1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của địa danh huyện Tây Giang - Quảng Nam

114 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Ngôn ngữ học với đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của địa danh huyện Tây Giang – Quảng Nam” ngoài sự nỗ lực, cố g

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC ThS HỒ TRẦN NGỌC OANH

Đà Nẵng, tháng 04 năm 2018

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Ngôn ngữ học với đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của địa danh huyện Tây Giang – Quảng Nam” ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, những lời động viên sâu sắc từ thầy cô, gia đình, bạn bè

Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giảng viên Thạc sĩ:

Hồ Trần Ngọc Oanh, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả các thầy giáo, cô giáo đã giảng dạy em trong suốt những năm học vừa qua, cung cấp cho tôi những kiến thức

bổ ích để tôi ứng dụng vào đề tài luận văn của mình

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo, các nhân chứng điền

dã và cộng tác viên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Người thực hiện

Đỗ Thế Vạn

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu, kết quả nghiên cứu và các kết luận được trình bày trong luận văn hoàn toàn trung thực

và chưa được công bố ở bất kỳ một nghiên cứu nào Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Người thực hiện

Đỗ Thế Vạn

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CÁM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 9

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 10

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11

3.1 Mục đích nghiên cứu 11

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

4.1 Đối tượng nghiên cứu 12

4.2 Phạm vi nghiên cứu 12

5 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu 12

5.1 Tư liệu nghiên cứu 12

5.2 Phương pháp nghiên cứu 13

6 Đóng góp của luận văn 13

7 Cấu trúc của luận văn 14

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 15

1.1 Khái quát về địa danh 15

1.1.1 Định nghĩa địa danh 15

1.1.2 Phân loại địa danh 17

1.1.2.1 Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu 17

1.1.2.2 Căn cứ vào nguồn gốc ngôn ngữ tộc người 17

1.1.3 Đặc điểm của địa danh 17

1.1.4 Chức năng của địa danh 18

1.1.5 Vị trí của địa danh trong ngôn ngữ học 18

1.2 Vài nét về tiếng Cơ-tu 21

1.2.1 Đặc điểm về ngữ âm 22

1.2.2 Đặc điểm về từ vựng 23

Trang 5

1.2.3 Đặc điểm về ngữ pháp 23

1.2.4 Vài nét về chữ viết 23

1.3 Tư liệu thực tế về lịch sử, địa danh huyện Tây Giang 24

1.3.1 Đặc điểm chung về lịch sử, địa lí và cư dân huyện Tây Giang 24

1.3.2 Kết quả thu thập và phân loại địa danh huyện Tây Giang 24

1.3.2.1 Kết quả thu thập 24

1.3.2.2 Kết quả phân loại 26

Tiểu kết: 32

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA ĐỊA DANH HUYỆN TÂY GIANG 33

2.1 Đặc điểm cấu tạo địa danh về mặt hình thức 33

2.1.1 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh huyện Tây Giang 33

2.1.2 Thành tố chung trong cấu trúc phức thể địa danh huyện Tây Giang 34

2.1.2.1 Kết quả thu thập và phân loại 34

2.1.2.2 Đặc điểm và cấu tạo của thành tố chung 35

2.1.2.3 Khả năng chuyển hóa của thành tố chung 37

2.1.2.4 Một vài nhận xét về thành tố chung 38

2.1.3 Đặc điểm của thành tố tên riêng trong cấu trúc phức thể địa danh 39

2.1.3.1 Vị trí của tên riêng trong cấu trúc phức thể địa danh 39

2.1.3.2 Đặc điểm cấu tạo tên riêng trong địa danh huyện Tây Giang 39

2.1.3.3 Các yếu tố cấu tạo địa danh huyện Tây Giang 45

2.2 Đặc điểm cấu tạo địa danh về mặt nội dung 46

2.2.1 Phương thức tự tạo 46

2.2.1.1 Nhóm dựa vào đặc điểm của chính đối tượng để đặt tên 46

2.2.1.2 Nhóm địa danh dựa vào sự vật, yếu tố có quan hệ chặt chẽ với đối tượng để đặt tên 48

2.2.1.3 Lồng ghép các yếu tố Hán Việt để đặt tên 49

2.2.1.4 Loại dùng số thứ tự hoặc chữ cái để đặt tên 49

2.2.2 Phương thức chuyển hóa 49

2.2.2.1 Chuyển hóa trong nội bộ một loại địa danh 50

2.2.2.2 Chuyển hóa giữa các loại địa danh 51

2.2.3 Phương thức vay mượn 52

Trang 6

2.3 Vấn đề chuẩn hóa chính tả địa danh gốc Cơ-tu ở Tây Giang trong tiếng Việt 54

2.3.1 Thực trạng cách viết địa danh gốc Cơ-tu trong tiếng Việt 54

2.3.1.1 Cách viết từ ngữ âm học không thống nhất 55

2.3.1.2 Cách viết các phụ âm không thống nhất 59

2.3.1.3 Chuyển tự không thống nhất 62

2.3.1.4 Phiên âm kết hợp với sự chuyển dịch trùng lặp về nghĩa 64

2.3.2 Cách phiên chuyển địa danh gốc Cơ-tu sang tiếng Việt 64

2.3.2.1 Đặc điểm ngữ âm – chữ viết Cơ-tu 64

2.3.2.2 Cách phiên chuyển địa danh gốc Cơ-tu sang tiếng Việt 65

CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA – VĂN HÓA CỦA ĐỊA DANH HUYỆN TÂY GIANG 74

3.1 Đặc điểm về nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh huyện Tây Giang 74

3.1.1 Địa danh có nguồn gốc và ý nghĩa rõ ràng 74

3.1.2 Địa danh có nguồn gốc và ý nghĩa không rõ ràng 79

3.2 Nguyên nhân biến đổi và ra đời, mất đi của địa danh huyện Tây Giang 80

3.2.1 Nguyên nhân biến đổi địa danh 80

3.2.1.1 Biến đổi do lịch sử, địa lí 80

3.2.1.2 Biến đổi do ngôn ngữ 81

3.2.1.3 Biến đổi do những nguyên nhân xã hội 81

3.2.2 Nguyên nhân ra đời và mất đi của một địa danh 82

3.2.2.1 Nguyên nhân xã hội 82

3.2.2.2 Nguyên nhân hiện thực 82

3.2.2.3 Nguyên nhân chính trị 82

3.3 Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa thể hiện qua địa danh huyện Tây Giang 83

3.3.1 Một số vấn đề về văn hóa và ngôn ngữ 83

3.3.1.1 Khái niệm văn hóa 83

3.3.1.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 84

3.3.2 Đặc trưng văn hóa thể hiện qua địa danh huyện Tây Giang 86

3.3.2.1 Đặc trưng văn hóa thể hiện qua các thành tố chung 86

3.3.2.2 Địa danh huyện Tây Giang phản ánh đặc điểm địa hình tự nhiên, dấu ấn văn hóa – tộc người, tâm tư tình cảm của người dân 88

Trang 7

3.3.3 Mối tương quan giữa địa danh huyện Tây Giang với địa danh tỉnh Quảng

Nam và địa danh cả nước 92

3.3.3.1 Tính thống nhất trong đang dạng giữa địa danh huyện Tây Giang so với địa danh tỉnh Quảng Nam và địa danh cả nước 92

3.3.3.2 Nét đặc thù địa danh huyện Tây Giang 93

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Số lượng và tỉ lệ phần trăm (%) của địa danh huyện Tây Giang 17

Bảng 1.2: Số lượng và tỉ lệ (%) về sự phân loại địa danh dựa trên đối tượng địa lí tự nhiên và không tự nhiên 20

Bảng 1.3: Số lượng và tỉ lệ (%) của địa danh huyện Tây Giang được phân loại theo tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ 23

Bảng 2.1: Mô hình phức thể địa danh có gốc ngôn ngữ dân tộc Cơ-tuở huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam 25

Bảng 2.2: Số lượng và tỉ lệ (%) của thành tố chung trong địa danh huyện Tây Giang 32

Bảng 2.3: Số lượng và tỉ lệ (%) của âm tiết tạo thành các thành tố tên riêng 32

Bảng 2.4: Số lượng và tỉ lệ (%) của các địa danh có cấu tạo đơn 33

Bảng 2.5: Số lượng và tỉ lệ (%) của thành tố tên riêng đơn cấu tạo bằng từ đơn đa tiết 34

Bảng 2.6: Số lượng và tỉ lệ (%) của địa danh có cấu tạo phức 35

Bảng 2.7: Số lượng và tỉ lệ (%) của địa danh huyện Tây Giang theo phương thức định danh 44

Bảng 2.8: Sự không thống nhất trong cách viết địa danh gốc Cơ-tu 47

Bảng 2.9: Sự không thống nhất trong cách viết địa danh gốc Cơ-tu 48

Bảng 2.10: Sự không thống nhất trong cách viết địa danh gốc Cơ-tu 49

Bảng 2.11: Sự không thống nhất trong cách viết địa danh gốc Cơ-tu 50

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Địa danh từ lâu đã được xem là một chứng tích, ghi lại những giá trị lịch

sử - văn hóa bằng ngôn ngữ độc đáo Được cấu tạo từ chất liệu ngôn ngữ, địa danh

là một bộ phận đặc biệt của từ vựng học Chịu tác động của các quy luật ngữ âm, địa danh còn là đối tượng nghiên cứu của ngữ âm học Đồng thời, do được cấu tạo theo các phương thức cấu tạo từ khác nhau nên chúng cũng là đối tượng được ngữ pháp học chú ý Địa danh còn là sản phẩm do người bản địa tạo ra, gắn chặt với một vùng phương ngữ, thể hiện nét văn hóa riêng của địa phương ấy Như vậy, địa danh là một đối tượng đặc biệt mà các phân môn thuộc ngôn ngữ học quan tâm

Gắn với văn hóa - địa lí - lịch sử dân cư, vì vậy, địa danh có mối dây liên

hệ chặt chẽ với từng vùng đất nhất định Qua địa danh nào đó, ta có thể tìm thấy được bề sâu về lịch sử - xã hội của một dân tộc, thấy được đặc trưng văn hóa, cuộc sống sinh hoạt và năng lực nhận thức cũng như tâm lí của học Trong một vùng đất

có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống thì địa danh nơi đó cũng mang dấu tích của nhiều ngôn ngữ khác nhau

