1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số kĩ thuật (tưới nước, cắt tỉa và che sáng) đến sinh trưởng phát triển của cây đinh lăng tại gia lâm hà nội

94 97 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 4,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNTHỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM --- NGUYỄN HỮU TIỀN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ KĨ THUẬT TƯỚI NƯỚC, CẮT TỈA VÀ CHE SÁNG ĐẾN SINH TRƯỞNG PHÁ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM -

NGUYỄN HỮU TIỀN

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ KĨ THUẬT (TƯỚI NƯỚC, CẮT TỈA VÀ CHE SÁNG) ĐẾN SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN CỦA CÂY ĐINH LĂNG TẠI GIA LÂM - HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC CÂY TRỒNG

MÃ SỐ : 60.62.01.10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :

TS NINH THỊ PHÍP

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này

là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện hoàn thành luận văn đều đã được tác giảcảm ơn Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Hữu Tiền

Trang 3

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo Bộ môn Cây công nghiệp – Câythuốc, phòng thực hành thí nghiệm Bộ môn Cây công nghiệp - khoa Nông học -Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn thànhluận văn.

Sự giúp đỡ nhiệt tình của đồng nghiệp, bạn bè và gia đình trong thời gianthực hiện luận văn là nguồn động viên tinh thần rất lớn giúp tôi hoàn thành luậnvăn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Hữu Tiền

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục iv

Danh mục các chữ viết tắt vii

Danh mục bảng viii

Danh mục hình x

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3

1.1 Giới thiệu chung về cây đinh lăng 3

1.1.1 Nguồn gốc, phân loại 3

1.1.2 Giá trị kinh tế và giá trị sử dụng 4

1.1.3 Đặc điểm thực vật học và yêu cầu ngoại cảnh đối với sinh trưởng phát triển 5

1.1.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ đinh lăng tại Việt Nam 5

1.2 Cơ sở khoa học và thực tiễn nghiên cứu của đề tài 6

1.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 6

1.2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 8

1.3 Các kết quả nghiên cứu về biện pháp kĩ thuật tác động đến sinh trưởng phát triển của cây trồng 11

1.3.1 Kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về ảnh hưởng của nước tưới tới cây trồng 11

1.3.2 Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về phương pháp cắt tỉa đối với cây trồng 12

1.3.3 Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về phương pháp che sáng cho cây trồng 14

1.3.4 Một số kết quả nghiên cứu về cây đinh lăng 17

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 22

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22

Trang 5

2.2.1 Địa điểm 22

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 22

2.3 Nội dung nghiên cứu 22

2.4 Phương pháp nghiên cứu 22

2.4.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới nước đến sinh trưởng và phát triển của cây đinh lăng (tuổi 1 và tuổi 2) 22

2.4.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến sinh trưởng và phát triển của cây đinh lăng tuổi 3 23

2.4.3 Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến sinh trưởng và phát triển của cây đinh lăng tuổi 1 và tuổi 2 24

2.5 Các chỉ tiêu theo dõi 24

2.6 Thu thập và xử lý số liệu 25

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26

3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của đinh lăng (tuổi 1 và năm thứ 2) 26

3.1.1 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến độ biến động độ ẩm đất của các công thức thí nghiệm 26

3.1.2 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến động thái tăng trưởng chiều cao và đường kính thân cây đinh lăng 27

3.1.3 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến động thái tăng số lá và nhánh trên cây đinh lăng 30

3.1.4 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến chỉ số SPAD của cây đinh lăng 32

3.1.5 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến diện tích lá của cây đinh lăng 33

3.1.6: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến sinh trưởng bộ rễ cây đinh lăng 34

3.1.7 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến khả năng tích lũy chất khô và khối lượng rễ của cây đinh lăng 36

Trang 6

3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến đến sinh trưởng, phát

triểnvà năng suất của đinh lăng tuổi 3

38

3.2.1 Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến đến động thái tăng trưởng

chiều cao và đường kính thân cây của đinh lăng tuổi 3 383.2.2 Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến động thái số nhánh và lá của

cây đinh lăng tuổi 3 393.2.3 Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến chỉ số SPAD của lá đinh lăng

tuổi 3 403.2.4 Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến diện tích lá của cây đinh lăng

tuổi 3 413.2.5 Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến tốc độ tăng trưởng bộ rễ của

cây đinh lăng tuổi 3 413.2.6: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến khả năng tích lũy chất khô và

khối lượng rễ của cây Đinh lăng tuổi 3 423.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến sinh trưởng của cây

đinh lăng

44

3.3.1 Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến động thái tăng trưởng

chiều cao và đường kính thân cây đinh lăng tuổi 1 và tuổi 2 443.3.2 Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến động thái tăng trưởng số

nhánh và số lá của cây đinh lăng tuổi 1 và tuổi 2 453.3.4 Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến diện tích lá cây đinh lăng tuổi

1 vàtuổi 2 483.3.5 Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến sinh trưởng của bộ rễ cây

đinh lăng tuổi 1 và tuổi 2 493.3.6 Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến khả năng tích lũy chất khô

của cây đinh lăng tuổi 1 và tuổi 2 50KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52

Trang 7

Kiến nghị 52

Trang 8

GAP-WHO Good Agricultural Practices - World Health Organization (Thực hành

sản xuất nông nghiệp tốt theo tổ chức y tê Thế giới)IBA Indolebutyric acid

thuốc của trung tâm Sâm và Dược liệu thành phố Hồ Chí Minh

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

STT Tên Bảng Trang3.1: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến biến động độ ẩm đất

của các công thức thí nghiệm 273.2: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến động thái tăng trưởng

chiều cao và đường kính thân cây Đinh lăng 293.3: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến động thái tăng số nhánh

và số lá trên cây đinh lăng 313.4: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến chỉ số SPAD cây đinh

lăng 323.5: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến diện tích lá của cây

đinh lăng 343.6: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến sinh trưởng bộ rễ cây

đinh lăng 353.7: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến khả năng tích lũy chất

khô và khối lượng rễ của cây đinh lăng 363.8: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến động thái tăng trưởng chiều cao và

đường kính thân cây của cây đinh lăng tuổi 3 383.9: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến động thái tăng trưởng số nhánh cây

đinh lăng tuổi 3 393.10: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến chỉ số SPAD của lá cây đinh lăng tuổi 3 40

3.11: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến diện tích lá của cây đinh lăng tuổi 3 413.12: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến tốc độ tăng trưởng bộ rễ của cây đinh

lăng tuổi 3 423.13: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến khả năng tích lũy chất khô và khối

lượng rễ của cây đinh lăng tuổi 3 423.14: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến động thái tăng trưởng chiều cao

và đường kính thân cây đinh lăng 44

Trang 10

3.15: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến động thái tăng trưởng số nhánh và

số lá của cây đinh lăng 463.16: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến chỉ số SPAD của lá cây đinh lăng

tuổi 1 và tuổi 2 473.17: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến diện tích lá cây đinh lăng tuổi 1

và tuổi 2 483.18: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến sinh trưởng của bộ rễ cây đinh

lăng tuổi 1 và tuổi 2 493.19: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến khả năng tích lũy chất khô của

cây đinh lăng tuổi 1 và tuổi 2 51

Trang 11

DANH MỤC ĐỒ THỊ

STT Tên Bảng Trang3.1: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến động thái tăng trưởng

chiều cao cây đinh lăng 1 năm tuổi 283.2: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến tích lũy chất khô, khối

lượng rễ tươi và khô của đinh lăng 1 tuổi 37

3.3: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến khả năng tích lũy chất khô và khối

lượng rễ của cây đinh lăng tuổi 3 433.4: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến khả năng tích lũy chất khô và khối

lượng rễ tươi, khô của cây đinh lăng tuổi 1 50

Trang 12

MỞ ĐẦU

Việt Nam vốn được đánh giá là nước có nguồn dược liệu tự nhiên phong phú

và đa dạng về chủng loại lẫn công dụng làm thuốc Thống kê có hơn 3000 loại câythuốc trong đó có nhiều cây đặc hữu Đây thực sự là một lợi thế của ngành dượcViệt Nam

Trong những năm vừa qua, việc nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tínhsinh học của những cây cỏ ở nước ta ngày càng được quan tâm nhiều Nhiều loạicây cỏ xung quanh chúng ta được biết đến phổ biến hơn với công dụng trong chữatrị bệnh như: Đinh lăng, nấm Linh Chi, sâm Ngọc Linh,…

Đinh lăng (Polyscias fruticosa), thuộc họ nhân sâm Araliaceae, hầu hết các

loài này được dùng làm thuốc Theo y học cổ truyền, rễ đinh lăng có vị ngọt, hơiđắng, tính mát có tác dụng thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết, lá có vị đắng, tínhmát có tác dụng giải độc thức ăn, chống dị ứng, chữa ho ra máu, kiết lỵ Nói chung,ngoài tác dụng lương huyết và giải độc thức ăn, những tính chất khác của đinh lănggần giống như nhân sâm Tuy nhiên cây đinh lăng ít độc hơn cả nhân sâm và khácvới Nhân sâm, nó không làm tăng huyết áp

Với nhiều tác dụng được biết đến trong y học mà cây đinh lăng ngày nayđược trồng phổ biến và rộng rãi Đặc biệt một số Tỉnh đã tập trung phát triển câyđinh lăng thành các vùng chuyên canh sản xuất lớn như: Nam Định, Bình Phước,Đồng Nai, Thanh Hóa… Tuy nhiên tình trạng trồng và khai thác đinh lăng ở nước

ta hiện nay còn tự phát, quy mô chưa lớn dẫn đến sản lượng không ổn định, chấtlượng không đảm bảo và giá cả biến động Đặc biệt đinh lăng chưa được sản xuấttheo quy trình (trồng lẫn vùng trồng lúa và hoa màu, kỹ thuật trồng và chăm sóc chủyếu theo kinh nghiệm, việc sử dụng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nguồnnước tưới… tùy tiện thu hái không tuân thủ theo kĩ thuật mùa, vụ và tuổi của cây)làm ảnh hưởng tới chất lượng dược liệu, qua đó ảnh hưởng đến chất lượng thuốcsản xuất từ dược liệu Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu khoa học về cây đinh lăng,tuy nhiên những nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào thành phần và hoạt chất của

rễ đinh lăng còn hạn chế nghiên cứu về quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc và ápdụng khoa học kĩ thuật mới cho cây Vì vậy, thiết yếu cần có những nghiên cứu

Trang 13

nhằm đưa ra quy trình trồng, chăm sóc để nâng cao khả năng sinh trưởng phát triển,hạn chế sâu bệnh và cho thu hoạch năng suất cao đối với cây đinh lăng phục vụ nhucầu cho sản xuất.

