1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động của đại biểu Quốc Hội ở Việt Nam hiện nay (LA Tiến sĩ 2019)

171 196 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xung quanh các vấn đề về hoạt động của ĐBQH còn có những vấn đề đặt ra như: cơ cấu thành phần ĐBQH tác động đến hoạt động của ĐBQH như thế nào, mối quan hệ giữa ĐBQH với cử tri, tính đại

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HOÀN

HO¹T §éNG CñA §¹I BIÓU QUèC HéI

ë VIÖT NAM HIÖN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HOÀN

HO¹T §éNG CñA §¹I BIÓU QUèC HéI

ë VIÖT NAM HIÖN NAY

Ngành: Luật Hiến pháp - Luật Hành chính

Mã số: 9.38 01 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRƯƠNG THỊ HỒNG HÀ

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng trong luận án là trung thực và từ những nguồn hợp pháp Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Thị Hoàn

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 8

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 8

1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 18

1.3 Nhận xét về tình hình nghiên cứu 19

1.4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 21

Kết luận Chương 1 24

CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VIỆT NAM 25

2.1 Vị trí pháp lý, vai trò của đại biểu Quốc hội trong Quốc hội Việt Nam 25

2.2 Khái niệm, đặc điểm, nội dung và yêu cầu hoạt động của ĐBQH Việt Nam 32

2.3 Các điều kiện bảo đảm hoạt động của đại biểu Quốc hội Việt Nam 48

2.4 Hoạt động của đại biểu Quốc hội một số nước thế giới và những bài học kinh nghiệm 54

Kết luận Chương 2 68

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 69

3.1 Khái quát thực trạng cơ cấu, chất lượng đại biểu Quốc hội và quy định pháp luật về hoạt động của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay 69

3.2 Thực trạng hoạt động của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay 78

3.3 Thực trạng các điều kiện bảo đảm hoạt động của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay 102

3.4 Về phương thức hoạt động của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay 106

Kết luận Chương 3 111

CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 112

4.1 Quan điểm bảo đảm hoạt động của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay 112

4.2 Giải pháp bảo đảm hoạt động của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay 120

Kết luận Chương 4 147

Trang 5

KẾT LUẬN 148 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC 163

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao

UBTVQH: Ủy ban thường vụ Quốc hội VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1 Cơ cấu ĐBQH hoạt động chuyên trách từ nhiệm kỳ Quốc

Bảng 3.1 Số lượng các ý kiến phát biểu của ĐBQH tại các phiên họp

Bảng 3.2 Số lượng các ý kiến phát biểu của ĐBQH tại các phiên họp

Bảng 3.3 Số lượng các phiên họp toàn thể dành cho hoạt động giám

Bảng 3.4 Số lượng các phiên họp toàn thể dành cho hoạt động giám

Bảng 3.5 Số lượng các phiên họp toàn thể dành cho hoạt động giám

Bảng 3.6 Số lượng các phiên họp toàn thể dành cho hoạt động giám

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ phần trăm (%) các phiên họp toàn thể dành cho hoạt

động giám sát trên tổng số các phiên họp từ kỳ 1 đến kỳ 6

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ phần trăm (%) các phiên họp toàn thể dành cho hoạt

động giám sát trên tổng số các phiên họp từ kỳ 3 đến kỳ 6

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở Nhà nước CHXHCN Việt Nam nhân dân là người làm chủ, là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân Ở Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, các cơ quan được thiết lập để hiện thực hóa quyền lực của nhân dân trên ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp Theo đó, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 ghi nhận: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước Để QH thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thì yêu cầu tất yếu đặt ra là các cơ quan của QH và nhất là ĐBQH phải hoạt động tốt, phát huy được đầy đủ vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình

Việc đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của QH và bảo đảm cho hoạt động của ĐBQH nói riêng luôn được Đảng ta coi trọng Văn kiện Đại hội đại biểu

toàn quốc lần thứ IX yêu cầu “nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, hoàn thiện

những quy định về bầu cử, ứng cử, về tiêu chuẩn và cơ cấu các đại biểu Quốc hội trên cơ sở thật sự phát huy dân chủ Tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách” đồng thời phải “hoàn thiện quy chế về vai trò, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội chuyên trách” Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản

Việt Nam nêu: “tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội… hoàn thiện cơ

chế bầu cử nhằm nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội; tăng hợp lý số lượng đại biểu chuyên trách, phát huy tốt hơn vai trò của đại biểu và đại biểu Quốc hội” Văn

kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nêu: “đổi mới tổ chức và hoạt

động của Quốc hội, bảo đảm cho Quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nhân dân Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, tăng hợp lý số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách; có cơ chế để đại biểu Quốc hội gắn bó chặt chẽ và có trách nhiệm với cử tri” là một nhiệm vụ hàng đầu của việc phát huy dân

chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu

toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục chỉ rõ: “tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt

động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”; “Hoàn thiện thể chế để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử, nhất là hoạt động lập pháp của

Trang 9

Quốc hội, đại biểu Quốc hội…” Những quan điểm nêu trên là những tư tưởng chỉ

đạo quan trọng có tính chất định hướng trong quá trình đổi mới, nâng cao chất lượng, năng lực hoạt động của ĐBQH và QH nói chung

Vị trí, chức năng của QH chỉ được thể hiện rõ khi QH thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định Điều này đòi hỏi ĐBQH phải thực sự đóng vai trò là nhân tố quyết định trong hoạt động của QH Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định ĐBQH là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở đơn

vị bầu cử ra mình và của Nhân dân cả nước ĐBQH liên hệ chặt chẽ với cử tri,

chịu sự giám sát của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng của cử tri với QH, các cơ quan, tổ chức hữu quan; thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của đại biểu và của QH; trả lời yêu cầu và kiến nghị của cử tri; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và hướng dẫn, giúp đỡ việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo ĐBQH phổ biến và vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật

Quá trình đổi mới đất nước đến nay, hoạt động của QH ngày càng thể hiện tập trung trí tuệ, dân chủ; tiêu chuẩn, trình độ, năng lực của đại biểu đều nâng lên rõ rệt, kết quả đạt được trong hoạt động của ĐBQH qua các khóa QH ngày càng tích cực, đóng góp quan trọng vào thành tựu đạt được trong toàn bộ hoạt động của QH nói

chung Về pháp lý, tại Điều 3 Luật TCQH năm 2014 khẳng định: “Hiệu quả hoạt

động của Quốc hội được bảo đảm bằng hiệu quả của các kỳ họp của Quốc hội, hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội…” ĐBQH phải là một trong những

thành tố then chốt, phát huy năng lực đại diện cho cử tri và nhân dân cả nước, tạo

nên nền tảng quyền lực vững chắc của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của

nước Cộng hòa XHCN Việt Nam

Trong khi đó, thực tiễn hoạt động hiện nay của ĐBQH cho thấy, bên cạnh những kết quả cơ bản đã đạt được, vẫn còn những tồn tại, bất cập trong hoạt động của ĐBQH ở các lĩnh vực lập pháp, giám sát và các lĩnh vực hoạt động khác Xung quanh các vấn đề về hoạt động của ĐBQH còn có những vấn đề đặt ra như: cơ cấu thành phần ĐBQH tác động đến hoạt động của ĐBQH như thế nào, mối quan hệ giữa ĐBQH với cử tri, tính đại diện của ĐBQH và bài toán giải quyết hài hòa giữa lợi ích địa phương và lợi ích quốc gia trong vai trò đại diện của ĐBQH, phát huy quyền lực nhân dân trong hoạt động của QH… Trong tiến trình đổi mới, hoạt động của ĐBQH so với yêu cầu thực tiễn vẫn còn có khoảng cách nhất định

Trang 10

Từ những lý do trên, NCS chọn chủ đề “Hoạt động của đại biểu Quốc hội ở

Việt Nam hiện nay” làm đề tài Luận án Tiến sĩ luật học

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp lý, kinh nghiệm của các nước

và thực tiễn hoạt động của ĐBQH Việt Nam, luận án có mục đích làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, yêu cầu hoạt động của ĐBQH; đánh giá những bất cập, hạn chế trong hoạt động của ĐBQH, từ đó đề xuất quan điểm và giải pháp khoa học, khả thi nhằm bảo đảm hơn nữa hoạt động của ĐBQH Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, Luận án xác định rõ các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:

- Thống kê, phân tích tình hình nghiên cứu về hoạt động của ĐBQH của các tác giả trong và nước ngoài chỉ ra các vấn đề xoay quanh ĐBQH để xác định các nội dung đã thống nhất về hoạt động của ĐBQH

- Xây dựng hệ thống kiến thức lý luận về ĐBQH và hoạt động của ĐBQH Việt Nam như: khái niệm, đặc điểm, vai trò, yêu cầu, nội dung hoạt động của ĐBQH, những điều kiện bảo đảm cho hoạt động của ĐBQH, nghiên cứu kinh nghiệm của các nước về hoạt động của ĐBQH từ đó rút ra các giá trị cho Việt Nam

- Nghiên cứu đánh giá khách quan, khoa học thực trạng quy định pháp luật

và thực trạng hoạt động của ĐBQH: ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân nhằm tạo cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất quan điểm và đưa ra các giải pháp bảo đảm hoạt động của ĐBQH trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

- Đề xuất quan điểm và giải pháp khoa học, khả thi bảo đảm hoạt động của ĐBQH

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Về đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu đối tượng chính là ĐBQH Việt Nam (quan điểm khoa học

về hoạt động của ĐBQH và pháp luật về ĐBQH, thực trạng hoạt động của ĐBQH (khóa XIII, ĐBQH khóa XIV); QH Việt Nam, VPQH, HĐDT và các Ủy ban của QH

có liên quan đến hoạt động của ĐBQH)

Trang 11

năm 2013 đến nay (lấy mốc thời gian nghiên cứu từ sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành)

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Cơ sở lý luận và hướng tiếp cận

Thứ nhất, Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa

Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam về tổ chức quyền lực nhà nước và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, về QH, về công tác cán bộ nói chung và về hoạt động của ĐBQH nói riêng

Thứ hai, Luận án sử dụng các hướng tiếp cận chủ yếu sau:

Tiếp cận dưới góc độ luật hiến pháp, luật hành chính nhằm xem xét các QPPL

điều chỉnh về QH, ĐBQH; căn cứ vào lý thuyết và thực tiễn của Việt Nam, trên thực tiễn hoạt động của Quốc hội khoá XIII, XIV, việc thực hiện Luận án dự kiến có sự tham chiếu đến những quan điểm nghiên cứu lý thuyết khác có liên quan Chẳng hạn:

+ Lý thuyết về chủ quyền nhân dân mà đại diện tiêu biểu là Jean Jacques Rousseau (1712-1778) với công trình nghiên cứu: Bàn về khế ước xã hội của Jean Jacques Rousseau (Hoàng Thanh Đạm dịch) (2006), Bàn về khế ước xã hội, Nxb

Lý luận Chính trị, Hà Nội, tr.136-137; v.v

+ Lý thuyết về dân chủ đại diện (với các tác giả như Emmanuel Siesyes

Rebekka Gohring (2003), Shapping The New Europe-Interest Representation in the

European Union, Doctor Thesis, Free University of Berlin, Berlin, tr.50; James

Madison với tác phẩm Người liên bang Nga A Hamilton, J Madison, J Jay (2003),

The Federalist with the Letters of ‘Brutus’, Cambridge, tr.43-45);

+ Khảo cứu một số quan điểm nghiên cứu lý thuyết về tính đại diện của QH

(Hanna Pikin (1967), The Concept of Representation, Los Angeles University Press,

Los Angeles; v.v )

Quá trình thực hiện Luận án dự kiến cũng sẽ nghiên cứu tham khảo những kinh nghiệm có liên quan đến hoạt động của ĐBQH ở QH các nước, rút ra những liên hệ, bài học kinh nghiệm đặt trong thực tiễn của Việt Nam

Tiếp cận hệ thống trong việc phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về

Quốc hội, hoạt động của ĐBQH, mối quan hệ giữa QH với cử tri thông qua hoạt động của ĐBQH với cử tri; các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của ĐBQH vvv

Tiếp cận liên ngành để bảo đảm tính chính xác của các nhận định, đánh

giá về hoạt động của ĐBQH, luận án thực hiện tiếp cận liên ngành gồm: triết học, luật học so sánh, xã hội học pháp luật, chính trị học kết hợp với nghiên

