Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh lợn mẹ và lợn con theo mẹ tại trang trại Nguyễn Văn Đẩu, Từ Sơn, Bắc NinhThực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh lợn mẹ và lợn con theo mẹ tại trang trại Nguyễn Văn Đẩu, Từ Sơn, Bắc NinhThực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh lợn mẹ và lợn con theo mẹ tại trang trại Nguyễn Văn Đẩu, Từ Sơn, Bắc NinhThực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh lợn mẹ và lợn con theo mẹ tại trang trại Nguyễn Văn Đẩu, Từ Sơn, Bắc NinhThực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh lợn mẹ và lợn con theo mẹ tại trang trại Nguyễn Văn Đẩu, Từ Sơn, Bắc NinhThực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh lợn mẹ và lợn con theo mẹ tại trang trại Nguyễn Văn Đẩu, Từ Sơn, Bắc NinhThực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh lợn mẹ và lợn con theo mẹ tại trang trại Nguyễn Văn Đẩu, Từ Sơn, Bắc NinhThực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh lợn mẹ và lợn con theo mẹ tại trang trại Nguyễn Văn Đẩu, Từ Sơn, Bắc NinhThực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh lợn mẹ và lợn con theo mẹ tại trang trại Nguyễn Văn Đẩu, Từ Sơn, Bắc NinhThực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh lợn mẹ và lợn con theo mẹ tại trang trại Nguyễn Văn Đẩu, Từ Sơn, Bắc NinhThực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh lợn mẹ và lợn con theo mẹ tại trang trại Nguyễn Văn Đẩu, Từ Sơn, Bắc Ninh
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
TRIỆU THỊ THÙY LINH
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH LỢN MẸ VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRANG TRẠI
NGUYỄN VĂN ĐẨU, TỪ SƠN, BẮC NINH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y
Khóa học : 2014 - 2018
Thái Nguyên, 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
TRIỆU THỊ THÙY LINH
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH LỢN MẸ VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRANG TRẠI
NGUYỄN VĂN ĐẨU, TỪ SƠN, BẮC NINH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y
Khóa học : 2014 – 2018 Giảng viên hướng dẫn : GS.TS Từ Quang Hiển
Thái Nguyên, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết em xin gửi lời
cảm ơn tới toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu và bổ ích trong
suốt những năm học vừa qua
Em xin dành lời cảm ơn sâu sắc tới GS.TS Từ Quang Hiển đã tận tình
giúp đỡ và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi
Thú y đã giúp đỡ em hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn ông Nguyễn Văn Đẩu, phường Đồng
Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh cùng toàn thể anh em kỹ thuật, công
nhân trong trang trại đã tạo điều kiện giúp đỡ cho em trong suốt quá trình
thực tập
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể gia đình, bạn bè đã giúp
đỡ và động viên em trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực
tập tốt nghiệp
Trong quá trình thực tập vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, chỉ dựa
vào kiến thức đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên báo cáo không tránh khỏi
sai sót Em kính mong được ý kiến nhận xét của thầy cô để giúp cho kiến thức
của em ngày càng hoàn thiện và có nhiều kinh nghiệm bổ ích cho công việc
sau này
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018
Sinh viên
Triệu Thị Thùy Linh
Trang 4Xuất phát từ những đòi hỏi trên, được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú y, được sự phân công của thầy, cô giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của
trang trại Nguyễn Văn Đẩu, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh chúng em đã tiến hành chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh lợn mẹ và lợn con theo mẹ tại trang trại Nguyễn Văn Đẩu, Từ Sơn, Bắc Ninh”
Trong thời gian thực tập được sự giúp đỡ nhiệt tình của chủ trại, cán bộ
kỹ thuật và toàn bộ công nhân trong trại cùng với sự chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo và sự nỗ lực của bản thân, em đã hoàn thành tốt nhiệm vụ và thu
được một số kết quả nghiên cứu nhất định
Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, kiến thức chuyên môn chưa sâu, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều và thời gian thực tập còn ngắn nên trong bản khóa luận này của em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Em kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của thầy, cô giáo cùng các bạn để bản khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
Trang LỜI CẢM ƠN LỜI MỞ ĐẦU i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT v
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất của trang trại 3
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại 4
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 5
2.2.1 Một số hiểu biết về lợn con 5
2.2.2 Kỹ thuật chăm sóc lợn con theo mẹ 6
2.2.3 Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ 11
2.2.4 Cai sữa cho lợn con 15
2.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn con 17
2.2.6 Một số biện pháp phòng bệnh cho lợn con theo mẹ 19
2.2.7 Một số bệnh ở lợn con 21
2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 24
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 24
