1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các kiểu câu có tác dụng tu từ nổi bật trong truyện ngắn Nam Cao.

71 542 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 705,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong truyện ngắn của ông ,vai nhân vật người kể chuyện luôn luôn linh hoạt, với một kết cấu mạch ngầm khó bị phá vỡ và một phong cách ngôn ngữ đặc biệt hấp dẫn.. hiểu được điều này, nhà

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

- -

CAO THỊ ÁI NHI

CÁC KIỂU CÂU CÓ TÁC DỤNG TU TỪ NỔI BẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Mỗi lần đọc Nam Cao là mỗi lần trong tôi lại rưng rưng xúc động và

ám ảnh Những trang đời, những trang văn nóng hổi của Nam Cao vẫn còn mãi như một cảm xúc không thể nguôi yên trong lòng độc giả Trong dòng văn học hiện thực phê phán, người ta sẽ nhớ mãi một Nguyên Hồng - nhà văn của chủ nghĩa nhân đạo thống thiết, một Vũ Trọng Phụng- nhà văn châm biếm trào lộng mỉa mai…Và người ta cũng không thể quên được một Nam Cao cháy bỏng tình yêu thương, luôn quan tâm đến nhân phẩm con người

Nam Cao là một tài năng lớn, một nhà văn xuất sắc đã góp phần cách tân và hiện đại hóa nền văn xuôi quốc ngữ Ông đóng một vai trò quan trọng trong nền văn học hiện đại Việt Nam Cả cuộc đời Nam Cao là một quá trình phấn đấu không khoan nhượng cho một nhân cách cao đẹp - nhân cách trong cuộc đời và nhân cách trong sáng tạo nghệ thuật Ông đã để lại trong kho tàng văn chương dân tộc một gia tài không đồ sộ về số lượng nhưng ẩn chứa sức sống, sức bền lâu của một giá trị văn chương vượt lên trên “bờ cõi và giới hạn”, có được những tri kỉ, tri âm

Có thể nói, truyện ngắn là một mảng lớn chiếm vị trí quan trọng trong toàn bộ sáng tác của Nam Cao Trong truyện ngắn của ông ,vai nhân vật người kể chuyện luôn luôn linh hoạt, với một kết cấu mạch ngầm khó bị phá

vỡ và một phong cách ngôn ngữ đặc biệt hấp dẫn Ông đã mang vào trong văn học hiện đại Việt Nam một thế giới nghệ thuật riêng biệt, mới lạ, độc đáo

Vì vậy để hiểu hơn về truyện ngắn cũng như phong cách nhà văn Nam Cao thì một phương diện cần đặc biệt quan tâm là yếu tố ngôn ngữ, chất liệu

cơ bản để sáng tạo nên các tác phẩm văn học “Cái làm nên sự kì diệu của

ngôn ngữ đó chính là các phương tiện, biện pháp tu từ”.[7, tr.4], chính vì

Trang 3

hiểu được điều này, nhà văn Nam Cao đã khai thác tác dụng tu từ vào trong câu văn của mình để tạo nên tính thẫm mĩ cũng như phong cách truyện ngắn của ông

Đề tài “Các kiểu câu có tác dụng tu từ nổi bật trong truyện ngắn Nam

Cao” sẽ là hướng tiếp cận không chỉ giúp chúng tôi hiểu sâu hơn nội dung,

giá trị của các tác phẩm mà còn giúp chúng tôi đi vào thế giới nghệ thuật của Nam Cao, tìm hiểu tài năng sử dụng ngôn ngữ của Nam Cao, tạo điều kiện cho quá trình học tập và làm việc sau này Đồng thời đây cũng là cơ hội giúp chúng tôi nắm rõ hơn về cách vận dụng phương tiện, biện pháp tu từ vào trong hành văn để mang lại tính thẫm mĩ, hiệu quả tác động đối với người đọc

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Từ nhiều chục năm nay, con người và tác phẩm Nam Cao đã trở thành đối tượng nghiên cứu phê bình của nhiều thế hệ độc giả Từ những năm bốn mươi đến nay có tới hơn 200 bài báo, các công trình viết về Nam Cao Giới nghiên cứu phê bình hiện nay khi đọc lại Nam Cao không chỉ dừng lại ở những kết luận có sẵn mà cố gắng khơi sâu vào những “địa tầng” mới của văn chương Nam Cao

Nam Cao là một tác gia có biệt tài về truyện ngắn Nhà văn Nguyên

Hồng đã nhận xét : “Qua những truyện ngắn, con mắt nhìn của Nam Cao đặt

cho chúng ta, những ý nghĩ của Nam Cao gợi dậy trong tâm trí chúng ta, và tinh thần trách nhiệm Nam Cao đề ra với chúng ta, càng ngày ta càng thấy rõ hơn… Đó là ý thức tích cực của một con người trước quần chúng, trước dân tộc, trước lịch sử ” [16, tr 83] Cũng một thái độ trân trọng như vậy, Vũ

Tuấn Anh trong bài nghiên cứu “Phong cách truyện ngắn Nam Cao’” đã nhận định “Nam Cao tiếp nhận những gì mà nhà văn đi trước đã làm Ông không

phải là nhà cách tân truyện ngắn, ông chỉ bồi đắp thêm cho nó, nhưng sự bồi

Trang 4

đắp ấy phong phú đến nỗi cho đến ông, truyện ngắn giàu có thêm nhiều cách thăm dò ở những chiều sâu mới, khẳng định thêm sự hàm súc của nó.”[16,

tr.363]

Riêng đối với phương diện nghệ thuật của Nam Cao, các nhà nghiên cứu và cả những người trong giới sáng tác có một sự quan tâm đặc biệt Các nhà nghiên cứu đã khai thác nhiều khía cạnh trong sáng tác của Nam Cao như cốt truyện và kết cấu, không- thời gian, nhịp điệu, giọng điệu….Khi nói về

cốt truyện trong truyện ngắn Nam Cao, Trần Đăng Suyền đã viết “Cốt truyện

trong nhiều tác phẩm của Nam Cao được hư cấu rất đơn giản, dường như không cần đến tổ chức, sắp xếp.”[12, tr.43] Nguyễn Hoành Khung cũng nhận

xét: “Nam Cao ít lôi cuốn người đọc bằng một cốt truyện hấp dẫn, ly kỳ và

đầy kịch tính mà thường hướng họ theo chiều sâu suy nghĩ” Hay nghiên cứu

về chất giọng Nam Cao, tác giả Nguyễn Thái Hòa đã góp một phần công lao

vào việc khai phá tài năng của Nam Cao : “Cấu trúc chất giọng Nam Cao

trong tác phẩm dựa trên sự vận động liền mạch của những suy nghiệm tính toán mà sự phân bố từ một giọng căng tiếp đến một giọng chùng theo hình làn sóng cho đến khi kết thúc.” [16, tr.244]

Tuy nhiên đi vào vấn đề nghiên cứu về câu trong truyện ngắn của Nam Cao, chúng tôi thấy rằng các nhà nghiên cứu văn học cũng như tu từ học chưa

có dịp nghiên cứu đầy đủ, nhất là các kiểu câu có tác dụng tu từ nổi bật trong

truyện ngắn Nam Cao Có chăng thì đó cũng là một nhận xét nhỏ trong một

bài nghiên cứu lớn

Trong bài “Phong cách truyện ngắn Nam Cao”, tác giả Vũ Tuấn Anh

đã đề cập đến câu văn của Nam Cao : “Câu văn Nam Cao cũng chỉ là thứ câu

văn “bị xé rách”về ngữ điệu và chúng nhấm nhẳn, đứt nối, cắn rứt chì chiết, nghẹn ngào đầy kịch tính” [16, tr.366] Cũng nghiên cứu về Phong cách truyện ngắn Nam Cao tác giả Bùi Công Tuấn nhận định : “Nam Cao thường

