Bột Nưa có ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực: công nghiệp thực phẩm và y học cũng như việc khai thác toàn diện tính chất bột bay của nó.. Khi khoa học và công nghệ nghiên cứu bột Nư
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
- -
PHẠM THỊ THANH HƯƠNG
NGHIÊN CỨU CHIẾT TÁCH VÀ XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN HÓA HỌC
CỦA CỦ NƯA TẠI ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN HOÁ HỌC
ĐÀ NẴNG, NĂM 2018
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
- -
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU CHIẾT TÁCH VÀ XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN HÓA HỌC
CỦA CỦ NƯA TẠI ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Thanh Hương
Trang 3NHIỆM VỤ KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Họ và tên sinh viên: Phạm Thị Thanh Hương
Lớp: 14CHD
1 Tên đề tài: “Nghiên cứu chiết tách và xác định thành phần hoá học củ Nưa trên địa bàn tỉnh Quảng Nam”
2 Nguyên liệu, dụng cụ và thiết bị
Nguyên liệu: Củ của cây Nưa (Amorphophallus konjac K Koch.) được thu hái
vào tháng 6 năm 2017, tại Nam Giang – Quảng Nam
Hoá chất: Ethanol, n-Hexane, Dichloromethane, Ethyl acetate (Trung Quốc)
Dụng cụ, thiết bị: Bộ soxhlet loại 500ml, tủ sấy, lò nung, phễu buncher, cân phân tích 3 số, bếp cách thuỷ, bếp điện, cốc, giấy lọc, bông nghiệm, đũa thuỷ tinh, ống đong, pipet, các dụng cụ thí nghiệm khác
3 Nội dung nghiên cứu
Xác định các thông số vật lý: Độ ẩm, hàm lượng tro, hàm lượng kim loại nặng trong mẫu nguyên liệu
Nghiên cứu thời gian chiết tối ưu trong một số dung môi của củ Nưa
Định tính các nhóm hợp chất có trong củ Nưa
Định danh các thành phần hoá học trong củ Nưa qua các dịch chiết: n-Hexane, Dichloromethane, Etyl acetate
Xác định công thức cấu tạo của họp chất Glucomannan
4 Giảng viên hướng dẫn: GS.TS Đào Hùng Cường
5 Ngày giao đề tài: 06/2017
6 Ngày hoàn thành đề tài: 12/2017
Trang 4Chủ nhiệm Khoa Giảng viên hướng dẫn
Sinh viên đã hoàn thành và nộp bản báo cáo cho khoa ngày tháng năm 2018
Kết quả đánh giá: Ngày tháng Năm 2018
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 5Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thanh Hương
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Sau hơn sáu tháng thực hiện đề tài, em đã học được rất nhiều điều bổ ích và tích luỹ thêm cho bản thân được nhiều kiến thức thực tiễn quý báu về lĩnh vực mà en nghiên cứu Do đó, trong trang đầu của luận văn này cho em phép em xin bày tỏ lòng biết ơn của mình:
Em xin chân thành cảm ơn GS.TS Đào Hùng Cường đã giao đề tài và tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cho em trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này
Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo bộ môn và các thầy cô công tác phòng thí nghiệm khoa Hóa trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong thời gian nghiên cứu thực hiện khóa luận vừa qua
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh giúp đỡ, động viên trong cuộc sống cũng như học tập
Bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học nên bài luận văn này không tránh khỏi thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, bổ sung của thầy cô để