Xuất phát từ yêu cầu sản xuất thực tế trên, dưới sự hướng dẫn của TS.Ninh

Thị Phíp tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số kĩ thuật (tưới nước, cắt tỉa và che sáng) đến sinh trưởng phát triển của cây đinh lăng tại Gia Lâm - Hà Nội”.

Mục đích và yêu cầu

Mục đích

Xác định kĩ thuật cắt tỉa, mức che sáng và khoảng cách giữa các lần tưới phùhợp cho cây đinh lăng sinh trưởng, phát triển tốt góp phần hoàn thiện quy trìnhtrồng, chăm sóc cây đinh lăng

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học nghiên cứu quy trình trồng

và kĩ thuật thâm canh nâng cao năng suất thu hoạch tươi cũng như khô của cây đinhlăng

Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung thêm tài liệu cho công tác nghiên cứukhoa học, tài liệu giảng dạy, tài liệu tham khảo cho các cán bộ kỹ thuật nông nghiệp

Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xây dựng và hoàn thiện quy trìnhtrồng, chăm sóc cây đinh lăng phục vụ người dân sản xuất theo hướng hàng hóa,làm tăng năng suất và chất lượng đinh lăng, đáp ứng nhu cầu nguồn dược liệu

Đề tài góp phần làm đa dạng sinh học và phát triển nguồn gen cây thuốctrong điều kiện hiện nay

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 Giới thiệu chung về cây đinh lăng

1.1.1 Nguồn gốc, phân loại

Cây đinh lăng tên khoa học là Polyscias fruticosa (L.) Harms hay còn gọi là cây gỏi cá thuộc bộ hoa tán (Apiales), họ ngũ gia bì (Araliaceae), chi (Polyscias).

Chi này chứa khoảng 114 - 150 loài (tùy theo quan điểm phân loại), chủ yếu phân

bố tại khu vực Madagascar Chúng có các lá dạng lông chim Chi này là mộtnhóm cận ngành và có thể sẽ được chia tách (hoặc hợp nhất) với một số chi khác.Tại Việt Nam có khoảng 4 loài

Phân loại theo đặc điểm thực vật học (hình dạng lá) thì đinh lăng chia làmnhiều dạng khác nhau và một số loài đang sử dụng nhiều nhất là:

- Đinh lăng lá tròn: Polyscias balfouriana Baill.

- Đinh lăng trổ (đinh lăng viền bạc): Polyscias guilfoylei (Cogn Marche) Baill.

- Đinh lăng lá to (đinh lăng răng): Polyscias filicfolia (Merr) Baill.

- Đinh lăng đĩa: Polyscias scutillarius (Burm f) Merr

- Đinh lăng răng (lá 2 lần kép, thân màu trắng): Polyscias serrata Ballf

Theo dân gian, đinh lăng được chia làm hai loại chính là: Đinh lăng nếp vàđinh lăng tẻ

- Đinh lăng nếp: Là loại lá nhỏ, xoăn, thân nhẵn, củ to, rễ nhiều và mềm, vỏ

bì dày cho năng suất cao và chất lượng tốt Khả năng chống chịu với điều kiện bấtthuận tốt Vì vậy người sản xuất nên chọn loại này để trồng và hiện nay đinh lăngnếp đang được trồng phổ biến, chiếm đa phần diện tích trồng của người dân

- Đinh lăng tẻ: Là loại lá to, vỏ thân xù xì, màu xanh nhạt, củ nhỏ, rễ ít vàcứng, vỏ bì mỏng năng suất thấp Loại này không nên trồng

Cây đinh lăng có nguồn gốc từ các đảo Thái Bình Dương (Polynêdi) đượctrồng khắp nơi từ đồng bằng đến miền núi Cây được trồng phổ biến làm cảnh ởkhắp cả nuớc, có mọc cả ở Lào và miền nam Trung Quốc Từ năm 1961, do biết tácdụng bổ dưỡng của rễ đinh lăng nên người dân trồng nhiều ở các bệnh viện, trạm xá

và vườn gia đình

Trang 15

Tại Việt Nam đinh lăng được trồng ở nhiều nơi và được trồng nhiều nhất ởhuyện Hải Hậu – Nam Định, Thái Bình, Bình Phước, Đồng Nai,… để thu lá, thânnhưng giá trị dược liệu chính của cây nằm ở rễ, củ Đinh lăng là cây có giá trị kinh

tế và dược liệu cao (Như Xuân, 2013)

1.1.2 Giá trị kinh tế và giá trị sử dụng

Giá trị kinh tế

Cây đinh lăng là cây dược liệu quý, được sử dụng làm thuốc chữa nhiều bệnhcho con người Đây là một loại cây thảo, rất dễ trồng và dễ sống, ít bị sâu bệnh gâyhại nên đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng Sau trồng 3 năm cây đinhlăng có thể thu hoạch được Với giá thu mua toàn bộ rễ, gốc, thân lá tại thịtrường huyện hiện nay từ 20.000 - 25.000 đồng/kg, nếu trồng 1 sào, 3 năm saucho thu nhập 30-

45 triệu đồng/sào; chi phí giống 1,5 – 2,0 triệu và phân bón từ 400- 600 nghìnđồng/sào; người nông dân trung bình lãi ròng 19 - 21 triệu đồng/sào/1 năm

Qua các đề tài nghiên cứu khoa học thì tác dụng dược tính của cây đinh lăng

đã được chứng minh, nên nhu cầu sử dụng cây đinh lăng làm thuốc ngày càng tăng.Hiện nay đinh lăng mua theo gốc (kg), giá của mỗi gốc (kg) đinh lăng tùy vào nămtuổi Nếu lâu năm gốc to, thịt cây chặt sẽ nặng cân và giá tiền sẽ cao lên Đinh lăngtrồng càng lâu năm thì giá trị dược liệu và kinh tế càng cao

Giá trị sử dụng

Trong củ đinh lăng có chứa hợp chất Saponin, alkaloid có tác dụng như Nhânsâm, nhiều Vitamin, ngoài ra rễ cây còn chứa khoảng 13 loại axit amin không thểthay thế, rất cần thiết cho cơ thể con người, nhờ hoạt chất trong củ đinh lăng giúpcho tăng trí nhớ cho não bộ, một số đơn vị dược trong nước đã ứng dụng hoạt chấttrong cây đinh lăng để làm thuốc bổ não (Đỗ Tất Lợi, 1986) (Nguyễn Trần Châu và

cs, 2007) Ngoài ra củ cây đinh lăng còn dùng để chữa trị ho ra máu, chữa tắc tiasữa, làm mát huyết, lợi tiểu, giảm mẫn ngứa Củ đinh lăng sao vàng, khử thổ, sắccho phụ nữ uống sau khi sinh để chống đau dạ con, làm tăng tiết sữa cho con bú

Một nghiên cứu gần đây trên cây này bởi Võ Duy Hồ Nam và các đồngnghiệp, đã chiết xuất hợp chất saponin trong oleanolic axit từ lá, và polyacetylenes

Trang 16

cũng đã được nghiên cứu và phân lập để tìm ra 8 hợp chất saponin mới oleanolicacid, tên polysciosides A đến H và 3 saponin đã được biết đến.

Thành phần hoá học: Trong rễ cây đinh lăng có chứa glucosid, alcaloid,saponin triterpen, tanin, 13 loại acid amin, B1 Trong thân và lá cũng có nhữngthành phần hóa học như trên nhưng lượng ít hơn

Rễ đinh lăng có vị ngọt, tính bình, lá vị nhạt, hơi đắng, có tác dụng bổ nămtạng, giải độc, bổ huyết, tăng sữa, tiêu thực, tiêu sưng viêm Đinh lăng là thuốc tănglực Nó giúp tăng sức chịu đựng của cơ thể đối với các yếu tố bất lợi như kiệt sức,gia tốc, nóng Đối với người, đinh lăng làm cho nhịp tim sớm trở lại bình thườngsau khi chạy dai sức và làm cho cơ thể chịu được nóng Người bệnh bị suy mònuống đinh lăng chóng phục hồi cơ thể, ăn ngon, ngủ tốt, tăng cân Nó cũng làm tửcung co bóp mạnh hơn Đinh lăng ít độc hơn nhân sâm và không làm tăng huyết áp

1.1.3 Đặc điểm thực vật học và yêu cầu ngoại cảnh đối với sinh trưởng phát triển

Đinh lăng có nhiều loại nhưng dùng để làm thuốc thường là đinh lăng lá nhỏ,cây thân gỗ nhỏ cao 0,8 – 1,5 m, thân không lông, không gai Lá kép 3 lần xẻ lôngchim, dài 20 – 40 cm Lá chét có cuống nhỏ mảnh khảnh dài 3 – 15 mm, dạng màngkhía răng không đều, phần nhiều khía hay chia thùy, có mũi nhọn dài 3 – 10 cm,rông 0,6 - 4cm Hoa nhỏ màu trắng mọc thành cờ, tán ngắn dài 7 – 18 cm Quả dẹtmàu trắng bạc, dài và rộng khoảng 3 – 4 mm, dày 1 mm, cây ra hoa tháng 4 - 7

