Đơn cử như tạihuyện Sơn Tây, trong số 2000 trẻ bảo trợ, có tới 20 trườnghợp tảo hôn ở lứa tuổi 12 và 16; ở huyện Trà Bồng, con số đó là 40/2.400 trẻ em… Có rất nhiều bài viết, công trình
Trang 2- Tổng quan nghiên cứu vấn đề
- Thực trạng tảo hôn trên thế giới
Nạn tảo hôn thường xảy ra phổ biến ở các nước nôngnghiệp kém phát triển, kể cả những vùng nông thôn của cácnước phát triển, hệ quả của nó làm nghèo đói trở thành mộttình trạng dai dẳng
Trên toàn thế giới hiện có hơn 700 triệu phụ nữ kết hôn ở độ tuổi trẻ em Cứ 3 phụ nữ thì có 1 người kết hôn trước tuổi 15 (khoảng 250 triệu người), đặc biệt ở các nước như: Chad, Nigiê, Mali, Afghanistan, Bangladesh, Guinea, Cộng hòa Trung Phi, Burkina Faso, Mozambique, Nepal, Thổ Nhĩ Kỳ, Ethiopia, Madagascar, Malawi, Sierra Leone, Eritrea, Cameroon, Uganda, Ấn Độ, Zambia, Nicaragua, và Tanzania có tỷ lệ tảo hôn khá cao, hơn 40%.
Trang 3Tỉ lệ tảo hôn ở Yemen tương đối cao, người chồng có thể
là một người đàn ông trẻ tuổi hoặc có thể là một người đànông góa vợ, đứng tuổi và thậm chí là những kẻ bắt cóc, cưỡnghiếp các cô gái rồi họ tự tuyên bố nạn nhân là vợ mình Đa sốcác cô gái ở Yemen đều kết hôn ở độ tuổi từ 14 - 16 và hầunhư đều bị mù chữ
Ủy ban nhân quyền độc lập (AIHRC) tại nướcAfghanistan khẳng định, hơn một nửa số vụ hôn nhân ở tỉnhmiền Nam Kandahar là tảo hôn Ở Nepal, tỷ lệ tảo hôn là56%, còn ở Dải Gaza (Palestine), tỷ lệ này cũng chiếm đến42% Tổ chức Nhi đồng, Liên hợp quốc (UNICEF) cho biết,tại Bangladesh, 29% nữ giới kết hôn trước tuổi 14
Ở Ấn Độ, 46% phụ nữ lấy chồng hoặc sống như vợchồng trước tuổi 18, còn ở những khu vực nông thôn, tỷ lệnày có thể là 55% Trong đó, nhiều em gái bị cha mẹ gả cướinhững người đáng tuổi cha, tuổi ông của các em làm chồng.Rất nhiều em gái từ 14 - 16 tuổi trở thành những “bà mẹ nhí”trong khi cơ thể chưa hoàn thiện về tâm sinh lý, không cókiến thức về sức khỏe sinh sản, cuộc sống của các em bịchiếm đoạt và hủy hoại hoàn toàn
Trang 4- Thực trạng tảo hôn tại Việt Nam
Ở Việt Nam, tình trạng tảo hôn cũng diễn ra hết sức
nghiêm trọng Hàng năm, “nước ta có 500.000 đôi nam nữ kết
hôn, trong đó có trên 2% đôi kết hôn trước tuổi luật pháp cho phép Theo điều tra của Tổng cục Thống kê, có 16.660 vị thành niên ở tuổi 13-14, 125.400 vị thành niên ở tuổi 15-17, 407.755 vị thành niên từ 17-19 tuổi đã có vợ có chồng” [4,
tr.40] Tây nguyên và vùng núi phía Bắc có tỷ lệ dân số trong
độ tuổi 15 - 19 đã từng kết hôn cao nhất cả nước (17,4% đốivới nữ, 7,7% đối với nam) Vùng Bắc Trung bộ và Duyên hảimiền trung có tỷ lệ thấp nhất (5,3% đối nữ, 1,1% đối vớinam) Các tỉnh có tỷ lệ tảo hôn cao nhất là: Lai Châu, ĐiệnBiên, Lào Cai, Hà Giang, Kon Tum
Theo hệ thống dữ liệu hành chính của Việt Nam, ở một
số xã, tỷ lệ tảo hôn là trên 50% Trong số các cộng đồng dântộc thiểu số, người Mông có tỷ lệ tảo hôn cao nhất lên tới33%, tiếp theo là người Thái với tỷ lệ là 23,1%, người Mường(15,8%), các dân tộc khác như: Lô Lô, Chứt, Hà Nhì, Phù Lá,Mông, Ê đê, Chu Ru, Pu Péo, Rơ Mân đặc biệt là dân tộc Si
La (Điện Biên, Lai Châu), Lô Lô, Pu Péo (Hà Giang), Rơ
Trang 5Mân, B Râu (Kon Tum), Mông Xanh (Lào Cai) thì trong 100cặp kết hôn có đến hơn 50 cặp tảo hôn.
