LỜI MỞ ĐẦU Trong thời kì công nghiệp hóa- hiện đại hóa, nguồn nhân lực là yếu tố quantrọng quyết định sự phát triển của đất nước.. Nắm bắt được tầm quan trọng đó nhóm 1 đã lựa chọn đề tà
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời kì công nghiệp hóa- hiện đại hóa, nguồn nhân lực là yếu tố quantrọng quyết định sự phát triển của đất nước Điều kiện để nâng cao năng suất laođộng, tăng trưởng và phát triển kinh tế không chỉ cần có các phương tiện côngnghệ hiện đại mà quan trọng nhất là có nguồn nhân lực tương xứng đủ lực để sửdụng các phương tiện đó
Việt Nam được thế giới đánh giá có lợi thế dân số đông, đang trong thời kì
“dân số vàng” nên lực lượng trong độ tuổi lao động khá dồi dào Đây là nguồnlực quan trọng để nước ta thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế- xãhội giai đoạn 2011-2020 đã được Đại hội Đảng XI thông qua ngày 16/2/2011.Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay chất lượng nguồn nhân lực chưa được quan tâmđúng mức và còn tồn tại nhiều yếu kém, hạn chế
Trong thời kì hội nhập và xu thế toàn cầu hóa tạo ra rất nhiều cơ hội nhưngkèm theo đó là những thách thức lớn Dân tộc ta từ xưa đã khẳng định: “ Hiềntài là nguyên khí quốc gia” – phát triển nguồn nhân lực là yếu tố mang tínhquyết định đến sự thành bại và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Nắm bắt
được tầm quan trọng đó nhóm 1 đã lựa chọn đề tài “ Phát triển nguồn nhân lực trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay ở Việt Nam” để có thể
tìm hiểu và có cái nhìn thực tế về nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay vớiđường lối phát triển của Đảng
Tuy đã hoàn thành bài thảo luận nhưng đề tài của nhóm không thể tránh khỏinhững thiếu sót nhất định, mong thầy xem xét và bổ sung thêm để đề tài củanhóm 1 được hoàn thiện hơn Chúng em xin chân thành cảm ơn thầy !
Trang 2I LÝ LUẬN CHUNG.
1 Khái niệm:
- Nguồn nhân lực: Theo định nghĩa liên hợp quốc: “ Nguồn nhân lực là trình độ
lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện cóthực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế- xã hội trong một cộng đồng
Nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp và để có thể lượng hóa được trong công tác kếhoạch hóa ở nước ta được quy định là một bộ phận của dân số bao gồm nhữngngười trong độ tuổi lao động có khả năng lao động theo quy định của Bộ luật laođộng Việt Nam( Nam đủ 15 tuổi đến hết 60 tuổi, nữ đủ 15 tuổi đến hết 55 tuổi) Trên cơ sở đó một số nhà khoa học Việt Nam đã xác định nguồn nhân lực haynguồn lực con người bao gồm lực lượng lao động và lao động dự trữ Trong đólực lượng lao động được xác định là người lao động làm việc và người trong độtuổi lao động có nhu cầu nhưng không có việc làm( người thất nghiệp).Lao động
dự trữ bao gồm học sinh trong độ tuổi lao động
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện
các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội, từ sửdụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sưc lao độngvới công nghệ, phương tiện với phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự pháttriển công nghiệp và tiến độ khoa học, công nghệ, tạo ra năng suất lao động xãhội cao
2 Con người là mục tiêu của sự nghiệp Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Muốn chủ nghĩa cộng sản thực hiện đang cầnphải có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi người đều được phát triển hết khảnăng của mình” Đó chính là mục tiêu mà chủ nghĩa xã hội hướng tới: giảiphóng con người nhằm phát triển mọi tiềm năng, giá trị nhân cách của conngười Trong sự nghiệp đổi mới đất nước Đảng Việt Nam xác định: “ Phát triểncon người, với tư cách vừa là động lực, vừa là mục đích của cách mạng, của sự
Trang 3nghiệp đổi mới đất nước” Đây cũng là mục tiêu nhân văn của nền văn hóa tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc: “ Nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc vàchủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mụctiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàndiện của con người”.