Tây Giang là huyện phía Tây tỉnh Quảng Nam, nằm ngay phía Tây cửa ngõ ra vào của tỉnh qua tuyến biên giới Lào Khảo sát và phân tích địa danh ở một nơi mà dân tộc thiểu số chiếm tới 95% dân số trong toàn huyện, chúng tôi nhận thấy nổi trội hơn hết là một lớp địa danh bằng tiếng dân tộc (chủ yếu là tiếng Cơ-tu) phổ biến trong huyện Nghiên cứu địa danh của một ngôn ngữ cũng như của một địa phương đã giúp hiểu được đặc điểm văn hóa - lịch sử của một dân tộc hoặc của một cộng đồng dân cư địa phương thông qua chất liệu ngôn ngữ của vùng này

Vì vậy, việc nghiên cứu đặc điểm cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa - văn hóa của địa danh ở một vùng có đặc thù như vậy sẽ góp phần tìm hiểu sâu hơn bản sắc văn hóa của người dân nơi đây

Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của địa danh huyện Tây Giang - Quảng Nam” để nghiên cứu

Trang 10

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Tính đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về địa danh học, bao gồm những công trình có tính chất lí luận và những công trình nghiên cứu địa danh

cụ thể của mỗi vùng đất, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về

“Đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của địa danh huyện Tây Giang - Quảng Nam” Tuy nhiên, các công trình có tính chất lý luận và những công trình nghiên cứu địa danh cụ thể của mỗi vùng đất cụ thể đã góp phần rất lớn để chúng tôi tham khảo,

từ đó tìm ra được định hướng nghiên cứu thích hợp để hoàn thành đề tài này

Với tư cách là một bộ phận từ vựng của một ngôn ngữ, địa danh thường được các nhà ngôn ngữ học xem xét từ nhiều góc độ như: cấu tạo, ý nghĩa, phương thức định danh, nguồn gốc, quá trình biến đổi,… Theo Superanskaia trong “Địa danh học là gì” (1985) có đề cập: “Chức năng của địa danh là định vị các mục tiêu

về mặt lãnh thổ nên trong ý thức của mỗi con người, mỗi địa danh nhất định đều gắn liền với một nơi nhất định và một thời đại nhất định Sự phân bố không gian này của các địa danh cho phép chúng trở thành nhân tố đại diện và bảo tồn phần lớn thông tin văn hóa” [27, tr.1]

Việc nghiên cứu về địa danh nói chung và địa danh mang đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa nói riêng đang là vấn đề được rất nhiều tỉnh, thành phố cùng các nhà nghiên cứu quan tâm Trên thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu về địa danh ở mỗi vùng đất và đạt những thành tựu tiêu biểu được công bố như: Địa danh thành phố Đà Nẵng (Hoàng Tất Thắng), Nghiên cứu địa danh Quảng Trị (Từ Thu Mai), Nghiên cứu địa danh Phú Yên (Phan Thanh Bình), Đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của địa danh ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Tây Thừa Thiên Huế (Trần Văn Sáng),… Chính những công trình này không chỉ giúp cho bức tranh nghiên cứu địa danh ở Việt Nam ngày càng đa dạng phong phú mà còn là nguồn tư liệu tham khảo quý báu cho những công trình nghiên cứu địa danh về sau Hơn nữa, chính các công trình nghiên cứu những cụ thể về địa danh của từng vùng đất này đã góp phần rất lớn để chúng tôi tham khảo để hoàn thành đề tài này

Trang 11

Hơn nữa, nghiên cứu sâu hơn về địa danh, tác giả Trần Văn Sáng trong bài

“Đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của địa danh có nguồn gốc tiếng Cơ tu ở Thừa Thiên Huế” đã đăng trong “Kỉ yếu Hội thảo quốc tế Đào tạo và nghiên cứu ngôn ngữ học ở Việt Nam: những vấn đề lí luận và thực tiễn” công bố năm 2013 đã có một cách nghiên cứu mới, sâu hơn về vấn đề địa danh học Bên cạnh đó, năm

2013, tác giả còn cho công bố các công trình “Vấn đề chuẩn hóa địa danh dân tộc thiểu số trong văn bản tiếng Việt (Qua khảo sát địa danh ở Thừa Thiên Huế)” Đến năm 2014, tác giả tiếp tục cho đăng tải bài viết “Cách phiên chuyển địa danh gốc dân tộc thiểu số ở Thừa Thiên Huế sang tiếng Việt” được in trong Tạp chí Khoa học, số 1, 2014 (tr.396-412) và “Những vấn đề Chính tả tiếng Việt hiện nay” Chính những công trình này là nguồn tư liệu tham khảo có giá trị rất lớn giúp chúng tôi hoàn thành được đề tài này

Theo khảo sát, chúng tôi thu thập được bài viết “Địa danh có nguồn gốc tiếng Cơ-tu ở Quảng Nam”, tác giả Nguyễn Hữu Hoành chỉ dừng lại ở hai khía cạnh: “phương thức định danh” và “các đặc trưng văn hóa được thể hiện qua định danh” Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về “Đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của địa danh huyện Tây Giang - Quảng Nam”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Căn cứ trên nhu cầu lí thuyết và ứng dụng vào thực tiễn, mục đích nghiên cứu của đề tài này muốn hướng đến: Một là, khảo sát và phân tích những yếu tố liên quan đến đặc điểm của địa danh huyện Tây Giang về cấu tạo hình thức, đặc điểm ngữ nghĩa và những đặc trưng văn hóa qua mối quan hệ giữa địa danh với lịch sử, địa lí, phương ngữ và đặc biệt là sự tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Việt và tiếng Cơ-tu (ngôn ngữ của cư dân bản địa ở Tây Giang) Từ đó làm nổi bật những đặc điểm về phương thức định danh từ góc độ ngôn ngữ - văn hóa và làm sáng tỏ truyền thống, văn hóa của địa phương Hai là, thông qua những kết quả đạt được từ

Trang 12

luận văn này, góp phần xác định rõ nguồn gốc của tiếng Cơ-tu do có sự cạnh tranh

về nguồn gốc giữa hai huyện Tây Giang và Đông Giang

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu các vấn đề lí thuyết về định danh, về địa danh và các vấn đề đặc trưng văn hóa của địa danh

- Điền dã, khảo sát thực tế các địa danh tồn tại trên địa bàn huyện Tây Giang để thu thập các thông số thông tin của địa danh

- Thống kê, miêu tả, phân tích cứ liệu để rút ra nhận xét về nguồn gốc ngôn ngữ, cấu tạo và ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo địa danh Trên cơ sở đó khái quát về sự tương tác giữa ngôn ngữ với văn hóa, lịch sử cũng như mối quan hệ giữa địa danh huyện Tây Giang với địa danh trong tỉnh Quảng Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các địa danh ở huyện Tây Giang thuộc tỉnh Quảng Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi tập trung khảo sát 231 địa danh thuộc huyện Tây Giang, trong

đó có: 87 địa danh hành chính; 5 địa danh công trình xây dựng, 3 địa danh kinh tế -

xã hội, 136 địa danh địa hình tự nhiên

5 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Tư liệu nghiên cứu

Tư liệu mà chúng tôi sử dụng trong luận văn này được chia thành ba nguồn chính:

+ Nguồn tư liệu thành văn

Trước hết, đó là những công trình nghiên cứu đã được công bố của các tác giả trong nước có liên quan đến đề tài; các bài viết đăng trên các tạp chí, trong các

kỉ yếu hội thảo khoa học Trong đó những bài viết liên quan trực tiếp đến địa danh được chúng tôi đặc biệt chú ý

Tài liệu phân chia đơn vị hành chính, địa danh, địa giới

Trang 13

Bảng tổng hợp các thôn, bản, làng được lưu trữ tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh, huyện

+ Các loại bản đồ

+ Nguồn tư liệu điền dã: là nguồn tài liệu có ý nghĩa đặc biệt đối với sự thành bài của đề tài Đây là những tài liệu do nhóm tác giả tiến hành điều tra nghiên cứu, khảo sát trên thực tế, đối chiếu tư liệu với tư liệu thành văn trong quá trình thực hiện đề tài này

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp ngôn ngữ học:

 Phương pháp thống kê, phân loại là sử dụng phương pháp điều ra bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu

 Phương pháp điền dã là phương pháp cơ bản mà chúng tôi vận dụng Bằng phương pháp điền dã, chúng tôi có thể quan sát, nghe những người bản địa ở chính địa danh đó phát âm, kể về địa danh, ghi chép, chụp ảnh… nhằm xác định các địa danh về mặt từ, ngữ cũng như địa điểm mà địa danh đã tồn tại

 Phương pháp so sánh đối chiếu được sử dụng nhằm tiến hành đối sánh các mối tương liên giữa tên gọi của các địa danh cũ và mới, giữa tên gọi của tiếng Cơ-tu, tiếng Kinh, tiếng Pháp… Từ đó làm cơ sở xác định rõ tên gọi của các địa danh

 Phương pháp phân tích, hệ thống và tổng hợp khái quát cũng được sử dụng trong khi thực hiện đề tài nhằm làm rõ nghĩa của từng từ hoặc nhìn chúng trong cái nhìn tổng quát để có thể hiểu chính xác về các địa danh được đề cập trong từng mục từ

 Ngoài ra, để tiếp cận chân lí từ nhiều phía, chúng tôi đã vận dụng một

số phương pháp nghiên cứu liên ngành, gồm: xã hội học, văn hóa học, lịch sử học, dân tộc học, địa lí học,…

6 Đóng góp của luận văn

Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi hi vọng luận văn sẽ góp phần bổ sung

lí thuyết về nghiên cứu địa danh đối với một vùng miền có sự cộng cư của nhiều

Trang 14

dân tộc mà ở đó ngôn ngữ, bản sắc của mỗi dân tộc vừa bảo toàn một cách trọn vẹn song cũng đóng góp nét riêng của mình cho cộng đồng Từ đó, chúng tôi hi vọng sẽ giới thiệu những giá trị ngôn ngữ văn hóa trong địa danh cho những ai quan tâm tìm hiểu Đồng thời cung cấp thêm tài liệu tham khảo cho chính quyền, người dân địa phương khi đặt tên những vùng đất mới ở Tây Giang và trả lại những tên gọi trước kia đã bị mất do quá trình thâm nhập ngôn ngữ