Theo kết quả khảo sát của Ủy ban Dân số gia đình và trẻ
em Lai Châu năm 2006 - 2007, tỷ lệ tảo hôn ở các dân tộcMảng chiểm tới 80%, tỷ lệ hôn nhân cận huyết thống chiếmkhoảng 20%
Theo thống kê của UBND huyện Đồng Văn, tỉnh HàGiang, thời gian trước, trong và sau Tết Nguyên đán BínhThân 2016 (từ tháng 5/2015 đến tháng 4/2016) trên địa bànhuyện có 128 trường hợp tảo hôn và 4 trường hợp kết hôn cậnhuyết thống
Qua khảo sát tại 6 xã thuộc 3 huyện Sa Thầy, Ngọc Hồi
và Kon Plông của tỉnh Kon Tum vào cuối năm 2012, đã pháthiện hơn 350 cặp tảo hôn
Hay như tại Thừa Thiên Huế, tình trạng tảo hôn xảy ratương đối phổ biến ở hai huyện miền núi là A Lưới và NamĐông Tính trong 8 tháng của năm 2016, số trường hợp ở haihuyện này lên tới 23 trường hợp; trong đó, huyện Nam Đông
12 trường hợp, huyện A Lưới 11 trường hợp
Trang 6Tại tỉnh Quảng Ngãi, trong vòng gần đây đã có tới hơn
500 trường hợp trẻ em cưới vợ, lấy chồng khi còn đang ở độtuổi đi học Đây quả là một con số đáng báo động về tìnhtrạng tảo hôn tại địa phương này Tại các huyện như: MinhLong, Sơn Tây và Trà Bồng, tình trạng kết hôn dưới tuổi quyđịnh của pháp luật vẫn đang xảy ra cho cộng đồng và tậptrung chủ yếu ở nhóm người dân tộc thiểu số Đơn cử như tạihuyện Sơn Tây, trong số 2000 trẻ bảo trợ, có tới 20 trườnghợp tảo hôn ở lứa tuổi 12 và 16; ở huyện Trà Bồng, con số đó
là 40/2.400 trẻ em…
Có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu khoa họcliên quan đến vấn đề tảo hôn của cộng đồng các dân tộc thiểu
số, có thể kể đến tác giả Nguyễn Đăng Mạnh với bài viết
“Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ở các dân tộc thiểu số
tỉnh Quảng Bình, Quảng trị”, trong bài viết, tác giả nhấn
mạnh “vấn nạn tảo hôn đã cướp đi quyền được học, vui chơi;
cướp đi sự trong trắng, vô tư của các em, nhất là các em gái, buộc họ phải sống trong sự chiếm đoạt cả về thể xác lẫn tâm hồn, trong sự nghèo đói, ít hiểu biết với bao nguy cơ về sức khỏe” [15, tr.67], đồng thời đã nêu ra một số khái niệm, thực
trạng tảo hôn tại tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, các nguyên
Trang 7nhân và hệ quả của thực trạng, qua đó đề xuất một số giảipháp nhằm giảm thiểu, loại trừ tảo hôn và hôn nhân cận huyếtthống ra khỏi cộng đồng các dân tộc thiểu số như cần có sự
“phối hợp, tuyên truyền sâu rộng hơn nữa của chính quyền
các cấp, các đoàn thể, tổ chức xã hội về Luật hôn nhân và gia đình, về chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình Đặc biệt cần tăng cường nâng cao nhận thức để chuyển đổi hành vi cho thế hệ trẻ; đồng thời tổ chức thực hiện tốt mô hình can thiệp giảm tình trạng tảo hôn, gắn trách nhiệm của cá nhân, gia đình và xã hội trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình để từng bước nâng cao chất lượng dân số, cải thiện sức khỏe cộng đồng ” [15, tr.67]; bài
viết “Báo động nạn tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống
vùng dân tộc thiểu số” của tác giả Bình Minh đã nêu lên
những con số cụ thể về thực trạng tảo hôn của các dân tộcthiểu số tại Việt Nam, theo đó tác giả cho rằng tình trạng tảo
hôn đang diễn ra “đối với các tộc người sống ở những khu
vực được coi là vùng lõm về trình độ dân trí, tỷ lệ hộ nghèo cao với những hủ tục kéo dài” [16] rất đáng lo ngại; đề tài
Luận văn Thạc sĩ “Thực trạng kết hôn sớm ở cộng dân tộc