Trang 12

cứu lý luận, khảo sát và kết hợp giữa đánh giá định tính với định lượng Với cách tiếp cận liên ngành, từ đó có thể nhận định đúng đắn, khách quan toàn diện về hoạt động của ĐBQH

Thứ ba, NCS xác định nền tảng xuyên suốt trong quá trình thực hiện Luận án

là đề cao vị trí, vai trò, trách nhiệm hoạt động của ĐBQH trong hoạt động của QH, phù hợp với các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của QH nói chung

4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

- Phương pháp phân tích được thực hiện xuyên suốt trong toàn bộ luận án,

nhằm đặt toàn bộ các nội dung liên quan đến chủ đề nghiên cứu, các tư liệu, thông tin liên quan trong quá trình hoạt động của ĐBQH trong một chỉnh thể thống nhất (Chương 3, Chương 4)

- Phương pháp nghiên cứu lịch sử: được sử dụng chủ yếu trong việc đánh giá

sự phát triển trong hoạt động của ĐBQH; đặt chủ đề nghiên cứu trong bối cảnh thực

tế tổ chức và hoạt động của QH; nhìn nhận vấn đề hoạt động của ĐBQH trong những giai đoạn, nhất là trong giai đoạn hiện nay; đồng thời, đặt các kiến nghị đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của ĐBQH trong bối cảnh và điều kiện thực tiễn chính trị-pháp lý cụ thể của Việt Nam Phương pháp này được áp dụng chủ yếu trong việc đánh giá thực trạng hoạt động của ĐBQH cũng như việc đề xuất các quan điểm, giải pháp cụ thể (Chương 3)

- Phương pháp tổng hợp để hệ thống hóa về vai trò, đặc điểm của ĐBQH

cũng như hoạt động của ĐBQH (Chương 2, 3)

- Phương pháp thu thập tài liệu để minh chứng cho các luận điểm, đánh giá,

nhận định trong luận án Luận án kế thừa các công trình nghiên cứu, số liệu thống

kê và tài liệu có liên quan

- Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn: được sử dụng để xem xét vấn

đề nghiên cứu trong mối liên hệ giữa lý luận, các quy định của pháp luật về hoạt động của ĐBQH với tình hình thực tiễn về hoạt động của QH Những vấn đề lý luận

về hoạt động của ĐBQH cần được đặt trong điều kiện thực tiễn tổ chức và hoạt động của QH; đồng thời, kết hợp cả lý luận và thực tiễn để đánh giá, đề xuất các quan điểm, giải pháp bảo đảm hoạt động của ĐBQH

Ngoài ra, Luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như thống kê,

so sánh: thực hiện việc đối chiếu giữa quy định của pháp luật về hoạt động của ĐBQH và thực tiễn thực hiện để luận giải vấn đề khái niệm hoạt động, đặc điểm hoạt động, nội dung, yêu cầu đối với hoạt động của ĐBQH trong những nhiệm kỳ

Trang 13

gần đây với thực tiễn hoạt động của ĐBQH trong việc đảm nhiệm vai trò hạt nhân, trung tâm của QH Phương pháp này còn được tiễn áp dụng trong việc nghiên cứu tham chiếu với hoạt động ĐBQH ở một số quốc gia…

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về hoạt động của ĐBQH Việt Nam đặc biệt sau khi Hiến pháp 2013 được ban hành và có hiệu lực Qua kết quả nghiên cứu của luận án có những đóng góp mới sau đây:

- Về lý luận, Luận án tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ hơn các vấn đề lý luận

về hoạt động của ĐBQH như: khái niệm, đặc điểm, vai trò, yêu cầu và nội dung hoạt động của ĐBQH, các điều kiện bảo đảm hoạt động của ĐBQH, giá trị kinh nghiệm hoạt động của ĐBQH một số quốc gia và vận dụng phù hợp với điều kiện hoạt động của ĐBQH Việt Nam đáp ứng yêu cầu về dân chủ và pháp quyền trong kiểm soát quyền lực nhà nước của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

- Về thực tiễn, Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện về hoạt động của ĐBQH trong các lĩnh vực hoạt động của QH về lập pháp, giám sát, quyết định các vấn

đề quan trọng của đất nước; kết hợp với việc phân tích những ưu điểm, nhược điểm tồn tại đã và đang xảy ra trong thực tiễn hoạt động của ĐBQH trong thời gian vừa qua Việc nghiên cứu, hoàn thiện hoạt động của ĐBQH dựa trên những cơ sở thực tiễn này

- Luận án luận chứng những quan điểm và các nhóm giải pháp nhằm bảo đảm hoạt động của ĐBQH, Những giải pháp được tiếp cận trên các khía cạnh cơ bản như:

(i) Hoàn thiện pháp luật về hoạt động của ĐBQH trên các lĩnh vực lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, mối quan hệ với cử tri;

(ii) Xây dựng, ban hành văn bản về bộ quy tắc ứng xử của ĐBQH; phát huy vai trò hạt nhân của ĐBQH trong hoạt động của QH; tăng cường tính chuyên môn, chuyên trách của ĐBQH; v.v

(iii) Hoàn thiện hoạt động của ĐBQH, tập trung vào việc hoàn thiện các quy trình, thủ tục về trách nhiệm, sự tham gia của ĐBQH trong hoạt động của các cơ quan của QH, hoạt động tại các Đoàn ĐBQH; hay khi tham gia vào các hình thức

làm việc khác của QH, các cơ quan của QH

(iv) Đảm bảo tính đại diện khi làm nhiệm vụ đại biểu; phát huy trình độ, trí tuệ, năng lực, kỹ năng hoạt động của ĐBQH; mối quan hệ giữa các ĐBQH, các cơ quan của QH và các cơ quan hữu quan khác

(v) Luận án cũng đề xuất cơ chế tăng cường sự giám sát của Nhân dân đối với hoạt động của ĐBQH; cơ chế về vấn đề ĐBQH chịu trách nhiệm trước cử tri; v.v

Trang 14

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lý luận

Một là, Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung, làm đầy và rõ hơn

những vấn đề lý luận về hoạt động của ĐQBH; hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động của ĐBQH; khắc phục hạn chế, vướng mắc, tồn tại trong hoạt động của ĐBQH ở Việt Nam Hiện nay, những vấn đề này đang nằm trong hoạt động của QH hoặc nằm riêng lẻ trong các công trình nghiên cứu liên quan đến ĐBQH ở các lĩnh vực khác nhau

Hai là, Cung cấp cơ sở khoa học cho việc phân tích, đánh giá thực trạng hoạt

động của ĐBQH; đề xuất quan điểm và biện pháp bảo đảm hoạt động của ĐBQH trong điều kiện Việt Nam hiện nay

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Một là, Luận án góp phần nghiên cứu hoàn thiện quy định pháp luật về

ĐBQH, hoạt động của ĐBQH trên cơ sở Hiến pháp năm 2013 và các văn bản QPPL liên quan; tiếp tục bổ sung các vấn đề lý luận cơ bản trong hoạt động của ĐBQH

Hai là, Luận án đề xuất một số yêu cầu, giải pháp cụ thể cho hoạt động của ĐBQH

Ba là, Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan, tổ chức có

thẩm quyền quản lý và phối hợp với ĐBQH trong các vấn đề có liên quan

Bốn là, Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công

tác nghiên cứu, giảng dạy khoa học pháp lý chuyên ngành hành chính - hiến pháp

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận án có kết cấu như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài;

Chương 2: Những vấn đề lý luận về hoạt động của đại biểu Quốc hội Việt Nam; Chương 3: Thực trạng quy định pháp luật và hoạt động của đại biểu Quốc

hội ở Việt Nam hiện nay;

Chương 4: Quan điểm và giải pháp bảo đảm hoạt động của đại biểu Quốc hội

ở Việt Nam hiện nay

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.1.1 Những công trình nghiên cứu trong nước về tổ chức và hoạt động của Quốc hội Việt Nam

Việc nghiên cứu nhằm kiện toàn, đổi mới về cơ cấu tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của QH là yêu cầu thực tế khách quan đặt ra Trong thời gian vừa qua, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu khoa học nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của QH, trong đó có đề cập ở những khía cạnh nhất định liên

quan đến hoạt động của ĐBQH

Thứ nhất, những công trình nghiên cứu đã in thành sách

+ Sách “Quốc hội Việt Nam – những vấn đề lý luận và thực tiễn” [11] Cuốn

sách đã tập hợp một số bài viết của nhiều tác giả đã đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp đề cập tới những vấn đề lý luận chung về QH và lịch sử Quốc hội, tổ chức

bộ máy và hoạt động của QH, trong đó một số nét về vị trí, vai trò ĐBQH; quy định pháp luật về ĐBQH

+ Sách “Một số vấn đề đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội” [102] Trong

cuốn sách, tác giả dành hai chương (Chương III: ĐBQH và Đoàn ĐBQH; Chương V: Một số kỹ năng cần thiết của ĐBQH trong hoạt động lập pháp) để trình bày về vị trí,

cơ sở pháp lý, xác định vai trò của ĐBQH; các quy định về ĐBQH; những vấn đề lý luận, thực trạng và phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của ĐBQH chuyên trách và một số kiến nghị về chế độ, chính sách đối với ĐBQH

Kỹ năng và vai trò của kỹ năng cá nhân của ĐBQH trong hoạt động lập pháp

+ Sách “Quốc hội Việt Nam- sáu mươi năm hình thành và phát triển” [44]

Cuốn sách đã nêu bật ý nghĩa và chỉ ra những bài học kinh nghiệm về sự ra đời của

QH, quá trình phát triển của QH qua những giai đoạn cách mạng; phân tích vị trí, vai trò và những vấn đề đặt ra đối với QH trong giai đoạn cách mạng hiện nay, qua

đó, nội dung cuốn sách cũng đề cập đến vị trí, vai trò và hoạt động của ĐBQH đã tác động to lớn đến quá trình phát triển của QH trong những giai đoạn nhất định

+ Sách “Quốc hội và những thiết chế trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ

nghĩa Việt Nam” [25] Cuốn sách đã dành hai chương (I, II) giới thiệu những bài

viết công phu, sâu sắc về Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam (chương I) và thiết chế QH trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, trong đó nhiều bài viết

đã phân tích vị trí, vai trò, hoạt động của QH, của ĐBQH

Trang 16

+ Sách “Quốc hội Việt Nam trong Nhà nước pháp quyền” [4], Cuốn sách

phân tích những yêu cầu đối với QH theo tiêu chí của Nhà nước pháp quyền; những đòi hỏi của QH Việt Nam trong yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; mục tiêu xác định cách thức làm cho QH thực hiện tốt sự ủy thác của nhân dân trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay Cuốn sách nêu một số nội dung liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn và vai trò của ĐBQH trong các hoạt động của QH (chương 3 và chương 4)

+ Sách “Quốc hội Việt Nam – Tổ chức, hoạt động và đổi mới” [39] Cuốn

sách đã tập trung nghiên cứu về QH, tiếp tục đổi mới về tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của QH, làm cho QH ngày càng thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam Trong đó, có phân tích, đánh giá về nhiệm vụ, quyền hạn, về chế độ làm việc và điều kiện bảo đảm hoạt động của ĐBQH; tăng cường năng lực hoạt động của ĐBQH

+ Sách “Hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam trong cơ chế giám sát

quyền lực nhà nước” [16] Công trình nghiên cứu đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận

và thực tiễn về cơ chế giám sát quyền lực nhà nước và hoạt động giám sát của QH Việt Nam, phân tích những ưu điểm, hạn chế, thuận lợi và thách thức đặt ra đối với việc giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam, trên cơ sở đó kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế này Trong đó, có đề cập đến hoạt động giám sát của ĐBQH với các loại hình hoạt động cụ thể: chất vấn, kiến nghị

QH bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do QH bầu hoặc phê chuẩn Các tác giả cũng đã có những kiến nghị sơ bộ về việc đổi mới hình thức chất vấn của ĐBQH; về nâng cao năng lực của ĐBQH

+ Sách: “Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử ở Việt Nam vấn đề và giải

pháp” [7] Các tác giả có đề cập đến hoạt động giám sát của ĐBQH, chủ yếu dưới

hình thức hoạt động chất vấn, đồng thời, có nêu một số kiến nghị liên quan đến hoạt động giám sát của ĐBQH