em có thể thu nhận thêm nhiều kiến thức và kinh nghiệm cho bản thân sau này
Cuối cùng, em xin chúc quý thầy cô sức khỏe, hạnh phúc và thành công trong cuộc sống cũng như sự nghiệp giảng dạy của mình
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Phạm Thị Thanh Hương
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Các phương pháp nghiên cứu 2
4.1 Nghiên cứu lý thuyết 2
4.2 Các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
6 Cấu trúc của luận văn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 4
1.1 Giới thiệu về chi Amorphophalus 4
1.2 Đặc điểm thực vật học của loài Nưa Trồng (Amorphophallus konjac C Koch) (khoai Nưa, Nưa trồng, thuộc họ Ráy – Araceae) 4
1.3 Cấu trúc hóa học của Glucomannan 5
1.4 Khai thác, chế biến và bảo quản 6
1.5 Ứng dụng 6
1.5.1 Lĩnh vực công nghiệp thực phẩm 7
1.5.2 Lĩnh vực thực phẩm chức năng và dược dụng 8
1.6 Công dụng của Glucomannan 9
1.7 Các nghiên cứu về nưa và quy trình tách, chiết Glucomannan 9
1.7.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 9
1.7.2 Nghiên cứu ở trong nước 10
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP - THỰC NGHIỆM 12
2.1 Đối tượng nghiên cứu 12
2.2 Thiết bị, hóa chất 12
2.2.1 Thiết bị, dụng cụ nghiên cứu 12
2.2.2 Dung môi, hóa chất (Trung Quốc) 12
2.3 Phương pháp nghiên cứu 12
2.3.1 Phương pháp trọng lượng 12
2.3.1.1 Xác định độ ẩm 12
2.3.1.2 Xác định hàm lượng tro 13
2.3.1.3 Xác định hàm lượng một số kim loại nặng 14
2.3.2 Phương pháp chiết mẫu thực vật 14
Trang 82.3.2.1 Phương pháp chiết Soxhlet 14
2.3.2.2 Phương pháp đun hồi lưu 14
2.3.3 Phương pháp sắc kí khí ghép khối phổ (GC-MS) 15
2.3.4 Phương pháp định tính các hợp chất có trong dịch chiết của củ Nưa với dung môi nước 15
2.3.4.1 Saponin 15
2.3.4.2 Alkaloid 16
2.3.4.3 Coumarin: 16
2.3.4.4 Flavonoid 16
2.3.4.5 Đường khử: 17
2.3.4.6 Polyphenol: 17
2.3.4.7 Axit hữu cơ 17
2.3.4.8 Polysaccarid 17
2.3.6 Phương pháp phổ hồng ngoại (IR) 18
2.4 Quy trình nghiên cứu thực nghiệm 18
2.4.1 Sơ đồ thực nghiệm 18
2.4.2 Xử lý nguyên liệu 19
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 20
3.1 Kết quả xác định các thông số vật lý 20
3.1.1 Độ ẩm 20
3.1.2 Hàm lượng tro 20
3.1.3 Hàm lượng kim loại 20
3.2 Kết quả khảo sát thời gian chiết của các dung môi ảnh hưởng đến quá trình chiết tách 21
3.2.1 Kết quả khảo sát thời gian chiết bằng phương pháp soxhlet 21
3.2.1.1 Kết quả thời gian chiết bằng dung môi n – hexane 21
3.2.1.2 Kết quả nghiên cứu thu dịch chiết củ Nưa bằng dung môi Dichloromethane 22
3.2.1.3 Kết quả nghiên cứu thu dịch chiết bằng dung môi Ethyl acetate 22
3.2.2 Kết quả khảo sát thời gian chiết và khối lượng kết tinh thu được bằng phương pháp đun hồi lưu 23
3.3 Kết quả định danh thành phần hoá học cảu củ Nưa trong các dịch chiết bằng phương pháp sắc kí khí ghép khối phổ (GC-MS) 24
3.3.1 Kết quả định danh từ dịch chiết n-Hexane 24
3.3.2 Kết quả định danh từ dịch chiết Dichloromethane 26
3.3.3 Kết quả định danh từ dịch chiết Etyl Acetate 29
Trang 93.4 Kết quả định tính các hợp chất có trong dịch chiết củ Nưa với dung môi nước 32