Đinh lăng là cây lâu năm, có thể sống đến vài chục năm, chịu hạn khá tốt Câyphát triển kém hoặc chết khi ngập úng Phân bố rộng khắp trên khắp cả nước, ở tất cảcác vùng sinh thái, có thể phát triển trên nhiều loại đất nhưng tốt nhất là đất pha cát.Cây phát triển mạnh khi nhiệt độ dưới 280C (từ giữa thu đến cuối xuân)

Cây có khả năng tái sinh dinh dưỡng cao nên người dân trồng chủ yếu bằngcách giâm cành bánh tẻ hoặc cành già vào tháng 2 - 4 hoặc tháng 8 - 10 Trong nămmùa Thu và mùa Xuân thuận lợi cho cây sinh trưởng phát triển nhanh nhất

1.1.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ đinh lăng tại Việt Nam

Cây đinh lăng là cây dược liệu quý, được sử dụng làm thuốc chữa nhiều bệnhcho con người, rất dễ trồng và dễ sống, ít bị sâu bệnh đem lại hiệu quả kinh tế caocho người trồng Nguyễn Huy Văn (2012) cho biết, hàng năm Tổng công ty DượcTraphaco cần 400 tấn rễ đinh lăng để làm thuốc, nhưng hiện nay nguồn cung cấp

Trang 17

này không ổn định do chưa chủ động trong sản xuất đinh lăng.

Ngày 23/5/2014, tại xã Nghĩa Lạc, Nghĩa Hưng, Nam Định, Traphaco đã phốihợp cùng với Công ty trách nhiệm hữu hạn Hiệp Hưng Xanh và Dự án Biotrade khởicông Trung tâm giống đinh lăng theo tiêu chuẩn GAP-WHO Mỗi năm trung tâm sẽcung cấp khoảng từ 0,6 - 1 triệu cây giống đinh lăng, cung cấp đủ cho 40ha diện tíchvùng trồng, đảm bảo 50% sản lượng tiêu thụ của Traphaco Ở thời điểm hiện tại,Traphaco đã có hơn 10 ha diện tích đinh lăng trồng theo tiêu chuẩn GAP- WHO tạiNam Định, cung cấp sản lượng 90.000 kg/vụ cho cho công ty Công ty sẽ tiếp tụckhảo sát và mở rộng vùng trồng tại một số tỉnh như Phú Thọ, Thái Nguyên, Hà Nội,Hưng Yên, Thái Bình, Ninh Bình, Đăk Nông, Đăk Lăk,

Theo số liệu của chi cục thống kê huyện Hải Hậu (2014) có 457 ha cây dượcliệu hàng năm, trong đó chủ yếu là cây đinh lăng Gia đình nào cũng có ít nhất từ 50

- 150m2 trồng đinh lăng Những hộ trồng diện tích lớn quy mô từ 1.000 3.000m2 quy hoạch trồng đinh lăng theo mô hình vườn ao chuồng Mỗi năm, HảiHậu xuất bán ra thị trường từ 1.500 - 2.000 tấn sản phẩm đinh lăng tươi cung cấpcho các tiểu thương và công ty dược phẩm Traphaco

-Vùng Đồng Nai có nhược điểm là đất chua nhưng được khắc phục bằng côngthức phân bón thích hợp như: Rắc vôi bột, tro trấu và phân bò ủ hoai mục … nênđinh lăng ở đây cho thu hoạch năng suất cao Hiện nay đã có rất nhiều vùng trồngcây đinh lăng lá nhỏ có diện tích 5 ha xuất hiện góp phần đa dạng hóa nguồn gencây thuốc ở miền Đông Nam Bộ và phát triển dược liệu đinh lăng, cung cấp cho cáccông ty dược phẩm phía Nam sản xuất thuốc, không phải mua dược liệu từ miềnBắc, giúp giảm chi phí vận chuyển và hạ giá thành sản phẩm (Nguyễn Thị NgọcTrâm và cs, 2015)

1.2 Cơ sở khoa học và thực tiễn nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Nước là một trong những nhân tố quan trọng nhất đối với tất cả các cơ thểsống Nước chiếm 90% khối lượng chất nguyên sinh và nó quyết định tính ổn địnhcủa cấu trúc keo nguyên sinh chất Với thực vật, khi hàm lượng nước trong tế bàogiảm, một loạt chức năng sinh lý quan trọng như quang hợp, hô hấp sẽ bị kìm hãm

Trang 18

do đó ảnh hưởng tới sinh trưởng và phát triển của cây Nước không chỉ đóng vai trònhư một dung môi, một phản ứng mà nước còn tham gia vào cấu trúc của tế bào.Ngoài những vai trò quan trọng trên nước còn là một yếu tố nối liền cây với môitrường bên ngoài và điều hòa nhiệt độ cho cây Độ ẩm đất liên quan khá mật thiếttới tuổi cây và độ ẩm đất cũng như lượng mưa Khi lượng nước trong đất đảm bảo

sẽ giúp hòa tan tốt các chất muối khoáng và thuận lợi cho quá trình hút dinh dưỡng

và trao đổi chất của cây Tuy nhiên ở mỗi giai đoạn sinh trưởng phát triển cây cầnlượng nước khác nhau Vì vậy, khoảng cách giữa các lần tưới, liều lượng tưới vàphương pháp tưới có ảnh hưởng trực tiếp tới các quá trình trao đổi chất, sinh trưởngphát triển của cây trồng Tóm lại cần phải cung cấp đầy đủ nước tưới cho cây trồng

Ánh sáng được coi là yếu tố sinh thái vừa có tác dụng giới hạn, vừa có tácdụng điều chỉnh đối với đời sống sinh vật, đặc biệt là thực vật Ánh sáng trắng trựctiếp tham gia vào quá trình quang hợp, là nguồn dinh dưỡng của cây cỏ và ảnhhưởng trực tiếp đến sự sống của thực vật Ánh sáng có ảnh hưởng căn bản đến sựphân phối lượng tăng trưởng mới giữa các bộ phận của cây trồng Khi được cungcấp đầy đủ ánh sáng cây trồng phát triển một toàn diện và khi cường độ ánh sángkhông thích hợp sẽ gây ức chế sinh trưởng của cây trồng Tuy nhiên mỗi giai đoạn

và mỗi loại cây trồng cần mức độ cũng như cường độ ánh sáng là khác nhau Vìvậy, trong môi trường có cường độ ánh sáng thích hợp thì cây trồng sinh trưởngphát triển là tốt nhất

Các kết quả nghiên cứu cho thấy, ở trong cây nơi nào lượng đạm được tíchlũy ít mà lượng đường nhiều thì việc cắt tỉa sẽ giúp gia tăng sự phân hoá hoa bởi tácdụng làm cân đối giữa đạm và đường, tạo điều kiện thuận lợi tích lũy đạm ở điểmsinh trưởng Việc loại bỏ một vài điểm sinh trưởng không có lợi sẽ giúp tăng quátrình cung cấp nước, đạm và chất dinh dưỡng cho các điểm sinh trưởng còn lại pháttriển tốt hơn Cắt tỉa loại bỏ những bộ phận sinh dưỡng đã già và bị sâu bệnh sẽgiúp cây trẻ hóa các bộ phận sinh dưỡng và tập trung dinh dưỡng cho những bộphận này phát triển Như vậy cắt tỉa đảm bảo cho cây thoáng đãng, mọi phía của câyđều nhận được ánh sáng một cách đầy đủ, khống chế được chiều cao cây ở mứcthấp để hạn chế ảnh hưởng của gió bão và thuận tiện cho thu hoạch, chăm sócphòng trừ sâu bệnh

Trang 19

1.2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Nước giúp cho cây trồng thực hiện các quá trình vận chuyển các khoáng chấttrong đất giúp điều kiện quang hợp, hình thành sinh khối tạo nên sự sinh trưởng củacây trồng Tổng lượng nước mà cây trồng hút lên hằng ngày chủ yếu là để thoát rangoài ở dạng thoát hơi qua lá, nước chỉ giữ lại cho bản thân cấu trúc của cây trồngchỉ chừng 0,5 – 1,0% mà thôi Rễ cây là bộ phận hút nước cho cây trồng Bộ rễ hìnhthành ở nhiều dạng khác nhau, tuỳ theo loại cây trồng, điều kiện đất đai, khí hậu vàchiều sâu mực nước ngầm Thông thường, rễ cây hút nhiều nước nhất (chiếmkhoảng 40 - 50%) ở độ sâu ¼ chiều dài của rễ tính từ mặt đất, càng xuống sâu thì tỉ

lệ hút hước càng giảm

Thực tế, cây trồng trong điều kiện được cung cấp nước đầy đủ sẽ có bộ rễ dài

và sâu, vươn ra theo các chiều trong đất Ngược lại, nếu thiếu nước, bộ rễ của cây sẽngắn và thưa

Trong điều kiện đất và nước đầy đủ, rễ từng loại cây trồng sẽ phát triển triểntối đa để tăng trưởng Chiều sâu tối đa của hệ thống rễ cây trồng cũng chính là chiềusâu lớp đất cần tưới (Lê Anh Tuấn, 2010)

Đối với các cây trồng lấy rễ củ thì yêu cầu về nước tưới cần quan tâm hàngđầu Đa số các loài cây trồng lấy rễ hay thân củ là cây ưa ẩm nhưng không chịu úng.Cần cung cấp đủ nước trong suốt quá trình sống cho cây Trong giai đoạn cây con

