1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu kiến thức bản địa trong việc sử dụng một số loài cây lâm sản ngoài gỗ để làm thuốc tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)

73 119 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 3,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu kiến thức bản địa trong việc sử dụng một số loài cây lâm sản ngoài gỗ để làm thuốc tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái NguyênNghiên cứu kiến thức bản địa trong việc sử dụng một số loài cây lâm sản ngoài gỗ để làm thuốc tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái NguyênNghiên cứu kiến thức bản địa trong việc sử dụng một số loài cây lâm sản ngoài gỗ để làm thuốc tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái NguyênNghiên cứu kiến thức bản địa trong việc sử dụng một số loài cây lâm sản ngoài gỗ để làm thuốc tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái NguyênNghiên cứu kiến thức bản địa trong việc sử dụng một số loài cây lâm sản ngoài gỗ để làm thuốc tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái NguyênNghiên cứu kiến thức bản địa trong việc sử dụng một số loài cây lâm sản ngoài gỗ để làm thuốc tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái NguyênNghiên cứu kiến thức bản địa trong việc sử dụng một số loài cây lâm sản ngoài gỗ để làm thuốc tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái NguyênNghiên cứu kiến thức bản địa trong việc sử dụng một số loài cây lâm sản ngoài gỗ để làm thuốc tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái NguyênNghiên cứu kiến thức bản địa trong việc sử dụng một số loài cây lâm sản ngoài gỗ để làm thuốc tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái NguyênNghiên cứu kiến thức bản địa trong việc sử dụng một số loài cây lâm sản ngoài gỗ để làm thuốc tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái NguyênNghiên cứu kiến thức bản địa trong việc sử dụng một số loài cây lâm sản ngoài gỗ để làm thuốc tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

–––––––––––––––––––––

ĐẬU XUÂN HÕA

NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC BẢN ĐỊA TRONG VIỆC SỬ DỤNG MỘT SỐ LOÀI CÂY LÂM SẢN NGOÀI GỖ ĐỂ LÀM THUỐC TẠI XÃ QUÂN CHU, HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp Khoa : Lâm nghiệp Khóa Học : 2014 - 2018

Thái Nguyên – 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

–––––––––––––––––––––

ĐẬU XUÂN HÕA

NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC BẢN ĐỊA TRONG VIỆC SỬ DỤNG MỘT SỐ LOÀI CÂY LÂM SẢN NGOÀI GỖ ĐỂ LÀM THUỐC TẠI XÃ QUÂN CHU, HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp Lớp : K46 – LN – N01 Khoa : Lâm nghiệp Khóa Học : 2014 - 2018 Giảng viên hướng dẫn : ThS Phạm Thị Diệu ThS Mai Hoàng Đạt

Thái Nguyên - 2018

Trang 3

hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu kiến thức bản địa trong việc sử dụng

một số loài cây lâm sản ngoài gỗ để làm thuốc tại xã Quân Chu, huyện Đại

Từ, tỉnh Thái Nguyên”

Để có được thành quả tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp Qua đây cho tôi gửi lời cảm ơn tới cán bộ của UBND và cộng đồng nhân dân trong xã Quân Chu, đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập

Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo, ThS Phạm Thị Diệu và thầy giáo, ThS Mai Hoàng Đạt đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm đề tài này

Do thời gian còn hạn chế nên đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn để

đề tài được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 05 năm 2018

Sinh viên

Đậu Xuân Hòa

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả thực hiện được trình bày trong khóa luận là kết quả thí nghiệm thực tế của tôi, nếu có sai sót gì tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật của khoa và nhà trường đề ra

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017

XÁC NHẬN CỦA GVHD NGƯỜI VIẾT CAM

Đồng ý cho bảo vệ kết quả

Trước Hội Đồng

ThS Mai Hoàng Đạt Đậu Xuân Hòa

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN

Xác nhận đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng đánh giá chấm

(Ký, họ và tên)

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Khung phân tích phương pháp tiến hành nghiên cứu 19

Bảng 4.1 Đa dạng bậc Taxon nguồn cây thuốc tại xã Quân Chu

Đại Từ - Thái Nguyên 23

Bảng 4.2 Số lượng họ, chi, loài ở hai lớp của ngành Mộc lan 24

Bảng 4.3 Một số bài thuốc theo nhóm bệnh của người dân tại xã Quân Chu – Đại Từ - Thái Nguyên 25

Bảng 4.4: Mô tả đặc điểm hình thái và sinh thái của một số loài cây

tiêu biểu được người dân trên địa bàn xã Quân Chu sử dụng làm thuốc 27

Bảng 4.5: Những loài cây được gây trồng tại xã Quân Chu

Đại Từ - Thái Nguyên 44

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

MỤC LỤC v

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập nghiên cứu 2

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 3

2.1.1 Lịch sử sử dụng thực vật rừng làm thuốc của các dân tộc trên thế giới 3

2.1.2 Hiện trạng tài nguyên thuốc trên thế giới 4

2.2 Ở Việt Nam 6

2.2.1 Lịch sử các nghiên cứu về cây thuốc Việt Nam 6

2.2.2 Hiện trạng tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam 10

2.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 12

2.3.1 Điều kiện tự nhiên 12

2.3.3 Những thuận lợi và khó khăn từ điều kiện cơ bản trong

hoạt động sử dụng tài nguyên thuốc 15

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 17

3.3 Nội dung nghiên cứu 17

3.4 Phương pháp nghiên cứu 17

3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin 17

3.4.2 Phương pháp xử lý thông tin 20

Trang 8

3.4.3 Phương pháp thu mẫu và ép tiêu bản 20

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 23

4.1 Điều tra thành phần các loài cây LSNG sử dụng để làm thuốc 23

4.1.1 Sự đa dạng trong các bậc Taxon 23

4.1.2 Bài thuốc theo nhóm bệnh của người dân tại xã Quân Chu,

huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên 25

4.2 Mô tả đặc điểm hình thái và sinh thái của một số cây tiêu biểu

được người dân trên địa bàn xã Quân Chu sử dụng để làm thuốc chữa bệnh 26

4.2.1 Mô tả hình thái, đặc điểm của các loài cây được người dân

trên địa bàn xã Quân Chu sử dụng làm thuốc 26

4.2.2 Mô tả cách khai thác, công dụng và cách chế biến của các loài

thực vật dùng làm thuốc 40

4.3 Những thuận lợi và khó khăn hiện tại của người dân trong việc

sử dụng các loài LSNG làm dược liệu 41

4.3.1 Những thuận lợi và khó khăn trong việc khai thác, quản lý

và gây trồng các loài cây được sử dụng làm thuốc 41

4.3.2 Những thuận lợi và khó khăn trước áp lực của các loại

dược liệu hóa học (Đông- Tây y) 42

4.4 Ứng dụng kiến thức bản địa trong việc sử dụng các loài LSNG làm thuốc 43

4.4.1 Kiến thức bản địa trong việc sử dụng, canh tác và gây

trồng các loài cây thuốc 43

4.4.2 Xác định những loài cây được ưu tiên bảo tồn và gây trồng 44

4.5 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao công tác bảo tồn các loài LSNG

và các bài thuốc của đồng bào người dân trên địa bàn xã Quân Chu 45

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46

5.1 Kết luận 46

5.2 Đề nghị 46

PHỤ LỤC 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

Trang 9

Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm nên

có một thảm thực vật phong phú và đa dạng, chứa đựng trong đó một kho dược liệu tự nhiên vô cùng hữu ích Có khoảng 12000 loài thực vật bậc cao

