Bài thực hành nhóm: 25% Thi giữa học kỳ: 30% gồm 2 phần trên 01 Giới thiệu và làm quen Trao đổi về cách học và thi cuối khoá Bài 1: Khái niệm và lịch sử Giáo dục cộng đồng GDCĐBài 2:
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI
NHÂN VĂN TP.HỒ CHÍ MINH
Giảng viên: Th.s Nguyễn Thị Ngọc Bích
1
Trang 2ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT MÔN HỌC
1 Tên mơn học: Giáo dục cộng đồng (GDCĐ)
1 Số tín chỉ: 2 tín chỉ
2 Trình độ (dành cho sinh viên năm thứ ba):
- Sinh viên lớp Tâm lý
- Sinh viên lớp Quản lý
3 Phân bổ thời gian:
Lý thuyết: 25 tiết
Thực tập, thực hành: làm theo 10 nhĩm: 10 tiết (5 tiết bổ sung ngồi khĩa)
4 Điều kiện tiên quyết: Sinh viên học theo nhĩm, phát huy tính chủ động của người học.
“Học là quá trình tự biến đổi và làm phong phú mình bằng cách thu nhập và xử lý thơng tin lấy từ mơi trường xung quanh” do đĩ sinh viên cần tham gia tích cực, thực
hành, cĩ trao đổi, chuẩn bị bài thực hành
5 Mục tiêu của học phần
Qua học phần này sinh viên
- Hiểu rõ về lịch sử và khái niệm giáo dục cộng đồng
- Nắm đựơc các nguyên tắc làm việc trong qúa trình giáo dục cộng đồng
- Hiểu và ứng dụng được chu học tập của người lớn
- Biết các kỹ năng và phương pháp để sử dụng trong giáo dục cộng đồng vàthực hành các kỹ năng, phương pháp này
6 Mơ tả vắn tắt nội dung của học phần:
- Các khái niệm, lý thuyết cơ bản về Giáo dục cộng đồng
- Các kỹ năng và phương pháp cần thiết sử dụng trong giáo dục cộng đồng
- Biết cách thiết kế các buổi sinh hoạt, truyền thơng, tập huấn tại cộng đồng tuỳtheo đối tượng và chủ đề
7 Nhiệm vụ của sinh viên:
Dự lớp: SV cần cĩ trách nhiệm dự lớp đầy đủ các tiết học và tích cực tham gia hoạt
động của nhĩm Để khĩa học cĩ hiệu quả cao, khĩa học sẽ áp dụng phương phápgiảng dạy tích cực, cĩ nghĩa là Giảng viên (GV) và SV đều tham gia vào mọi hoạtđộng của buổi học như thảo luận nhĩm, giải quyết các vấn đề, cùng chơi các trị chơi,sắm vai, cùng trao đổi ý kiến Tuy nhiên, SV là trung tâm của quá trình học tập, GV làngười điều hành, định hướng, dẫn dắt quá trình học tập của SV thơng qua việc huyđộng kiến thức, chia sẻ kinh nghiệm và kỹ năng vốn cĩ của họ
Trang 3 Bài tập: Thực hành các kỹ năng và phương pháp, đọc thêm tài liệu, báo về cuộc sốngchunh quanh và các vấn đề đang diễn ra trong cộng đồng.
Dụng cụ học tập: Các dụng cụ sử dụng cho phương pháp cùng tham gia, máy chiếu, vitính, một số phim video liên quan đến bài, văn phòng phẩm…
2 Theresa V Tungpalan - Giáo dục cộng đồng – Cuốn 2: Hướng dẫn một quá trình huấn
luyện; Xuất bản : Trường đại học CTXH-PTCĐ 1991
3 Theresa V Tungpalan - Giáo dục cộng đồng – Cuốn 3: Những mẫu huấn luyện cho cấp cơsở; Xuất bản : Trường đại học CTXH-PTCĐ 1991
4 Theresa V Tungpalan - Giáo dục cộng đồng – Cuốn 4: Đánh giá một chương trình huấn luyện; Xuất bản : Trường đại học CTXH-PTCĐ, 1991
5 Nguyễn thị Oanh Giáo dục chủ động; Phòng Nghiên cứu Công tác xã hội xuất bản, 1994
6 Nguyễn thị Oanh Giáo dục phát triển; Đại học mở bán công TPHCM xuất bản, 1999
7 Nguyễn thị Oanh Phát triển cộng đồng; Đại học mở bán công TPHCM xuất bản, 2000
8.Huấn luyện có sự tham gia; Văn phòng Nghiên cứu có sự tham gia tại Châu Á, New Delhi, 1989
9 Sự tham gia của cộng đồng trong giải quyết vấn đề và quyết định; Tài liệu huấn luyện;
Trung tâm Liên hiệp quốc về ổn định nơi cư ngụ, Nairobi, 1989
10 Trung tâm nghiên cứu tư vấn CTXH-PTCĐ; Tập huấn cho tập huấn viên, 2008, 2010
11 Trung tâm nghiên cứu tư vấn CTXH-PTCĐ, tài liệu Phát triển cộng đồng , 2008, 2010
12 SDRC, Tài liệu tập huấn “Tập huấn cho tập huấn viên”, tháng 6/2010, TP.HCM
13 Lois B Hat, Ed.D “Những phương pháp huấn luyện- Cẩm nang dành cho giảng viên”, NXB Crisp- USA, 1991
14 Tomas Quintin D Andres” Tập huấn cho tập huấn viên”, NXB Salesiana- Philippines,
1990
15 SDRC, Tài liệu tập huấn “Giáo dục Cộng đồng”, tháng 10/2010, TP.HCM
Khác: cập nhật thông tin từ website, báo chí hiện hành
Website: www.google.com.vn/ Phương pháp giáo dục chủ động
9 Tiêu chuẩn đánh giá sinh viên:
3
Trang 4 Bài thực hành nhóm: 25%
Thi giữa học kỳ: 30% (gồm 2 phần trên)
01 Giới thiệu và làm quen
Trao đổi về cách học và thi cuối khoá
Bài 1: Khái niệm và lịch sử Giáo dục cộng đồng
(GDCĐ)Bài 2: Các cách cận tiếp trong GDCĐ
Bài 3: Các vấn đề XH trong cộng đồng
½
½2
1
1
Một số hình thức động não
Sử dụng thẻ và phân tíchHỏi đáp
Thảo luận nhóm
SV áp dụng bài tập nhậnthức bản thân (Paulo) Thảo luận nhóm
02 Bài 4: Phương pháp tiếp cận trong Giáo chủ động:
người học là trung tâmBài 5: Việc học của cộng đồng
Các nguyên tắc học của người lớn
Bài 6: Khái niệm và nguyên tắc tập huấn có sự tham
gia
2
3
Động nãoTrải nghiệmThảo luận nhómTrình bày powpoint Làm bài tập nhóm
03 Bài 7: Chu trình học qua trải nghiệm
Bài 8: Thiết kế một bài trong giáo dục cộng đồng
Bài 9: Thiết lập một chương trình GDCĐ
Trang 5Phần 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC ỨNG DỤNG TRONG GIÁO DỤC CỘNG ĐỒNG
4 Bài 10: Truyền thông trong cộng đồng:
Bài 11: Phương pháp Động não
Bài 12: Phương pháp Thảo luận nhóm
Bài 13: Phương pháp Sắm vai
Bài 14: Phương pháp vẽ đơn giản trong tập huấn
5
Sắm vaiThảo luận nhómHỏi đáp
Góp ý cho SV về bài tậpnhóm
Phần 3: CÁC KỸ NĂNG ỨNG DỤNG TRONG GIÁO DỤC CỘNG ĐỒNG
05 Bài 15: Kỹ năng quan sát
Bài 16: Kỹ năng lắng nghe và phản hồi
Bài 17: Kỹ năng đặt câu hỏi,
Bài 18: Kỹ năng trình bày – sử dụng dụng cụ trực
quan
Bài 19:Kỹ năng tạo hứng và khuấy động
5 Động nãoThảo luận nhómTrình bày powpoint
06
-07 SV thực hành – Thi giữa kỳ
Mỗi nhóm trình bày 1 chủ đề Giáo dục cộng đồng 5 Các nhóm trình bày và phản biện
Yêu cầu về thi giữa kỳ:
Sinh viên làm việc theo nhóm, các thành viên đều có nhiệm
Ứng dụng các phương pháp và kỹ năng trong giáo dục chủ động
Mỗi nhóm có phần báo cáo tại lớp và phản biện giữa các nhóm
Yêu cầu thi cuối kỳ:
Sinh viên viết tiểu luận, có thể làm cá nhân hoặc nhóm 2
Chọn bất kỳ nội dung có liên quan vấn đề sức khỏe, tâm lý xã hội, gia đình… nhằm có ý nghĩa giáo dục cộng đồng (Ví dụ: Phòng tránh dịch sốt suất huyết cho người dân tại xã A )
SV lập kế hoạch và thiết kế nội dung một bài giảng – giáo dục trong cộng đồng cụ thể
TP.HCM, ngày 20 tháng 04 năm 2014
Giảng viên
Th.s Nguyễn Thị Ngọc Bích
5
Trang 6Phần 1: NỀN TẢNG LÝ THUYẾT TRONG GIÁO DỤC CỘNG ĐỒNG
Bài 1: KHÁI NIỆM GIÁO DỤC CỘNG ĐỒNG
I Khái niệm Giáo dục và Cộng đồng
1 Khái niệm Cộng đồng
Có nhiều cách định nghĩa về cộng đồng, liên quan đến những khái niệm như “khônggian”, “con người”, “tương tác”, và “bản sắc”
Khái quát, có thể chia làm 2 loại cộng đồng
Cộng đồng (CĐ) địa lý, không gian, hay lãnh thổ thay đổi tùy theo sự đáp ứng nhu
cầu của người dân, sự tương tác xã hội, và bản sắc tập thể được thừa nhận
CĐ địa phương như “xóm giềng”, “thành phố”, “thị trấn”, v.v Trước kia, việc dichuyển và phương tiện kỹ thuật chưa tân tiến, hiện đại thì CĐ giới hạn bởi nơi chốn.Ngày nay, mặc dù CĐ là trong một vùng địa lý nào đó thì ảnh hưởng của các lựclượng trong CĐ cũng không giới hạn trong một địa phương
Cộng đồng chức năng, bao gồm những cộng đồng có chung mối quan tâm, bản sắc/ đặc điểm, hoặc CĐ của những mạng lưới cá nhân, thành viên.