ẩm độ đất luộn đạt 80 – 90 % Vì vậy, thời vụ trồng luôn tiến hành vào mùa xuân ởcác tỉnh phía Bắc và mùa mưa ở các tỉnh phía Nam để cung cấp đủ ẩm cho cây Nếuthời tiết hanh khô thì phải tiến hành tưới nước 3 – 4 lần/tuần để cho cây thích nghivới điều kiện sống, sau đó có thể giảm dần chế độ tưới Trong giai đoạn phát triểnyêu cầu độ ẩm luôn đạt 70 – 75 % giúp cho củ phát triển đầy đủ cân đối Giai đoạnthu hoạch thì yêu cầu nước không cao, yêu cầu ẩm độ từ 60 – 65 % thuận lợi chothu hoạch

Ánh sáng là nhân tố sinh thái tối quan trọng đối với thực vật Bởi vì sánhsáng là nguồn năng lượng cần thiết cho quá trình tổng hợp chất hữu cơ Tuy nhiên,mỗi lài cây khác nhau có nhu cầu ánh sáng khác nhau Trong điều kiện ở vườn ươm,cây con cũng phải chịu những ảnh hưởng bất lợi của cường độ ánh sáng mạnh Vì

Trang 20

thế, nghiên cứu chế độ che bóng cho cây con trong giai đoạn gieo ươm là một việclàm cần thiết Việc che bóng có tác dụng không chỉ hạn chế tác động xấu của cường

độ ánh sáng mạnh, mà còn điều hòa nhiệt độ và làm giảm quá trình mất nước ở câycon (Hoàng Công Đãng, 2000)

Hiệu quả dễ thấy nhất là sau khi cắt tỉa cây sẽ tạo ra các chồi mới sinh trưởngmạnh và có nhiều khả năng để các cành mới này cho hoa trái, giúp giữ được sảnlượng ổn định hằng năm Tạo cho cây trồng một khung tán cân đối, ánh sáng đượcphân bố đều và vườn cây thông thoáng, độ ẩm không khí điều hòa hạn chế phát sinh

và sinh trưởng của sâu bệnh hại Ở những cây già, khả năng ra hoa trái giảm dogiảm sinh trưởng của chồi thì việc cắt tỉa sẽ cho hiệu quả cải thiện Việc đốn tái sinh

(cắt tỉa nặng) cũng nhằm mục đích này (Hoàng Đức Phương, 2000).

Đối với cây ăn quả thì cắt tỉa bao nhiêu, mức độ như thế nào tùy thuộc vàocách cho trái của cây, sự kết hợp giữa chồi (hay mắt) tháp và gốc tháp, sức sinhtrưởng của cây Tất cả các yếu tố này thay đổi tùy loài cây trồng Do vậy, cây ăn tráicần được xếp thành nhóm tùy theo chúng có kiểu cho trái ở nhánh bên hay ngọnnhánh hoặc cả hai mà có cách cắt tỉa sao cho phù hợp nhất

* Yêu cầu nước, ánh sáng, cắt tỉa của một số cây trồng lấy rễ

Ánh sáng cung cấp năng lượng cho quá trình quang hợp của cây và hầu hếtcây trồng đều là cây ưa sáng Tuy nhiên một số cây lại chịu bóng trong suốt quátrình sống của mình như: Cây sa nhân, sâm… Mỗi giai đoạn cây trồng lại thíchứng với mức độ sáng khác nhau Đặc biệt nhiều cây khi giai đoạn cây con có khảnăng chịu bóng rất tốt nhưng khi lớn lại ưa sáng như: Cây ba kích, cây ngưu tất, …

Vì vậy trong quá trình ươm trồng cây con loại cây này cần phải tiến hành trongvườn ươm có mái che, độ che phủ khoảng 80% Khi mới trồng, cây con vẫn cần chebóng bằng cành lá các loại cây khác Cần đảm bảo thường xuyên tưới nước giữ ẩm,làm sạch cỏ dại và phải che nắng cho cây con không để ánh nắng trực tiếp chiếu vào(Bùi Thị Hương Phú và cs, 2013)

Tùy vào nhu cầu ánh sáng khác nhau của mỗi cây trồng mà thời gian đưa câycon ra ngoài sáng khác nhau như: Cây ba kích từ tháng thứ 6 trở đi nên đưa trồngngoài ruộng có ánh sáng chiếu toàn phần hoặc cây sa nhân cần trồng dưới tán rừng,

Trang 21

vườn có ánh sáng tán xạ Đặc biệt cây sa nhân con có thể trồng ở nhiều điều kiện môitrường khác nhau như: Dưới tán rừng tự nhiên dưới tán vườn cây ăn quả hoặc vườntạp, trên đất nương rãy đã bỏ hoang đất trống (chừa lại một số cây gỗ có tán lá thoángvới tổng độ tán che từ 10 - 20% (tối đa 30%) (Bùi Thị Hương Phú và cs, 2013).

Nước là một nhân tố không thể thiếu trong quá trình sinh trưởng và pháttriển Có nước đầy đủ mới đảm bảo được quá trình quang hợp, hô hấp và trao đổichất Nhưng với cây lấy củ thì nước còn quan trọng hơn vì làm cho đất luôn ẩm, hệthống lông hút được bảo vệ và bộ rễ mới phát triển tốt Vì vậy mà lượng mưa cũngảnh hưởng nhiều tới năng suất cây trồng như cây sa nhân thường mọc trên các sườnnúi, ở độ cao khoảng 300 - 350 m so với mặt biển trở lên Sa nhân thường sinhtrưởng phát triển tốt và cho thu hoạch cao ở những vùng có lượng mưa hàng nămkhoảng 2500 mm, độ ẩm bình quân hàng năm trên 80%

Bên cạnh một số cây dễ tính như ba kích còn có một số cây yêu cầu rất khắtkhe về độ ẩm, nước tưới như cây sa nhân, cây ngưu tất … Cây sa nhân giai đoạnsau gieo từ 1 – 1,5 tháng cần duy trì độ ẩm đồng ruộng từ 80 – 85% Giai đoạn pháttriển thân cành (sau gieo 1,5 – 3 tháng) nếu thời tiết không mưa cần cung ứng nướccho cây, 7 – 10 ngày/lần tháo ngấm Giai đoạn xuống củ hạn chế tối đa tưới nướccho cây, < 50% ẩm độ đất mới cần bổ sung nước Giai đoạn cây đang hình thành củnếu gặp thời tiết mưa ẩm nhiều cần chủ động tiêu nước, không để nước ngập trongrãnh, nếu đất quá ẩm củ sẽ nhỏ, nhiều rễ nhỏ và rễ phụ, củ bị thối Hầu hết các câylấy củ khi gặp ngập úng 5 – 7 ngày đều chết do bộ rễ bị thối

Mỗi cây trồng có yêu cầu về khoảng cách trồng và mật độ khác nhau Vì vậykhi đốn, tỉa sẽ giúp đảm bảo mật độ cây, tạo độ thông thoáng vườn cây và giúp câytập trung dinh dưỡng nuôi bộ phận sinh dưỡng Do đó trong quá trình trồng cần phảitiến hành tỉa cành đúng thời điểm để đem lại hiệu quả năng suất thu hoạch cao nhấtnhư: Cây sa nhân trồng trong vườn cây ăn quả với mật độ trồng từ 6000 - 9000cây/ha (khoảng cách trồng 1 x 1 m/1cây) Cây ngưu tất sau trồng khoảng 3 tháng,cây phát triển thân lá quá tốt hoặc xuất hiện ngồng hoa cần tiến hành phát ngọn chocây, duy trì độ cao cây 50 – 60 cm Có thể phát ngọn 1 – 2 lần tùy thuộc vào sinhtrưởng, phát triển của cây sẽ giúp tăng năng suất củ (Phạm Thu Thủy, 2014)

Trang 22

1.3 Các kết quả nghiên cứu về biện pháp kĩ thuật tác động đến sinh trưởng phát triển của cây trồng

1.3.1 Kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về ảnh hưởng của nước tưới tới cây trồng

Với cây Đương Quy và Nghệ Đỏ thuộc dạng cây dược liệu đều lấy củ, đặc điểmthân cây thấp nên phù hợp với cả hai hình thước là nhỏ giọt và phun mưa áp lực thấp

Kỹ thuật tưới công nghệ cao kết hợp với bón phân và phun thuốc trừ sâu sẽ tiết kiệmđáng kể nhân công, lượng tổn thất phân bón và thuốc trừ sâu, nâng cao giá trị thặng

dư phù hợp với đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn

Lượng nước tưới bổ sung cho cây mạch môn trồng xen trong vườn bưởi lâunăm ở vụ đông xuân là 40m3/ha tạo điều kiện tốt nhất cho cây sinh tưởng phát triển

và năng suất thu hoạch đạt cao nhất Sau trồng 34 tháng năng suất thực thu từ củ đạt82,95 tạ/ha (Nguyễn Đình Vinh, 2012)

Theo Nguyễn Bá Hoạt và cs (2005), Trong cuốn “ kỹ thuật trồng, sử dụng vàchế biến cây thuốc” thì yêu cầu về lượng mưa hàng năm của một số cây lấy rễ củnhư sau: Cây ba gạc Cu Ba (>1700mm), cây Ba kích (1500 – 2500 mm), cây Bạchtruật và Đương Quy Nhật Bản (1600 – 2000 mm), cây nghệ vàng ( 2000 – 2500mm), …

Do khoai tây được trồng bằng củ nên không hình thành rễ chính mà chỉ cócác rễ phụ thưa thớt Phần lớn rễ tập trung ở tầng đất mặt nên khả năng hút nướccủa cây không lớn Khi gặp điều kiện khô hạn cây khoai tây rất dễ bị thiếu nước vàphát triển kém Giai đoạn hình thành củ đòi hỏi ẩm độ đất khoảng 60%, giai đoạnhình thành củ là 80% Nếu thiếu nước ở giai đoạn hình thành củ thì năng suất giảm

rõ rệt, cụ thể: Ẩm độ đất là 60% thì năng suất giảm 4,3%; ẩm độ đất còn 40% năngsuất giảm 33,9% và không tưới năng suất giảm 63% (Đường Hồng Dật, 2005)

Theo Nguyễn Đình Vinh và cs (2010), kết quả điều tra kỹ thuật trồng vàchăm sóc cây mạch môn tại 2 tỉnh Phú Thọ, Yên Bái cho thấy: 90-95% nông dânđược điều tra đã đánh giá cây mạch môn có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ đấtchống hạn, giữ ẩm cho đất và không cạnh tranh dĩnh dưỡng ánh sáng với cây trồngchính Đây là loại cây sinh trưởng tốt trong điều kiện có che bóng Khả năng chịu

Trang 23

hạn, chịu nóng chịu rét rất tốt, cây có khả năng sinh trưởng bình thường trong điềukiện mùa khô, lạnh ở mền bắc Khả năng chịu úng khá, kết quả quan sát tại cácđiểm điều tra và phỏng vấn người dân cho thấy cây mạch môn có thể chịu ngập únghoàn toàn trong thời gian 15- 20 ngày, không làm chết thân ngầm.