Con người trong quan niệm của Hồ Chí Minh và của Đảng ta không phải là conngười trừu tượng mà là những các nhân, những tập thể, những tầng lớp người cụthể Vì hạnh phúc của mỗi người “dân” của “đồng bào” và của cả dân tộc ViệtNam là mục tiêu phấn đấu của Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam.Ngay trong thời kỳ cách mạng giành độc lập cho dân tộc, Hồ Chí Minh đã nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta đượchoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm no, áomặc, ai cũng được học hành” Ngày nay trong sụ nghiệp Công nghiệp hóa-Hiệnđại hóa đất nước để đi lên Chủ Nghĩa Cộng Sản, mục tiêu xây dựng con ngườiđược đặt ra một cách thiết thực, trực tiếp
Vấn đề con người là mục tiêu của sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội ở nước ta
là một vấn đề có tính chiến lược Đại hội của Đảng đã đề ra đường lối và chiếnlược phát triển kinh tế xã hội:
Xuất phát từ tình hình hiện nay và yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới,đường lối kinh tế của Đảng ta được xác định là đẩy mạnh Công nghiệp hóa-Hiệnđại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đưa nước ta thành một nước côngnghiệp, ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất phù hợp theo định hướng Xã HộiChủ Nghĩa, phát huy cao nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài vàchủ động hội nhập kinh tế để phát triển văn hóa, từng bước cái thiện cơ sở vậtchất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ vàcải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường quốcphòng, an nhinh và trật tự xã hội
Trang 4Đây là con đường phát triển bền vững đất nước ta nhằm mục tiêu: “Dângiàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Hay nói cách khác làcon đường phát triển nhắm tới một mục tiêu kép: vừa phát triển kinh tế, vừa pháttriển con người và xã hội, vừa phấn đấu để dân giàu, nước mạnh, công bằng xãhội và dân chủ, văn minh.Lấy phát triển con người làm mục tiêu chiến lược,chúng ta cần chú ý đến những vấn đề sau:
Cần quan tâm đến lượi ích của con người, gồm lợi ích vật chất và lợi ích tinhthần, trước hết là lợi ích vật chất Hồ Chí Minh cho rằng: “ Không có chế độ nàotôn trọng con người, chú ý xem lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nóđược thỏa mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa”
Cần bảo đảm và phát huy quyền dân chủ của nhân dân trong đời sống xã hội bắtđầu từ cơ sở trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội Đặc biệt phát huy tinhthần làm chủ của nhân đan trong sự nghiệp đổi mới Công nghiệp hóa-Hiện đạihóa đất nước, Hồ Chí Minh đã khẳng định:
“Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân
Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân”
Cần bảo đảm và thực hiện sự bình đẳng giữa nhứng cá nhân, nhóm cộng đồng
về cơ hội phát triển, tạo điều kiện cho mọi người và các nhóm, cộng đồng cóđiều kiện phát triển kinh tế- xã hội trong từng giai đoạn cụ thể
Cần phát huy sức mạnh của nhân dân, của khối đoàn kết dân tộc, xây dựng nhànước của dân, do dân, vì đan Phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ Tổ quốc vìhạnh phúc của nhân dân
3 Vai trò của con người trong quá trình Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa.
Trang 5Từ cách tiếp cận mới, Đảng ta chỉ ra vai trò quyết định của con người trong quátrình Cộng nghiệp hóa- Hiện đại hóa đất nước Con người không chỉ là trungtâm của sự phát triển kinh tế - xã hội với tư cách là mục tiêu mà còn là động lực
và là nhân tố bảo đảm cho quá trình Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa đất nướcthành công
Nói con người là động lực của sự phát triển là nói tới vai trò của nguồn lực congngười bao gồm các yếu tố tri thức, kỹ năng, ý chí, tình cảm, đạo đức… của conngười trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước Nghị quyết của Hộinghị lần thứ 5 Ban Chấp Hành TW khóa VIII đã chỉ rõ điều đó : “Đẩy mạnhCông nghiệp hoa- Hiện đại hóa đất nước, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xâydựng và bảo vệ Tổ Quốc vì : “dân giàu , nước mạnh, công bằng, dân chủ, vănminh”, là sự nghiệp xây dựng và sáng tạo to lớn của nhân dân ta, đồng thời làmột quá trình cải biến của xã hội sâu săc, đòi hỏi phát huy hết khả năng và trítuệ ở con người Việt Nam
Để phát triển kinh tế xã hội ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên Chủ Nghĩa XãHội, chúng ta cần rất nhiều nguồn lực như: Nguồn lực khoa học và công nghệ;nguồn lực tài chính; nguồn lực tài nguyên thiên nhiên; nguồn lực lao động…Trong các nguồn lực trên đều có vai trò của con người, con người với tu cách lànhân tố liên kết tích hợp, tổng hợp các nguồn lực thành động lực thúc đẩy sựphát triển kinh tế-xã hội Hay có thể nói đó chính là nguồn lực giúp con ngườitham gia vào quá trình phát triển và đóng vai trò chủ đạo trong quá trình đó Yếu tố đầu tiên của nguồn lực con người là tri thức, kỹ năng nghề nghiệp bíquyết hành nghề Trong thời đại khoa học, công nghệ và sự biến đổi liên tục củanền kinh tế thị trường thì mới đảm bảo cho nền kinh tế phát triển bền vững và ổnđịnh
Ngày nay, trong nền kinh tế tri thức, khoa học trở thành lực lượng sản xuất trựctiếp Sản sinh, truyền bá và sử dụng tri thức là yếu tố quyết định nhất đối vớităng trưởng kinh tế, làm giàu của cải vật chất, nâng cao chất lượng sống Kinh tế
Trang 6tri thức là giai đoạn phát triên mứi của lực lượng sản xuất của loài người, từ chỗchủ yếu sử dụng nguồn lực vật chất sang nguồn lực trí tuệ Tri thức là yếu tốquyết định đối với sự tăng trưởng kinh tế, làm giàu của cải vật chất.
II THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG THỜI KỲ CNH, HĐH TẠI VIỆT NAM:
1 Điểm mạnh ( ưu thế ) nguồn nhân lực nước ta hiện nay
Dân số Việt Nam, 2000-2018
Đồng thời, năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua đã có sự cải thiệnđáng kể theo hướng tăng đều qua các năm và là quốc gia có tốc độ tăng năngsuất lao động cao trong khu vực ASEAN Theo Tổng cục Thống kê, năng suấtlao động toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2018 ước tính đạt 102 triệu
Trang 7đồng/lao động (tương đương 4.512 USD), tăng 346 USD so với năm 2017 Tínhtheo giá so sánh, năng suất lao động năm 2018 tăng 5,93% so với năm 2017,bình quân giai đoạn 2016-2018 tăng 5,75%/năm, cao hơn mức tăng 4,35%/nămcủa giai đoạn 2011-2015.
Song song với đó, chất lượng lao động Việt Nam trong những năm qua cũng đãtừng bước được nâng lên; Lao động qua đào tạo đã phần nào đáp ứng được yêucầu của doanh nghiệp và thị trường lao động Lực lượng lao động kỹ thuật củaViệt Nam đã làm chủ được khoa học - công nghệ, đảm nhận được hầu hết các vịtrí công việc phức tạp trong sản xuất kinh doanh mà trước đây phải thuê chuyêngia nước ngoài…
2 Điểm yếu ( hạn chế ) nguồn nhân lực nước ta hiện nay
và phát triển sản xuất rất hạn chế, nguồn vốn trang thiết bị, nguyên nhiên vậtliệu thiếu thốn, cơ sở hạ tầng yếu kém,….thì nguồn lao động đông, thiếu việclàm là bài toán nan giải mà nước ta đã đang và sẽ tiếp tục giải quyết trongthời gian tới
Trang 8Tỷ lệ thiếu việc làm, tỷ lệ thất nghiệp trong tuổi lao động theo quý năm
Về trí lực
Trang 9
Trình độ văn hóa của lực lượng lao động
Nhìn vào bảng số liệu trên,có thể thấy trình độ học vấn cấp THCS ở nước ta
là cao nhất (chiếm 30.3%), số người không biết chữ chiếm tỷ lệ nhỏ(3.7%trên cả nước) Mặc dù tỷ lệ người biết chữ khá là cao nhưng trình độ chuyênmôn kỹ thuật của nước ta còn thấp(chỉ đạt 18.2%) Cụ thể: lao động namchiếm 20.4% cao hơn so với lao động nữ (15.8%), tỷ lệ lao động nữ đượcđào tạo có trình độ chuyên môn kỹ thuật rất ít và còn chênh lệch khá nhiều
Vì vậy, phát triển giáo dục, đào tạo lao động có trình độ chuyên môn cao làviệc làm cần thiết hiện nay đặc biệt là lao động nữ
Số lượng nhân lực được tuyển để đào tạo ở các cấp tăng nhanh Điều này cóthể được xem như là một thành tựu quan trọng trong lĩnh vực đào tạo nhânlực Theo số liệu thống kê sơ bộ năm 2018, số sinh viên đại học và cao đẳng
là 2.058.922 người, số tốt nghiệp là 405.900 người; số học sinh các trườngtrung cấp chuyên nghiệp là 421.705 người Tuy nhiên, chất lượng đào tạo,
cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực, sự phân bố theo vùng, miền, địa phương,
… chưa đồng nhất, chưa thực sự phù hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội,gây lãng phí nguồn lực của Nhà nước và xã hội
Trang 10 Về phẩm chất đạo đức-tinh thần của con người Việt Nam.