+ Sách “Quốc hội Mỹ hoạt động như thế nào?” Cuốn sách tìm hiểu hoạt

động của QH Mỹ, trong đó có đề cập ở một mức độ nhất định về hoạt động của cá nhân nghị sỹ của QH Hoa Kỳ…

+ Sách “Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền Cộng hòa liên bang Đức” [87]

Cuốn sách đã khái quát về đất nước, con người, Nhà nước Cộng hòa LB Đức; giới thiệu về tổ chức và hoạt động của QH liên bang, trong đó có đề cập một số nét về hoạt động của nghị sĩ QH liên bang Đức; so sánh tổ chức hoạt động giữa QH Việt Nam và CHLB Đức

Trang 17

Thứ hai, những đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến Quốc hội

+ Đề tài “Cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội trong thời

kỳ đổi mới đất nước” [76] (2002 – 2004), do VPQH thực hiện Đây là đề tài nhánh

của đề tài cấp Nhà nước về “Luận cứ khoa học để xây dựng và hoàn thiện mô hình

tổ chức và hoạt động của Quốc hội” Đề tài hướng tới nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ cấu, tổ chức và phương thức hoạt động của QH; những yếu

tố tác động, thực trạng, đặc điểm trong cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội; những yêu cầu, quan điểm và giải pháp đổi mới, kiện toàn tổ chức và phương thức hoạt động của QH

+ Đề tài cấp nhà nước: “Xây dựng mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của Quốc hội và Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,

do dân và vì dân ở nước ta” [10], (2004), GS.TS Trần Ngọc Đường làm chủ nhiệm

Trong công trình này, về phía QH, các tác giả tập trung làm rõ cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của QH, của Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền XHCN

ở nước ta Do đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Đề tài là rất rộng, hoạt động của HĐDT, các Ủy ban không phải là trọng tâm nghiên cứu, nên các nội dung về hoạt động của hệ thống Ủy ban được các tác giả đề cập ở một số nét rất khái quát và mang tính gợi mở lớn trên các khía cạnh về cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, vị trí vai trò của các cơ quan này trong tiến trình đổi mới tổ chức và hoạt động của QH trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam

+ Đề tài cấp bộ: “Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội”, (2013), TS Trần Thị Quốc Khánh là chủ

nhiệm Đây là công trình nghiên cứu về HĐDT, các Ủy ban trên cả hai phương diện là

tổ chức và hoạt động Theo đó, về lý luận, các tác giả đã tập trung vào một số vấn đề như khái niệm, vai trò, tính chất của các Ủy ban QH các nước trên thế giới; tính chất-tổ chức, cơ cấu của Ủy ban; bộ máy giúp việc của QH các nước; một số kinh nghiệm từ

QH các nước mà Việt Nam có thể tham khảo; tính chất, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của HĐDT, các Ủy ban của QH ở Việt Nam và bộ máy giúp việc của các cơ quan này Về thực trạng tổ chức và hoạt động, công trình nghiên cứu đã khái quát quá trình phát triển và thực trạng tổ chức của HĐDT, các Ủy ban; thực trạng hoạt động của HĐDT, các Ủy ban; quá trình phát triển và thực trạng bộ máy giúp việc của các cơ quan này Trên cơ sở đó, các tác giả đã đề xuất các yêu cầu, quan điểm và giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐDT, các Ủy ban

+ Đề tài cấp bộ: “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện quy định của pháp luật về hoạt động báo cáo, giải trình tại HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội

ở nước ta hiện nay” [71] Công trình này đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý

Trang 18

luận của việc quy định thẩm quyền yêu cầu báo cáo, giải trình của HĐDT, các Ủy ban; đánh giá, phân tích về hệ thống các quy định pháp luật về thẩm quyền yêu cầu báo cáo, giải trình tại Hội đồng, Ủy ban; thực tiễn thực hiện hoạt động yêu cầu báo cáo, giải trình tại HĐDT, các Ủy ban của QH nước ta trong những năm gần đây Công trình này tập trung nhiều vào các nội dung có liên quan đến hoạt động yêu cầu báo cáo, trình bày (hay còn gọi là giải trình) tại Hội đồng, Ủy ban và giới hạn trong phạm vi này, mà chưa đề cập đến các hoạt động khác của HĐDT, các Ủy ban Cách tiếp cận chủ đạo của các tác giả quan niệm HĐDT, các Ủy ban với vị trí là các cơ quan của QH mới là chủ đề nghiên cứu chính Mặc dù vậy, các hoạt động của cụ thể của ĐBQH là thành viên HĐDT, các Ủy ban trong hoạt động giải trình cũng đã được tập trung phân tích, đánh giá ở một mức độ nhất định

Thứ ba, các luận văn, luận án liên quan đến Quốc hội

+ Luận án tiến sĩ Luật “Cơ sở lý luận của việc đổi mới cơ cấu tổ chức và

phương thức hoạt động của Quốc hội ở Việt Nam hiện nay” [101] Luận án nghiên

cứu cơ sở lý luận về quyền lực nhà nước, vị trí, tính chất của QH, cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động và vai trò của QH trong thực hiện chức năng lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước Nội dung trọng tâm của Luận án đã đi vào hệ thống hóa các quy định của pháp luật và đánh giá thực tiễn

về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của QH qua các thời kỳ, từ đó, đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như tổ chức thực hiện trên thực tế; trong đó, tác giả có nêu một số kiến nghị liên quan đến hoàn thiện pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của ĐBQH

+ Luận án Tiến sĩ Luật “Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc

hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [48] Luận án nghiên cứu làm rõ

khái niệm “chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội”, tiêu chí đánh giá, các yếu

tố tạo thành và các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động lập pháp của QH, trong điều kiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng, luận án đã

đề xuất và luận chứng những giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của

QH, ĐBQH trong giai đoạn hiện nay

+ Luận án Tiến sỹ luật học: “Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của QH nước CHXHCN Việt Nam” [15] Trong Luận án, tác giả đã tập

trung làm rõ cơ sở lý luận về cơ chế pháp lý bảo đảm chức năng giám sát của QH, đánh giá thực trạng vận hành của cơ chế pháp lý bảo đảm chức năng giám sát của

QH và kiến nghị các phương hướng, giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm chức năng giám sát của QH, trong đó đề cập đến hoạt động giám sát của ĐBQH

Trang 19

+ Luận án Tiến sỹ luật học: “Cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao

hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam” [41] Một số nội

dung về hoạt động của HĐDT, các Uỷ ban đã được tác giả đề cập trong Luận án, song tiếp cận ở khía cạnh nghiên cứu về hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của QH Theo đó, một số nội dung về hoạt động của HĐDT trong lĩnh vực giám sát cũng đã được tác giả phân tích, song chủ yếu tiếp cận ở khía cạnh mang tính chất

“trung gian” khi phân tích về hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của QH, tiêu chí đánh giá hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của QH và phương hướng, giải pháp

+ Luận án Tiến sĩ Luật học “Chế độ bầu cử ở nước ta: những vấn đề lý luận

và thực tiễn” [49] Đây là công trình nghiên cứu khá sâu về lý luận và thực tiễn của

hoạt động bầu cử ở Việt Nam hiện nay Hoạt động của ĐBQH mặc dù không phải là đối tượng nghiên cứu chính của Luận án song cũng được tác giả đề cập ở một số nét nhất định

+ Luận án Tiến sĩ Luật học “Quy trình lập hiến trong nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [47] Luận án đề cập đến vai trò của ĐBQH trong quá

trình hoạt động cần trao thêm sáng quyền lập hiến và quy trình thực hiện góp phần nâng cao năng lực lập pháp của ĐBQH

+ Luận án tiến sĩ “Bảo đảm tính đại diện của Quốc hội đáp ứng yêu cầu xây

dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay” [18] Luận án tập

trung làm rõ vấn đề lý luận về tính đại diện và bảo đảm tính đại diện của QH, các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện tính đại diện của QH như: hoàn thiện chế độ bầu cử, hoàn thiện quy trình, thủ tục làm việc của QH, nâng cao vị thế của ĐBQH

+ Luận án tiến sĩ “Quốc hội-cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân – những

vấn đề lý luận và thực tiễn” [19] Luận án tập trung khai thác làm rõ tính đại diện của

QH với tư cách là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân: Khái niệm, vai trò của QH; các bảo đảm và các hình thức thể hiện tính đại diện của QH, từ đó làm cơ sở đánh giá thực trạng về tính đại diện của QH Tác giả đã đưa ra phương hướng xây dựng QH là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân Khi trình bày về các nội dung trên, hoạt động của ĐBQH cũng đã được tác giả phân tích ở một số khía cạnh đặt trong bối cảnh nghiên cứu về chủ đề chính là tính đại diện Nhân dân cao nhất của QH

+ Luận án tiến sĩ “Hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc

hội nước CHXHCN Việt Nam” [77] Luận án tập trung phân tích vào vị trí, vai trò,

đặc điểm hoạt động của HĐDT và các Ủy ban của QH; về phương thức và yêu cầu hoạt động của HĐDT và các Ủy ban của QH; đánh giá thực trạng hoạt động của HĐDT và các Ủy ban của QH, đề xuất các giải pháp hoàn thiện hoạt động của

Trang 20

HĐDT và các Ủy ban của QH Luận án có đề cập đến một số nội dung về hoạt động của ĐBQH với vai trò, trách nhiệm là thành viên HĐDT, các Ủy ban của QH

+ Luận án tiến sĩ “Đổi mới hoạt động ban hành và giám sát thực hiện nghị

quyết của Quốc hội ở nước ta hiện nay” [17] Luận án tập trung phân tích làm rõ

khái niệm, tính chất pháp lý của nghị quyết của QH và hoạt động giám sát thực hiện nghị quyết của QH; đánh giá thực trạng đổi mới hoạt động ban hành và giám sát thực hiện nghị quyết của QH Từ đó tác giả đề xuất các giải pháp tiếp tục đổi mới hoạt động ban hành và giám sát nghị quyết của QH Trong luận án, tác giả đã đề cập đến năng lực hoạt động của QH phụ thuộc vào năng lực hoạt động các cơ quan của

QH, năng lực hoạt động của ĐBQH và thước đo chung cho năng lực hoạt động của năng lực hoạt động các cơ quan của QH, năng lực hoạt động của ĐBQH là hệ thống pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ, quy trình thủ tục làm việc của các cơ quan của QH, ĐBQH, tính chất chuyên nghiệp của ĐBQH

Thứ tư, những bài viết liên quan đến Quốc hội trên các tạp chí khoa học

- “Một số suy nghĩ về nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội” [14]

Xuất phát từ bản chất của Nhà nước, từ nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước của Nhà nước ta, tác giả đã phân tích những định hướng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của QH, qua đó có bàn đến việc nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của HĐDT, các Uỷ ban trong mối quan hệ hữu cơ với việc nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát tối cao của QH

- “Tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo yêu cầu Nhà nước pháp quyền

XHCN” [35] Tác giả đã nêu một số quan điểm gợi mở quan trọng về đổi mới hoạt

động của QH trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam; nhìn nhận QH như là một mô hình sáng tạo trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo yêu cầu nhà nước pháp quyền, yêu cầu đổi mới hoạt động của QH trong các lĩnh vực lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, giám sát cũng như các yếu tố bảo đảm đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của QH

- “Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát triển” [96] Đây là tập hợp các

tham luận của các tác giả mang tính chất đánh giá, nhìn lại một cách khái quát, tổng quan về nhiều mặt cả về tổ chức và hoạt động của QH trong 60 năm qua (1945-2006) Bên cạnh những bài học, kinh nghiệm lịch sử, một số tham luận có đề cập mang tính tổng quan về lịch sử hình thành và phát triển của một số Ủy ban; về ĐBQH; tư tưởng

Hồ Chí Minh về xây dựng QH thực hiện quyền lực của nhân dân trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam, về những dấu ấn trong hoạt động lập hiến, lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, hoạt động giám sát của QH

Trang 21

- “Những bước đổi mới Quốc hội trong lịch sử lập hiến Việt Nam và vấn đề

tăng cường tổ chức, hoạt động của Quốc hội ở nước ta hiện nay” [12] Bài viết đã trình

bày khái lược quá trình hình thành và phát triển của HĐDT, Ủy ban trong lịch sử lập hiến Việt Nam qua 4 bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992; trong đó có gợi mở về việc tăng số lượng và thẩm quyền của các Ủy ban; về vai trò, chất lượng ĐBQH