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 26
PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 28
3.1 Đối tượng 28
Trang 63.2 Địa điểm và thời gian thực hiện 28
3.2 Nội dung thực hiện 28
3.3 Phương pháp tiến hành 28
3.3.1 Các chỉ tiêu theo dõi 28
3.3.2 Phương pháp theo dõi 28
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 29
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 30
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại Nguyễn Văn Đẩu, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh 30
4.2 Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng 31
4.2.1 Nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái 31
4.2.2 Nuôi dưỡng và chăm sóc lợn con 31
4.3 Thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn con 1 đến 21 ngày tuổi tại trại 36
4.3.1 Công tác vệ sinh 36
4.3.2 Công tác phòng bệnh 38
4.4 Kết quả chẩn đoán và điều trị một số bệnh cho lợn nái và lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 40
4.4.1 Chẩn đoán bệnh 40
4.4.2 Điều trị bệnh 40
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.2 Đề nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
I Tài liệu trong nước 48
II Tài liệu nước ngoài 49
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Lịch tiêm vắc xin phòng bệnh của trại cho lợn nái 20
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại 30
Bảng 4.2 Kết quả thực hiện đỡ đẻ, phẫu thuật trên đàn lợn con 34
Bảng 4.3 Kết quả chăm sóc nuôi dưỡng lợn con từ 1 đến 21 ngày tuổi 36
Bảng 4.4 Lịch sát trùng trại lợn nái 37
Bảng 4.5 Kết quả khử trùng tại cơ sở 38
Bảng 4.6 Kết quả tiêm phòng vắc xin cho lợn con tại cơ sở 39
Bảng 4.7 Kết quả chẩn đoán bệnh cho lợn nái và lợn con từ 1 đến 21 ngày tuổi trong thời gian thực tập tại cơ sở 43
Bảng 4.8 Kết quả điều trị bệnh cho lợn nái và đàn lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi trong thời gian thực tại cơ sở 45
Trang 9Với vị trí quan trọng hàng đầu trong việc cung cấp một lượng thực phẩm lớn cho tiêu dùng của người dân, nên chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đang được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm đến việc phát triển Nhờ vậy, công tác lai tạo giống cũng được triển khai và thu được nhiều kết quả to lớn như: Tạo ra các giống lợn có tầm vóc lớn, sinh trưởng nhanh, tỉ
lệ nạc cao Bên cạnh đó là việc áp dụng phương thức chăn nuôi theo hướng công nghiệp, quy mô chăn nuôi lớn, áp dụng các biện pháp kĩ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng tiên tiến, chế biến thức ăn chất lượng cao, các loại thức ăn thay thế, thức ăn bổ sung, phối hợp khẩu phần ăn có đầy đủ các chất dinh dưỡng
Trong đó, công tác thú y đã được đặc biệt chú ý đến
Thịt lợn không chỉ cần thiết cho nhu cầu dinh dưỡng của con người mà còn phù hợp với khẩu vị của đại đa số người sử dụng nó Thịt lợn chiếm 75-80% so với các loại thịt trong chăn nuôi Để đáp ứng được nhu cầu bức thiết này, Đảng và Nhà nước ta không ngừng quan tâm đầu tư phát triển ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng Để phát triển chăn nuôi lợn cần thực
Trang 10hiện tốt các khâu chăm sóc nuôi dưỡng và phòng bệnh, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn, đảm bảo lợn con sinh trưởng nhanh, khỏe mạnh và cung cấp con giống có chất lượng tốt cho chăn nuôi Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi - Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
và giáo viên hướng dẫn, em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh lợn mẹ và lợn con theo mẹ tại trang trại Nguyễn Văn Đẩu, Từ Sơn, Bắc Ninh”
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục đích
- Biết được quy trình chăm sóc lợn con giai đoạn từ 1 đến 21 ngày tuổi
- Biết được các loại thức ăn dành cho lợn con giai đoạn từ 1 đến 21 ngày tuổi, khẩu phần ăn và cách cho lợn con ăn giai đoạn từ 1 đến 21 ngày tuổi
- Biết được các bệnh hay xảy ra đối với lợn con giai đoạn từ 1 đến 21 ngày tuổi
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất của trang trại
Trang trại chăn nuôi của ông Nguyễn Văn Đẩu nằm trên một cánh đồng rộng, cách xa khu dân cư, thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Đây là một trong những trang trại có quy mô lớn Trang trại có tổng diện tích khoảng hơn
5 ha là khu chăn nuôi tập trung cùng các công trình phụ Được thành lập và đi vào sản xuất từ năm 1997 với số vốn đầu tư lên tới gần 30 tỷ đồng, trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản do Công ty Cổ phần thức ăn chăn nuôi GreenFeed Việt Nam cung cấp 3 giống là Landrace – Yorkshire và Duroc
Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 1093 nái bao gồm: 7 chuồng đẻ mỗi chuồng có 44 ô kích thước 2,2m
× 1,8m/ô, 3 chuồng bầu mỗi chuồng có 300 ô kích thước 2,2m × 0,7m/ô, 5 chuồng đực giống + nái hậu bị có 20 ô kích thước 5m × 6m, không có chuồng thương phẩm Cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc…
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 4 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, 3 quạt to và 3 quạt nhỏ đối với các chuồng bầu, chuồng nái hậu bị và đực giống Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,2m², cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 50cm Trên trần đươc lắp hệ thống chống nóng bằng thép
Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: kính hiển vi, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết
bị khác
Trang 12Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng
Trang trại áp dụng quy trình nuôi lợn theo kỹ thuật cao từ khâu chọn giống đến kỹ thuật chăn nuôi Khu sản xuất được phân ra nhiều phân khu chuồng trại liên hoàn nhau để nuôi lợn theo từng giai đoạn riêng và áp dụng chế độ dinh dưỡng phù hợp cho từng loại lợn và thời gian mang thai Thức ăn cho mỗi loại lợn cũng có chế độ dinh dưỡng khác nhau
Hệ thống nước trong trại chăn nuôi cho lợn uống là nước giếng khoan Nước tắm cho lợn, nước xả gầm, rửa chuồng được bơm từ ao chứa nước trong trang trại lên bể chứa và theo hệ thống ống nước dẫn tới các chuồng khác nhau
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu tổ chức của trại được tổ chức như sau:
Chủ trại: 01 người; Quản lý: 01 người; Kỹ thuật trại: 01 người; Công nhân: 20 người và 4 sinh viên thực tập
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa Mỗi tổ thực hiện công việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại
Trang trại đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong vùng còn nhiều khó khăn này Với việc chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi của trại được thực hiện chủ động và tích cực Kỹ sư của trại đã chủ động tổ chức tiêm phòng đầy đủ cho đàn lợn Mỗi con lợn đều có một hồ sơ riêng cho việc phối tinh, đẻ, xuất chuồng, nhập chuồng… Chính xác tới từng ngày Để phòng tránh dịch bệnh, khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt Mọi nhân viên trong trại cho đến khách, muốn vào chuồng lợn đều phải đi qua hệ thống sát trùng, tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo và đi ủng chuyên dụng Trong các chuồng lợn, ngày vài lần, công nhân làm vệ sinh cũng như phun thuốc sát
Trang 13trùng xuống nền chuồng Xung quanh trạng trại được trồng cây xanh để tạo môi trường tự nhiên thông thoáng cho lợn sinh trưởng và phát triển tốt nhất
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1 Một số hiểu biết về lợn con
* Đặc điểm về sinh trưởng, phát triển của lợn con
+ Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kỳ gia súc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh con khỏe mạnh
+ Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [14] so với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp
4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần
+ Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn, nhanh nhất trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần.Sở dĩ
có sự giảm này là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng Hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm Thời gian bị giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm Do lợn con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng mạnh
Ví dụ: Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 - 14 gam protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy được 0,3 - 0,4 gam protein/1 kg khối lượng cơ thể
+ Hơn nữa, để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượng nghĩa là tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành Vì vậy, cơ thể của lợn con chủ yếu là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để
tạo ra 1 kg mỡ
Trang 14* Các thời kỳ quan trọng của lợn con
+ Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi: là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn về môi trường sống, bởi vì lợn con chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể lợn mẹ, chuyển sang điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy, nếu nuôi dưỡng chăm sóc không tốt lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp
Mặt khác lúc này lợn con mới đẻ còn yếu ớt, chưa nhanh nhẹn Lợn mẹ vừa đẻ xong, cơ thể còn mệt mỏi, đi đứng còn nặng nề vì sức khỏe chưa hồi phục, nên dễ đè chết lợn con Cần nuôi dưỡng chăm sóc chu đáo lợn con ở giai đoạn này
+ Thời kỳ 3 tuần tuổi: là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần từ sau đẻ
và đạt cao nhất ở giai đoạn 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảm nhanh, trong khi đó, nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng và phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu Để giải quyết mâu thuẫn này, cần tập cho lợn con ăn sớm vào 7 - 10 ngày tuổi + Thời kỳ ngay sau khi cai sữa: là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi hoàn toàn, do yếu tố cai sữa gây nên Mặt khác, thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa lợn mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp Nên giai đoạn này, nếu nuôi dưỡng, chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ bị còi cọc, mắc bệnh đường hô hấp, tiêu hóa
Trong chăn nuôi lợn nái ngoại, cai sữa bắt đầu lúc 21 ngày, kết thúc lúc
23 ngày thì thời kỳ khủng hoảng 2 và 3 trùng nhau, hay nói cách khác ta đã làm giảm được 1 thời kỳ khủng hoảng của lợn con
2.2.2 Kỹ thuật chăm sóc lợn con theo mẹ
Chăm sóc là khâu quan trọng nhất trong việc nuôi dưỡng lợn con ở thời
kỳ bú sữa vì đây là thời kỳ lợn con chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại
Trang 15cảnh Nếu điều kiện ngoại cảnh bất lợi sẽ rất dễ gây ra tỉ lệ hao hụt lớn ở lợn con
