sử, trong cuộc kháng chiến chống pháp, Mỹ vì phải chạy giặc, ẩn nấp trong rừng sâu, trong hang đá, không có nơi sống cố định, người Xơ Đăng làm túp lèo để sinh sống, người dân đã không c
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
- -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài: TẾT GIỌT NƯỚC CỔ TRUYỀN CỦA NGƯỜI XƠ ĐĂNG
Sinh viên thực hiện : Hồ Văn Thoảng Lớp : 14SGC
Giảng viên hướng dẫn : Dương Đình Tùng
Đà Nẵng,05/2018
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… …7
1 Tính câp thiết của đề tài nghiên cứu……….………….…7
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu……….8
2.1 Mục tiêu……… …….…8
2.2 Nhiệm vụ……… …… 8
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… …8
3.1 Đối tượng nghiên cứu……… ….… 8
3.2 Phạm vi nghiên cứu……… ….….8
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu……… …….9
4.1 Cơ sơ lý luận……… ……… … 9
4.2 Phương pháp nghiên cứu……… ….9
5 Tổng quan về đề tài nghiên cứu……… ……… … 9
6 Bố cục của đề tài……… …… ….10
CHƯƠNG 1:KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI XƠ ĐĂNG Ở NAM TRÀ MY- QUẢNG NAM……… … … 11
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của huyện Nam Trà My… 11
1.1.1 Vị trí địa lý……… …… 11
1.1.2 Điều kiện tự nhiên……… 11
1.1.3 Điều kiện kinh tế- xã hội……… 12
1.2 Người Xơ Đăng ở Nam Trà My……… … 17
1.2.1 Địa bàn cư trú của người Xơ Đăng……… 17
1.2.2 Vài nét về tộc người Xơ Đăng……… ….19
1.2.3 Tiếng nói, chữ viết ……… …35
1.3 Đời sống văn hóa tinh thần của người Xơ Đăng……… … 36
1.3.1 Văn hóa lễ hội……… 36
1.3.2 Văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo……… 42
1.3.3 Vai trò của tín ngưỡng đối với sự phát triển của người Xơ Đăng…… ……43
Trang 4CHƯƠNG 2: CƠ SỞ HÌNH THÀNH TẾT GIỌT NƯỚC CỦA NGƯỜI XƠ
ĐĂNG……… 45
2.1 Tết giọt nước……… 45
2.1.1 Thời gian và cách thức tổ chức……… 45
2.1.2 Nghi lễ bắc máng nước, nghi lễ, nghi thức trong ngày tết và sau ngày tết…49 2.1.3 Cây nêu……… 54
2.1.4 Đối tượng tham gia……… …58
2.1.5 Trang phục, âm nhạc (nhạc cụ), điệu múa, ẩm thực, hoạt động thể thao trong ngày tết ……… …59
2.2 Sự đoàn kết, cố kết trong ngày tết……… ….70
2.3 An ninh Chính trị, trật tự, an toàn xã hội……… 73
2.4 Thực trạng bảo tồn tết giọt nước……… ……… …74
2.5 Giá trị của tết giọt nước……….… ….75
2.6 Biện pháp, giải pháp giữ gìn và phát huy giá trị tốt đẹp của tết giọt nước, nét văn hóa của người Xơ Đăng………76
2.6.1 Các giải pháp về kinh tế……… …….76
2.6.2 Các biện pháp, giải pháp về chính trị- tư tưởng……… …82
2.6.3 Các giải pháp về văn hóa, giáo dục……… ….83
2.6.4 Các giải pháp về du lịch……… ….88
KẾT LUẬN ……… …90
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… …92
Ý KIẾN CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN ……… …….94
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cảm đoan số tài liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp
này là trung thực và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận tốt nghiệp này đã đƣợc cảm ơn và mọi trích dẫn trong khóa luận đã chỉ rõ nguồn gốc, đƣợc phép công bố
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Để khóa luận đạt được kết quả tốt đẹp, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các phòng, ban, thầy cô giáo trong khoa và trong trường Với tình cảm chân thành, sâu sắc, sự thành kính, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn đối với quy thầy cô
đã tạo điều kiện giúp đỡ tận tình cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Đặc biệt cho tôi xin gửi tới Thầy Dương Đình Tùng lời chào trân trọng, lời chúc sức khỏe và lời cảm ơn sâu sắc Nhờ sự giúp đỡ, dạy dỗ, chỉ dạy tân tình, chu đáo
của thầy, đến nay tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Tết giọt nước
truyền thống của người Xơ Đăng”
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo khoa Giáo dục Chính trị, lãnh đạo trường Đại học Sư phạm- Đại học Đà Nẵng đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Với thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế của một sinh viên, khóa luận sẽ còn nhiều thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự chỉ dạy, đóng góp ý kiến của các thầy
cô, để tôi bổ sung, sửa lại những gì còn thiếu sót, và sẽ giúp ích cho tôi sau này
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính câp thiết của đề tài nghiên cứu
Việt Nam có 55 dân tộc anh em, sinh sống trên toàn đất nước Trong đó có dân tộc Xơ Đăng, sinh sống chủ yếu ở các tỉnh, thành phố: Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk
Mỗi một dân tộc đều có những nét văn hóa độc đáo riêng, thể hiện tính cách và văn hóa của dân tộc đó Trong thời đại ngày nay việc giữ gìn phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc là một yêu cầu cần thiết
Tết giọt nước là tết truyền thống cuả người Xơ Đăng, qua lễ tết thể hiện tâm tư tình cảm mọi người dành cho nhau, là sự tạ ơn của dân làng đối với các vị thần linh, ông bã đã quá cố, luôn ủng hộ, giúp đỡ bảo vệ dân làng Là sự kết thúc năm
cũ, bất đầu một năm mới, cho hoạt động lao động sản xuất của dân làng Là sự hội
tụ của dân làng, bạn bè, họ hàng gần xa về chung vui cùng dân làng, là sự vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi của dân làng qua một năm lao động vất vả, cầu mong mọi thành viên trong gia đình cũng như dân làng luôn mạnh khỏe Vật nuôi đầy đàn, mùa màng tốt tươi, dân làng ăn no, mặc đủ, có cuộc sống yên vui, hạnh phúc, sung sướng Sự xiết chặt tình đoàn kết, tình làng nghĩa xóm, mọi người yêu thương, giúp đỡ nhau trong hoạt động sản xuất, trong cuộc sống, tắt lửa tắt đèn có nhau Như người xưa có câu “bán họ hàng xa mua láng giềng gần”, “bầu ơi thương lấy bí cùng tuy rằng khắc giống nhưng chung một giàn”, “lá lành đùm lá rách”…
Chính sách, quan điểm của Đảng, Nhà nước là giữ gìn và phát huy văn hóa của từng dân tộc Và trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa III đã khẳng định, hoàn thành việc thực hiện chiến lược: “Xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam đậm
đà bản sắc văn hóa dân tộc” để bảo tồn giá trị truyền thống dân tộc và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc Do vậy, việc nghiên cứu giữ gìn tết giọt nước của người
Xơ Đăng là cần thiết
Là người con của tộc người Xơ Đăng, bản thân muốn tìm hiểu sâu sắc về cội nguồn của dân tộc nói chung và tết giọt nước nói riêng, từ đó để có những biện pháp, cách thức giữ gìn phát huy giá trị tốt đẹp của dân tộc
Trang 8Với những lý do trên, là người con của tộc người Xơ Đăng tôi nhận thấy việc giữ gìn phát huy giá trị tốt đẹp của dân tộc là rất cần thết trong giai đoạn hiện nay
Tôi quyết định chọn đề tài: “Tết giọt nước cổ truyền của ngươi Xơ Đăng” là đề tài
nghiên cứu của mình
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
Tìm hiểu giá trị tốt đẹp của tết giọt nước, cũng như nhưng nét văn hóa tốt đẹp của dân tộc, giữ gìn, phát huy, phát triển những giá trị tốt đẹp đó
Làm rõ những giá trị về tết giọt nước
Khắc họa bức tranh tương đối đầy đủ về tết giọt nước của người Xơ Đăng Qua
đó cho thấy việc giữ gìn nét văn hóa truyền thống của người Xơ Đăng trong giai đoạn hiện nay là cần thiết
Đề tài đề ra một số giải pháp nhằm giữ gìn giá trị tốt đẹp của tết giọt nước cũng như nét văn hóa tốt đẹp của dân tộc Xơ Đăng.]
