1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

thơ Trần Đăng Khoa - tập Góc sân và khoảng trời

20 19,9K 96
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Góc sân và khoảng trời
Tác giả Trần Đăng Khoa
Người hướng dẫn Xuân Diệu
Trường học Trường Viết Văn Nguyễn Du
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Tập thơ
Năm xuất bản 1968
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 132,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ẩn tiểu sử tác giả Trần Ðăng Khoa nổi tiếng là thần đồng thơ từ năm lên tám tuổi với những bài thơ giản dị, ngộ nghĩnh viết về những điều quanh mình.. Nhận định Trần Ðăng Khoa, tác giả

Trang 1

Ẩn tiểu sử tác giả

Trần Ðăng Khoa nổi tiếng là thần đồng thơ từ năm lên tám tuổi với những bài thơ giản dị, ngộ nghĩnh viết về những điều quanh mình Gần đây, anh lại gặt hái được thành công trong lĩnh vực phê bình khi viết chân dung văn học bằng một giọng văn hài hước nhưng thâm thúy Tiểu sử

Trần Ðăng Khoa, sinh ngày 26-4-1958 tại thôn Ðiền Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Thanh, Hải Dương Hiện ở Hà Nội Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1977)

Trần Ðăng Khoa tốt nghiệp Trường Viết văn Nguyễn Du, tốt nghiệp Học viện Văn học Thế giới mang tên M.Gorki (CHLB Nga), từng là lính Hải quân, học viên trường Sĩ quan Lục quân Hiện

là biên tập viên tạp chí Văn nghệ quân đội

Nổi tiếng là "thần đồng" thơ từ khi mới 7, 8 tuổi Tập thơ Từ góc sân nhà em in ở Nhà xuất bản Kim Ðồng lúc vừa tròn 10 tuổi Ngoài thơ còn viết phê bình văn học

Tác phẩm chính

Từ góc sân nhà em (thơ, 1968); Góc sân và khoảng trời (thơ, 1968, 1973, 1976 tái bản lần thứ 20 năm 1995); Thơ Trần Ðăng Khoa (tập 1, 1970); Khúc hát người anh hùng (trường ca, 1974); Trường ca Trừng phạt (thơ, 1973); Trường ca Giông bão (thơ, 1983); Bên cửa sổ máy bay (thơ, 1986); Thơ Trần Ðăng Khoa (tập 2, 1983); Chân dung và đối thoại (1998); và nhiều tập khác được dịch in ở nước ngoài

Tự bạch

"Trần Ðăng Khoa là con thứ ba trong một gia đình nông dân ở bên bờ sông Kinh Thầy Thuở nhỏ, y từng ước mơ trở thành kỹ sư nông nghiệp và suốt đời làm thơ về làng quê, cảnh quê, những vui buồn của người dân quê ở nơi xóm mạc Nhưng rồi, cũng như nhiều thợ cày trong làng, y lên đường nhập ngũ vào những tháng cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ và trở thành nhà thơ khoác áo lính

Ðối với Trần Ðăng Khoa, thơ hay là thơ giản dị, xúc động và ám ảnh Suốt đời, y luôn có ý thức vươn tới loại thơ đó Tuy nhiên, theo lời y, để làm được điều ấy một phần còn do ông giời Nhưng phần ấy là bao nhiêu? Ông giời ở đâu? Tính khí ông ta thế nào, thì suốt đời y

Trang 2

không thể hiểu nổi?

Bài thơ đầu tiên của y được in báo Văn nghệ vào tháng 5-1966 Khi đó, y tám tuổi, đang học ở học kỳ II lớp một trường làng Bấy giờ, người làm thơ còn ít Trẻ con làm thơ lại càng ít, nên

tự dưng, y thành của hiếm, thành đặc sản Nhiều người tò mò vượt hàng trăm cây số bom đạn, lặn lội đến nhà y, chỉ để xem y như xem ma quỷ hiện hình Không ít người còn bắt y xòe tay, ngó đường chỉ, vạch tóc xem xoáy đầu rồi lặng lẽ ra đi với gương mặt rất bí hiểm