Trong đó khoảng 3948 loài được dùng làm thuốc (Viện dược liệu, 2007)

chiếm 37% số loài thực vật đã biết, tuy nhiên hiện nay vẫn còn rất nhiều loài thực vật cũng như những tri thức bản địa của người dân tộc miền núi về các loại cây dược liệu, hiện đang ngày càng bị mai một theo thời gian và vẫn chưa được tìm hiểu cũng như tiếp cận sâu rộng

Quân Chu là một xã thuộc huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên, do đặc thù

là một vùng miền núi nằm ngay sát chân của dãy núi Tam Đảo nên cuộc sống của người dân nơi đây phần đa phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng, vì vậy, những hoạt động khai thác lâm sản ngoài gỗ diễn ra trên địa bàn xã từ lâu đã không còn là điều gì đó xa lạ đối với người dân nơi đây Tuy nhiên, hiện nay

xã đang phải đối mặt với tình trạng nguồn tài nguyên rừng đang ngày càng cạn kiệt, những tri thức về cây dược liệu đang dần suy thoái Sở dĩ dẫn đến tình trạng này là do người dân trên địa bàn xã khai thác một cách ồ ạt, tận diệt rất nhiều những loại cây thuốc quý hiếm để bán cho thương lái Cùng với đó là khối lượng kiến thức về cây dược liệu của các thầy lang lâu năm

Trang 10

đang dần bị thất truyền do con cháu của họ rất ít người muốn theo nghề hoặc không có đủ khả năng theo nghề do cha ông truyền lại

Vì vậy, chúng tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu kiến thức bản địa trong

việc sử dụng một số loài cây lâm sản ngoài gỗ để làm thuốc tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Điều tra tri thức bản địa những cây lâm sản ngoài gỗ (LSNG) được sử dụng làm thuốc, lên danh mục và đánh giá thực trạng khai thác sử dụng

- Mô tả được đặc điểm hình thái, sinh thái, giá trị sử dụng của một số loài LSNG được sử dụng làm dược liệu

- Thu Mẫu, ép tiêu bản những loài LSNG được sử dụng làm thuốc

- Đề xuất các giải pháp thích hợp nhằm nâng cao công tác bảo tồn và sử dụng bền vững các loài LSNG và các bài thuốc của đồng bào dân tộc trên địa bàn xã Quân Chu

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập nghiên cứu

Qua việc thực hiện đề tài sẽ giúp sinh viên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, củng cố được những kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực

tế, biết cách tích lũy, thu thập, phân tích, xử lý thông tin cũng như kĩ năng tiếp cận và làm việc với cộng đồng thôn bản và người dân

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài có được thông qua phỏng vấn thu thập thông tin từ người dân và qua quá trình điều tra tại địa bàn nghiên cứu nên sẽ

là cơ sở khách quan nhất trong việc đề xuất giải pháp trong quản lý và phát triển rừng bền vững Đề tài góp phần nghiên cứu về việc sử dụng các loài thực vật để làm thuốc nhằm bảo tồn nguồn kiến thức bản địa

Giúp người dân trên địa bàn xã không chỉ có cái nhìn đầy đủ về nguồn tài nguyên cây thuốc trong tự nhiên mà còn hướng cho bà con có cách làm ăn mới, vừa đem lại lợi ích kinh tế cao hơn, vừa góp phần bảo tồn và phát triển bền vững nguồn dược liệu quý ngay tại chính mảnh đất mình sinh sống

Trang 11

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

Trong thời đại của chúng ta ngày nay không khó có thể nhận thấy những loại thuốc tây cùng với sự tiện dụng của chúng đã xâm chiếm thị trường thuốc một cách mạnh mẽ Nhưng không vì thế mà giá trị và lợi ích cùa những loại cây thuốc quý hiếm bị xem nhẹ, những loại dược liệu từ thảo mộc vẫn có vị trí quan trọng nhất định về thành phần, chủng loại cũng như giá trị sử dụng Bởi vậy mà từ thời xa xưa, dân ta đã biết dùng các cây thuốc, vị thuốc nam

để phòng ngừa và chữa trị cho một số bệnh cho gia súc, gia cầm và người, từ

đó đã tích lũy được những kinh nghiệm quý báu về phương pháp chẩn trị đông y tuy nhiên việc nghiên cứu, điều tra và sử dụng cây thuốc còn rất mới

Do đó việc nghiên cứu có hệ thống việc sử dụng cây thuốc, vị thuốc trong phòng và trị bệnh là rất cần thiết

Việc nghiên cứu có hệ thống phải bao gồm: nghiên cứu về cơ chế tác dụng của cây thuốc, vị thuốc trên đối tượng sử dụng về sinh lý, bệnh lý Nghiên cứu về thành phần hóa học có trong cây thuốc Phân loại cây thuốc, phương pháp trồng, thu hoạch và chế biến Xây dựng quy trình tách chiết các hoạt chất và các dạng bào chế thích hợp cho từng loài thảo dược

2.1.1 Lịch sử sử dụng thực vật rừng làm thuốc của các dân tộc trên thế giới

Từ thời cổ xưa, loài người đã biết khai thác và sử dụng cây thuốc vào công tác chăm sóc sức khỏe và các nhu cầu cuộc sống của mình

Theo Aristote (384-322 trước công nguyên) đã tổng kết trên 4000 năm trước, các dân tộc vùng Trung Cận Đông đã biết đến cả ngàn cây thuốc, sau

này người Ai Cập đã biết cách chế biến và sử dụng chúng (dẫn theo Võ Văn

Chi và Trần Hợp, 1999) [1]

Trang 12

Charles Pickering (1879) đã nghiên cứu và đúc rút lại cho biết người Ai Cập cổ đại đã biết sử dụng những cây có tinh dầu để trị bệnh và ướp xác các vua chúa hoặc làm nước thơm từ khoảng 4.000 năm TCN Người Trung Quốc

đã biết sử dụng tinh dầu làm thuốc chữa bệnh từ lâu Tại Đông Á, người Nhật Bản đã biết sử dụng cây Bạc hà làm thuốc trị bệnh từ 2.000 năm trước đây

(dẫn theo Lã Đình Mỡi và cộng sự, 2001) [4]

Theo Ahmad, U.& M.N.Nabi (1967) đã nghiên cứu và tổng kết rằng: Nền y học cổ truyền Trung Quốc và Ấn Độ đều được ghi nhận trong lịch sử sử dụng

cây cỏ làm thuốc cách đây 3.000 - 5.000 năm (dẫn theo Trần Văn Ơn, 2003) [5]

Qua các nghiên cứu về lịch sử sử dụng cây thuốc của các dân tộc trên thế giới cho thấy, mỗi dân tộc trên thế giới đều có tri thức sử dụng cây thuốc để chữa bệnh từ lâu đời và đặc sắc tùy thuộc vào từng nền văn hóa

2.1.2 Hiện trạng tài nguyên thuốc trên thế giới

Theo ước tính của quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 35.000 70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toàn thế giới Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của các dân tộc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khỏe, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hóa Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay có khoảng 80% dân số các nước đang phát triển có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu phụ thuốc vào nguồn dược

-liệu hoặc qua các chất chiết suất từ dược -liệu (dẫn theo Nguyễn Văn Tập,

Trang 13

loài thực vật được coi là cây thuốc; Ấn Độ hơn 6.000 loài; vùng nhiệt đới Đông - Nam Á khoảng 6.500 loài…(N.R.Farnsworth, 1985; S.K.Alok, 1991;