3.5 Kết quả thu nhận Glucomannan từ dịch chiết củ nưa với dung môi nước 33
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 35
KẾT LUẬN 35
KIẾN NGHỊ 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
Trang 10DANH MỤC BẢNG
3.4 Ảnh hưởng của thời gian chiết đến khối lượng cao chiết trong
3.5 Ảnh hưởng của thời gian chiết đến khối lượng cao chiết trong
3.6 Ảnh hưởng của thời gian chiết đến khối lượng cao chiết trong
3.7
Ảnh hưởng của thời gian đến khối lượng kết tủa và kết tinh thu
được trong dịch chiết với dung môi nước bằng phương pháp đun
3.13 Một số peak đặc trưng thu được của Glucomannan trong dịch chiết
Trang 11Số hiệu Tên hình vẽ Trang
1.3 Một số sản phẩm trong công nghiệp thực phẩm từ củ Nưa 7
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Gần nữa thế kỉ nay, con người đã lạm dụng thái quá các sản phẩm công nghiệp
và điều đó làm ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng cuộc sống, đặc biệt là vấn đề sức khỏe Chính điều này đã thúc đẩy con người sử dụng các sản phẩm tự nhiên Và cũng
vì thế mà các nhà khoa học không ngừng tìm tòi, nghiên cứu để tìm ra những chất trong tự nhiên có lợi cho cuộc sống của con người
Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa Vì vậy, nước
ta có thảm thực vật phong phú và có nhiều tiềm năng về cây thuốc Trong đó có cây Nưa, một loại cây trồng được trồng nhiều ở các quốc gia Đông Nam Á như là một cây lương thực thực phẩm Ở nước ta, Nưa mọc hoang rải rác ở khắp các vùng rừng núi, được người dân địa phương đem về trồng ở trong vườn, quanh bờ ao, dọc hàng rào và trên các đồi để làm thức ăn cho người và gia súc Thân Nưa được sử dụng làm rau xanh, nấu cùng với cá, thịt, làm dưa chua , chế biến thành những món ăn dân dã Lá Nưa có thể dùng để chăn nuôi hoặc tận dụng làm nguồn phân xanh Củ Nưa làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp sản xuất kẹo bánh, miến, mì, thạch rau câu, làm thuốc chưa bệnh táo bón, giảm cholesterol, béo phì,
Tuy nhiên, ở nước ta, công dụng nhiều mặt của cây Nưa vẫn chưa được chú ý Hiện nay Nưa chỉ được trồng và sử dụng đơn thuần như là một loại rau ở một vài địa phương, còn củ Nưa ít được sử dụng, chỉ chủ yếu để dùng làm giống cho vụ sau hoặc làm thức ăn chăn nuôi Trên thực tế tất cả những thành phần có ý nghĩa lớn về mặt dược lý của Nưa nằm ở củ Nưa Nhiều nghiên cứu về thành phần và vai trò củ Nưa cho thấy trong bột củ Nưa có chứa Glucomannan là hợp chất có nhiều công dụng quý, có tác dụng tốt đến bệnh ung thư, tim mạch, béo phì, cao huyết áp Vì vậy ở nhiều nước trên thế giới củ Nưa được sử dụng và đem lại nguồn lợi lớn Tuy nhiên ở nước ta cây Nưa chưa được sử dụng và khai thác hợp lý
Cho đến nay những nghiên cứu về cây Nưa ở nước ta còn rất ít Nhằm góp phần nâng cao giá trị sử dụng và khai thác một cách hợp lí, việc nghiên cứu để xây dựng một quy trình chiết tách, từ đó xác định thành phần và những hoạt tính của cây
là một vấn đề cần thiết Do đó, em chọn đề tài “ Nghiên cứu chiết tách và xác định
thành phần hóa học của củ Nưa tại địa bàn tỉnh Quảng Nam”
Trang 14 Phân lập, xác định cấu tạo của các chất hóa học có trong củ Nưa
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Củ Nưa được thu hái trong địa bàn Quảng Nam