Nền cứng hoặc sàn thưa không có độn khu vực cho lợn con mới sinh cần giữ ấm ở 32 - 35oC trong mấy ngày đầu, sau đó giữ 21 - 27oC cho đến lúc cai sữa
3 - 6 tuần tuổi Nhiệt độ, độ ẩm và tốc độ gió làm thành một hệ thống tác nhân stress đối với gia súc
Theo Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [9], nhiệt độ môi trường ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của lợn Nhu cầu nhiệt độ của lợn tùy vào từng giai đoạn sinh trưởng, lợn sữa giai đoạn 1 - 7 ngày tuổi cần nhiệt độ
30 – 31oC, lợn trên 20 ngày tuổi cần nhiệt độ 20 - 24oC Trong mùa đông ở các tỉnh phía Bắc nhiều ngày giá lạnh, nhiệt độ có thể hạ xuống dưới 10oC ảnh hưởng không tốt đến tỷ lệ sống và khả năng tăng trưởng của lợn con
Theo Hồ Văn Nam và cs (1997) [13], khi gia súc bị lạnh ẩm kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác động thực bào, do đó gia súc dễ bị vi khuẩn cường độc gây bệnh
+Tiêm phòng:
Khi lợn con được 20 ngày tuổi nên tiêm phòng những loại vắc xin:
- Salmonella (2 ml/con) phòng bệnh phó thương hàn
- Giai đoạn lợn được 45 ngày tuổi nên tiêm phòng vắc xin dịch tả
- Giai đoạn 60 - 70 ngày tuổi nên tiêm phòng vắc xin tụ huyết trùng và đóng dấu
Trang 16Quản lý lợn con: Đối với những lợn con có dự định chọn làm giống thì cần phải có kế hoạch quản lý tốt Những con này sẽ được cân và đánh số ở các giai đoạn sơ sinh, lúc cai sữa, lúc 50, 60 hay 70 ngày tuổi Đây chính là cơ
sở giúp cho việc lựa chọn để làm giống sau này
* Giai đoạn từ sơ sinh đến 3 ngày tuổi
Bình thường khoảng thời gian giữa lợn con đẻ trước và lợn con đẻ liền kề
15 – 20 phút, cũng có khoảng cách nái đẻ kéo dài hơn
+ Đỡ đẻ lợn con:
- Sau khi lợn mẹ đẻ, lấy lợn con từ trong chuồng ra
- Vuốt hết dịch vùng đầu và mặt Vỗ nhẹ vào thân để kích thích hô hấp
- Vuốt hết màng bọc và nhớt ở phần thân và chân lợn Dùng khăn lau khô người lợn, lợn con phải khô và sạch trước khi cắt dây rốn
- Cầm lợn con và dây buộc rốn, thắt dây rốn ở vị trí cách cuống rốn 2,5
cm, dùng kéo cắt phần bên ngoài nút thắt một đoạn bằng 1/2 bên trong nút buộc khoảng 1,5 cm Sát trùng dây rốn, vùng cuống rốn bằng cồn iod
- Cho lợn con vào lồng úm nhiệt độ từ 33 - 35ºC
- Trước khi cho lợn con ra bú cần lau sạch vú lợn mẹ, lót thảm cho lợn con ra bú
- Phải trực liên tục cho đến khi lợn nái đẻ xong hoàn toàn, nhau ra hết, lợn nái trở về trạng thái yên tĩnh và cho con bú
+ Cắt đuôi, bấm răng nanh:
Thường thì trong chăn nuôi công nghiệp cần phải tiến hành cắt đuôi cho lợn nuôi thịt Vì lợn nuôi thịt thường được nuôi thành các đàn lớn và có mật độ cao cho nên lợn thường tấn công nhau gây mất ổn định, giảm năng suất chăn nuôi Vị trí tấn công thường là đuôi
Việc cắt đuôi thường tiến hành ngay sau đẻ hoặc trong tuần đầu sau đẻ Dùng kìm điện cắt sát khấu đuôi sao cho để lại 2,5 – 3 cm Cắt xong dùng cồn iot 5% để sát trùng
Trang 17Ngoài ra lợn con mới đẻ đã có răng nanh, nên việc bấm răng nanh cũng tiến hành ngay sau đẻ để tránh tình trạng gây đau cho lợn mẹ khi bú, giảm tỷ
lệ gây viêm vú cho lợn mẹ Khi cắt răng nanh, người cắt tránh không phạm vào lưỡi lợn con, ngoài ra người cắt cũng nên cẩn thận không để nanh gẫy bắn vào mắt mình
Theo Phạm Sĩ Lăng - Nguyễn Bá Hiên (2013) [11], bệnh phó thương hàn là bệnh truyền nhiễm chủ yếu xảy ra ở lợn con 2 - 4 tháng tuổi Đặc trưng của bệnh là do vi khuẩn tác động vào bộ máy tiêu hóa gây nên triệu chứng nôn mửa, ỉa chảy, phân khắm, vết loét lan tràn ở ruột già
* Giai đoạn 3 ngày tuổi đến 3 tuần tuổi
Trong thời gian này nói chung ổ lợn con đã bú thành thạo và rõ ràng đã bước vào giai đoạn khởi động tốt trong thời gian này việc chăm sóc quản lý rất quan trọng bao gồm cả phòng chống thiếu máu khống chế tiêu chảy, thiến lợn và cắt đuôi Trong giai đoạn này sữa lợn mẹ đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con trong mọi vấn đề, trừ sắt Sắt cần thiết cho việc hình thành hemoglobin trong máu nó vận chuyển oxygen đến các bộ phận cơ thể Thiếu sắt sẽ gây thiếu máu nhưng có thể phòng ngừa bằng cách tiêm sắt
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [5], một trong các yếu tố làm cho lợn con dễ mắc bệnh đường tiêu hóa là do thiếu sắt Nhiều thực nghiệm đã chứng minh, trong cơ thể sơ sinh phải cần 40 – 50mg sắt nhưng lợn con chỉ nhận được lượng sắt qua sữa mẹ là 1mg Vì vậy phải bổ sung một lượng sắt tối thiểu 200 -250mg/con/ngày Khi thiếu sắt, lợn con dễ sinh bần huyết, cơ thể suy yếu, sức đề kháng giảm nên dễ mắc hội chứng tiêu chảy
Nhu cầu sắt cho lợn con mỗi ngày cần 7 - 16 mg hoặc 21 mg/kg tăng khối lượng duy trì hemoglobin (hồng cầu) trong máu, sắt dự trữ cho cơ thể tồn tại và phát triển Lượng sắt trong sữa mẹ không đủ cho nhu cầu sắt của nhu cầu lợn con, triệu chứng điển hình của thiếu sắt ở lợn con là thiếu máu, hàm lượng
Trang 18hemoglobin giảm, da lợn con màu trắng xanh, đôi khi tiêu chảy, phân trắng, chậm lớn, có khi chết
* Từ 3 tuần tuổi đến cai sữa
Thời gian này lợn con đã lớn nhanh hơn, nó trở thành dẻo dai và có khả năng đương đầu tốt hơn với môi trường ngoại cảnh của nó Vào thời gian này, phần lớn lợn con theo mẹ đã được 3 - 4 tuần tuổi, chúng bắt đầu ăn thức ăn và lớn nhanh, sự tăng khối lượng này là tăng khối lượng có hiệu quả, do đó ta cần
cố gắng giảm thấp yếu tố stress cho lợn con