P.G Xiao, 2006) ( dẫn theo Nguyễn Tập, 2007) [7]

Theo Lewington (1993) đã thống kê trên thế giới có hơn 35.000 loài thực vật đang được sử dụng trong các nền văn hóa khác nhau vào mục đích chữa bệnh Nhiều loài trong số chúng là đối tượng không thể kiểm soát được trong

các hoạt động buôn bán ở quy mô địa phương hoặc quốc tế ( dẫn theo Phạm

Minh Toại và Phạm Văn Điển, 2005)

Tư liệu từ Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên Quốc tế (IUCN) cho biết, hiên nay trong tổng số 43.000 loài thực vật mà tổ chức này

có thông tin thì có tới 30.000 loài được coi là đang bị đe dọa tuyệt chủng ở

các mức độ khác nhau Trong tập tài liệu “các loài thực vật bị đe dọa ở Ấn Độ

“xuất bản từ năm 1980 đã đề cập tới 200 loài, trong đó phần lớn là các loài

cây thuốc hay trong bộ “Trung Quốc thực vật hồng bì thư” (Sách đỏ về thực

vật của Trung Quốc), năm 1996 cũng giới thiệu tới gần 200 loài được sử dụng

làm thuốc cần bảo vệ (dẫn theo Nguyễn Văn Tập, 2007) [7]

* Các nguyên nhân làm suy giảm tài nguyên cây thuốc

- Tàn phá thảm thực vật

- Hoạt động du canh du cư

- Khai thác quá mức và sử dụng lãng phí nguồn tài nguyên cây thuốc

- Nhu cầu sử dụng cây thuốc tăng lên

- Khai thác không có kế hoạch và thay đổi cơ cấu cây trồng

- Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc không được tư liệu hóa và bị thất truyền

* Hoạt động bảo tồn tài nguyên cây thuốc

Bảo tồn nguyên vị (In situ conservation): Chỉ có một số nước tham gia

Một trong những nước này là Sri Lanka, với 50 khu bảo tồn cây thuốc Tại Ấn

Độ có 30 trung tâm bảo tồn nguyên vị Tại Trung Quốccác khu bảo tồn tài nguyên cây thuốc cũng đang được thành lập

Trang 14

Bảo tồn chuyển vị (Ex situ conservetion): năm 1989, Tổ chức Bảo tồn

các Vườn thực vật Quốc tế (BGCI) đã phối hợp với IUCN và WWF xây dựng

“Chiến lược bảo tồn ở các Vườn thực vật’ Trên thế giới có khoảng 1.500

Vườn thực vật đã xây dựng, trong đó có 152 Vườn của 33 quốc gia chuyên trồng cây thuốc hay trồng kết hợp với các cây kinh tế khác Vườn thực vật ở Tokyo có khoảng 1.600 loài:

Trồng cây thuốc: đã có một số nước gây trồng cây thuốc với quy mô lớn

phục vụ công tác y tế và bảo tồn quy mô lớn: Trung Quốc, Ấn Độ (dẫn theo

Trần Văn Ơn, 2003) [5]

Ngay từ những năm 1950 các nhà khoa học nghiên cứu về cây thuốc của Liên Xô đã có các nghiên cứu về cây thuốc trên quy mô rộng lớn năm 1952 các tác giả A.l.Ermakov, V.V.Arsimovich… đã nghiên cứu thành công công

trình “Phương pháp nghiên cứu hóa sinh - sinh lý cây thuốc” Công trình này

là cơ sở cho việc sử dụng và chế biến cây thuốc đạt hiệu quả tối ưu nhất, tận dụng tối đa công dụng của các loại cây thuốc Các tác giả A.F.Hammemen, M.D.Choupinxkaia và A.A Yatsenko đã đưa ra giá trị của từng loài cây thuốc

(cả về giá trị dược liệu và giá trị kinh tế) trong tập sách “giá trị cây thuốc”

Năm 1972 tác giả N.G.Kovalena đã công bố rồng faix trên cả nước Liên Xô

cũ việc sử dụng cây thuốc vừa mang lại lợi ích cao và không gây hại cho sức

khỏe của con người Qua cuốn sách “chữa bệnh bằng cây thuốc” tác giả

Kovalena đã giúp người đọc tìm được loại cây thuốc và chữa đúng bệnh với

liều lượng đã được định sẵn (dẫn theo Trần Thị Lan, 2005) [2]

2.2 Ở Việt Nam

2.2.1 Lịch sử các nghiên cứu về cây thuốc Việt Nam

Nghiên cứu về cây thuốc ở Việt Nam đã có lịch sử rất lâu đời và có sự thay đổi nhất định qua các thời kì khác nhau, có thể chia ra làm các giai đoạn sau:

* Trước thời kì Pháp thuộc

Trang 15

Thời kì này nước ta đã có những công trình nghiên cứu về cây thuốc và

các phương pháp chữa bệnh bằng cây thuốc đồ sộ; “Nam dược thần hiệu”,

“Hồng nghĩa giác tư y thư” của Đại y thiền sư Tuệ Tĩnh và tác phẩm “Hải

Thượng y tông tâm lĩnh” của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác Các tác

phẩm này có ý nghĩa to lớn cho nền y học cổ truyền dân tộc

Bộ “Nam dược thần hiệu” do Hòa Thượng Bản Lai ở chùa Hồng Phúc ở

Trung Đô biên tập, bổ sung in lại năm 1761 gồm bản thảo dược tính 499 vị (bằng thơ) và 10 khoa chữa bệnh, với 3.932 phương thuốc nam ứng trị 184 loại bệnh, kèm theo môn thuốc chữa bệnh gia súc

“Nam dược chính bản” do vua Vĩnh Thịnh năm thứ 13 (1705- 1719) sai

các quan nội thị phủ chúa Trịnh, các quan y viện duyệt lại và bổ sung sắp xếp

thành chương mục thứ tự và đổi tên thành “Hồng nghĩa giác tư y thư” in lại năm 1717 gồm quyển thượng và quyển hạ Quyển thượng gồm: “Nam dược

quốc ngữ phú” (Danh từ dược học 50 vị thuốc nam), “Trực giải chỉ nam dược tính phú” (220 vị thuốc nam) và một thiên Y luận về lý luận cơ bản, âm

dương ngũ hành, tảng phủ, kinh mạch Quyển hạ gồm “Thập tam phương gia

giảm” và “Bổ âm đơn” đã được đời sau diễn dịch ra ca nôm và in năm 1723

(dẫn theo Nguyễn Bá Tĩnh, 1998) [8]

Tuệ Tĩnh và Lê Hữu Trác có công to lớn trong việc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân trong giai đoạn này, đồng thời các ông đã thống kê ghi chép lại các kinh nghiệm chữa bệnh dân gian quý báu và đúc rút ra những bài thuốc chữa bệnh hiệu nghiệm để viết thành sách lưu truyền cho hậu thế Tuy nhiên, các tác phẩm chỉ tập trung nghiên cứu về công dụng chữa bệnh của các cây thuốc, các phương pháp chữa bệnh… mà chưa có điều kiện nghiên cứu về phân bố, trữ lượng của các loài cây thuốc trên lãnh thổ Việt Nam

* Thời kì Pháp thuộc đến Cách mạng tháng 8 năm 1945

Dưới thời Pháp thuộc có một sự canh tranh chia rẽ sâu sắc giữa YHCT

và YHHĐ Giai đoạn này, không có một công trình nghiên cứu nào về cây

Trang 16

thuốc của Việt Nam được thực hiện do nền YHCT bị chính quyền thực dân Pháp đàn áp và bóp nghẹt không cho phát triển