2.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục tiêu trên, đề tài có những nhiệm vụ sau:
Phân tích đặc điểm kinh tế, xã hội, phân bố dân cư của người Xơ Đăng ở Nam Trà My
Phân tích những nét đẹp văn hóa tốt đẹp của người Xơ Đăng như nhà ở, nhà Rông, tập tục ăn trầu cau, thuốc bột, hôn nhân, đám ma, phương tiện vận chuyển, công cụ lao động, của người Xơ Đăng, trong lao động sản xuất
Phân tích các hoạt động như: nghi lễ, trang phục, đồ ăn, thức uống, nhạc cụ, thể thảo trong ngày tết, đề ra những giải pháp, biện pháp giữ gìn, bảo tồn nét văn hóa tốt đẹp của dân tôc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tết giọt nước cổ truyền của người xơ đăng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Người Xơ đăng ở Nam Trà My- Quảng Nam
Trang 94 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sơ lý luận
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là cơ sở chủ đạo cho việc nghiên cứu đề tài Quan điểm điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc, va bảo tồn vân hóa truyền thống của dân tộc là định hướng trong nghiên cứu
và đề xuất giải pháp
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phép biện chứng duy vật là phương pháp chủ đạo trong nghiên cứu chủ đạo của
đề tài Bên cạnh đó còn có các phương pháp cụ thể như: Phân tích- tổng hợp, khái quát hóa, từu tượng hóa, diễn giải
5 Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Trước đây đã có những đề tài nghiên cứu liên quan đến đề tài của tôi như: Người Xơ đăng ở Việt Nam NXB Trung tâm khoa học và nhân ( năm 1998)
Trong cuốn Văn hóa ẩm thực của người Xơ Đăng, đây là đề tài cấp bộ do TS Nguyễn Thị Hòa làm chủ nhiệm, Viện khoa học xã hội vùng Tây Nguyên chủ trì Nội dung của cuốn sách được trình bày trong ba chương: Về văn hóa ẩm thực của người Xơ Đăng Môi trường, nhu cầu và đặc trưng bản sắc văn hóa ẩm thực của người Xơ Đăng Biến đổi, nguyên nhân và quá trình tiếp biến ẩm thực của người
Xơ Đăng
Trong cuốn Văn hóa làng miền núi trung bộ Việt Nam, do tác giả Nguyễn Hữu Thông (2005) Nxb Thuận Hóa, nghiên cứu về lĩnh vực văn hóa- xã hội ở miền núi trung bộ Việt Nam
Trong cuốn Lễ hội Tây Nguyên của tác giả Trần Phong (2008), Nxb Thế giới, nghiên cứu về các mặt đời sống, sinh hoạt và lễ hội của Tây Nguyên
Cuốn Nhà rồng tây Nguyên của tác giả Nguyễn Văn Kự và Lưu Hùng (2007), Nxb Thế Giới, cuốn sách viết về nhà rông Tây Nguyên, đưa ta đi qua và dừng lại
ở 66 ngôi nhà rồng, cho ta biết được đời sống cộng đồng lẫn bên trong và bên ngoài
Trang 106 Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục đề tài gồm hai
chương
Trang 11Phía Đông giáp huyện Sơn Tây- tỉnh Quảng Ngãi
Phía Đông nam, phía Nam và phía Tây nam giáp với các huyện Đắk Glei, huyện TuMơ Rông của tỉnh Kon Tum
Phía tây Bắc giáp với huyện Phước Sơn-tỉnh Quảng Nam
Phía Bắc giáp với huyện Bắc Trà My- tỉnh Quảng Nam
Về giao thông: Huyện Nam Trà My nằm trên quốc lộ 40B nối tỉnh Quảng Nam
và tỉnh Kon Tum, toàn tuyến khoảng hơn 250 km
Nằm ở trung tâm của hai tỉnh Kon Tum và Quảng Ngãi, hiện nay đã hình thành các tuyến đường nhánh nối liền giữa huyện Nam Trà My với các tỉnh lân cận như tuyến đường: Trà Leng - Phước Sơn nối đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 40B – Đắk
Tô nối đường Hồ Chí Minh; Tuyến đường Đông Trường sơn (Lạc Dương - Lâm Đồng - Thạnh Mỹ - Nam Giang)
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Nam Trà My là huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam, nằm dưới chân dãy núi Ngọc Linh Diện tích tự nhiên của huyện là 82.235 ha, tức là 822, 35 km2 Địa hình của huyện chủ yếu là đồi núi, hiểm trở, phức tạp, độ cao trung bình 800m so với mực nước biển Có khối núi Ngọc Linh cao đồ sộ là khối núi cao nhất miền Trung Việt Nam, nằm trên dãy Trường Sơn, là một phần của Trường Sơn Nam, nằm trên phần cao nguyên phía Bắc Tây Nguyên, trong địa phận các tỉnh Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai, có độ cao khoảng 800-2.800m Khối núi Ngọc Linh nói riêng và những cánh rừng nguyên sinh trên địa bàn huyện nói chung là nơi bảo
Trang 12tồn những nguồn gen động thực vật quý hiếm, giữ đất, chống sạt lỡ đất, giữ nguồn nước, tạo ra môi trường xanh, tạo ra không khí trong lành, mát mẻ, được người dân nơi đây giữ gìn và bảo vệ Những vùng rừng nguyên sinh rộng lớn ở độ cao từ 1.200m trở lên tại xã Trà Linh, huyện Nam Trà My (tỉnh Quảng Nam) có độ che phủ trên 70% Ðến nay, độ che phủ rừng trên địa bàn huyện Nam Trà My đạt hơn 52%, dự kiến đến năm 2020 đạt 65%, năm 2025 đạt 80%
Huyện Nam Trà My có hệ thống sông, suối dày đặc, có hai sông lớn là sông La
và sông Tranh, là thượng nguồn của Sông Thu Bồn đỗ ra Biển Đông tại Hội An- tỉnh Quảng Nam Hai con sông lớn này tạo ra nguồn phù sa thuận lợi cho việc trồng trọt và làm ruộng bậc thang cũng như thuận lợi cho việc xây dựng thủy điện
và hiện nay trên con sông này đã xây dựng thủy Điện sông Tranh 2 tại huyện Bắc Trà My, và thủy điện sông Tranh 3 tại Trà Linh, nơi mà con sông đã đi qua và đỗ
ra biển và hiện nay đang quy hoạch xây dựng thêm một thủy điện sông Tranh tại huyện Nam Trà My
Khí hậu: Có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt; mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau và mùa khô từ tháng 2 đến tháng 8, lượng mưa trung bình hằng năm 670- 770 mm, nhiệt độ thấp nhất 70 ºC , nhiệt độ cao nhất 320 ºC ; độ
ẩm bình quân trong năm là: 88%; số giờ nắng trong năm là: 1.874 giờ
Thổ nhưỡng: Đất đai, thổ nhưỡng chủ yếu là đất Feralit đỏ vàng Thuận lợi cho việc trồng trọt thực phẩm như gạo đỏ, khoai, sắn, ngô, rau, bầu bí, thuốc lá…, trồng rừng, các loại cây chủ yếu như keo, tre, dỗi, sao đen…, trồng các loại cây ăn quả như cây chuối, cây mít, cây xoài, chôm chôm, đu đủ… là nơi thuận lợi trồng các loại dược liệu quý hiếm như sâm ngọc linh, sâm nước, sâm nam, quế, đẳng Sâm (Codonopsispilosula), Sa Nhân (Amomumvillosum Lour), Đương Quy (Angelica sinensis), Giảo cổ lam (Gynostemmapentaphyllum)… và cũng là nơi thuận lợi cho việc làm ruộng bậc thang để phục vụ cuộc sống người dân nơi đây và tạo nên một cảnh quan du lịch kì thú
1.1.3 Điều kiện kinh tế- xã hội
Nam Trà My là một phần của huyện Trà My cũ của tỉnh Quảng Nam Ngày 20 tháng 6 năm 2003, Chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ban hành
Trang 13nghị định số 72/2003/NĐ-CP, chia tách huyện Trà My của tỉnh Quảng Nam thành hai huyện Nam Trà My và Bắc Trà My như hiện nay [24] Trên địa bàn huyện hiện nay gồm có mười xã, và có 43 thôn: Xã Trà Leng (4 thôn), Trà Dơn (5 thôn), Trà Tập (4 thôn), Trà Mai (3 thôn), Trà Don (3 thôn), Trà Vân (3 thôn), Trà Vinh (4 thôn), Trà Cang (7 thôn), Trà Nam (5 thôn), Trà Linh (4 thôn)