Bây giờ y đã già và dứt khoát không phải kẻ đắc đạo Vậy mà y vẫn phải còng lưng, ỳ ạch vác cây thánh giá của cái tuổi trẻ con

Những năm gần đây, ngoài làm thơ, y còn viết báo, viết bình luận văn chương và chân dung văn học Ðề tài y quan tâm là các nhà văn và những vấn đề của văn học Việt Nam đương đại Ngoài những trang viết, mà ở đấy phần nhiều y dồn hết tâm lực, còn ngoài đời, y là tay nhạt nhẽo và tầm phào Y chẳng đam mê gì, và nói chung, y là gã vô tích sự"

Nhận định

Trần Ðăng Khoa, tác giả của nhiều bài thơ hay mà bản thân tôi đã hai lần viết bài giới thiệu và bình luận, là nhà thơ 10 tuổi năm 1968, mà tôi đã sung sướng hướng dẫn đoàn truyền hình Pháp về quay phim "Thế giới nhỏ của em Khoa" tại xã Quốc Tuấn - Hải Hưng; tôi còn là người đầu tiên dịch thơ Trần Ðăng Khoa ra tiếng Pháp, đưa cho nữ đồng chí Madeleine Riffaud Chị Riffaud về đăng lên báo Nhân đạo (Humanité) của Ðảng Cộng sản Pháp; sau đó tôi lại dịch cả một tập thơ Khoa ra Pháp văn, từ đó giới thiệu thơ Trần Ðăng Khoa, dịch ra nhiều tiếng trên thế giới Tôi lại giới thiệu và giúp đỡ nhà thơ Cuba Félix Pi la Rodriguez dịch ra tiếng Tây Ban Nha, và tôi đã bình hai bài thơ Mưa và Em kể chuyện này ở rất nhiều nơi trên miền bắc, ở Sài Gòn và các thành thị phía nam (1975-1976)

(Xuân Diệu - Công việc làm thơ, 1984)

Ðọc thơ Trần Ðăng Khoa, chúng ta thấy rất rõ điều này: Thơ Trần Ðăng Khoa chủ yếu viết bằng tình cảm, bằng lòng yêu thương Yêu thương từ cây cỏ đến loài vật, từ người thân trong nhà đến bà con trong làng Từ Bác Hồ kính yêu đến các thầy cô giáo các bạn bè cùng lớp , các anh bộ đội, các cô bác công nhân đào than

Một trong những yếu tố giúp cho Trần Ðăng Khoa có được những cái riêng, từ những quan sát nhỏ đến những tình cảm, những ý nghĩ lớn, đó là sức liên tưởng phong phú và mạnh mẽ của em

(Phạm Hổ - Ðọc thơ Trần Ðăng Khoa, 1995)

Có lẽ còn lâu mới lại có được một thần đồng tám tuổi lại thành một nhà thơ để lại được sự nghiệp trong nền thơ Việt Nam như Trần Ðăng Khoa

Thơ Khoa gắn với cái vườn, ngôi nhà, cánh đồng và làng xóm quanh Khoa Nay mai làng hóa phố, hoặc thành những trang trại lớn, thơ Trần Ðăng Khoa còn giá trị biết mấy

Trang 3

Sau này Trần Ðăng Khoa chuyển sang viết chân dung Tập Chân dung và đối thoại của Khoa cũng là một tác phẩm góp vào văn nghiệp của thần đồng xưa Nhưng thơ Thần đồng thì mọi người vẫn rất dễ nhất trí, yêu thích, và tự hào, mến phục

Thật sung sướng cho một nhà thơ được mãi mãi hồn nhiên và đẹp với một hồn thơ thời tám, chín tuổi

(Ngô Văn Phú)

Góc sân và khoảng trời là tập thơ của Trần Đăng Khoa được xuất bản lần đầu tiên năm

1968 khi tác giả mới 10 tuổi

Một số bài thơ nổi tiếng trong tập thơ này là:

 Con bướm vàng

 Trăng sáng sân nhà em

 Ò Ó O

 Khi mẹ vắng nhà

 Trăng ơi Từ đâu đến?