Một số nhà khoa học người Pháp đã có những cố gắng tìm hiểu những cây thuốc và vị thuốc ở Việt Nam và đã biên soạn thành tài liệu để lại bao gồm có hai bộ

Bộ thứ nhất “Dược liệu và dược điển Trung Việt” của hai tác giả E M

Perrot và Paul Hurrier xuất bản tại Pari năm 1907 Trong bộ sách này các tác giả chia thành hai phần lớn phần một có sự nhận xét chung về nền Y học Á Đông, việc hành nghề y ở Trung Quốc và Việt Nam; phần hai kiểm kê các danh mục thuốc có nguồn gốc thực vật, động vật, khoáng học dùng trong y học Trung Quốc và Việt Nam Tài liệu có tính chất toàn diện nhưng bộ sách xuất bản đã lâu nên so với sự tiến bộ của khoa học hiện nay thì có nhiều thiếu sót, cần phải được sửa lại và bổ sung thêm Nội dung giới thiệu từng vị thuốc còn qua sơ lược so với sự đòi hỏi thực tế hiện nay

Bộ thứ hai “Danh mục những sản phẩm ở Đông Dương” phần cây thuốc

do hai tác giả Ch Crevest và A Pestelot biên soạn thành hai tập: tập 1 in năm

1928, tập 2 in năm 1935 với 1.430 vị thuốc thảo mộc của 3 nước Đông Dương Đến năm 1952, A Pesterot có sửa chữa lại và bổ sung thêm, đặt cho

bộ sách cái tên mới là “Những cây thuốc của Campuchia và Việt Nam” với

1.428 vị thuốc thảo mộc và được in thành 4 tập: tập I (1925), tập II (1953), tập III (1954), tập IV in năm 1954 dành riêng cho các mục lục và bảng tra cứu

(dẫn theo Đỗ Tất Lợi, 2006) [3]

Các tác phẩm nghiên cứu về cây thuốc của các tác giả người pháp tuy chưa đầy đủ và tỉ mỉ nhưng các bộ sách biên soạn khá công phu và giúp ích nhiều cho những nghiên cứu về cây thuốc của Việt Nam sau này

* Sau cách mạng tháng Tám đến nay

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhất là sau khi miền bắc được giải phóng năm 1954, các nhà khoa học Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việc sưu tầm, nghiên cứu các cây cỏ được sử dụng làm thuốc trên cả nước

Trang 17

Trong thời kì kháng chiến các nhà khoa học Việt Nam đã bước đầu thống

kê, hệ thống lại, tìm hiểu số lượng, khu phân bố các loại cây thuốc Công việc này được tiến hành trong suốt một thời gian dài với sự tham gia của nhiều nhà khoa học đầu ngành : Đỗ Tất Lợi, Vũ Văn Chuyên, Võ Văn Chi…

Trong các nghiên cứu về cây thuốc Việt Nam có một công trình nghiên cứu điển hình như: Cuốn sách (Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi gồm 6 tập được in từ năm 1962 - 1965 Tác giả đã trình bày khoảng 430 loài cây thuốc thuộc 116 họ, đã thống kê các cây thuốc, ông đã ghi chép một cách tỉ mỉ các thông tin: Đặc điểm nhận biết, đặc tính sinh học và sinh thái học, phân bố địa lí, công dụng cách dùng của các dân tộc có sử dụng vị thuốc này, các công trình khoa học trên thế giới đã công bố có liên quan đến cây thuốc theo I.I Brekhman, A.S Hammerman, I.V Gruxvitxki, A.A Taxenko

- Khmelepxki (1967) nhận xét bộ sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt

Nam” của Đỗ tất Lợi có thể sánh ngang với bất kì một công trình nào khác về

dược liệu nhiệt đới (dẫn theo Đỗ Tất Lợi, 2006) [3]

“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” có một ý nghĩa quan trọng

trong nền y dược học Việt Nam Cuốn sách được các nhà khoa học và nhân dân đón nhận rất lớn Từ khi xuất bản đầu tiện năm 1962 - 1965 đến năm

2006 cuốn sách đã được tái bản 14 lần, trong quá trình tái bản cuốn sách có chỉnh sửa bổ sung ngày càng hoàn thiện các thông tin cập nhật và hình ảnh minh họa về cây thuốc

Cuốn “Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc” của Vũ Văn Chuyên, xuất

bản năm 1966 cuốn sách đã tóm tắt được hầu hết các đặc điểm của các họ có cây thuốc ở Việt Nam Tác giả đã mô tả đầy đủ các thông tin về: Tên khoa học, tên phổ thông, đặc điểm nhận biết chung, khu vực phân bố của từng họ cây thuốc Đây là việc có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn đầu của công tác nghiên cứu về hệ thực vật cây thuốc Việt Nam

Cuốn sách “Từ điển cây thuốc Việt Nam” của Võ Văn Chi, xuất bản năm

1997 tác giả đã thống kê, mô tả chi tiết về tên khoa học, tên phổ thông, tên địa phương, các đặc điểm nhận biết, đặc tính sinh học và sinh thái học, phân

Trang 18

bố địa lý, công dụng cách dùng của các dân tộc có sử dụng vị thuốc này, các công trình khoa học trên thế giới đã công bố có liên quan đến cây thuốc… của 3.200 loài cây thuốc mọc tự nhiên ở Việt Nam và các cây thuốc được du nhập gây trồng ở Việt Nam Cuốn sách mô tả sinh động hình ảnh các cây thuốc bằng các hình vẽ và ảnh mầu

Các công trình khoa học: “Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, “Tóm tắt

đặc điểm các họ cây thuốc” và “Từ điển cây thuốc Việt Nam” là những tài

liệu cẩm nang tra cứu cần thiết cho cán bộ giảng dạy và nghiên cứu về cây thuốc cho các nhà khoa học, cán bộ, sinh viên, học sinh và những ai quan tâm đến việc tìm hiểu tài nguyên cây thuốc Việt Nam

Ngoài ra có rất nhiều các công trình khoa học được công bố có liên quan

tới nguồn tài nguyên cây thuốc Việt Nam: “Cây cỏ có ích Việt Nam” gồm 4

tập của Võ Văn Chi, Trần Hợp xuất bản năm 1999; “Từ điển thực vật thông dụng” tập I tập II của Võ Văn Chi xuất bản năm 2003…

2.2.2 Hiện trạng tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam

Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm diện tích hẹp nhưng kéo dài do đó đã tạo nên những khí hậu khác nhau theo vĩ tuyến và

độ cao, là nơi hội tụ và phát triển một quần thể thực vật hết sức phong phú Cây thuốc là một thực vật được hình thành trong môi trường đó nên cây thuốc Việt Nam rất phong phú và đa dạng về số lượng và chủng loại

Công tác điều tra nghiên cứu của Viện Dược liệu - Bộ Y tế ở tất các địa phương trên toàn quốc kết quả điều tra từ năm 1961 đến cuối năm 2004, đã ghi nhận ở nước ta có 3.948 loài cây thuốc, thuộc 307 họ của 9 ngành thực vật

kể cả nấm có công dụng làm thuốc trong đó có trên 90% tổng số loài cây

thuốc mọc tự nhiên (dẫn theo Nguyễn Tập, 2007) [7]