1.3.2 Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về phương pháp cắt tỉa đối với cây trồng

Cây có tán dày nếu không cắt tỉa khi cây ra nhiều trái thì trái sẽ có kích thướcnhỏ và màu sắc kém do mất cân bằng chất đạm và chất đường bột Cây được cắt tỉathường xuyên giúp tăng tỉ lệ đậu trái Đối với cây phát triển vượt mức (sung mãn)thì việc cắt tỉa bớt cành lá sẽ tạo điều kiện cho cây dễ ra hoa tạo trái hơn Việc tỉa bỏhoa trái tuy có làm giảm năng suất tổng thể nhưng tăng năng suất cá thể, trái có giátrị thương phẩm cao Ngoài ra việc cắt tỉa còn là một biện pháp làm giảm nguồn lâylan sâu bệnh trên cây

Đối với các loài có các chồi cựa nhỏ mọc tận cùng trên nhánh và các chồinày phát triển trong thời gian dài trên cây để cho trái, nên cắt tỉa trên các nhánh đãphát triển trong mùa trước Các nhánh dài cần được cắt ngọn hoặc cắt bỏ hoàn toàn

vì khi mang nhiều trái cành sẽ bị uốn cong xuống, trái bị lắc nhiều trong gió gâybầm dập các trái khác trên cây

Một thí nghiệm tạo hình và cắt tỉa trên giống ổi JP1 thực hiện tại Mã Lai(Norlia Yunus, 1990) trong thời gian 5 năm cho thấy, năng suất và số trái của câytrong điều kiện cắt tỉa nhẹ cao hơn cây được cắt tỉa trung bình và nặng Tuy nhiên,không có sự khác biệt về trọng lượng trung bình của trái và tỷ lệ chất hòa tan tổng

số giữa các cây được áp dụng các mức độ cắt tỉa Việc cắt tỉa nặng đã giúp cây chonhiều chồi mới nhất Trái mọc ra từ các chồi mới tại vị trí xa nhất tính từ chỗ cắtcành

Cắt tỉa trong giai đoạn cây đang phát triển cành lá: Được thực hiện trên cáccây còn nhỏ nhằm chọn lọc các cành giâm thích hợp và khi thực hiện trên cây chotrái thì nhằm loại bỏ các cành vượt, làm giảm sức sinh trưởng của cây, cải thiện việcđậu trái, màu sắc trái

Trang 24

Cắt tỉa sau mùa thu hoạch: Đối với một số loại cây ăn trái, cần tiến hành cắttỉa cho cây sau khi thu hoạch trái, như nhãn, vải, xoài, nho, thanh long các chồi,

Trang 25

cành mang trái phía ngoài tán, cành bị bẻ gãy, cành yếu vươn ra xa tán, cành bị sâubệnh, cần được cắt để thu nhỏ tán cây và giúp cây đâm chồi mới đồng loạt, tomập, khoẻ để chuẩn bị cho mùa trái năm sau.

Các loại cành cần cắt tỉa là những cành nhỏ mọc thẳng bên trong tán, cáccành nhỏ không nhận được ánh sáng, cành mọc khít nhau hay mọc chồng khít lênnhau Việc cắt bỏ các cành bị sâu bệnh, cành bị khô héo hay hư hỏng cần tiến hànhthường xuyên để tăng khoảng cách thích hợp cho các cành giàn

Thời điểm cắt cành trong năm và cách cắt cành: Tốt nhất là cắt cành trongđiều kiện thời tiết khô ráo để vết thương mau lành Nông dân ở Đồng Bằng SôngCửu Long có tập quán “rửa cây” sau khi thu hoạch Tuy nhiên trong thời gian này ởĐồng Bằng Sông Cửu Long là thời gian còn mưa, nên khi cắt cành cần bôi lên vếtcắt các loại thuốc sát khuẩn (thuốc có gốc đồng như Copper zinc, Copper-B) đểtránh nhiễm bệnh

Phạm Thị Hương (2008) khi đốn tỉa trên 2 giống xoài Hôi và xoài Tròn 10

-12 tuổi tại Yên Châu – Sơn La theo dõi trong 2 năm 2006 – 2007 cho kết quả: Đốntỉa sau thu hoạch kết hợp bón phân làm giảm độ cao tán, tăng số đợt lộc thu (từ 1đợt lên 2 đợt) và chất lượng lộc, làm tăng số lượng hoa trên chùm một cách đáng kể(tăng 109 hoa ở xoài Tròn và 221 hoa ở xoài Hôi) tạo tiền đề cho cải thiện tỉ lệ đậuquả và điều kiện để thâm canh vườn cây dễ dàng hơn

Kết quả đốn tỉa, trẻ hóa kết hợp quy trình bón phân cân đối sau một năm trêncây mận tại Mộc Châu Sơn La thể hiện rõ rệt như: Sinh trưởng phát triển khỏe, phátlộc và đậu quả tập trung, quả to và chất lượng ngon hơn Trung bình mỗi cây chothu hoạch từ 1,5 – 1,7 tạ (Trần Thanh Toàn, 2012)

Khi nghiên cứu ảnh hưởng của các biện pháp kĩ thuật cắt lá, đào lật rễ đếnsinh trưởng và năng suất củ của cây Mạch môn, Nguyễn Đình Vinh (2013) kết luận:Các kĩ thuật cắt lá và đào lật rễ có ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của thân lá cây ởgiai đoạn đầu sau xử lý Tuy nhiên công thức đào lật rễ vào vụ đông có ảnh hưởngtốt đến sự phát sinh tầng rễ và số rễ của cây mạch môn Cắt lá hai lần vào vụ đông

và vụ hè có ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng và năng suất củ mạch môn Sau 34tháng trồng và xử lý, công thức đào lật rễ cho năng suất củ thực thu đạt cao nhất

Trang 26

289,0 tạ/ha, cao hơn rõ rệt so với đối chứng không cắt lá, không đào lật rễ.

Kết quả khảo sát của Nguyễn An Đệ (2013) cho thấy măng cụt là cây ra hoa

ở đầu cành, các đọt cành có từ 2-3 cặp lá có tỷ lệ ra hoa cao hơn hơn so với cáccành non hình thành muộn trong năm Ngoài ra các đọt cành thứ cấp già cỗi 4-5 cặp

lá trở lên hình thành từ những năm trước khả năng ra hoa rất kém Cắt tỉa cành tượt+ cành khô dập gãy + đọt cành cấp 1giao tán đảm bảo không làm giảm số trái và cóảnh hưởng tốt đến chất lượng trái nên có thể áp dụng trong sản xuất

Như vậy cắt đứt rễ cây mạch môn vào vụ đông có tác dụng kích thích chocây hình thành rễ, củ giúp tăng năng suất rễ và củ đạt cao nhất (289,0 tạ/ha) Tuynhiên cắt lá một lần không gây ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất củ so với công thứckhông cắt lá Cắt lá hai lần trong vụ đông và vụ hè có ảnh hưởng xấu đến sinhtrưởng và năng suất củ chỉ đạt 142,3 tạ/ha (Nguyễn Đình Vinh, 2013)

Trong quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp, Lê Quý Anh (2014) kết luận côngthức tỉa cây đinh lăng 3 năm tuổi giữ lại 2 cành có sự phát triển, sinh trưởng của bộ

rễ là tốt nhất khi số rễ là 30,67 rễ/cây và khối lượng rễ đạt 87,45g/cây cao hơn cáccông thức khác (tỉa giữ lại 1 cành, tỉa giữ lại 3 cành và đặc biệt là công thức khôngtỉa cành)

Hiện nay có một số nhà vườn kết hợp việc cắt cành thông qua phươngpháp chiết cành Tuy nhiên, điều này cần được cân nhắc vì làm như thế ta đã giữ lạimột số cành trên cây trong một thời gian mà nói về mặt sinh trưởng thì không có hiệuquả Do đó việc chiết cành cần thực hiện với mục đích rõ ràng trong thời điểm thíchhợp

1.3.3 Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về phương pháp che sáng cho cây trồng

Ánh sáng là nguồn năng lượng cần cho quang hợp của thực vật Ánh sáng cóảnh hưởng căn bản đến sự phân phối lượng tăng trưởng mới giữa các bộ phận củacây gỗ Khi được che bóng, tăng trưởng chiều cao của cây gỗ non diễn ra nhanh,nhưng đường kính nhỏ, sức sống yếu và thường bị đỏ ngã khi gặp gió lớn Trái lại,khi gặp điều kiện chiếu sáng manh, tăng trưởng chiều cao của cây gỗ non diễn ra

Trang 27

chậm, nhưng đường kính lớn thân cây cứng và nhiều cành Nói chung, việc chebóng giúp cây con tránh được những tác động cực đoan của môi trường làm giảm

Trang 28

khả năng thoát hơi nước, đồng thời làm giảm nhiệt độ của cây và của hỗn hợp ruộtbầu (Nguyễn Văn Thêm, 2002).