- “Quốc hội trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

[sửa đổi]” [73] Bài viết tập trung phân tích những điểm kế thừa và phát triển vị trí, vai trò của QH, làm rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của QH trong bản hiến pháp mới nhằm phúc đáp kịp thời yêu cầu của thực tiễn

1.1.2 Những công trình nghiên cứu trong nước về đại biểu Quốc hội và hoạt động của đại biểu Quốc hội

Thứ nhất, những công trình nghiên cứu đã in thành sách

+ Sách “Cơ chế hỗ trợ đại biểu Quốc hội” [86] Cuốn sách phân tích những

vấn đề lý luận và thực tiễn về vị trí, vai trò của ĐBQH trong việc thực hiện quyền trình sáng kiến pháp luật và cơ chế hỗ trợ thực hiện quyền trình sáng kiến pháp luật,

từ đó nêu quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế hỗ trợ thực hiện quyền trình sáng kiến pháp luật của ĐBQH

+ Sách “Điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội” [69] Cuốn sách tập hợp

những bài viết liên quan đến điều kiện hoạt động của ĐBQH - một trong những yếu

tố bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của ĐBQH Trên thực tế, đây

là tập hợp những bài viết được đúc rút từ trải nghiệm thực tế của tác giả về điều kiện hoạt động của ĐBQH trên các khía cạnh: các nhóm điều kiện do luật định; các nhóm về điều kiện vật chất bảo đảm cho hoạt động của ĐBQH; tác giả cũng phân tích những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và phương hướng khắc phục trong những lĩnh vực này

Thứ hai, các đề tài nghiên cứu về đại biểu Quốc hội

+ Đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nâng cao chất lượng hoạt động

của đại biểu Quốc hội và tăng cường đại biểu Quốc hội chuyên trách” [36] Đề tài

tập trung nghiên cứu địa vị pháp lý của ĐBQH và Đoàn ĐBQH, đánh giá thực trạng hoạt động, đưa ra những vấn đề cần nghiên cứu, hoàn thiện để tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động của ĐBQH chuyên trách và Đoàn ĐBQH

+ Đề tài “Đại biểu Quốc hội: Địa vị pháp lý, các mối quan hệ và hiệu quả

hoạt động” [37] Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về địa

vị pháp lý của ĐBQH; đánh giá các quy định của pháp luật thực định về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của ĐBQH; mối quan hệ giữa ĐBQH với các cơ quan, tổ chức

Trang 22

ở TW và địa phương; thực trạng cơ cấu, thành phần, chất lượng ĐBQH, kết quả hoạt động của ĐBQH; những kết quả và tồn tại, nguyên nhân và điều kiện bảo đảm hoạt động của ĐBQH Trên cơ sở đó, đề tài đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao địa vị pháp lý, nhiệm vụ, quyền hạn và mô hình xử lý các mối quan hệ của ĐBQH

+ Đề tài “Đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Quốc hội” [38] Đề tài tập

trung nghiên cứu, đánh giá những mặt tích cực, hợp lý đã và đang phát huy tác dụng trong thực tiễn của các quy định pháp luật về ĐBQH, Đoàn ĐBQH và bầu cử ĐBQH, đồng thời chỉ ra những mặt hạn chế, bất hợp lý, nguyên nhân của nó và những vấn đề cần sửa đổi, hoàn thiện, phúc đáp yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của QH Trên cơ sở đó, đề tài đưa ra những đề xuất, kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện về cơ chế bầu cử ĐBQH và nâng cao hiệu quả hoạt động của ĐBQH, Đoàn ĐBQH

+ Đề tài “Hoàn thiện các quy định của pháp luật về chất vấn và trả lời chấn vấn

của đại biểu Quốc hội” [103] Đề tài tập trung làm rõ khái niệm, đặc trưng, tính hiệu

quả của chất vấn; hệ thống các quy định của pháp luật về chất vấn và thực tiễn hoạt động chất vấn; các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động chất vấn và các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về chất vấn và trả lời chất vấn của ĐBQH

Thứ ba, các luận văn, luận án nghiên cứu về ĐBQH

+ Luận văn Thạc sĩ Luật học “Nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực đại

diện của đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay” [26] Dừng lại phạm vi một luận

văn thạc sĩ, tác giả dừng lại ở việc tập trung đánh giá thực trạng hoạt động và năng lực đại diện của đại biểu qua số liệu hoạt động của QH khóa X, XI Những vấn đề

lý luận đại diện, cơ sở pháp lý của việc nâng cao năng lực đại diện, tiêu chí đánh giá năng lực ĐBQH còn mang tính khái lược Tuy nhiên, công trình có ý nghĩa cho việc nghiên cứu về hoạt động của ĐBQH ở Việt Nam hiện nay với tầm vóc của một Luận án với phạm vi nghiên cứu rộng và toàn diện hơn về ĐBQH

+ Luận án Tiến sĩ luật học “Hoàn thiện pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt

Nam hiện nay” [61] Luận án tập trung làm rõ cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về

ĐBQH; thực trạng pháp luật về ĐBQH Việt Nam, từ đó, đưa ra yêu cầu, quan điểm

và giải pháp hoàn thiện pháp luật về ĐBQH Đây là công trình nghiên cứu toàn diện, tập trung nhất trên phương diện pháp luật về ĐBQH Bên cạnh đó, cũng phải thấy rằng sau thời điểm công trình nghiên cứu được hoàn thành, Hiến pháp năm

2013, Luật TCQH năm 2014, Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015, Luật hoạt động giám sát của QH và HĐND năm 2015 được ban hành, theo đó khuôn khổ pháp lý làm nền tảng cho hoạt động của ĐBQH đã có những điều chỉnh quan trọng

Trang 23

Thứ tư, các bài viết tiêu biểu về đại biểu Quốc hội đăng trên các tạp chí

khoa học

+ Bài viết “Một số yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của đại biểu

Quốc hội” [33] Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 3 (14) tháng 3 năm 2002 Tác giả

đề cập đến trong bài viết về yếu tố tác động tới hiệu quả hoạt động của ĐBQH Đó

là năng lực, trình độ của ĐBQH; quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của ĐBQH, sự tham gia của ĐBQH đối với các hoạt động của QH; mức độ quan tâm, đánh giá của

cử tri đối với hoạt động của ĐBQH và các điều kiện bảo đảm hoạt động của ĐBQH Tác giả đưa ra một số kiến nghị về cơ cấu, thành phần ĐBQH, năng lực, trình độ của ĐBQH, tỉ lệ ĐBQH hoạt động chuyên trách tại các cơ quan của QH

+ Bài viết “Đại biểu Quốc hội chuyên trách hay chuyên nghiệp” [5] Bài viết

phân tích, đánh giá những vấn đề liên quan đến ĐBQH hoạt động chuyên trách thông qua việc thực hiện chức năng đại diện của đại biểu với cử tri, nhân dân và hoạt động lập pháp và những điều kiện cần có để thực hiện chức năng đại diện cũng như những khó khăn, thách thức đặt ra khi thực hiện chức năng lập pháp của ĐBQH

+ Bài viết “Phát huy vai trò đại diện nhân dân của đại biểu Quốc hội trong

hoạt động lập pháp” [13] Trong bài viết tác giả đã nhận định vai trò đại diện cao

nhất của nhân dân là thuộc tính cơ bản trong tổ chức và hoạt động của QH Từ đó, tác giả phân tích các yếu tố khách quan đòi hỏi phải nâng cao năng lực lập pháp cho ĐBQH, những định hướng nâng cao năng lực lập pháp cho ĐBQH trong từng lĩnh vực pháp luật cụ thể

+ Bài viết “Năng lực thực hiện nhiệm vụ ĐBQH” [24] Tác giả đã phân tích

khái niệm năng lực thực hiện nhiệm vụ ĐBQH, những yếu tố cấu thành nên năng lực này, yêu cầu nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ của ĐBQH, xác định tiêu chí tăng cường dân chủ trong bầu cử ĐBQH để chọn ra những người thực sự có năng lực thực hiện nhiệm vụ ĐBQH là giải pháp then chốt để nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ của ĐBQH trong tình hình hiện nay

+ Bài viết “Mấy vấn đề về công tác xây dựng pháp luật của đại biểu Quốc

hội” [68] Tác giả đã trình bày, phân tích một số yêu cầu, nhiệm vụ của ĐBQH

trong hoạt động xây dựng pháp luật như: nắm vững những kiến thức cơ bản, cần thiết về pháp luật, yêu cầu, nhiệm vụ, kỹ năng thẩm tra một dự án luật của ĐBQH…

+ Bài viết “Quyền quyết định và năng lực quyết định của ĐBQH” [30] Bài

viết đề cập chủ yếu năng lực quyết định của ĐBQH Khái niệm quyết định được tác giả nêu ra không chỉ giới hạn trong phạm vi chức năng của QH trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước mà còn quyết định các vấn đề khác trong hoạt động lập pháp và giám sát Quyết định là khái niệm được đề cập không phải là

Trang 24

một hành động cụ thể mà rộng hơn bao gồm cả một quá trình nghiên cứu, tiến hành

và ra quyết định Tác giả viện dẫn đưa ra định nghĩa về năng lực quyết định của ĐBQH và những đặc thù của quá trình ra quyết định của ĐBQH, đó là thiết chế dân chủ đại diện, cơ chế ra quyết định, mối quan hệ cử tri, Đảng, CP, địa phương, tâm lý đám đông… Tác giả đánh giá tầm quan trọng và phạm vi các quyết định của ĐBQH bao trùm cả ba chức năng của QH trong không gian quốc gia, địa phương và liên quan đến nhiều lợi ích Tác giả đưa ra một số giải pháp về việc thiết kế lại quá trình

ra quyết định, củng cố và dựa vào các quyền được trao, tăng cường và dựa vào các điều kiện hỗ trợ, nâng cao năng lực của ĐBQH

+ Bài viết “Những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện sáng quyền lập pháp

của đại biểu Quốc hội” [42] Bài viết đề cập đến quy định pháp luật về thực hiện

sáng quyền lập pháp của ĐBQH và những yếu tố tác động đến việc thực hiện sáng quyền lập pháp của ĐBQH, từ đó đề xuất kiến nghị góp phần làm cho hoạt động sáng quyền lập pháp của ĐBQH có tính khả thi

+ Bài viết “Nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ đại biểu Quốc hội thực

hiện sáng quyền lập pháp” [43] Bài viết bàn đến thực tiễn hỗ trợ ĐBQH thực hiện

sáng quyền lập pháp: quy định pháp luật, thông tin, nhân lực, tài chính hỗ trợ ĐBQH, từ đó gởi mở hướng nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ ĐBQH thực hiện sáng quyền lập pháp

+ Bài viết “Quy trình lập pháp và vai trò của đại biểu Quốc hội” [63] Bài

viết đi vào xác định QH là cơ quan nắm trọn quyền lập pháp; quy trình lập pháp và vai trò, kỹ năng của ĐBQH trong hoạt động lập pháp

+ Bài viết “Kỹ năng thảo luận về các dự án luật” [62] Bài viết phân tích về

kỹ năng thảo luận của ĐBQH đối với các dự án luật, trách nhiệm của ĐBQH trong thảo luận nhằm đánh giá chất lượng, năng lực hoạt động đại biểu từ tham gia thảo luận tại tổ, tại hội trường cần rõ về thời gian, việc đăng ký phát biểu đến quy trình, thủ tục tiến hành thảo luận; đổi mới cung cấp thông tin, dữ liệu về các dự án luật cho ĐBQH và giải pháp nâng cao kỹ năng thảo luận của ĐBQH

+ Bài viết “Bảo đảm điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội” [70] Bài

viết phân tích về bảo đảm điều kiện hoạt động của ĐBQH như về: chế độ làm việc, nơi làm việc, cơ quan làm việc của ĐBQH; những bảo đảm về an ninh, an toàn cho ĐBQH; bảo đảm về vật chất, thù lao làm việc cho ĐBQH và một số nhận xét, kiến nghị góp phần vào việc bảo đảm điều kiện hoạt động của ĐBQH

Thứ năm, các kỷ yếu hội thảo về ĐBQH, hoạt động của ĐBQH

+ Kỷ yếu Hội thảo: “Đại biểu Quốc hội với việc thực hiện sáng quyền lập

pháp” [105] Đây là tập hợp những bài viết của các tác giả tiếp cận ở các khía cạnh