 Kể cho bé nghe

 Hạt gạo làng ta

 Lời của than

 Thơ vui

Trong bản in lần thứ 23, đoạn "Đôi lời của tác giả" đề ngày là tháng 11 năm 1996, Trần Đăng Khoa đã viết:

" Làng tôi là một trạm nghỉ chân trên đường đi B của các trung đoàn đồng bằng Bắc

bộ, trong suốt thời chống Mỹ sau khi huấn luyện ở núi rừng Yên Tử Hàng ngàn chú bộ đội đã lần lượt rải chiếu ngủ trên nền đất nhà tôi, đã mắc võng nằm trong vườn cây nhà tôi Các chú nghe thơ tôi, chép thơ tôi vào sổ tay và mang nó ra mặt trận Sự tiếp xúc có phần ngẫu nhiên đó đã dậy tôi một cách nghiêm túc phải viết như thế nào Đấy là điều lý giải vì sao thơ tôi đã có mặt từ những năm chiến tranh "

" Trong tập thơ, có bài tôi viết trong lúc sát hạch, nghĩa là các cô chú đến chơi, vây

quanh rồi ra đề cho tôi làm, như bài Bên sông Kinh Thầy, Sao không về Vàng ơi? Có bài tôi viết nhanh, theo những thông tin và yêu cầu của báo Văn nghệ, như bài Lời một

bạn gái 12 tuổi Có bài tôi viết để thay một bức thư trả lời, như bài Thơ vui."

"Con bướm vàng là bài thơ đầu tiên tôi viết vào tháng 2, 1966, khi tôi 8 tuổi, đang học ở

học kỳ II lớp 1 trường làng Suốt 10 năm học phổ thông, tôi đã được đăng báo in sách khoảng trên 200 bài thơ và 4 trường ca."

Trang 4

Ảnh Bác (Trần Đăng Khoa, Việt Nam)

Nhà em treo ảnh Bác Hồ Bên trên là một lá cờ đỏ tươi Ngày ngày Bác mỉm miệng cười Bác nhìn chúng cháu vui chơi trong nhà

Ngoài sân có mấy con gà Ngoài vườn có mấy quả na chín rồi

Em nghe như Bác dạy lời Cháu ơi đừng có chơi bời đâu xa Trồng rau, quét bếp, đuổi gà Thấy tàu bay Mỹ nhớ ra hầm ngồi

* Bác lo bao việc trên đời Ngày ngày Bác vẫn mỉm cười với em

Ò ó o (Trần Đăng Khoa, Việt Nam)

Tiếng gà

Tiếng gà

Giục quả na

Mở mắt

Tròn xoe

Giục hàng tre

Đâm măng

Nhọn hoắt

Giục buồng chuối

Thơm lừng

Trứng cuốc

Giục hạt đậu

Nảy mầm

Giục bông lúa

Uốn câu

Giục con trâu

Ra đồng Giục đàn sao Trên trời Chạy trốn

Gọi ông trời Nhô lên Rửa mặt

Ơi bốn bề Bát ngát Tiếng gà

ò ó o

ò ó

o

Chọc ếch

Em đi chọc ếch chiều nay Giỏ không thoắt đã đựng đầy tiếng kêu

Râm ran suốt cả trời chiều Tiện mồm, em cũng hát theo một bài

1966

Trang 5

Cái sân

Em thường rải cái nong

Ra góc sân ngồi học

Những đêm có trăng mọc

Em chơi cho đến khuya

Thường là xỉa cá mè

Hay làm mèo đuổi chuột

Những lúc mưa sậm hột

Em bắt cái vòi cau Chảy vào giữa chum sâu Khi trời râm em vẽ

Vẽ cô tiên lặng lẽ Rải hoa trên bầu trời Thế là bao đồng lúa

Cứ chín vàng, vàng tươi

2-1966

Đám ma bác giun (Trần Đăng Khoa, Việt Nam)

Bác giun đào đất suốt ngày Trưa nay chết dưới bóng cây sau nhà

Họ hàng nhà kiến kéo ra Kiến con đi trước, kiến già theo sau Cầm hương kiến Đất bạc đầu Khóc than kiến Cánh khoác màu áo tang

Kiến Lửa đốt đuốc đỏ làng Kiến Kim chống gậy, kiến Càng nặng vai

Đám ma đưa đến là dài Qua những vườn chuối, vườn khoai, vườn cà

Kiến Đen uống rượu la đà Bao nhiêu kiến Gió bay ra chia phần

1967

Đánh thức trầu (Trần Đăng Khoa, Việt Nam)

Trẩu trẩu trầu trầu Mày làm chúa tao Tao làm chúa mày Tao không hái ngày Thì tao hái đêm (Câu hát của bà em)

Đi ngủ rồi hả trầu?