Chế độ ánh sáng được coi là thích hợp cho cây con ở vườn ươm khi nó tạo ra

tỷ lệ lớn giữa rễ/chiều cao thân, hình thái tán lá cân đối, tỷ lệ chiều cao/đường kínhbằng hoặc gần bằng 1 Đặc điểm này cho phép cây con có thể sống sót và sinhtrưởng tốt khi chúng bị phơi ra ánh sáng hoàn toàn Vì thế, trong gieo ươm câygiống nhà lâm học phải chú ý đến nhu cầu ánh sáng của cây con (Kimmins, J P.,1998) (Nguyễn Xuân Quát, 1985) (Nguyễn Văn Thêm, 2002)

Những cây con sinh trưởng với cường độ ánh sáng thấp sẽ hình thành các lá

ưa bóng Nếu bất ngờ đưa chúng ra ngoài ánh sáng và kèm theo điều kiện ẩm độ,nhiệt độ thay đổi, chúng bị ức chế bởi ánh sáng mạnh Điều này có thể làm cho câycon bị chết hoặc ngừng sinh trưởng cho đến khi các lá ưa bóng được thay thế bằngcác lá ưa sáng (Kimmins, J P, 1998) (Nguyễn Văn Thêm, 2002)

Trong quá trình nghiên cứu về cây ngũ vị tử Ngọc Linh, Trần Thị Liên từnăm 2009 đến năm 2011 đã kết luận rằng để trồng cây ngũ vị tử Ngọc Linh đạt hiệuquả cao, nhất thiết phải trồng dưới tán rừng trong đó chế độ ánh sáng tán xạ từ 45đến 50% (ứng với ánh sáng trực xạ là từ 50% - 55%), ổn định trong suốt chu kỳ

sinh trưởng của cây (Trần Thị Liên, 2011).

Theo Vũ Thanh Hải (2008) thì rau cần nước trồng trong điều kiện che sáng

có khối lượng cây/khóm lớn hơn không che đạt 58,8 – 61,4 g/khóm Khi che 25%cường độ ánh sáng, năng suất rau cần trắng 25,7 % và đạt 16,5 tấn/ha Riêng trongđiều kiện ánh sáng toàn phần, rau cần đạt năng suất 12,7 tấn/ha và còn giảm chi phíche lưới 25 triệu đồng/ha so với che 25% cường độ ánh sáng

Cây sâm Ngọc Linh Việt Nam nếu trồng trong điều kiện tự nhiên không chebóng cho tỷ lệ cây sống thấp và bị sâu bệnh hại nhiều Tuy nhiên, theo nghiên cứucủa Nguyễn Văn Thuận & Cs, có thể trồng trong điều kiện bán tự nhiên (trong nhà

có mai che theo quy mô công nghiệp đạt kết quả tốt Nếu trồng trong điều kiện rừnggià nguyên sinh, độ che phủ 70 – 90 %, độ ẩm không khí 75 – 90 % tại khu vực núiNgọc Linh và có thể phát triển thêm tại một số điểm khác như Mường Lống,Mường Xén (Nghệ An); Hang Kia, Pà Cò (Hòa Bình); Sapa (Lào Cai)

Trang 29

So sánh điều kiện trồng một số loại sâm chủ yếu trên thế giới.

* Tam thất (Panax pseudogingseng) trồng đại trà tại Châu Vân Sơn Trung

Quốc có độ cao trên 1400m Giàn che: Một mái kín cả xung quanh, cao 1,5 – 1,6m.Khoảng cách trồng: 15 – 20cm Độ chiếu sáng dưới giàn che: 80 – 90%

* Sâm Triều Tiên (Panax ginseng): Trồng đại trà tại tỉnh Kangwon và tỉnh

Kyungbuk, độ cao so với mặt nước biển 1000 – 1500m Giàn che : Mái nhiều tầng,không che khoảng cách giữa các tầng mái và xung quanh giàn Khoảng cách trồng:

15 – 20cm Độ chiếu sáng dưới giàn che: 60 – 70%

* Sâm Việt Nam (Panax Vietnamensis): Năm 1980 – Trường Đại học dược

TP Hồ Chí Minh đã trồng trong điều kiện nhân tạo; Độ cao 1000 – 1200m Sườnnúi phía đông, sườn dốc 15 – 200 Giàn che kiểu một mái liền, xung quanh có cheliếp, các cửa thông gió đủ thoáng Để môi trường ẩm về mùa khô đủ nước thườngxuyên có nước chảy ở một số rãnh luống chính Giàn cao 1,5 – 1,6m một mái kiểugiàn tam thất Đất có độ phì vừa phải Môi trường xung quanh có rừng tái sinh.Giàn làm tương đối kiên cố – cọc sắt, khung gỗ, lợp phên nứa và cỏ tranh, lau lách

* Sâm Nhật Bản (Panax Japonicus): Trồng đại trà tại tỉnh Nagano, độ cao so

với mặt nước biển 1200 – 1500m Mật độ khoảng cách trồng: 20 x 20cm Giàn che:Giàn nhân tạo hoặc rừng tự nhiên hoặc rừng trồng để che

* Sâm Mỹ (Panax quinquefolius): Được trồng nhiều ở Georgia, Minnesota,

Phần lớn được trồng trong các giàn nhân tạo Khoảng cách trồng 20 x 20cm hoặcthưa hơn

Trang 30

1.3.4 Một số kết quả nghiên cứu về cây đinh lăng

Các nghiên cứu về quy trình nhân giống, chăm sóc:

Năm 2013, Ninh Thị Phíp thực hiện nghiên cứu: “Một số biện pháp kỹ thuật

tăng khả năng nhân giống của cây đinh lăng lá nhỏ (Polyscias fruticosa L Harms)”

góp phần nâng cao khả năng nhân giống và sinh trưởng của cây đinh lăng trong sảnxuất Bốn thí nghiệm được tiến hành trong điều kiện nhà ươm có mái che nhằmnghiên cứu ảnh hưởng của giá thể, chiều dài cành, vị trí cành giâm và nồng độ chấtđiều tiết sinh trưởng α -NAA đến khả năng ra rễ, bật mầm và sinh trưởng của cành

giâm cây đinh lăng lá nhỏ (Polyscias fruticosa L Harms) Kết quả chỉ ra: Sử dụng

giá thể là 50% đất + 50% trấu hun giúp cây sinh trưởng phát triển cao nhất về chiềucao chồi (14,2cm), đường kính thân (0,51cm), số lá/cây cao nhất (3 lá/cây) và số rễ(4,2 rễ/cây)

Khoa học công nghệ phát triển mạnh nên những ứng dụng của nó vào nhângiống, tạo nguồn giống cây trồng phát huy hiệu quả hơn bao giờ hết Trong đó câyđinh lăng khi được nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô từ rễ cây 5 tuổi rưỡi(6 tháng) vẫn đảm bảo hoàn toàn đặc tính ban đầu của cây ngoài tự nhiên Phươngpháp nuôi cấy mô kết hợp với thủy canh có nhiều triển vọng trong việc chủ độngtạo nguồn nguyên liệu đinh lăng ổn định, đáp ứng nhu cầu sản xuất các chế phẩmchứa đinh lăng ở quy mô lớn (Nguyễn Trần Châu và cs, 2007)

Các loại chế phẩm khác nhau có ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển củacành giâm cây đinh lăng lá nhỏ Sử dụng α- NAA hoặc N3M giúp cây ra nhiều rễ,sinh trưởng tốt hơn, rút ngắn thời gian xuất vườn Trong đó giâm cành đinh lăng xử

lý N3M ở nồng độ 2000 ppm giúp cành giâm ra nhiều rễ, tăng khả năng sinh trưởngcủa cành giâm cao hơn hẳn công thức đối chứng Tỷ lệ ra rễ (96,7%), chiều dài rễtại thời điểm xuất vườn (5,2 cm), chiều dài rễ sau 90 ngày (15,2 cm), số rễ/cây sau

90 ngày(10,7 rễ/cây), khối lượng tươi (7,43 g/cây)

Chiều dài cành giâm có ảnh hưởng đến tỷ lệ nảy mầm và sinh trưởng của cànhgiâm của một số cây thuốc Đối với cây đinh lăng có thể giâm cành đinh lăng ngắnhơn 25 cm mà không ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh trưởng vẫn đảm bảo hệ số nhânkhá cao (4,6 lần) Tuy nhiên không nên giâm cành đinh lăng quá ngắn (10cm) sẽảnh

Trang 31

hưởng đến sinh trưởng của cây đinh lăng sau này (Ninh Thị Phíp, 2012).