7 Cấu trúc của luận văn

Chương 1 Những vấn đề chung

Chương 2 Đặc điểm cấu tạo của địa danh huyện Tây Giang

Chương 3 Đặc điểm ngữ nghĩa – văn hóa địa danh huyện Tây Giang

Trang 15

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Khái quát về địa danh

1.1.1 Định nghĩa địa danh

Mỗi vùng đất, mỗi địa phương đều có những tên gọi riêng và cụ thể Các tên gọi này tồn tại nhất định trong trường từ vựng của những ngôn ngữ cụ thể khác nhau và được quy chuẩn bằng các thuật ngữ quốc tế “toponym”, dịch sang tiếng Việt là “địa danh” hay tên gọi riêng dành cho một đối tượng địa lí cụ thể Khái niệm về địa danh mặc dù đã được nhắc tới trong những công trình nghiên cứu khác nhau, tuy nhiên đến hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất dù ai cũng đều hiểu địa danh là tên gọi cho một đối tượng địa lí, hay một cách chiết tự là “tên đất” Trên thực tế đã chứng minh, địa danh không chỉ là khái niệm bao gồm tên của các đối tượng địa lí (tên vùng đất) mà còn chứa đựng những đối tượng địa lí khác tồn tại trên nó như: địa danh dân cư, địa danh giao thông, địa danh kinh tế - xã hội, địa danh sơn văn, địa danh thủy văn,… Do vậy, để khái niệm về địa danh trở thành khái niệm khoa học thực thụ thì cần phải được hiểu ở góc độ rộng hơn, bao hàm hơn, khái quát hơn

Trong Từ điển tiếng Việt của Văn Tân, mục từ Địa danh được giải thích bằng một câu ngắn gọn: “Tên đất đai” [27, tr.294]

Theo Nguyễn Văn Âu: “Địa danh là tên đất, gồm tên sông, núi, làng, mạc…hay là tên các địa phương, các dân tộc…[1, tr.5]

Trong cuốn “Địa danh học là gì”, A.V Superanskaia đã chỉ rõ: “Tên gọi các địa điểm được biểu thị bằng những từ riêng Đó là các tên gọi địa lý, địa danh” [26, tr.1] Những địa điểm, mục tiêu địa lí đó là những vật thể tự nhiên nhiên hay nhân tạo với sự định vị xác định trên bề mặt trái đất, từ những vật thể lớn nhất cho đến những vật thể nhỏ nhất đều có tên gọi

Trong công trình nghiên cứu về địa danh của mình, Lê Trung Hoa định nghĩa cụ thể hơn: “Địa danh là những từ hoặc ngữ cố định được dùng làm tên

Trang 16

riêng của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ Đứng trước các địa danh thường có một danh từ chung chỉ tiểu loại địa danh đó như: núi, sông, đường, thôn…” [9, tr.18]

Theo góc độ Địa – Văn hóa, trong cuốn “Một số vấn đề về Địa danh học Việt Nam”, Nguyễn Văn Âu định nghĩa: “Địa danh là tên địa lí các địa phương; địa danh học là một môn khoa học chuyên nghiên cứu về tên địa lí các địa phương” [1, tr.5] Tuy nhiên, đây là định nghĩa còn chung chung và chưa lọt tả được bản chất cũng như chức năng của địa danh

Trong cuốn “Đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của địa danh ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Tây Thừa Thiên Huế”, Trần Văn Sáng quan niệm: “Địa danh chính

là những từ, cụm từ được sử dụng để gọi tên các đối tượng, không gian địa lý, các đặc trưng địa hình, địa vật nào đó Địa danh có tác dụng khu biệt, định vị chính những đối tượng, không gian địa lý, những đặc trưng địa hình, địa vật được gọi tên đó với những đối tượng, không gian địa lý, những đặc trưng địa hình địa vật khác trong môi trường [25, tr.38]

Từ những định nghĩa về địa danh nêu trên, chúng tôi quan niệm địa danh

là những từ ngữ chỉ tên riêng của đối tượng địa lí bao gồm địa hình tự nhiên, các đơn vị dân cư và các công trình nhân tạo có vị trí xác định trên bề mặt trái đất Các tên gọi này được khu biệt bằng các từ, cụm từ chỉ từng loại đối tượng địa lí trong một không gian địa hình địa vật cụ thể, xác định Địa danh phải cấu thành từ những đặc điểm địa lí của từng vùng miền, phản ánh chính xác đặc trưng của từng đối tượng chứa trong môi trường đó Như vậy, địa danh của huyện Tây Giang là những từ hoặc ngữ cố định được dùng làm tên riêng của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ phản ánh những dấu ấn lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ trên địa bàn huyện Tây Giang

Trang 17

1.1.2 Phân loại địa danh

1.1.2.1 Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu

Căn cứ theo đối tượng nghiên cứu, địa danh huyện Tây Giang được chia thành 4 loại chính, đó là: địa danh tự nhiên, công trình xây dựng, địa danh dân cư, đơn vị hành chính

1.1.2.2 Căn cứ vào nguồn gốc ngôn ngữ tộc người

Địa danh huyện Tây Giang được chia thành hai nhóm lớn:

- Địa danh thuần Cơ-tu

- Địa danh thuần Việt

Ngoài ra, còn có một bộ phận nhỏ là địa danh có nguồn gốc từ tiếng Pháp 1.1.3 Đặc điểm của địa danh

Địa danh là một ngành nghiên cứu rất phức tạp, phạm vi nghiên cứu của địa danh học lại phong phú, bao trùm cả đối tượng địa lí tự nhiên cũng như các hiện tượng kinh tế xã hội Mặt khác, địa danh cũng thường thay đổi do quá trình phát triển của ngôn ngữ, văn hóa của dân tộc Việc nghiên cứu địa danh ở nước ta nói riêng, trên thế giới nói chung đã bắt đầu từ lâu, song việc tìm ra các đặc điểm, các nguyên tắc lại chưa được chú ý nhiều lắm

Khi xác định tên các địa danh, thường dựa vào các đặc điểm tự nhiên (sông, núi), các điều kiện sinh hoạt xã hội, sản xuất hay một sự kiện lịch sử nào đó Cụ thể:

Địa phương: một số địa danh cụ thể được xác định theo tên của một địa danh sẵn có ở địa phương

Hình dạng: một vài địa danh khác được xác định bằng hình dáng của đối tượng địa lí như: hòn Vòng Phu, hòn Trống Mái, ghềnh Đá Dĩa,…

Kích thước: địa danh cũng có thể đặt theo kịch thước khi so sánh với nhau Màu sắc: địa danh cũng có thể được xác định căn cứ vào màu sắc như: sông Hồng, sông Lam,…

Mùi vị: địa danh cũng được xác định qua mùi vị như: sông Hương, nước Mặn, nước Ngọt,…

Trang 18

Âm thanh: Có những địa danh cũng được đặt tên theo âm thanh như: biển Thiên Cầm,…

Đặc sản: địa danh cũng được xác định theo đặc sản trong vùng như: sông Sài Gòn, rào Tre,…

Thứ tự: trong điều kiện phức tạp, địa danh có thể được sắp xếp trong một trật

tự nhất định như: cầu Bản 1, cầu Bản 2,

Phương hướng: địa danh cũng đặt theo phương hướng như: biển Đông, Trường Sơn Bắc, Trường Sơn Nam,…

Vị trí: địa danh có khi được khẳng định theo vị trí trong vùng như: sông Tiền, sông Hậu,…

Tên người: địa danh có khi được đặt theo tên người như: suối Lênin, núi Yên Tử,…

1.1.4 Chức năng của địa danh

Địa danh là lĩnh vực nghiên cứu rất phức tạp, có nhiều cách tiếp cận địa danh theo những hướng nghiên cứu khác nhau Điều này dẫn tới việc xác định chức năng của địa danh thường được các tác giả trình bày theo các hiểu riêng của từng

cá nhân

1.1.5 Vị trí của địa danh trong ngôn ngữ học

Địa danh học là một trong những đối tượng nghiên cứu nằm trong ngành khoa học về ngôn ngữ Đối với ngôn ngữ học, địa danh là một trong nhiều nguồn

từ liệu quý, có giá trị đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu về lịch sử của ngôn ngữ học Hơn nữa, địa danh vừa là thành tố cũng là đối tác quan trọng của trong việc tìm về những chân giá trị về quá trình hình thành, nguồn gốc, ý nghĩa của ngôn ngữ Chính vì vậy, địa danh có những mối quan hệ chặt chẽ với những ngành khoa học khác như:

a) Vị trí của địa danh trong ngữ âm học, từ vựng học, ngữ pháp học

Được tạo nên từ các chất liệu ngôn ngữ gồm: vỏ âm thanh, nội dung, ý nghĩa, quan hệ ngữ ngữ với các yếu tố cấu tạo, nên, địa danh mang đầy đủ đặc tính của ngôn ngữ Chính vì vậy, địa danh có quan hệ với ngữ âm học, từ vựng học, ngữ

Trang 19

pháp học Bên cạnh đó, nhắc tới địa danh thì hay nghĩ đến tên gọi của một đối

tượng địa lí, vì vậy, địa danh cũng là đối tượng nghiên cứu của phương ngữ học

b) Vị trí của địa danh trong danh xưng học

Danh xưng học (onomastics) là một phân ngành nhỏ của từ vựng học Theo

Nguyễn Kiên Trường trong công trình nghiên cứu “Những đặc điểm chính của địa

danh Hải Phòng (sơ bộ so sánh với địa danh một số vùng khác)” đã đưa ra quan

điểm: “Địa danh học thuộc hẳn về từ vựng học” [33, tr.20] Cùng vấn đề này, nhà

nghiên cứu A.V Superanskaja cũng phân tích “nếu từ vựng được ví như mặt trời

thì các hình thái từ vựng như địa danh, tên người, thuật ngữ khoa học,… là những

hành tình xoay quanh nó trong thái dương hệ” [27, tr.2] Chính lẽ đó, chúng tôi

quan niệm địa danh học là tiểu loại của danh xưng học thuộc phân ngành từ vừng

học trong ngôn ngữ học Từ đó, chúng tôi mô hình hóa vị trí của địa danh trong

ngôn ngữ như sau:

Ngôn ngữ học

Ngữ âm học Từ vựng học Ngữ pháp học

Danh xưng học

Địa danh học

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ cây về vị trí của địa danh trong ngôn ngữ học

c) Vị trí của địa danh trong các ngành khoa học khác

Tên riêng nói chung và địa danh nói riêng là những sản phẩm của quá trình

định danh cho một đối tượng địa lí hay sự vật, đối tượng nào đó và chúng không

nằm ngoài những qui luật tác động của ngôn ngữ Một đối tượng địa lí được định

Trang 20

danh khi nó cùng tồn tại con người, các yếu tố xã hội như lịch sử, văn hóa, xã hội… Và từ trong quá trình phát triển này của quy luật xã hội, các địa danh luôn tồn tại song song, qua đó, nó là những “ổ cứng” lưu giữ những tài liệu quý về đặc điểm dân tộc, lịch sử, các giá trị văn hóa - văn học, địa lí, kinh tế, xã hội,…

+ Đối với dân tộc học: Địa danh là nhân chứng đáng tin cậy nhất của quá trình hình thành, tồn tại, phát triển của một cộng đồng dân cư, qua đó, nó phản ánh đúng vị trí cư trú của một tộc người nào đó

+ Đối với lịch sử học: Địa danh đều ghi chép lại các dấu ấn lịch sử qua những

sự kiện biến động trên địa bàn tồn tại của địa danh đó Thông qua lịch sử, ta có thể

dễ dàng định vị được nguồn gốc nguyên ngữ và các phương thức định danh địa danh của một đối tượng địa lí

+ Đối với địa lí học: Địa danh học có mối quan hệ ràng buộc với địa lí học

Từ địa danh, chúng ta có thể biết được cảnh quan thiên nhiên, đặc điểm địa hình của một địa bàn địa lí Hơn nữa, địa danh còn giúp ta tìm kiếm một đối tượng địa lí nào đó như con sông, đồi núi, đặc điểm sinh thái,… một cách thuận tiện và nhanh chóng

+ Đối với văn hóa học: Địa danh sẽ cho biết những thông tin văn hóa quan trọng về đặc điểm tâm lí, tôn giáo, tín ngưỡng, thông tục tập quán,…của một vùng đất, của một tộc người cụ thể được lưu giữ thông qua tên gọi của địa danh Đồng thời, những sự kiện xảy ra trong xã hội, thông qua văn hóa, ta sẽ dễ dàng hơn trong việc tìm ra phương thức định danh và nguyên nhân biến đổi của địa danh đó

Vị trí của địa danh trong các ngành khoa học khác được chúng tôi cụ thể hóa bằng sơ đồ lưới sau:

Sơ đồ 1.2: Sơ đồ lưới về vị trí của địa danh học trong mối quan hệ với các ngành

khoa học khác

Dân tộc học Ngôn ngữ học Xã hội học

Địa danh học Nhân học Lịch sử học

Địa lí học Văn hóa học Khảo cổ học

Trang 21

Như vậy, có thể thấy địa danh học có một vị trí và mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, mất thiết với các ngành khoa học khác nhau Chúng gắn bó và có sự tác động qua lại để hình thành nên sự liên kết Tuy nhiên, khi nghiên cứu về địa danh, chúng ta cần xác định đây là một chuyên ngành thuộc “sự quản lí” trực tiếp từ ngôn ngữ học Ngoài ra, địa học danh còn mang đầy đủ hình thái của một ngành nghiên cứu của lịch sử, văn hóa của địa lí học Chính điều này gây nên sự sai lệch

vì các thành tố lịch sử chứa trong địa danh Cần phải hiểu rằng, nghiên cứu lịch sử, văn hóa của một địa danh địa lí có nghĩa không phải là tìm hiểu về lịch sử của một vùng đất, địa phương hay của sự hình thành một quốc gia mà là của lịch sử ngôn ngữ học Các kiến thức về lịch sử, địa lí chỉ bổ trợ cho việc nghiên cứu nhằm xác định rõ được bản chất ngôn ngữ tìm ẩn trong địa danh

1.2 Vài nét về tiếng Cơ-tu

Tiếng Cơ-tu là một thành viên trong nhóm Katuic thuộc họ ngôn ngữ Môn-Khmer, ngữ hệ Nam Á Về mặt loại hình, tiếng Cơ-tu là một ngôn ngữ đơn lập, cận âm tiết (sesquisyllabic) Trong đó có sử dụng các tiền tố, trung tố tạo từ phái sinh; có các tổ hợp phụ âm đầu đa dạng; không có thanh điệu; tính đơn tiết kém Đồng thời có sự mờ nhạt về nghĩa và rơi rụng về âm của một số âm tiết phụ [17, tr.91]

Xét về cấu tạo, từ tiếng Cơ-tu gồm có: từ đơn (từ chỉ có 1 hình vị, đơn đơn tiết hoặc đơn đa tiết), từ phái sinh (từ dùng tiền tố và trung tố tạo từ), từ ghép (từ ghép các hình vị có khả năng độc lập tạo từ thành từ ghép) và từ láy (từ mà các âm tiết trong từ có quan hệ ngữ âm với nhau) Từ được cấu tạo bằng phương thức phụ gia lại vừa là hình vị có khả năng độc lập tạo từ đơn (từ đơn đơn tiết) Ngoài ra, từ còn được tạo theo phương thức ghép hoặc láy Bên cạnh đó, tiếng Cơ-tu còn sử dụng các phương tiện ngữ pháp ở bên ngoài từ như phương tiện trật tự, hư từ và ngữ điệu [34]

Trang 22

1.2.1 Đặc điểm về ngữ âm

Về đặc điểm ngữ âm của tiếng Cơ-tu, trong phần này, dựa trên kết quả nghiên cứu về các nhóm ngôn ngữ Katuic và một số nội dung được trình bày trong cuốn sách Tiếng thông dụng C’tu Kinh và văn hóa làng C’tu do Bh’riu Liếc biên soạn, cũng như trong bài viết “Cơ cấu ngữ âm tiếng Cơ-tu” của ThS Nguyễn Đăng Châu và nguồn tư liệu khi đi thống kê điền dã; chúng tôi rút ra những đặc điểm nổi bật về đặc điểm ngữ âm của tiếng Cơ-tu như sau:

+ Tiếng Cơ-tu là ngôn ngữ cận âm tiết tính, thuộc nhóm Katuic, chi Khmer Điều này dẫn đến cấu trúc âm tiết trong tiếng Cơ-tu rất đa dạng Từ nguồn

Môn-tư liệu điền dã cho thấy, tiếng Cơ-tu rất ít xuất hiện các tổ hợp phụ âm ở cuối âm tiết, ngay cả đầu âm tiết cũng ít thấy có sự xuất hiện của tổ hợp phụ hai phụ âm + Từ ngữ âm học thường có dạng đơn đa tiết Các âm tiết được chia thành hai loại: tiền âm tiết và âm tiết chính Trong những từ song tiết, âm tiết chính luôn là

âm tiết mang trọng âm của từ Bên cạnh đó, tiếng Cơ-tu còn tồn tại những từ có vỏ ngữ âm gồm ba âm tiết Ở từ âm vị học, tiếng Cơ-tu gồm có một âm tiết chính và

có trường hợp có một, hai hoặc ba tiền âm tiết Các âm đầu của tiền âm tiết gần như không hạn chế, có thể là phụ âm bất kì, trừ các phụ âm bật hơi

+ Các âm cuối trong tiền âm tiết phần lớn là các phụ âm rung [l; r] hoặc âm mũi [m; n; ŋ] Trường hợp đặc biệt là những âm trước mũi hay trước âm tiết mũi với dạng âm vị học là /N/ /N/ ở vị trí của trước âm tiết mũi và đồng nhất về vị trí cấu âm với phụ âm đầu của âm tiết chính Và tiếng Cơ-tu có hệ thống âm cuối trong

âm tiết khá phức tạp Nó có thể là một phụ âm hoặc một tổ hợp phụ âm Ngoài các phụ âm tắc, vô thanh được kí hiệu [-p; -t; -k] và các âm trước mũi được kí hiệu [-m; -n; -ŋ], các bán nguyên âm được kí hiệu [-j; -w], các phụ âm rung được kí hiệu [-l; -r] thì nó còn có các phụ âm thanh hầu được kí hiệu [-wʔ; -iʔ; -ih]

Tuy nhiên, xét về cấu trúc âm tiết của tiếng Cơ-tu còn có sự không chặt chẽ do sự xuất hiện của các phụ âm kép ở tiền âm tiết, phụ âm xát và phụ âm rung ở cuối âm tiết

Trang 23

1.2.2 Đặc điểm về từ vựng

Vì cùng thuộc với nhóm ngôn ngữ Katuic, nên trong từ vựng của tiếng

Cơ-tu cũng phản ánh một bức trong phong phú, đa dạng trong các mối quan hệ cội nguồn và tiếp xúc với các ngôn ngữ Môn-Khmer cùng họ Nam Á Chính vì vậy, tiếng vay mượn các ngôn ngữ không cùng nguồn gốc và loại hình là điều hiển nhiên Đó là các lớp từ thuộc vốn cơ bản như: các từ chỉ hiện tượng thiên nhiên: mây, mưa, nước, gió,… các từ chỉ bộ phận cơ thể người: chân, tay, cổ,… các từ chỉ người: con, thanh niên,… các từ chỉ thời gian: ngày, đêm, đồng hồ,… Trong vốn từ của mình, ngôn ngữ Cơ-tu hiện nay có nhiều từ ngữ vay mượn do quá trình tiếp xúc với các ngôn ngữ khác, đặc biệt là tiếng Việt Đa số các từ vay mượn đều thuộc lớp từ vựng văn hóa, chẳng hạn: kiêng học (thích học), choom học (học giỏi), lướt họp (đi họp),… Ngoài ra, tiếng Cơ-tu hiện nay vay mượn rất nhiều từ Việt nhằm diễn đạt các lĩnh vực văn hoá, chính trị, khoa học kĩ thuật Ví dụ: hiến pháp, luật, nghị quyết, pháp lệnh, lệnh, quyết định, thông tư, chỉ thị,…

1.2.3 Đặc điểm về ngữ pháp

Là một ngôn ngữ không có hệ biến hoá hình thái, tiếng Cơ-tu cũng sử dụng các phương tiện ngữ pháp ở bên ngoài từ như phương tiện trật tự, hư từ và ngữ điệu như các ngôn ngữ đơn lập Tuy nhiên, hiện tượng láy phụ âm đầu của động từ nhằm cụ thể hoá hành động; hiện tượng tiền mũi gắn với từ cần nhấn có liên quan gì đến các ý nghĩa ngữ pháp không thì còn cần phải có các công trình nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm ngữ pháp của tiếng Cơ-tu để minh chứng 1.2.4 Vài nét về chữ viết