CĐ này bao gồm những người dựa trên “dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, lối sống, lýtưởng, khuynh hướng tình dục, tầng lớp xã hội, và nghề nghiệp hoặc chuyên môn”
CĐ chức năng được hình thành khi “người dân chia sẻ mối quan tâm về những vấn đềchung, từ việc biện hộ cho nhu cầu của trẻ em trong điều kiện thiếu thốn cho đến việcbảo vệ môi trường”
2 Khái niệm Giáo dục
Từ lâu ai cũng biết giáo dục là điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển của cá nhân
và xã hội Vì thế nó được xem là quyền cơ bản của mọi người, nam như nữ, thuộc mọilứa tuổi và ở bất cứ nơi nào Giáo dục đóng góp vào việc cải thiện sự an toàn, sứckhỏe, sự phồn vinh và đem lại sự cân bằng sinh thái cho thế giới
Giáo dục là một nhu cầu cơ bản và một phương tiện thỏa mãn các nhu cầu cơ bảnkhác Con người vần có một nền tảng rộng về kiến thức, thái độ, giá trị và kỹ năng đểdựa vào đó mà chuẩn bị cho mai sau, mặc dù họ có thể không theo một ngành họcchánh quy Giáo dục như thế trang bị cho họ một tiềm năng để học, để đáp ứng vớinhững cơ hội mới, để thích nghi với những thay đổi về văn hóa, xã hội và để tham giavào các hoạt động văn hóa xã hội, chính trị
Giáo dục cho mọi người có nghĩa là bằng mọi cách xóa bỏ sự bất công trong cơ hội vàđiều kiện học tập giữa các vùng khác nhau trong nước, giữa nông thôn và thành thị,nam và nữ…
Chương trình giáo dục chính quy (formal education) ở trường lớp từ mẫu giáo đến
hậu đại học là một thiết chế giáo dục chính thức của mọi quốc gia nhằm giúp ngườihọc hòa nhập vào guồng máy xã hội thông qua việc thi cử hợp pháp
Trang 7Giáo dục phi chính quy (non-formal education) ra đời nhằm bổ sung khiếm khuyết
trên cách đây vài thập kỷ để đáp ứng yêu cầu phát triển Học ở đây không phải để lấybằng cấp mà để sống tốt hơn và làm việc có hiệu quả hơn Lúc đầu nó đáp ứng nhucầu của trẻ em bỏ học, người lớn mù chữ hay thiếu những kiến thức cơ bản về vệ sinh,trồng trọt v.v Ngày nay nó đáp ứng mọi nhu cầu học tập của con người từ kỹ thuậtđến văn hóa, từ xây dựng gia đình, giáo dục con cái tới lãnh đạo vào tổ chức ngoài xãhội Giáo dục phi chính quy trở thành một bộ phận hữu cơ của giáo dục nói chung vàgóp phần giải quyết các vấn đề lớn của phát triển một cách có hiệu quả đặc biệt tronglãnh vực dân số, môi trường, phát triển cộng đồng
II Lịch sử của giáo dục cộng đồng
UNESCO vào đầu thập kỷ 50 lập ra CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC CĂN BẢN(Fundametal Education) với phương pháp cải tiến (phương tiện nghe nhìn, nội dung xóa
mù gắn với mối quan tâm của người lớn tuổi nghèo ở nông thôn và thành thị ) và nớirộng nội dung vào các lãnh vực khác của cuộc sống như vệ sinh, sức khỏe, công dân giáodục Bắt đầu ở Châu Mỹ La Tinh chương trình đã lan rộng khắp thế giới kể cả Việt Nam
Từ chương trình này hình thành khái niệm và chương trình trường cộng đồng, chủ yếu ởnông thôn với mục đích đưa giáo dục tiểu học gần với cuộc sống hơn Trẻ được dạy thêmtrồng trọt, chăn nuôi để khi hoàn tất việc học có thể đóng góp một cách hữu ích cho sảnxuất gia đình, cải thiện đời sống nông thôn Nhà trường được sự ủng hộ của cộng đồng vàđóng góp vào sự phát triển của cộng đồng
Lý thuyết của Paulo Freire
Vào thập kỷ 70, Paolo Freire, một chuyên gia giáo dục lớn gốc Châu Mỹ La tinh đã đưa
ra khái niệm giáo dục giác ngộ (giáo dục thức tỉnh/Consciousness Education) Ông chorằng một trở ngại lớn cho sự phát triển chính là người nghèo an phận với hoàn cảnh củamình và từ đời này qua đời kia họ sống trong “nền văn hóa thầm lặng”, cho rằng đó là “ýtrời” và vì thế họ đã bị giai cấp thống trị áp bức , sống trong cảnh nghèo đói Muốn thoátkhỏi cảnh này, người nghèo cần “thức tỉnh” hay “giác ngộ” Điều này có nghĩa họ hiểu rarằng họ nghèo đói là do bất công xã hội, do bị áp bức
Theo Paolo giáo dục thức tỉnh là giúp đối tượng nhận thức rõ hoàn cảnh của mình, phântích các nguyên nhân và tìm ra giải pháp để tự giải phóng mình khỏi hoàn cảnh đó Tưtưởng của Paolo lúc ban đầu được xem là “cách mạng” và còn bị cấm đoán ở vài nơi,nhưng dần dần đã được áp dụng rộng rãi và mang lại nhiều kết quả đáng kể trong nhiềuchương trình phát triển, cải thiện cuộc sống của người dân
Paulo đã kêu gọi một phong cách mới và hoàn toàn tự do trong giáo dục Cách giáo dục
đó đối xử với người học với tư cách chủ thể tích cực, chứ không phải là thể thụ động.Người học phải được tham gia, được chủ động lựa chọn nội dung, phương pháp và hìnhthức học, được bình đẳng với giáo viên Theo ông để giúp người nghèo, người bị áp bứcxóa bỏ mặc cảm, tự ti, an phận giáo dục phải giúp họ thức tỉnh được cuộc sống hiện tại,không chấp nhận nó và mong muốn thay đổi
Tư tưởng của Paulo được tóm lượt trong các khía cạnh sau:
Giáo dục đại chúng cốt yếu là một cuộc đối thoại giữa” người dậy” và “người đi học” (a dialogue between the educator and the learner), trong đó phải có sự tương
kính lẫn nhau giữa hai phía (mutual respect) Paulo Freire đặc biệt phê phán cái lốidậy học “nhồi nhét”, mà ông gọi là “banking concept”, tức là chỉ có người dậy chủ
7
Trang 8động chuyển mớ kiến thức vào đầu ĩc của học viên, y hệt như việc ký gửi các số tiềnvào nơi chương mục tại ngân hàng (making deposits) Như vậy, thì người học viênhồn tồn đĩng vai trị “thụ động” của một đối tượng, chứ khơng hề được khuyếnkhích để chủ động phát huy ĩc sáng tạo và sự suy nghĩ cĩ tính cách phê phán (criticalthinking), để mà cĩ thể tự mình khám phá ra hồn cảnh bị áp bức của mình và rồi đưađến một hành động thích đáng.
Thay vào đĩ, tác giả đề ra cái khái niệm “Giáo dục đặt vấn đề” (problem-posingconcept of Education), trong đĩ cả hai phía người dậy và người học đều cùng hợp tácvới nhau trong một quá trình hỗ tương (a mutual process), nhằm cùng nhau khám pháthế giới, và chung với nhau cố gắng vươn tới một mức độ nhân bản viên mãn hơn(their attempt to be more fully human)
Cuộc đối thoại này khơng phải chỉ nhằm đào sâu sự hiểu biết, mà cịn là một phần làmthay đổi nơi thế giới Tự bản thân, sự đối thoại là một loại hoạt động cĩ tính hợp tácbao gồm sự tơn kính (a co-operative activity involving respect) Quá trình này quantrọng, vì nĩ giúp tăng thêm sức mạnh cho cộng đồng và đồng thời lại xây dựng nênnguồn vốn xã hội (enhancing community and building social capital), mà lại đưa dẫnchúng ta đến hành động cho cơng lý và phát triển nở rộ về phương diện nhân bản(human flourishing) nữa
Cơ sở cụ thể cho hệ thống giáo dục căn cứ vào sự đối thoại này chính là nơi các“câulạc bộ văn hĩa” (culture circle), trong đĩ các học viên và người phối hợp cùng nhaubàn thảo về những” chủ đề khởi sinh” (generative themes), mà cĩ ý nghĩa trong bốicảnh cuộc sống thực tiễn của người học viên Các chủ đề này liên hệ tới thiên nhiên,văn hĩa, cơng việc làm và các tương quan xã hội, thì đều được khám phá ra qua sựtìm kiếm chung nhau giữa nhà giáo dục với học viên Rồi các chủ đề đĩ được sử dụnglàm căn bản cho cuộc đối thoại trong phạm vi sinh họat nội bộ của câu lạc bộ Từ đĩ,
mà dần dần diễn ra quá trình cấu tạo được ý thức phê phán (critical consciousness)nơi các học viên tham gia, với tư cách là chủ thể của xã hội, mà chính họ đang cùngnhau ra sức xây dựng với quyết tâm của cả tập thể của mình
Quá trình phát triển của GDCĐ ở Việt Nam
(Nguồn: http://unescovietnam.vn/vnf/)
UNESCO quan niệm rằng, Trung tâm học tập cộng đồng là cơ sở giáo dục khơng chính quy của xã, phường, do cộng đồng thành lập và quản lý nhằm nâng cao chất lượng cuộc
sống của người dân và phát triển cộng đồng thơng qua việc tạo cơ hội học tập suốt đời
của người dân trong cộng đồng Trung tâm học tập cộng đồng là thiết chế giáo dục khơng chính quy của cộng đồng; do cộng đồng và vì cộng đồng.
Trung tâm học tập cộng đồng khác với nhà trường chính quy ở mấy điểm sau đây:
- Do cộng đồng thành lập chứ khơng do Chính phủ
- Ban quản lý, đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên là những người tự nguyện, khơng lương (cĩ thể hưởng phụ cấp)
- Phục vụ cộng đồng
- Khơng chặt chẽ về thời gian (phục vụ suốt đời)
- Phục vụ cho mọi người, mọi lứa tuổi
- Khơng định hướng bằng cấp
- Chương trình và phương thức hoạt động linh hoạt, đáp ứng kịp thời nhu cầu của
cộng đồng
Trang 9- Đa mục tiêu học tập.
- Đa dạng về tổ chức, tuỳ thuộc về điều kiện kinh tế - xã hội của cộng đồng
Ở Việt Nam, Trung tâm học tập cộng đồng được khẳng định tại Điều 46 (thuộc mục 5 -
Giáo dục thường xuyên) Luật Giáo dục 2005 “Trung tâm học tập cộng đồng là cơ sở
giáo dục thường xuyên, được tổ chức tại xã, phường, thị trấn”
Mục đích của Trung tâm học tập cộng đồng
Cũng giống nhiều nước trong khu vực, việc tổ chức các Trung tâm học tập cộng đồng ở Việt Nam có 3 mục đích chính:
a) Tạo ra những cơ hội học tập cho mọi người dân trong cộng đồng để nâng cao chất
lượng cuộc sống của người dân và phát triển nguồn nhân lực cộng đồng
b) Tạo điều kiện để đáp ứng nhu cầu học tập theo phương châm “cần gì học nấy”, giáo dục suốt đời cho mọi người
c) Xây dựng hệ thống giáo dục thường xuyên ở cơ sở nhằm ai cũng được học hành, ai
cũng có thể tham gia vào công việc giáo dục và học tập tại cộng đồng
Sự phát triển hệ thống trung tâm học tập cộng đồng ở nước ta
Tính từ khi xây dựng những Trung tâm học tập cộng đồng đầu tiên cho tới nay, thời gian vừa tròn 10 năm Trong khoảng thời gian đó, số lượng trung tâm học tập cộng đồng đã tăng lên rất nhanh Năm học 1998 - 1999, cả nước chỉ có 10 Trung tâm được xây dựng thíđiểm với sự hỗ trợ kinh phí của Nhật Bản Tính đến năm học 2008 - 2009, số trung tâm tăng lên trên 9.500, trung bình mỗi năm có thêm 900 Trung tâm mới
Tác dụng của Trung tâm học tập cộng đồng
Sau 10 năm phát triển, hệ thống Trung tâm học tập cộng đồng đã tăng lên nhanh chóng về
mặt số lượng và ngày càng phong phú về nội dung và hình thức phục vụ giáo dục người lớn tại cộng động Tổng kết về hoạt động, đến nay có thể khẳng định những tác dụng tích
cực của hệ thống giáo dục này như sau:
a) Việc cập nhật kiến thức và kỹ năng lao động kỹ thuật cho người dân, giúp họ tiếp cậnvới những công nghệ sản xuất mới, mang lại cho họ những thông tin cần thiết để thay đổi
cách nghĩ, cách làm theo truyền thống đã thực sự có tác dụng xoá đói giảm nghèo trong
cộng đồng dân cư, nhất là những cộng đồng trong lĩnh vực “tam nông” (nông nghiệp,nông thôn, nông dân) Những chuyên đề, những lớp tập huấn, những cuộc mạn đàm về kỹthuật liên hoàn VAC (vườn, ao, chuồng) về nuôi ba ba, cá sấu, ngan Pháp, gà siêu thịt ,
về trồng hoa, trồng tiêu, làm nấm ; về quản lý trang trại, chống sâu bệnh cho cây trồng,
đề phòng dịch cúm gia cầm đã giúp cho không ít nông dân đói nghèo trở thành triệuphú, thậm chí là tỷ phú
b) Những lớp học xoá mù chữ và bổ túc sau khi xoá mù chữ, những lớp học bổ túc tiểuhọc và trung học cơ sở, những lớp chuyên đề về pháp luật, vệ sinh thực phẩm, bảo vệ sức
khoẻ, những khoá dạy nghề ngắn hạn đã giúp cho người dân không rơi vào tình trạng mù chữ lại (tái mù) và góp phần không nhỏ vào phổ cấp giáo dục cho người lớn Với trẻ em
đã thực hiện nghĩa vụ phổ cập giáo dục tiểu học hay trung học cơ sở mà không có điều
9
Trang 10kiện theo học các trường chính quy thì nhờ học tập ở trung tâm học tập cộng đồng mà
củng cố được kết quả phổ cập giáo dục của mình.