Sử dụng cành thân chính có chiều dài cành giâm từ 15 - 20cm, xử lý nồng độ

α -NAA 2000 - 3000 ppm trong thời gian từ 3 - 5 giây giúp cành giâm ra rễ nhiều,khả năng sinh trưởng của cành giâm cao hơn hẳn công thức đối chứng không sửdụng (Ninh Thị Phíp, 2012)

Cây đinh lăng lá nhỏ (Polyscias fruticosa L Harms) trước nay hầu như chỉ

có ở các tỉnh miền Bắc Nguyễn Thị Ngọc Trâm và cs (2014) đã tiến hành di thựccây đinh lăng lá nhỏ từ Hải Dương về Đồng Nai Vùng đất này có nhược điểm là độ

pH cao, nhưng nhóm nghiên cứu đã tìm được công thức phân bón thích hợp cho cây(vôi bột, tro trấu và phân bò ủ hoai) và khắc phục được nhược điểm của đất Bêncạnh đó, việc nuôi trồng thu hái dược liệu được tiến hành theo GACP-WHO nên đãtạo được vùng trồng dược liệu đinh lăng lá nhỏ phát triển tốt, khối lượng dược liệuthu được trung bình đạt hơn 6 tấn/ha và tỷ lệ bộ rễ cao gấp đôi khi trồng ở HảiDương Nghiên cứu này cũng mang lại những thông tin quan trọng như: xác địnhđược mùa thu hái tại thời điểm cây đạt hàm lượng hoạt chất cao, phát hiện sâu bệnhhại để có thể phòng tránh và tìm những sản phẩm phòng trừ sâu bệnh, không phải sửdụng thuốc trừ sâu ảnh hưởng đến sức khỏe con người (Nguyễn Thị Ngọc Trâm và

cs, 2014)

Ngô Thị Tú Trinh (2010) “Nghiên cứu tạo phôi vô tính và thử nghiệm

chuyển gien tạo rễ tóc vào rễ bất định thông qua vi khuẩn Agrobacteriumzhizogenes

ở cây đinh lăng” đạt giải nhất Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học Eureka

2010 Rễ cây đinh lăng, nhất là rễ cọc, có chứa các hợp chất thứ cấp như saponin,poliacetylene, giúp bồi bổ cơ thể, tăng sức đề kháng và có một số tác dụng giốngnhân sâm Đinh lăng thường được nhân giống bằng phương pháp giâm cành, dễthực hiện nhưng lại khiến cây không có rễ cọc Việc tạo phôi vô tính có thể giúpnhân giống hàng loạt với số lượng lớn, chất lượng cao

Lê Như Thảo và cs (2014) tiến hành“ Nghiên cứu nhân giống đinh lăng lánhỏ bằng kỹ thuật nuối cấy chồi đỉnh” như sau: Chồi đỉnh đinh lăng dài 2-3 cm (cây

4 năm tuổi) được sử dụng làm nguyên liệu nuôi cấy Chồi được khử trùng bằngnước javen nồng độ 75 % trong thời gian 15 phút, cho hiệu quả cao với mẫu vô

Trang 32

trùng đạt 70,17 % và tỷ lệ tạo chồi đạt 55,26 % sau 14 ngày nuôi cấy Môi trường

LV thích hợp hơn cho sự sinh trưởng và phát triển của chồi đinh lăng, thể hiện quacác chỉ tiêu số chồi phát sinh (3,10), chiều cao chồi (3,83 cm/chồi), số lá (8,54),chiều dài lá (2,24 cm/lá) và chiều rộng lá (0,35 cm/lá) tốt hơn so với trên môitrường MS Môi trường thích hợp cho nhân nhanh chồi invitro là LV bổ sung BA(0,3 mg/l) và sucrose (30 g/l) cho hình thành 4,36 chồi/mẫu, chồi phát triển đều cóthân vươn cao (2,45 cm/chồi), thân lá to khỏe sau 40 ngày nuôi cấy Môi trường LV

có bổ sung IBA (0,3 mg/l) và sucrose (30 g/l) thích hợp cho nuôi cấy tạo rễ đạt tỷ lệ50,18 %, rễ dài tuyệt đối (2,50 cm), có số lượng rễ 1,39 rễ/chồi sau 40 ngày nuôicấy Với những kết quả nghiên cứu này, có thể hoàn thiện thành một quy trình nhângiống đinh lăng với hệ số nhân chồi cao, chất lượng cây con tốt và đáp ứng nhu cầu

về nguồn nguyên liệu cho ngành sản xuất dược phẩm

Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của che sáng trong giâm hom cây nắm cơmcho thấy rằng khi che 30% ánh sáng thì số rễ trung bình và chiều dài rễ trung bìnhcho giá trị cao nhất (Bùi Văn Thanh và Ninh Khắc Bản, 2010)

Các nghiên cứu khoa học về thành phần hóa học và tác dụng dược lý:

Năm 1961, các nhà khoa học thuộc Viện y học quân sự Việt Nam đã nghiêncứu và phát hiện được nhiều điểm dược học vượt trội của cây đinh lăng như: Tăngbiên độ điện thế não, tăng tỉ lệ các sóng alpha, bêta và giảm tỉ lệ sóng delta Nhữngbiến đổi này diễn ra ở vỏ não mạnh hơn so với ở thể lưới, tăng khả năng tiếp nhậncủa các tế bào thần kinh vỏ não với các kích thích ánh sáng, tăng nhẹ quá trình hưngphấn khi thực hiện phản xạ trong mê lộ, tăng hoạt động phản xạ có điều kiện gồmphản xạ dương tính và phản xạ phân biệt Nhìn chung, dưới tác dụng của cao đinhlăng, vỏ não được hoạt hóa nhẹ và có tính đồng bộ, các chức năng của hệ thần kinh

về tiếp nhận và tích hợp đều tốt hơn

Nghiên cứu của Ngô Ứng Long và cs (1985) cho biết đinh lăng có tác dụngtăng lực làm tăng sức dẻo dai của cơ thể, giúp người bị suy nhược nhanh chóng hồiphục, ăn uống tốt và ngủ ngon hơi Dùng nấu nước uống hàng ngày như thuốc bổ.Các hợp chất dược học được phân lập từ đinh lăng cho thấy có hoạt tính khángchủng Gram dương, kháng nấm Candida albican nhưng không kháng được chủng

Trang 33

khuẩn Gram âm Về độ độc thì đinh lăng ít độc hơn nhâm sâm (độ độc kém 3 lần)

và không làm tăng huyến áp Tác dụng tăng lực trên động vật thí nghiệm và trênngười Thân và lá cũng có tác dụng tăng lực nhưng yếu hơn so với rễ

Khi nghiên cứu về chống trầm cảm và stress của đinh lăng Năm 2002,Nguyễn Thị Thu Hương và các cs đã dùng chuột trắng để thử nghiệm Kết quả chothấy Saponin trong cao đinh lăng có tác dụng chống trầm cảm và phục hồi thời gianngủ bị rút ngắn bởi stress ở liều 45 – 180 mg/kg

Với mục đích thu nhân một lượng lớn saponin thông qua con đường côngnghệ sinh học, Phạm Thị Tố Liên và Võ Thị Bạch Mai (2007) đã bước đầu nghiêncứu sự tạo dịch treo tế bào cây đinh lăng Kết quả bước đầu cho thấy sự tăng trưởngcủa dịch treo tế bào tốt và tạo được rễ khi môi trường nuôi cấy có sự hiện diện của2,4–D 1mg/l kết hợp với BA 2,0 mg/l, 20% nước dừa và saccharose 30g/l

Khi nghiên cứu về tác dụng dược lý thực nghiệm của sản phẩm cấy mô từcây đinh lăng lá nhỏ, Nguyễn Trần Châu và cs (2007) đã có kết luận như:

Các mẫu RDT (dịch chiết cồn rễ đinh lăng được tạo ra trong môi trưởnglỏng từ Callus) và RTC (Dịch chiết cồn rễ đinh lăng được tạo ra trong môi trườngthủy canh) có các thành phần tương tự như các mẫu thu hái từ cây đinh lăng 5 tuổinuôi trồng bằng phương pháp tự nhiên Điều này chứng tỏ các sản phẩm thu nhận

từ phương pháp nuôi cấy mô thực vật vẫn bảo toàn đặc tính ban đầu của cây ngoài

tự nhiên Hàm lượng Saponin toàn phần trong mẫu RDT cao hơn 1,1% so với rễcây tự nhiên

Tác dụng tăng lực so với lô đối chứng, ở liều 200mg/kg thể trọng, RDT vàRTC có tác dụng chống nhược sức và phục hồi thể lực sau khi dùng thuốc liên tục

7 ngày So với các mẫu cao lá và rễ tự nhiên, mẫu RDT và RTC có tác dụng tănglực tương tự như ở cây ngoài tự nhiên

Khả năng đáp ứng với môi trường nhiệt độ cao RDT và RTC có tác dụngkéo dài thời gian sống của chuột thí nghiệm trong môi trườn g nhiệt độ 420C(12,48%; 11,83%) so với lô chứng Khả năng đáp ứng với môi trường nhiệt độ caocủa lô chuột uống RDT và RTC tương tự với lô uống RTN (Dịch chiết cồ rễ đinhlăng thu hái từ cây 5 tuổi rưỡi trồng tại vườn thuốc của trung tâm Sâm và Dượcliệu thành phố Hồ Chí Minh)

Trang 34

Tác dụng kháng viêm các mẫu cao RDT và RTC đều có tác dụng làm giảmthể tích chân chuột bị gây phù bằng formol (38,11%; 53,19%) so với mẫu chứn ggiảm (19,62%) sau 5 ngày điều trị Chứng tỏ mẫu cao RDT và RTC có khả nănggiảm sự bài tiết dịch rỉ viêm trên mô hình gây viêm cấp Trọng lượng u hạt tươicủa lô uống RDT và RTC kém hơn lô chứng (9,89%; 9,33%).