Phẩm chất về văn hóa nghề nghiệp
Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường và nền sản xuất côngnghiệp hiện đại, lao động nước ta cũng bộc lộ những nhược điểm rất cơ bản
Từ nền sản xuất nông nghiệp tự cung, tự cấp chuyển sang nền sản xuất hànghóa và công nghiệp hiện đại, người lao động còn bị ảnh hưởng nặng nề tưtưởng, thói quen của nền sản xuất tiểu nông manh mún, thiếu tính toán hiệuquả kinh tế, lãng phí ; tác phong công nghiệp chưa trở thành phổ biến, nêntính tự do, ý thức chấp hành luật pháp, kỷ luật trong lao động còn yếu ; khảnăng làm việc theo nhóm, làm việc trong môi trường đa văn hóa, đa sắc tộc còn rất hạn chế, đặc biệt là những rào cản về văn hóa, về ngôn ngữ khi có yếu
tố lao động nước ngoài hoặc làm việc ở nước ngoài
Phẩm chất về năng lực thích ứng và năng động
Phẩm chất này của người lao động thể hiện ở sự định hướng đúng nghềnghiệp để học lấy một nghề phù hợp với tư chất, sở thích, năng lực bản thân,hoàn cảnh gia đình và nhu cầu của thị trường; ở ý thức và ý chí quyết tâmtrong học tập, học tập suốt đời; kỹ năng nắm bắt nhanh nhậy thông tin thịtrường; kỹ năng trả lời phỏng vấn, đàm phán, thỏa thuận; khả năng sẵn sàng
di chuyển, thay đổi việc làm trên thị trường lao động; khả năng ứng phó vớicác cú sốc, các rủi ro trong kinh tế thị trường, nhất là do doanh nghiệp phásản, khủng hoảng kinh tế, cải cách thể chế dẫn đến bị sa thải, bị thiếu việclàm và thất nghiệp
3 Nguyên nhân nguồn lực nước ta còn yếu kém , chưa khai thác tối đa và hiệu quả nguồn nhân lực
Tuy Việt Nam là nước phát triển theo hướng CNH, HĐH nhưng nông nghiệpvẫn là ngành kinh tế quan trọng nhất Tính chất nông thôn và sự phụ thuộc vàonông nghiệp thể hiện ở một tỉ trọng lớn trong tổng số người có việc làm nằm ởhai nhóm chỉ số về vị thế việc làm , đó là lao động tự làm và lao động gia đìnhkhông được trả công và trả lương Hai nhóm người này chiếm 2/3 đến 3/4 tổng
Trang 11số người có việc làm năm 2009 , có nghĩa là một tỉ lệ lớn trong tổng số việc làm
là dễ bị tổn thương, có nguy cơ thiếu việc làm bền vững , những chỉ số này làmột trong những nguyên nhân làm nguồn nhân lực của Việt Nam bị yếu kém.Ngân hàng Thế giới đánh giá Việt Nam đang thiếu lao động có trình độ taynghề, công nhân kỹ thuật bậc cao Trình độ ngoại ngữ của lao động Việt Namchưa cao nên gặp nhiều khó khăn trong quá trình hội nhập Những hạn chế, yếukém của nguồn nhân lực là một trong những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đếnnăng lực cạnh tranh của nền kinh tế
Nghiên cứu của Viện Khoa học, Lao động và Xã hội (2016) cũng cho thấy, mức
độ đáp ứng về kỹ năng do thay đổi công nghệ của lao động trong các doanhnghiệp điện tử và may rất thấp
Trừ kỹ năng an toàn và tuân thủ kỷ luật lao động có tỷ lệ doanh nghiệp đượckhảo sát đánh giá tốt và rất tốt về mức độ đáp ứng kỹ năng của lao động so vớiyêu cầu công nghệ mới khá cao (72% với ngành điện tử và 50% với ngành maymặc), các kỹ năng còn lại đều có tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá tốt/rất tốt là kháthấp, đặc biệt đối với ngành may mặc
Mặc dù tăng nhanh nhưng quy mô lao động trình độ tay nghề cao vẫn còn nhỏ
bé so với yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốctế
Số lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, thậm chí nhóm có trình độchuyên môn cao có khuynh hướng hiểu biết lý thuyết khá, nhưng lại kém vềnăng lực thực hành và khả năng thích nghi trong môi trường cạnh tranh côngnghiệp; vẫn cần có thời gian bổ sung hoặc đào tạo bồi dưỡng để sử dụng hiệuquả
Khả năng làm việc theo nhóm, tính chuyên nghiệp, năng lực sử dụng ngoại ngữ
là công cụ giao tiếp và làm việc của nguồn nhân lực còn hạn chế
Mặt khác, tỷ lệ lao động có kỹ năng cao trong các ngành sản xuất chủ lựccủaViệt Nam rất thấp Theo báo cáo lao động và việc làm của Tổng cục Thống kê,năm 2014, Việt Nam có gần 5,4 triệu lao động có trình độ kỹ năng cao, trong đó