Tao đã đi ngủ đâu

Mà trầu mày đã ngủ

Bà tao vừa đến đó

Muốn có mấy lá trầu

Tao không phải ai đâu

Đánh thức mày để hái

Trầu ơi, hãy tỉnh lại

Mở mắt xanh ra nào

Lá nào muốn cho tao Thì mày chìa ra nhé Tay tao hái rất nhẹ Không làm mày đau đâu

Đã dậy chưa hả trầu ? Tao hái vài lá nhé Cho bà và cho mẹ Đừng lụi đi trầu ơi!

1966

Trang 6

Buổi sáng nhà em

Ông trời nổi lửa đằng đông

Bà sân vấn chiếc khăn hồng đẹp thay

Bố em xách điếu đi cày

Mẹ em tát nước, nắng đầy trong khau

Cậu mèo đã dậy từ lâu Cái tay rửa mặt, cái đầu nghiêng nghiêng

Mụ gà cục tác như điên Làm thằng gà trống huyên thuyên một hồi

Cái na đã tỉnh giấc rồi

Cu chuối đứng vỗ tay cười vui sao!

Chị tre chải tóc bờ ao Nàng mây áo trắng ghé vào soi gương Bác nồi đồng hát bùng boong

Bà chổi loẹt quẹt lom khom trong nhà

1967

Cánh đồng làng Điền Trì

Cánh đồng làng Điền Trì

Sớm nay sao mà rộng

Sương tan trên mũi súng

Trên sừng trâu cong veo

Nơi này mấy bác cày

Đầu nghiêng nghiêng chiếc nón

Tiếng trâu và tiếng người

Vang ruộng dài lõm bõm

Nơi kia là mấy chị

Thì thòm tát gầu dai

Nước reo theo lòng máng Bọt tung trắng hoa nhài Nơi ấy mấy cô cấy

Ngửa tay phía mặt trời

Mạ bén hàng đứng thẳng Hồn nhiên trong tiếng cười Còn em, em kéo xe

Chở phân ra lót ruộng

Ái chà, con cà cuống

Bỏ ngay vào ống bơ!

Cây đa

Làng em có cây đa

Bên mương nước giữa đồng

Lá xanh dòng nước bạc

Biển lúa vàng mênh mông

Cây đa gọi gió đến

Cây đa vẫy chim về

Đa mỗi ngày một lớn

Và nuôi thêm nhiều ve

Dưới bóng đa, con trâu Thong thả nhai hương lúa Đủng đỉnh đàn bò về Lông hồng như đốm lửa Trưa nắng lóe trên đầu Các bác làm nghỉ mát Vòm đa rì rào xanh

Ve kêu, muôn lá quạt

Trang 7

Cây bàng

Cây bàng lá nõn xanh ngời Ngày ngày chim đến tìm mồi chíp chiu Đường xa gánh nặng sớm chiều

Kê cái đòn gánh bao nhiêu người ngồi

Đêm qua em ngủ đi rồi Thấy bàng bỗng lớn, tốt tươi lạ thường

Thấy cả Bác Hồ về làng Cũng ngồi ở gốc cây bàng của em 1966

Cây dừa

Cây dừa xanh toả nhiều tàu Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng Thân dừa bạc phếch tháng năm Quả dừa – đàn lợn con nằm trên cao

Đêm hè hoa nở cùng sao Tàu dừa – chiếc lược chải vào mây xanh

Ai mang nước ngọt, nước lành

Ai đeo bao hũ rượu quanh cổ dừa Tiếng dừa làm dịu nắng trưa Gọi đàn gió đến cùng dừa múa reo Trời trong đầy tiếng rì rào Đàn cò đánh nhịp bay vào bay ra