Trong các ngôn ngữ Môn-Khơmer ở Việt Nam, tiếng Cơ-tu gần gũi với tiếng Tà-ôi, Bru-Vân Kiều là những ngôn ngữ còn bảo lưu khá nhiều đặc điểm hệt hình thái cổ Nam Á Năm 1957, trên cơ sở sử dụng bộ chữ cái Latinh mà người

Mỹ xây dựng cho người Cơ-tu, chính quyền nhân dân đã bắt tay vào tạo nên bộ chữ viết và mở trường dạy chữ Cơ-tu Từ năm 1985, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng

có chủ trương điều chỉnh và giảng dạy chữ Cơ-tu ở trưởng phổ thông miền núi Hiện nay, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn như chữ viết Cơ-tu đã thay đổi quá nhiều và không còn sự thống nhất giữa các vùng miền đồng bào, giáo viên giảng

Trang 24

dạy chữ Cơ-tu chưa được đào tạo bài bản, tài liệu truyền giảng chưa thực sự phong phú và đầy đủ; cơ sở vật chất cũng chưa đáp ứng được nhu cầu dạy và học nhưng được sự ủng hộ của chính quyền địa phương tỉnh Quảng Nam, công tác giảng dạy tiến Cơ-tu tiếp tục được phát triển Cuốn sách “Tài liệu giảng dạy tiếng dân tộc Cơ-tu” được ấn hành vào năm 2010, tập trung ở 10 chuyên đề xoay quanh cuộc sống, sinh hoạt, giao tiếp của đồng bào Cơ-tu, với mục đích tổ chức giảng dạy ở Tây Giang và tổ chức đưa chữ Cơ-tu vào giảng dạy cho nhiều huyện, nhiều tỉnh có đồng bào Cơ-tu sinh sống, với hi vọng có thể nhân rộng chữ viết Cơ-tu đến nhiều thế hệ, tầng lớp đồng bào Cơ-tu cũng như những người đang công tác, sinh sống trên cả nước

1.3 Tư liệu thực tế về lịch sử, địa danh huyện Tây Giang

1.3.1 Đặc điểm chung về lịch sử, địa lí và cư dân huyện Tây Giang

Tây Giang là một huyện miền núi tỉnh Quảng Nam, phía tây giáp Lào, phía bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, phía đông giáp huyện Đông Giang, phía nam giáp huyện Nam Giang cùng tỉnh Đất đai của huyện Tây Giang nằm hoàn toàn về phía Tây của dãy Trường Sơn Địa hình có hướng phần thấp dần từ tây sang đông với các đồi núi và thung lung xen kẽ nhau khá phức tạp

Tây Giang được thành lập vào ngày 25 tháng 12 năm 2003 trên cơ sở tách huyện Hiên tỉnh Quảng Nam thành huyện Đông Giang và Tây Giang theo quyết định số 72/2003/NĐ-CP của thủ tướng chính phủ với tổng diện tích tự nhiên trong toàn huyện là: 902,97km2 Diện tích đất ở và sản xuất là: 90.296,56 ha

Có thể nói, địa danh chỉ hình thành khi vùng đất đó có sự hiện diện của con người, hay ít ra cũng là khi con người biết đến nó Chính vì vậy mà lịch sử hình thành cộng đồng dân cư của một vùng đất có thể coi là yếu tố quan trọng nhất trong việc hình thành địa danh Tính đến năm 2012, dân số Tây Giang có: 16,076 người, thành phần dân cư ở đây là dân tộc Cơ-tu

1.3.2 Kết quả thu thập và phân loại địa danh huyện Tây Giang

1.3.2.1 Kết quả thu thập

Khi thu thập địa danh trong một địa bàn nghiên cứu phải tuân thủ những nguyên tắc, các tiêu chí phân loại cụ thể mới có thể quy kết nhóm địa danh và xác

Trang 25

định được phạm vi đối tượng khảo sát một cách chính xác, khách quan Việc thống

kê, thu thập địa danh huyện Tây Giang không nằm ngoài những nguyên tắc trên

Cụ thể:

Thống kê, thu thập những địa danh có nguồn gốc tiếng Cơ-tu được Quốc ngữ hóa trên các bản đồ hành chính và các văn bản ghi chép bằng chữ Quốc ngữ của các cơ quan tại huyện Tây Giang

Thống kê, thu thập bằng hình thức điền dã tại địa bàn khảo sát Kết hợp cùng phương pháp so sánh, đối chiếu với tên gọi của từng địa danh trên bản đồ hành chính và thực địa

Khi quy nhóm địa danh, chúng tôi dựa vào các thành tố chung được biểu thị bằng các từ ngữ hoặc thuật ngữ địa lí có chức năng khu biệt địa danh

Trong quá trình điền dã, chúng tôi phát hiện một địa danh có nhiều cách gọi hoặc cách viết khác nhau Do đó, trong quá trình thu thập địa danh, chúng tôi đặc biệt chú ý đến những địa danh này Hơn nữa, đó là những biến thể khác nhau của cùng một địa danh hay các tên gọi có sẵn dùng để chỉ một đối tượng địa lý Những thông tin đó cùng với vị trí địa lí sẽ là nguồn tư liệu có giá trị cho việc đề xuất chuẩn hóa địa danh

Qua khảo sát điền dã trên phạm vi toàn huyện, số lượng địa danh chúng tôi thu thập được là 231 địa danh Số lượng và tỉ lệ được thể hiện qua các loại hình địa danh sau:

Bảng 1.1: Số lượng và tỉ lệ phần trăm (%) của địa danh huyện Tây Giang

Trang 26

Qua bảng tổng hợp địa danh huyện Tây Giang cho ta thấy, số lượng của địa danh thuộc nhóm “Địa hình tự nhiên” chiếm tỉ lệ cao nhất là: 58,8% Điều này minh chứng cho không gian địa lí của huyện Tây Giang là đồi núi chiếm ưu thế Số lượng địa danh thuộc nhóm “địa danh hành chính” xếp vị trí thứ hai với tỉ lệ là: 37,7% Con số này nói lên rằng nơi này chủ yếu là nơi tập trung đồng bào dân tộc Cơ-tu sinh sống, hình thành cộng đồng văn hóa và ngôn ngữ gắn kết, các xã, thôn sát nhau giúp gắn bó bền chặt tạo nên nét đặc trưng của huyện Tây Giang Chiếm

vị trí thứ ba và thứ tư lần lượt là các địa danh thuộc nhóm “công trình xây dựng”;

“kinh tế - xã hội” với tỉ lệ là: 2,2% và 1,3% Điều này nói lên sự khó khăn về địa hình và cách trở về vị trí địa lí đã dẫn tới những công trình không có điều kiện xây dựng, vận chuyển nguyên vật liệu Hơn nữa, đây lại là khu vực biên giới, các đơn

vị hành chính ở đây hầu như là nói đóng quân của các đồn, trạm thuộc bộ đội biên phòng

1.3.2.2 Kết quả phân loại

Phân loại địa danh là sự phân chia địa danh thành các kiểu, nhóm khác nhau, dựa trên những đặc tính cơ bản về địa lí cũng như về ngôn ngữ và văn hóa Phân loại địa danh có thể giúp cho việc nghiên cứu đạt kết quả cao, đồng thời cũng giúp cho việc sử dụng được thuận tiện hơn Qua khảo sát điền dã, căn cứ vào tình hình thực tế của địa bàn nghiên cứu và số lượng địa danh khảo sát được, chúng tối tiến hành phân loại địa danh huyện Tây Giang theo các tiêu chí sau:

Tiêu chí thứ nhất: dựa trên đối tượng địa lí tự nhiên và không tự nhiên Các địa danh phân chia theo tiêu chí này chủ yếu được xác định dựa vào các thành

tố chung đứng trước các thành tố tên riêng chỉ địa danh đó Bên cạnh đó, việc phân chia ra các nhỏm nhỏ còn dựa vào việc xác định rõ các thành tố chung chỉ đặc điểm đối tượng địa lí cụ thể, cần phải biết tên riêng chỉ rõ đối tượng địa lí đó có rõ nghĩa ở thời điểm hiện tại hay còn mập mờ

Tiêu chí thứ hai: dựa trên nguồn gốc ngôn ngữ đặt tên địa danh Các địa danh phân chia theo tiêu chí này không chỉ dựa vào thành tố đứng trước mà còn phải xác định nguồn gốc ngôn ngữ của thành tố chung lẫn thành tố riêng chỉ đích

Trang 27

danh địa danh đó Nguồn gốc ngôn ngữ chỉ được rõ nghĩa khi yếu tố tạo địa danh được rõ nghĩa so với tên gọi ban đầu

a Dựa vào tiêu chí đối tượng địa lí tự nhiên và không tự nhiên của đối tượng nghiên cứu, chúng ta có thể phân chia địa danh thành hai loại cơ bản:

 Địa danh chỉ các đối tượng tự địa lí tự nhiên

 Địa danh chỉ các đối tượng địa lí nhân tạo

Địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên bao gồm các địa hình tự nhiên: sông, suối, khe, hồ, núi, dãy núi,…

Địa danh chỉ các đối tượng nhân tạo có thể chia làm ba loại nhỏ: địa danh chỉ các công trình xây dựng (tên cầu, tên đường, ), địa danh chỉ các đơn vị hành chính (tỉnh, thành phố, huyện, xã, làng ) và địa danh kinh tế - xã hội (đồn, trạm,…)

Từ sự phân loại địa danh dựa trên đối tượng địa lí tự nhiên và không tự nhiên, ta có sơ đồ sau:

Địa danh

Địa danh kinh tế - xã hội

Địa danh hành chính

Địa danh công trình xây dựng

Sơ đồ 1.3: Sơ đồ lưới về sự phân loại địa danh dựa trên đối tượng

địa lí tự nhiên và không tự nhiên

Trang 28

Việc phân loại địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ - văn hóa của địa danh huyện Tây Giang dựa theo tiêu chí “tự nhiên” và “không tự nhiên” được chia thành các danh mục lớn và danh mục nhỏ sắp xếp theo loại hình địa danh, được thể hiện