Nói chung sự tiết sữa của lợn mẹ đạt đến đỉnh cao lúc 3 - 4 tuần tuổi và bắt đầu giảm, lợn con bắt đầu sinh trưởng nhanh ở tuổi này và cần nhận được thức ăn
bổ sung nếu nó sinh trưởng với tiềm năng di truyền của nó, trong giai đoạn này nội ký sinh trùng là vấn đề ở phần lớn các trại lợn và sự phá hoại do ký sinh trùng gây ra có thể bắt đầu từ rất bé Yếu tố chăm sóc, quản lý chủ yếu cuối cùng của việc nuôi lợn con theo mẹ là cai sữa, tuổi cai sữa lợn con có thể thay đổi tùy theo đàn, tùy theo chuồng trại có sẵn Nói chung lợn con có thể cai sữa bất cứ khi nào những lợn con càng bé càng đòi hỏi sự quản lý nhiều hơn Để thực hiện cai sữa được đảm bảo và đạt hiệu quả cao ta cần chú ý những điểm sau để giảm stress khi cai sữa lợn con:
+ Chỉ cai sữa cho những lợn cân nặng trên 5,5 kg
+ Cai sữa trong thời gian trên 2 - 3 ngày, cai sữa trước cho những ổ đông con
+ Ghép nhóm lợn con theo tầm vóc cơ thể
+ Hạn chế số lượng trong 1 ngăn là 30 con hoặc ít hơn, nếu được
+ Hạn chế mức ăn vào trong vòng 48 giờ nếu có xảy ra tiêu chảy sau cai sữa
+ Cứ 4 - 5 lợn con thì đặt 1 máng ăn và cứ 20 - 25 lợn con thì lắp đặt 2 vòi nước uống
+ Cho thuốc vào nước uống nếu tiêu chảy
Trang 192.2.3 Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ
* Cho lợn con bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con:
Lợn con đẻ ra cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Thời gian tiết sữa đầu của lợn nái là 1 tuần kể từ khi đẻ nhưng có ý nghĩa lớn nhất đối với lợn con là trong 24 giờ đầu Sau khoảng 2 giờ, nếu lợn mẹ đẻ xong thì cho cả đàn con bú cùng lúc Nếu lợn mẹ chưa đẻ xong thì nên cho những con đẻ trước bú trước
Theo Vũ Đình Tôn, Trần Thị Thuận (2006) [18], lợn con khi mới sinh
ra trong máu hầu như không có kháng thể Song lượng kháng thể trong máu lợn con được tăng rất nhanh sau khi lợn con bú sữa đầu
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [14], lợn con mới đẻ lượng kháng thể tăng nhanh ngay sau khi bú sữa đầu của lợn mẹ, cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ lợn mẹ
Theo Trần Thị Dân (2008) [3], lợn con mới đẻ trong máu không có globulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹ sang qua sữa đầu Lượng globulin sẽ giảm sau 3 – 4 tuần, rồi đến tuần thứ 5 –
6 lại tăng lên và đạt giá trị bình thường 65 mg/100ml máu Các yếu tố miễn dịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu… được tổng hợp còn ít, khả năng miễn dịch đặc hiệu của lợn con kém Vì vậy cho lợn con bú sữa đầu rất cần thiết để tăng khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh nhất là hội chứng tiêu chảy Sữa đầu có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao Hàm lượng protein trong sữa đầu gấp 2 lần so với bình thường, vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin
C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 1,5 lần Đặc biệt trong sữa đầu có hàm lượng globulin mà sữa thường không có, globulin có tác dụng giúp cho lợn con có sức đề kháng đối với bệnh tật, Ngoài ra, Mg++ trong sữa đầu có tác dụng tẩy các chất cặn bã (phân su) trong quá trình tiêu hóa phát triển thai để
Trang 20hấp thu chất dinh dưỡng mới Nếu không nhận được Mg++ thì lợn con sẽ bị rối loạn tiêu hóa, gây tiêu chảy, tỷ lệ chết cao
Việc cố định đầu vú cho lợn con nên bắt đầu ngay từ khi cho chúng bú sữa đầu, theo quy luật tiết sữa của lợn nái thì lượng sữa tiết ra ở các vú phần ngực nhiều hơn vú ở phần bụng, mà lợn con trong ổ thường con to, con nhỏ không đều nhau Nếu để lợn con tự bú thì những con to khỏe thường tranh bú
ở những vú trước con ngực có nhiều sữa hơn và dẫn tới tỷ lệ đồng đều của đàn lợn con rất thấp, có trường hợp có những con lợn yếu không tranh được
bú sẽ bị đói làm tỷ lệ chết của lợn con cao Khi cố định đầu vú, nên ưu tiên những con lợn nhỏ yếu được bú phía trước ngực Công việc này đòi hỏi phải kiên trì, tỷ mỉ bắt từng con cho bú nhiều lần trong một ngày (7 - 8) lần, làm liên tục trong 3 - 4 ngày để chúng quen hẳn với vị trí mới thôi Cũng có trường hợp số lợn con đẻ ra ít hơn số vú thì những lợn vú phía sau có thể cho mỗi con làm quen 2 vú, để vừa tăng cường lượng sữa cho lợn con, vừa tránh
bị teo vú cho lợn mẹ
Nếu cố định đầu vú tốt thì sau 3 - 4 ngày lợn con sẽ quen tự bú ở các vú quy định cho nó, lợn con quen nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào thế nằm của lợn mẹ, nếu lợn mẹ thường xuyên nằm quay về một phía khi cho con bú thì lợn con nhận biết vú quy định của nó sớm hơn Ngược lại, nếu lợn mẹ nằm thay đổi vị trí luôn thì lợn con sẽ chậm nhận biết hơn
Theo Duy Hùng (2011) [10], vệ sinh bầu vú, hai chân sau cho lợn hằng ngày bằng dung dịch sát trùng Bấm nanh cho lợn con mới sinh, nên cho lợn con bú sữa đầu và phân đều vú cho từng con trong đàn Tăng cường ăn uống
đủ chất cho lợn mẹ trước và sau khi đẻ nên giảm bớt chất đạm để hạn chế nguy
cơ thừa sữa Khi lợn mẹ bị viêm vú, không nên cho lợn con bú ở chỗ bị viêm Dùng các phương pháp chườm nóng, xoa bóp nhẹ nên vùng bị sưng
Nếu ghép lợn con với lợn mẹ khác mẹ thì phun eryzel cho cả đàn con cũ
và mới không bị mẹ cắn, những con mới ghép cũng phải cố định vú bú
Trang 21* Bổ sung sắt cho lợn con
Trong những ngày đầu, khi lợn con chưa ăn được, lượng sắt mà lợn con tiếp nhận từ nguồn sữa mẹ không đủ nhu cầu của cơ thể, vì vậy lợn con cần được bổ sung thêm sắt