Thành phần hóa học trong một số dịch chiết của củ Nưa
4 Các phương pháp nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu lý thuyết
Mô tả đặc điểm sinh thái, thành phần hóa học và ứng dụng của cây Nưa
Tìm hiểu các tài liệu liên quan đến củ Nưa trong và ngoài nước
Tình hình nghiên cứu về củ Nưa trong và ngoài nước
Các phương pháp phân tích sử dụng trong thực nghiệm
4.2 Các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Xử lý mẫu: Cây Nưa thu tại Quảng Nam được rửa sạch, gọt vỏ, thái lát, làm khô và nghiền thành bột mịn
Xác định các thông số vật lý (độ ẩm, hàm lượng tro, hàm lượng kim loại nặng)
Chiết tách bằng các dung môi có độ phân cực khác nhau: Hexane, Ethyl- acetate, Dichloromethane
Dùng phương pháp AAS để xác định hàm lượng kim loại nặng
Định danh các thành phần hoá học bằng các phương pháp sắc kí
Định tính các hợp chất bằng phương pháp cảm quan
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa thực tiễn: Giải thích một cách khoa học các kinh nghiệm dân gian Góp phần khai thác, sử dụng và bảo vệ loài cây này một cách hiệu quả và bền vững
Ý nghĩa khoa học: Cung cấp thêm thông tin về cây như một số chỉ tiêu hóa lý, khảo sát thành phần hóa học và cấu trúc của một số hợp chất có trong cây Nưa
Trang 156 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 38 trang, 13 bảng, 10 hình ảnh, 27 tài liệu tham khảo Với:
Mở đầu (3 trang)
Chương 1 : Tổng quan (8 trang)
Chương 2 : Phương pháp – Thực nghiệm (8 trang)
Chương 3 : Kết quả và thảo luận (15 trang)
Kết luận và kiến nghị (1 trang)
Tài liệu tham khảo (3 trang)
Trang 164
1.1 Giới thiệu về chi Amorphophalus
Theo một số nghiên cứu về phân bố cây thuộc họ Ráy (Araceae) cho thấy, trên thế giới có khoảng 170 loài Amorphophallus phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Á,
châu Phi, Mardagascar, Australia Ở Châu Á nó phân bố chủ yếu ở các nước Đông Á
và Đông Nam Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Inđônesia, Thái Lan…[43] Ở
Việt Nam, cho đến nay đã phát hiện được khoảng 20 loài Amorphophallus phân bố từ Bắc đến Nam, củ Nưa (chi Amorphophallus) phân bố chủ yếu ở các tỉnh vùng núi (có
độ cao thường dưới 1000m) và trung du của miền Bắc và miền Nam Việt Nam có nguồn Nưa phong phú với tổng lượng ước tính có khoảng 1000 tấn [6]
Theo từ điển cây thuốc Việt Nam của Võ Văn Chi (2012) [3], trung tâm dữ liệu thực vật Việt Nam và các tài liệu phân loại thực vật vị trí phân loại của họ Ráy trong giới thực vật như sau:
Một số loài điển hình thuộc chi Amorphophallus [1]:
Amorphophallus konijac C Koch., Amorphophallus paeoniifolius (Denst.) Nicols.; Amorphophallus interrutuptus Engler & Gehrm., Amorphophallus verticillatus Hett., Amorphophallus mekongeasis Engler & Gehrm., Amorphophallus panomensis Gagn , Amorphophallus tonkinensis Engler & Gehrm…
1.2 Đặc điểm thực vật học của loài Nưa Trồng (Amorphophallus konjac C
Koch) (khoai Nưa, Nưa trồng, thuộc họ Ráy – Araceae)
Cây thảo có củ lớn hình tròn hơi bẹp, đường kính 10- 25cm; trước ra hoa, sau