Không tự

nhiên

Công trình xây dựng 5 2,17% TỔNG CỘNG 231 100%

Bảng 1.2: Số lượng và tỉ lệ (%) về sự phân loại địa danh dựa trên đối tượng

địa lí tự nhiên và không tự nhiên Tổng số địa danh chỉ “địa hình tự nhiên” là 136 đơn vi, chiếm 58,8% tổng

số địa danh thu thập được Các địa danh này chủ yếu thu thập trên bản đồ địa chính của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Nam, bản đồ của Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam Như vậy, căn cứ theo đối tượng và kết quả thống kê từ các bản

đồ, chúng ta có thể phân chia địa danh huyện Tây Giang thành 4 loại chính:

+ Sơn danh: là tên gọi của các dạng địa hình dương trên bề mặt trái đất như: đèo, đồi, núi,… Sơn danh có số lượng thu thấp, thống kê được là 70 đơn vị, chiếm 30,3% Ví dụ: núi Ađhơng; núi Ao’h; núi Talang;…

+ Thủy danh: là tên gọi chỉ các đối tượng nước tự nhiên, thường xuyên chảy hoặc được chứa trên bề mặt trái đất như: sông, đầm, hồ, suối, khe,… Thủy danh gồm 66 đơn vị, chiếm tỉ lệ 28,5% Ví dụ: suối Suối Brêêng; khe Boong; Hồ thủy điện Avương; sông Lăng;…

Tổng số địa danh “không tự nhiên” cũng được thu thập từ bản đồ địa chính của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Nam, bản đồ của Bộ đội Biên Phòng tỉnh Quảng Nam Từ thu thập trên các bản đồ, chúng tôi tiến hành điền dã thực địa

Trang 29

và xác minh tại các đơn vị hành chính địa phương để đối chiếu Qua đó, chúng tôi chia thành ba nhóm nhỏ, cụ thể:

+ Địa danh đơn vị hành chính: đó là những địa danh chỉ tên làng, thôn, bản, xã, huyện,… Tổng số địa danh đơn vị hành chính thu thập được là 87 đơn vị, chiếm 37,7% Ví dụ: xã Axan; thôn Z’rượt; huyện Tây Giang;…

+ Địa danh kinh tế - xã hội: đó là những địa danh chỉ tên các tổ chức xã hội, kinh tế,… Tổng số địa danh kinh tế - xã hội thu thập được là 3 đơn vị, chiếm 1,3% Ví dụ: đồn Biên phòng Anông; trạm Biên phòng Axoò;…

+ Địa danh các công trình xây dựng: Địa danh chỉ công trình xây dựng được xác định qua các danh từ chung như cầu, đường,… Tổng số địa danh các công trình xây dựng thu thập được là 5 đơn vị, chiếm tỉ lệ 2,2% Ví dụ: đường quốc lộ 14A (đường Hồ Chí Minh); cầu Maloóc 1; cầu Archat; cầu Hai Dòng;…

b Tiêu chí thứ hai: Dựa trên nguồn gốc ngôn ngữ để đặt tên

Địa danh là lớp tên riêng do một tộc người chủ thể tạo nên bằng chính tiếng nói và ngôn ngữ của họ Phân loại địa danh xét theo mặt nguồn gốc ngôn ngữ giúp tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh Bởi lẽ, có những địa danh hoặc

mờ nghĩa, hoặc chưa rõ nghĩa, hoặc vô nghĩa thì cũng là trở ngại gây khó xác định được nguồn gốc ngôn ngữ của chúng Khi phân loại các địa danh tiếng Cơ-tu của huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam, chúng tôi phát hiện ra hai vấn đề Một là, những địa danh đó có phải có nguồn gốc từ tiếng Cơ-tu hay không? Hai là, bên cạnh địa danh có nguồn gốc là tiếng Cơ-tu thì còn có địa danh nào có nguồn gốc từ ngôn ngữ khác hay không?

Huyện Tây Giang là địa bàn sinh sống của người dân tộc Cơ-tu, do vậy, ngôn ngữ của họ thuộc nhóm ngôn ngữ Katuic Bên cạnh đó, tại nơi đây cũng từng

là địa bàn đóng quân của Thực dân Pháp khi xâm lược Việt Nam Hơn nữa, vấn để giao thoa ngôn ngữ giữa Việt - Cơ-tu từ hiện tượng chuyển di là không thể tránh khỏi Mặc khác, Việt Nam trong quá khứ từng bị 1000 năm đô hộ Phương Bắc, dẫn tới, những địa danh của huyện Tây Giang cũng không nằm ngoài những ngôn

Trang 30

ngữ này Sau đây là kết quả thống kê và phân loại địa danh theo nguồn gốc ngôn ngữ:

 Địa danh có nguồn gốc tiếng Cơ-tu:

Địa danh có nguồn gốc tiếng Cơ-tu là nhóm địa danh chiếm ưu thế của huyện Tây Giang, với 214 địa danh, chiếm 92.64% Trong đó, nhóm địa danh “địa hình tự nhiên” chiếm đa số với 125 địa danh, đạt tỉ lệ là 54.12% Nhóm địa danh

“đơn vị hành chính” xếp thứ hai với 84 địa danh, đạt tỉ lệ là 36.37% Nhóm địa danh “kinh tế - xã hội” xếp vị trí thứ ba với 3 địa danh, đạt tỉ lệ 1.29%, nhóm địa danh “công trình xây dựng” xếp thứ tư với 2 địa danh, đạt tỉ lệ 0.86% Ví dụ: karung đhí Crooi; karung đhí Tapôô; dadưng Lơgôm;…

 Địa danh có nguồn gốc Thuần Việt

Địa danh có nguồn gốc thuần Việt là nhóm địa danh xếp vị trí thứ 2 với 12 địa danh, đạt tỉ lệ 5.19% Trong đó, nhóm địa danh “địa hình tự nhiên” với 8 địa danh, đạt tỉ lệ là 3.47% Cùng có số lượng bằng nhau và xếp vị trí thứ hai là nhóm địa danh “đơn vị hành chính” và nhóm địa danh “công trình xây dựng” xếp thứ tư với 2 địa danh, đạt tỉ lệ 0.86% Nhóm địa danh “kinh tế - xã hội” không có địa danh gốc thuần Việt Ví dụ: bhươl-krnoon Lăng; klương Quốc lộ 14A;…

 Địa danh có nguồn gốc Hán Việt

Địa danh có nguồn gốc Hán Việt là nhóm địa xếp vị trí thứ 3 với 3 địa danh, đạt tỉ lệ 1.29% Đây là nhóm có số lượng khá ít, bởi lẽ, đây là khu vực cư dân bản địa 100% là người dân tộc Cơ-tu Sở dĩ nơi này tồn tại loại địa danh có nguồn gốc Hán Việt hoặc là do ảnh hưởng từ hiện tượng giao thoa ngôn ngữ hoặc

là từ một nguyên nhân khách quan nào đó Nhóm địa danh “địa hình tự nhiên”; nhóm địa danh “công trình xây dựng”; nhóm địa danh “đơn vị hành chính” có số lượng địa danh bằng nhau là 1 đơn vị, đạt tỉ lệ 0.43% Ví dụ: dadưng Võ Việt; huyện Tây Giang, zung Hai Dòng

 Địa danh có nguồn gốc tiếng Pháp

Địa danh có nguồn gốc tiếng Pháp là nhóm địa danh xếp vị trí thứ tư với

số lượng địa danh rất khiêm tốn, chỉ 2 địa danh, đạt tỉ lệ 0.86% và cùng sở hữu của

Trang 31

nhóm địa danh “địa hình tự nhiên” Nguyên nhân xuất hiện địa danh có nguồn gốc tiếng Pháp tại khu vực này là do trong quá trình xâm lược Việt Nam, huyện Tây Giang từng là địa bàn đóng quân của Pháp trong thời gian khá dài Chính vì vậy, việc địa bàn này xuất hiện địa danh có nguồn gốc tiếng Pháp là hiển nhiên Ví dụ: dadưng Aling → Aline; dadưng Darong → Bol Droui

Bảng phân loại theo tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ:

Thuần Việt Hán Việt Tiếng Cơ-tu Tiếng Pháp

Tỉ lệ (%)

Số lượng

Tỉ lệ (%)

Số lượng

Tỉ lệ (%)

Số lượng

Tỉ lệ (%)

Bảng 1.3: Số lượng và tỉ lệ (%) của địa danh huyện Tây Giang được phân loại

theo tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ Nhận xét:

Để phân loại được địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ dân tộc Cơ-tu, yêu cầu đầu tiên đặt ra cho người nghiên cứu là phải xác định được nghĩa từ vựng của từng địa danh Thứ đến là phải xác định được địa danh đó thuộc chủ thể ngôn ngữ nào Điều này sẽ gặp khó khăn khi những địa danh bị mơ hồ về nghĩa, không rõ ở thời điểm xác định

Trang 32

Việc tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh là công việc phải làm trước tiên Tuy nhiên, nó sẽ phát sinh ra vấn đề là các địa danh được đặt bằng ngôn ngư dân tộc Cơ-tu đều được tri nhận như những vỏ ngữ âm vô nghĩa đối với người nghiên cứu không phải là người dân bản địa mà địa bàn nghiên cứu ở đây là huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam, cách trở về mặt địa lí Điều đáng nói hơn ở đây là các địa danh gốc dân tộc Cơ-tu của Tây Giang khi thể hiện trên bản đồ và các tài liệu thì đã bị Quốc ngữ hóa, không còn nguyên ngữ Chính vì thế, việc truy ra nguồn gốc nguyên ngữ và ý nghĩa của các địa danh gốc dân tộc Cơ-tu của huyện Tây Giang trong tiếng Việt không hề dễ ngay cả đối với người không biết tiếng dân tộc Cơ-tu lẫn người bản địa biết tiếng Cơ-tu

2 Tây Giang là vùng đất có nhiều đặc điểm riêng về lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ Là vùng đất cổ, với sự có mặt của con người từ rất xa xưa, nhiều lần thay đổi địa giới hành chính và địa danh Nơi đây là địa bàn sinh sống của đồng bào dân tộc Co-tu, do đó, nơi đây đã có một nền văn hóa đặc sắc và đã tạo nên một tiểu vùng văn hóa riêng

3 Khảo sát địa danh huyện Tây Giang theo tiêu chí tự nhiên - không tự nhiên đã chỉ ra các đặc trưng phong phú về địa hình gồm đầy đủ các loại hình núi; sông; suối; khe, hồ và về các vùng đất cư trú hành chính