Hiện nay đã thống kê được gần 300 loài cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng thường xuyên được khai thác với khối lượng từ 10.000 - 20.000 tấn mỗi năm, cung cấp thị trường trong nước và xuất khẩu các cây thuốc đang được khai

thác với khối lượng lớn như : Vằng đắng (Coscinium fenestratum), Thiên niên

Trang 19

kiện (Homalomena spp.), Cẩu tích (Cibotium barometz), Hoàng đằng (Fibraurea recisa Pierre), Chè dây (Ampelopsis cantoniensis)… phần lớn các

cây thuốc trên được đưa vào sử dụng trực tiếp trong nền YHCT Một số loài được đưa vào chiết xuất hoạt chất để dùng làm thuốc như: Thanh hao

(Artemisia annua) chiết artemisinin làm thuốc chữ sốt rét, Bình vôi (Stephania spp.) chiết xuất L tetrahydro palmatin làm thuốc an thần, giảm đau; Kim tiền thảo (Desmodium styracifolium) chiết saponin làm thuốc chữa sỏi thận…(dẫn theo Nguyễn Tập, 2007) [7]

Với 3.948 loài cây thuốc đã biết hiện nay vẫn còn có nguồn tài nguyên cây thuốc của các dân tộc thiểu số sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam vẫn chưa thống kê được đầy đủ có bao nhiêu loài cây thuốc (ngoài 3.948 loài cây thuốc

đã thống kê), sự phân bố và sử dụng của chúng Nước ta cũng chưa thể thông

kê được chính xác có bao nhiêu loài đã bị mất và đang bị đe dọa tuyệt chủng

Trong bài báo “Sử dụng tài nguyên cây thuốc - sự chia sẻ công bằng và

hợp lý ” (2004) tác giả Trần Công Khánh đã làm rõ nét đặc trưng của cây

thuốc dân gian Cùng một cây thuốc với dân tộc này thì rất quý nhưng với dân tộc khác thì nó không có giá trị, cũng cùng một loại cây thuốc đó mỗi dân tộc lại có một cách dùng chữa trị các bệnh khác nhau như vậy có thể nói giá trị và cách sử dụng cây thuốc của mỗi dân tộc rất đặc trưng và khác nhau

Hiện nay ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về các kinh nghiệm truyền thống y học dân gian của các dân tộc ít người nhưng còn mang

tính thăm dò sưu tầm là chính : “Nghiên cứu về kinh nghiệm phòng chữa bệnh

của dân tộc Mường Thanh Hóa, Nghệ An” (dẫn theo Phó Đức Thành, 1930),

“Kinh nghiệm của người Dao Ba Vì” (dẫn theo Phó Đức Thuần, Đỗ Thị

Phương, 1996), “Kinh nghiệm của người Dao Đà Bắc - Hòa Bình” (dẫn theo Trần Hồng Hạnh, 1997)… (dẫn theo Phó Đức Thuần, 2005) [9]

Tư liệu hóa tài nguyên cây thuốc của tất cả các cộng đồng dân tộc Việt Nam là vấn đề cấp thiết hiện nay để bảo tồn tính đa dạng sinh học cây thuốc

Trang 20

và tri thức sử dụng cây thuốc của các cộng đồng Tri thức sử dụng cây thuốc của các cộng đồng dân tộc thì có nhiều nhưng cho đến nay chưa có một người nào, một dân tộc miền núi nào của nước ta tự đến cơ quan nhà nước đăng kí bản quyền sở hữu trí tuệ về tri thức đó Đây thực sự là nguồn tài sản có giá trị nếu biết cách quản lý thì nguồn tài nguyên tri thức này sẽ mang lại cuộc sống sung túc cho các dân tộc có hoạt động làm thuốc và việc khai thác, sử dụng rừng bền vững

2.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu

2.3.1 Điều kiện tự nhiên

2.3.1.1 Vị trí địa lý

Xã Quân Chu có diện tích 4.040,19 ha (40,4 km²) và dân số là 3.912 người, thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam Đây là xã cực nam của tỉnh và có vị trí:

Phía bắc giáp xã Cát Nê thuộc huyện Đại Từ, phía đông giáp thị trấn Quân Chu thuộc huyện Đại Từ và xã Phúc Thuận thuộc huyện Phổ Yên Qua các đỉnh của dãy núi Tam Đảo, xã Quân Chu lần lượt giáp với các xã Đại Đình, Tam Quan, thị trấn Tam Đảo và xã Quang Minh thuộc huyện Tam Đảo

và xã Trung Mỹ thuộc huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyến tỉnh lộ 261 kết nối hai huyện Phổ Yên và Đại Từ đi qua địa bàn xã

2.3.1.2 Địa hình địa mạo

Là xã miền núi nằm ở phí Tây và phía Tây Nam của xã nằm dưới chân dãy núi Tam Đảo với địa hình chủ yếu là đồi núi cao, tiếp đến là dạng đồi bát

úp và địa hình bằng phẳng, độ cao trung bình 80m so với mực nước biển, phía Bắc và phía Đông của xã là các đồi gò nằm xen giữa các khu dân cư và những cánh đồng có diện tích nhỏ hẹp, địa hình của xã nghiêng dần từ phí đông bắc sang phí Tây Nam

2.3.1.3 Khí hậu

Khí hậu có hai mùa rõ rệt; mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều; mưa khô từ tháng 11 đến tháng 3, gió đông bắc chiếm

Trang 21

ưu thế, lượng mưa ít, thời tiết hanh khô, đặc trừng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thể hiện rõ qua các chỉ số nhiệt độ trung bình hằng năm khoảng 22,9ºC lượng mưa phân bố không đều có có sự chênh lệch lớn giữa mùa mưa và mùa khô,

về mùa mưa cường độ mưa lớn, chiếm tới 80% tổng luowgj mưa trong năm

2.3.2 Đặc điểm dân sinh, kinh tế - xã hội

2.3.2.1 Đặc điểm dân số và lao động

Toàn xã có 3.796 nhân khẩu, Với 998 hộ trong đó hộ khá chiếm 16,75%; hộ trung bình chiếm 53,2%; hộ nghèo chiếm 30,05% tổng số hộ trong xã, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động chiếm 58,14%, người ngoài tuổi lao động chiếm 41,86% Trong đó lao động nông, lâm, ngư nghiệp là 1.960 người chiếm 90,7%, lao động phi nông nghiệp là 202 người chiếm 9,3%, tổng số lao động đi làm ngoài địa phương là 268 người, có 48 người làm việc tại nước ngoài

2.3.2.2 Điều kiện kinh tế

- Tình hình sản xuất nông nghiệp

Xã có số khẩu làm nông nghiệp chiếm tỉ lệ lớn chủ yếu sản xuất cây chè, lúa, cây lâm nghiệp và chăn nuôi nhỏ lẻ tỉ lệ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã đang có xu hướng giảm dần từ 95,08% (2009) xuống còn 93,81% (2011), số hộ khẩu phi nông nghiệp chiếm tỉ lệ thấp và đang tăng dần theo

từng năm

- Tình hình sản xuất Lâm nghiệp

Diên tích đất Lâm nghiệp của xã là 2.818,14 ha, trong đó rừng phòng hộ

là 260,91 ha và rừng sản xuất là 502,23 ha Cây trồng chủ yếu là keo tai tượng Sản phẩm từ lâm nghiệp đã mạng lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân trong xã

2.3.2.3 Văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế

Văn hóa: Các hoạt động văn hóa nghệ thuật được tổ chức và đươc triển

khai trên toàn xã Các cấp ủy đảng, các tổ chức chính trị xã hội đã tập trung

Trang 22

tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị và đáp ứng tốt các nhu cầu về hưởng thụ văn hóa và tinh thần cho nhân dân