thiểu số tại Hà Giang” của tác giả Hoàng Thị Tây Ninh”
Trang 8[20], luận văn nghiên cứu sâu về thực trạng, nguyên nhân, hậuquả của tảo hôn trong cộng đồng các dân tộc thiểu số xã LùngTám, huyện Quản Bạ và xã Bạch Đích, huyện Yên Minh, tỉnh
Hà Giang; Luận văn Thạc sĩ “Giáo dục phòng chống nạn tảo
hôn vùng đồng bào dân tộc ít người huyện Đồng Xuân - tỉnh Phú Yên” của tác giả Ngô Thị Quỳnh Hoa, tác giả nhận định
“tảo hôn, một hủ tục lạc hậu vẫn còn tồn tại và được chấp
nhận trong cộng đồng dân tộc ít người ở xã Phú Mỡ Tảo hôn
đã có tác động tiêu cực đến đời sống của người dân, kìm hãm
sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương” [11,
tr.108], ngoài việc nêu lên thực trạng tảo hôn, nguyên nhân,hậu quả do tảo hôn mang lại, tác giả đã đề xuất những biệnpháp nhằm phòng chống tiến đến loại trừ nạn tảo hôn ra khỏiđịa phương
Có thể nói đề tài tảo hôn của cộng đồng các dân tộcthiểu số được nhắc đến khá nhiều trong các bài báo, các côngtrình nghiên cứu khác nhau Theo điều tra của Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Phú Yên từ năm 2012-2015 tại 26 xã của 3huyện miền núi Sơn Hòa, Sông Hinh, Đồng Xuân có 527 cặptảo hôn, 64 cặp kết hôn cận huyết, 08 cặp vừa tảo hôn và kếthôn cận huyết Những con số trên cho thấy thực trạng tảo hôn
Trang 9tại Phú Yên, trong đó có huyện Sơn Hòa đáng báo động, tuynhiên, các cấp, các ngành địa phương vẫn chưa tìm được cácbiện pháp phù hợp để giảm thiểu tiến tới loại trừ nạn tảo hôn
ra khỏi cộng đồng Do đó, thực hiện đề tài này, chúng tôi sẽnghiên cứu và đề xuất một số biện pháp nhằm giáo dục,phòng chống tảo hôn cho cộng đồng các dân tộc thiểu sốhuyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên
- Một số khái niệm cơ bản
- Giáo dục
Giáo dục trong tiếng Anh được gọi là education có nghĩa
là quá trình tạo điều kiện thuận lợi cho học tập, hoặc thu thậpkiến thức, kỹ năng, giá trị, niềm tin và thói quen Các phươngpháp giáo dục bao gồm kể chuyện, thảo luận, giảng dạy, đàotạo và nghiên cứu trực tiếp Giáo dục có thể diễn ra trong cácmôi trường chính thức hoặc không chính thức và bất kỳ kinhnghiệm nào có ảnh hưởng xây dựng theo cách suy nghĩ, cảmnhận hoặc hành động có thể được coi là giáo dục Trong tiếngViệt, “giáo” có nghĩa là dạy, “dục” có nghĩa là nuôi, như vậy
có thể hiểu giáo dục là dạy dỗ, rèn luyện trí, đức tính và thânthể cho được hoàn mỹ hơn
Trang 10Trong giáo dục học, khái niệm giáo dục là khái niệm cơ
bản nhất Về bản chất “giáo dục là quá trình truyền đạt và
tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người” [14, tr.12], về hoạt động “giáo dục là quá trình tác động đến các đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách” [14, tr.12], về phạm vi, giáo dục bao
hàm nhiều cấp độ khác nhau “Ở cấp độ rộng nhất, giáo dục
được hiểu là quá trình xã hội hóa con người Quá trình xã hội hóa con người là quá trình hình thành nhân cách dưới ảnh hưởng của tác động chủ quan và khách quan, có ý thức và không có ý thức của cuộc sống, của hoàn cảnh xã hội đối với các cá nhân Ở cấp độ thứ hai, giáo dục có thể hiểu là giáo dục xã hội Đó là hoạt động có mục đích của xã hội, với nhiều lực lượng giáo dục, tác động có hệ thống, có kế hoạch đến con người để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách.