c) Nhiều Trung tâm học tập cộng đồng đã giúp cho người lao động được học nghề.là cơ
sở giáo dục có tác dụng giúp cho nhiều người dân thoát cảnh “mù nghề”, “mù máy tính”, góp phần tích cực vào việc tăng tỉ lệ người được đào tạo nghề trong xã hội Hàng
chục vạn người chưa qua quá trình đào tạo nghề đã được học nghề ngắn hạn mà tăng thunhập hàng năm Nhiều người đã có nghề, nay được học thêm nghề mới đã có những thayđổi trong cách thức làm ăn, thích ứng được với cơ chế thị trường Trung tâm học tập cộngđồng thực sự
d) Việc nâng cao nhận thức cho người dân về hiến pháp và pháp luật, về bảo vệ môitrường sống, về chăm sóc khoẻ cộng đồng, về ý thức học tập thường xuyên, về những
chính sách của Nhà nước đã từng bước xây dựng lối sống có văn hoá trong cộng đồng, làm tăng thêm sự hiểu biết lẫn nhau thông qua các buổi học tập, mạn đàm, trao đổi ý kiến,
tạo được sự đồng thuận của dân trước những chủ trương của Đảng Chính những kết quảnày đã làm cho những cộng đồng dân cư có sự ổn định chính trị, tạo nên không khí tâm lý
và không khí đạo đức tốt đẹp, hình thành nên những cộng đồng văn hoá, cộng đồngkhuyến học v.v
e) Với tư cách là “nhà trường nhân dân”, rất nhiều trung tâm học tập cộng đồng đã tíchcực thúc đẩy các cuộc vận động trong nhân dân “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sốngvăn hoá trên địa bàn dân cư”, “Toàn dân đoàn kết làm kinh tế giỏi”, “ Toàn dân tham giaxây dựng xã hội học tập”./
Trong chương trình phát triển, nội dung giáo dục thường là:
- Sinh sản, dân số kế hoạch hoá
- Môi trường
- Tín dụng tiết kiệm
- Phát triển kinh tế, tạo thu nhập
- Giáo dục gia đình, nếp sống
- Kỹ năng lãnh đạo, tổ chức, quản lý
III.Khái niệm Giáo dục cộng đồng (GDCĐ)
Giáo dục cộng đồng nên dựa trên hướng đổi mới và đưa đến sự phát triển Vì thế giáo dụccộng đồng phải thiên về số đông những người nghèo, người bị áp bức và đáp lại nhữngnhu cầu cũng như lợi ích của họ Giáo dục cộng đồng (GDCĐ) phải là giáo dục giảiphóng, một hình thức của giáo dục thay đổi, một nền giáo dục cho công bằng, giáo dụccho đất nước và giáo dục dân chủ
1 Khái niệm: Có nhiều khái niệm về GDCĐ
Giáo dục cộng đồng là một quá trình trong đó việc học hỏi sẽ mang lại sự
phát triển, thay đổi tốt hơn cho cả cá nhân và cộng đồng Giáo dục cộng
đồng có các đặc tính như bao gồm mọi người ở mọi lứa tuổi; việc học hỏi, sử dụng các tài nguyên và nghiên cứu mang đến những thay đổi cho cộng đồng; nhận thức rằng người dân có thể học cùng nhau, với nhau và học từ nhau
nhằm xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn
(Hiệp hội Canada cho GDCĐ)
Trang 11Chúng ta có thể hiểu GDCĐ như là “giáo dục cho cộng đồng trong phạm vi cộng
đồng” Nói cách khác, khi nói về cộng đồng không có nghĩa chỉ là nơi chốn hay hoàn cảnh trong đó việc giáo dục được tiến hành Giáo dục cộng đồng còn là mối quan tâm chung, trọng tâm của cộng đồng Đó là một quá trình mà cộng đồng trở thành một
phần của mạng lưới xã hội hiện tại nhằm khuyến khích đối thoại và học hỏi
GDCĐ là một quá trình được thiết kế nhằm làm giàu thêm cuộc sống mỗi cá nhân và các nhóm thông qua sự tham gia của mọi người sống trên cùng một vùng địa lý, hoặc chia sẻ cùng một mối quan tâm, để tự nguyện phát triển một phạm vi hay lĩnh vực học tập/ học hỏi và các cơ hội suy nghĩ và hành động
Những học hỏi, suy nghĩ và hành động này xuất phát từ nhu cầu chính trị,
kinh tế, xã hội và từ bản thân các thành viên của cộng đồng
(CeVe,Scotland 1990: 2)
Giáo dục cộng đồng được xem là một phần hợp nhất của những nỗ lực
vận động, tổ chức và gây nhận thức
(Theresa V Tungpalan, 1991)
GDCĐ giúp cho một cộng đồng đựơc trang bị đầy đủ những kiến thức,
hiểu biết để hành động chung, cùng giải quyết các vấn đề của mình Vì
thế giáo dục cộng đồng là xây dựng năng lực và tạo sức mạnh cho người
dân trong cộng đồng GDCĐ là biến đổi cộng đồng, làm cho cộng đồng
phát triển và từ đó biến đổi xã hội
Với sự quan tâm hiện nay, ý nghĩa của việc giáo dục cộng đồng càng trở nên phổ biến trong việc tăng cường sức mạnh cho các tổ chức quần chúng tại địa phương, quận,
huyện, tỉnh và quốc gia
Nhiều khái niệm liên quan đến giáo dục cộng đồng xuất phát từ những nguyên tắc về giáo dục người lớn, về sự thức tỉnh và giải phóng của Paulo’s Freire Vai trò của giáo dục cộng đồng trong việc xây dựng và duy trì những tổ chức dân chúng được đề cao
cả ở vùng quê lẫn thành thị
Giáo dục cộng đồng được xem như là giáo dục giải phóng
2 Mô hình Giáo dục cộng đồng (GDCĐ)
Giáo dục cộng đồng giúp trang bị kiến thức, sự hiểu biết và kỹ năng làm việc, lao
động cho con người, xem đó là điều kiện ban đầu cần thiết để thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo
Giáo dục cộng đồng có tầm quan trọng đặc biệt, nó giúp người dân bức phá cái vòng
luẩn quẩn của đói nghèo: "đói nghèo là bởi lạc hậu, mù chữ dẫn đến đói nghèo"
11
Trang 12Giáo dục cộng đồng nhằm mục đích thúc đẩy tiến trình trình thức tỉnh nhận thức củangười dân về tình trạng của mình và về những thế lực đã tạo ra và duy trì tình trạng
đó Nó cũng nhắm vào việc cung cấp cho người dân các cơ hội để động viên họ tạo ramột nỗ lực chung nhằm thay đổi tình trạng đó Đồng thời nó cũng hướng đến làm việcvới các cá nhân có tiềm năng bẩm sinh trong cộng đồng Giáo dục cộng đồng khôngchỉ là trông đợi vào hệ thống giáo dục chính qui nhưng đúng hơn là dựa nhiều vào hệthống giáo dục không chính qui như là một công cụ hiệu quả và một đường lối tốt tạonên sự thay đổi và gia tăng quyền lực
Trong phạm vi giáo dục cộng đồng, có 3 lãnh vực trọng tâm nhỏ, bao gồm hình thànhcác giá trị cộng đồng, nâng cao nhận thức và phát triển kỹ năng để cùng hành động
Hình thành các giá trị: Trong bối cảnh của các cộng đồng nghèo và bị gạt ngoài lề
xã hội, người dân cần được nuôi dưỡng các giá trị về sự tự do và gia tăng quyền lực.Phát triển các giá trị để được cho là được “có tư cách đạo đức tốt” không thôi chưa
đủ “Còn có những giá trị xã hội khác cũng quan trọng không kém, đó là chí công vô
tư, công bằng, hợp tác và quan tâm đến lợi ích chung, tinh thần dân tộc, nhạy cảmgiới, ý thức về môi trường và những thứ khác nữa (Luna, 1998,p.16)” Việc hìnhthành các giá trị cộng đồng là một sức mạnh tiềm tàng để triệt tiêu chủ nghĩa cá nhân
và thái độ tự cho mình là trung tâm Ngoài bản năng tự vệ ra, cần hình thành các giátrị chung cho cộng đồng, tạo ra sự quan tâm thật sự đến an sinh hạnh phúc của ngườikhác
Nâng cao nhận thức: Quá trình nâng cao nhận thức giúp cho người dân chuyển từ
việc thụ động chấp nhận tình trạng của mình và chấp nhận các thế lực đã tạo ra và duytrì tình trạng đó sang việc ý thức nhu cầu hiểu biết sâu sắc về hoàn cảnh sống củamình Đó là quá trình hiểu biết, không chỉ hài lòng bề mặt, nhưng đâm rễ bên trong đểcuối cùng có được sự hiểu biết cơ bản về mối quan hệ nhân – quả của các thực trạngkhác nhau
Trong một số cộng đồng, quá trình này giống như gợi hỏi (cá nhân và tập thể) cácnguyên nhân dẫn đến tình trạng của họ và tại sao tình trạng này lại tồn tại mãi Vềphía người dân, quá trình này là ý thức nỗ lực, cố gắng khám phá những ảnh hưởngcủa tình trạng này đến đời sống các cá nhân và trong đời sống cộng đồng Như Freire
đã nói, “Hầu như mọi khám phá không chỉ đơn thuần là hiểu biết của trí tuệ nhưngcòn liên quan đến hành động cụ thể nữa” (Freire, 1970, p.52)” Những người nào
Trang 13thường tham gia vào các buổi bàn thảo trong cộng đồng thì có thể thấy được mối quan
hệ nhân quả trong hoàn cảnh của họ Chúng ta hy vọng rằng một khi đến thời đếnbuổi, những bàn thảo trong nhóm sẽ được chuyển hóa thành hành động cụ thể Đó làquá trình huấn luyện lương tâm để người dân không chấp nhận vấn đề mà hành động
để thay đổi
Mọi người cần phải được trang bị những kỹ năng cần thiết cho công tác cộng đồng, ví
dụ như kỹ năng tổ chức cộng đồng, giáo dục và vận động, quan hệ công chúng vàtruyền thông, giải quyết mâu thuẫn, lập kế hoạch, quản lý và những thứ khác (Luna,
1998, p.16) để họ có thể chuyển nhận thức thành hành động một cách hiệu quả.Những kỹ năng này không nhất thiết là những kỹ năng mới đối với họ Họ có nhữngkiến thức chuyên môn bản địa riêng về những kỹ năng này, và có thể sử dụng nhữngkiến thức này để làm khởi điểm cho những hoạt động phát triển những kỹ năngchuyên sâu hơn
Phát triển các kỹ năng cũng bao gồm khả năng canh tân đổi mới và thông thạo khoa
học công nghệ và các chuyên môn khác như chuyên môn về sức khỏe, sản xuất kinh
tế, phương tiện truyền thông, vệ sinh và nhưng thứ khác Những hiểu biết này có thểđược phổ biến rộng rãi, đơn giản hóa sao cho phù hợp với khả năng và trình độ hiểubiết của người dân Khái niệm này có thể được thể hiện trong các chương trình sứckhỏe dựa vào cộng đồng hoặc biện hộ truyền thông dựa vào cộng đồng
Một số chủ đề trong giáo dục cộng đồng
Người dân tự nhận thức về tình trạng mình đang sống, các vấn đề của địa phương,các nguyên nhân của chúng, các tiềm năng và tài nguyên địa phương có trong tay,các nhu cầu và nguyện vọng cần giải quyết Từ đó xây dựng ý thức và trách nhiệmcủa mỗi người dân đối với cộng đồng
Giáo dục ý thức tiết kiệm, xây dựng quỹ tiết kiệm tín dụng của cộng đồng, tạo điềukiện cho người nghèo tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng của các tổ chức ngoàicộng đồng
Giáo dục nâng cao hiểu biết về khoa học, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, làm vườn,trồng cây lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản
Giáo dục việc lập kế hoạch gia đình, kế hoạch sản xuất từng cây, con, ngành nghề,hoạt động dịch vụ, kỹ năng quản lý dự án, lập kế hoạch và triển khai các hoạt độngkinh tế xã hội của địa phương
Giáo dục hiểu biết về kinh tế, xã hội và văn hoá như: xây dựng nếp sống văn hoá,bảo vệ môi trường, phòng chống tệ nạn xã hội, xây dựng xã hội học tập
Giáo dục chăm sóc sức khỏe cộng đồng, kỹ năng tổ chức cuộc sống gia đình, giới vàvai trò xã hội của người phụ nữ, quy chế văn hoá, xây dựng làng xã văn hoá, giáodục pháp luật
Để xác định được các nội dung giáo dục cần ưu tiên, ban phát triển cộng đồng xã đã
tổ chức khảo sát nhu cầu học hỏi của cộng đồng bằng các phương pháp có sự thamgia hoặc lấy ý kiến đề xuất của học viên qua bản thu hoạch sau mỗi hoạt động giáodục
Chương trình giáo dục cộng đồng được tổ chức bằng nhiều hình thức phong phú,linh hoạt, phù hợp với hoàn cảnh của từng nhóm dân cư, chẳng hạn như: truyềnthông tập huấn, hội thảo: tuỳ thuộc vào số lượng học viên và nội dung học tập, cóthể tổ chức tại hội trường của huyện, xã, nhà dân, thậm chí là ở ngoài đồng ruộng
13
Trang 14Các nhóm có cùng nhu cầu được tổ chức theo nhóm, ví dụ: nhóm phụ nữ nghèo,theo địa bàn dân cư, lứa tuổi
Tham quan học hỏi các mô hình, làm mẫu và trình diễn các mô hình thành công,giao lưu học hỏi kinh nghiệm
IV Sự liên hệ giữa giáo dục cộng đồng và tổ chức cộng đồng
và tiềm năng mà họ đã từng có trước kia
GDCĐ là giải phóng, nó không xem người dân như những người được hưởng lợi từ cácdịch vụ mà xem họ như những thành viên hoặc những người đồng cộng sự trong tiếntrình phát triển Trong GDCĐ, giáo viên, học sinh, người huấn luyện và học viên thamgia tích cực vào quá trình học hỏi lẫn nhau bằng sự đối thoại và phản hồi
Đặc điểm của giáo dục cộng đồng:
- Làm cho cộng đồng nhận thức được những lực cản đang làm tồn tại làm cản trở sựphát triển của cộng đồng (lực cản về văn hoá, kinh tế…)
- Giúp người nghèo xác định được thực tế hiện tại của họ
- Đứng về phía đại đa số bộ phận dân chúng, là những người nghèo, người bị thiệt thòi
- Tái khẳng định các giá trị truyền thống và những thực hành tích cực trong CĐ
- Xem người dân trong cộng đồng được xem là những người đồng cộng tác trong tiếntrình phát triển
- Nâng cao năng lực, tinh thần cộng đồng, phát triển kỹ năng làm việc chung
Tuy nhiên sự nhận thức hoặc thức tỉnh đưa mang lại giáo dục giải phóng sẽ trở nên vôdụng nếu chúng không dẫn đến những hành động có tổ chức của tập thể hướng về sựphát triển đích thực Giáo dục không chỉ là nhận biết thực tế mà còn là thay đổi thực
tế Giai cấp bị áp bức phải được tổ chức và hợp nhất những nỗ lực để mang đến sựthay đổi cho xã hội Hành động tập thể đó đựơc thực hiện qua những tổ chức quầnchúng Từ đó dẫn đến việc tổ chức cộng đồng, như là một bước cần thiết tiếp theotrong quá trình gây nhận thức hay thức tỉnh
Trang 15Hình : Ba thành phần nền tảng trong giáo dục cộng đồng Gây nhận thức, thức tỉnh CĐ
Thức tỉnh cho ai: Cán bộ chính quyền, người dân
Thức tỉnh cái gì: Nhận ra tình trạng hiện tại của họ, những vấn đề bức xúc, ý chí vượt
qua đói nghèo, nhận ra tài nguyên và tiềm năng của họ
Thức tỉnh để làm gì: Cộng đồng (cơ quan, đoàn thể, người dân) nhận ra mình cần phải
làm gì, muốn làm cái gì đó để thay đổi
Bằng cách nào: Nghiên cứu khảo sát, thảo luận, chia sẻ ý tưởng.
Hình thành giá trị CĐ: Đề cao các giá trị tích cực, thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi
tiêu cực
Khơi dậy truyền thống cần cù hiếu học, tương thân tương trợ, tính đoàn kết hợp tác
Thay đổi những nhận thức, thái độ, hành vi làm cản trở sự phát triển của CĐ: cáchlàm dội từ trên xuống, bất bình đẳng về giới, cơ hội phát triển, trông chờ ỷ lại, nghèođói, bệnh tật , đông con là do số trời Muốn dẹp bỏ cái lạc hậu, cũ kỹ, muốn làmnhững việc có lợi cho CĐ, từ bỏ các hành vi tiêu cực như tệ nhậu nhẹt, bài bạc, đánhđập phụ nữ, quan hệ tình dục bừa bãi
Ví dụ: người dân không biết rằng phân người và phân gia súc thải bừa bãi gây ônhiễm nguồn nước, sinh ra những chứng bệnh truyền nhiễm nguy hiểm Khi biết rồi
họ sợ, không dám thải bừa bãi nữa Họ làm hố xí, chuồng trại xa nguồn nước, xử lýchất thải hợp vệ sinh
Cách làm: Truyền thông vận động bằng nhiều hình thức như họp nhóm, kịch có sựtham gia, tổ chức học tập chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau,
Phát triển kỹ năng làm việc chung, nêu cao tinh thần cộng đồng
15
Phát triển kỹ nănglàm việc chung,nêu caotinh thần cộng đồng
Gây nhận thức, thức tỉnh CĐ
Hình thành giá trị CĐ
GIÁO DỤC CỘNG ĐỒNG
Trang 16 Giáo dục tinh thần đoàn kết, gắn bó, cho các thành phần khác nhau trong CĐ khôngphân biệt tôn giáo, sắc tộc ; biết hướng về lợi ích chung của CĐ
Nêu cao tinh thần tự hào về truyền thống của CĐ, tinh thần vượt khó, tương trợ khikhó khăn, gương thành đạt, công minh liêm chính
Đề cao mặt tích cực của tính cộng đồng, gia tộc, trong việc giáo dục, nâng đỡ, hỗ trợ,bồi dưỡng con em phát triển, giải quyết những mâu thuẩn
Tạo cơ hội cho người dân ngồi lại với nhau, biết cách làm việc chung với nhau saocho có hiệu quả, tạo sức mạnh CĐ
2 Tổ chức cộng đồng
Tổ chức cộng đồng (TCCĐ) là một tiến trình xây dựng và thiết lập các nhóm hay hiệphội dân chúng tại một địa bàn dân cư xác định, hoặc hình thành những nhóm ngườicùng chia sẻ mối những quan tâm, lợi ích hoặc những khó khăn
Định hướng, nguyên tắc và thực hành TCCĐ xuất phát từ việc giải phóng giáo dụcnâng cao sự thức tỉnh Định hướng TCCĐ cũng là việc giải phóng đổi mới xã hội
Mục đích của TCCĐ là để xây dựng, để tăng cường sức mạnh, củng cố và mở rộngcác tổ chức quần chúng
Các tổ chức quần chúng, để tự duy trì, cần phải phát triển những kỹ năng tổ chức nhưlãnh đạo, ra quyết định, giải quyết mâu thuẫn, xác định nguồn tài nguyên và quản lýnhững dự án thay đổi cụ thể GDCĐ vì thế cũng cần có những mặt này Quá trình giáodục luôn luôn có mặt ở giai đoạn thức tỉnh, giai đoạn xây dựng tổ chức hoặc giai đoạnvận động
Hình Ba thành phần nền tảng trong tổ chức cộng đồng
Thành lập
ngành nghề, xây dựng đoàn kết, liên minh
Củng cố các tổ chức có sẵn, cơ
sở quần chúng
TỔ CHỨC CỘNG ĐỒNG
Trang 17 Củng cố các tổ chức có sẵn
Xem xét cấu trúc tổ chức CĐ, chức năng của các đoàn thể, mối quan hệ giữa các tổchức và giữa các tổ chức với dân
Truyền thông hiệu quả, tổ chức mạng lưới chân rết xuống tận thôn xóm
Nâng cao năng lực cho cán bộ (kiến thức và kỹ năng)
Ở mỗi xã thuộc các địa phương trong cả nước ta đều có tổ chức Đảng, chính quyền,MTTQ và các đoàn thể trính trị, xã hội khác Đây chính là các tổ chức cộng đồng có sẵn,
là chỗ dựa để phát triển mạng lưới tổ chức cộng đồng Các tổ chức này có thế mạnh là tổchức bộ máy được pháp luật thừa nhận, có mục đích là làm cho địa phương ngày một pháttriển
Các nhóm nhỏ và các câu lạc bộ có tác dụng mạnh mẽ đến sự phát triển của cộng đồng và mỗi cá nhân, thể hiện ở các mặt sau:
Tạo điều kiện cho người nghèo có cơ hội phát triển, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật,bồi dưỡng tay nghề, tạo thêm việc làm, chia sẽ kinh nghiệm làm ăn, giúp đỡ nhau
về vốn liếng, tập cách tổ chức sản xuất và chia sẻ kinh nghiệm làm ăn
Tạo cơ hội cho người dân phát biểu trước đám đông, tiếp xúc giữa các thành viêntrong nhóm, cơ hội học hỏi lẫn nhau, tập điều hành công việc tập thể, xây dựngtinh thần tự tin và ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng
Tạo ra cầu nối giữa hệ thống chính trị cơ sở với người dân, góp phần thực hiện tốtqui chế dân chủ cơ sở một cách đa dạng và có hiệu quả Thamgia vào nhóm nhỏ,các câu lạc bộ người dân có cơ hội nắm bắt được các thông tin, kế hoạch kinh tế -
xã hội của địa phương, đồng thời đây là môi trường để người dân có tiếng nói củamình, tham gia vào các công việc chung của địa phương, của cộng đồng
Tổ chức các ngành nghề, xây dựng đoàn kết, liên minh
Vận động người đang làm những nghề giống nhau, cùng có mối quan tâm, thành lậpcác câu lạc bộ nghề nghiệp, tổ sản xuất, trung tâm sản xuất cho CĐ
Liên kết phối hợp mở rộng thành phần với các nhóm khác, tiến lên các tổ chức lớnhơn, quy mô hơn như hợp tác xã, liên hiệp hội,
17
Trang 18- Sự nhận thức to lớn hơn được kết tinh từ những hành động chính trị hài hoà mà hànhđộng này mang lại sự tự tin và tự giúp trong người dân Điều này sẽ tạo sự khuyếnkhích thúc đẩy người dân tham gia tạo sức mạnh với những có cùng ý hướng
Trang 19Bài 2: CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI TRONG CỘNG ĐỒNG
I KHÁI NIỆM VẤN ĐỀ XÃ HỘI
Thuật ngữ “vấn đề xã hội” đề cập đến tình trạng, quá trình và thái độ xã hội được cho là tiêucực, và không mong muốn, ảnh hưởng và gây hại cho xã hội (Jamrozik et al 1998) Một vấn
đề xã hội mang tính đe dọa các giá trị của xã hội như luật pháp, trật tự, sự gắn kết, độ ổn địnhcủa xã hội
Một số vấn đề xã hội tiêu biểu gồm tội phạm, nghèo đói, hành vi chống đối xã hội, lạm dụng
ma túy và rượu, suy thoái kinh tế, thất nghiệp… Các vấn đề này xuất hiện gần như khắp nơitrên thế giới Tuy nhiên ở một số khu vực, các vấn đề có thể xuất hiện thường xuyên vànghiêm trọng hơn
II TÍNH CẤU TRÚC CỦA VẤN ĐỀ XÃ HỘI
Cái gì cấu tạo nên một vấn đề xã hội? Manning (1998) cho rằng cần phân biệt vấn đề xã hộivới những vấn đề khác theo ba điểm sau: cái tạo ra vấn đề, cách mọi người nhìn nhận vànhững hành động để đối phó với vấn đề
Nói cách khác, vấn đề xã hội cần được đặt trong khung phân tích và trả lời những câu hỏisau:
- Vấn đề ở đây là gì?