ra lá, lá đứng, có bẹ bao, mỗi lá chia làm 3 nhánh, các nhánh lại chia đốt, phiến lá xẻ thuỳ sâu hình lông chim, các thuỳ cuối hình quả trám thuôn, nhọn đầu; cuống lá thon, dài 40-80cm, nhẵn, màu lục nâu, có điểm các chấm trắng Cụm hoa có mo lớn, mo dài 20-30cm, trong màu đỏ, ngoài màu lục, ngắn hơn buồng, buồng đứng trên cao, phần
Trang 17cái dài 6cm, phần đực dài 8cm, phần không thụ 20-25cm Thường sinh trưởng từ tháng
4 đến tháng 11 ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Nưa trồng rất dễ được tìm thấy ở nhiều nơi trên nước ta, nhưng chủ yếu vẫn là ở miền núi Bắc Bộ, miền Tây Nam Bộ và một vài nơi ở Trung Bộ, trong đó có địa bàn tỉnh Quảng Nam
Hình 1.1 Hình ảnh Nưa konjac
(Amorphophallus konjac, họ Ráy Araceae)
1.3 Cấu trúc hóa học của Glucomannan
Glucomannan là một polysaccarit có cấu tạo mạch thẳng, khối lượng phân tử từ
200 ÷ 2000kDa, được tạo nên từ các đơn vị cấu trúc là D-glucose và D-mannose liên kết với nhau bởi liên kết -1,4-glycosit Tùy thuộc vào nguồn gốc của glucomannan
mà tỷ lệ giữa D-glucose và D-mannose trong phân tử có sự khác nhau Bên cạnh đó, trên nguyên tử cacbon C3, C6 ở một số loại glucomannan có thêm liên kết -1,3-glycosit và -1,6-glycosit với một số đơn vị cấu trúc khác Ngoài ra, đối với một số loại glucomannan, nhóm hydroxyl (-OH) ở nguyên tử cacbon C6 của một số mắt xích được axetyl hóa Cấu trúc của glucomannan được minh họa như sau:
Trang 186
Hình 1.2 Cấu trúc hóa học của konjac glucomannan
1.4 Khai thác, chế biến và bảo quản
Củ Nưa được khai thác từ tháng 9 đến tháng 11 vào cuối mùa sinh trưởng trong năm Khi nhận thấy 2/3 lá đã ngã vàng, người dân thường dựa vào hiện tượng này để bắt đầu đào củ Chọn những củ to chắc, không bị sâu, sùng Rửa sạch phần đất bên ngoài bằng nước, gọt bỏ lớp vỏ ngoài, thái lát mỏng, phơi khô hoặc sấy ở nhiệt độ 60 cho đến khô rồi nghiền thành bột mịn
Dược liệu khô được đóng vào bao nilon dày, để nơi khô ráo, thoáng mát để tránh bị mốc
1.5 Ứng dụng
Từ lâu, bột Nưa giàu glucomannan đã được sử dụng làm thực phẩm dưới các dạng: mì, đậu hũ, đồ ăn nhẹ (snack) hay được hầm với thịt như các món ăn truyền thống Từ cách đây hơn 2000 năm, người Trung Quốc đã sử dụng glucomannan để điều trị hen suyễn, ho, thoát vị, đau ngực, bỏng cũng như rối loạn về huyết học và da Năm 1994, glucomannan chính thức được Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm (FDA) cho phép sử dụng như là phụ gia thực phẩm Hiện nay, ở Bắc Quảng Đông,
Trung Quốc, cây A.konjac còn được trồng như là cây lương thực giúp giảm nghèo
Các sản phẩm sử dụng bột Nưa giàu glucomannan đang lưu hành rộng rãi trên thị trường thế giới, tại Trung Quốc và Nhật Bản đã xuất khẩu trên thế giới nhiều sản phẩm chế biến từ bột Nưa [41]
Bột Nưa có ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực: công nghiệp thực phẩm và
y học cũng như việc khai thác toàn diện tính chất bột bay của nó Từ quan điểm về dinh dưỡng, sức khỏe và y học, bột Nưa được sử dụng như sau:
Trang 19 Bột Nưa và bột Nưa kỹ thuật thường là nguyên liệu chính hoặc phụ gia trong công nghiệp thực phẩm Khi khoa học và công nghệ nghiên cứu bột Nưa phát triển thì người dân có được một sự hiểu biết tốt hơn về sản phẩm từ loài Nưa, bột Nưa ngày càng được sử dụng như một nguyên liệu quan trọng hoặc chất phụ gia trong sản xuất thực phẩm, đồ uống, thạch và nước trái cây