Ở cấp độ thứ ba, giáo dục được hiểu là quá trình sư phạm Quá trình sư phạm là quá trình tác động có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của các nhà sư phạm trong nhà trường tới học sinh nhằm giúp học sinh nhận thức, phát triển trí tuệ và hình thành những phẩm chất nhân cách.
Ở cấp độ thứ tư, giáo dục được hiểu là quá trình bồi dưỡng
Trang 11để hình thành những phẩm chát đạo đức cụ thể, thông qua con đường dạy học ” [14, tr.12]
Như vậy, giáo dục được coi là một hiện tượng đặc trưngcủa xã hội loài người Giáo dục là hiện tượng nảy sinh, tồn tại
và phát triển cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người Nóphản ánh một hoạt động đặc biệt của con người và mối quan
hệ của con người khi tham gia hoạt động đó trong xã hội Đó
là hoạt động tái sản xuất những nhân cách, tái sản xuất nhữngnhu cầu và năng lực của con người
Tóm lại, với tư cách là hiện tượng xã hội, giáo dục đượchiểu là thế hệ trước truyền thụ những kinh nghiệm lịch sử - xãhội cho thế hệ sau và thế hệ sau lĩnh hội những kinh nghiệmlịch sử - xã hội đó để tham gia vào đời sống xã hội, để tồn tại
và phát triển trong xã hội loài người Loài người muốn tồn tại
và phát triển phải luôn duy trì hiện tượng giáo dục
- Tảo hôn
Khơi nguồn để hình thành nên một gia đình thực sự làviệc xác lập mối quan hệ hôn nhân giữa hai người nam và nữ,tiền đề cho việc xác lập mối quan hệ ấy là việc kết hôn
Trang 12Ở Anh, độ tuổi kết hôn được pháp luật quy định là từ 16tuổi trở lên đối với cả nam và nữ Pháp luật nước Pháp quyđịnh độ tuổi kết hôn của nước này là 18 tuổi trở lên đối vớinam và 16 tuổi trở lên đối với nữ, còn tại Việt Nam, Khoản 1Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định độ tuổikết hôn của nam là từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên
Mặc dù vậy, do nhiều nguyên nhân chủ quan, kháchquan khác nhau mà việc nam nữ tảo hôn vẫn diễn ra thườngxuyên và trở nên phổ biến ở một số vùng miền trên cả nước,đặc biệt ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dântộc thiểu số
Từ góc độ của pháp luật, tảo hôn là hiện tượng kết hôncủa hai người nam và nữ khi họ chưa đủ tuổi kết hôn theo quyđịnh của pháp luật Như vậy, có thể hiểu tảo hôn theo hai
nghĩa sau: “Thứ nhất, tảo hôn là việc nam nữ lấy vợ lấy
chồng có đăng ký kết hôn nhưng một hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật Thứ hai, tảo hôn là việc nam nữ lấy vợ lấy chồng không đăng ký kết hôn và một hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật” [15, tr.60].