- Tại sao vấn đề lại xuất hiện?
- Nó đến từ những yếu tố cá nhân hay từ những bất bình đẳng về kinh tế xã hội hay
- Đâu là giải pháp thích hợp và khả thi?
Ví dụ: cha mẹ đi xuất khẩu lao động đem lại lợi ích kinh tế cho đất nước thì không thành vấn
đề Tuy nhiên, khi những đứa con bị bỏ ở nhà, hư hỏng và xã hội bị ảnh hưởng thì đây lại là vấn đề xã hội đáng quan tâm
Khung phân tích ở đây là những nỗ lực nhằm xác định tại sao vấn đề lại nảy sinh – những cấutrúc xã hội đã ảnh hưởng thế nào đến cách nghĩ về thực chất của vấn đề (ví dụ thất nghiệpnghĩa là gì) Khung phân tích này do chính những nạn nhân, giới truyền thông, hoặc nhữngngười ở vị trí nắm quyền lực chủ đích xây dựng nên và thường phản ánh những thành kiến xãhội sâu xa trong đó Ví dụ nạn bạo hành được những kẻ nắm quyền cho là một vấn đề thuộcnội bộ gia đình mà nguyên nhân là do vấn đề sinh học, do đó gần như không thể tránh khỏi…Khung phân tích ảnh hưởng đến phạm vi giải pháp Nếu một nhà máy công nghiệp làm ônhiễm một dòng sông nào đó, làm cá chết và đe dọa nguồn nước thì vấn đề này có thể đượcgiải quyết bằng cách kiểm soát nước thải của nhà máy, hoặc làm sạch dòng sông Vấn đềcũng có thể được nhìn rộng hơn bằng cách quy kết cho việc thiếu các biện pháp chế tài vì cácquan chức ngại gây ra gánh nặng kinh tế cho một ngành công nghiệp lớn
19
Trang 20Khung phân tích thường được trao truyền cho người khác thông qua hình thức điển hình hóa(dùng biểu tượng để trình bày sự việc), qua một câu chuyện hay những dẫn chứng hàm chứanội dung của vấn đề Ý thức hệ là các khung phân tích tinh tế hơn, cho một cái nhìn tổng quát
về nguyên nhân tại sao xã hội lại trở nên như vậy và xã hội nên thay đổi theo kiểu mẫu nào
Một định nghĩa khác mang tính khách quan hơn là định nghĩa của bà Mollie Orshansky đưa
ra năm 1963 lấy thu nhập hàng năm làm chuẩn Thu nhập hàng năm của một gia đình phảibằng ít nhất ba lần tiền thực phẩm chi cho một năm của gia đình đó Nếu gia đình nào khôngđạt được mức thu nhập này thì được kể là nghèo đói
Bên cạnh đó, xét về tình trạng nghèo, người ta đưa ra hai loại: (1) tình trạng duy trì sự tồn tại hay nghèo tuyệt đối và (2) tình trạng thiếu thốn tương đối hay nghèo tương đối
Khái niệm nghèo tuyệt đối dựa trên ước lượng về mức thu nhập cần thiết để mua thực phẩm
đủ thỏa mãn những nhu cầu dinh dưỡng trung bình Chi phí để mua thực phẩm nầy được xem
là chi phí cơ bản để tồn tại Nếu thêm vào đó các chi tiêu tối thiểu khác như áo quần, nhiênliệu (để sưởi ấm) và tiền thuê nhà, ta có được một mức thu nhập mà dưới mức đó gia đìnhđược xem là nghèo tuyệt đối Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh đểsinh tồn (bữa ăn kế tiếp có thể là cả vấn đề sống còn) trong tình trạng thiếu thốn và mất phẩm
cách nghiêm trọng
Tình trạng nghèo tương đối là một khái niệm mang nặng tính xã hội theo đó các hộ gia đình
sẽ phải đáp ứng chi phí đối với các “nhu cầu”, các giá trị thông thường và các lối sống mà xãhội công nhận Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ cáctiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định
so với sự sung túc của xã hội đó Các cá nhân, hộ gia đình và đoàn nhóm của dân cư được gọi
là nghèo tương đối khi họ thiếu thốn các tài nguyên để có được các loại thực phẩm, để tham
dự vào các hoạt động, có được những điều kiện sống và dịch vụ được xem là thông thườngtrong những xã hội mà họ sinh sống
Thực trạng nghèo đói trên thế giớiTheo www.globalissues.org, vào tháng 4/2006, đã đưa ra một vài số liệu ấn tượng sau:
- một nửa dân số thế giới – gần 3 tỉ người – sinh sống bằng số tiền chưa đến 2 đô lamỗi ngày
- GDP (tổng sản phẩm quốc nội) của 49 quốc gia nghèo nhất (1/4 trên tổng số cácquốc gia trên thế giới) thấp hơn so với tổng tài sản của 3 người giàu nhất thế giớicộng lại
- Các tập đoàn kinh tế chiếm đến 51% trong tổng số 100 thành phần giàu nhất thếgiới
- 20% dân số các nước phát triển tiêu thụ 86% hàng hóa của toàn thế giới
Trang 21- Các nước đang phát triển phải bỏ ra 13 đô la để trả nợ cho mỗi đô la được nhận từtrợ cấp
- Số trẻ em trên thế giới 2,2 tỉ trong đó trẻ em nghèo chiếm khoảng 1 tỉ
- Trong số 1,9 tỉ trẻ em các nước đang phát triển có: 121 triệu trẻ thất học, 640 triệutrẻ không có chỗ ở tử tế, 400 triệu trẻ không có nước sạch để dùng, 270 triệu trẻkhông được tiếp cận với các dịch vụ y tế
Tháng 6/2012, theo kết quả thống kê của Tổ chức từ thiện Caritas công bố tại hội nghị quốc
tế về nạn đói được tổ chức tại Viên (Áo) cho biết, toàn thế giới hiện đang có gần một tỉ ngườirơi vào tình trạng đói khát và khoảng 7.000 trẻ em tử vong mỗi ngày do bị suy dinh dưỡng vìthiếu ăn Châu Phi vẫn nằm trong những khu vực bị nạn đói hoành hành nhiều nhất, với 18triệu người luôn sống trong sự đe dọa của hạn hán, mất mùa và nạn suy dinh dưỡng trầmtrọng
Các khía cạnh nghèoTrên bình diện phát triển, nghèo đói không chỉ được nhìn ở góc độ kinh tế mà còn ở góc
độ vật chất, văn hóa, xã hội, chính trị và sinh thái nữa
Cơ sở hạ tầng
Trồng trọt kém phát triển so với nhu cầu thị trườngHầu hết các phương tiện truyền thông đều tập trung ở khu vực đô thị hoặccác thành phố lớn
Phát triển cơ sở hạ tầng bị hạn chế theo nhu cầu của các nhà đầu tư bên ngoàiChuyển đổi đất
Áp dụng mô hình phát triển trung tâm ngoại vi
Trang 22Thất nghiệp và thiếu việc làm
Luật tư nhân hóa – Các dịch vụ xã hội ngày càng trở nên đắt đỏ
Sinh hoạt phí cao
Phân bố tài sản và tài nguyên không đồng đều
Xã hội
Khó khăn lớn về nhà ở
Thiếu sự ưu tiên và quan tâm cho giáo dục ở mọi cấp độ
Điều kiện y tế yếu kém ở hầu hết các khu vực
Gia tăng dân số và vấn đề an sinh
An toàn vệ sinh thực phẩm
Tội phạm gia tăng
Các vấn đề xã hội ngày thêm trầm trọng hơn (ma túy, buôn lậu, di dân,HIV/AIDS.)
Thiếu nhiệt huyết chính trị vì lợi ích của nhân dân
Giới truyền thông bị tác động
Nền chính trị đặt những nhân vật nổi tiếng làm trung tâm
Nền chính trị do giới thượng lưu thống trị
Nền chính trị chịu ảnh hưởng của những doanh nghiệp lớn
Tài nguyên biển cạn kiệt
Rừng và tài nguyên khoáng sản xuống cấp
Không chú trọng đến bảo tồn thiên nhiên
Chú trọng kinh doanh và sinh lợi nhuận hơn cân bằng sinh thái
Thiếu chú trọng đến việc chuyển giao giữa các thế hệ
Thiếu năng lực quản lý tài nguyên
Trang 23Chính sách sử dụng tài nguyên không có lợi cho sinh thái, cho đất nước vàcho người nghèo
Văn hóa
Văn hóa gây đói nghèoVăn hóa ‘xin - cho”
Văn hóa áp đặtThiếu ý thức về lịch sửBất bình đẳng giớiTrì trệ văn hóa
“Trung thành” và “Tin tưởng” các thế lực ngoại laiVăn hóa bắt chước thay vì sáng tạo
Văn hóa né tránhVăn hóa im lặng Suy thoái hệ thống giá trị truyền thống và hướng tới hệ thống giá trị mangtính vật chất và thương mại
Quan điểm sống tin vào số phận
Cơ cấu xã hội được hợp thức hóa bằng sự cam chịuThái độ thờ ơ và bàng quan của những người có điều kiện giúp đỡTin tưởng vào sự siêu việt và ưu tú của các quốc gia khác
Khuynh hướng bắt chước thay cho sáng tạoTâm lý “ăn không được thì đạp đổ”
2 Ấm lên toàn cầu và thay đổi khí hậu
Ấm lên toàn cầu hay hâm nóng toàn cầu là hiện tượng nhiệt độ trung bình của không khí
và các đại dương trên Trái Đất tăng lên Bằng chứng phổ biến nhất về hiện tượng ấm lên toàncầu là xu hướng thay đổi trong nhiệt độ trung bình trên toàn cầu gần bề mặt Trái Đất Thểhiện trên thang tuyến tính, nhiệt độ trung bình này tăng 0,74 °C ±0,18 °C trong khoảng thờigian 1906-2005 Tốc độ ấm lên trong vòng 50 năm gần đây hầu như tăng gấp đôi trong giaiđoạn này
Theo tốc độ này, đến năm 2100, nhiệt độ của trái đất có thể tăng từ 1,1 đến 6,40C Việctăng nhiệt độ của trái đất làm tăng mực nước biển, gây hiện tượng thời tiết bất thường, mùamàng thay đổi, nhiều loài bị tiêu diệt Theo dự báo, nếu không ngăn chặn các hoạt động làmtrái đất ấm lên thì đến năm 2030, ít nhất có 2.000 đảo của Indonesia sẽ biến mất; đến năm
2050, rừng Amazon cũng sẽ không còn và đến năm 2100, mực nước biển lên cao hơn 0,6 m
và 2 thành phố (London và New York) sẽ bị nhấn chìm trong nước, chỉ có sa mạc Sahara lạixanh tươi như 12.000 năm trước Theo dự tính, tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vùngduyên hải miền Trung của nước ta biển cũng sẽ xâm lấn, đất đai bị co hẹp lại
Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển,sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo
Đây là “những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại
đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và
23
Trang 24được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúclợi của con người” (Theo công ước chung của LHQ về biến đổi khí hậu).