Các bột Nưa đã tinh chế hay bột Nưa loại gôm được sử dụng để sản xuất các loại thực phẩm tăng cường sức khỏe, có thể được phát triển cho các nhóm người tiêu dùng cụ thể Chúng cũng được sử dụng trong ngành công nghiệp dược phẩm, một số loại thuốc với cellulose hòa tan như một thành phần để điều trị táo bón; đồng thời sử dụng để ngăn ngừa hoặc điều trị lipid máu, bệnh tim mạch vành, bệnh tiểu đường và béo phì
1.5.1 Lĩnh vực công nghiệp thực phẩm
Sản phẩm Đậu Phụ Bột Nưa, tăng tính dai của đậu phụ và là sản phẩm đậu phụ cao cấp chế biến xào nấu, được bán rộng rãi tại Nhật Các sản phẩm khác như kẹo cao su, mì konnyaku, mì Nhật,
Hình 1.3 Một số sản phẩm trong công nghiệp thực phẩm từ củ Nưa
a Đậu hũ Nưa b Thạch rau câu
c Bột rau câu d Bánh gạo lức Konjac
Trang 208
1.5.2 Lĩnh vực thực phẩm chức năng và dược dụng
Nhiều sản phẩm đã được đưa ra thị trường sử dụng bột Nưa làm nguyên liệu
Hình 1.4 Một số sản phẩm thực phẩm chức năng từ Nưa
a Thực phẩm chức năng; b Gạo; c Viên giảm cân
Tại Trung quốc và phục vụ xuất khẩu có những sản phẩm khác như chế phẩm dược dụng (Bạch Kim Vu Bảo) sử dụng bột Nưa tinh chế loại gôm; giàu chất xơ, phục
vụ mục đích giảm béo và giảm mỡ máu; nghèo năng lượng Sản phẩm Gạo Nưa Dưỡng Sinh (Konjac Healthy Meter) sử dụng bột Nưa tinh chế phục vụ ăn kiêng, nghèo năng lượng Sản phẩm Bông Tắm Từ Nưa sử dụng tính chất xơ của bột glucomannan, giữ ẩm làm mịn da đồng thời bảo vệ bề mặt da khỏi bị kích ứng, đây là sản phẩm công nghệ cao được sản xuất và tiêu thụ chủ yếu tại các nước phát triển (Mỹ, châu Âu, Nhật, )
Bột Nưa tinh chế được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp thực phẩm chức năng dinh dưỡng và dược Một trong những ứng dụng thực phẩm chức năng của sản phẩm chứa bột Nưa (thành phần chính là glucomannan) là điều chỉnh quá trình mất cân bằng dinh dưỡng bởi tính chất xơ Chức năng tăng cường sức khoẻ của sản phẩm chứa bột Nưa giàu glucomannan như sau:
+ Phòng ngừa và điều trị táo bón;
+ Điều chỉnh chuyển hóa lipid;
+ Cải thiện quá trình trao đổi đường;
+ Giảm béo
+ Chức năng khác
Trang 211.6 Công dụng của Glucomannan
Glucomannan là một chất xơ hoà tan hoàn toàn, không chứa năng lượng nên rất
có lợi cho sức khoẻ Theo nghiên cứu của S Chearskul và cộng sự, glucomannan có tác dụng thỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường tuyp 2 nhờ kìm hãm hormon kích thích thèm
ăn ghrelin, và hormon leptin giúp điều hòa cảm giác đói và cân nặng [15] Theo nghiên cứu của Chen Hsiao-Ling [17] bổ sung 3.6 g glucomannan/ ngày trong 28 ngày có tác dụng hỗ trợ giảm đường huyết sau ăn, choleserol máu, lipid máu ở bệnh nhân tiểu đường tuyp 2 Theo một số công bố khác, glucomannan còn có thể hỗ trợ làm tăng độ nhạy của insulin, kiểm soát hội chứng kháng insulin, giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch ở bệnh nhân tiểu đường tuyp 2, giảm nồng độ lipid huyết tương và glucozơ máu, giảm cân và hỗ trợ điều trị cao huyết áp với liều sử dụng 1 - 13 g/ngày [16] Glucomannan còn kích thích lên nhu động của dạ dày và ruột nên có tác dụng nhuận tràng [27] Theo đánh giá của Alonso-Sande M.[15], glucomannan là loại vật liệu rất tiềm năng cho nhiều lĩnh vực, đặc biệt là cho lĩnh vực y dược học