Trang 13Theo Khoản 4 Điều 8 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2000
giải thích: “Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên
hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật” [23, tr.179].
Như vậy theo chúng tôi: Tảo hôn là việc nam nữ xác lậpquan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật nhưng vi phạmđiều kiện độ tuổi kết hôn
- Cộng đồng các dân tộc thiểu số
Thuật ngữ cộng đồng bắt đầu từ thập kỷ 50 ở nông thôn,đây là nơi các làng xã còn mang tính truyền thống, tự cung tựcấp Các đặc điểm văn hóa xã hội của người dân đồng nhất,
họ có mối quan hệ chặt chẽ, thân mật với nhau, đồng thời cóquyền lợi và nhu cầu giống nhau Tuy nhiên, bước vào thời kỳcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, đơn vị làng xã không thể sinhhoạt cô lập mà phải hòa vào tiến trình phát triển chung, do đóngười ta nới rộng cộng đồng ra ngoài phạm vi làng xã, cụ thể
là một cụm làng, một huyện, một tỉnh hoặc một vùng “Ngoài
ra, với cuộc sống ngày nay những người có những lợi ích chung chưa chắc gì là cư trú gần nhưng họ liên kết nhau trên
Trang 14cơ sở nghề nghiệp, sở thích hoặc dưới hình thức hợp tác xã hay hiệp hội Đây là những cộng đồng chức năng” [34, tr.24].
Khái niệm cộng đồng có thể hiểu “là một thực thể xã hội
có cơ cấu tổ chức, là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu sự ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên” [9]
Các đặc điểm có thể là đặc điểm về kinh tế, xã hội: khudân cư đô thị, cộng đồng làng xã; huyết thống: cộng đồng cácthành viên cùng họ tộc; mối quan tâm và quan điểm: nhóm sởthích trong một dự án; môi trường, nhân văn: cộng đồngngười Huế tại Phú Yên
Như vậy, cộng đồng là tập hợp các thành viên sống trênmột địa bàn nhất định, gắn kết với nhau bởi các mối quan hệ,phong tục, tập quán, truyền thống lịch sử - văn hóa, có sự chia
sẻ với nhau về tâm lý - tình cảm, trách nhiệm - nghĩa vụ, kiếnthức - kinh nghiệm, vật chất, tinh thần
Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so vớidân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam
Trang 15Theo thống kê của Tổng cục thống kê năm 2010, ViệtNam có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm hơn 85%dân số cả nước, tiếp đến là các dân tộc: Tày (1,89%), Thái(1,8%), Mường, Khơ Me (1,5%), H’Mông (1,2%), Nùng(1,1%) các dân tộc khác chiếm tỷ lệ thấp dưới 1% Như vậytheo định nghĩa, dân tộc Kinh là dân tộc đa số, 53 dân tộc cònlại là dân tộc thiểu số.
Từ những khái niệm nêu trên, chúng tôi cho rằng: cộngđồng các dân tộc thiểu số là địa bàn có đông các dân tộc thiểu
số (ít người) cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnhthổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Giáo dục phòng chống tảo hôn
Phòng chống tảo hôn là việc các cơ quan của Nhà nước,các tổ chức xã hội và công dân bằng nhiều biện pháp nhằmkhắc phục những nguyên nhân, điều kiện của tình trạng tảohôn góp phần ngăn chặn, giảm thiểu và từng bước tiến tới loạitrừ tình trạng tảo hôn ra khỏi đời sống xã hội
Phòng ngừa chống tảo hôn mang ý nghĩa chính trị xã hộisâu sắc, nếu làm tốt công tác phòng chống tảo hôn giúp nângcao chất lượng dân số, nguồn lực lao động, giúp người dân có
Trang 16cơ hội học tập, làm việc và xây dựng gia đình ấm no hạnhphúc.