Vào thời điểm năm 2014 Nam Trà My có diện tích tự nhiên là 82.546.04 ha Đất rừng 43.246.32 ha, trong đó rừng tự nhiên 42.926.48 ha, rừng trồng là 319.84 ha Nam Trà My là một trong những huyện nghèo của tỉnh Quảng Nam nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung Địa hình chủ yếu là đồi núi rất hiểm trở, khó khăn, trên địa bàn huyện được Đảng, Nhà nước quan tâm thì nhìn chung tất cả các xã đã
có đường nhựa và mạng lưới điện về tới trung tâm xã, tuy nhiên ở các thôn thì đường giao thông chưa tới Do địa hình hiểm trở chủ yếu là đồi núi, và người Xơ Đăng thì chủ yếu sống ở chân núi hay sườn núi cao, khó khăn cho việc mở trục đường giao thông và đưa mạng lưới điện cung cấp cho nhân dân trên địa bàn huyện, một phần cũng do kinh phí đầu tư hỗ trợ còn hạn hẹp
Tuy địa hình chủ yếu là đồi núi nhưng Nam Trà My, có điều kiện rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và trồng các cây dược liệu đem lại hiệu quả kinh tế rất cao như cây sâm Ngọc Linh, sâm nam, sâm nước, cây quế, cây chuối, cây keo, gạo đỏ… cụ thể về cây sâm Ngọc Linh, trong những năm 1980, người dân địa phương chưa biết cây sâm có giá trị kinh tế cao Nhưng hiện nay 1 kg sâm Ngọc Linh được 5 tuổi có giá là 60 triệu đồng, cây 10 tuổi có giá là 120 triệu đồng Điều này thu hút người dân nơi đây trồng sâm, không những thế còn thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh vào trồng sâm Ngọc Linh Trên địa bàn huyện trong những năm gần đây thường tổ chức hội Chợ Sâm Ngọc Linh và thu hút được nhiều du khác đến huyện mua các sản phẩm trưng bày tại hội chợ Từ ngày 1 đến ngày 3 tháng 4 năm 2018 tiếp tục diễn ra hội chợ Sâm Ngọc Linh lần thứ 7, trong những ngày diễn ra Phiên chợ có trên 2.500 lượt người đến thăm quan, mua sắm, với doanh thu thống kê được khoảng 4,9 tỷ đồng, trong đó riêng mặt hàng Sâm Ngọc Linh bán được khoảng 64 kg, thu về gần 4,7 tỷ đồng [15]
Trang 14Cây Sâm Ngọc Linh
Củ sâm Ngọc Linh
Ngày nay đông đảo người dân Xơ Đăng đầu tư trồng sâm Ngọc Linh Hằng năm
từ các nguồn vốn khác nhau như Nghị quyết 30a/CP, chương trình 135 Ủy ban nhân dân huyện đã hỗ trợ bà người dân các xã khoảng 20.000 – 30 000 cây sâm
Trang 15giống Hiện nay để có sự đầu tư phát triển kinh tế tại vùng sâm Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam đang có chủ trương khảo sát, lập dự án đầu tư vào phát triển mạng lưới giao thông vào vùng sâm, kinh phí khoảng 3.000 tỷ đồng ( tương đương 140
000 000 USD) Bên cạnh đầu tư trồng cây sâm có giá trị kinh tế cao, hầu như người dân Xơ Đăng ở Nam Trà My nhà nào cũng đầu tư trồng cây quế - một loại cây đã được nhiều tác giả in giấu, thể hiện nó trong nhiều bài hát khi viết về quê hương Trà My, nói đến Trà My người ta luôn nhớ đến hình ảnh cây quế, một loại cây đã trở thành đặc sản của quê hương Trà My Trong bài hát Trà My yêu thương,
mở đầu bài hát nhạc sỹ Hoàng Bích đã nói đến hình ảnh cây quế “ Chiều đi trên vùng cao tôi nghe hương quế ngạt ngào”, hình ảnh cây quê thân thiện, gần gũi với tất cả mọi người, và nó để lại một giấu ấn khó phải cho du khách khi đến quê hương Trà My Đến mùa khai thác quế, thường là từ tháng 3 đến tháng 7, đi đâu cũng nghe hương quế thơm lừng, dù đi xa hình ảnh cây quế, mùi hương cây quế vẫn in sâu trong lòng của người con Xơ Đăng
Vỏ cây quế Trà My
Trang 16Người Xơ Đăng khai thác quế
Về chăn nuôi: Nam Trà My có nhiều giống vật nuôi như dê, bò, trâu, heo, gà vịt, trong đó đàn heo, đàn bò chiếm số lượng lớn so với các giống vật nuôi khác
Về du lịch, Nam Trà My có cảnh quan quan rất đẹp, nhiều cánh đồng lúa bạt ngàn, đến mùa lúa chín, tạo ra một khung cảnh tự nhiên tuyệt đẹp mà nhiều du khách hay chính người dân Xơ Đăng chưa khám phá được vẻ đẹp này Nhiều thác nước đẹp, nước sông suối mát mẻ, trong lành… cụ thể như thác năm tầng, đây là thác nước trên một côn sông, có năm tòa thác nối tiếp nhau, tạo nên một cảnh tượng rất đẹp Thác năm tầng ở bên cạnh đường giao thông lên trung tâm huyện Nam Trà My Nhiều du khách khi đến Nam Trà My đã dừng chân nghỉ ngơi, tắm thác, vui chơi, tổ chức ăn uống thác năm tầng là một địa điểm lý tưởng cho mùa
hè nóng nực, vào mùa hè rất nhiều du khách đến tắm cũng như người dân đại
Trang 17phương Hay cảnh quan khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh, khu bảo tồn nhiều loại động thực vật quý hiếm, nhiều loại cây đại cổ thụ nghìn năm tuổi, khám phá mô hình trồng sâm của người Xơ Đăng, nó thu hút nhiều du khách đến khám phá tuy chưa có đường giao thông tới khu bảo tồn thiên nhiên này Khi hậu mát mẻ, trong lành cũng là một phần thu hút nhiều du khách đến với Nam Trà My Tuy nhiên huyện Nam Trà My chưa có nhiều chính sách đầu tư, phát triển du lịch
1.2 Người Xơ Đăng ở Nam Trà My
1.2.1 Địa bàn cư trú của người Xơ Đăng
Cho đến nay thì chưa có một tài liệu cụ thể nào nói về sự di cư của người Xơ
Đăng, di cư lên đồi núi Ngọc Linh hùng vĩ và một số nơi khác trong cả nước và
một phần nhỏ người Xơ Đăng di cư sang nước bạn Lào sinh sống Phải chăng là do
những cuộc xung đột với người Chăm (thế kỷ XII - XV), với người Lào (thế kỷ XVI), người Xiêm (thế kỷ XVIII - XIX), sự tràn lấn của các nhóm Môn - Khơ me, như Cơ tu, Bru, Tà Ôi từ Lào sang đã thu hẹp phạm vi cư trú của người Xơ Đăng Trên cơ sở đó người Xơ Đăng đã di cư đi tìm vùng đất mới và tìm thấy một nơi sinh sống lý tưởng là vùng núi Ngọc Linh chăng? Và có cuộc sống yên vui, hạnh phúc, sau những thế kỷ biến động trong cuộc sống, của lịch sử Đó mới chỉ là
giả thuyết
Dân tộc Xơ Đăng là một bộ phận của dân tộc Việt Nam, sinh sống chủ yếu ở các tỉnh, thành phố: Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Đắk Lắk, gồm 5 nhóm địa phương chính: Xơ Teng, Tơ Đrá, Mơ Nâm, Ca Dong và Hà Lăng; cư trú tập trung ở các huyện Đắk Tô, Sa Thầy, Đắk Glây, Kon Plông, Ngọc Hồi, Đắk Hà (tỉnh Kon Tum), huyện Sơn Hà (tỉnh Quảng Ngãi), huyện Bắc Trà My, Nam Trà
My (tỉnh Quảng Nam), huyện Cư M’gar, Krông Pak (tỉnh Đắk Lắk) Ngoài ra còn một phần nhỏ di dời về huyện Phước Sơn và huyện Hiệp Đức- tỉnh Quảng Nam và các tỉnh thành phố khác trong cả nước Ngoài ra, còn cư trú, sinh sống ở nước bạn Lào
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Xơ Đăng ở Việt Nam có dân số 169.501 người, có mặt tại 41 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Xơ Đăng cư trú tập trung tại tỉnh Kon Tum (104.759 người, chiếm 24,4% dân số toàn
Trang 18tỉnh và 61,8% tổng số người Xơ Đăng tại Việt Nam), Quảng Nam (37.900 người, chiếm 22,4% tổng số người Xơ Đăng tại Việt Nam), Quảng Ngãi (17.713 người), Đắk Lắk (8.041 người), Gia Lai (705 người) [21]