Trang 5

viết những câu rất ngắn và cộc, dường như không thể rút ngắn hơn” [16, tr

369] Cũng trong bài viết này, tác giả đã phân tích và đưa ra những ví dụ minh họa cho kiểu câu ngắn của Nam Cao Câu ngắn làm cho mạch văn đi nhanh, giọng văn đanh lại, nó có vẻ cộc và khô gần như bốp chát Và chính những kiểu câu ngắn này là một đặc điểm phong cách ngôn ngữ của Nam Cao

Vũ Bằng, bạn viết cùng thời với Nam Cao khi đọc “Đôi lứa xứng đôi

(1941)” chia sẻ : “May mắn làm sao tôi lại được một truyện của Nam Cao và

ngay mấy câu đầu tôi đã thích thú vì lối hành văn với những câu kệch cỡm, nghịch ngợm, có khi dớ dẩn nhưng đậm đà có duyên”.[16, tr.12]

Có thể nói, các công trình, chuyên luận nghiên cứu về Nam Cao vô cùng phong phú, tuy nhiên những công trình nghiên cứu dưới góc độ ngôn ngữ học còn khá hiếm Ngôn ngữ trong sáng tác của Nam Cao chủ yếu được tìm hiểu qua ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ người kể chuyện… Câu trong truyện ngắn Nam Cao chưa được chú ý quan tâm xác đáng Vì vậy, nghiên

cứu đề tài này : “Các kiểu câu có tác dụng tu từ nổi bật trong truyện ngắn của

Nam Cao” chúng tôi ít nhiều gặp khó khăn về tài liệu tham khảo, tuy nhiên

đây cũng là một lợi thế để chúng tôi có thể chủ động trong việc khám phá và tiếp nhận, và đó cũng là một ưu thế tạo nên sức hấp dẫn của đề tài

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng của đề tài: Các kiểu câu có tác dụng tu từ nổi bật trong truyện ngắn Nam Cao như: câu dưới bậc, câu đặc biệt, câu tỉnh lược, câu hỏi

tu từ, câu danh - là - danh, câu nhắc lại chủ ngữ, câu đẳng thức, câu hỏi phủ định, câu có trúc chủ ngữ- gì mà –vị ngữ, và câu trùng ngôn

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chủ yếu khảo sát 5 truyện ngắn: Chí Phèo,

Lão Hạc, Trẻ con không được ăn thịt chó, Từ ngày mẹ chết, Đời thừa trong

cuốn Tuyển tập Nam Cao của NXB Văn học năm 2005

Trang 6

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học với phương pháp nghiên cứu văn học bao gồm: phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, đối chiếu nhằm đưa ra kết quả mang tính chính xác và thuyết phục nhất

Trang 7

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Các kiểu câu có tác dụng tu từ cao

Theo Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa thì các kiểu câu giàu màu sắc tu từ bao gồm:

- Những kiểu câu thường gặp trong khẩu ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật

[6, tr 223 - 228]

+ Câu đặc biệt

+ Kiểu câu lược chủ ngữ

+ Kiểu câu ẩn chủ ngữ có màu sắc tu từ

- Những kiểu câu chuyển đổi tình thái

Hai tác giả đã nghiên cứu các dạng chuyển đổi tình thái, trong các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau Sự chuyển đổi này khá phức tạp Sau đây là một số dạng chính:

+ Câu hỏi- khẳng định + Câu nghi vấn - cảm thán + Câu hỏi phủ định

+ Câu hỏi - gợi ý + Câu khẳng định – nghi vấn + Kiểu câu đẳng thức [6, tr 228 - 232]

- Theo bài giảng của thầy Bùi Trọng Ngoãn, một số kiểu câu có giá trị tu

từ nổi bật được tập hợp thành hai nhóm là: nhóm “một số kiểu câu có tác dụng khẳng định” và nhóm “một số kiểu câu có tác dụng phủ định” Trong đó:

- Kiểu câu có tác dụng khẳng định

+ Câu hỏi khẳng định + Kiểu câu danh - là - danh + Kiểu câu đẳng thức

Trang 8

+ Kiểu câu nhắc lại chủ ngữ + Kiểu câu trùng ngôn

+ Kiểu câu phủ định của phủ định [11, tr 39 - 40]

vị ngữ [5, tr 152]

* Phân loại:

Câu đặc biệt thường được phân loại theo bản tính của từ loại của

từ - thành tố chính Theo đó có thể chia ra các kiểu lớn:

- Câu đặc biệt danh từ có trung tâm cú pháp chính là danh từ

Trang 9

- Câu đặc biệt từ loại khác là loại câu có trung tâm cú pháp

chính không phải là danh từ, động từ hay tính từ mà là các từ loại khác đảm nhiệm như thán từ, phó từ…

Trang 10

- Đưa chủ đề vào văn bản một cách sinh động, đầy cảm xúc, với dấu than kết thúc

chiều giữa một bên là sức mạnh với bên kia là chức năng và vinh dự Sức

mạnh của thơ chi phối chức năng và vinh dự của thơ, đồng thời chức năng và nhiệm vụ của thơ đã làm nên những mức độ khác nhau cho cái sức mạnh ấy

- Câu dưới bậc tương đương trạng ngữ câu

Ví dụ:

Trang 11

Sáng hôm sau Lan dậy thật sớm để nhặt những cánh hoa nhài rơi đem

vào đặt trong rổ Cô sờ lên mái tóc và cảm thấy ươn ướt Nhìn lên cành nhà

cô thấy những giọt sương long lanh nữa muốn rời cành, nữa như cố víu lấy

để được tồn tại Bây giờ, mẹ cô vẫn còn nằm nghỉ trên chiếc giường xiêu vẹo

Trong ví dụ này, phần gia ngữ bậc câu “ Sáng hôm sau.” được tách ra

thành câu riêng với dụng ý rất rõ Tất cả những sự việc xảy ra dẫn trên đây

cho đến hết truyện đều diễn ra trong cái buổi “Sáng hôm sau” ấy

Nếu cho câu Sáng hôm sau sáp nhập với câu “Lan dậy thật sớm để nhặt

những cánh hoa nhài rơi đem vào đặt trong rổ.” với chức năng một gia ngữ

câu đích thực thì giá trị của khoảng thời gian “Sáng hôm sau.” đó không lan tỏa ra được toàn phần văn bản với bao nhiêu sự việc Tách “Sáng hôm sau” ra

thành câu riêng, với tư cách câu dưới bậc còn có tác dụng chuẩn bị chỗ hợp lý

trước cho những từ như “Bây giờ” trong phần tiếp theo: Sáng hôm sau là cách nhìn của người kể chuyện, còn “Bây giờ” là cách nhìn của cô và đó cũng

chính là cách nhìn của chính nhân vật được tác giả

- Câu dưới bậc tương đương đề ngữ

Ví dụ:

Bác chắt chiu để dành được hai trăm Đông Dương, định về tổ chức cho

nó cưới caí Soan xong bác hẵng về hậu phương mà tăng gia, nộp thuế nuôi đồng đội

Về hậu phương…

Cấp trên cho bác về mấy lượt bác còn chần chừ

Câu dưới bậc Về hậu phương có thể sáp nhập với câu ghép đứng sau

với chức năng đề ngữ của nó Tách về hậu phương ra thành một câu riêng với dấu ba chấm đứng cuối và dành cho nó một đoạn văn, tác giả muốn nói thêm rằng đây là một vấn đề nổi cộm lên đối với nhân vật trong truyện , nó day dứt nhân vật , và trở đi trở lại như một sự ám ảnh không ngừng nghỉ Sự giải thích

Trang 12

này được xác nhận bằng những tiếng mấy lượt, còn chần chừ ở câu tiếp theo

Đó chính là giá trị tu từ mà câu dưới bậc đem lại cho văn bản này

- Câu dưới bậc tương đương liên tố

Trong lời nói nghệ thuật người ta cũng sử dụng câu dưới bậc tương đương với liên tố mặc dù không nhiều

Ví dụ:

Anh càng hết sức để hát, để đàn, và để…không ai nghe

Bởi vì…

Đường càng vắng ngắt

Rõ ràng Bởi vì có thể nhập với câu tiếp theo như một liên tố có tác

dụng câu sau liên tố với câu trên nó Nó được tách ra thành một câu, và hơn nữa nó được tách ra thành một đoạn văn, với dụng ý tạo ra một sự chờ đợi: gặp bởi vì là gặp sự giải thích về nguyên nhân thế nhưng lời giải thích không xuất hiện ngay sau bởi vì , cũng tức là phải chờ đợi Và cái gì quan trọng đến mức bắt người đọc phải chờ đợi, và không chỉ chờ đợi cho qua khỏi dấu ba chấm, mà đến đó người đọc lại gặp một sự hụt hẫng mới: sự xuống dòng Với

sự xuống dòng, nỗi mong chờ lại càng thêm lớn, cái được chờ đợi giá trị càng gia tăng Thế mà cái được chờ đợi là cái quá giản đơn : sự vắng lặng, không ai nghe chỉ vì không có ai cả Bằng thủ pháp dùng câu dưới bậc, bằng thủ pháp tạo đoạn văn bất thường, tác giả đã thực hiện phép tu từ đột giáng mà không

hề dùng từ ngữ nào mang nghĩa đột giáng

* Giá trị tu từ

Câu dưới bậc là một bộ phận của một câu trọn vẹn được tách ra vì những lí do nghệ thuật Câu dưới bậc không tồn tại một cách tự lập, nó chỉ có giá trị nghệ thuật và có ý nghĩa hiểu được xét trong mối quan hệ của nó với câu mà từ đó nó được tách ra Giá trị tu từ của loại câu này thể hiện ở chỗ nó tạo nên sự lan tỏa cho phần nó được tách ra trước đó Trong nhiều trường hợp

Trang 13

khác, nó tạo nên sự bất ngờ cho người đọc, làm tăng giá trị nội dung cần diễn đạt

c Câu tỉnh lược

* Khái niệm:

Câu tỉnh lược là loại câu có một hay hai thành phần chính của câu bị lược bỏ mà ý nghĩa thành phần bị tỉnh lược vẫn có thể được khôi phục dễ dàng nhờ vào hoàn cảnh hay ngữ cảnh.[7, tr 85]

*Phân loại:

- Câu tỉnh lược chủ ngữ: là câu trong đó vật đáng lẽ được nêu ra để

làm chủ ngữ trong câu thì lại vắng mặt [3,tr 280]

Một số kiểu câu tỉnh lược chủ ngữ thường gặp: Câu tỉnh lược chủ ngữ

là câu cầu khiến, câu tỉnh lược chủ ngữ chứa có thể, cần, nên, phải, câu tỉnh

lược chủ ngữ là khẩu hiệu hành động, câu tỉnh lược chủ ngữ là tục ngữ, lời cầu chúc, cầu mong, lời chào…

- Câu tỉnh lược vị tố: là câu trong đó có vị tố bị tỉnh lược Vị tố được

làm thành từ động từ, tính từ, và các hư từ quây quần chung quanh chúng

- Câu tỉnh lược bổ ngữ: là câu trong đó bổ ngữ tỉnh lược thay thế bằng

(0)

* Tác dụng tu từ:

Câu tỉnh lược thường được sử dụng trong hội thoại thường ngày hơn là dùng trong văn bản nghệ thuật Vì dạng câu ngắn gọn phù hợp với trí nhớ ngắn hạn của con người Tuy nhiên, trong ngôn ngữ có tính chất nghệ thuật thì câu tỉnh lược mang giá trị tu từ cao Nó biểu thị sắc thái cầu khiến, hay sắc thái trung hòa, thân mật, kính trọng…v v Đôi khi, câu tỉnh lược còn có tác dụng liệt kê, nhấn mạnh hay tự bộc lộ tâm trạng góp phần làm cho câu văn nói riêng và văn bản nói chung đạt đến một giá trị nhất định

d Câu hỏi tu từ

Trang 14

* Khái niệm:

Câu hỏi tu từ là câu về hình thức là câu hỏi mà về thực chất là câu

khẳng định hoặc phủ định có cảm xúc Nó có dạng không đòi hỏi câu trả lời

mà chỉ nhằm tăng cường tính diễn cảm của phát ngôn [7, tr 194]

Ví dụ:

Vì sao ngày một thanh tân?

Vì sao người lại mến thân hơn nhiều?

* Tác dụng tu từ:

Câu hỏi tu từ thường có ý nghĩa khẳng định làm cho hình tượng văn học thêm đẹp đẽ lên gấp bội Nhiều khi câu hỏi tu từ nhằm biểu lộ tâm tư, tình cảm xúc của người nói, có khi có ý nghĩa mời mọc, gợi ý thiết tha Câu hỏi tu

từ ở dạng đòi hỏi câu trả lời thì nó có tác dụng hấp dẫn sự chú ý và khêu gợi trí tưởng tượng của người nghe, nâng cao giọng điệu cảm xúc của phát ngôn, thay đổi hơi văn, điều hòa âm điệu, khiến cho việc trình bày, diễn giải trở nên

Câu hỏi phủ định là một trong số những loại câu thường được sử dụng

để bộc lộ cảm xúc, nỗi lòng hoặc ngạc nhiên hoặc là chán nản, mỉa mai… và

đó là cách biểu thị tình thái mang lại hiệu quả cao trong văn bản nghệ thuật

e Câu nhắc lại chủ ngữ

Trang 15

ở từ đặt đầu câu Đồng thời nó dùng để làm sáng rõ, cụ thể hóa các ý tưởng, dùng để tăng cường tính diễn cảm về nghĩa và về cảm xúc lời nói và được nêu đặc trưng ở sự dư thừa của hình thức diễn đạt

Trang 16

* Khái niệm:

Kiểu câu danh - là - danh là kiểu câu có cấu trúc C là V (C: danh từ, V:

là danh từ, hoặc cụm danh từ) [11, tr 39]

Ví dụ:

Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta

* Bị chú: Trong sáng tác của Nam Cao không có các kiểu câu đẳng thức, câu

phủ định của phủ định, câu chủ ngữ - gì mà – vị ngữ, nên trong phần cơ sở lí luận này chúng tôi không trình bày lí thuyết về ba dạng câu trên