1.7 Các nghiên cứu về nưa và quy trình tách, chiết Glucomannan
1.7.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
Glucomannan có trong củ Nưa là một polysaccaride với nhiều tính chất quý như khả năng tương hợp và phân hủy sinh học, có khả năng hình thành gel thuận nghịch và không thuận nghịch, khối lượng phân tử khoảng 200÷2000 Kda Trong dung dịch nước, glucomannan có thể hấp thụ tới 200 lần khối lượng của nó, tạo dung dịch có độ nhớt cao 20,000 ÷ 40,000 cp, cao nhất trong các chất xơ nguồn gốc thiên nhiên Nhờ những tính chất sinh lý hóa đặc biệt đó mà glucomannan và dẫn xuất đã được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực như: công nghiệp thực phẩm; công nghệ sinh học; y sinh và dược phẩm; hoá học và một số lĩnh vực khác [18], [20], [31]
Nhìn chung, hàm lượng và chất lượng của glucomannan phụ thuộc rất nhiều yếu tố như phương pháp tách chiết, điều kiện canh tác, thời điểm thu hoạch v.v…
Theo một số nghiên cứu, trọng lượng khô của củ A konjac tươi chiếm khoảng 10 ÷13
%, trong đó 49 ÷ 60% (w/w) là glucomannan, 10 ÷ 30% (w/w) tinh bột, 2,6÷7% (w/w) chất khoáng, 5÷14% (w/w) protein, 3÷5% (w/w) đường tan, 3.4÷5.3% (w/w) tro và một lượng rất nhỏ alkaloid (tính theo trọng lượng khô) [19], [28]
Nghiên cứu về công nghệ chế biến và dây chuyền công nghệ trên thế giới được phát triển những năm l980 tại Nhật [35] sau đó được ứng dụng rộng rãi tại Trung
Trang 2210 quốc Chế biến củ Nưa được tiến hành qua nhiều bước: làm khô củ Nưa, sản phẩm từ
củ tươi không để được lâu nên thường được làm khô để dự trữ hoặc bán, chất lượng không được tốt Từ năm 1980, công nghệ và trang thiết bị để sấy khô được phát triển
để phục vụ vùng trồng rộng và tăng sản lượng [19], [30] Các phương pháp sấy khô
đã được đề xuất để chống nhiễm bẩn bởi khói sấy từ than đá và thay đổi phương pháp sấy khô trực tiếp thành sấy khô gián tiếp Sau đó chế biến sản xuất bột Nưa cao cấp Các công nghệ khác nhau hiện nay đã được nghiên cứu và đưa vào sản xuất trên thế giới
1.7.2 Nghiên cứu ở trong nước
Các tài liệu liên quan tới cây Nưa ở Việt Nam không nhiều Năm 1942, Ganepain biên soạn họ Ráy ở Đông Dương trong cuốn “Thực vật chí Đông Dương”
ông đã mô tả 4 loài Nưa có ở Việt Nam là: Nưa chuông – A paeoniifolius, Nưa Bắc
Bộ - A tonkinensis, Nưa mekong – A mekongensis, Nưa đứt đoạn – A interruptus
Tới năm 1994, trong một số bài báo khoa học, Hetterscheid công bố một số các loài
Nưa phát hiện ở Việt Nam như Nưa hoa vòng – A verticillatus từ mẫu thu ở Cúc Phương, Nưa lông – A lanuginosus từ mẫu thu ở Hòn Tre (Nha Trang), Nưa trạm trổ
- A scaber từ mẫu thu ở Nam Bộ, v.v Sau đó, Nguyễn Văn Dư [5, 6] công bố thêm một số loài Nưa mới như Nưa phong nha – A tuberculatus từ mẫu ở Phong Nha – Kẻ Bàng, Nưa hoa đực khối – A synandrifer ở Ninh Thuận, Nưa kiên lương – A
kienluongensis, v.v Trong các chuyến khảo sát thực địa ở Việt Nam, Nguyễn Văn Dư
đã phát hiện nhiều loài trước đây chỉ phân bố ở Trung Quốc, Thái Lan hay Lào bổ