Đơn vị cư trú của người Xơ Đăng thường được gọi là plei hay plây
Vào thời điểm chia tách ranh giới hành chính năm 2003 Nam Trà My có dân số
là 19.876 người, gồm các dân tộc Xơ Đăng, Ca Dong, Mơ Nông, Co và dân tộc Kinh (chiếm 2% dân số toàn huyện) Đến năm 2014 dân số toàn huyện là 27.297 người cụ thể là ở các xã theo thống kê về dân số
Trà Dơn có tổng dân số là 3154 người trên 677 hộ, trong đó người Ca Dong (Xơ Đăng) chiếm 91.56% dân số toàn xã, dân tộc Kinh chiếm 6,61%, Mơ Nông chiếm 1,67%, dân tộc khác chiếm 0,17% Xã Trà Leng chủ yếu là người Mơ Nông sinh sống, dân tộc Xơ Đăng chỉ chiếm 0,55 % Tại Xã Trà Mai tổng dân số toàn xã tính đến thời điểm 2013 là 3567 người, trong đó người Ca Dong (Xơ Đăng) chiếm 76,68%, Mơ Nông và Cor chiếm 1,24%, dân tộc Kinh và dân tộc khác chiếm 22% Tại xã Trà Tập theo sự điều tra năm 2010, có tổng dân số là 2641 trên 547 hộ, chủ yếu là người Ca Dong (Xơ Đăng) sinh sống, dân tộc Kinh chiếm tỉ lệ nhỏ Tại xã Trà Vân tính đến thời điểm 9/2013 thì toàn xã có tổng số dân là 2396 người, trong
đó người Ca Dong (Xơ Đăng) chiếm 98%, ngươi Kinh chiếm 2% Tại xã Trà Vinh tính đến 12/2013 toàn xã có tổng số dân là 1786 người, trong đó Ca Dong (Xơ Đăng ) chiếm 98,5%, còn lại dân tộc khác chiếm 1,5% Tại xã Trà Don toàn xã có tổng số dân là 2210 người trên 538 hộ, chủ yếu là người Ca Dong (Xơ Đăng), dân tộc khác chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ Tại xã Trà Linh toàn xã có tổng dân số là 2454 người, trong đó người Xơ Đăng chiếm 99,11%, còn lại là dân tộc khác Tại xã Trà Nam tính đến 6/2014 toàn xã có tổng dân số là 3002 người, trong đó người Ca Dong (Xơ Đăng) chiếm 99,17%, dân tộc Kinh chiếm 0,83% Tại xã Trà Cang thì người
Xơ Đăng chiếm 99,29% tính đến thời điểm 11/2014
Trang 19Một góc nhỏ của huyện Nam Trà My
1.2.2 Vài nét về tộc người Xơ Đăng
“Xơ Đăng” là tên gọi theo phát âm của tiếng Xơ Đăng là X Tieng nó mang ý nghĩa là dân làng mình, dân mình, dân tộc mình”
Xơ Đăng còn là tên gọi chung, bao quát các nhóm nhỏ địa phương như Xơ Teng, Tơ Đrá, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu, Tơ Đrá
Người Xơ Đăng trước đây không có họ, để phân biệt nam và nữ, người Xơ Đăng dùng chữ cái A là dành cho con trai ví dụ như A Bảo, chữ Y là dành cho con gái ví
dụ như Y Thảo Tại Nam Trà My cũng như ở Bắc Trà My, Hiệp Đức hay Phước Sơn đều là các huyện của tỉnh Quảng Nam đa số đã lấy họ Hồ Trước công lao to
Trang 20lớn của Bác vì lợi ích của dân tộc, của nhân dân đã hy sinh lợi ích cá nhân, lãnh đạo nhân dân đánh giặc ngoại xâm, giành lại độc lập cho dân tộc, người Xơ Đăng lấy theo họ của Bác Hồ, để biết ơn sự hy sinh của người cho dân tộc, cũng như thể lòng thành kính, tình cảm yêu quý của người dân dành cho Bác Qua đây, cũng cho
ta thấy được tình cảm của người dân Xơ Đăng dành cho Bác là lớn đến nhường nào, một lòng trung thành theo Bác, theo Đảng, Nhà nước làm cách mạng, đoàn kết cung các dân tộc anh em đánh tan giặc ngoại xâm
Tương truyền về nguồn góc của người Xơ Đăng được thế hệ ông cha truyền lại cho con cháu sau này Ngày xưa mặt đất nơi mà người Xơ Đăng sinh sống là một mặt bằng, chỉ thấy chân trời nơi mà mặt trời lặng xuống để chuyển sang đêm Một ngày nọ khi dân làng đang có cuộc sống yên vui thì xảy ra một trận đại Hồng Thủy cuốn trôi hết mọi thứ cả người lẫn của cải, mặt đất chìm trong biển nước, một người con gái đã bồng một con chó đực chạy lên một ngọn núi, khi nước dâng cao thì đồi núi ấy cũng dâng lên, nước càng dâng lên ngọn núi ấy càng dâng cao, và cho đến khi trận đại Hồng Thủy kết thúc thì đồi núi ấy mới ngừng dâng cao, ngươi đời gọi ngọn núi ấy là “Ngọc Trót” Sau trận đại Hồng Thủy đó chỉ còn cô gái và con cho sống xót qua khỏi, bất đắc dĩ sau này giữa người con gái và con chó trở thành “vợ chồng”, sinh được một người con trai và một con gái Để duy trì được nồi giống hai anh em họ đã kết duyên lại với nhau, sinh con đẻ cái, con cháu của người Xơ Đăng từ đó ngày một đông hơn
Nhà Sàn: Nhà ở của người Xơ Đăng từ xa xưa chủ yếu là nhà sàn Cuộc sống ngày càng hiện đại, những văn minh tinh hoa của nhân loại được người Xơ Đăng học hỏi, tiếp thu vận dụng vào thực tế cuộc sống hằng ngày, hiện nay một số nơi đã không còn ở nhà sàn mà chuyển sang làm nhà đất Một số nơi thì có sự kết hợp hài hòa giữa nhà sàn và nhà đất, thông thường ngươi Xơ Đăng sẽ làm hai căn nhà, nhà bếp thường làm nhà sàn, để giữ gìn phát huy truyền thống của dân tộc mình, không
để nó mai mòn theo thời gian Một căn nhà sinh hoạt chính người Xơ Đăng thường làm nhà đất, đó là căn nhà tiếp đón bạn bè gần xa, tiếp đón họ hàng và khách quý của mình Phong tục tập quán ở nhà sàn của người Xơ Đăng đã có từ thời xa xưa, không biết từ khi nào, theo ông cha kể lại thì người Xơ Đăng làm nhà sàn để ở,
Trang 21một phần là để tránh thú dữ, vì phải sống ở vùng núi Ngọc Linh, nơi rất nhiều những thú dữ như hổ, báo, chó sói, gấu, voi, rắn, vắt, con rét… để giữ, bảo đảm tính mạng của gia đình, khi hoàng hôn xuống người Xơ Đăng thường nhốt con heo dưới sàn nhà để ban đêm khi có thú dữ về làng nó sẽ tấn công, ăn thịt con heo, như thế tính mạng con người được bảm đảm an toàn Mặc dù biết là mất vệ sinh, sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng vì sự an toàn của đại gia đình người Xơ Đăng đành phải chấp nhận Hiện nay tuy vẫn làm nhà sàn nhưng người Xơ Đăng không còn nhốt heo ở dưới sàn nhà, mà làm chuồng trại nuôi gia súc, gia cầm cách xa nhà
để giữ vệ sinh, bảo đảm về sức khỏe Người Xơ Đăng thích ở nhà sàn một phần là
nó thoáng mát vào mùa hè nóng nực, vì ngày xưa thì chưa có điện, chưa có máy quạt hay máy điều hòa như bây giờ Ngày xưa nhà ở ông cha thường làm một căn nhà to dài đủ cho đại gia đình ở, trong đó nhiều thế hệ con cháu, dòng tộc sinh sống hòa đồng với nhau, cùng làm, cùng ăn, cùng ở, tạo nên một khối đại đoàn kết trong gia đình, trong đó quyền lực thuộc về người đàn ông lớn tuổi nhất trong gia đình hay con trưởng trong dòng họ Ngôi nhà chủ yếu tận dụng những vật liệu có trong tự nhiên như lá tranh, lá dây mây, thân lồ ô, thân nứa chẻ ra, làm lớp che mái nhà Sàn nhà thì làm bằng lồ ô đập dập hay bổ bằng dao, tường nhà thì người Xơ Đăng đan những thân nứa đã được chẻ ra, hay đập dập Gỗ thì được dùng để làm trụ, cột nhà, thời xa xưa chưa có đinh như bây giờ người Xơ Đăng thường dùng dây mây đã được chẻ ra, gọt, đẽo kĩ lưởng để cột các trụ, mọi vị trí địa điểm cần cột và giữ lại cho ngôi nhà chắc chắn và an toàn Trong căn nhà thì được chia ra nhiều buồng, phòng cho con cháu trong gia đình, trung tâm căn nhà là nơi sinh hoạt chung, là nơi cúng bái mà cả đại gia đình phải tham gia không được vắng mặt một ai Là nơi để gia đình đón tiếp bạn bè, họ hàng xa, khách quý đến chơi, đến thăm gia đình