Có thể thấy tác hại theo hướng nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu thể hiện ở 10 điềutồi tệ sau đây: gia tăng mực nước biển, băng hà lùi về hai cực, những đợt nóng, bão tố và lũlụt, khô hạn, tai biến, suy thoái kinh tế, xung đột và chiến tranh, mất đi sự đa dạng sinh học
và phá huỷ hệ sinh thái
3 Nạn phá rừng (Deforestation)
Rừng chiếm 31% tổng diện tích đất trên thế giới, là thảm thực vật giữ vai trò to lớn đối vớicon người như cung cấp gỗ, củi, điều hòa không khí, ngăn chặn gió báo, tạo ra oxy, nơi cư trúcủa muôn loài thực vật và nơi tàng trữ các nguồn tài nguyên quý hiếm Đặc biệt, rừng là mộtyếu tố quan trọng trong sự phát triển bền vững toàn cầu
Theo Ngân hàng Thế giới, ước tính có hơn 1,6 tỷ người sống phụ thuộc vào rừng và ngànhcông nghiệp lâm sản là một nguồn cung cấp khối lượng lớn việc làm, góp phần vào tăngtrường kinh tế của quốc gia và khu vực Số liệu thông kế mới đây cho thấy, 30% diện tíchrừng được sử dụng để sản xuất gỗ và các sản phẩm phi gỗ, thương mại lâm sản ước đạt 327
tỷ USD/năm Tuy nhiên, hiện nay rừng đang bị con người khai thác quá mức, khiến thiênnhiên bị tàn phá nặng nề, môi trường và khí hậu thay đổi, đe dọa sự sống trên khắp trái đất
Nghiên cứu mới nhất của Chương trình Môi trường Liên Hiệp quốc (UNEP) công bố chobiết: Nạn phá rừng trên quy mô toàn cầu vẫn tiếp tục ở mức báo động, mỗi năm thế giới mấttới 13 triệu héc ta rừng, tương đương với diện tích của đất nước Bồ Đào Nha Theo Báo cáoHiện trạng môi trường Việt Nam năm 2000 thì có thể ước định rằng tỷ lệ mất rừng hiện nay làkhoảng 120.000 - 150.000 ha/năm Kết quả đã dẫn đến việc biến nhiều vùng có hệ sinh tháirừng tốt tươi, ổn định thành vùng có hệ sinh thái bị đảo lộn, mất cân bằng, dẫn đến lũ lụt, sụt
lở đất, hạn hán và có nhiều khả năng thiếu nước trầm trọng trong mùa khô, kể cả nguồn nướcngầm
4 Ô nhiễm môi trường (Pollution)
Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam, “Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính
chất của môi trường, vi phạm Tiêu chuẩn môi trường"
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượngvào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát triển sinhvật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ởdạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý,sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ
Trang 25Đối với sức khỏe con người, Không khí ô nhiễm có thể giết chết nhiều cơ thể sống trong đó
có con người Ô nhiễm ozone có thể gây bệnh đường hô hấp, bệnh tim mạch, viêmhọng, đau ngực, tức thở Ô nhiễm nước gây ra xấp xỉ 14.000 cái chết mỗi ngày, chủyếu do ăn uống bằng nước bẩn chưa được xử lý Các chất hóa học và kim loại nặngnhiễm trong thức ăn nước uống có thể gây ung thư không thể chữa trị
Đối với hệ sinh thái, Lưu huỳnh điôxít và các ôxít của nitơ có thể gây mưa axít làm giảm độ
pH của đất Đất bị ô nhiễm có thể trở nên cằn cỗi, không thích hợp cho cây trồng.Điều này sẽ ảnh hưởng đến các cơ thể sống khác trong lưới thức ăn Khói lẫn sươnglàm giảm ánh sáng mặt trời mà thực vật nhận được để thực hiện quá trình quang hợp.Các loài động vật có thể xâm lấn,cạnh tranh chiếm môi trường sống và làm nguy hạicho các loài địa phương, từ đó làm giảm đa dạng sinh học Khí CO2 sinh ra từ các nhàmáy và các phương tiện qua lại còn làm tăng hiệu ứng nhà kính, làm Trái Đất ngàymột nóng dần lên, các khu sinh thái sẵn có dần bị phá hủy
25
Tóm tắt ý chính
Vấn đề xã hội là một tình trạng tiêu cực, không mong muốn, gây hại cho
xã hội vì chúng đe dọa các giá trị của xã hội Các vấn đề xã hội tiêu biểu
gồm tội phạm, nghèo đói, thất nghiệp…
Vấn đề xã hội phải được đặt trong khung phân tích để xác định bản chất,
nguyên nhân, ảnh hưởng, và giải pháp của nó Khung phân tích này do
chính những nạn nhân hoặc những thế lực có liên quan với vấn đề xác
định
Một số vấn đề xã hội nổi cộm trong cộng đồng gồm có:
tình trạng nghèo đói: Nghèo không chỉ ở góc độ kinh tế mà còn nghèo vật
chất, văn hóa, xã hội, chính trị và sinh thái
Ấm lên toàn cầu và thay đổi khí hậu
Suy giảm đa dạng sinh học
Nạn phá rừng
Ô nhiễm môi trường
Tất cả những vấn đề này là những bận tâm của người làm công tác cộng
đồng
Lưu ý: Các giảng viên nên cập nhật thêm các vấn đề cụ thể của Việt Nam
Trang 26Bài 3: CÁC CÁCH TIẾP CẬN CƠ BẢN ĐỐI VỚI
GIÁO DỤC CỘNG ĐỒNG
I Các cách tiếp cận hay triết lý giáo dục
1.1 Giáo dục bảo thủ (Conservative approaches):
Từ ngàn xưa văn hóa, giáo dục là tác nhân ổn định xã hội Lòng hiếu thảo, lẽ phải,những giá trị xã hội, tinh thần dân tộc, v.v được ca ngợi qua các ngụ ngôn, bài thơ,sản phẩm văn học Điều này rất cần thiết cho sự sống còn của một xã hội Nhưng vănhóa giáo dục cũng được các chế độ thực dân, độc tài, phát xít sử dụng như công cụđàn áp hay ngu dân Ví dụ: dưới thời Pháp thuộc, học sinh Việt Nam không biết gì vềlịch sử nước nhà mà thuộc làu lịch sử của “mẫu quốc” Người Việt Nam tay sai củaPháp thì lại khinh miệt và đàn áp đồng bào mình Có khi không cố tình, nhưng mọi xãhội bảo thủ đều sử dụng giáo dục để duy trì những xu hướng và giá trị bảo thủ củamình Khi trình độ chưa cao thì người ta làm việc ấy một cách lộ liễu Còn khi xã hộiphát triển thì người ta sử dụng các luận cứ có vẻ “khoa học”, tính kinh điển để duy trì
sự tuân thủ Thực chất giáo dục diễn đạt quan điểm của một thiểu số ưu đãi nhằm giữnguyên trạng xã hội và cũng cố vị trí của họ
1.2 Giáo dục theo chủ nghĩa tự do (Liberal approaches):
Dân trí ngày càng cao, tự do cá nhân ngày càng được nhấn mạnh, người dân khôngcòn chấp nhận một sự tuân thủ không điều kiện nữa Giáo dục cũng thay đổi và đề cao
sự tự định hướng của cá nhân, cũng như tiềm năng tự do và kinh nghiệm của ngườihọc Các phương pháp chủ động được sử dụng, sự phản hồi của học viên được quantâm nhiều hơn Giáo dục theo chủ nghĩa tự do (liberalism) nhấn mạnh đến sự thay đổithái độ và hành vi của người học nhưng để thích nghi với xã hội Xu hướng này chorằng giáo dục là “trung lập” và né tránh việc nhìn vào cấu trúc xã hội mà thực chất họmuốn duy trì Họ cũng quan tâm đến công bằng xã hội nhưng né tránh việc đề cập đếnnguyên nhân cội nguồn của nó Dù sao, đây là một bước tiến bộ so với giáo dục bảothủ vì cá nhân người học được quan tâm hơn nhiều và từ đây xuất hiện nhiều phươngpháp giáo dục mới như đối thoại giữa người dạy và người học, thảo luận nhóm v.v thay vì chỉ có hình thức giảng một chiều từ trên xuống
1.3 Giáo dục biến đổi xã hội: (Transformational approaches) Giáo dục theo chủ
nghĩa tự do là công cụ chính yếu của chủ nghĩa tư bản để duy trì các mối quan hệ vàcấu trúc xã hội bóc lột nhưng được che đậy bởi những hoạt động bề mặt hết sức tự dothoải mái, Do đó, tầng lớp trung lưu hay khá giả rất thỏa mãn với môi trường sốngcủa họ và những kẻ đặc quyền đặc lợi còn tham gia cũng cố chế độ ấy nữa Xuất phát
từ các phong trào cách mạng và tiến bộ, giáo dục biến đổi xã hội chủ trương rằng mụcđích của giáo dục không chỉ là giúp cá nhân tự thay đổi bản thân mà còn để cho chính
họ thay đổi môi trường sống, các mối quan hệ và tổ chức xã hội của họ Vì chẳng lẻcon người lại phải phục tùng và phục vụ một xã hội bất công và bóc lột con người.Chủ trương giáo dục để biến đổi giáo dục xã hội được chấp nhận và phổ biến khắp nơitrên thế giới cho dù là nó không lấy gì làm dễ chịu đối với giai cấp đặc quyền đặc lợi
Nó là một nguyên tắc của phát triển vì chỉ có người dân được soi sáng, được tạo nănglực và liên kết lại với nhau mới bảo vệ được quyền lọi chính đáng của mình Với sựthống trị toàn cầu của các công ty đa quốc gia, chỉ có những tổ chức nhân dân mạnh
Trang 27mới hy vọng (một ngày nào đó) tạo sự cân bằng giữa lợi ích riêng của một thiểu sốđặc quyền đặc lợi và lợi ích chung của đa số quần chúng sống trong nghèo nàn lạchậu Thế nào là một xã hội philippin được biến đổi? Đó là một xã hội đặc trên nềntảng của tinh thần yêu nước, dân chủ, công bằng và tự do Sự tự túc, sự tái phân phốicác phương tiện sản xuất cho những nhóm người thiệt thòi nhất của xã hội, sự giảiphóng khỏi sự bóc lột và áp bức của tư bản độc quyền nước ngoài, sự tham gia lấyquyết định, sự lãnh đạo từ đa số người nghèo và bị tước đoạt, sự tự trọng tự đánh giámình một các tích cực, sự thoát khỏi trạng thái đờ đẫn, mê tín, dốt nát và khái niệm
và thực hành giáo dục cộng đồng và tổ chức quần chúng phải xuất từ đó (Ma TheresaV.Tungpapan)
1.4 Giáo dục phát triển là khái niệm đực sử dụng rộng rãi để đề cập đến mọi nỗ lực cải tiến
giáo dục thuộc mọi cấp và mọi lãnh vực nhằm đáp ứng yêu cầu và đẩy mạnh phát triển Giáodục chính quy từ mẫu giáo đến hậu đại học luôn luôn được cải cách từ nội dung đến phươngpháp để đáp ứng đòi hỏi của một xã hội luôn luôn đổi mới Nhiều bộ môn khoa học ngànhnghề biến mất và nhiều nội dung khoa học mới xuất hiện Việc đào tạo nghề thay đổi liên tục
để thích nghi với công nghệ mới Nhưng cái khó nhất là giáo dục con người sao cho có đượcnhững phẩm chất, phong cách, thói quen phù hợp với tình hình thay vì trở thành một gánhnặng và một trở lực cho phát triển Thế nhưng giáo dục chính quy đã gặp nhiều trở ngại tronggiáo dục văn hóa và chuyên môn, lại càng bất lực trong giáo dục thái độ và hành vi phù hợpvới yêu cầu phát triển Các kẻ hở của giáo dục chính quy tạo ra hàng triệu trẻ em không đếntrường hay bỏ học, người lớn mù chữ không tay nghề và có những hành vi làm lực cản chophát triển Ví dụ: sự dốt nát, thụ động, mê tín, bệnh tật, đẻ nhiều, tàn phá môi sinh, xài phungphí không ý thức tiết kiệm, không tôn trọng lợi ích công cộng, thiếu tác phong công nghiệp,