1.2 Nam Cao và truyện ngắn của ông

1.2.1 Nam Cao- nhà văn hiện thực xuất sắc, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn

Nam Cao tên khai sinh là Trần Hữu Tri, sinh ngày 29 tháng 10 năm

1917 trong một gia đình trung nông tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) Bút danh Nam Cao là do ghép hai chữ đầu tên huyện và tổng

mà thành

Nam Cao xuất hiện trên văn đàn từ năm 1936, khi trào lưu hiện thực chủ nghĩa đã đạt được nhiều thành tựu xuất sắc, Nam Cao ý thức sâu sắc rằng:

“Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi

những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có” (Đời thừa) Và

Nam Cao đã thực sự tìm được cho mình một hướng đi riêng trong việc tiếp cận và phản ánh hiện thực Nếu như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố - những nhà văn hiện thực xuất sắc thời kỳ Mặt trận dân chủ (1936 - 1939) đều tập trung phản ánh trực tiếp những mâu thuẫn, xung đột xã hội thì sáng tác của Nam Cao - đại biểu ưu tú nhất của trào lưu hiện thực

chặng đường cuối cùng (1940 - 1945), trừ truyện ngắn Chí Phèo trực tiếp đề

cập tới xung đột giai cấp, còn các tác phẩm khác đều tập trung thể hiện xung

Trang 17

đột trong thế giới nội tâm của nhân vật Hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ không tạo điều kiện cho Nam Cao đi thẳng vào những vấn đề cấp bách nhất của xã hội, không trực tiếp miêu tả những sự kiện có ý nghĩa xã hội lịch sử rộng lớn Nhiều tác phẩm của ông được dệt lên bằng toàn những “cái hàng ngày” chủ yếu liên quan đến cuộc sống riêng tư của các nhân vật, những sự kiện vặt vãnh, nhỏ nhoi, tủn mủn mà nhà văn gọi là “những chuyện không muốn viết” Chỉ có tiếng con khóc, tiếng vợ gắt gỏng cũng đủ sức lôi tuột văn sĩ Điền đang nhởn nhơ trên chín tầng mây với ánh trăng giống như “cái vú mịn tròn

đầy” xuống mặt đất với biết bao cực khổ lầm than (Giăng sáng) Cả lý tưởng nhân đạo cao cả, cả hoài bão nghệ thuật chân chính đều có nguy cơ chết

mòn trước sự tấn công quyết liệt, dai dẳng và tàn bạo của cái đói (Đời thừa)…v v Từ những chuyện vụ vặt đời thường, Nam Cao đã thực sự động

chạm đến vấn đề có tính chất nhân bản, đã đặt ra những vấn đề sâu sắc về cuộc sống, về thân phận của con người, về vấn đề cải tạo xã hội, về tương lai của dân tộc và nhân loại Bi kịch của đời thường, của những cái vặt vãnh hàng ngày, qua ngòi bút đầy tài năng của Nam Cao đã trở thành những bi kịch vĩnh cửu

Nam Cao là nhà văn của chủ nghĩa hiện thực tâm lý Điều đó có quan

hệ mật thiết tới quan niệm về con người của ông Nam Cao viết trong Sống

mòn: “Sống tức là cảm giác và tư tưởng Sống cũng là hành động nữa, nhưng hành động chỉ là phần phụ: có cảm giác, có tư tưởng mới sinh ra hành động”

Một quan niệm về con người như thế đã chi phối thủ pháp chủ nghĩa hiện thực tâm lý của Nam Cao Đối với Nam Cao, cái quan trọng hơn cả trong

nhiệm vụ phản ánh chân thật cuộc sống là cái chân thật của tư tưởng, của nội

tâm nhân vật Xét tới cùng, cái quan trọng nhất trong tác phẩm không phải là

bản thân sự kiện, biến cố tự thân mà là con người trước sự kiện, biến cố Vì

vậy, trong sáng tác của Nam Cao, hứng thú của những chi tiết tâm lý thường

Trang 18

thay thế cho hứng thú của chính bản thân các sự kiện, biến cố Cho nên, trước khi bán một con chó, lão Hạc phải trải qua biết bao băn khoăn, day dứt, dằn vặt và khi buộc phải bán nó thì lão vô cùng ân hận, tột cùng đau đớn, tuổi già

mà khóc hu hu như con nít v v Nam Cao chẳng những miêu tả sinh động những chi tiết, những biểu hiện tâm lý nhỏ nhặt nhất mà còn theo dõi, phân tích quá trình tích tụ của chúng dẫn tới sự nảy sinh những phẩm chất mới trong tâm hồn con người Không chỉ dừng lại ở những khoảnh khắc, Nam Cao

đã miêu tả thành công những quá trình tâm lý của nhân vật Ngòi bút của ông

tỏ ra có biệt tài trong khi miêu tả những trạng thái tâm lý phức tạp, những hiện tượng lưỡng tính dở say, dở tỉnh, dở khóc, dở cười, mấp mé ranh giới giữa thiện với ác, giữa hiền với dữ, giữa con người với con vật Qua ngòi bút của ông, tâm lý con người được thể hiện một cách phong phú đa dạng với nhiều sắc thái tinh vi

Nam Cao mong muốn khai thác những vấn đề của cuộc sống không

phải ở bề rộng mà là ở bề sâu Nhà hiện thực chủ nghĩa Nam Cao đã mở

rộng việc phản ánh hiện thực bằng cách khai thác sâu sắc thế giới tâm hồn

của con người Qua ngòi bút ông, thế giới bên trong của con người, kể cả những “con người bé nhỏ”, thậm chí cả những kẻ khốn khổ tủi nhục nhất như Chí Phèo và Thị Nở cũng là cả một vũ trụ bao la Đối với Nam Cao, việc phân tích tâm lý nhân vật không tách rời việc phân tích cuộc sống xã hội nói chung Thông qua việc miêu tả, phân tích tâm lý để thể hiện những mâu

thuẫn, xung đột xã hội, Nam Cao đã mở ra một khuynh hướng phân tích

mới cho phương pháp hiện thực chủ nghĩa trong văn học Việt Nam Có thể

nói, cảm hứng phân tích phê phán thấm nhuần trong toàn bộ sáng tác của Nam Cao Nó là một đặc điểm nổi bật, trở thành “linh hồn”, “cốt tuỷ” chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao

Trang 19

Cái gốc, nền tảng vững chắc của chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao là chủ nghĩa nhân đạo

Trong mỗi trang văn của Nam Cao đều bộc lộ tấm lòng của một con người đau đời và thương đời da diết Trái tim nhân đạo và cái nhìn sắc sảo của ông đã thấu hiểu những hoàn cảnh thiếu nhân tính làm cho con người bị tha hóa Viết về những con người dưới đáy của xã hội, Nam Cao đã bộc lộ sự cảm thông lạ lùng của một trái tim nhân đạo lớn Thế giới, cuộc đời con người, mối quan hệ giữa những con người được nhìn nhận bằng những con mắt của chính họ Nhà văn, trong những đánh giá và nhận xét, đã xuất phát từ lợi ích và yêu cầu của chính những con người cùng khổ nhất, không có quyền,

bị xã hội áp bức, chà đạp xuống tận bùn đen Nam Cao đã bảo vệ, bênh vực, minh oan, cho những con người thấp cổ bé họng, bị cuộc đời xua đuổi, hắt hủi, khinh bỉ một cách bất công Với trái tim đầy yêu thương của mình, Nam Cao vẫn tin rằng trong tâm hồn của những người không còn được là người, những con người bề ngoài được miêu tả như những con vật vẫn còn nhân tính, vẫn còn những khát khao nhân bản Ông nhận ra đằng sau những bộ mặt

xấu xí đến “ma chê quỷ hờn” của Thị Nở (Chí Phèo) của mụ Lợi (Lang Rận) của Nhi (Nửa đêm) v.v… vẫn là một con người, một tâm tính người thật sự,

cũng khao khát yêu thương Có thể nói, cùng với việc lên án gay gắt những thành kiến, định kiến tồi tệ, những sự nhục mạ danh dự và phẩm giá con người, chính việc phát hiện ra cái phần con người còn sót lại trong một kẻ lưu manh trân trọng những khao khát nhân bản và miêu tả những rung động trong sáng của những tâm hồn tưởng chừng đã bị cuộc đời làm cho cằn cỗi, u mê đã làm cho Nam Cao trở thành một trong số những nhà văn nhân đạo lớn nhất trong nền văn học hiện đại Việt Nam