Giáo dục phòng chống tảo hôn là một nội dung của giáodục pháp luật Giáo dục pháp luật là quá trình hoạt động cómục đích, có tổ chức, có kế hoạch, theo nội dung và thôngqua những phương pháp, hình thức nhất định từ phía chủ thểgiáo dục pháp luật, tác động đến đối tượng tiếp nhận giáo dụcpháp luật nhằm làm hình thành và phát triển ở họ hệ thống trithức pháp luật, trình độ hiểu biết về pháp luật; làm hình thànhtình cảm, thói quen và hành vi ứng xử tích cực theo pháp luật
Như vậy, giáo dục phòng chống tảo hôn là hình thức truyềnđạt những kiến thức pháp luật về hôn nhân và gia đình để mọingười hiểu, tuân thủ và có ý thức chấp hành tốt luật này, tránhnhững tác hại và hậu quả do tảo hôn gây ra
- Lý luận về vai trò, ý nghĩa của giáo dục phòng chống tảo hôn cho cộng đồng các dân tộc thiểu số
-Sự cần thiết của giáo dục phòng chống tảo hôn cho cộng đồng các dân tộc thiểu số
Trang 17Tiêu chí xây dựng lối sống của người Việt Nam thời kỳ
công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế là “Xây dựng một nhà
nước kỷ cương, nền nếp trong đó mỗi người dân đều có ý thức chấp hành chính sách pháp luật của Nhà nước” [21, tr 297].
Từ khi Luật HN & GĐ năm 2000 được ban hành, Nhà nước
đã phổ biến, tuyên truyền rộng rãi để người dân hiểu đượctính ưu việt của pháp luật hôn nhân XHCN, từ đó nâng cao ýthức pháp luật của người dân về việc kết hôn và đăng kí kếthôn, tuy nhiên, nạn tảo hôn vẫn xảy ra ở tất cả các tỉnh thànhtrong cả nước, đáng chú ý là các huyện miền núi, vùng sâuvùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Việc tảo hôn mang lại những hậu quả nặng nề không chỉcho gia đình và xã hội Kết hôn khi chưa trưởng thành về mặttâm sinh lý, chưa đủ sự chín chắn cần thiết để nuôi dưỡng concái, chưa thể tự tay vun vén một mái ấm gia đình đủ ăn, đủmặc thì hệ lụy tất yếu dẫn đến đói nghèo, sức khỏe khôngđảm bảo, trẻ em được sinh ra không được chăm sóc và nuôidưỡng chu đáo, chất lượng giống nòi suy giảm
Con người chính là nguồn lực quan trọng nhất để thúcđẩy nên kinh tế quốc gia phát triển, một đất nước có trình độdân trí cao là một đất nước phát triển Việc kết hôn sớm nghĩa
Trang 18là buông xuôi cơ hội tiếp cận những nguồn kiến thức, kinhnghiệm, bài học quý báu Kiến thức, kinh nghiệm giúp conngười chinh phục những thử thách, là sức mạnh để vươn lênxây dựng một cuộc sống ấm no hạnh phúc góp phần xây dựngquê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh.
Từ những phân tích trên cho thấy vấn đề giáo dục phòngchống tảo hôn cho cộng đồng các dân tộc thiểu số là việc làmhết sức cần thiết Mỗi gia đình, mỗi địa phương cần phối hợpchặt chẽ với các cấp ủy, chính quyền, các hội đoàn thể và nhàtrường đẩy lùi tình trạng tảo hôn trong đồng bào dân tộc thiểu
số, góp phần nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lựcvùng dân tộc thiểu số
- Mục tiêu của giáo dục phòng chống tảo hôn cho cộng đồng các dân tộc thiểu số
Giáo dục phòng chống tảo hôn cho cộng đồng các dântộc thiểu số nhằm nâng cao nhận thức và ý thức chấp hànhpháp luật về hôn nhân và gia đình của người dân, góp phầngiảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ởvùng dân tộc thiểu số
Trang 19Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Giảm thiểutình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùngdân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2025” (Quyết định số
498/QĐ-TTg); theo đó “Giảm bình quân 2% - 3%/năm số cặp
tảo hôn và 3% - 5%/năm số cặp kết hôn cận huyết thống đối với các địa bàn, dân tộc thiểu số có tỷ lệ tảo hôn, kết hôn cận huyết thống cao Đến năm 2025, phấn đấu ngăn chặn, hạn chế tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số” [37].
