: 28/10/2017 Link
28. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2012), Cấu trúc TĐTT trong câu tiếng Việt và tiếng Anh, Tóm tắt luận án Tiến sĩ, nguồn:https://123doc.org//document/3423934-cau-truc-tieu-diem-thong-tin-trong-cau-tieng-viet-va-tieng-anh.htm, ngày truy cập: 17/04/2018 Link
29. Đoàn Tiến Lực (2013), Vài nét giới thiệu về lý thuyết cấu trúc thông tin, nguồn: http://huc.edu.vn/vai-net-gioi-thieu-ve-ly-thuyet-cau-truc-thong-tin-1480-vi.htm, ngày truy cập: 26/10/2017 Link
30. Phạm Xuân Thạch (2015), Từ tiểu thuyết cõi người rung chuông tận thế, suy nghĩ về một hiện tượng phê bình, nguồn:http://vanthonhactrieuchau.blogspot.com/2015/01/tu-tieu-thuyet-coi-nguoi-rung-chuong.html, ngày truy cập: 26/10/2017 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w