Xã hội: Trên địa bàn xã gồm 6 dân tộc anh em cùng chung sống:

Kinh; Tày; Nùng; Dao; Sán Dìu; Thái Mỗi dân tộc đều có phong tục tập quán sinh hoạt kinh nghiệm sản xuất riêng

Giáo dục: Trên địa bàn xã Quân Chu đã được công nhận phổ cập mầm

non 5 tuổi phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục THCS, tỉ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học lên trung học phổ thông, bổ túc hoặc học nghề chiếm 98% Tỉ lệ lao độc được đào tạo chuyên môn so với tổng lao động:

Sơ cấp, có chứng chỉ nghề là 300 người chiếm 13,88%; Trung cấp là 56 người chiếm 2,59%; Cao Đẳng là 48 người chiếm 2,22% và Đại Học là 33 người chiếm 1,53%

Y tế: Trạm y tế xã được xây dựng từ những năm 1997 hiện nay cơ sở vật

chất đã bị hư hỏng và xuống cấp, trạm y tế nằm trên địa bàn xóm đền giáp với sận vận động xã, diện tích khuân viên trạm hiện nay là 1080m², diện tích xây dựng là 480m² Số người tham gia bảo hiểm y tế bảo hiểm tự nguyện là 3.141 người, chính sách xã hội là 2.962 người, CCB là 13 người, học sinh sinh viên là

54 người, cán bộ công chức viên chức, quân đội, công an là 112 người đạt 83%

2.3.2.4 Cơ sở hạ tầng

Giao thông: Trên địa bàn xã Quân Chu hệ thống giao thông đường liên

xã có 5 tuyến với tổng chiều dài 13,3km, hệ thống giao thông liên xóm có 7 tuyến với tổng chiều dài 12,3km, hệ thống giao thông trục xóm có 12 tuyến với tổng chiều dài là 15,4km, hệ thống giao thống ngõ xóm với tổng chiều dài

là 18,15km, còn lại chủ yếu là bờ thửa mặt cắt nhỏ hẹp chưa được quy hoạch Nhìn chung tiêu chí đường xá giao thông xã Quân Chu chưa đạt chuẩn theo tiêu chí nông thôn mới

Thủy lợi

- Xã có 16 vai đập dâng nước, trong đó có 4 đập đã được kiên cố còn lại

12 đạp chỉ dựng lại ở mức tạm Hệ thống ao đầm chủ yếu phục vụ cho công tác nuôi trồng thủy sản của các hộ gia đình

Trang 23

- Toàn xã có 14,56km kênh mương, trong đó đã được cứng hóa 2,21km còn lại 12,35km kênh mương chưa được cứng hóa

- Xã có một trạm bơm với công xuất nhỏ chỉ đủ phục vụ cho 1 xóm, trạm bơm được xây dựng kiên cố và vận hành tốt

Điện: Có 99,7% số hộ gia đình trong xã được sử dụng điện lưới quốc

gia, số hộ sử dụng điện là 995 hộ, trong đó số hộ sử dụng điện thường xuyên

và an toàn đạt 68,98% Toàn xã có 5 trạm biến áp với điện áp 35/0,4KV, có 46,2km đường dây hạ thế, có 7,74km đường dây trung thế, hệ thống điện của

xã đảm bảo yêu cầu kĩ thuật của ngành điện

Trường học: Trường mầm non của xã có diện tích 4.682m², cơ sở vật chất

có 6 phòng học, diện tích sân vườn là 1.800m², phòng chức năng chưa đáp ứng được đày đủ trong việc dạy và học, sân trường chưa đổ bê tông và lát gạch, trường chưa đạt chuẩn quốc gia Trường tiểu học có diện tích 4.665m², có 13 phòng học được chia làm 2 khu, phòng chức năng cơ bản đã hoàn thiện, đầy đủ sân trường được lát gạch bê tông, trường đạth chuẩn quốc gia mức độ 1 năm học 2009-2010 Trường THCS có diện tích 7.090,6m², cơ sở vật chất có 17 phòng học, diện tích sân chơi bãi tập có 3000m², phòng chức năng đầy đủ, sân trường được đổ bê tông, trường đạt chuẩn quốc gia vào năm 2011-2012

2.3.3 Những thuận lợi và khó khăn từ điều kiện cơ bản trong hoạt động sử dụng tài nguyên thuốc

Trang 24

Dãy núi Tam Đảo Ngoài ra xã là một xã đang phát triển nên có nhu cầu và sư quan tâm tới sức khỏe con người ngày càng cao, đặc biệt là việc sử dụng các loài cây có sẵn trong tư nhiên là rất cao

- Khó khăn:

Xã có hệ thống đường giao thông tương đối kém và xấu nên việc đi lại giao lưu học hỏi còn bị hạn chế hiện nay trên địa bàn xã diện tích rừng khá nhiều tuy nhiên các loài cây thuốc quý hiếm đang bị lấy đi rất nhiều khiến cho việc tìm và phát hiện rã chúng rất khó khăn, cùng với đó là những kiến thức

về cậy thuốc của một số bậc thầy thuốc đông y đang dần bị mai một vì không

có truyền nhân kế thừa hoặc không đủ khả năng kế thừa những khối kiến thức

to lớn mà cả đời họ đúc kết Ngoài ra cùng với sự phát triển của xã hội nên việc sử dụng thuốc tây nhiều với nhiều sự tiện lợi và công dụng nhanh chóng

đã làm cho sự phát triển nghề thuốc nam chậm lại và ít được ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày và làm cho thế hệ trẻ hiên nay không còn biết đến những giá trị của những cây thuốc quý

Trang 25

PHẦN 3

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loài LSNG được người dân trên địa bàn xã Quân Chu sử dụng để làm thuốc

- Tri thức bản địa của đồng bào dân tộc Dao, Sán Dìu trên địa bàn xã trong việc khai thác và sử dụng LSNG làm thuốc

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm thực tập tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

- Thời gian tiến hành từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2018

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra thành phần loài cây sử dụng làm thuốc

- Mô tả được đặc điểm, hình thái, sinh thái của một số loài LSNG được

sử dụng làm dược liệu, Cách khai thác, công dụng và cách chế biến của các

loài thực vật dùng làm thuốc

- Những thuận lợi và khó khăn hiện tại của người dân trên địa bàn xã Quân Chu trong việc sử dụng các loài LSNG làm dược liệu trước áp lực của

các loại dược liệu hóa học

- Ứng dụng Kiến thức bản địa trong việc sử dụng, canh tác và gây trồng

các loài cây thuốc Xác định những loài cây được ưu tiên bảo tồn và gây trồng

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao công tác bảo tồn các loài LSNG

và các bài thuốc của đồng bào người dân trên địa bàn xã Quân Chu

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin

Phương pháp điều tra phỏng vấn: Phỏng vấn người dân đặc biệt là các ông lang bà mế người dân tộc Dao, Sán Dìu… và những người dân có kinh

Trang 26

nghiệm về sử dụng cây thuốc ở xã Quân Chu huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên Phương pháp thu thập và xử lý mẫu vật: Tiến hành thu thập các cây thuốc quý theo sự chỉ dẫn của các thầy thuốc bản địa và theo danh lục đã phỏng vấn tại các xóm Chiểm 1, Chiểm 2, Vang, Hòa Bình 1, Hòa Bình 2… trong xã Quân Chu, Huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên Thời gian thu mẫu từ tháng 03 năm