Trang 22Nhà sàn của người Xơ Đăng
Nhà Rông: Nhà Rông tiếng Xơ Đăng gọi là “Nhe Kuất” ngôi nhà linh thiêng của người Xơ Đăng nói chung và từng xóm, làng nói riêng Trước khi dựng lên ngôi nhà, già làng lựa chọn ví trí thuận lợi nhất, quan trọng nhất, phong thủy phù hợp và được dựng đầu tiên, sau đó người dân trong làng mới được dựng nhà của mình Ngôi nhà chủ yếu sử dụng vật liệu có sẵn trong tự nhiên như gỗ, tre, tranh, lồ ô, dây mây…,trụ nhà thường làm bằng cậy đại cổ thụ chắc chắn, nhà có hai mái, làm bằng lá tranh đã phơi khô, cao chót vót lên trời, trên đỉnh nhà thường có biểu tượng của thần mặt trời, hình con gà trống đang gáy Nhà Rông thể hiện một sự mạnh mẽ, quyết liệt, dũng mãnh hiên ngang giữa đất trời, trước những cơn bão, cơ mưa, sự tác động của tự nhiên Trong căn nhà thường trang trí những hoạt động sản xuất hằng ngày, hình của những con thú, vật nuôi, con chim, con cá, cây cỏ, hình ảnh của con người, cồng chiêng, chế, trống, hoa văn, họa tiết… nhà Rông thường ở trung tâm của buôn làng, đó là sản phẩm của dân làng, dân làng dùng bằng sực lực,
Trang 23mồ hôi, nước mắt, thời gian, tình cảm của mình gây dựng nên vì vậy tất cả dân làng có nhiệm vụ giữ gìn bảo vệ chung, là tài sản chung của dân làng
Người Xơ Đăng làm nhà Rông
Nhà Rông ( Nhe Kuất)
Trang 24Nhà Rông nơi diễn ra mọi hoạt động, sự kiện quan trọng của dân làng như lễ hội, cúng bái, tết, ăn mừng lúa mới, đâm trâu…nó như là trái tim, linh hồn của người Xơ Đăng, thể hiện sự trang trọng, linh thiêng, quyền uy, sự giàu sang phú quý của dân làng Theo quan niệm của người Xơ Đăng trong ngôi nhà sẽ có các vị thần, linh hồn của ông bà trú ngụ trong đó, để dõi theo, bảo vệ, che chở cho dân làng, phù hộ, giúp đỡ cho dân làng luôn làm ăn phát đạt, mùa màng tốt tươi, thú nuôi đầy đàn, thóc lúa đầy kho, không có thiên tai, dịch bệnh, mọi người luôn khỏe mạnh Nhà Rông là đại diện của dân làng, là nơi mọi người sinh hoạt chung, yêu thương, giúp đỡ, đùm bọc nhau trong cuộc sống Còn là nơi để họp, bàn công việc, tuyên truyền, quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Hiện nay để tưởng nhớ Chủ Tịch Hồ Chí Minh cũng như biết ơn đối với Bác, Đảng Và Nhà nước tại nhà Rông đã treo những hình ảnh của Bác, treo lá cờ tổ quốc, cờ Đảng
Không gian bên trong của Nhà Rông
Trang 25
Không gian bên trong của Nhà Rông
Tại Nam Trà My hiện nay nhà Rông đã bị mai mòn, chỉ còn làng Tắk Tố, thôn
3, Trà Don còn sự tồn tại của Nhà Rông Sự mai mòn của nhà Rông là một điều rất
là đáng tiếc, người Xơ Đăng nơi đây đã không giữ được và không khôi phục được nét văn hóa tốt đẹp đó Trong quá khứ tại Nam Trà My nhà Rông vẫn được người dân lưu giữ, trong cuộc kháng chiến thì nhiều nơi đã đánh mất nó Theo dòng lịch
Trang 26sử, trong cuộc kháng chiến chống pháp, Mỹ vì phải chạy giặc, ẩn nấp trong rừng sâu, trong hang đá, không có nơi sống cố định, người Xơ Đăng làm túp lèo để sinh sống, người dân đã không còn thời gian, không có tâm trí để dựng nhà Rông- dựng nhà Rông phải tốn kém biết bao nhiêu công sức, giọt mồ hôi, nước mắt, thời gian…nên người dân nơi đây đã không lưu giữ được văn hóa làm nhà Rông tại buôn làng Chiến tranh kết thúc người Xơ Đăng tại Nam Trà My đã không khôi phục lại, chỉ có dân làng Tắk Tố vẫn giữ gìn, bảo tồn ngôi nhà Rông, mọi hoạt động được diễn ra tại nhà Rông Một phần cũng do chính sách kinh tế mới của Đảng, Nhà nước, đầu từ xây dựng nhà Văn hóa tại các địa phương Thay vào đó người Xơ Đăng nơi đây đã chọn nhà của già làng để sinh hoạt, cúng bái, diễn ra mọi hoạt động văn hóa, lễ hội, mọi thủ tục phải thực hiện tại nhà già làng đầu tiên, già làng là người đầu tiên thực hiện mọi hoạt động trong làng, khi đã xong thì dân làng những người đàn ông hay phụ nữ tham gia các hoạt động lễ nghi mới được về nhà của mình và thực hiện việc cúng bái, lễ nghi tiếp theo tại nhà mình
Hiện nay tại Nam Trà My, nhiều nơi đã có nhà văn hóa được bê tông hóa, làm bằng mái tôn, người dân Xơ Đăng không thích và hầu như chẳng ai quan tâm, bảo
vệ, giữ gìn nó, mọi hoạt động của dân làng không diễn ra tại nhà Văn Hóa được bê tông hóa, chỉ có hoạt động của cơ quan Nhà nước hay các đoàn thể thì mới sử dụng đến nhà văn hóa như hoạt động tình nguyện Dường như nhà văn hóa đã bị lãng quên, nó vẫn đứng hiên ngang giữa đất trời nhưng chẳng mang một ý nghĩa gì cả, người dân không dồn công sức, mồ hôi, nước mắt, thời gian, tình cảm vào nó, nó như một vật trưng bày giữa buôn làng Nó không thể hiện quyền uy, linh hồn của dân làng như nhà Rông trước đây nữa Nhà văn hóa không do người dân quản lý,
mà do một người đại diện cho cơ quan Nhà nước nắm giữ, hầu như lúc nào nhà văn hóa cũng đóng cửa và trong đó không có trưng bày một thứ gì, chỉ là nhà trống không, không có một hình hài của con vật gì, điều đó càng làm người dân xa lánh
nó hơn và nhà Văn hóa được xây dựng cho cả thôn, nó không phải là của riêng xóm, làng cụ thể nào, nó được xây dựng ở một vị trí nào đó, không phải là trung tâm của buôn làng, vì là của chung nên không ai bảo vệ, người dân không quan tâm
Trang 27Gùi của người Xơ Đăng: Người Xơ Đăng chủ yếu làm nông nghiệp Trong cuộc sống hằng hình ảnh cái gùi cõng trên lưng của người phụ nữ hay đàn ông đã không còn xa lạ đối với người Xơ Đăng, đó là phương thức vận chuyển mọi vật dụng chủ yếu trong cuộc sống hằng ngày Người Xơ Đăng có nhiều loại gùi, gùi củi, gùi lúa…gùi ba ngăn của nam giới (còn gọi là gùi cánh dơi) Ngoài ra, hiện nay còn có thêm cái bao, được mua ở các quán tạp hóa làm vật dụng chứa đồ, vận chuyển đồ nhưng cái gừi vẫn là chính Mẫu mã, kích cỡ, kích thước, kiểu dáng cái gùi, có sự khác biệt rõ rẹt nó phụ thuộc vào tay nghề của người đan, sự tỉ mỉ, tinh tế, khóe léo của người sáng tạo ra nó Gùi không chỉ là phương tiện để vận chuyển sản phẩm lao động của người Xơ Đăng mà nó còn đem lại một nguồn thu nhập khá cao Những người thợ chuyên đan, sáng tạo ra nó với mẫu mã đẹp, chất lượng, đã thu hút đông đảo mọi người mua ủng hộ và đặt hàng Không những thế nó còn là một trong những vật trưng bày tại các nhà Rông của người Xơ Đăng Du khách, bạn bè đến từ phương xa sẽ chiêm ngưỡng nó, nó góp phần thể hiện nét văn hóa của người
Xơ Đăng
Những chiếc gùi của người Xơ Đăng
Trang 28Những chiếc gùi của người Xơ Đăng
Khó lúa: Người Xơ Đăng làm kinh tế nương rẫy, ruộng, những sản phẩm nông nghiệp như lúa thường được người Xơ Đăng cho vào gùi cõng về nhà, phơi cho lúa khô và đem cất lúa tại kho lúa cách làng tầm trăm mét Thời xa xưa do làm nhà bằng vật liệu từ rừng cụ thể là dùng lá tranh để làm mái che Lá tranh là thứ rất dễ