Đứng canh trời đất bao la

Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi

1967

Con chim hay hót

Con chim nó đỗ cành tre Bay ra cành chè nó hót hay hay Hót rằng cây phi lao này Mấy anh bộ đội trồng ngày ra đi Phi lao mới nói rầm rì Rằng anh bộ đội mai kia lại về Con chim nó đỗ cành tre Bay ra cành chè nó hót hay hay

2-1966

Trang 8

Dặn em

(Tặng Giang, 4 tuổi)

Mẹ cha bận việc ngày đêm Anh còn đi học, mình em ở nhà Dặn em đừng có chơi xa Máy bay Mỹ bắn không ra kịp hầm Đừng ra ao cá trước sân Đuổi con bươm bướm, trượt chân, ngã nhào

Đừng đi bêu nắng, nhức đầu Đừng vầy nghịch đất, mắt đau, lấm người

Ốm đau là mất đi chơi Làm cho bố mẹ mất vui trong lòng

Mẹ cha bận việc ngày đêm Anh ngồi trong lớp, lo em ở nhà

1966

Nửa đêm tỉnh giấc

(Kính tặng chú Huy Cận)

Nửa đêm em tỉnh giấc Bước ra hè em nghe Nghe tiếng sương đọng mật Đọng mật trên cành tre

Nghe ri rỉ tiếng sâu

Nó đang thở cuối tường Nghe rì rầm rặng duối

Há miệng đòi uống sương

Nghe hàng chuối vườn em Gió giở mình trăn trở

Chuột chạy giàn bí đỏ Loáng vỡ ánh trăng vàng

Cây cau nó bức quá Phành phạch quạt liên hồi Một tiếng gì không rõ Xôn xao cả đất trời 1967

Trang 9

Con trâu đen lông mượt

Con trâu đen lông mượt

Cái sừng nó vênh vênh

Nó cao lớn lênh khênh

Chân đi như đập đất

Trâu ơi ăn cỏ mật

Hay là ăn cỏ gà

Đừng ăn lúa đồng ta

(Lúa của mẹ của cha

Phải cấy cày vất vả)

Trâu ơi, uống nước nhà

Đây rồi nước mương trong

Có ánh mặt trời hồng

Có ánh mặt trăng tỏ

Bờ mương xanh mướt cỏ Của trâu đấy, tha hồ Trâu cứ chén cho no Ngày mai cày thật khoẻ Đừng lo đồng nứt nẻ

Ta có máy bơm rồi Khó nhọc mấy mùa thôi Sau thì trâu được nghỉ Máy cày rồi có nhé Trâu chỉ còn vui chơi Hiểu ý ta, trâu cười Nhe cả hàm răng sún

1966

Em lớn lên rồi

Năm nay em lớn lên rồi Không còn nhỏ xíu như hồi lên năm Nhìn trời, trời bớt xa xăm Nhìn sao, sao cách ngang tầm cánh tay

Núi xa lúp xúp chân mây

Bờ sông khép lại, hàng cây thấp dần

Nơi xa bỗng hóa nên gần Quanh em bè bạn quây quần bốn phương 1968

Con bướm vàng

Con bướm vàng

Con bướm vàng

Bay nhẹ nhàng

Trên bờ cỏ

Em thích quá

Em đuổi theo

Con bướm vàng

Nó vỗ cánh Vút lên cao

Em nhìn theo Con bướm vàng Con bướm vàng

2-1966

Trang 10

Chớm thu

Sân trăng nghe đã dần phai Lưa thưa vài hạt mưa ngoài hàng cây

Nghe trời trở gió heo may Sáng ra vại nước rụng đầy hoa cau

1967 Tên chuẩn của bài thơ này là Chớm thu, chứ không phải là Hoa cau Hoa cau trong bài chỉ là một chi tiết nhỏ để tả thời tiết chuyển mùa ở làng quê Bài thơ không phải viết về hoa cau Nhưng khi in báo, không biết bác biên tập nào lại đổi thành Hoa cau Bời thế, cô Trần Thị Nhâm, người đầu tiên biên tập thơ tôi ở nhà xuất bản Kim Đồng, khi tập hợp bản thảo thơ tôi, có hỏi tôi về bài Hoa cau Tôi bảo: "Cháu chằng có bài nào là bài Hoa cau cả" Nhà thơ Xuân Diệu tưởng tôi quên thơ mình, nhưng đâu phải Nó chính là bài Chớm thu Tôi có lấy tên là bài Hoa cau đâu Sau này, khi in lại, tôi giữ nguyên văn ban đầu của nó