4 Kết quả thống kê địa danh Tây Giang theo nguồn gốc ngôn ngữ cho thấy ở Tây Giang địa danh có nguồn gốc thuần Cơ-tu có số lượng vượt trội hơn hẳn so với các nhóm địa danh có nguồn gốc từ tiếng Việt, Hán Việt và tiếng pháp Qua đó, phản ánh việc bảo lưu được tiếng Cơ-tu

Trang 33

CHƯƠNG 2:

ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA ĐỊA DANH HUYỆN TÂY GIANG

2.1 Đặc điểm cấu tạo địa danh về mặt hình thức

2.1.1 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh huyện Tây Giang

Xét về mặt cấu trúc, địa danh là một phức thể và phức thể đó bao giờ cũng bao gồm hai bộ phận gắn kết chặt chẽ với nhau, đó là thành tố chung và tên riêng Trong phức thể địa danh Việt cũng như phức thể địa danh có nguồn gốc từ tiếng Cơ-tu ở huyện Tây Giang, thành tố chung thường đứng trước tên riêng Mô hình cấu trúc của một phức thể địa danh ở huyện Tây Giang ở đây được xây dựng trên

cơ sở quan niệm về độ dài lớn nhất của phức thể địa danh Thành tố chung có số lượng âm tiết nhiều nhất là 3 âm tiết và thành tố tên riêng cũng có số lượng nhiều nhất là 3 âm tiết

Dựa trên cứ liệu địa danh thu thập được, chúng tôi cụ thể hóa mô hình phức thể địa danh có gốc ngôn ngữ dân tộc Cơ-tu ở huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam như sau:

Phức thể địa danh

Tên riêng (địa danh)

Mô hình

Thành tố chung (tối đa là 3

-

Bảng 2.1: Mô hình phức thể địa danh có gốc ngôn ngữ dân tộc Cơ-tu

ở huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

Trang 34

Như vậy, giữa thành tố chung và thành tố tên riêng trong một địa danh chính là mối quan hệ giữa cái tổng thể và cái loại thể Các thành tố tên riêng chính

là các yếu tố đóng vai trò định ngữ trong cấu trúc của một địa danh Đó có thể là định ngữ mô tả nhưng cũng có thể là định ngữ cấu thành tên của địa danh đó Từ

đó, nếu số lượng định ngữ có mặt trong một địa danh càng lớn thì dẫn tới khả năng biểu hiện, gọi tên các đối tượng, không gian địa lí càng hẹp Cụ thể:

Thôn Ateep → bhươl Ateep I; bhươl Ateep II; bhươl Ateep III

Avương → karung đhí Avương; karung bhớ Avương; tahung Avương; bhươl Avương, bhươl-krnoon Avương

Có thể thấy rằng, trong cấu trúc phức thể địa danh gốc Cơ-tu của huyện Tây Giang tồn tại hai đặc điểm:

1) Các thành tố cấu tạo địa danh chủ yếu được cấu tạo bằng các từ đơn –

đa tiết, trong đó số từ song tiết chiếm số lượng vượt trội hơn

2) Số lượng cả thành tố chung và thành tố tên riêng trong mô hình phức thể địa danh gốc Cơ-tu của huyện Tây Giang không quá dài, tối thiểu là 1 âm tiết

và tối đa là 4 â tiết Số lượng âm tiết không quá chênh nhau giữa hai thành tố

Như vậy, một địa danh chính là một tên riêng và địa danh cũng là một

“vòng tròn phân định” có chức năng đánh dấu, khoanh vùng, xác định đối tượng địa lí được định danh, chỉ ra một đối tượng địa lí và khu biệt nó Một địa danh được xác định khi trong nó mang cả thành tố chung và thành tố tên riêng

2.1.2 Thành tố chung trong cấu trúc phức thể địa danh huyện Tây Giang 2.1.2.1 Kết quả thu thập và phân loại

Với 231 địa danh thu thập được ở huyện Tây Giang, chúng tôi phân thành

13 loại hình đối tượng địa lí tương ứng với 13 thành tố chung Các thành tố chung này được tập hợp theo các nhóm loại hình địa danh:

Nhóm địa danh chỉ các địa hình tự nhiên có 6 thành tố chung: núi (dadưng); dãy núi (talang dadưng); khe (tahung); suối (karung đhí); sông (karung bhớ); hồ (đhác nong)

Trang 35

Nhóm địa danh chỉ các công trình xây dựng có 2 thành tố chung: đường (klương); cầu (zung)

Nhóm địa danh chỉ kinh tế - xã hội có 2 thành tố chung: đồn; trạm

Nhóm địa danh chỉ các đơn vị hành chính có 3 thành tố chung: thôn (bhươl); xã (bhươl-krnoon); huyện

2.1.2.2 Đặc điểm và cấu tạo của thành tố chung

Thành tố chung bao giờ cũng là một danh từ hoặc danh ngữ có chức năng chỉ một lớp đối tượng, nó có khả năng kết hợp với thành tố tên riêng, tạo thành một phức thể địa danh Trong cấu trúc phức thể địa danh, thành tố chung có chức năng hạn định cho địa danh, được dùng để chỉ ra những đối tượng địa lí có cùng loại hình và cùng thuộc tính bản chất Trong một phức thể địa danh, thành tố chung không thể vắng mặt, nhất là khi một tên riêng lại được hướng đến nhiều đối tượng địa lí khác nhau Bên cạnh đó, thành tố chung còn có khả năng chuyển hóa thành tên riêng hoặc thành một bộ phận của tên riêng

Cấu tạo của thành tố chung trong địa danh huyện Tây Giang khá đơn giản

Nguồn gốc ngôn ngữ Tổng cộng

Việt Cơ-tu ST

Tỉ lệ (%)

1 ĐHTN 6 46.16% - - 6 46.16%

2 ĐVHC 3 23.08% 1 7.70% 2 15.38%

3 CTXD 2 15.38% - - 2 15.38%

4 KTXH 2 15.38% 2 15.38% - - TỔNG 13 100% 3 23.08% 10 76.92%

Bảng 2.2: Số lượng và tỉ lệ (%) của thành tố chung trong địa danh huyện Tây

Giang

Trang 36

Như là một quy ước định sắn, khi đặt tên cho các đơn vị hành chính ở các cấp (xóm, làng, thôn) thì người Việt luôn có sự phân biệt rõ ràng Họ dùng thành tố chung cộng với thành tố tên riêng bằng tiếng Việt hoặc Hán Việt để tạo ra tên gọi cho địa danh đó Tuy nhiên, với cộng đồng người dân tộc Cơ-tu ở huyện Tây Giang thì có sự khác biệt Đơn vị hành chính ở cấp thấp nhất là thôn thì họ dùng thành tố thành chung cộng với thành tố tên riêng là tiếng Cơ-tu Hơn nữa, ở cấp độ tương đương với làng, xóm, thôn thì người Cơ-tu dùng các thành tố chung khác nhau để phân biệt Cụ thể: cùng chỉ đơn vị hành chính với thành tố chung là “thôn, xóm, bản – làng”, người Cơ-tu dùng 3 thành tố chung riêng biệt “bhươl, vil, … ” Chính điều này làm cho 3 danh từ có cùng cấp độ cùng tồn tại, trong đó, thôn → bhươl; vil tồn tại bổ sung cho nhau

Ngoài ra, khi gọi tên các đối tượng đối tượng địa lí, nhất là các đối tượng địa lí tự nhiên được đặt bằng ngôn ngữ dân tộc Cơ-tu, người Việt thường thêm vào trước phức thể địa danh một danh từ của tiếng Việt để làm thành tố chung:

Ví dụ: karung đhí Pleng → suối Tam Pleng, karung đhí Mtéh → suối Tam

A Tét

Như vậy, một địa danh Cơ-tu đã bao gồm thành tố chung và thành tố tên riêng, khi đi vào cách viết của người Việt thì thành tố chung trong tiếng Cơ-tu trở thành thành tố tên riêng, vì người Việt đã thêm một thành tố chung bằng tiếng Việt

ở phía trước Việc thêm vào các danh từ chung tiếng Việt vào các địa danh bản địa như trên là không cần thiết Bởi vì, theo quan điểm của chúng tôi, khi đã thêm các danh từ chung như vậy thì nhất thiết phải bỏ đi các yếu tố đồng nghĩa trong tiếng Cơ-tu là “Tam” → “tơớm” Hơn nữa, đây là cách thêm từ một cách tùy tiện, không hiểu nghĩa từ vựng của người Việt đối với tiếng Cơ-tu Từ đó, dẫn đến hệ lụy lệch chuẩn và khó xác định đúng đích xác địa danh khi tìm về nguồn gốc, vị trí, ý nghĩa của những vùng đất chứa địa danh đó

Ví dụ: karung đhí Pleng → suối Pleng; : karung đhí Pleng → suối Coong

Trang 37

2.1.2.3 Khả năng chuyển hóa của thành tố chung

Chuyển hóa của thành tố chung nghĩa là một thành tố chung hay một bộ phận của thành tố chung có thể trở thành thành tố tên riêng hay một bộ phần của thành tố tên riêng Khi thành tố chung chuyển hóa thành yếu tố thứ nhất trong địa danh thì bộ phận địa danh lại có tính chất cấu tạo tương tụ như phức thể địa danh hàm chứa nó Thông thường, thành tố chung có kích thước đơn âm tiết thì dễ chuyển hóa hơn thành tố chung có kích thước đa âm tiết Ngoài ra, thành tố chung

có quan hệ gắn bó chặt chẽ với thành tố tên riêng, chúng tương tác lẫn nhau Cụ thể là, thành tố tên riêng có chức năng quy định quyền hạn cho thành tố chung, đánh dấu, khu biệt đối tượng được thể hiện ở thành tố chung, tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, thành tố chung và thành tố tên riêng có sự trùng âm một cách ngẫu nhiên và khi đó, thành tố chung có chức năng khu biệt cho thành tố tên riêng

Ví dụ: karung đhí Brêêng; karung bhớ Brêêng; karung bhớ Talang; dadưng Talang;… Ở trường hợp như vậy, các thành tố tên riêng vốn mang sẵn trong nó chức năng quy định quyền hạn, khu biệt thì nay đã bị “rơi vào tay” của thành tố chung vì những biểu hiện về mặt ngữ âm