bị cháy nếu như gặp lửa và trong quá khi nhiều làng đã chìm trong biển lửa Một nhà bị cháy là càng làng sẽ bị thiêu rụi nếu không kịp dập lửa nhưng thông thường thì vào ban ngày trong làng chỉ có trẻ con và người già ở nhà, nếu xảy ra việc ngoài ý muốn sẽ không đủ sức để đối phó chỉ biết cách chạy cho thoát thân và chỉ biết quan sát từ xa khi có sự việc xảy ra ngoài ý muốn Chính vì thế người Xơ Đăng thường làm kho lúa cách xa làng, nếu như làng bị thiêu rụi thì những thứ quan trong vẫn còn ở trong kho Dù cách xa nhà, không có ai bảo vệ nhưng rất ít tình trạng người dân bị mất cắp Điều này cũng cho ta thấy người Xơ Đăng là những người chất phát, thật thà, có những phẩm chất đạo đức tốt Đó là một điều
Trang 29đáng quý, và cần phải duy trì những đức tính tốt như vậy, để làm gương, để mọi người học hỏi theo Như vậy sẽ tạo ra một xã hội tốt đẹp
Kho lúa của người Xơ Đăng
Dụng cụ lao động: Người Xơ Đăng làm kinh tế chủ yếu là nương, rẫy, ruộng, những dụng cụ để phục vụ cho việc lao động thường rất thô sơ, như rựa, cuốc, xẻn, cào, riều…những dụng cụ này phù hợp với điều kiện địa hình chủ yếu là đồi núi Trên những đồi núi việc dùng các máy móc, phương tiện kĩ thuật hiện đại để phục
vụ cho lao động là rất khó, do địa hình hiểm trở, không có đường giao thông
Trang 30Dụng cụ lao động
Trầu cau, thuốc bột: Người Xơ Đăng có tập tục ăn trầu, cau và thuốc bột (Cá Crao), theo quan niệm của người Xơ Đăng, ăn trầu, cau, thuốc bột góp phần chóng sâu răng, răng không bị rụng sớm Một phần thể hiện văn hóa, giao tiếp ứng xử của người Xơ Đăng đối với nhau cũng như đối với bạn bè, khách đến chơi nhà hay gặp nhau trên đường Trong cuộc sống, lao động sản xuất, gặp nhau người Xơ Đăng thường chào hỏi, mỉm cười niềm nở với nhau, mở đầu bằng việc mời nhau ăn trầu cau, thuốc bột, bắt chuyện vui đùa với nhau Khi gặp người quen, hay khách đến từ phương xa người Xơ Đăng thường bắt tay nhau, điều đó thể hiện sự chào hỏi nhau, mời nhau dùng trầu cau, thuốc bột và bắt chuyện hỏi thăm nhau về người thân trong gia đình, hoàn cảnh gia đình, về việc lao động sản xuất có được thuận lợi hay không Và người Xơ Đăng thân thiện, luôn niềm nở với mọi người xung quanh, bạn bè hay là khách, có sự hiếu khách, sẵn sàng, tận tình giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn Tập tục ăn trầu cau, thuốc bột đã trở thành một văn hóa, luôn gắn liên với người Xơ Đăng, trong cuộc sống hằng ngày, nó trở thành một thứ không thể thiếu trong đời sống của người Xơ Đăng, đối với người già nó như là cơm bữa hằng ngày vậy Từ tập tục ăn trầu cau, thuốc bột, nó gắn kết mọi người lại với nhau, xiết
Trang 31chặt mọi người lại gần nhau hơn, đoàn kết, yêu thương nhau hơn trong cuộc sống,
đó là nét văn hóa tốt đẹp mà thế hệ con cháu của người Xơ Đăng cần phải duy trì theo năm tháng, không để nó mai mòn theo dòng thời gian
Thuộc bột của người Xơ Đăng
Hình ảnh về trầu cau
Trang 32Lễ thành hôn: Đến tuổi trưởng thành những người con của người Xơ Đăng phải
đi lấy vợ lấy chồng Người con trai, con gái được tự do tìm hiểu nhau mà không có
sự ràng buộc của gia đình Khi trai tài, gái sắc tâm đầu ý hợp thì sẽ tổ chức đám cưới, trước khi tổ chức đám cưới phải ra mắt gia đình và hai bên gia đình gặp nhau
để nói chuyện, bàn về hôn lễ, tiếng Xơ Đăng gọi là “Lắp ích hay lã ích” tùy vào mỗi vùng địa phương sẽ có sự phát âm bị lệch nhau môt chút Tiếp theo là lễ đốn dâu hay đón chú rể (lắp giốk tri hay lắp giốk nâu” và tổ chức đám cưới (xi, sất, crao, tuôi hay đướp) Khi đám cưới người con trai và người con gái sẽ trao cho nhau một chiếc vòng bằng đồng và đeo lên tay nhau, chiếc vòng này không được
để mất và cũng không được bán đi, người Xơ Đăng rất kiêng về việc đánh mất, hoặc bán nó, chiếc vòng như là chiếc nhẫn mà các dân tộc khác trao cho nhau trong ngày lễ cưới Khi người đó mất, chiếc vòng đó sẽ đem theo với chủ nhân, sang thế giới bên kia Trong lễ thành hôn người con trai sẽ dân rượu cần và một nhúm cơm có miếng thịt gà ở trong cho họ hàng bên nhà vợ, đầu tiên là ông bà nếu như họ còn sống và tiếp theo là bố vợ, rồi đến mẹ và đến anh chị em trong nhà và
họ hàng, người con gái thì dân cho nhà trai Tùy vào hoàn cảnh cụ thể của gia đình người con gái hay con trai có thể ở rể hay làm dâu, nếu bên nhà gái không còn ai
để chăm sóc bố mẹ già, hay gia đình khó khăn thì người con trai sẽ ở rể nhưng bên nhà trai phải có anh chị em chưa lấy chồng, chưa lấy vợ hoặc đã lập gia đình nhưng vẫn sống chung một nhà Lễ cưới được tổ chức đơn giản, đám cưới sẽ được
tổ chức ở hai lần, một lần bên nhà trai, một lần bên nhà con gái Khi hai người con
Xơ Đăng đi tìm tình yêu của mình và có quan hệ tình dục trước khi cưới là một điều cấm kị Cho đến nay văn hóa ấy vẫn được được duy trì, nếu như quan hệ trước đám cưới mà dân làng biết được, cặp tình nhân đó phải chịu phạt dùng con trâu hoặc con heo, nhẹ thì con gà để cúng bái dân làng và rửa sạch những điều xấu, không tốt đẹp của đôi tình nhân để lại cho dân làng, trước ngày đám cưới phải đến từng nhà, cúng bái từng người bằng máu của trâu, heo hoặc gà với chiếc riều Thông thường khi có quan hệ trước hôn nhân đôi tình nhân thường tự nguyện đi cúng bái trước khi tổ chức đám cưới, để rửa sạch tội cho chính bản thân, cho dân làng và tạ tội trước thần linh Trước đây thường chỉ có đôi tình nhân đi đến từng
Trang 33nhà của người dân, không được một ai đi theo, hiện nay một số nơi đã có bạn bè hỗ trợ, giúp đỡ Thời xa xưa, người đàn ông Xơ Đăng có thể lấy một hoặc nhiều vợ, người con gái chỉ được một chồng, khi chồng mất có thể bước thêm một bước hoặc không tùy theo vào mỗi cá nhân Hiện nay theo chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước thì chỉ được lấy một vợ, một chồng, Nam phải đủ 20 tuổi trở lên, Nữ phải đủ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn Tuy nhiên, vẫn con đâu đó tình trạng tảo hôn nhưng chỉ chiếm một phần rất nhỏ không đáng kể, đa số người dân Xơ Đăng
đã nhận thức được việc tảo hôn là vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến sức khỏe của con cháu sau này Và việc tảo hôn là vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức đó là điều mà tất cả người dân Xơ Đăng nói riêng và các dân tộc anh em khác nói chung, cần tránh và lên án tập tục đó Khi đã là vợ chồng đối với người Xơ Đăng rất ít tình trạng vợ chồng ly hôn, vợ chồng yêu thương nhau, cùng nhau chia sẻ công việc gia đình, con cái được yêu thương, chăm sóc chu đáo từng bữa ăn, giấc ngủ Ngoài ra, vợ chồng còn yêu thương chăm sóc, báo hiếu bố mẹ già, yêu thương giúp