Trang 25

khác nhau về vai trò, trách nhiệm của ĐBQH trong hoạt động thực hiện quyền trình sáng kiến pháp luật ở Việt Nam hiện nay; việc hỗ trợ, tham gia hoạt động này của Liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam, của các tổ chức nghiên cứu; kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về vấn đề này

1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Các công trình nghiên cứu liên quan đến QH, ĐBQH trên thế giới cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, như:

+ Sách “The Concept of Representation” [111] Ở góc độ lý luận đây là công

trình nghiên cứu toàn diện nhất về khái niệm đại diện chính trị Lần đầu tiên vấn đề đại diện được xác định qua bốn góc nhìn: đại diện hình thức, đại diện biểu tượng, đại diện đồng dạng và đại diện nội dung Mỗi góc nhìn cung cấp một cách tiếp cận khác nhau về đại diện Có thể quan sát thấy khái niệm đại diện chính trị của Hana Pitkin được trích dẫn trong một số bài viết, cũng như tham khảo lý thuyết đại diện của tác giả so với thực tế Quốc hội mỗi nước, trong đó có các tác giả Việt Nam

+ Sách “Parliaments and Citizens in Western Europe” [116] Là cuốn sách

bàn trực tiếp về cơ chế đại diện, phạm vi đại diện thông qua mối quan hệ giữa Nghị viện và công dân tại các nước Tây Âu Từ việc phân tích bản chất, mức độ mối quan hệ giữa nghị sĩ và cử tri, cuốn sách đề cập đến đảm bảo để Nghị viện đại diện tốt nhất cho người dân ở các nước Tây Âu Bên cạnh việc phải chú ý đến điều kiện

cụ thể của từng quốc gia, song đây là những thông tin tham khảo so sánh khi liên hệ đến thực trạng giữ mối liên hệ giữa đại biểu QH và cử tri tại đơn vị bầu cử đã bầu ra đại diện của họ, từ đó đưa ra các giải pháp gắn kết mối quan hệ này, đảm bảo cho tiếng nói của đại biểu là tiếng nói của cử tri

+ Công trình “Quốc hội và các thành viên” [66] Công trình đã trình bày cơ

cấu và hoạt động của QH Mỹ như: chức năng, nhiệm vụ của hai Viện và các Ủy ban của QH; quá trình thông qua các dự án luật; quan hệ giữa QH với các cơ quan quyền lực khác của chính quyền liên bang Mỹ Trong đó, có đề cập đến vai trò và hoạt động của ĐBQH

+ Công trình “Representation: Key Concepts” [115] Công trình này có nội

dung tập trung vào làm rõ các khái niệm đại diện, quan hệ đại diện của cá nhân, quan

hệ đại diện đối với tập thể và đại diện cho một quốc gia Đặc biệt công trình này tuy bàn đến đại diện của các đại biểu QH/nghị sỹ đại diện cho quốc gia, cho cử tri nhưng chưa làm rõ thực tế về mức độ đại diện của QH trong mối quan hệ với cử tri thông qua vai trò đại điện và các hoạt động của ĐBQH nhằm biểu hiện rõ cho tính đại diện

+ Bài viết “Power and Representation at the Vietmese National Asembly:

The Scope and Limits of Political Doi Moi” [114] Bài viết đã phân tích, đánh giá

Trang 26

thực trạng thực hiện quyền lực và đại diện của QH Việt Nam qua đó cho thấy ĐBQH cần hoạt động làm sâu sắc hơn nữa nhằm phát huy đại diện và thực hiện quyền lực nhân dân trong QH thời kỳ đổi mới Bài viết nhận định về một số yếu

tố có thể ảnh hưởng đến tính đại diện của QH, qua đó phản ánh nhu cầu cần thiết nâng cao chất lượng ĐBQH, ĐBQH phải hoạt động hiệu quả và toàn diện; v.v

Có thể thấy các công trình này không nghiên cứu trực tiếp vào hoạt động của ĐBQH một cách tổng thể, toàn diện, chỉ dừng lại ở mức độ quan tâm nhất định đến ĐBQH như: về cơ cấu, hoạt động của ĐBQH thông qua cơ cấu, hoạt động của Quốc hội, mức độ mối quan hệ giữa nghị sĩ và cử tri, các hình thức đại diện của các đại biểu dân cử; v.v nhưng các nội dung này giúp NCS nhìn nhận và đánh giá bao quát hơn về hoạt động của ĐBQH, từ đó có cơ sở đề xuất các giải pháp bảo đảm hoạt động ĐBQH trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam

1.3 Nhận xét về tình hình nghiên cứu

1.3.1 Đánh giá những kết quả nghiên cứu đã đạt được

Qua việc khái quát các công trình nghiên cứu, có thể thấy các vấn đề sau đã được thống nhất, trong đó có một số nội dung đáng chú ý như sau:

Thứ nhất, về lý luận, các công trình nghiên cứu đã đề cập đến vị trí, vai trò,

đặc điểm hoạt động của ĐBQH Những nội dung này được các nhà nghiên cứu đưa

ra dựa trên quy định của pháp luật và quá trình phân tích, nghiên cứu từ thực tiễn Hầu hết các công trình khi nghiên cứu về QH hay ĐBQH đều nhận thức đúng đắn

về vị trí, vai trò của ĐBQH trong tổ chức và hoạt động của QH Đây là phần nghiên cứu lý luận quan trọng làm nền tảng trong quá trình nghiên cứu tiếp theo về ĐBQH

Thứ hai, về mặt thực tiễn, các công trình nghiên cứu đều thống nhất về thực

trạng các quy định của pháp luật về ĐBQH nhìn chung chưa thể hiện rõ nét, tính ổn định các quy định pháp luật về ĐBQH chưa cao, vẫn còn những điểm bất hợp lý như: tiêu chuẩn ĐBQH còn thiếu những tiêu chí cần thiết để cử tri có căn cứ thuận lợi trong việc lựa chọn và giám sát, phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực thực hiện nhiệm vụ ĐBQH, số lượng ĐBQH chuyên trách hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa nâng cao tính hoạt động thường xuyên và chuyên môn hóa của QH; hoạt động của ĐBQH trên các mặt lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát chưa hiệu quả, chưa tương xứng với vị trí hiến định của đại biểu cũng như mong đợi của cử tri Hoạt động của ĐBQH còn mang tính hình thức; các điều kiện hỗ trợ và các biện pháp bảo đảm cho hoạt động của ĐBQH chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế đặt ra

Thứ ba, ở khía cạnh quan điểm và giải pháp hoàn thiện hoạt động của

ĐBQH: nhìn chung, đã có sự thống nhất ở những khuynh hướng nhất định như:

Trang 27

tăng số lượng ĐBQH hoạt động chuyên trách; cơ cấu hợp lý số lượng ĐBQH; nhu cầu cần phải tăng cường các điều kiện đảm bảo hoạt động của ĐBQH; nâng cao chất lượng ĐBQH, v.v

1.3.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

1.3.2.1 Một số vấn đề đang đặt ra

Thứ nhất, về chế độ hoạt động của ĐBQH, rõ ràng trong những năm gần đây,

về mặt nghiên cứu lý luận và thực tiễn, việc gia tăng số lượng ĐBQH hoạt động chuyên trách là một thực tế, nhưng gia tăng đến đâu, cơ cấu tỷ trọng như thế nào, gia tăng ĐBQH hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của QH (HĐDT, các Ủy ban của QH), hay tại các Đoàn ĐBQH vẫn còn là vấn đề có ý kiến khác nhau

Thứ hai, chưa đánh giá đầy đủ hoạt động của ĐBQH nhất là hoạt động của

ĐBQH khóa XIV; việc giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của nhân dân cả nước; hoạt động của ĐBQH có tính nghề nghiệp đến đâu trong điều kiện của Việt Nam

Thứ ba, nghiên cứu tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm nước ngoài vận

dụng vào hoạt động của ĐBQH sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành

1.3.2.2 Những vấn đề cấn tiếp tục nghiên cứu

Thứ nhất, về vị trí, vai trò của ĐBQH theo tinh thần của Hiến pháp năm

2013; đến bước điều chỉnh về mặt pháp lý theo hướng lấy hoạt động của ĐBQH làm trung tâm trong hoạt động của QH trong Luật TCQH năm 2014, v.v và những vấn

đề đặt ra

Thứ hai, mặc dù một số khía cạnh liên quan đến phương thức hoạt động của

ĐBQH, đến đặc điểm hoạt động của ĐBQH đã được đề cập, nhưng chủ yếu là ở mức

độ gợi mở Do đó, các vấn đề liên quan đến vấn đề đặc điểm, nội dung hoạt động, điều kiện bảo đảm hoạt động của ĐBQH cần được tiếp tục nghiên cứu toàn diện hơn

Thứ ba, về khuôn khổ pháp lý làm nền tảng cho hoạt động của ĐBQH Thời

gian gần đây, các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động của QH, về hoạt động của ĐBQH nói riêng có những thay đổi lớn, chẳng hạn như Hiến pháp năm 2013, Luật TCQH năm 2014, Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015, Luật hoạt động giám sát của QH và HĐND năm 2015, đều có những quy định mới có liên quan đến hoạt động của ĐBQH Ở khía cạnh luật thực định, rõ ràng khuôn khổ pháp lý nền tảng cho hoạt động của ĐBQH đã có những thay đổi đáng kể, đòi hỏi cần có sự nghiên cứu, đánh giá một cách thấu đáo hơn

Thứ tư, về thực tiễn hoạt động của ĐBQH, những nhiệm kỳ QH gần đây đã

chứng kiến những bước phát triển phong phú, đa dạng trong hoạt động của ĐBQH;

Trang 28

nhiều khía cạnh tích cực được ghi nhận; đồng thời cũng bộc lộ những điểm tồn tại, hạn chế, vướng mắc trong quá trình hoạt động của ĐBQH Cả hai khía cạnh này trong hoạt động của ĐBQH cần được tiếp tục nghiên cứu, đánh giá ở mức độ sâu sắc, toàn diện hơn; đối chiếu với yêu cầu của tình hình thực tiễn

Thứ năm, về các điều kiện bảo đảm hoạt động của ĐBQH, xét ở các khía

cạnh về: (i) nguồn lực tài chính; (ii) thông tin; (iii) nhân lực giúp việc; v.v đặt trong điều kiện thực tiễn hiện nay cần có đánh giá thấu đáo, đầy đủ hơn

Từ những phân tích, đánh giá trên luận án cần làm sáng tỏ

Thứ nhất, về nội dung hoạt động của ĐBQH (tiếp cận một cách tổng thể trên

toàn bộ các phương diện hoạt động cụ thể như: (i) trong lĩnh vực hoạt động lập pháp; (ii) trong lĩnh vực hoạt động giám sát; (iii) hoạt động quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước Luận án cũng dự kiến nghiên cứu hoạt động của ĐBQH trên các nội dung chính: hoạt động của ĐBQH trong mối quan hệ với QH, các cơ quan của QH; hoạt động của ĐBQH trong mối quan hệ với Nhân dân; hoạt động của ĐBQH trong mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan khác trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình

Thứ hai, yêu cầu đặt ra đối với hoạt động của ĐBQH trong điều kiện xây dựng

Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân ở nước ta;

Thứ ba, những quan điểm, giải pháp nào cần tiếp tục được đặt ra, cũng như

các điều kiện cần thiết để bảo đảm hoạt động của ĐBQH ở Việt Nam hiện nay

1.4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu của các đề tài, nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả luận án xác định một số giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu

cơ bản làm nền tảng cho việc triển khai nhiệm vụ nghiên cứu của luận án như sau:

1.4.1 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết 1

- Xuất phát từ vị trí là người đại diện cho cử tri và Nhân dân: thực tiễn đã chứng minh ĐBQH có vị trí, vai trò quan trọng cấu thành nên QH và sự lan tỏa quyền lực của Nhân dân trong hoạt động của QH đến các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước Theo đó mọi hoạt động của ĐBQH phải luôn mang tính đại diện và thống nhất cao trong việc đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân

- ĐBQH là hạt nhân trong hoạt động của QH- cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, do đó hoạt động của ĐBQH phải được đặt trong tổng thể các mối quan hệ của ĐBQH với cử tri, với QH, UBTVQH, với các cơ quan của QH và với các cơ quan nhà nước khác