Nhu cầu sắt cần cung cấp cho lợn con 30 ngày đầu sau đẻ là 30 x 7 mg/ ngày = 210 mg Trong đó, lượng sắt cung cấp từ sữa chỉ đạt 1 - 2mg/ ngày (36
- 60 mg/30 ngày), lượng sắt thiếu hụt cho một lợn con khoảng 150 - 180 mg,
vì vậy mỗi lợn con cần cung cấp thêm lượng sắt thiếu hụt Trong thực tế thường cung cấp thêm 200 mg
Nên tiêm sắt cho lợn con trong 3 - 4 ngày sau khi sinh Việc tiêm sắt thường làm với các thao tác khác để tiết kiệm công lao động Nếu cai sữa lúc
3 tuần tuổi, tiêm 1 lần 100mg là đủ Nếu cai sữa sau 3 tuần tuổi, nên tiêm 200mg sắt tiêm 2 lần Lần 1: 3 ngày tuổi, lần 2: 10 - 12 ngày tuổi
Triệu chứng điển hình của sự thiếu sắt là thiếu máu, hàm lượng hemoglobin giảm Khi thiếu sắt, da của lợn con có màu trắng xanh, đôi khi lợn con bị ỉa chảy, ỉa phân trắng, lợn con chậm lớn, có khi bị chết
Để loại trừ hiện tượng thiếu sắt cần bổ sung kịp thời cho lợn con bằng cách tiêm, cho uống hoặc cho ăn
Đưa sắt vào cơ thể lợn con bằng cách tiêm là đạt hiệu quả nhất Nên dùng sắt dưới dạng dextran, hợp chất này có tên là ferri - dextran Ferri - dextran là hợp chất có phân tử lớn nên ngấm từ từ, hiệu quả kéo dài Cách thức sử dụng:
- Cách 1: Chỉ tiêm 1 lần vào ngày thứ 3 sau khi đẻ, với liều lượng 200
mg sắt (Iron - Dextran) cho 1 lợn con
- Cách 2: Tiêm lần 2: lần thứ nhất 100mg vào ngày thứ 3 sau khi đẻ, lần thứ 2 (tiêm lặp lại) là 7 ngày sau khi tiêm lần thứ nhất Cũng với liều lượng 100 mg cho 1 lợn con
Trang 22Để ngăn ngừa hiện tượng ngộ độc sắt cho lợn con, cần bổ sung thêm vitamin E vào khẩu phần ăn của lợn mẹ 1 ngày trước khi tiêm (khoảng 500mg) Nếu thiếu vitmin E thì cần cung cấp 20 - 30 mg Fe vào ngày thứ 3 sau khi sinh cũng đã gây ngộ độc cho cơ thể lợn con
- Cách tiêm sắt cho lợn con
Dùng 1 bơm tiêm sạch lấy dung dịch sắt khỏi lọ chứa, sử dụng kim tiêm 14 hoặc 16 (đường kính lớn) để lấy thuốc Sau khi lấy thuốc đầy bơm dùng kim 9, dài 1 cm để tiêm Sắt tiêm quá liều có thể gây hại, thậm chí có thể gây độc Kiểm tra liều dùng ghi ở trên nhãn sản phẩm, không cần thay hay sát trùng kim tiêm cho từng con lợn, song điểm tiêm nếu bẩn nên lau bằng thuốc sát trùng Rửa và sát trùng dụng cụ sau khi tiêm cho nhóm lợn con Việc sử dụng kim tiêm và tiêm 1 lần tạo điều kiện vệ sinh hơn
Nên tiêm vào cổ, không nên tiêm ở mông vì có thể làm hại đến dây thần kinh và cũng có thể vết sắt dư thừa lưu ở thân lợn thịt mổ bán Tiêm sắt vào cơ bắp hay tiêm vào dưới da Cẩn thận không tiêm vào phần xương sống Giữ mũi tiêm một lúc để tránh hoặc giảm lượng thuốc chảy ngược ra Điểm khuyến cáo để tiêm dưới da là chỗ da kéo lên được ở phía trước chân trước
+ Giảm bớt sự nhấm nháp thức ăn rơi vãi của lợn con để hạn chế được các bệnh đường ruột của lợn con
+ Giảm bớt sự khai thác sữa mẹ kiệt quệ và giảm tỷ lệ hao mòn của lợn
mẹ, từ đó lợn mẹ sớm động dục trở lại sau khi cai sữa lợn con
Trang 232.2.4 Cai sữa cho lợn con
* Điều kiện cai sữa cho lợn con:
- Phải chủ động thức ăn, thức ăn cần phải có phẩm chất tốt, giá trị dinh dưỡng cao, cân đối
- Sức khỏe của lợn con và lợn mẹ phải tốt
- Lợn con phải ăn tốt và tiêu hóa tốt các loại thức ăn
- Cần phải có trang thiết bị đầy đủ, đúng kỹ thuật
- Người chăn nuôi phải có tay nghề, tinh thần trách nhiệm cao
* Các hình thức cai sữa:
- Cai sữa thông thường: Cai sữa từ 42 - 60 ngày tuổi
+ Ưu điểm: Lợn con biết ăn tốt, thức ăn yêu cầu không cao lắm, lợn con khỏe mạnh hơn, khả năng điều tiết thân nhiệt tốt hơn nên chăm sóc nhẹ nhàng hơn
+ Nhược điểm: Khả năng sinh sản thấp, chi phí cho 1kg khối lượng lợn con cao, tỷ lệ hao mòn lợn mẹ lớn hơn
- Cai sữa sớm: Cai sữa từ 21 đến 28 ngày tuổi
Trang 24+ Ưu điểm: Nâng cao sức sinh sản của lợn nái (nâng cao số lứa đẻ lên 2,33 lứa so với 2,19 lứa), tránh được một số bệnh truyền nhiễm từ mẹ sang con, giảm chi phí thức ăn/1kg tăng khối lượng lợn con (20% so với cai sữa thông thường), giảm tỷ lệ hao mòn lợn mẹ
+ Nhược điểm: Đòi hỏi thức ăn phải có chất lượng tốt, người chăm sóc nuôi dưỡng phải nhiệt tình với công việc và có nhiều kinh nghiệm
* Kỹ thuật cai sữa:
- Trước cai sữa 2 - 3 ngày cần giảm số lần bú của lợn con
- Giảm thức ăn cho lợn mẹ trước khi cai sữa 1 - 2 ngày
- Chế độ ăn đối với lợn con:
+ Tỷ lệ sơ trong khẩu phần thấp: Khả năng tiêu hóa chất xơ ở lợn con còn kém, tỷ lệ xơ ở trong khẩu phần ăn cao thì lợn con sinh trưởng phát triển chậm, tiêu tốn thức ăn cao, lợn con dễ táo bón, viêm ruột và có thể dẫn đến còi cọc, tỷ lệ thích hợp là 5 - 6 % Xu hướng trong những năm gần đây ở các nước chăn nuôi tiên tiến người ta khuyến khích nâng cao tỷ lệ xơ trong khẩu phần ăn của lợn để nâng cao sức khỏe
+ Có tỷ lệ ăn thích hợp: Lợn con ở giai đoạn này cần có dinh dưỡng tốt cho phát triển bộ xương và cơ bắp là chủ yếu Nếu chúng ta cung cấp khẩu phần ăn có lượng thức ăn tinh bột cao, lợn con sẽ béo sớm và khả năng tăng trọng sẽ giảm, tích lũy nhiều mỡ sớm Tỷ lệ thức ăn tinh thích hợp cho lợn con trong giai đoạn này là 80% trong khẩu phần
Trang 25+ Có tỷ lệ nước thích hợp: Nếu khẩu phần lợn con có tỷ lệ nước cao sẽ dẫn đến tiêu hóa kém, giảm khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng nhất là protein, thức ăn nhiều nước cũng gây nền chuồng bẩn, ẩm thấp và lợn con dễ nhiễm bệnh