đỡ anh chị em trong gia đình mà không cần tính toán, so đo đó là một nét văn hóa tốt đẹp cần được duy trì, con cháu sau này cần phải học hỏi ông cha những thế hệ
đi trước
Lễ thành hôn của người Xơ Đăng
Trang 34Tang ma: Trong tiềm thức của người Xơ Đăng, khi một người mất đi tức là họ
đã sang một thế giới khác, thế giới bên kia Người ta quan niệm nó diễn ra như cuộc sống thực, như họ đang sống vì vậy phải chia của cải vật chất cho người mất,
để khi họ sang thế giới bên kia họ có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, không thiếu thốn gì cả Từ thời xa xưa khi một người thân trong gia đình mất đi, việc chuẩn bị đưa người đó về cõi vĩnh hằng được thực hiện chu đáo, người Xơ Đăng thường tắm rửa, lau khô và thay quần áo mới cho người mất, và sau đó người mất được tiễn đưa về nơi chôn cất Người thân để thể hiện sự báo hiếu hay sự yêu thương, đau xót, thương tiếc thì thường cõng hoặc khiêng người đã khuất về với nơi yên nghỉ chung của dân làng, chỉ có người thân trong gia đình mới được thực hiện việc này, nếu con cái còn nhỏ mà chưa đủ sức hay chưa trưởng thành thì việc cõng người mất sẽ do người có quan hệ ruột thịt, họ hàng cõng thay, dân làng trong xóm chỉ được đem những của cải vật chất đã được chia cho người đã khuất Người Xơ Đăng chia người chết thành hai loại, cái chết đẹp và cái chết xấu Cái chết đẹp là
do đau ốm, bệnh tật hay chết do tuổi già thì được chôn cất với ở khu dành cho người chết đẹp Còn chết xấu là do tai nạn, hay tự tử- dân làng ác cảm với cái chết này, thông thường người thân sẽ không cõng mà sẽ khiêng, vì người có cái chết như vậy đã không biết yêu thương chính bản thân mình, người thân, không yêu thương cuộc sống mà tìm đến cái chết để lại một sự mất đau thương rất lớn cho người ở lại và được chôn cất ở khu rừng dành cho người chết xấu Trong gia đình
có người chết xấu khi đám tang kết thúc người thân trong gia đình phải thực hiện việc cúng bái cho dân làng, rửa sạch đi cái chết xấu đó, không để nó ảnh hưởng đến dân làng và cái xấu đó chấm dứt tại đó Người mất thường được bỏ vào quan tài làm bằng gỗ Trước đây đám ma thường được duy trì tới ngày thứ sáu, theo quan niệm cuả người Xơ Đăng thì ngày thứ sáu là ngày của những người đã mất cho nên trong cuộc sống thường kị con số sáu Ngày nay thì một số nơi đã rút gọn chỉ còn lại ba ngày, để giảm bớt sự tiêu tốn về kinh tế của gia đình, giảm bớt thời gian để dân làng tranh thủ những ngày còn lại làm những con việc khác Khi đi đám ma lúc trở về thì không được quay đầu nhìn lại sau lưng, người đi tiễn chỉ được về thẳng tới nhà người đã mất, trong những ngày đi đám ma, những người
Trang 35tham gia ăn ở, ngủ nghỉ tại nhà người đã mất, không được về nhà mình ăn ở, ngủ nghỉ Ngày cuối cùng thì tất cả mọi người tham gia vào việc đi tiễn đưa người đã khuất đi đến một dòng sông tắm rửa, theo quan niệm sự tắm rửa đó là để cho dòng sông rửa sạch, cuốn trôi đi những điều xấu, sự chết chóc, để cơ thể, linh hồn luôn mạnh khỏe, không bị ốm đau Đến dòng sông mọi người sẽ bắt tôm cá, cua, ốc và đến chiều tối khi mọi nghi lễ đã xong hết thì mọi người mới được về nhà Trong quá trình diễn ra đám ma dân làng không được đi làm phải ở nhà, để thể hiện sự nhớ nhung, biết ơn những người đã mất và cũng theo quan niệm trong thời gian đó nếu tăng gia sản xuất hay đi săn bắt thì sau này sẽ không bắt được gì hết, hay trồng cái gì cũng không phát triển tốt vì nó đã theo cái chết, người dân rất kị những ngày này Những đứa trẻ trong gia đình thì không được tham gia, đi đến nơi cất giữ những người đã mất, theo quan niệm của người Xơ Đăng, linh hồn của những đứa trẻ chưa đủ lớn, chưa đủ mạnh để chóng lại sự cám dỗ của những linh hồn đã khuất, hay quỷ dữ cho nên những đứa trẻ chỉ được ở nhà Khi đến tuổi trưởng thành thì mới được đi tiễn đưa người đã mất và sẽ được cúng bái bằng con gà sau lần đi đầu tiên, để xoa đuổi những linh hồn người chết, cầu mong người đó luôn khỏe mạnh
1.2.3 Tiếng nói, chữ viết
Ngôn là lời nói
Hiện nay ở Đông Nam Á có bốn ngữ hệ:
Một là ngữ hệ Nam Á
Hai là ngữ hệ Thái
Ba là ngữ hệ Nam Đảo
Bốn là ngữ hệ Hán – Tạng
Trang 36Ở Việt Nam thì tồn tại cả bốn ngữ hệ phân bố ở Đông Nam Á, trong đó ngữ hệ Nam Á là lớn nhất gồm 32 ngôn ngữ
Tộc người Xơ Đăng thuộc nhóm Môn – Khơ- me (21 ngôn ngữ): Khơ -me, Ba-
na, Xơ Đăng, Cơ ho, Hrê, Mnông, Xtiêng, Bru- Vân Kiều, Cơ- Tu, Khơ- mú, Tà-
ôi, Mạ, Co, Giẻ - Triêng, Xinh – mun, Chơ- ro, Máng, Kháng, Rơ Măm, Ơ Đu, Brâu [ 2, tr.100 -104]
Trong quá khứ người Xơ Đăng chỉ có tiếng nói, những vấn đề về phòng tục tập quán chỉ được truyền miệng cho thế hệ sau Đôi khi sự truyền miệng đó làm biến đổi đi một phần nhỏ nét văn hóa của người Xơ Đăng, những cách làm nó sẽ có sự sai lệch với lúc ban đầu
Người Xơ Đăng xưa không có chữ viết và cũng không có gia phả để ghi chép sự kiện lịch sử của dân tộc mình, cho con cháu thế hệ sau có tư liệu tham khảo, tìm hiểu về nguồn gốc của tổ tiên ngày xưa từ khi mới hình thành, lịch sử nguồn gốc của dân tộc chỉ được truyền miệng và qua những câu chuyện hay truyền thuyết sử thi của dân tộc đó là một điều thật sự rất đáng tiếc Hiện nay tại Nam Trà My tiếng
Ca Dong mới bắt có chữ viết theo bảng chữ cái La Tinh A, B, C…đó là một điều đáng mừng cho thế hệ con cháu sau này, những phong tục tập quán, văn hóa tốt đẹp của dân tộc sẽ được lưu giữ, không bị mất đi theo thời gian, thế hệ đi trước sẽ truyền cho thế hệ sau những gì tốt đẹp của dân tộc bằng những tài liệu cụ thể mà không phải bằng sự truyền miệng
Như vậy, ngôn ngữ là công cụ để giao tiếp, liên lạc quan trọng nhất Là phương tiện để lưu giữ những gì con người đã sáng tạo ra trong lịc sử Để thế hệ đi sau kế thừa, phát triển, có những tư liệu chính xác về lịch sử loài người, về thế giới xung quanh
1.3 Đời sống văn hóa tinh thần của người Xơ Đăng
1.3.1 Văn hóa lễ hội
Từ “văn hóa” có rất nhiều nghĩa Trong tiếng Việt văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ văn minh của một giai đoạn lịch sử như văn hóa Đông Sơn, văn hóa Hòa Bình…Trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất
Trang 37cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao
động… Theo GS Trần Ngọc Thêm, “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên” [12, Tr.10] Theo Federico, Tổng giám đốc UNESCO phát biểu trong hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp năm 1970 tại venise thì “Đối với một số người, văn hóa bao gồm những kiệt tác trong lĩnh vực tư duy và sáng tạo ; đối với người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động” [ 4, tr 1]