vi phạm pháp luật v.v Ở các nước tiên tiến, công nghiệp hóa diễn ra từ từ, môi trường và tổchức công nghiệp bắt buộc người dân phải đúng giờ, tôn trọng luật an toàn trong sản xuất và
an toàn giao thông bằng những quy định khắc khe Ban đầu là làm vì bắt buột, sau đó thànhthói quen và thói quen dần Ở các nước đang phát triển, quá trình diễn ra ngược lại là conngười thích nghi không kịp và phải tạo những thói quen mới bằng giáo dục
27
Trang 28II Ba cách tiếp cận cơ bản trong GDCĐ 1
Giáo dục qui ước Giáo dục tiến bộ Giáo dục phát triển
Chiến lược Thuyết phục đối tượng- tự nguyện
chấp nhận và thích nghi với hoàn cảnh xã hội mà không tìm nguyên nhân sự việc và không thay đổi mặt bất công
Tạo ra một số cải thiện mà không thay đổibất công xã hội
Tìm ra nguyên nhân vấn đề, chống lại bất công, bất bình đẳng và sai trái, tham ô
Các tiếp cận Kiểm soát chặt chẽ từ trên xuống,
uy quyền
Từ trên xuống một cách mềm dẻo , gia trường
Nhân bản và dân chủ (dân kiểm soát)
Kết quả chung Không có thay đổi Thay đổi hành vi Thay đổi xã hội
Kết quả đối với dân
và cộng đồng
Chuyên quyền tập trung, không cho phép hay rất ít sự tham gia củacộng đồng
VD: Giáo dục trong chế độ phong kiến là phải tuân phục nhà vua hoàn toàn
Có tham gia chút ít, nhưng không muốn có/ không cho sự thay đổi thật
VD: GDCĐ trong thời tư bản CN, có hỗ trợ người dân nhưng không muốn chỉ ra nguồn gốc bất công thực sự để có sự thay đổi
Hỗ trợGiúp dân tăng cường khả năng làm chủ cuộc sống của họ
VD : Giáo dục CĐ theo phương thức phát triển cộng đồng
Phương pháp Chủ yếu là thầy giảng cho người
học, đơn điệu dễ gây buồn chán
Thầy giảng, có tạo sự lý thú
Có đối thoại, thảo luận nhóm, nhưng thầy
là người quyết định
Nhiều đối thoại, trao đổi, giải đáp xuất phát từ kinh nghiệm của người dân Họctập lẫn nhau, hình thức đa dạng
1 Theo Ma Theresa V Tungpalan GDCD
Trang 29Dòng chảy của kiến
thức Một chiềuHệ thống giáo dục
ThầyNgười học
Chủ yếu một chiều
Hệ thống giáo dụcThầyNgười học
Khảo hướng hội nhập, phát triển
Giá trị và thái độ của quần chúng
ở cơ sở, bảo vệ quyền lợi người nghèo
Tự lực
Giúp người yếu thành mạnh
Sử dụng tài nguyên, truyền thống, tập quán hay của địa phương
Người học Cơ bản là thụ động Ít nhiều chủ động,
Cần được theo dõi quan sát Chủ động , chia sẻ kiến thức, khả năng, thảo luận và thực hành
Tương quan thầy
Trang 31Bài 3: PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN TRONG GIÁO DỤC CỘNG ĐỒNG
I BẢN CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN GDCĐ
1 Bản chất của phương pháp tiếp cận GDCĐ:
Bản chất của phương pháp tiếp cận GDCĐ là cách “dạy học tham gia” đối lập vớicách “dạy học áp đặt” Để thu hút sự tham gia, làm chủ của người học trong quá trìnhhọc tập, GDCĐ cần sự dụng các phương pháp giáo dục chủ động
2 Đặc điểm và nguyên tắc trong GDCĐ:
Dạy học theo phương pháp tiếp cận GDCĐ là dạy học mới, trong đó sử dụng các kỹthuật cộng đồng để tạo điều kiện cho người học được tham gia làm chủ trong quátrình học tập như:
o Tôn trọng người học, tôn trọng kinh nghiệm của họ;
o Coi trọng việc tổ chức cho người học hơn là việc dạy;
o Thu hút sự tham qua việc tạo điều kiện cho họ trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm,
tự phát hiện vấn đề…
o Coi trọng thái độ người học, nâng cao quyền năng cho người học bằng cáchgiúp cho người học ý thức được, tự phân tích và nhận ra hoàn cảnh hiện tạicủa mình;
o Coi trọng sự bình đẳng giữa người học và người dạy…
Một số các nguyên tắc trong giáo dục cộng đồng được tổng hợp sau
Học là thay đổi
Giáo dục phải tác động vào con người toàn diện mới tạo ra sự thay đổi trong hành vi.Các giáo dục chỉ dừng ở kiến thức mà không tính đến phát triển nhân cách sẽ khôngđem lại hiệu quả, vì có thể chỉ làm cho người dân thấy được các cam kết, kiến thứctrên giấy tờ, hội họp… mà không tự mình nhập tâm và biến đổi Việc học phải đemđến sự thay đổi trong:
Kiến thức (Biết thực hiện, hiểu)
An cá nóc dễ bị ngộ độc và dẫn đến tử vong, nhưng một số người vẫn ăn
Thả rác xuống kênh mương gây ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộngđồng, khi chính cộng đồng ý thức điều này, họ sẽ giữ gìn nguồn nước và bỏ rácđúng chỗ, không thả xuống kênh mương
Khi có ý thức chấp hành giao thông, có lòng tự trọng, người dân sẽ không vượt đèn
đỏ, vượt mức giới hạn dừng xe
Học viên là trung tâm
Trong tâm lý truyền thông và tâm lý học tập, con người chỉ tiếp
nhận những gì thiết thực cho bản thân mình Như thế trong giáo
dục cộng đồng, người giáo viên/hướng dẫn cần quan tâm tìm hiểu
tâm lý người học để có nội dung phù hợp và phương pháp thích
ứng với họ Người dạy không phải là người quyết định tất cả dạy
không đương nhiên dẫn đến học Học là một quá trình tự phát
triển thông qua kinh nghiệm Vai trò của người thầy rất quan trọng
trong việc hỗ trợ nỗ lực hoc tập của học viên, nhưng học viên vẫn
Trang 32là chính, là người quyết định việc học của mình Vì thế trong học tập, sự phản hồi rấtquan trọng, phản hồi sẽ giúp cả thầy và trò cùng điều chỉnh bài học sao cho phù hợp,phương pháp thích ứng Phản hồi được thực hiện theo nhiều cách như phản ứng củahọc viên, trao đổi…
Sự tham gia của người học
Khi có sự tham gia của người học, người dạy sẽ nắm được đặc điểm, yêu cầu của họcviên để bắt đầu và có những điều chỉnh phù hợp Tham gia không chỉ là phương pháp
mà còn là triết lý cơ bản của phát triển Nó được xuất phát từ niềm xác tín rằng conngười có phẩm giá và tiềm năng to lớn để học hỏi, thay đổi và tăng trưởng dẫn đến sựlàm chủ bản thân và xã hội chung quanh mình Tham gia còn là một nguyên tắc quản
lý vì chỉ có dân chủ mới đảm bảo được lợi ích chung Sự tham gia của các tổ chứcquần chúng từ cấp cơ sở đến quốc gia và quốc tế là sự đảm bảo cho một mô hình pháttriển và công bằng
Trong học tập, khi người học là trung tâm, sự tham gia của họ là tất yếu vì khi làm tự
họ họ sẽ nhớ lâu hơn Người thầy giỏi luôn khuyến khích trò tham gia vì như vậy sẽđảm bảo và thúc đẩy sự tiến bộ
Hiệu quả của tham gia
Đúc kết từ những nghiên cứu cho thấy hiểu quả của tham gia đựơc thể hiện qua tamgiác kinh nghiệm dưới đây
Trang 33Bài 4: VIỆC HỌC CỦA CỘNG ĐỒNG
I Nguyên nhân học tập của người dân trong cộng đồng
Người dân trong cộng đồng sẽ tự tìm thấy động cơ học tập khi bài học giúp họ giải quyếtnhững khó khăn đang gặp, hoặc đáp ứng mối quan tâm của họ, hoặc khi họ thấy kiến thứchay kỹ năng đó có ích cho họ
Theo lý thuyết về động cơ làm việc thì người ta sẽ có động cơ làm việc tốt khi họ biếtrằng những cố gắng của họ sẽ được đền đáp và sự đền đáp đó quan trọng đối với họ Có thểbiểu diễn lý thuyết này trên một sơ đồ như sau:
Điều này có nghĩa là trong việc dạy học cho thành viên trong cộng đồng, chúng ta cần quantâm:
- Tạo động cơ, tạo ra một không khí mà mọi người muốn học
- Nhấn mạnh vào lợi ích; bài học sẽ đem lại những gì cho họ
- Lợi ích này không phải đơn thuần về tài chánh mà ở nhiều yếu tố liên quan đến sựthành công trong công việc
1 Nhu cầu động cơ học tập của người lớn
Người lớn muốn học để làm gì?
Đối với họ học không chỉ để biết mà cần để hiểu và nhất là để hành động giải quyết các vấn
đề thực tế một cách hiệu quả hơn
2 Nội dung học tập của người lớn
Người lớn muốn học những gì?
Đó là những vấn đề đáp ứng đúng nhu cầu cấp bách, những vấn đề cần cho công việc, cương
vị, trách nhiệm và cuộc sống hàng ngày của cá nhân
3 Chu trình học tập của người lớn
Nhận thức về vai trò đối với hiệu quả công
việc
Trang 34- Hoạt động học tập: Giúp TDV tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp (quan sát) các hoạt
động của buổi học để tiếp cận với những khái niệm sẽ được học và bộc lộ những khảnăng nhận thức của mình
- Phân tích: THV gợi ý để TDV chọn lọc và phân tích các vấn đề vừa diễn ra trong
hoạt động để giúp TDV nhận thức vấn đề đó
- Khái quát: Từ hoạt động và phân tích, THV khái quát lại vấn đề cho đúng trọng tâm,
hệ thống, hoàn chỉnh các khái niệm hoặc kiến thức, kỹ năng (lý thuyết, thực tế)
- Áp dụng: là những hoạt động giúp TDV liên hệ thực tiễn để hiểu sâu hơn có những
dự tính cho việc áp dụng
- Lượng giá: sau khi đã áp dụng những kiến thức mới thì người lớn sẽ lượng giá xem
kiến thức mới mình học và đã áp dụng có mang lại hiệu quả tích cực không, nếu có nó trởthành kinh nghiệm mới Sau một thời gian thì người ta lại đi tìm kiếm một cái mới khác
để đem lại hiệu quả cao hơn Vì thế việc học của người lớn là một tiến trình liên tục theovòng xoắn ốc
Ví dụ: Trước năm 2004 các nông dân ở xã Hồng Sơn đã có kinh nghiệm về trồng cà chuatheo phương pháp cổ truyền của dân tộc mình Từ tháng 7/2004, khi tổ chức SEDEC hỗtrợ cho người dân kiến thức mới về cách ươm cà chua trong vỉ xốp, một số bà con đãtham gia các lớp tập huấn và đã áp dụng kiến thức này trong gieo trồng cà chua, kết quả
là sản lượng cà chua tăng Hiện nay hầu hết các hộ nông dân trong xã đã ứng dụng kinhnghiệm mới này
Kinh nghiệm cũ
kiến thức mới
Áp dụngkiến thức mới
Kinh nghiệm mới
Hoạt động học tập, cung cấp kiến thức mới Thảo luận, phân tích
Trang 35CÁCH HỌC CỦA NGƯỜI LỚN
1 Đặc điểm - Tâm lý học tập của người lớn
Người lớn học như thế nào?