Tóm lại, hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về cây đinh lăng Tuy nhiên,những nghiên cứu tập trung chủ yếu vào chiết suất và tác dụng dược học của cây màchưa quan tâm nhiều về quy trình nhân giống, kĩ thuật trồng và chăm sóc cây đinhlăng để nâng cao hiệu quả trong sản xuất với quy mô lớn Đặc biệt chưa áp dụngnhững công nghệ cao và sản xuất tiên tiến vào trong quy trình trồng đinh lăng Vìvậy thiết yếu cần có nhiều hơn nữa những nghiên cứu về kĩ thuật trồng và chăm sóccây để đưa ra quy trình trồng hiệu quả để phục vụ bà con nông dân

Trang 35

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

- Cây đinh lăng lá nhỏ (Polyscias fruticosa L Harms) được trồng và nhân

giống tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam từ 1 - 3 năm tuổi

- Phân bón:

+ Phân đạm urê (46%N)

+ Phân supe lân (16,5%P2O5)

+ Phân kali clorua (59%K2O)

2.2.2 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4/2014 - 1/2015

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới nước đến sinhtrưởng và phát triển của cây đinh lăng (tuổi 1 và 2)

- Đánh giá ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa cành đến sinh trưởng và phát triểncủa cây đinh lăng (tuổi 3)

- Đánh giá ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến sinh trưởng, phát triển củacây đinh lăng (tuổi 1 và 2)

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới nước đến sinh trưởng và phát triển của cây đinh lăng (tuổi 1 và tuổi 2)

- Thí nghiệm gồm 3 công thức, mỗi công thức bố trí 15 chậu, kích thước 20 x

Trang 36

20 x 20 cm, trồng 1 cây 1 chậu Giá thể trồng cây là: 85% đất phù sa sông Hồngkhông được bồi hàng năm + 10% phân vi sinh + 5% trấu hun.

+ Công thức 1: Sau 10 ngày tưới 1 lần

+ Công thức 2: Sau 20 ngày tưới 1 lần

+ Công thức 3: Sau 30 ngày tưới 1 lần

Sơ đồ bố trí thí nghiệm: Theo khối ngẫu nhiên đầy đủ

2.4.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến sinh trưởng và phát triển của cây đinh lăng tuổi 3.

+ Công thức 1: Để nguyên cây không tỉa cành (đối chứng)+ Công thức 2: Tỉa để lại 3 cành trên cây

+ Công thức 3: Tỉa 30% lá già+ Công thức 4: Tỉa 50% lá già

- Thời vụ tiến hành: Tháng 10/2014; Cây tuổi 3 trồng tháng 10/2012

- Phương pháp: Từ năm thứ 3 trở đi khi cây phát triển tốt thân lá cần tỉa bớtcành và lá, mỗi năm tiến hành 1 đợt vào tháng 10 Mỗi công thức bố trí 3 lần nhắclại, diện tích mỗi ô thí nghiệm là 5 m2, khoảng cách trồng 40 x 50 cm, tổng diện tíchthí nghiệm 5 x 3 x 4 = 60 m2 chưa kể dải bảo vệ

- Địa điểm: nghiên cứu tại khu thí nghiệm của Bộ môn cây công nghiệpNhững cành để lại là những cành chính của cây Là già được tính là những lá

Trang 37

Công thức 2: Không che sáng (đối chứng)

Sử dụng lưới đen 1 lớp làm giàn cao 1,5 m rộng 2,5 m che bớt cường độ ánhsáng cho cây đinh lăng tuổi 1 và tuổi 2

* Sơ đồ bố trí thí nghiệm: Theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn

2.5 Các chỉ tiêu theo dõi

- Phương pháp đo độ ẩm: Mỗi công thức lấy 3 cây đại diện để đo độ ẩm đất.Mỗi cây đo 5 lần ở 5 vị trí khác nhau, sau đó lấy kết quả độ ẩm đất của cây đại diện

là trung bình của 5 lần đo Độ ẩm đất của công thức là trung bình độ ẩm của 3 câyđại diện

- Mỗi công thức lấy 3 cây đại diện mẫu đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng,phát triển

* Đo đếm các chỉ tiêu ban đầu, chu kì 1 tháng đo đếm 1 lần:

Trang 38

+ Chiều cao cây (cm): Từ mặt đất lên đến vuốt lá cao nhất.

+ Đường kính thân (cm) Đo tại vị trí cách gốc 3 cm

+ Số nhánh (nhánh/cây): Số nhánh mới từ sau 1 tháng tiến hành thí nghiệm.+ Số lá (lá/cây): Lá hoàn chỉnh từ sau 1 tháng tiến hành thí nghiệm

+ Chỉ số SPAD: Đo hàm lượng diệp lục của lá bằng máy đo SPAD Minilab 502.+ Số rễ (rễ/cây): Đo đếm khi thu hoạch, chỉ tính số lượng rễ có đường kính 2

mm trở lên

+ Rễ chính (rễ cấp 1/cây): Là những rễ mọc ra từ thân chính

+ Chiều dài rễ (cm): Đo từ cổ rễ đến phần chóp dài nhất của rễ

+ Đường kính rễ (cm): Đo đường kính phần to nhất của rễ chính (rễ cấp1).+ Khối lượng thân lá tươi, khối lượng thân lá khô của cây đinh lăng (g/cây):Cân toàn bộ khối lượng thân lá tươi, tiến hành sấy và cân khối lượng thân lá khôvào lần đo cuối cùng trước khi kết thúc thí nghiệm

+ Khả năng tích lũy chất khô của cây (g/cây): Cân khối lượng toàn bộ củacây đinh lăng sau khi thu hoạch, rửa sạch và đem đi sấy khô

+ Khối lượng rễ (g/cây): Thu hoạch sau lần đo cuối cùng, làm rửa sạch đất,tách rễ khỏi phần thân lá và mang đi sấy khô, cân trước và sau khi sấy

Khối lượng rễ khô

Tỷ lệ chất khô (%) = x 100

Khối lượng rễ tươi+ Diện tích lá: Đo diện tích lá bằng máy CL-202 area mdter tại thời điểm thuhoạch thí nghiệm

2.6 Thu thập và xử lý số liệu

Số liệu được thu thập xử lý bằng Excel kết hợp với IRISTAT 4.0

2.7 Giới hạn của đề tài

- Trong thí nghiệm 1: Không nói cụ thể lượng nước đối với thí nghiệm ảnhhưởng của khoảng cách giữa các lần tưới

- Thí nghiệm 3: Khi che sáng chỉ dùng lưới đen 1 lớp che cho cây và cường

độ ánh sáng giảm đi ở khoảng 30%

Trang 39

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của đinh lăng (tuổi 1 và năm thứ 2).

3.1.1 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến độ biến động độ ẩm đất của các công thức thí nghiệm

Độ ẩm đất ảnh hưởng nhiều tới khả năng sinh trưởng phát triển của câytrồng Khi cung cấp nước đầy đủ nước các hoạt động trao đổi chất và quang hợp củacây diễn ra tốt nhất tạo điều kiện cho sinh trưởng phát triển, tổng hợp chất dinhdưỡng sau này Đặc biệt đối với cây lấy củ thì lượng nước và thời gian tưới rất quantrọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của bộ rễ Tuy nhiên nếu tưới liêntục và lượng nước tưới nhiều có thể nghẹt rễ gây thối rễ chết cây, còn để hạn quácây sẽ chết vì thiếu nước

Bảng 3.1 cho thấy độ ẩm đất sau trồng 3 tháng và 9 tháng là thấp nhất.Nguyên nhân chính là do sau trồng 3 tháng thời tiết nắng nóng kéo dài, trời khôhanh và cuối năm lạnh, độ ẩm không khí thấp Với độ ẩm đất thấp như vậy sẽ làmcho cây đinh lăng sinh trưởng chậm, thân lá và củ kém phát triển

Độ ẩm đất thí nghiệm sau trồng 1 tháng và 6 tháng cao thuận lợi cho sinhtrưởng phát triển của cây đinh lăng Vì vậy mà trong các tháng này cây sinh trưởngkhá nhanh

Tuổi của cây đinh lăng ảnh hưởng nhiều tới mức biến động độ ẩm của đất.Cây đinh lăng càng lớn, tuổi càng nhiều thì lượng nước dùng cho các hoạt động traođổi chất và quang hợp càng lớn hơn so với những cây nhỏ hơn Vì vậy hầu hết độ

ẩm của các công thức cây 2 năm đều thấp hơn so với những công thức cây 1 năm

Độ ẩm các công thức giữa các lần tưới chênh lệch nhau rất lớn và đều có ýnghĩa Trong đó trung bình độ ẩm đất cây mới trồng cao nhất trong lần đầu đạt 36,4%

- 62,9% tiếp đến là sau trồng 6 tháng từ 34,9% – 62,2% và thấp nhất khi trồng 3tháng là 32,5% - 54,8% Do sau trồng 1 tháng cây mới hồi xanh nên lượng nước câyhút được ít còn thời tiết sau trồng 6 tháng có mưa nhiều nên độ ẩm đất cao

Đối với cây 2 năm khả năng quang hợp của cây lớn hơn nên khoảng cáchgiữa các lần tưới ảnh hưởng nhiều tới độ ẩm đất của các công thức Trong đó sau

Trang 40

Bảng 3.1: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến biến động độ ẩm

đất của các công thức thí nghiệm

Chiều cao cây là một đặc tính di truyền Tuy nhiên phụ thuộc nhiều vàobiện pháp kĩ thuật canh tác và điều kiện ngoại cảnh trong thời gian trồng Nếucây trồng được cung cấp đầy đủ các yếu tố như: Dinh dưỡng, nước và ánh sángthì cây trồng phát triển nhanh nhất cũng như tích lũy chất khô tốt nhất

Qua bảng 3.2 cho thấy:

Khoảng cách giữa các lần tưới ảnh hưởng rõ rệt tới cây đinh lăng mới trồng

ở cả ba công thức trong suốt thời gian theo dõi và sự sai khác này là có ý nghĩa Cụthể như sau trồng 9 tháng chiều cao cây trung bình của các công thức 10 ngày tưới,

Ngày đăng: 23/05/2019, 17:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w