2018 đến tháng 05 năm 2018 Xử lý mẫu thu được và xác định được tên khoa học của các loài cây thuốc quý tại Phòng thí nghiệm của Trạm Đa Dạng Sinh Học Mê Linh, xã Ngọc Thanh, Thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

Phương pháp phân tích và phân loại mẫu: Phân loại mẫu dựa trên phương pháp hình thái truyền thống, kết hợp với kinh nghiệm của các chuyên gia và các bộ Thực vật chí chuyên ngành như: Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 1999-2000) [10]; Iconographia Cormophytorum Sinicorum (ICS, 1972-1976) [11]; Từ điển cây thuốc (Võ Văn Chi, 1996) [12]; Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 2005) [13]; Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2001-2005) [14], Sách đỏ Việt Nam, Phần II Thực vật (2007) [15], Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, Tập I-II (Đỗ Huy Bích và cộng sự, 2006) [16]… Tiến hành xác định tên khoa học và lập danh lục cây thuốc quý hiếm tại Thái Nguyên Phương pháp đánh giá mức độ nguy cấp: Theo Sách đỏ Việt Nam [15], Nghị định 32/2006/NĐ-CP [16] và Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam trong cẩm nang cây thuốc cần bảo vệ ở Việt Nam của Nguyễn Tập (2007) [17]

Trang 27

Bảng 3.1: Khung phân tích phương pháp tiến hành nghiên cứu

Điều tra thành

phần loài cây sử

dụng làm thuốc

-Xác định được các loài LSNG được người dân khai thác và sử dụng

-Xác định được tên địa phương, tên thông thường, tên khoa học của các loài LSNG

-Điều tra các hộ gia đình theo phương pháp liệt kê tư do

-Tham khảo sử dụng các tài liệu và vận dụng những kiến thức đã học vào việc xác định tên khoa học, tên phổ thông của những cây thuốc

- Mô tả cách khai thác, công dụng và cách chế biến của các loài thực vật dùng làm thuốc

- Điều tra theo bảng câu hỏi các loài cây được sử dụng làm thuốc

- Điều tra thực địa chụp ảnh, lấy mẫu, mô tả các loài LSNG được điều tra

Phân tích những

thuận lợi và khó

khăn hiện tại

của người Cao

Lan trong việc

sửdụng các loài

LSNG làm dược

liệu

- Những thuận lợi và khó khăn

trong việc khai thác, quản lý

và gây trồng các loài cây được

sử dụng làm thuốc

- Những thuận lợi và khó khăn trước áp lực của các loại dược liệu hóa học (Đông - Tây Y)

- Phỏng vấn các đối tượng (hộ gia đình thầy lang)

+ Những thuận lợi khó khăn trong

sử dụng, khai thác và quản lý cây thuốc

+ Những thuân lợi và khó khăn trong việc chế biến và sử dụng + Những thuận lợi và khó khăn trong việc bảo tồn và gây trồng cây thuốc Ứng dụng kiến

- Xác định những loài cây đươc ưu tiên bảo tồn và gây trồng

- Phỏng vấn người dân về việc gây trông các loại thuốc tại vườn nhà và khả năng gây trồng, tính chuyên biệt của các loại cây thuốc

- Thảo luận với cộng đồng và cho điểm đối với từng loại cây về độ hữu ích, tính chuyên biệt về nơi sống và mức độ tác động đến sự sống của loài

Trang 28

3.4.2 Phương pháp xử lý thông tin

- Thông tin từ tài liệu thứ cấp: thu thập các tài liệu có liên quan đến đề tài, lựa chọn, chọn lọc và tổng hợp thông tin

- Thông tin từ phỏng vấn và thảo luận nhóm với cộng đồng: từ các nguồn thông tin thu thập được khi phỏng vấn, chia ra thành những nội dung giống hay khác nhau sau đó tổng hợp lại các nội dung phục vụ cho đề tài

- Thông tin từ phỏng vấn hộ: thực hiện phỏng vấn hộ gia đình, theo hộ hoặc theo % ý kiến Sau đó tổng hợp các ý kiến theo bảng

- Tổng hợp thông tin từ các nguồn trên so sánh với các tài liệu về cây thuốc khác, từ đó đưa ra các thông tin và sử dụng nguồn thông tin đã tổng hợp

3.4.3 Phương pháp thu mẫu và ép tiêu bản

Thu thập mẫu từ thực địa

- Khi thu mẫu phải nắm được các quy định về pháp luật (Các loài thuộc sách đỏ, các loài, các khu vực cấm thu mẫu)

- Cần có hiểu biết, làm quen với các cây độc, các cây dễ gây dị ứng Ví

dụ Cây Sơn (Rhus verniciflua) dễ gây lở (lỏ sơn), các loài han gây ngứa, không để các chất độc,nhựa rơi vào mắt, đường hô hấp, mồm

- Chuẩn bị các dụng cụ cần thiết: Dụng cụ chặt, đào như dao, kéo, búa rìu, thuổng, thước đo, cặp ép

- Thu thập thực vật nhỏ, các bộ phận nhỏ cần có ống nhựa vặn nút kín (có thể đổ dung dịch cố định vào trước) Thu thập cây dưới nước và ở đầm lầy cần phải có túi nhựa, túi polyethylen, nên dùng loại túi kép

- Ghi chép vào sổ tay riêng, sử dụng bút chì đen thường (Không dùng bút chì hoá học)

- Cần có một bộ nhãn, chỉ để buộc vào từng mẫu tương ứng với ghi chép ngoài thực địa trong sổ tay

- Kích thước mẫu tiêu bản tiêu chuẩn trên thế giới là 41x 29 cm nên mọi mẫu vật thực vật cần phải bố trí theo tiêu chuẩn đó Cây to hoặc dày bằng mọi

Trang 29

cách cần phải làm cho có kích thước phù hợp với kích thước mẫu tiêu bản Mẫu dày, cồng kềnh phải chẻ ra, sấy khô để khâu lên tiêu bản Cây lớn có thể lấy từng phần nhỏ

- Trong tự nhiên các cá thể trong cùng một loài có thể có những đặc điểm khác nhau về mặt hình thái nên thông thường phải chọn các mẫu tiêu biểu và thu mẫu ít nhất từ 2-3 cá thể

- Cây thảo, nhỏ thường thu cả cây, cố gắng thu nhiều mẫu ở các thời gian sinh trưởng, phát triển khác nhau kèm hoa, quả, hat

- Khi đào rễ cần chú ý tới những lá khô ở gốc (đôi khi có thể giúp ích cho việc định loại), rửa hệ rễ và làm cho ráo nước (nếu có thể được)

- Ghi chép ngoài thực địa cần chú ý tới các dẫn liệu màu sắc, mùi vị, các

tư liệu về địa chất Cần ghi chép tại chỗ (Không được tin vào trí nhớ vì có thể quên, nhầm lẫn) Nên ghi số lên nhãn và buộc vào mẫu bằng chỉ dai

- Có thể sử dụng các phương tiện chụp ảnh, quay phim để ghi lại các đặc điểm giảm nhẹ quá trình ghi chép

- Mẫu mới thu có thể đặt giữa hai lớp giấy bản hoặc báo Thời gian giữ mẫu trong cặp ép đi thực địa phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và bản chất của mẫu, tránh quá nóng, ẩm (dễ làm rụng lá ở tiêu bản)

Sấy mẫu tiêu bản

- Ép và sấy cho cây khô là hai quá trình không tách rời nhau, trong khi sấy cần ép chặt mẫu để lá khỏi nhăn nheo, để mẫu cây nằm đúng vị trí định khâu mẫu