Mỗi người lớn đều có những hiểu biết riêng, kinh nghiệm cuộc sống riêng, quan điểm riêng,cách tiếp cận và phân tích riêng về một vấn đề nào đó Đó là những tiềm năng to lớn của bảnthân họ, có tác động tích cực hoặc hạn chế đến nội dung, phương pháp và kết quả học tập củahọ
Nói chung đặc điểm học tập của người lớn là đề cao vai trò tự nhận thức, không muốn bị lệthuộc, áp đặt, muốn được THV và các TDV khác tôn trọng, chia sẻ và chấp nhận những giảipháp của họ, đồng thời hỗ trợ, bổ sung để họ hoàn thiện kiến thức, kỹ năng
Người lớn là những người đã có kinh nghiệm, vốn sống và có những đặc điểm tâm lí khácvới trẻ em, do vậy việc học tập của người lớn cũng có những đặc điểm khác biệt với việc họctập của trẻ em, đó là không thể bắt người lớn học Người lớn sẽ tự tìm thấy động cơ học tậpkhi bài học giúp họ giải quyết những khó khăn đang gặp
giúp họ chia sẻ kinh nghiệm riêng và tạo điều kiện để họ thảo luận với người khác
Người lớn thích thú và học hỏi nhanh về những điều liên quan tới cuộc sống của họ TDVcần tạo điều kiện để họ chia sẻ việc lập kế hoạch, chọn đề tài và tham gia đánh giá thườngxuyên những gì họ đang thực hiện
Những người lớn có ý thức về nhân phẩm Họ phải được kính trọng mọi lúc Không nên
để họ cảm thấy bị bẽ mặt hoặc bị cười cợt trước mặt người khác
Trí nhớ của người lớn ngày càng kém đi nhưng khả năng quan sát và lý luận của họthường mạnh mẽ hơn
Học tập có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng nhìn chung nó được hiểu là một sự thayđổi về hành vi, kiến thức, thái độ Đối với người lớn, học tập không chỉ là tiếp nhận kiến thức,
lý thuyết theo một chiều, mà đồng thời còn là một quá trình sử dụng khả năng của mình đểphân tích, chọn lọc và quyết định sử dụng những gì học được cho chính công việc của mình
Bạn có thể tối đa hoá hiệu quả học tập của TDV bằng cách kết hợp các nguyên tắc họccủa người lớn như sau:
Những cuộc trắc nghiệm cho thấy:
Người ta nhớ 20% những gì họ nghe
40% những gì họ nghe và thấy
và 80% những gì họ tự khám phá ra
Trang 36Thông tin có ý nghĩa
Người ta sẽ hiểu (và học được) chỉ khi nào thông tin đưa ra có liên quan đến kiến thức hiện tạicủa họ Sự liên quan này giúp họ hiểu được những kiến thức mới
Nếu thông tin mới không có ý nghĩa với người học, hay người học không thấy được giá trịcủa việc học những thông tin đó, họ sẽ không học
Bởi vậy:
Tìm hiểu xem học viên đã biết những gì và đã có những kinh nghiệm nào
Lựa chọn thông tin phù hợp với mức độ kiến thức và nhận thức của người học
Đi từ cái đã biết đến cái chưa biết (đối với học viên)
Sử dụng nhiều ví dụ, minh hoạ, so sánh tượng trưng, trường hợp thực tế
Đảm bảo rằng thông tin đưa ra có tính thực tế và có thể áp dụng được khi người họctrở về công việc thường xuyên của họ
Học tích cực
Người ta học nhanh hơn và hiệu quả hơn nếu họ được tham gia tích cực vào quá trình họctập Sự hứng thú của họ cũng sẽ tăng lên
Bởi vậy:
Đặt câu hỏi để kích thích sự suy nghĩ và hứng thú
Sử dụng bài tập thực hành, cầm tay chỉ việc nếu có thể
Sử dụng công việc, dự án thật
Sử dụng các phương pháp tập huấn có thảo luận
Đảm bảo ít nhất 50% thời gian tập huấn là dành cho học viên làm bài tập
Thông tin đầu và cuối
Người ta thường nhớ nhiều những gì học đầu tiên và sau cùng và nhớ được ít phần giữa.Mười phút đầu và mười phút cuối là thời gian học được nhiều nhất
Bởi vậy:
Giới thiệu chung những gì sẽ học
Cấu trúc những bài học ngắn có nghỉ giữa giờ để hạn chế khoảng thời gian giữa
Nhắc lại thường xuyên cho học viên về sự liên hệ logic giữa các bài học
Tóm tắt những điểm quan trọng cuối mỗi bài học
Phản hồi
Việc học sẽ hiệu quả hơn khi THV và TDV thường xuyên phản ánh cho nhau những ý kiến,suy nghĩ của mình về phương pháp, nội dung, bầu không khí … THV cần nghe phản hồixem việc học tập của TDV đang tiến triển ra sao và TDV cần nghe phản hồi về hiệu quả làmviệc của mình
Bởi vậy:
Đưa ra phản hồi chính xác (về kết quả công việc)
Trang 37 Giải thích những điều cần phải làm để nâng cao hiệu quả làm việc
Thảo luận và sửa chữa những chỗ còn sai trong cách làm việc, không phê bình
Đưa ra bài tập đòi hỏi học viên nhớ lại những điều đã học
Yêu cầu học viên tóm tắt lại những ý chính trong bài học trước
Dành thời gian cho phần củng cố
Đưa ra một bảng câu hỏi kiểm tra tóm tắt
Khuyến khích
Việc học tập sẽ đạt hiệu quả cao hơn nếu TDV được động viên, khích lệ thường xuyên
Bởi vậy:
Đảm bảo rằng bài tập đừng khó quá, vừa sức của TDV
Không làm cho học viên bị quá tải về thông tin ngay từ đầu
Luôn đánh giá cao sự tiến bộ
Hỏi học viên xem điều gì sẽ giúp cho việc học dễ dàng hơn, làm điều đó nếu có thể
Hãy có phần thưởng nếu có thể
Học bằng nhiều giác quan
Phương pháp tập huấn sử dụng hai hay nhiều giác quan sẽ có hiệu quả cao hơnphương pháp chỉ sử dụng một giác quan
Có thể biểu diễn nguyên tắc này trên một hình nón như sau:
Bởi vậy:
Diễn thuyết
Chữ viết
Tranh ảnh
TV hình ảnh
di động
Phim video hay tranh ảnh kèm lời thuyết minh
Biểu diễn kèm với thảo luận
Thực hành
Thực tế làm việc
Trang 38 Kết hợp giải thích và biểu diễn
Cố gắng kết hợp giải thích, biểu diễn và học viên thực hành
Sử dụng đồ dùng trực quan
Dùng ví dụ hoàn chỉnh để làm nổi bật những trọng tâm
Sử dụng bài tập tình huống, bài tập thực hành
Sử dụng thiết bị phù hợp
Sự học tập của người lớn có thể đạt được nhiều kết quả hơn khi:
Tạo cơ hội cho họ tham gia tích cực vào qúa trình xác định mục tiêu
học tập của chính mình.
Nội dung của bài học được thiết kế trên các tình huống thực tế hoặc
các vấn đề có thực mà họ đã trải nghiệm hoặc đang phải đối đầu với
chúng.
Tập huấn viên dùng nhiều phương pháp truyền đạt khác nhau và
khuyến khích học viên tham gia một cách tích cực.
Trọng tâm của hoạt động học tập là để nhận diện vấn đề và giải
quyết vấn đề.
Trang 39BÀI 5: KHÁI NIỆM VÀ NGUYÊN TẮC TẬP HUẤN
CÓ SỰ THAM GIA
1 Định nghĩa:
"Sự tham gia học tập" không đơn giản chỉ là người học
đến tham dự lớp học và thu nhận kiến thức mà người
học đóng vai trò chủ động và người dạy ở vai trò tạo
thuận lợi Trong tiến trình học, người học tham gia chia
sẽ kinh nghiệm của mình, tự khám phá cái mới (kiến
thức mới), tự nhận ra vấn đề và đưa ra các biện pháp
giải quyết
Lấy TDV làm trung tâm:
- Tập trung vào việc đáp ứng đúng nhu cầu (kiến thức, kỹ năng và thái độ) của TDV(tham dự viên)
- Tạo môi trường học tập phù hợp với trình độ, tuổi tác và điều kiện tham gia của ngườihọc
- Người học là người được hưởng lợi nhiều nhất từ khóa học
- Người học đóng vai trò chủ động (tự học, tự khám phá) trong tiến trình học THV (tậphuấn viên) khích lệ sự tham gia tích cực của mỗi TDV và tinh thần học hỏi lẫn nhau,hạn chế thụ động tiếp nhận một chiều
Phương pháp tập huấn có sự tham gia (phương pháp giáo dục chủ động) là phương pháp lấyTDV làm trung tâm Với phương pháp này, tập huấn viên không chỉ truyền đạt bằng thuyếttrình đơn thuần mà phải biết kết hợp nhiều hình thức như thảo luận nhóm, giải quyết các vấn
đề, cùng chơi các trò chơi, đóng vai, cùng tham gia ra quyết định và làm việc theo nhóm Cácphương pháp này nhằm tạo điều kiện cho TDV sử dụng các kiến thức, kỹ năng sẵn có củamình, chủ động tham gia cùng THV thực hiện các nội dung và hoạt động của bài học để cùngđạt kết quả cao nhất
2 Sự khác nhau giữa dạy học truyền thống và tập huấn cùng tham gia
Dạy học truyền thống
Đặc điểm của dạy học truyền thống:
- Theo phương pháp này, THV kiểm soát toàn bộ quá trình và nội dung học tập
- Không khí lớp học nghiêm trang
- Kiến thức được truyền đạt một chiều từ THV đến TDV
- THV hướng dẫn là chính và là trung tâm chú ý của mọi người, mọi hoạt động
- Kết quả học tập được đánh giá qua bài kiểm tra định kỳ
- Chủ yếu tập trung vào truyền đạt giải thích thông tin theo như nội dung tài liệu đãviết
- Chủ yếu tập trung vào kỹ năng, kỹ thuật như các kỹ năng học tập và kiến thức về cácchủ đề khác nhau
- TDV thụ động nghe giảng, phải ghi nhớ kiến thức do THV truyền đạt và luyện tậptheo khuôn mẫu của các bài tập
Trang 40- TDV luôn ở vị trí thấp hơn.
Ưu điểm:
- Nội dung có tính chất hệ thống và nâng cao dần
- Dễ đánh giá thông qua bài kiểm tra
Hạn chế:
- TDV thụ động trong nghe giảng và ghi chép thông tin, có khi không hiểu được thôngtin đó nói gì
- TDV phải học cả những cái mà có thể họ không cần
- TDV ở thế bị động khi tiếp thu kiến thức nên dễ buồn chán
- TDV không được hoặc ít được thực hành nên có thể họ tiếp thu không hết những kỹnăng mà họ cần
- THV có thể không bao giờ biết chắc được rằng TDV có thể hiểu bài và có vận dụngkiến thức và kỹ năng mới vào thực tế không
Tập huấn cùng tham gia
Đặc điểm của tập huấn cùng tham gia:
- THV hướng dẫn TDV xác định lợi ích của việc học đối với cuộc sống và công việchàng ngày của họ
- TDV là trung tâm của quá trình học tập THV chỉ là người điều hành, định hướng, dẫndắt quá trình học tập của TDV thông qua việc huy động kiến thức, kinh nghiệm và kỹnăng vốn có của họ
- Kiến thức thu được thông qua việc các TDV tự tìm ra vấn đề của mình và cùng nhautìm cách giải quyết vấn đề đó
- Kiến thức được truyền đạt bằng nhiều cách từ THV đến TDV và từ TDV đến TDV
- Kết quả học tập được đánh giá thông qua việc quan sát, đo lường sự thay đổi trongnhận thức, thái độ và hành vi của TDV
- Một loạt các phương pháp cùng tham gia được sử dụng đồng thời với việc sử dụngcác công cụ, phương tiện dạy học khác nên khuyến khích được TDV tích cực tiếp thukiến thức và thực hành có hiệu quả kỹ năng mới
- Không khí học tập thoải mái
Ưu điểm:
- TDV học được những gì họ cần
- Mọi người trong lớp cùng suy nghĩ
- Mọi người có thể giúp đỡ lẫn nhau
- Những kiến thức và kỹ năng của TDV được tôn trọng, phát huy
- TDV cảm thấy tự tin hơn và tự giác giúp đỡ nhau
- TDV được động viên, khích lệ
- TDV được thực hành nhiều về kỹ năng mới được học
- Mọi người đều cảm thấy bình đẳng trong học tập
Hạn chế:
- Kiến thức học được không theo hệ thống