sung cho hệ thực vật Việt Nam như Nưa vân nam – A yunnanensis, Nưa đầu nhăn –
A corrugatus, Nưa krausei – A krausei, Nưa konjac – A konjac, v.v cả 4 loài này
đều là những loài trồng làm nguyên liệu cho glucomannan ở Trung Quốc nhưng cũng phân bố ở vùng phía bắc (Hà giang) và miền Trung (Tây nguyên) Trong các giống
phân bố ở Việt Nam này, loài Nưa krausei – A krausei, Nưa konjac – A konjac khá
phù hợp với điều kiện ở một số vùng tại Tây nguyên và có thể được khai thác để làm nguyên liệu sản xuất bột Nưa giàu glucomannan
Tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, một vài nhóm nghiên cứu đã kết hợp bước đầu tiến hành các nghiên cứu về cây Nưa cho glucomannan Các kết quả nghiên cứu thu được mới chỉ là những bước nghiên cứu cơ bản về cây Nưa ở Việt Nam như thành phần loài, phân bố, thành phần hóa học, v.v Đề tài cấp Viện Hàn
Trang 23lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam của TS Nguyễn Văn Dư đã bước đầu khảo sát,
xác định Việt Nam có 4 loài Nưa (Amorphophallus) có giá trị và hàm lượng
glucomannan đủ lớn cho mục đích khai thác và sử dụng glucomannan Đặc biệt đã
xác định được khu phân bố của loài Nưa konjac (Amorphophophallus konjac), là loài
Nưa được sử dụng phổ biến cho mục đích lấy glucomannan ở Nhật Bản và Trung Quốc Tuy còn rất hạn chế, nhưng có thể nói đây là những tài liệu đầu tiên nghiên cứu
về việc trồng trọt cây Nưa ở Việt Nam Phối hợp với đề tài này, các kết quả đánh giá
về hàm lượng và các phương pháp tách chiết Glucomannan từ củ cây Nưa – PGS, TS
Đỗ Trường Thiện, TS Lê Ngọc Hùng tiến hành cũng đã đánh giá tốt về hàm lượng glucomannan trong củ cây Nưa ở Việt Nam Các khảo sát gần đây của nhóm đề tài cũng cho thấy tại Tây Nguyên đã có sự phân bố tự nhiên của một số loài Nưa như
Nưa lông – Amorphophallus pillosus Hett., Nưa fallax – Amorphophallus fallax Hett., Nưa khảm – A scaber Hett & Serebryany, v.v Hiện nay trên thế giới, các loài Nưa
này vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu nhân giống và trồng trọt để phát triển sản xuất nhưng các nghiên cứu về trồng trọt và chế biến các sản phẩm về bột Nưa konjac ở Việt Nam hầu như chưa thấy có mà chỉ có đối với các giống khác [4], [7]
Trang 24 Bình định mức với các dung tích khác nhau
2.2.2 Dung môi, hóa chất (Trung Quốc)
Trang 25+ Dựa vào hiệu khối lượng của mẫu trước và sau khi sấy để tính hàm lượng nước
có trong mẫu phân tích
+ Dụng cụ, thiết bị: Cốc sứ để đựng mẫu, tủ sấy, bình hút ẩm, cân phân tích 03 số
Trong đó:
m0 : khối lượng cốc sứ (g)
m1: khối lượng mẫu trước khi sấy (g)
m2: khối lượng cốc chứa mẫu sau khi sấy (g)
Để xác định hàm lượng tro trong Nưa ta lấy vào 3 cốc sứ, mỗi cốc đựng khoảng
5 gam bột nguyên liệu (kí hiệu của mẫu đã ghi trên chén sứ) rồi đem than hóa sơ bộ trên bếp điện Sau đó, cho cốc sứ có chứa mẫu vào lò nung và nung ở nhiệt độ 400-
5000C (nếu nhiệt độ cao hơn thì một số các kim loại sẽ bị bay hơi) Sau thời gian tro hoá khoảng 6 - 7 giờ, ta thấy bột Nưa bị tro hoá hoàn toàn Lúc này tro ở dạng bột, màu xám trắng Cho cốc vào bình hút ẩm cho đến khi cốc nguội hẳn thì cân cốc trên cân phân tích và ghi giá trị khối lượng Tiếp tục cho cốc vào lò nung, nung 2 tiếng, lấy