1.2.2 Truyện ngắn, thể loại mang dấu ấn phong cách nghệ thuật độc đáo của Nam Cao

Trang 20

Bước chân vào con đường sự nghiệp, Nam Cao đã thử bút qua nhiều thể loại như làm thơ, viết kịch, truyện ngắn, tiểu thuyết Nhưng ông thực sự tạo được tiếng vang và tên tuổi của mình khi đến với thể loại truyện ngắn

Nam Cao bắt đầu cầm bút vào giữa những năm 30 của thế kỉ XX Nhưng phải đến năm 1941 khi truyện ngắn “Đôi lứa xứng đôi” được xuất bản, thì lúc đó Nam Cao mới được người đọc chú ý Với truyện ngắn này bút danh Nam Cao đã xuất hiện trên văn đàn và ông chính thức bước vào làng văn và sánh bước bên các nhà văn đã nổi danh như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng…Bắt đầu từ đây, văn học Việt Nam có thêm đóng góp đặc sắc kiểu Nam Cao và chỉ có ở Nam Cao

Nam Cao được coi là đại diện của văn học hiện thực phê phán trong giai đoạn cuối Điều đó càng đúng theo ý nghĩa này: chính ông là người đặt những mảng màu cuối cùng hoàn chỉnh bức tranh của văn học hiện thực cả

về mặt phản ánh xã hội cũng như khả năng biểu hiện nghệ thuật Nam Cao tiếp nhận những gì mà nhà văn đi trước đã làm Ông không phải là nhà cách tân thể loại truyện ngắn mà là bồi đắp thêm cho nó, nhưng sự bồi đắp ấy phong phú đến nỗi cho đến ông, truyện ngắn giàu thêm rất nhiều cách thăm

dò những chiều sâu mới, khẳng định thêm sự hàm súc của nó Trước Nam Cao, đã có một Vũ Trọng Phụng tả chân sắc xảo, một Nguyễn Công Hoan trào phúng đôi khi pha chút kịch hề, một Thạch Lam trầm lặng tinh tế… Ông góp vào đây một phong cách riêng, một chất giọng riêng khó có thể xác định bằng một vài định ngữ gần nghĩa Văn Nam Cao là phức hợp, là tổng hòa những cực đối nghịch: bi và hài, trữ tình và triết lí, cự thể và khái quát

Phong cách Nam Cao được định hình rất sớm Truyện ngắn “Chí Phèo” như một quả lạ của một phong cách đã chín ngay từ đầu Nó mang giống cho những gì nảy nở tiếp cho những truyện ngắn sau Truyện ngắn sau này của Nam Cao dù rất phong phú, đa dạng nhưng vẫn nằm dưới bóng của Chí Phèo,

Trang 21

trong các phạm vi khám phá nghệ thuật mà Chí Phèo đạt đến Nếu Nam Cao

có lần vượt qua được thì đó là trường hợp truyện ngắn Lão Hạc Truyện này

là một đỉnh cao khác, một độ chín khác của phong cách Nam Cao - những gì sâu sắc, cảm động nhất của Nam Cao lại được hội tụ lại tạo ra sự ngưng tụ mới, mở ra thăm thẳm một chiều sâu nhân bản

Cái hiện thực hằn dấu vết trên những trang viết của Nam Cao là một hiện thực cụ thể, đặc thù: xã hội Việt Nam vào những năm 40 đang xáo trộn, quằn quại trong chặng cuối của quá trình bần cùng hóa Những cơn đói triền miên, những xóm làng vật vờ, những số phận tàn lụi, những mối quan hệ tan tác của con người, sự tuyệt vọng đỗ vỡ của mỗi cá nhân, sự tha hóa nhân cách… Trong cái tâm niệm còn nguyên vị đắng của cuộc đời quẫn bách, ta thấy được cả sự nghiệm trải đớn đau của chính nhà văn, và một lần nữa sự chiến thắng của chủ nghĩa hiện thực Tính khách quan vẫn là lẽ sống của chủ nghĩa hiện thực, đến Nam Cao đã thấm đẫm chất trữ tình, vì thế ông không khai thác mối quan hệ giai cấp, những cảnh đối lập giàu nghèo, ông chăm chú

và kinh hoàng nhận ra cái chết của thể xác và tinh thần con người Có một tiếng kêu cứu âm thầm cất lên từ những trang viết của Nam Cao Nó trở thành

âm điệu chủ đạo trong các trang viết của Nam Cao Chủ âm này lan tỏa vào mọi cấp độ, liên kết mọi yếu tố nội dung và hình thức, quy định cả thi pháp, cấu trúc và sựu lựa chọn chi tiết trong truyện ngắn Nam Cao Trong hầu khắp các truyện ngắn của Nam Cao có cả các chi tiết trở đi trở lại như một ám ảnh: miếng ăn, cái đói, cái chết và nước mắt Chúng là những nốt nhấn thê thảm trong chuỗi văn buồn của Nam Cao Nhiều khi không chỉ là những chi tiết, chúng trở thành hình tượng, thành mô tiếp truyện

Thi pháp truyện ngắn Nam Cao xây dựng trên nỗi ám ảnh cái tàn rụi và cái tan rã Không một kết thúc có hậu, không một mảnh đời yên lành, không một cuộc tình êm ả Tất cả đã đến và đang đến điểm tận cùng của cái chết thể

Trang 22

xác lẫn tinh thần Ngay trong hình thức truyện Nam Cao cũng đọng lại bóng dáng của thời đại Tư duy nghệ thuật của Nam Cao đã diễn đạt một cách thật chân xác và nhất quán dạng vận động của thời đại của ông Với Nam Cao, cuộc đời là một tấm áo cũ bị xé rách tả tơi – từ cái làng Vũ Đại đến mỗi gia đình, mỗi số phận Cái làng xã Việt Nam trì trệ cũng chia ra năm bà bảy cánh, lưu tán bốn phương: đi tù, đi lính Tây, chửa hoang bỏ đi…Những người nông dân gốc ra đi rồi lại trở về, như một thứ dị vật cấy ghép vào, làm rữa thêm cái

cơ thể làng xã - chúng phá nốt phần yên ổn theo kiểu Chí Phèo hoặc nhào lộn tất cả theo kiểu Trạch Văn Đoành Các đơn vị cơ bản của xã hội là gia đình

cũng đang tan tác chi lìa: Từ ngày mẹ chết, Điếu văn cho đến Một đám cưới cũng là cảnh xẻ đàn tan nghé, và Làm tổ thì lại mang một vị chua chát về lẽ