Bài thơ này, nhà thơ Xuân Diệu rất thích Ông có lần biểu dương tôi, như ông chê câu đầu: "Nửa đêm nghe ếch học bài" Câu ấy, Xuân Diệu bảo là cọc cạch, vì

đã dần phai" Có hai lần nghe, nhưng đều nghe cái không tiếng Bài thơ bắt đầu

từ nửa đêm về sáng, khi ánh trăng đang lạt dần ở trên sân Cũng cái ý này, ngày xưa, cụ Nguyễn Du viết: "Bóng tàu vừa lạt vẻ ngân"

Nhiều bạn đọc bảo tôi, tại sao anh không để cho con ếch nó kêu nữa? Bài thơ hình như đã bị thiếu đi tiếng ếch Tôi nghĩ, đó chỉ là thói quen của bạn đọc thôi Thực ra ếch chỉ kêu khi sắp mưa hoặc sau mưa Mùa mưa là mùa sinh sản của ếch Tiếng kêu là tín hiệu để chúng gọi nhau Còn khi vào thu "Lưa thưa vài hạt mưa ngoài hàng cây" là mưa chuyển mùa, không khí đã nhuốm lạnh, thì ếch bắt đầu chui vào hang để tìm chỗ ngủ qua mùa đông Có chọc, chúng cũng chẳng kêu nữa Con ếch thật ngoài đời có thể không kêu Nhưng con ếch thơ thì vẫn có thể kêu chứ

TRẦN ĐĂNG KHOA

Góc sân và khoảng trời

Góc sân nho nhỏ mới xây Chiều chiều em đứng nơi này em trông Thấy trời xanh biếc mênh mông Cánh cò chớp trắng trên sông Kinh Thầy

1966

Em dâng cô một vòng hoa

Trang 11

Trưa nay em đến thăm cô Nắng chiêm chín rực đôi bờ phi lao Sắc hoa râm bụt quanh ao Tiếng chim vườn mẹ cùng vào thăm cô

Tiếng gì dưới cỏ non tơ Xôn xao trong đất nắng trưa bồn chồn Vươn cao nòng pháo đầu thôn

Mồ cô nắng đắp vàng hơn mọi miền

Cô ơi! Sông nước gọi tên Nắng mưa phục kích, trăng lên đánh đồn Thương cô sóng cuộn quanh cồn Nhát dao giặc giết em còn thấy đau!

Em nghe mẹ kể đêm sâu Hoe hoe đôi mắt, mái đầu phơ phơ

Thương cô bông lúa thêm mùa Quả na bớt hạt, buồng dừa trĩu cây Đồng em thêm tiếng máy cày

Mũ rơm đến lớp ngày ngày em chăm Trăng suông sáng cả đêm rằm Nhịp cầu vá vội, ầm ầm xe qua

Em dâng cô một vòng hoa Thoảng nghe tiếng súng trời xa vọng về

Chú thích: Sắc hoa râm bụt quanh ao

Nơi giặc Pháp giết cô Bưởi, bây giờ hoa râm bụt nở đỏ tươi

Chú thích: vườn mẹ

Vườn nhà cô Bưởi, nơi giặc tra tấn cô trước khi giết

Chú thích: Thương cô sóng cuộn quanh cồn

Cồn ở sông Kinh Thầy, nơi cô Bưởi đi lại hoạt động

Gà con liếp nhiếp

Ngoài sân lội, mấy chú gà liếp nhiếp

Đi tìm mồi cùng mẹ bắt giun sâu Trời mưa lâm thâm làm các chú ướt đầu Chú rùng mình, giọt mưa rơi khỏi cánh Trời mưa to hơn, rồi sau đâm ra tạnh Chú chẳng giũ lông bởi mải bắt giun sâu Nhưng nắng to chú vẫn khô đầu

Ngày đăng: 02/09/2013, 10:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w