Trong “Từ điển tiếng Việt” có định nghĩa về “Lễ hội” như sau: Lễ hội là một sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng “Lễ” là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện “Hội” là sinh hoạt văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng, mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ước chung vào bốn chữ "nhân khang, vật thịnh"
Theo thống kê năm 2009, hiện cả nước Việt Nam có 7 966 lễ hội, trong đó có 7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544 lễ hội tôn giáo (chiếm 6,28%), 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), còn lại là
Trang 38những lễ hội không phù hợp với những chuẩn mực đạo đức của xã hội, chúng ta cần cách tân sao cho phù hợp với thời đại
Người Xơ Đăng cũng như các dân tộc ở vùng Trường Sơn và Tây Nguyên có rất nhiều “lễ hội”, phong phú đa dạng Các lễ hội luôn gắn liền với lao động sản xuất, với sinh hoạt, với tín ngưỡng như Lễ hội Ăn mừng lúa mới, Lễ mừng làng mới, Lễ cưới, Lễ về nhà mới, Lễ gọi hồn, Lễ dời làng, Lê ăn heo, Lễ trước ngày tỉa lúa mùa mới, Lễ cho của cho người mất, Lễ hội đâm trâu…
“Lễ hội” của người Xơ Đăng được tổ chức hằng năm, nhưng không ấn định ngày cụ thể giữa các năm, chỉ phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của đời sống, vào những thời gian rảnh của mùa đó, tháng đó như năm trước kia, hoạt động lễ của người Xơ Đăng cứ thế mà luân chuyển từ năm này qua năm khác như một chu kì, luôn gắn liền với hoạt động lao động, sản xuất, tâm linh Tùy theo lễ hay lễ hội, có
lễ thì chỉ thực hiện trong một ngày, có lễ thực hiện từ hai ngày trở lên phụ thuộc vào lễ đó người dân muốn cúng bái, tế thần linh nào đó Các lễ lớn của người Xơ Đăng thường kéo dài ngày như lễ hội đâm trâu, lễ ăn heo, lễ vào nhà mới, lễ cưới hỏi và cũng không thể thiếu lễ rất quan trọng của người Xơ Đăng là tết giọt nước
cổ truyền… trong những ngày lễ người dân thương nấu nhiều món đặc sản từ sông suối, núi rừng được trưng bày, mời mọi người dùng và trong tất cả các ngày lễ không thể thiếu bóng dáng của rượu cần, một loại thức uống được người Xơ Đăng
ưa chuộng, yêu thích, trong cuộc sống và trong các ngày lễ của dân tộc Rượu cần
là một loại rượu không phải để giải sầu, không phải để nhậu nhẹt nên người Xơ Đăng cũng như các dân tộc anh em khác không dùng tới mồi, là một loại rượu không bao giờ uống một mình để giải sầu, mà được uống tập thể vào những ngày trọng đại, ngày lễ của dân tộc Vào các ngày lễ người Xơ Đăng thường dùng cần và chén để uống rượu Cần được làm từ một loại cây họ nhà tre, nơi đây gọi là
“chiệc”, ché (croạt) và cần (chiệc) là hai thứ rất quan trọng người dân rất kiêng,
cử, tránh làm vỡ ché (croạt) và cần (chiếc) Mọi người cùng nhau múa nhảy, hát
hò, đánh cồng chiêng, đánh đàn, chơi nhạc cụ, trò chuyện, tâm sự bên bếp lửa hồng cùng với chén rượu cần Trước đây còn có hoạt động đấu vật giữa những người thanh niên với nhau, người già với nhau, giữa các thành viên trong xóm làng hay
Trang 39với anh em, bạn bè, khách mời từ các làng xóm khác trong vùng Ngày nay hoạt động đấu vật đã không còn được duy trì nữa Khi thực hiện các hoạt động cúng bái,
tế thần, già làng, hay cá nhân trong một gia đình nào đó thường khấn vái câu mong sức khoẻ cho dân làng, mùa màng bội thu, bình yên cộng đồng, vật nuôi đầy đàn, thân linh luôn phù hộ, che chở, bảo vệ, giúp đỡ, dõi theo mọi hoạt động của người dân trong cuộc sống, báo mọng cho dân làng khi có những điều không hay, không tốt đẹp sắp xảy ra, hạn chế thiên tai ảnh hưởng đến mùa màng, con đường học tập của con cái thuận lợi, gặp nhiều may mắn, đặc biệt là những con em ra thành phố
để học, trên đường đi không gặp những điều rủi ro, những điều xấu, an toàn đến nới muốn đến, cầu mong người già sống lâu với con cháu, người dân có cái chết tốt đẹp
Một trong những lễ hội lớn của người Xơ Đăng cũng như các dân tộc anh em khác ở Trường Sơn, Tây Nguyên là lễ hội đâm trâu Người dân Xơ Đăng xem đây
là một nét văn hóa tốt đẹp, nên nhiều nơi hằng năm lễ hội này vẫn diễn ra Đối với một số chủ thể cũng như thế giới thì xem là lễ hội phi nhân đạo, và cần phải loại bỏ
nó Lễ hội đâm trâu tuy là một gia đinh tự tổ chức nhưng nó thu hút đông đảo, tất
cả, người dân trong xóm làng tham gia Trước ngày diễn ra lễ hội một tháng tất cả người dân đoàn kết, cùng nhau chuẩn bị mọi khâu, mọi việc, từ việc kiếm cửi, giả gạo, kiếm vật liệu làm cây nêu, nấu rượu cần, đến nhà bà con, họ hàng nơi xa để mời cùng tham gia… đến trước ngày đã định sẵn, tất cả mọi khâu chuẩn bị cho lễ hội phải được hoàn thành hết Lễ hội đâm trâu của người Xơ Đăng có từ lâu đời, là
lễ cúng thần linh bằng thịt và máu của con trâu, tạ ơn thần ban mùa màng bội thu, xua đuổi bệnh tật, đem lại sự may mắn cho người thân trong gia đình và dân bản Trong thời gian diễn ra lễ hội, tất cả bà con dân tộc Xơ Đăng trong làng đều đến vui chơi, ca hát và ăn uống trong mấy ngày Lễ hội đâm trâu là sinh hoạt văn hóa cộng đồng độc đáo, thu hút mọi tầng lớp dân làng Xơ Ðăng tham gia
Ngày đầu tiên, người Xơ Đăng cúng bằng một con gà và một con heo, cầu mong thần linh, ông bà quá cố, chứng giám sự biết ơn của gia đình nói riêng và dân làng nói chung Tối ngày hôm đó dân làng cùng nhau múa quanh con trâu và cây nêu, dẫn đầu đoàn múa là người chủ trong gia đình và đến vợ, con cháu trong
Trang 40gia đình và dân làng, người đánh trống, người đánh cồng chiêng Đàn ông hùng dũng trong điệu múa trên tay cầm như gươm, giáo và khiên mây, giáo tự chế tạo bằng gỗ, mô phỏng các động tác chiến đấu và đi săn, thể hiện tinh thần thượng võ của họ Phụ nữ nhẹ nhàng trong điệu múa đưa tay xuống mô tả hoạt động lao động sản xuất hằng ngày hay hai tay hai tay giơ lên trời, một tay thấp, môt tay cao hơn, bàn tay xòe rộng lên trời như dâng lên thân linh những gì tốt đẹp hay khấn cầu thần linh và đón nhận ân huệ của thần linh, đoàn người múa chuyển động quanh cột buộc trâu theo hướng ngược chiều kim đồng hồ đến khi trời sáng Đến chiều ngày thứ hai hoạt động đâm trâu bất đầu diễn ra, già làng, chủ nhà cúng bái xong, nhát giáo đầu tiên là do chủ nhà thực hiện và tiếp theo là già làng và người dân tài giỏi, khỏe mạnh trong làng đã được chọn, để đâm thật chính xác, giúp con trâu chết sớm khỏi bị kéo dài sự đau đớn Ngày thứ ba là ngày ăn đầu trâu, và treo đầu trâu ở cây nêu, sau này mới đem vào nhà
Những nơi còn duy trùy được ngôi nhà Rông thì lễ hội được tổ chức tại nhà Rông Còn tại Nam Trà My thường do đại diện một gia đình đúng ra tổ chức Lễ đâm trâu sẽ tổ chức tại sân gần nhà Sau lễ tế trâu, thịt trâu được chia cho cả làng cùng ăn, đầu trâu được treo lên cây nêu, sau này thì đem vào nhà với niềm tin hồn trâu sẽ giúp được no đủ, bình yên , hòa vào với đất trời
Những người phụ nữ giã gạo trước ngày hội