Để hoàn thành mục tiêu trên đòi hỏi đội ngũ cán bộ côngtác dân tộc các cấp, cán bộ văn hóa - xã hội xã, thị trấnphải nỗlực làm tốt công tác vận động, tư vấn, truyền thông
- Nội dung giáo dục phòng chống tảo hôn cho cộng đồng các dân tộc thiểu số
Như chúng ta biết “giáo dục là quá trình tổ chức các
loại hình hoạt động phong phú, đa dạng nhằm hình thành và phát triển các phẩm chất và năng lực của con người, đáp ứng được các yêu cầu của xã hội, thời đại” [31, tr.47] Vì vậy, để
thực hiện được mục tiêu phòng chống tảo hôn cho cộng đồngcác dân tộc thiểu số cần phải đưa ra các nội dung tương ứng,
Trang 20phù hợp với tình hình thực tế của từng địa phương, từng cộngđồng
Một nhà xã hội học người Mỹ từng khẳng định “Luật
pháp chỉ là lá chắn cuối cùng Luật không có hiệu quả khi con người không có tâm thế sẵn sàng tuân thủ nó” [36, tr.48].
Tâm thế đó chính là ý thức phải trái tốt xấu, nói cách khác làlương tâm, ý thức đạo đức làm người Vì vậy, để giáo dụcphòng chống tảo hôn đạt hiệu quả, trước hết cần giáo dục đạođức cho cộng đồng các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện
“Đạo đức là những quy tắc, những chuẩn mực trong quan hệ
xã hội, được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được
cả xã hội thừa nhận” [31, tr.47] Giáo dục đạo đức là tác động
của nhà giáo dục lên đối tượng giáo dục, giúp họ tôn trọng lẽphải, công bằng, văn minh, sống có lương tâm, trách nhiệmvới gia đình và xã hội Trước xu thế đất nước hội nhập, vấn
đề giáo dục đạo đức có vai trò vô cùng quan trọng, đặc biệtđối với thế hệ trẻ, việc giáo dục đạo đức sẽ giúp các thanh,thiếu niên có lập trường, quan điểm sống, phẩm chất đạo đứcphù hợp với chuẩn mực xã hội, có khả năng định hướng vàlựa chọn con đường đi đúng đắn Nội dung giáo dục đạo đứcbao gồm: giáo dục lý luận chính trị; giáo dục lòng yêu nước,
Trang 21tự hào dân tộc; giáo dục ý thức tập thể; giáo dục lòng nhiệttình, hăng say lao động; giáo dục hành vi văn minh trong cáclĩnh vực của đời sống xã hội; giáo dục ý thức công dân
Cần giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho cộng đồngcác dân tộc thiểu số, đặc biệt là Luật hôn nhân và gia đình.Giáo dục cho người dân ý thức và hành vi pháp luật, giúp họbiết được quyền lợi và nghĩa vụ của mình để sống và hànhđộng theo hiến pháp, pháp luật Qua đó có ý thức đấu tranh,chống lại các hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời vận động,tuyên truyền giúp đỡ gia đình, người thân và xã hội thực hiệnđúng pháp luật Nội dung giáo dục ý thức pháp luật cho cộngđồng các dân tộc thiểu số chủ yếu là tuyên truyền, vận động,khuyến khích phát huy các phong, tập quán tốt đẹp về hôn
nhân và gia đình như: “chế độ hôn nhân một vợ, một chồng;
nam, nữ tự do tìm hiểu, tự do lựa chọn người bạn đời; sau khi kết hôn, tuỳ theo sự sắp xếp, thoả thuận giữa hai bên gia đình, vợ, chồng có thể cư trú ở nhà vợ hoặc ở nhà chồng” [23,
tr.512] Vận động nhân dân xóa bỏ các phong tục, tập quán
lạc hậu về hôn nhân và gia đình: “kết hôn trước tuổi quy định
của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (tảo hôn); việc đăng ký kết hôn không do UBND cấp xã thực hiện; cưỡng ép
Trang 22kết hôn do xem “lá số” và do mê tín dị đoan; cản trở hôn nhân do khác dân tộc, tôn giáo; cấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi từ bốn đời trở lên; nếu nhà trai không có tiền cưới và đồ sính lễ thì sau khi kết hôn, người con