đời hợp khó mà dễ tan

Thi pháp truyện Nam Cao tập trung làm nổi lên sự biến dạng của hoàn cảnh, của con người - cả nhân dạng, nhân tính lẫn nhân cách Dường như không có gì ngay ngắn, tròn trịa, đẹp đẽ trong văn Nam Cao Trong văn ông xuất hiện cả một hệ thống về hình tượng về cái méo mó, xấu xí, dị dạng Từ tên người (Đĩ Chuột, Lang Rận ) cho đến mặt người (Chí Phèo, Thị Nở )…

Câu văn Nam Cao cũng chỉ là thứ câu văn bị “xé rách” về ngữ điệu, chúng đứt nối, cắn rứt, chì chiết, nghẹn ngào đầy kịch tính Dường như không phải ông viết mà ông sống cùng với mỗi câu chuyện được viết ra

Cấu trúc truyện ngắn Nam Cao có nhiều nét khác lạ và mới mẻ so với truyện ngắn trước đó và đương thời Truyện ngắn Thạch Lam gần như thơ (Dưới bóng hoàng lan, Cô hàng xén ), Nguyễn Công Hoan gần với kịch (Đào kép mới, Ngựa người và Người ngựa ), còn truyện Nam Cao là một dòng xám buồn của chất văn xuôi đời thường Cấu trúc truyện Nam Cao thường nương theo trục thời gian, dõi theo cuộc đời nhân vật hoặc một chặng dài của

đời Ông cũng là người xây dựng thành công loại truyện không có cốt truyện

Trang 23

Có thể khái quát ba loại hình cấu trúc, ba kiểu dẫn quen thuộc của Nam Cao: Cấu trúc theo số phận nhân vật (Chí Phèo, Dì Hảo); cấu trúc theo tâm lí nhân vật (Trăng sáng, Đời thừa) hoặc cấu trúc quay quanh một triết lý, một tính cách (Ở hiền, Tư cách mỏ )

Truyện của Nam cao tiềm ẩn nhiều lớp ngữ nghĩa Mỗi cảnh, mỗi người mỗi tâm trạng đều có đời sống cụ thể và rất cá thể, nhưng ảnh chiếu cuả chúng lên những tầng triết lý và cảm xúc phía sau khiến chúng mang nhiều tầm kích và luôn có tầm vóc phổ quát của những trạng thái nhân thế Nam Cao luôn là người mở đầu mà cũng chưa ai thành công được nhu ông trong việc dồn chất tiểu thuyết vào truyện ngắn

Có thể nhận ra rằng kinh nghiệm của truyện ngắn Nam Cao đang sống lại, lặng lẽ bồi bổ cho truyện ngắn mấy năm gần đây, rõ nhất trong các truyện

“Sám hối”, “Tự vấn”, “Bước qua lời nguyền” Ở đây ta bắt gặp những tiểu thuyết nhỏ vừa tự sự, vừa hồi cổ, vừa suy ngẫm, cố dồn nén cả một cuộc đời vào khuôn khổ của một truyện ngắn: ta lại nhận ra sự chú tâm đến số phận con người với nhiều day dứt, trăn trở về nỗi bát trắc và nỗi bất hạnh của con người trước những biến đổi thăng trầm Từ đó mà mở ra những ngẫm nghĩ về

lẽ đời, về hôm qua và hôm nay

Trang 24

CHƯƠNG II: KHẢO SÁT VÀ MIÊU TẢ CÁC CÂU CÓ TÁC DỤNG

TU TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO

Trong quá trình khảo sát năm truyện ngắn của Nam Cao, chúng tôi không thấy xuất hiện các kiểu câu sau: Câu đẳng thức, câu phủ định của phủ

định, câu chủ ngữ - gì mà – vị ngữ Do vậy, chúng tôi chỉ khảo sát và miêu tả

các kiểu câu: câu đặc biệt, câu tỉnh lược, câu dưới bậc, câu trùng ngôn, câu danh - là – danh, câu hỏi tu từ, câu hỏi phủ định

2.1 Khảo sát và miêu tả câu đặc biệt

Trong tác phẩm của mình Nam Cao tránh lối miêu tả cầu kì, ước lệ Ông không để cho chữ nghĩa, ngôn ngữ che lấp sự vật được miêu tả Văn ông bật lên từ cuộc sống thực Nó khỏe khoắn, mộc mạc, chính xác, gợi cảm và nhiều khi xót xa, chua xót Cái tài của nhà văn là biết cách đưa ngôn ngữ của người dân lao động vào trang văn một cách tự nhiên Trong đó việc sử dụng kiểu câu đặc biệt là một hình thức đơn giản, phổ biến nhất, giúp nhà văn có thể truyền đạt dụng ý đến người đọc một cách cụ thể nhất mà vẫn giàu sức biểu cảm

Theo thống kê của chúng tôi, trong năm truyện ngắn “Chí Phèo”, “Từ ngày mẹ chết”, “Trẻ con không được ăn thịt chó”, “Lão Hạc”, “Đời thừa” thì Nam Cao đã có 207 lần sử dụng câu đặc biệt, như vậy trung bình cứ mỗi truyện lại có hơn 34 câu đặc biệt

Bảng thống kê sau sẽ cho thấy vai trò của câu đặc biệt trong các truyện ngắn của Nam Cao:

2 Trẻ con không được ăn thịt chó 39

Trang 25

5 Đời thừa 29

2.1.1 Câu đặc biệt danh từ

Đây là loại câu có ý nghĩa tồn tại khái quát, chỉ sự tồn tại hiển hiện của vật, nêu lên vật, hiện tượng đang bày ra trước mắt hay xuất hiện tại thời điểm

đó Có khi nêu hoàn cảnh không thời gian – là nền để nhân vật thể hiện cảm xúc Nam Cao đã nắm bắt lợi thế của loại câu này để thỏa sức đưa ngòi bút theo những cảm xúc “lặng” của nhà văn, của nhân vật

Theo như thống kê của chúng tôi, thì số lượng loại câu này được sử dụng trong các truyện như sau:

Ví dụ:

Khi phân tích về sự thay đổi tâm lý của Chí Phèo, Nam Cao đã viết về

sự cảm nhận của Chí về tuổi tác chính nhân vật: “Bốn mươi tuổi đầu.” [16, tr

55] Dường như có một nỗi buồn về sự cảm nhận thời gian bởi Chí hiểu rằng

đó không phải là cái tuổi mà người ta mới bắt đầu sửa soạn Nam Cao không

Trang 26

viết : “Chí biết mình đã bốn mươi tuổi.” mà chỉ sử dụng một cụm danh từ như vậy để thấy rằng, thông tin mà nhà văn muốn cung cấp không đơn thuần là tuổi tác mà còn là một tâm lý đang thay đổi trong con người Chí Từ một con người biết rạch mặt, ăn vạ, chửi bới, Chí đã có sự suy nghĩ về cuộc đời đang

đã và đang diễn ra của Chí

Trong các tác phẩm khác, Nam Cao cũng sử dụng nhiều câu đặc biệt danh từ để miêu tả sự tồn tại của thời gian

- Bao nhiêu ngày tháng! [16, tr.160]

- Hơn ba năm.[16, tr.248]

- Một trận đúng hai tháng mười tám ngày, ông giáo ạ![16, tr.248]

- Ngày mai.[16, tr 343]

- Hôm nay mồng ba [16, tr 345]