Nếu tỷ lệ nước thấp sẽ gây nên thiếu nước cho nhu cầu sinh trưởng và phát triển của lợn con Tỷ lệ thức ăn tinh : thô phải thích hợp, cứ 1kg thức ăn tinh trộn với 0,5l nước sạch, tối đa có thể là tỷ lệ 1 : 1, ngoài ra người chăn nuôi phải cho lợn con uống nước đầy đủ theo hình thức tự do
Ngoài ra chúng ta còn bổ sung khoáng vi lượng như Mn, Co, Cu, Mg, Fe, và bổ sung cho lợn những chế phẩm vitamin - khoáng
+ Phương pháp cho lợn con ăn:
Cho ăn nhiều bữa trong ngày, 5 - 6 bữa/ngày thì có tốc độ tăng trọng cao hơn 3 bữa/ngày Tuy nhiên, cho ăn nhiều bữa trong ngày sẽ tốn công lao động trong chăn nuôi Từ đó người chăn nuôi cần lựa chọn số bữa thích hợp
để cho lợn con ăn
Cho lợn con ăn đúng giờ giấc quy định và tập cho lợn con những phản
xạ có điều kiện về tiêu hóa
Cho lợn con ăn từ từ để tránh vung vãi ra ngoài và hạn chế được lợn con mắc các bệnh về đường tiêu hóa
Cho lợn con ăn đúng tiêu chuẩn và khẩu phần ăn Theo dõi sức khỏe để điều chỉnh khẩu phần và tiêu chuẩn cho chúng
2.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn con
Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục của lợn gồm hai nhóm: các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài
* Yếu tố bên trong:
Yếu tố di truyền là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn Quá trình sinh trưởng của lợn tuân theo các quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau
Trang 26Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn là quá trình trao đổi chất trong cơ thể Quá trình trao đổi chất xảy ra dưới sự điều khiển của các hormon Hormon tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của tế bào và giữ cân bằng các chất trong máu
* Yếu tố bên ngoài:
Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển cơ thể lợn bao gồm dinh dưỡng, nhiệt độ, môi trường, ánh sáng và các yếu tố khác
+ Dinh dưỡng: Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa nếu không có một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh Khi chúng ta đảm bảo đầy đủ về thức ăn bao gồm cả số lượng và chất lượng thức ăn thì sẽ góp phần thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển của các cơ quan trong
cơ thể
+ Nhiệt độ và độ ẩm môi trường: Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể Nếu nhiệt độ môi trường không thích hợp thì sẽ không thể đảm bảo quá trình trao đổi chất diễn ra bình thường cũng như cân bằng nhiệt của cơ thể lợn
Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004 ) [4], các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể còn rất yếu
Theo Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) [8], lợn con sinh ra phải được sưởi
ấm ở nhiệt độ 34oC trong suốt tuần lễ đầu tiên, sau đó giảm dần xuống nhưng không được thấp hơn 30oC, như vậy lợn sẽ tránh được những stress lạnh ẩm Khi nhiệt độ chuồng nuôi thấp lợn sẽ thất thoát nhiệt rất nhiều, lợn sẽ giảm khả năng tăng khối lượng và tăng tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng
Trang 27Nhiệt độ chuồng nuôi có liên quan mật thiết với ẩm độ không khí, ẩm
độ không khí thích hợp cho lợn ở vào khoảng 70%
* Ánh sáng: Ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của lợn Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của ánh sáng đối với lợn người ta thấy rằng ánh sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và phát triển của lợn con, lợn hậu bị và lợn sinh sản hơn là lợn vỗ béo Khi không đủ ánh sáng sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của lợn, đặc biệt là quá trình trao đổi khoáng Đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày tuổi, nếu không đủ ánh sáng thì tốc độ tăng khối lượng sẽ giảm từ 9,5 - 12%, tiêu tốn thức ăn giảm 8 - 9%
so với lợn con được vận động dưới ánh sáng mặt trời
* Các yếu tố khác: Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển lợn đã nêu trên còn có các yếu tố khác như vấn đề về chuồng trại, chăm sóc, nuôi dưỡng, tiểu khí hậu chuồng nuôi như không khí, tốc độ gió lùa, nồng
độ các khí thải Nếu chúng ta cung cấp cho lợn các yếu tố đủ theo yêu cầu của từng loại lợn sẽ giúp cho cơ thể lợn sinh trưởng phát triển đạt mức tối đa
2.2.6 Một số biện pháp phòng bệnh cho lợn con theo mẹ
* Vệ sinh phòng bệnh:
- Vệ sinh chuồng trại:
+ Ngăn cách khu vực chăn nuôi lợn với các súc vật khác như: Chó, mèo… + Rửa và phun thuốc sát trùng chuồng trại sạch sẽ ít nhất 3 - 7 ngày trước khi thả lợn vào chuồng
+ Hàng ngày phải quét phân trong chuồng, giữ cho chuồng luôn khô ráo, sạch sẽ
+ Xử lý xác chết gia súc nghiêm ngặt: Chôn sâu, đốt
+ Nên có kế hoạch rửa chuồng, phun thuốc sát trùng và diệt ruồi, muỗi mỗi tuần 2 lần
- Vệ sinh thức ăn và nước uống:
Trang 28+ Thường xuyên kiểm tra thức ăn trước khi cho lợn ăn, thức ăn phải đảm bảo chất lượng, không bị mốc
+ Nếu sử dụng thức ăn trộn thì định kỳ phải trộn kháng sinh để phòng bệnh cho lợn
+ Nước uống phải đủ, sạch, không bị nhiễm bẩn
* Tiêm vắc xin phòng bệnh:
Quy trình tiêm phòng, phòng bệnh cho đàn lợn của trang trại được thực hiện tích cực, thường xuyên và bắt buộc Tiêm phòng cho đàn lợn nhằm tạo ra trong cơ thể chúng miễn dịch chủ động, chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn, tăng sức đề kháng cho cơ thể Cần phòng những bệnh thông thường như dịch tả, cầu trùng, khô thai, giả dại …
Lịch tiêm phòng cụ thể như sau:
Bảng 2.1: Lịch tiêm vắc xin phòng bệnh của trại cho lợn nái