rể buộc phải ở rể để trả công cho bố, mẹ vợ; quan hệ gia đình theo chế độ phụ hệ hoặc mẫu hệ, không bảo đảm quyền bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa con trai và con gái” [23, tr.514];
“khi ly hôn, nếu do người vợ yêu cầu ly hôn thì nhà gái phải
trả lại nhà trai toàn bộ đồ sính lễ và những phí tổn khác; nếu
do người chồng yêu cầu ly hôn thì nhà gái vẫn phải trả lại nhà trai một nửa đồ sính lễ Sau khi ly hôn, nếu người phụ nữ kết hôn với người khác thì không được hưởng và mang đi bất
cứ tài sản gì Sau khi cha, mẹ ly hôn, con phải theo cha; khi người chồng chết, người vợ góa không có quyền hưởng phần
di sản của người chồng quá cố để lại Nếu người vợ góa tái hôn với người khác thì không được hưởng và mang đi bất cứ tài sản gì; khi người cha chết, chỉ các con trai có quyền còn các con gái không có quyền hưởng phần di sản của người cha quá cố để lại” [23, tr.515]; “người con bị bắt buộc phải mang
họ của người mẹ; khi người vợ chết, người chồng góa không
có quyền hưởng phần di sản của người vợ quá cố để lại và
Trang 23không được mang tài sản riêng của mình về nhà; khi người
mẹ chết, chỉ các con gái có quyền còn các con trai không có quyền hưởng phần di sản của người mẹ quá cố để lại; sau khi
ở rể, người con rể bị “từ hôn” hoặc sau khi ăn hỏi, nhận đồ sính lễ, người con trai bị “từ hôn” thì không được bù trả lại; không kết hôn giữa người thuộc dân tộc này với người thuộc dân tộc khác và giữa những người khác tôn giáo” [23, tr.515].
Nghiêm cấm và xử lý các phong tục, tập quán lạc hậu, trái với
quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình: “chế độ hôn nhân
đa thê; kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực
hệ (là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau), giữa những người khác
có họ trong phạm vi ba đời (là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha
mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba); tục cướp vợ để cưỡng ép người phụ nữ làm vợ; thách cưới cao mang tính chất gả bán (như đòi bạc trắng, tiền mặt, của hồi môn, trâu, bò, chiêng ché… để dẫn cưới); phong tục
“nối dây”; Khi người chồng chết, người vợ góa bị ép buộc kết hôn với anh trai hoặc em trai của người chồng quá cố; khi
Trang 24người vợ chết, người chồng góa bị ép buộc kết hôn với chị gái hoặc em gái của người vợ quá cố;bắt buộc người phụ nữ góa chồng hoặc người đàn ông góa vợ, nếu kết hôn với người khác thì phải trả lại tiền cưới cho nhà chồng cũ hoặc nhà vợ cũ” [23, tr.515] bên cạnh các nội dung trên cần chỉ cho
người dân thấy được tảo hôn không chỉ vi phạm Luật hônnhân và gia đình mà còn mang lại những hậu quả nghiêmtrọng cho bản thân, gia đình và xã hội như: ảnh hưởng xấuđến sức khỏe bà mẹ, trẻ em; nguyên nhân dẫn đến đói nghèo,lạc hậu; mất cơ hội tìm kiếm việc làm; suy giảm nguồn lựclao động
Giáo dục hướng nghiệp cho thanh, thiếu niên, vị thànhniên Hiện nay, hầu hết các trường hợp tảo hôn đều xảy ra đốivới các thanh niên, vị thành niên không có công việc làm ổnđịnh Chính vì vậy, chính quyền địa phương cần phối hợp chặtchẽ với nhà trường trong việc tuyên truyền, giới thiệu cho các
em các con đường lựa chọn ngành, nghề phù hợp với bản thân
để tiếp tục phấn đấu sau khi tốt nghiệp phổ thông Cần chỉ rõlợi ích của việc học nghề là đem lại cơ hội tìm kiếm việc làm
và thu nhập ổn định để các em có nhận thức đúng đắn và chọnlựa tiếp tục học nghề thay vì nghỉ học để lập gia đình sớm