Trong truyện ngắn Nam Cao, câu đặc biệt danh từ có khi là cụm danh

từ, có khi là danh từ được liệt kê liên tiếp nhằm tăng giá trị biểu đạt

Ví dụ:

Truyện ngắn Đời thừa là một truyện về nhà văn nghèo bất đắc chí

Nhân vật chính trong truyện mang hai bi kịch: bi kịch của một nhà văn mang nhiều hoài bão nhưng bị cơm áo gạo tiền ghì sát đất và bi kịch về vi phạm nguyên tắc tình thương Để phân tích tâm lý nhân vật Hộ này, nhà văn đã dùng các câu đặc biệt danh từ để gợi lại hồi ức, để quay về với thực tại của

Hộ Hắn cũng nhớ nhung về một cái gì rất xa xôi “Những mộng đẹp ngày

xưa.”[16, tr 342] Và khi thực tại chỉ là “Tiền nhà, tiền giặt…tiền thuốc…tiền nước mắm….” [16, tr.345] Có lúc hắn lại tưởng tượng ra cảnh lũ con háu ăn

và đói khát ăn những miếng bánh thật to, thì hắn nghiệm rằng “Cảnh thô tục

và cảm động.” [16, tr.347]

Ngoài ra Nam Cao còn sử dụng câu đặc biệt danh từ theo kiểu liệt kê trong nhiều tác phẩm khác:

Trang 28

Có thể nói, so với câu đặc biệt danh thì câu đặc biệt vị từ được nhà văn

sử dụng nhiều hơn Đa phần, loại câu này thường biểu hiện cảm xúc, hành động, lời nói của nhân vật Chủ nhân của hành động ngôn ngữ có thể là chính nhân vật, nhưng cũng có thể là lời của nhà văn hoặc một nhân vật ẩn hình

Khi nói về tâm trạng của Chí Phèo thì Nam Cao viết: “Tức thật!.”, “Ồ

thế thì tức thật!.”, “Tức chết đi được mất!”.[16, tr 32] Dùng câu đặc biệt vị

từ này cũng là lối diễn đạt trực tiếp nửa trực tiếp tô đậm một nét tính cách của nhân vật Người kể định hướng cho người đọc, hướng dẫn người đọc vừa nhập thân vào nhân vật để nhận ra ngôn ngữ của nhân vật đồng thời cũng nhận ra ngôn ngữ tác giả Trong truyện ngắn Nam Cao câu đặc biệt vị từ rất

Trang 29

Ngoài ra, câu đặc biệt vị từ trong truyện ngắn Nam Cao còn là một chuỗi động từ tạo nên nhịp điệu nhanh, dồn dập

- Mửa thốc, mửa tháo, mửa ồng ộc, mửa đến cả ruột.[16, tr 53]

Trang 30

- Ăn hoang, phá hoại.[16, tr 125]

Không những tạo ngữ điệu cho câu văn mà câu đặc biệt vị từ như trên

đã bày ra hiện thực trước mắt, đưa người đọc, người nghe đến với sự kiện như người ta được chứng kiến

2.1.3 Câu đặc biệt từ loại khác

Việc sử dụng câu đặc biệt thán từ, phó từ, chỉ từ… đã góp phần vào việc mang lại thành công cho tác phẩm Nam Cao Theo khảo sát cũng chúng tôi thì số lượng loại câu này được sử dụng trong các truyện như sau:

- A ha! Phải đấy hắn cư thế mà chửi [16, tr 32]

- A ha! Một cái tát rất kêu! [16, tr 34]

- Ô hay! Buông ra [16, tr 52]

- Chà chà! Hôm nay mát trời nhỉ? [16, tr 122]

- Úi chà! Nhiều chấy quá! [16, tr.131]

- À! Thì ra cái điếu hình như cũng có hồn.[16, tr 121]

- Ồ! Có chăng thì thế chứ? [16, tr 130]

- Chao ôi! Hắn viết những gì? [16, tr 341]

- A phải! Hôm nay là mồng ba…[16, tr 345 ]

- Trời ơi! Nhục nhã ơi là nhục nhã! [16, tr 59]

Trang 31

Câu đặc biệt thán từ trong truyện ngắn Nam Cao có tác dụng biểu lộ cảm xúc của nhân vật, biểu thị được ý nghĩa tình thái trong quan hệ chủ thể phát ngôn với người nghe hay với một nội dung phản ánh, hay ý nghĩa tình thái gắn với mục đích phát ngôn Ví dụ: Khi miêu tả trạng thái của nhân vật người cha trong “Trẻ con không được ăn thịt chó” thì cảm xúc của “hắn”:

Chà! Chà! Hôm nay mát lắm nhỉ?, vừa thể hiện thái độ ngạc nhiên, vùa hài

lòng trong nhân vật này Hay để biểu thị thái độ ngạc nhiên thì nhà văn viết:

A! Thì ra lão đang nghĩ đến thằng con lão.[16, tr 248], hay để biểu thị thái

độ đối với một vấn đề thì Chao ôi! Đối với những người xung quanh ta, nếu

không cố hiểu họ, thì ta chỉ thấy học gàn dở [16, tr 255]

* Câu đặc biệt là phó từ:

- Không! Không có gì đáng ngại ngoài đường phố…[16, tr 347]

- À! Không! Không giết cậu Vàng [16, tr 250]

- Không! Ông Giáo ạ! [16, tr 251]

- Không!Lão Hạc ơi![16, tr 253]

- Không! Cuộc đời chưa hẳn là đáng buồn! [16, tr 256]

Loại câu này dùng để phủ định suy nghĩ của nhân vật Có khi là sự đấu tranh tâm lý của nhân vật trước khi đưa ra một quyết định, suy nghĩ ấy diễn ra trong khoảng thời gian ngắn Nó thường là độc thoại nội tâm Ví dụ khi định

bước vào cửa hàng, nhưng Hộ lưỡng lự, sau đó lại khẳng định : “Không!

Không có gì đáng ngại ngoài đường phố…”[16, tr 347]

Về việc sử dụng câu đặc biệt trong truyện ngắn Nam cao không phải là một sáng tạo độc đáo, mới mẻ của riêng nhà văn nhưng cái độc đáo là sự chân xác trong cách chọn loại câu đặc biệt phù hợp với tình huống nhân vật, với trạng thái tâm lý của nhân vật Chính điều này, nhà văn đã phát huy hiệu quả

tác dụng tu từ của loại câu này

2.2 Khảo sát và miêu tả câu tỉnh lược

Trang 32

Câu tỉnh lược có ba loại : Câu tỉnh lược chủ ngữ, câu tỉnh lược vị từ, câu tỉnh lược bổ ngữ Tuy nhiên, trong quá trình khảo sát, chúng tôi không thấy xuất hiện câu tỉnh lược vị từ Do vậy, chúng tôi chỉ khảo sát và miêu tả hai loại câu còn lại

Truyện ngắn Nam Cao đa phần là truyện tâm lý Ngay từ những dòng

mở đầu của mỗi truyện, Nam Cao đã dẫn nhập ta ngay vào dòng đang suy nghĩ của nhân vật Tính chất “đang suy nghĩ”, “đang đối thoại”, “đang độc thoại”, “đang nói chuyện ở trong tâm tưởng ” là một đặc trưng phong cách của Nam Cao Đặc biệt, việc sử dụng câu tỉnh lược trong đối thoại để tạo ra những tình huống giao tiếp cho nhân vật rất phù hợp cho sự phân tích, miêu tả hiện thực lẫn tâm lý nhân vật

Bảng thống kê sau sẽ cho thấy vai trò của câu tỉnh lược trong các truyện ngắn của Nam Cao:

Trang 33

với trí nhớ ngắn hạn của con người nên rất phù hợp trong hội thoại Truyện ngắn Nam Cao thường sử dụng các đoạn hội thoại để miêu tả, phân tích tâm

lý nhân vật cũng như xây dựng hiện thực Nắm bắt được lợi thế này của câu tỉnh lược nói chung và câu tỉnh lược chủ ngữ nói riêng, Nam cao đã vận nó rất thành công vào trong tác phẩm của mình Số lượng câu tỉnh lược chủ ngữ được sử dụng ở mỗi tác phẩm cũng khác nhau

Ví dụ: Xét đoạn hội thoại sau:

Trung cau mặt nhìn Hộ một cách kinh ngạc và khing bỉ:

- Sao lại có người điên đến thế? Về giữa lúc chiều thì đẹp mà phố thì vui thế này!