Trang 29

Giả thuyết 2

- Hoạt động của ĐBQH được thực hiện chủ yếu thông qua ba lĩnh vực hoạt động cơ bản của QH là lập hiến, lập pháp; giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước

- Ngoài các hoạt động trong các lĩnh vực chủ yếu trên, ĐBQH còn tham gia các hoạt động khác như giữ mối liên hệ với cử tri; tuyên truyền phổ biến pháp luật; vv

Giả thuyết 3

Trong vấn đề nghiên cứu kinh nghiệm hoạt động của ĐBQH ở một số nước:

- Không rút ra được giá trị gì vì cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta khác với các nước;

- Rút ra được những giá trị có ý nghĩa tham khảo nhưng vận dụng cần chú ý đến những đặc thù của Việt Nam;

- Rút ra những giá trị quý báu song khi tiến hành cần tổng kết thực tiễn, có hướng dẫn cụ thể, trau dồi kỹ năng, tài liệu, thông tin cung cấp đầy đủ,

Giả thuyết 4

- Các quy định pháp luật hiện hành về ĐBQH đã có bước điều chỉnh phù hợp tạo cơ sở pháp lý cho ĐBQH thực hiện tốt hơn vai trò, trách nhiệm của mình trong hoạt động của QH Tuy nhiên, pháp luật về QH nói chung và ĐBQH nói riêng vẫn còn bộc lộ một số điểm bất hợp lý, chưa thực sự hoàn thiện, đầy đủ, thống nhất

- Năng lực, bản lĩnh một số ĐBQH bộc lộ một số vấn đề đáng quan tâm; sự bất cập trong chế độ hoạt động của đại biểu; mối quan hệ giữa ĐBQH và cử tri có lúc, có nơi còn lơi lỏng làm ảnh hưởng đến quá trình giám sát của Nhân dân đối với các đại diện cho mình, hơn nữa còn thiếu vắng cơ chế giám sát của cử tri đối ĐBQH vv Điều đó đặt ra Luận án cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện quy định pháp luật cũng như cần có giải pháp nâng cao chất lượng đại biểu và hiệu quả hoạt động của ĐBQH

Giả thuyết 5

- Pháp luật về ĐBQH ở Việt Nam cần được hoàn thiện trên cơ sở thể chế hoá quan điểm, đường lối của Đảng trong điều kiện Đảng ta là Đảng cầm quyền và thực hiện cơ chế quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thuộc về Nhân dân;

- Vị trí, vai trò của ĐBQH được phản ánh toàn diện, đầy đủ trong pháp luật

về hoạt động của ĐBQH; hoạt động của ĐBQH luôn phù hợp với tiến trình CNH- HĐH đất nước, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế

Các đề xuất, kiến nghị về hoàn thiện pháp luật về ĐBQH hiện nay chưa đầy

Trang 30

đủ, chưa phúc đáp, gắn kết kịp thời với yêu cầu của tình hình mới; do vậy, việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động của ĐBQH trong thời điểm hiện nay là có ý nghĩa cấp thiết Do đó, Luận án hướng trọng tâm hoàn thiện hoạt động của ĐBQH dựa trên các nội dung: (i) Hoàn thiện pháp luật về ĐBQH; (ii) Nâng cao năng lực, kỹ năng hoạt động của ĐBQH; (iii) Bảo đảm các điều kiện hoạt động của ĐBQH (chính trị, kinh tế, pháp luật và một số điều kiện khác như: nguồn lực tài chính, thông tin, bộ máy và nhân lực giúp việc, các yếu tố về về văn hóa-xã hội, như về động lực hoạt động cụ thể của ĐBQH, đánh giá, tương tác của xã hội ) cũng có thể tác động trong quá trình này

1.4.2 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1

ĐBQH được hiểu như thế nào và vị trí, vai trò, đặc điểm hoạt động của ĐBQH? Câu hỏi 2 Hoạt động của ĐBQH trong các lĩnh vực lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước có phải là hoạt động mang tính quy luật, phổ biến của ĐBQH các nước không?

Câu hỏi 3 Nghiên cứu kinh nghiệm hoạt động của ĐBQH một số nước rút ra được những giá trị gì có ý nghĩa tham khảo cho Việt Nam?

Câu hỏi 4 Thực trạng quy định pháp luật và hoạt động của ĐBQH có những

ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân gì?

Câu hỏi 5 Quan điểm khoa học cho việc bảo đảm hoạt động của ĐBQH trong giai đoạn hiện nay là gì? Cần có những giải pháp đảm bảo gì để ĐBQH hoạt động hiệu lực, hiệu quả đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam?

Trang 31

Kết luận Chương 1

Qua nghiên cứu và tổng quan kết quả nghiên cứu các công trình liên quan đến đề tài luận án, NCS rút ra một số kết luận sau:

1 Đã có những công trình nghiên cứu về ĐBQH ở các nội dung như: (pháp luật

về ĐBQH, tính đại diện của ĐBQH, bảo đảm hoạt động của ĐBQH, v.v ) nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu tập trung chuyên sâu về hoạt động của ĐBQH Các công trình nghiên cứu về Quốc hội trong đó có lồng ghép về ĐBQH, hoạt động của ĐBQH ở những khía cạnh nhất định chưa mang tính tổng thể, toàn diện, đầy đủ về hoạt động của ĐBQH

2 Các công trình nghiên cứu về QH, ĐBQH chủ yếu tiếp cận từ các quy định pháp luật về QH, tập trung về địa vị pháp lý, nhiệm vụ của ĐBQH chưa chú trọng đến xem xét hoạt động của ĐBQH với những hình thức và phương pháp hoạt động của họ

3 Khi Hiến pháp năm 2013 được QH khóa XIII thông qua chưa có công trình nghiên cứu nào (sách, luận án) chuyên sâu về hoạt động của ĐBQH Chỉ có một số bài viết đề cập đến ĐBQH ở một số khía cạnh nhất định

4 Các công trình nghiên cứu mà NCS đã nêu trong Chương Tổng quan có giá trị đáng kể cho quá trình thực hiện luận án; là một trong những cơ sở để NCS kế thừa đánh giá, phân tích và đề xuất giải pháp bảo đảm hoạt động của ĐBQH mang tính toàn diện và khả thi đáp ứng việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân

Trang 32

CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VIỆT NAM

2.1 Vị trí pháp lý, vai trò của đại biểu Quốc hội trong Quốc hội Việt Nam

2.1.1 Vị trí pháp lý của Quốc hội trong bộ máy Nhà nước Cộng hòa XHCH Việt Nam

Quốc hội là một thiết chế tồn tại trong mô hình tổ chức bộ máy nhà nước ở gần như tất cả các quốc gia trên thế giới hiện nay Một thực tế được thừa nhận khá rộng rãi là sự hình thành và phát triển của thiết chế QH gắn liền với sự hình thành

và phát triển của nền dân chủ ở các quốc gia, tùy thuộc vào tình hình phát triển và các điều kiện cụ thể về kinh tế-xã hội, chính trị-pháp lý của các quốc gia đó

Với tính cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, QH có trách nhiệm đối với mọi mặt đời sống xã hội Hoạt động lập pháp, lập hiến, giám sát, quyết định những vấn đề quan trọng có tính quốc gia của QH đều đụng chạm đến mọi mặt đời sống xã hội

Ở Việt Nam, ngày 6/1/1946, toàn thể Nhân dân Việt Nam đã bầu ra QH khóa I gồm 333 đại biểu đại diện cho toàn thể các giai cấp, tầng lớp nhân dân QH khóa I đã ban hành bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta-Hiến pháp năm 1946 và bầu ra các

cơ quan nhà nước Trong lịch sử của dân tộc, lần đầu tiên có một cơ quan đại diện cho toàn thể Nhân dân Việt Nam, do Nhân dân bầu ra, đại diện cho ý chí nguyện vọng của Nhân dân để thực hiện các công việc vì lợi ích chung của toàn thể nhân dân

Cho đến nay, QH Việt Nam đã qua 14 khóa với 05 bản Hiến pháp Xuyên suốt quá trình lịch sử đó, QH Việt Nam luôn giữ vị trí pháp lý đặc biệt trong công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam theo định hướng XHCN

Vị trí pháp lý đặc biệt quan trọng của QH Việt Nam trong bộ máy Nhà nước

có thể nói được kế thừa, xuyên suốt qua các bản Hiến pháp cho đến hiện nay Ngày 28/11/2013, với 97,59% số phiếu tán thành, tại kỳ họp thứ 6, QH khóa XIII đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi) Thực tế

đã cho thấy đây là một sự kiện chính trị - pháp lý quan trọng có ý nghĩa lịch sử, mở

ra một thời kỳ mới trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở Việt Nam Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 ghi nhận vị trí pháp lý của QH một cách trang trọng: QH là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan

trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước [51, Điều 69]

Trang 33

Hiến pháp năm 2013 quy định Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam, thể hiện rõ bản chất của Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân

Như vậy, Hiến pháp 2013 với quy định trên đây đã minh định rõ vị trí pháp

lý của QH Trong bộ máy của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, không có một cơ quan nào khác có vị trí pháp lý như QH Vị trí đặc biệt này của QH được Hiến pháp quy định hình thành trên cơ sở bầu cử theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín, thông qua lựa chọn trực tiếp của Nhân dân; hoạt động theo nguyên tắc: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức

Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân

chủ đại diện thông qua QH, HĐND và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước

Điều đó cũng có nghĩa là QH được bầu ra bởi Nhân dân là sự thiết lập một nền dân chủ đại diện Nếu quan sát trong toàn bộ các cơ quan nhà nước, thì QH – với ý nghĩa tổng quát có vị trí cao nhất Điều này được dựa trên nền tảng tính chất của

QH, mà cụ thể là tính đại biểu (đại diện) cao nhất và tính quyền lực nhà nước cao nhất nói chung Hai tính chất này là nền tảng để lý giải vì sao những thẩm quyền quan trọng bậc nhất của một quốc gia lại được Hiến pháp trao cho QH (như quyền lập hiến, lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của bộ máy Nhà nước) Tuy nhiên, khi nói QH là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất không đồng nghĩa với việc QH là cơ quan toàn quyền, hay mọi quyền lực nhà nước đều tập trung vào QH Trong quá trình phát triển qua 5 bản Hiến pháp cho đến hiện nay theo Hiến pháp năm 2013, việc QH được hiến định là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất vừa là sự thể hiện sự kế thừa và phát triển trong tư duy chính trị-pháp lý của Đảng và Nhà nước ta về tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc: quyền lực nhà nước là thống nhất, có

sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp

Vị trí pháp lý mang tính chất đặc biệt của QH nước ta tất yếu chi phối đến các mối quan hệ giữa QH với các cơ quan nhà nước khác, cũng như đòi hỏi sự vận hành của các cấu trúc bên trong của QH (các cơ quan của QH, ĐBQH) cần dựa trên những cơ sở có tính nền tảng nêu trên

Trang 34

2.1.2 Vị trí pháp lý, vai trò của đại biểu Quốc hội trong đội ngũ cán bộ, công chức của hệ thống chính trị Việt Nam

2.1.2.1 Vị trí pháp lý của ĐBQH Việt Nam

Trước hết, về khái niệm ĐBQH: có thể có những cách hiểu, quan niệm khác nhau về ĐBQH Tuy nhiên, ở góc độ chung nhất, ở khía cạnh pháp lý và thực tiễn tổ chức và hoạt động của QH hiện nay, có thể hiểu, hay đưa ra khái niệm về ĐBQH

như sau: ĐBQH là công dân Việt Nam, đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn theo quy

định của pháp luật về bầu cử ĐBQH, được cử tri bầu ra và được công nhận là ĐBQH trong một nhiệm kỳ Quốc hội cụ thể

Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 (tại các điều 79, 80 và 82)

đã có những quy định mang tính nguyên tắc về vị trí, vai trò, trách nhiệm của ĐBQH, theo đó:

Thứ nhất, ĐBQH là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, ở

cả hai cấp độ là ở đơn vị bầu cử ra mình và của Nhân dân cả nước; Hiến pháp đồng thời cũng xác định trách nhiệm của ĐBQH trong việc giữ mối liên hệ, gắn bó chặt chẽ với Nhân dân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình

1 Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của Nhân dân cả nước

2 Đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng của

cử tri với Quốc hội, các cơ quan, tổ chức hữu quan; thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của đại biểu và của Quốc hội; trả lời yêu cầu và kiến nghị của cử tri; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo

3 Đại biểu Quốc hội phổ biến và vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật [51, Điều 79]

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật TCQH 2014 (khoản 2 Điều 27) quy định:

ĐBQH tiếp xúc cử tri ở nơi ứng cử theo chương trình tiếp xúc cử tri của Đoàn ĐBQH ĐBQH tiếp xúc cử tri ở nơi cư trú, nơi làm việc; tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, lĩnh vực, đối tượng, địa bàn mà đại biểu quan tâm Trong quá trình tiếp xúc cử tri, ĐBQH có trách nhiệm báo cáo với cử tri về hoạt động của đại biểu và QH; cử tri hoặc đại diện cử tri ở đơn vị bầu cử có thể góp ý kiến với ĐBQH tại hội nghị cử tri do Đoàn ĐBQH phối hợp với UBMTTQ và chính quyền địa phương tổ chức trong trường hợp cần thiết

Trang 35

Thứ hai, để có thể thực hiện tốt vị trí, vai trò của nhiệm vụ đại diện cho ý chí,

nguyện vọng của Nhân dân, ĐBQH được trao một thẩm quyền quan trọng trong mối

quan hệ với các chủ thể là người giữ các chức vụ quan trọng thuộc các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, VKSND, Tổng Kiểm toán Nhà nước là quyền chất vấn Theo đó, ĐBQH có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán Nhà nước Người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp hoặc phiên họp của UBTVQH trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội; trong trường hợp cần thiết, Quốc hội, UBTVQH cho trả lời bằng văn bản ĐBQH có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân

đó Người đứng đầu cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm trả lời những vấn đề

mà ĐBQH yêu cầu trong thời hạn luật định (Điều 80 Hiến pháp 2013)

Thứ ba, trong mối quan hệ với QH, các cơ quan của QH, Hiến pháp năm 2013

(Điều 82) có quy định trách nhiệm của ĐBQH trong việc thực hiện đầy đủ nhiệm vụ đại biểu, có quyền tham gia làm thành viên của HĐDT hoặc Ủy ban của QH

Căn cứ quy định của Hiến pháp năm 2013, khung pháp lý về hoạt động của ĐBQH còn được xác lập cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật khác có liên quan như: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, Luật TCQH năm 2014, Quy chế hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH năm 2002, Luật hoạt động giám sát của QH và HĐND năm 2015… Theo đó, nhiệm vụ, quyền hạn của ĐBQH được thể hiện cụ thể qua những nội dung cơ bản như sau:

- Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tham gia đầy đủ các kỳ họp, phiên họp toàn thể của Quốc hội; tham gia các hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội; thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội;

- Đại biểu Quốc hội là thành viên của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm tham dự các phiên họp, tham gia các hoạt động khác của Hội đồng, Ủy ban; thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng dân tộc, Ủy ban mà mình là thành viên;

- Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách có trách nhiệm tham gia hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách và các hội nghị khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội triệu tập (Điều 26 Luật TCQH năm 2014)

- Trách nhiệm dành thời gian hoạt động đại biểu ĐBQH hoạt động chuyên trách dành toàn bộ thời gian làm việc để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu tại cơ quan của QH hoặc tại Đoàn ĐBQH ở địa phương ĐBQH hoạt động không chuyên trách phải dành ít nhất một phần ba thời gian làm việc trong năm để thực

Trang 36

hiện nhiệm vụ, quyền hạn của ĐBQH Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi

ĐBQH làm việc có trách nhiệm sắp xếp thời gian, công việc, tạo điều kiện cần thiết

cho ĐBQH thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu

- Trách nhiệm tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị

của công dân Theo đó, ĐBQH có trách nhiệm tiếp công dân theo quy định của pháp luật Khi nhận được khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân, ĐBQH có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị biết; đôn đốc, theo dõi và giám sát việc giải quyết Người có thẩm quyền giải quyết phải thông báo cho ĐBQH về kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân trong thời hạn theo quy định của pháp luật Trong trường hợp xét thấy việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đúng pháp luật, ĐBQH có quyền gặp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại; khi cần thiết, ĐBQH yêu cầu người đứng đầu cơ quan,

tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó giải quyết

- Thứ tư, ĐBQH có vị trí pháp lý bình đẳng trong hoạt động của QH Theo đó,

mọi quyết định của QH đều được hình thành trên cơ sở ý chí chung của ĐBQH, trên cơ

sở bảo đảm nguyên tắc quyết định theo đa số Yếu tố bình đẳng thể hiện rõ nhất và then chốt nhất là thông qua quyền biểu quyết của ĐBQH về các nội dung cụ thể được trình

QH xem xét, quyết định Lúc này, mọi lá phiếu của từng cá nhân ĐBQH đều có giá trị như nhau, không phân biệt chức vụ, cơ quan, đơn vị công tác, giới tính, độ tuổi; v.v Vị trí pháp lý bình đẳng của ĐBQH cũng đòi hỏi việc thiết kế các quy trình, thủ tục trong hoạt động lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước của QH phải trên cơ sở nguyên tắc này

Bên cạnh đó, trong điều kiện của QH nước ta, trong việc nhận thức, cụ thể hóa nội dung này trong việc thiết kế các nhiệm vụ, quyền hạn của ĐBQH về mặt pháp lý cũng có những đặc điểm riêng Những khác biệt trong hệ thống pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của ĐBQH là một thực tế (như giữa ĐBQH hoạt động chuyên trách và ĐBQH hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm; giữa ĐBQH là thành viên các

cơ quan của Quốc hội, với các ĐBQH không phải là thành viên; giữa ĐBQH là Ủy viên thường trực hay Ủy viên chuyên trách, v.v ) Đã có những khác biệt đáng kể

về mặt nhiệm vụ, quyền hạn trong ĐBQH hiện nay, tùy thuộc vào vị trí, trách nhiệm

cụ thể của ĐBQH, phần nào làm nảy sinh khả năng làm xói mòn yếu tố bình đẳng

trong hoạt động của ĐBQH

Trên cơ sở kế thừa những nội dung hợp lý của các bản Hiến pháp trước đây, Hiến pháp Việt Nam năm 2013, các văn bản QPPL liên quan nhìn chung đã ghi nhận đầy đủ trách nhiệm của ĐBQH trước cử tri và Nhân dân Trước hết đó là trách nhiệm

Trang 37

thực hiện tốt nhiệm vụ đại biểu đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, phản ánh ý kiến của cử tri và Nhân dân trước Nghị trường; đó là trách nhiệm trực tiếp trong việc tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân;

đó là trách nhiệm thay mặt Nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước, chất vấn các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; đó là trách nhiệm nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ của người ĐBQH

2.1.2.2 Vai trò của Đại biểu Quốc hội Việt Nam

Thứ nhất, vai trò đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân Đây

cũng là điểm quan trọng nhất và là điểm cốt yếu khi nói đến vai trò của ĐBQH, hay nói cách khác, không thể nói đến ĐBQH mà lại thiếu vắng vai trò đại diện Cũng tương tự như thiết chế nghị viện trong bộ máy nhà nước ở nhiều quốc gia trên thế giới, thì ĐBQH ở nước ta do người dân trực tiếp bầu ra; và không phải ngẫu nghiên, nhiều nhà nghiên cứu quan niệm nghị viện là biểu tượng của nền dân chủ

Vai trò đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân của ĐBQH ở nước ta cũng được xác lập ở hai khía cạnh: (i) đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình; và (ii) đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân cả nước

Hệ thống pháp luật của Nhà nước ta kể từ năm 1945 đến nay đều không xác định thật

rõ thứ tự ưu tiên trong việc thực hiện vai trò đại diện này của ĐBQH Nhưng nhìn chung, thông lệ quốc tế (chẳng hạn ở CHLB Đức, Điều 38 Hiến pháp CHLB Đức (được ban hành ngày 23/5/1949, được sửa đổi vào ngày 20/12/1993) đã quy định thành viên của Hạ viện Đức (Bundestag) đại diện cho toàn dân [2, Điều 38] ) cũng cho thấy, lợi ích của địa phương, khu vực luôn được đặt dưới lợi ích chung của quốc gia dân tộc, và ở Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ

Vai trò đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân của ĐBQH có ý nghĩa trước hết để mọi quyết định của QH thực sự xuất phát từ lợi ích của người dân, vì lợi ích chung của quốc gia, dân tộc Về mối quan hệ giữa QH, ĐBQH với Nhân dân, xuất phát từ yêu cầu đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân của QH, nguyên Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng từng có đánh giá về mối quan hệ giữa QH, ĐBQH

với cử tri, với Nhân dân; Ông so sánh: “Mình là ắc quy, dân như là điện Nếu nạp

vào mới chạy được, còn nếu hết điện thì không thể chạy được đâu” [135]

Trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước khác, ĐBQH đóng vai trò tương tác, giám sát, thúc đẩy, để hoạt động của các cơ quan nhà nước tích cực, hiệu quả hơn nữa trong việc giải quyết những vấn đề hàng ngày, cũng như những vấn đề trung hạn, dài hạn đặt ra từ thực tiễn cuộc sống Thông qua việc xử lý những vấn đề

đó, sẽ góp phần hạn chế, ngăn ngừa những biểu hiện của sự xơ cứng, quan liêu, lạm

Trang 38

quyền, trục lợi, cục bộ có thể nảy sinh trong việc thực thi chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước nói chung

Sự ủy quyền của cử tri và mối liên hệ với nhân dân tạo nên vị thế đặc biệt của ĐBQH: đại diện cho lợi ích của cử tri trong mối quan hệ với cơ quan công quyền; đồng thời, ĐBQH cũng chính là một thành phần trong cơ quan lập pháp – một trong những nhánh của tổng thể quyền lực nhà nước thống nhất Vị thế trên vừa tạo thuận lợi, vừa tạo thách thức đối với ĐBQH Thách thức ở chỗ, ĐBQH, nhất là các đại biểu kiêm nhiệm, vừa thực hiện nhiệm vụ ĐBQH, vừa giữ các cương vị lãnh đạo trong các cơ quan hành chính nhà nước sẽ dễ bị lẫn các vai trò, nhiệm vụ Một người khi đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ cùng một lúc phải có đủ năng lực phân biệt từng nhiệm vụ một cách rạch ròi và phải có kiến thức, thái độ và ngôn ngữ phù hợp với từng nhiệm vụ Việc tách bạch các vai trò, nhiệm vụ khác nhau trong mỗi một đại biểu là rất khó, nhưng không phải không làm được Mặt khác, vị thế nói trên tạo

ra nhiều thuận lợi đối với ĐBQH trong hoạt động Bởi lẽ, như đã phân tích ở trên, vị thế tạo nên chỗ dựa vững mạnh cho hành động của đại biểu Vị thế đó cũng giúp đại biểu nắm bắt các lợi ích, nguyện vọng của nhân dân để có chính sách phù hợp với lòng dân, pháp luật sẽ có tính nhân dân, phù hợp với xã hội và đạt được sự đồng thuận của xã hội về mặt pháp lý, tạo sự chính danh cho chính sách, pháp luật [31]

Về nguyên tắc, điều này cũng là nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng Nhà nước XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân ở nước ta

Vị thế của ĐBQH xuất phát từ quy định của Hiến pháp và pháp luật, theo đó, tất cả các đại biểu đều được bầu cử từ các đơn vị bầu cử, căn cứ theo số dân, được bầu trực tiếp qua phổ thông đầu phiếu, thay mặt cho cử tri hoạt động trong QH Sự bình đẳng giữa ĐBQH cũng thể hiện sự bình đẳng giữa cử tri ở các đơn vị bầu cử trong phạm vi cả nước Vị thế này bảo đảm cho từng đại biểu sự bình đẳng trong quan hệ với mọi đại biểu khác, dù đó là đại biểu thường, lãnh đạo Quốc hội hay lãnh đạo Ủy ban, hay Bộ trưởng Mỗi đại biểu nắm giữ một lá phiếu và cần phải được ứng xử bình đẳng như nhau [31] Tuy nhiên, trong cơ cấu tổ chức của các cơ quan của QH hiện nay, có Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm Ủy viên Thường trực, Ủy viên chuyên trách; Đại biểu kiêm nhiệm, rồi ĐBQH trong cơ cấu Thường trực của HĐDT, các Ủy ban của QH cũng có những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể, với những tầng nấc khác nhau nếu so với ĐBQH kiêm nhiệm và điều này có thể ảnh hưởng đến sự bình đẳng giữa các ĐBQH trong thực tiễn