Loại lợn Tuần tuổi Phòng bệnh Vắc xin/Thuốc
/chế phẩm
Đường đưa thuốc
Liều lượng (ml/con)
Lợn con
2 - 3 ngày Thiếu sắt Iron-dextran Tiêm 1
Tiêu chảy Norcoli Tiêm 1
3 - 6 ngày Cầu trùng Tolcoxin 5% Uống 1
7- 10 ngày Suyễn Myco Pac,
Rspisure Tiêm bắp 2
Lợn hậu bị
25, 29 tuần tuổi Khô thai Parvo Tiêm bắp 2
26 tuần tuổi Dịch tả Pestvac Tiêm bắp 2
27, 30 tuần tuổi Giả dại Begonia Tiêm bắp 2
28 tuần tuổi LMLM Aftopor Tiêm bắp 2 Lợn nái
sinh sản
10 tuần chửa Dịch tả Pestvav Tiêm bắp 2
12 tuần chửa LMLM Aftopor Tiêm bắp 2
Trang 29Định kỳ hàng năm vào tháng 4, 8, 12 tiêm phòng bệnh tổng đàn vắc xin giả dại begonia tiêm bắp 2 ml/con
Đối với lợn đực:
- Lợn đực hậu bị mới nhập về: 3 tuần tiêm phòng vắc xin dịch tả coglapest, 4 tuần tiêm phòng vắc xin lở mồng long móng aftopor, vắc xin giả dại begonia
- Lợn đực đang khai thác tiêm phòng vào tháng 5, tháng 11 vắc xin dịch tả coglapest Tháng 4, 8, 12 tiêm phòng vắc xin lở mồng long móng, vắc xin giả dại
2.2.7 Một số bệnh ở lợn con
- Bệnh phân trắng lợn con
+ Nguyên nhân: Bệnh thường xảy ra khi thời tiết thay đổi đột ngột, nóng quá hoặc lạnh quá
Vệ sinh chuồng trại không tốt chuồng bị ẩm ướt
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [5] cho rằng các yếu tố lạnh, ẩm ảnh hưởng rất lớn đến lợn sơ sinh, lợn con vài ngày tuổi Trong các yếu tố về khí hậu thì quan trọng nhất là nhiệt độ và độ ẩm Độ ẩm thích hợp cho lợn từ 75-85% Vì thế việc làm khô và giữ ẩm cho chuồng nuôi là rất quan trọng
Bầu vú lợn mẹ có dính phân, uống nước có chứa mầm bệnh, thay đổi thức ăn
Tác nhân gây bệnh chủ yếu là E coli, nhiều loại Salmonella (S choleraesuis, S
typhisuis ) và đóng vai trò phụ là: Proteus, trực tràng sinh mủ, song liên cầu khuẩn Bệnh xuất hiện những ngày đầu sau khi sinh do E coli hoặc khi cai sữa (Salmonella)
+Triệu chứng: Bệnh xảy ra ở lợn sơ sinh đến 21 ngày tuổi, đặc biệt sau
15 ngày tuổi Phụ thuộc vào số lượng và độc tố của tác nhân gây bệnh, điêu kiện ngoại cảnh, sức đề kháng của lợn bệnh có thể xảy ra ở các dạng nhiễm
trùng huyết Coli, nhiễm độc tố Coli đường ruột hoặc viêm ruột do Coli Dạng nhiễm trùng huyết Coli thường xảy ra quá cấp
Trang 30Lợn bệnh sốt cao nên sờ tay vào 2 tai, thân lợn cảm thấy nóng ran, gương mũi khô và tỷ lệ chết cao Lợn bệnh bo bú, ủ rũ, đi loạng choạng, mạch đập và nhịp thở tăng Tiêu chảy không phải là triệu chứng thường xuyên Trong dạng nhiễm độc tố Coli đường ruột lợn bệnh tiêu chảy, yếu, nôn,
co giật hoặc liệt tứ chi, truỵ tim mạch Trong trường hợp này sờ tay vào lợn bệnh cảm thấy lạnh Trong dạng viêm ruột do Coli phần lớn các trường hợp lợn bệnh tiêu chảy, giảm bú, yếu, tỷ lệ chết không cao Triệu chứng lâm sàng chung khi lợn con bị bệnh Phân trắng là: lợn bệnh sốt ở nhiều mức độ khác nhau, giảm hoặc bỏ bú, hay nằm, lười vận động, tiêu chảy phân loãng lẫn bọt khí có màu trắng xám (màu phân cò), thối, đôi lúc lẫn máu nên phân có màu nâu Sau khi có triệu chúng tiêu chảy thân nhiệt lợn bệnh giảm xuống, có khi dưới mức bình thường Đôi khi có con nôn ra sữa chưa tiêu hoá có mùi chua Đến giai đoạn nấy lợn bệnh nằm một chỗ, mắt nhắm, lông khô, phân dính vào mông, khoeo Mạch yếu, niêm mạc hậu môn đỏ Cả đàn bị hoặc có con bị, có con không, điều trị khỏi có thể tái nhiễm
Streptococcus, Staphylococcus và một số siêu vi khuẩn khác Mycoplasma
thường cư trú tại hạch amidal hoặc xâm nhập từ ngoài vào cơ thể dưới tác động trực tiếp của các yếu tố stress có hại và sức đề kháng của cơ thể yếu Vi khuẩn tăng cường độc lực chui vào phế quản và phế nang, ký sinh, phát triển
và gây bệnh Lợn mẹ bị bệnh có thể truyền cho con trong thời gian mang thai + Triệu chứng: Lợn bệnh sốt nhẹ 40,4- 41 độ C, bắt đầu từ những hắt hơi chảy nước mũi, sau đó chuyển thành dịch nhầy
Trang 31Lợn thở khó, ho nhiều, sốt ngắt quãng, ăn kém
Lúc đầu ho khan từng tiếng, ho chủ yếu về đêm, sau đó chuyển thành cơn, ho ướt nghe rõ nhất là vào sáng sớm đặc biệt là các buổi khi trời se lạnh, gió lùa đột ngột, nước mũi nước mắt chảy ra nhiều
Vì phổi bị tổn thương nên lợn thở thể ngực phải chuyển sang thở thể bụng, nhiều con thở ngồi như chó thở Rõ nhất là sau khi bị xua đuổi, có những con mệt quá nằm lỳ ra mà không có phản xạ sợ sệt, vẻ mặt rầu rĩ, mí mắt sụp, tai không ve vẩy Xương sườn và cơ bụng nhô lên hạ xuống theo nhịp thở gấp
Nhịp tim và nhịp thở đều tăng cao
Khi sờ nắn hoặc gõ để khám bệnh, lợn cảm thấy đau ở vùng phổi, rõ nhất là 1-2 đôi xương sườn đầu giáp bả vai Lợn vẫn thèm ăn nhưng ăn uống thất thường
Nếu không điều trị, lợn bệnh sẽ chết sau 7- 20 ngày
- Bệnh viêm khớp
+ Nguyên nhân: Là các vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể theo đường miệng, cuống rốn, vết thương khi cắt đuôi, mài răng, bấm tai, các vết thương trên chân, da, đầu gối khi chúng chà sát trên nền chuồng cứng, thô ráp hoặc qua vết thiến Một nguyên nhân khác là do lợn con sau khi sinh không được
bú sữa đầu từ lợn mẹ đầy đủ, nhất là ở những con bị mất mẹ…
+ Triệu chứng: Triệu chứng thường thấy của viêm khớp do thiếu canxi, photpho là: lợn đi lại khó khăn
Triệu chứng của viêm khớp do vi khuẩn là: lợn bị sốt rất cao, bỏ ăn, lờ
đờ, suy yếu Lợn còn có thể có hiện triệu chứng thần kinh như mất thăng bằng, liệt, đi lại khập khiễng, uốn người ra sau, run rẩy, co giật, què Lợn có thể bị mù, điếc