Hộ trở nên đứng đắn:

- Không đùa nữa.[16, tr.348]

Chúng ta dễ nhận thấy câu “Không đùa nữa.” là một câu được tỉnh lược chủ ngữ Chúng ta có thể thêm các danh từ, đại từ vào để hoàn chỉnh câu Ví dụ: “Hắn không đùa nữa” Hay “An không đùa nữa.” Tuy nhiên, đặt câu trên trong ngữ cảnh hội thoại thì chúng ta có thể thấy rằng chủ ngữ được lược bỏ ở đây là đại từ “Tôi” (tức là nhân vật Hộ) Việc lược bỏ chủ ngữ ở đây vừa mang lại sự ngắn gọn, súc tích cho đoạn hội thoại, vừa mang đậm nét sinh hoạt đời thường Đồng thời khẳng định thái độ dứt khoát của nhân vật Hộ

Trang 34

Câu tỉnh lược chủ ngữ có ý nghĩa rất đa dạng, có khi nó là câu cầu khiến Trong văn chương Nam Cao thì nó thường có tính chất trung hòa, hoặc thân hữu, nhất là khi có thêm những từ tình thái

Ví dụ:

- Cứ vào đây uống nước đã [16, tr.35] (Tỉnh lược chủ ngữ: thân hữu)

- Cứ việc uống, đừng lo ngại gì hết.[16, tr 48] (Tỉnh lược chủ ngữ: thân

hữu)

- Kém ba xu ạ! [16, tr.55] (Tỉnh lược chủ ngữ : kính trọng)

Một dạng đặc biệt của câu tỉnh lược là khi câu tỉnh lược chủ ngữ không thể xác định và cũng không thể khôi phục nguyên chủ ngữ thì nó trở thành câu ẩn chủ ngữ

- Bắt đầu chửi trời.[16, tr 32]

- Đi vào nhà uống nước [16, tr.32]

- Thị nở xích lại Đặt bàn tay lên ngực hắn.[16, tr 36]

Trang 35

Ví dụ:

Hắn cầm lấy bát cháo đưa lên mồm Trời ơi cháo mới thơm làm

sao! Nhưng tại sao lại mãi đến tận bây giờ hắn mới nếm vị mùi cháo?

Hắn tự hỏi rồi tự trả lời: và có ai nấu (0) cho hắn ăn đâu? Mà còn ai nấu (0) cho mà ăn nữa! Đời hắn chau bao giờ được săn sóc bởi một tay “đàn bà.” [16, tr 56]

Những câu dẫn trên diễn ra trong đầu óc của Chí Phèo mang ít nhiều màu sắc hội thoại ngày thường Tác dụng dễ nhận ra của câu tỉnh lược bổ ngữ này là giúp cho sự diễn đạt ngắn gọn phù hợp với tâm lý của nhân vật trong độc thoại nội tâm

Một trường hợp khác là vừa lược chủ ngữ lẫn bổ ngữ

- Bán rồi! [16, tr 252] Thay vì Lão Hạc nói: “Tôi bán con Vàng rồi!” Thì Lão Chỉ nói: Bán rồi! vừa thể hiện thái độ dứt khoát, vừa như không

muốn nhắc đến chuyện này

2.3 Khảo sát và miêu tả câu dưới bậc

Câu dưới bậc tự nó không phải là một câu; nó chỉ là một thứ câu xuất hiện trong quá trình tạo ra những dấu chấm câu mang giá trị nghệ thuật Để sử dụng loại câu này không phải là việc dễ dàng vì nếu như không giải thích được giá trị tu từ của dấu câu tách câu dưới bậc ra khỏi câu chứa nó thì câu dưới bậc đó có nguy cơ trở thành câu sai ngữ pháp Nam Cao là một nhà văn cẩn trọng trong việc sử dụng kiểu câu này Tuy nhiên, không phải loại câu dưới bậc nào cũng được nhà văn sử dụng Trong quá trình khảo sát và miêu

tả, chúng tôi không thấy xuất hiện loại câu dưới bậc tương đương đề ngữ và câu dưới bậc tương đương liên tố Tuy hai loại câu dưới bậc còn lại (câu dưới bậc tương đương bổ ngữ và câu dưới bậc tương đương trạng ngữ) không được

sử dụng nhiều, nhưng ở mỗi trường hợp nó đều phát huy tác dụng lớn cho sự diễn đạt của nhà văn

Ngày đăng: 25/05/2019, 12:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2004), Ngữ pháp Việt Nam – phần câu, NXB Đại Học Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Việt Nam – phần câu
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Đại Học Sư Phạm
Năm: 2004
2. Diệp Quang Ban (2008), Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt (theo định hướng ngữ pháp chức năng, tập 2), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt (theo định hướng ngữ "pháp chức năng, tập 2)
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
3. Diệp Quang Ban (2008), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
4. Diệp Quang Ban (2009), Ngữ pháp Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Việt Nam
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
5. Diệp Quang Ban (2010), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
6. Đinh Trọng Lạc (chủ biên), Nguyễn Thái Hòa (1993), Phong cách học tiếng Việt, NXB. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc (chủ biên), Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB. Giáo dục
Năm: 1993
7. Đinh Trọng Lạc (2005), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
8. Đỗ Thị Kim Liên (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
9. Nguyễn Thị Lương (2005), Câu tiếng Việt, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Lương
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2005
10. Nguyễn Đăng Mạnh (2005), Những bài giảng về tác gia văn học Việt Nam hiện đại, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng về tác gia văn học Việt Nam hiện "đại
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2005
11. Bùi Trọng Ngoãn (2009), Bài giảng về Phong cách học tiếng Việt (tài liệu lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng về Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Bùi Trọng Ngoãn
Năm: 2009
12. Cao Xuân Hạo (chủ biên), Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tơm (2000), Ngữ pháp chức năng tiếng Việt – Câu trong tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng tiếng Việt – Câu trong tiếng Việt
Tác giả: Cao Xuân Hạo (chủ biên), Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tơm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
13. Trần Đăng Suyền (2001), Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao
Tác giả: Trần Đăng Suyền
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2001
14. Nguyễn Kim Thản (2008), Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Kim Thản
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2008
15. Cù Đình Tú (chủ biên), Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hoài, Võ Bình (1982), Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Cù Đình Tú (chủ biên), Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hoài, Võ Bình
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1982
16. Tuyển tập Nam Cao (2005), NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Nam Cao
Tác giả: Tuyển tập Nam Cao
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w