Về mặt pháp lý, mặc dù ĐBQH ở nước ta hoạt động chuyên trách, hoặc kiêm nhiệm, có ĐBQH giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; có ĐBQH không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, song nhiệm vụ, quyền hạn của ĐBQH về bản chất không bị ảnh hưởng

Trang 39

nhiều bởi các yếu tố này Trên thực tế, các ĐBQH hoạt động chuyên trách thường được pháp luật trao cho các nhiệm vụ, quyền hạn mang tính nặng nề, nhiều hơn (như quy định về thời gian dành cho hoạt động thực hiện nhiệm vụ đại biểu; các nhiệm vụ, quyền hạn khác khi tham gia thành viên của các cơ quan của Quốc hội, v.v ) Tuy nhiên, quyền biểu quyết gắn với từng cá nhân ĐBQH là thẩm quyền quan trọng nhất, là cơ sở hình thành nên mọi quyết định của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là giống nhau; đều được thực hiện theo nguyên tắc Quốc hội làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số Đây cũng là điểm trung tâm để khẳng định rằng ĐBQH có vị thế bình đẳng trong toàn bộ hoạt động của Quốc hội

Thứ hai, ĐBQH có vai trò là hạt nhân trong toàn bộ hoạt động của Quốc hội

[20] Thực tế QH, các cơ quan của QH cũng đều cấu thành từ các vị ĐBQH Nếu xét

về mặt cấu trúc, QH là một thiết chế toàn thể gồm một số lượng ĐBQH nhất định (khoảng vài trăm người) Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, xuất phát từ xu hướng vận động phát triển của nền dân chủ và những bước phát triển thực tiễn về thẩm quyền ngày càng to lớn của Nghị viện, thì nhu cầu về việc phân công lao động trong hoạt động nội tại của nghị viện là mang tính khách quan Bởi với một tập thể thành viên gồm hàng trăm con người, lại phải đối mặt với phạm vi rộng lớn về nhiệm vụ, quyền hạn ngày càng đòi hỏi tính chuyên môn sâu, thì “một Quốc hội đông người không mấy thích hợp cho công việc trực tiếp của cả lập pháp lẫn chính quyền” và không thể thực hiện tốt công việc của mình nếu không có những cách thức tổ chức công việc phù hợp [27, tr.188, 192] Hệ thống các cơ cấu bên trong của cơ quan lập pháp ở nhiều nước, trong đó có QH nước ta ra đời và phát triển trong bối cảnh đó Phù hợp với thiết chế nghị viện, nơi đề cao nguyên tắc làm việc theo chế độ tập thể, hay chế độ hội nghị

và quyết định theo đa số, các cơ quan của QH nhìn chung cũng vận hành theo nguyên tắc này Theo đó, mọi quyết định của QH, hay các cơ quan của QH đều được thực hiện trên cơ sở ý kiến các thành viên, nơi ý kiến đa số giữ vai trò quyết định

Xét đến cùng, hoạt động của QH là tổng hòa các hoạt động của từng thành viên của QH-đó là từng ĐBQH Chất lượng, kết quả hoạt động của QH phụ thuộc vào chất lượng, kết quả hoạt động của ĐBQH Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng khi nói đến hoạt động của ĐBQH thì không phải nói đến hoạt động của cá nhân đơn lẻ của một ĐBQH, hoạt động của ĐBQH phải được đặt trong một tổng thể chu trình làm việc, trong hoạt động của QH nói chung

2.2 Khái niệm, đặc điểm, nội dung và yêu cầu hoạt động của ĐBQH Việt Nam

2.2.1 Khái niệm, đặc điểm hoạt động của đại biểu Quốc hội Việt Nam

2.2.1.1 Khái niệm hoạt động của đại biểu Quốc hội Việt Nam

Hoạt động được hiểu là: “Làm những việc khác nhau với mục đích nhất định

Trang 40

trong đời sống xã hội”, là “vận động, vận hành để thực hiện chức năng nào hoặc gây tác động nào đó” [123]; hay hoạt động là việc “thực hiện một chức năng nào đó trong một chỉnh thể”, “tiến hành những việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm một mục đích chung, trong một lĩnh vực nhất định” [50, tr.583]

Các ĐBQH là những hạt nhân, thành tố cấu thành nên QH; hoạt động của

QH chính là sự tổng hòa của tổng thể các hoạt động của toàn bộ các thành viên; sẽ không có nhiều ý nghĩa nếu hoạt động của ĐBQH vượt ra ngoài ý nghĩa, mục đích

là thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của QH nói chung So với các chủ thể khác trong cơ quan công quyền, hoạt động của ĐBQH nhìn chung đều được điều chỉnh bằng pháp luật, hoạt động trên nền tảng, khuôn khổ pháp lý nhất định, theo chiều hướng ngày càng hoàn thiện, đầy đủ, cụ thể Do đó, ở khía cạnh xã hội học pháp luật, hoạt động của ĐBQH có thể được xếp vào một trong các loại hình hoạt động pháp luật [108, tr.213] Đối tượng hoạt động pháp luật theo quan niệm này là rất đa dạng, phong phú, có thể do nhiều chủ thể khác nhau thực hiện, thực hiện các biện pháp khác nhau, cũng như theo đuổi các mục đích khác nhau [108, tr.220] Hoạt động của ĐBQH gắn với các mục đích, yêu cầu đặt ra trong các lĩnh vực hoạt động lập hiến, lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, gắn với nhiệm vụ đại biểu, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, không chỉ ở nơi bầu ra ĐBQH, mà còn đại biểu, đại diện cho Nhân dân cả nước Hoạt động của ĐBQH có thể hình dung là hoạt động pháp luật gắn nhiều với yếu tố nhà nước (nhất là đối với các ĐBQH hoạt động theo chế độ chuyên trách); ngược lại, đối với các vị ĐBQH hoạt động theo chế độ không chuyên trách như ở nước ta, thì thời gian dành cho việc thực hiện nhiệm vụ ĐBQH thường ít hơn, đa số thời gian còn lại

họ có thể là công chức, bác sỹ, giáo viên, luật sư, doanh nhân, cán bộ về hưu; v.v Tựu chung lại, hoạt động của ĐBQH phù hợp với vị trí, vai trò của QH là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam, thực hiện quyền lập pháp

Từ đó, có thể hiểu hoạt động của ĐBQH ở nước ta là việc ĐBQH thực hiện các

chức năng, hay tiến hành các công việc cụ thể nhằm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định, phù hợp với vị trí, vai trò của ĐBQH, góp phần thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội với vị trí, vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam

Trong phạm vi hoạt động của ĐBQH được pháp luật quy định, có thể phân loại hoạt động của ĐBQH theo các nhóm lĩnh vực hoạt động lớn: trong lĩnh vực lập hiến, lập pháp; trong lĩnh vực giám sát; trong lĩnh vực quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước của QH

Ngày đăng: 25/05/2019, 06:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Dân nguyện (2008), Báo cáo kết quả chuyến công tác tại Quốc hội Úc và Xin-ga-po, do ông Trần Thế Vượng, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, Trưởng ban dân nguyện làm Trưởng đoàn, thời gian đi nghiên cứu từ 22/6-17/7/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả chuyến công tác tại Quốc hội Úc và Xin-ga-po
Tác giả: Ban Dân nguyện
Năm: 2008
4. Nguyễn Đăng Dung (chủ biên) (2007), Quốc hội Việt Nam trong Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội Việt Nam trong Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
5. Nguyễn Sỹ Dũng (2003), “Đại biểu Quốc hội chuyên trách hay chuyên nghiệp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 3(26) tháng 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại biểu Quốc hội chuyên trách hay chuyên nghiệp”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Nguyễn Sỹ Dũng
Năm: 2003
6. Nguyễn Sỹ Dũng (2017), Bàn về Quốc hội và những thách thức của khái niệm, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về Quốc hội và những thách thức của khái niệm
Tác giả: Nguyễn Sỹ Dũng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật
Năm: 2017
7. Nguyễn Sỹ Dũng và Vũ Công Giao (đồng chủ biên) (2015), Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử ở Việt Nam vấn đề và giải pháp, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử ở Việt Nam vấn đề và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Sỹ Dũng và Vũ Công Giao (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2015
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
9. Bùi Xuân Đức (2008), “Nhận thức về chức năng đại diện và thực hiện chức năng đại diện của Quốc hội Việt Nam”, trích trong cuốn: Chức năng đại diện của Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền, VPQH-Viện Friedrich-Ebert tại Việt Nam: (Kỷ yếu Hội thảo), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức về chức năng đại diện và thực hiện chức năng đại diện của Quốc hội Việt Nam”, trích trong cuốn: "Chức năng đại diện của Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền, "VPQH-Viện Friedrich-Ebert tại Việt Nam: "(Kỷ yếu Hội thảo)
Tác giả: Bùi Xuân Đức
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2008
10. Trần Ngọc Đường (2004), Xây dựng mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của Quốc hội và Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở nước ta, Đề tài khoa học cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của Quốc hội và Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở nước ta
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Năm: 2004
11. Trần Ngọc Đường (2005), Quốc hội Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2005
12. Trần Ngọc Đường (chủ biên) (2005), Những bước đổi mới Quốc hội trong lịch sử lập hiến Việt Nam và vấn đề tăng cường tổ chức, hoạt động của Quốc hội ở nước ta hiện nay, Nghiên cứu lập pháp: Đặc san số 1/2001, chuyên đề:Hiến pháp và các luật về nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bước đổi mới Quốc hội trong lịch sử lập hiến Việt Nam và vấn đề tăng cường tổ chức, hoạt động của Quốc hội ở nước ta hiện nay
Tác giả: Trần Ngọc Đường (chủ biên)
Năm: 2005
13. Trần Ngọc Đường (2007), “Phát huy vai trò đại diện nhân dân của đại biểu Quốc hội trong hoạt động lập pháp”, Tạp chí Cộng sản, 15(135) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy vai trò đại diện nhân dân của đại biểu Quốc hội trong hoạt động lập pháp”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Năm: 2007
14. Trần Ngọc Đường (2009), “Một số suy nghĩ về nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, 7(144), tr. 5-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số suy nghĩ về nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội”, "Tạp chí nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Năm: 2009
15. Trương Thị Hồng Hà (2007), Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của QH nước CHXHCN Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của QH nước CHXHCN Việt Nam
Tác giả: Trương Thị Hồng Hà
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
16. Trương Thị Hồng Hà (chủ biên) (2015), Hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam trong cơ chế giám sát quyền lực nhà nước, Nxb Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam trong cơ chế giám sát quyền lực nhà nước
Tác giả: Trương Thị Hồng Hà (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia-Sự thật
Năm: 2015
17. Vũ Thị Thu Hằng (2017), Đổi mới hoạt động ban hành và giám sát thực hiện nghị quyết của Quốc hội ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới hoạt động ban hành và giám sát thực hiện nghị quyết của Quốc hội ở nước ta hiện nay
Tác giả: Vũ Thị Thu Hằng
Năm: 2017
18. Hoàng Minh Hiếu (2014), Bảo đảm tính đại diện của Quốc hội đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm tính đại diện của Quốc hội đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
Tác giả: Hoàng Minh Hiếu
Năm: 2014
19. Nguyễn Thúy Hoa (2015), Quốc hội – cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân – những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội – cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân – những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Thúy Hoa
Năm: 2015
20. Nguyễn Thị Hoàn (2015), “Vai trò và đặc điểm hoạt động của đại biểu Quốc hội”, Tạp chí Tổ chức nhà nước, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò và đặc điểm hoạt động của đại biểu Quốc hội”, "Tạp chí Tổ chức nhà nước
Tác giả: Nguyễn Thị Hoàn
Năm: 2015
21. Nguyễn Thị Hoàn (2016), “Một vài suy nghĩ về tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội”, Tạp chí Khoa học Nội vụ, (14), tháng 10, tr.32-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài suy nghĩ về tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội”, "Tạp chí Khoa học Nội vụ
Tác giả: Nguyễn Thị Hoàn
Năm: 2016
124. Dự thảo Online: http://duthaoonline.quochoi.vn, (truy cập ngày 25/12/2017) Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w