- Mẫu cây thu từ thực địa đem về nơi xử lý thường bị héo ít nhiều Sắp xếp mẫu cây trên giấy để cố định trước khi sấy Thường đặt trên tờ báo có kích thước lớn gấp đôi kích thước mẫu (một nửa làm nền,một nửa gập đậy lên) Khi sắp xếp cần tuân thủ một số nguyên tắc:

+ trong số các lá ít nhất có một lá được lật ngược lên

+ Không để các bộ phận của cây đè lên nhau

Trang 30

+ Nếu có hoa sắp xếp ép để có thể nhìn thấy được bên trong hoa

+ Cần sắp xếp đều trên diên tích cho phép (không tập trung vào phần giữa) + Cây dài có thể sắp xép theo hình chữ V, N hay hình khác

+ Nếu cần bỏ lá chú ý giữ cuống lá (để thấy được sự sắp xếp lá trên cây) + Những phần nhỏ (hoa, lá) bị rụng cần đặt bên cạnh mẫu

+ Các bộ phận sử dụng làm thuốc có thể bảo quản bằng cách phơi sấy khô hoặc ngâm trong các dịch bảo quản

Sau khi xếp mẫu lên tờ báo gập nửa tờ báo còn lại lên trên mẫu Đặt các mẫu lên cặp ép (không dày quá 40cm) buộc cặp ép lại sấy ở 35-400

C trong khoảng 8-12h Trong quá trình sấy cần thường xuyên thông thoáng Lấy cặp

ép ra buộc lại, sấy cho đến khô

Khâu mẫu cây lên tiêu bản

Giấy để khâu có kích thước 41 x 29 cm, thường làm bằng bìa trắng, với mẫu lớn hay mẫu gỗ cần có giấy dày, chắc hơn Đặt mẫu cây thuốc đã ép và sấy khô lên bìa và khâu vào bìa, dán giấy lên trên các nốt khâu ở mặt trái Khi mẫu đã khâu xong ở góc phải phía dưới của tiêu bản người ta dán nhãn vào Kích thước nhãn 8 x13 cm Nội dung nhãn gồm các thông tin:

Ngày thu mẫu

Tên người thu mẫu

Người và ngày định tên

Cơ quan nghiên cứu

Bảo quản mẫu tiêu bản khô

Mẫu cần bảo quản nơi khô ráo, tránh nấm mốc, mối mọt Sắp xếp mẫu theo các quy ước để dễ tìm, tra cứu khi cần thiết

Trang 31

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

4.1 Điều tra thành phần các loài cây LSNG sử dụng để làm thuốc

4.1.1 Sự đa dạng trong các bậc Taxon

4.1.1.1 Sự đa dạng ở bậc ngành

Đa dạng ở bậc ngành Kết quả nghiên cứu đến nay đã ghi nhận được 156 loài thực vật bậc cao có mạch, phân bố ở 3 ngành: ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta), ngành Dương xỉ (Polypodiophyta), và ngành Mộc lan (Magnoliophyta), thể hiện ở Bảng 4.1

Bảng 4.1 Đa dạng bậc Taxon nguồn cây thuốc tại xã Quân Chu – Đại Từ - Thái Nguyên

TT

Ngành và lớp

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Trang 32

Bảng 4.2 Số lượng họ, chi, loài ở hai lớp của ngành Mộc lan

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Qua điều tra nghiên cứu, chúng tôi đã xác định được tại khu vực nghiên cứu có 156 loài cây thuốc được sử dụng chữa bệnh thuộc 2 ngành thực vật bậc cao có mạch và phân bố trong các bậc taxon thể hiện ở bảng 1 Theo thống kê ở bảng 1, sự phân bố ở các loài cây thuốc ở từng ngành là không đồng đều, các taxon tập trung chủ yếu trong ngành Mộc lan (Magnoliophyta) với 57 họ, 92 chi, 151 loài, chiếm số lượng tương ứng là 93,44%; 95,83%; 96,79% tổng số họ, chi, loài thực vật làm thuốc của khu vực nghiên cứu Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 3 họ, 3 chi, 4 loài Ngành Mộc lan bao gồm lớp Mộc lan (Magnoliopsida) và lớp Hành (Liliopsida) có sự đa dạng nhất ở khu vực nghiên cứu: Lớp Mộc lan (Magnoliopsida) có 51 họ, 71 chi,

120 loài chiếm tỷ lệ tương ứng 89,47%; 77,17%; 79,47% Lớp Hành (Liliopsida) chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ với 6 họ chiếm 10,52%; 21 chi chiếm 22,83%; 31 loài chiếm tỷ lệ 20,52% so với tổng số họ, chi, loài trong ngành Mộc lan Trong quá trình điều tra thu mẫu, tôi nhận thấy hầu hết các mẫu cây thuốc thu được đều được các ông lang, bà mế sử dụng chữa bệnh Có thể nói không chỉ có nhiều nét đặc trưng về văn hoá mà tri thức bản địa trong việc sử dụng cây cỏ làm thuốc của họ cũng rất độc đáo

Trang 33

4.1.2 Bài thuốc theo nhóm bệnh của người dân tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên

Bảng 4.3: Một số bài thuốc theo nhóm bệnh của người dân

tại xã Quân Chu – Đại Từ - Thái Nguyên

Tên địa phương

Cây thu tranh Mây páng pẩu Lá

Cây lai đá Mầy lái Lá

2 Bệnh gan

Cây chấp bút Như tóc tàm Lá

Lấy khoảng 0,3kg khô xắc dùng để uống, có thể uống thay nước

Cây huyết dụ Mầy thít sội Lá

Cây hà thủ ô Hào ém pệ Thân , lá

4

Chữa

bệnh đau

đầu

Nhọ nồi Nhọ nồi Cả cây

Giã nhỏ rồi bọc vào lá chuối lùi vào tro bếp cho nóng, rồi chườm lên thái dương

Chuối rừng Cở cói đông Lá Đơn nem Mây măng xi Cành, lá Ngải cứu Phặc kim Cả cây

Trang 34

TT Công

Tên địa phương

Tơ hông vàng Nhữ hang lưng Dây

Lá gai Mầy đái Thân, lá

9 Hạ sốt Đu đủ rừng Mạc mưiđông Cả cây Giã nhỏ, đun sôi, uống

Rau dấp cá Tầm sằm lùng Cả cây

10 Chữa

hắc lào Cây riềng Làng lèo Củ

Giã nhỏ ngâm với rượu sau đó bôi vào chỗ bệnh

4.2 Mô tả đặc điểm hình thái và sinh thái của một số cây tiêu biểu được người dân trên địa bàn xã Quân Chu sử dụng để làm thuốc chữa bệnh

4.2.1 Mô tả hình thái, đặc điểm của các loài cây được người dân trên địa bàn xã Quân Chu sử dụng làm thuốc

Để tiện cho việc nghiên cứu, sử dụng, nhận biết và thu hái một số cây thuốc tại khu vực nghiên cứu Tổng hợp một số đặc điểm hình thái và phân

bố, kết hợp với hình ảnh minh họa kèm theo của các cây thuốc thông dụng Kết quả được trình bày dưới bảng sau

Trang 35

Bảng 4.4: Mô tả đặc điểm hình thái và sinh thái của một số loài cây tiêu biểu được người dân trên địa bàn xã Quân Chu sử dụng làm thuốc

Trang 36

Thân thảo, toàn

thân có màu xanh,

Ngày đăng: 25/05/2019, 10:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w