Trong các loại hình địa danh của huyện Tây Giang, sự chuyển hóa này diễn ra không đồng đều ở các nhóm địa danh mà chỉ tập trung ở nhóm địa danh địa hình tự nhiên và địa danh hành chính Trong nhóm địa danh địa hình tự nhiên, sự chuyển hóa diễn ra mạnh nhất và tập trung chủ yếu ở các thành tố chung thuộc nhóm thủy danh Ví dụ:

+ Nhóm địa danh hành chính: bhươl-krnoon, vil

+ Nhóm địa danh địa hình tự nhiên: tơớm (tam), suối, sông

Ở sự chuyển hóa này, chúng tôi cũng khảo sát được một trường hợp địa danh Cơ-tu nhưng sử dụng thành tố chung trong tiếng Jrai Tuy nhiên, để giải thích cho trường hợp này, chúng tôi không đủ ngữ liệu vì nó thuộc trường hợp không biết nghĩa Cụ thể: Suối Ia Cơroăm

Trang 38

Như vậy, chính sự chuyển hóa của thành tố chung trong phức thể địa danh thành một bộ phận của tên riêng như trên đã góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú về mặt cấu tạo hình thức cho địa danh huyện Tây Giang

núi dadưng kacoong

suối karung đhí tơớm

sông karung bhớ karung

khe tahung tơớm

thôn bhươl vil

 Trong tiếng Cơ-tu còn có sự vay mượn thành tố chung chỉ “nước” → “ia” trong tiếng Jrai Việc vay mượn này có thể từ nguyên nhân khách quan trong quá trình giao thoa giữa các ngôn ngữ với nhau và bản thân con chữ “ia” trong tiếng Cơ-tu không mang nghĩa Do đó, chúng tôi khẳng định đây là trường hợp vay

Trang 39

mượn ngôn ngữ chứ không có sự tương đồng trong ngôn ngữ các dân tộc thiểu số

Ví dụ: suối Ia Croăm

2.1.3 Đặc điểm của thành tố tên riêng trong cấu trúc phức thể địa danh 2.1.3.1 Vị trí của tên riêng trong cấu trúc phức thể địa danh

Tên riêng là thành phần cốt lõi trong phức thể của địa danh, có chức năng

cá thể hóa và khu biệt đối tượng Trong một phức thể địa danh, tên riêng có vị trí rất ổn định Nó là một bộ phân luôn luôn đứng sau thành tố chung chỉ loại hình để hạn định ý nghĩa cho thành tố chung, giữa chúng có sự chuyển hóa và tương tác lẫn nhau Hơn nữa, nó cũng phản ánh sự đa dạng, phong phú của từng ngôn ngữ của từng vùng phương ngữ cụ thể

2.1.3.2 Đặc điểm cấu tạo tên riêng trong địa danh huyện Tây Giang

Tên riêng của địa danh huyện Tây Giang được cấu tạo tự hai thành tố có nghĩa trở lên và phụ thuộc vào số lượng âm tiết tạo nên chúng Các thành tố tên riêng trong địa danh gốc Cơ-tu ở đây phải có độ dài tối thiểu là 1 âm tiết (đơn tiết)

và độ dài tối đa là 4 âm tiết (đa tiết) Xét về mặt cấu trúc, các thành tố tên riêng trong địa danh gốc Cơ-tu ở huyện Tây Giang phải được xem xét từ cách viết địa danh trong nguyên ngữ dân tộc Cơ-tu thì mới có thể phản ánh đúng các quy luật ngôn ngữ

a Các phương thức cấu tạo hình thức địa danh huyện Tây Giang

Các thành tố tên riêng của địa danh gốc Cơ-tu của huyện Tây Giang được cấu tạo từ hai hình thức chính, đó là:

+ Phương thức từ hóa yếu tố cấu tạo địa danh

+ Phương thức phức hóa yếu tố cấu tạo địa danh

Với số lượng 230 địa danh, chúng tôi thống kê và phân loại theo số lượng âm tiết tạo thành các thành tố tên riêng Cụ thể trong bảng sau:

Trang 40

Số lượng địa danh STT Số lượng

âm tiết ĐHTN ĐVHC CTXD

KT-XH

Tổng cộng

từ song tiết chiếm đa số, đặc biệt là những từ đơn song tiết Phần lớn địa danh Tây Giang được cấu tạo bằng những từ đơn đa tiết Việc tạo lập địa danh phụ thuộc rất nhiều vào các quy định quyền hạn của ngôn ngữ dùng cho việc định danh

b) Địa danh có cấu tạo đơn

Địa danh có cấu tạo đơn là địa danh mà phần thành tố tên riêng chỉ có một

âm tiết có nghĩa Ví dụ: sông Lăng ( sông đá); suối Júc (cái dây trong cây đủng đỉnh); thôn Pứt (một giai thoại về xì hơi);…

Xét về sự hoạt động của các thành tố tên riêng, ta thấy, địa danh trong các loại hình khác nhau thường có số lượng các âm tiết khác nhau Trong bảng thống

kê về số lượng âm tiết của thành tố tên riêng của địa danh huyện Tây Giang, loại hình địa danh địa hình tự nhiên có 26 thành tố tên riêng một âm tiết, chiếm tỉ lệ 11.26% trong tổng số 231 địa danh được khảo sát Trong đó, địa danh địa hình tự nhiên là 17/26 địa danh, chiếm tỉ lệ 12.59%; địa danh đơn vị hành chính là 9/29 địa danh, chiếm tỉ lệ 6.67% Ở hai nhóm địa danh công trình xây dựng và kinh tế - xã

Ngày đăng: 25/05/2019, 12:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Âu (2002), Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam, in lần thứ hai, Nxb Đại học Quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Âu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2002
2. Nguyễn Tài Cẩn (1995), Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo), Nxb Đại học Quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo)
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1995
3. Đỗ Hữu Châu (2005), Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ, in trong “Đỗ Hữu Châu tuyển tập, tập 2”, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
4. Trần Trí Dõi (2005), Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
5. Trần Trí Dõi (2000), Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam, lần thứ 2, Nxb H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: Nxb H
Năm: 2000
6. Phạm Đức Dương (2007), Việt Nam & Đông Nam Á: Ngôn ngữ và văn hóa, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam & Đông Nam Á: Ngôn ngữ và văn hóa
Tác giả: Phạm Đức Dương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
7. Tạ Đức (2002), Tìm hiểu văn hóa Katu, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa Katu
Tác giả: Tạ Đức
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2002
8. Nguyễn Thiện Giáp (2010), Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục Việt Nam, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
9. Lê Trung Hoa (2006), Địa danh học Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa danh học Việt Nam
Tác giả: Lê Trung Hoa
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2006
10. Nguyễn Đình Hùng (2014), Nghiên cứu địa danh tỉnh Quảng Bình, Luận án Tiến sĩ Ngữ Văn, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu địa danh tỉnh Quảng Bình
Tác giả: Nguyễn Đình Hùng
Nhà XB: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
11. Nguyễn Hữu Hoàng, Nguyễn Văn Lợi (1998), Tiếng Katu, Nxb Khoa học Xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Katu
Tác giả: Nguyễn Hữu Hoàng, Nguyễn Văn Lợi
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1998
12. Nguyễn Hữu Hoành (2009), “Mức độ gần gũi về mặt cội nguồn giữa tiếng Việt và tiếng Cơ tu (trên cứ liệu từ vựng)”, trong Tìm hiểu ngôn ngữ các dân tộc ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mức độ gần gũi về mặt cội nguồn giữa tiếng Việt và tiếng Cơ tu (trên cứ liệu từ vựng)
Tác giả: Nguyễn Hữu Hoành
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2009
13. Nguyễn Hữu Hoành (2011), “Địa danh có nguồn gốc Cơ tu ở Quảng Nam (Phương thức định danh và đặc trưng văn hóa lịch sử)”, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, (số 8/2011), tr.21-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa danh có nguồn gốc Cơ tu ở Quảng Nam (Phương thức định danh và đặc trưng văn hóa lịch sử)
Tác giả: Nguyễn Hữu Hoành
Năm: 2011
14. Nguyễn Hữu Hoành (2009), “Mức độ gần gũi về mặt cội nguồn giữa tiếng Việt và tiếng Cơ Tu (trên cứ liệu từ vựng)”, Tìm hiểu ngôn ngữ các dân tộc ở Việt Nam, Tạ Văn Thông (chủ biên), Nxb. KHXH, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mức độ gần gũi về mặt cội nguồn giữa tiếng Việt và tiếng Cơ Tu (trên cứ liệu từ vựng)
Tác giả: Nguyễn Hữu Hoành
Nhà XB: Nxb. KHXH
Năm: 2009
15. Nguyễn Hữu Hoành (2009), “Hệ thống ngữ âm tiếng tộc Cơ Tu (trên cứ liệu xã Zuôih, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam)”, Tìm hiểu ngôn ngữ các dân tộc ở Việt Nam, Tạ Văn Thông (chủ biên), Nxb. KHXH, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống ngữ âm tiếng tộc Cơ Tu (trên cứ liệu xã Zuôih, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam)
Tác giả: Nguyễn Hữu Hoành
Nhà XB: Nxb. KHXH
Năm: 2009
16. Nguyễn Hữu Hoành (2009), “Suy nghĩ về một phương án sửa đổi chữ viết Cơ Tu”, Tìm hiểu ngôn ngữ các dân tộc ở Việt Nam, Tạ Văn Thông (chủ biên), Nxb. KHXH, H. 49–62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về một phương án sửa đổi chữ viết Cơ Tu
Tác giả: Nguyễn Hữu Hoành
Nhà XB: Nxb. KHXH
Năm: 2009
17. Nguyễn Hữu Hoành (2015), “Vị trí của tiếng Cơ Tu xét về mặt loại hình”, Ngôn ngữ 8–9 (316–317), tr. 90–98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí của tiếng Cơ Tu xét về mặt loại hình
Tác giả: Nguyễn Hữu Hoành
Nhà XB: Ngôn ngữ
Năm: 2015
19. Bhriu Liếc (2006), Tiếng thông dụng C’tu Kinh và văn hóa làng C’tu, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng thông dụng C’tu Kinh và văn hóa làng C’tu
Tác giả: Bhriu Liếc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
21. Phan Ngọc (1998), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1998
22. Hồ Trần Ngọc Oanh (2010), Đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của địa danh huyện Ia Grai – Gia Lai, Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của địa danh huyện Ia Grai – Gia Lai
Tác giả: Hồ Trần Ngọc Oanh
Nhà XB: Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w