Để làng nghề phát triển, công tác quản lý và sử dụng lao động tại các cơ sở cần được củng cố, công tác quản lý về mặt hành chính phải được thực hiệnmột cách nghiêm túc và được sự đồng th
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-NGUYỄN HỮU TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG
LAO ĐỘNG TẠI CÁC LÀNG NGHỀ Ở
THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨCHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2015
i
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-NGUYỄN HỮU TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG
Trang 3Page ii
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kếtquả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan vàchưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận vănnày đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đượcchỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 01 tháng 07 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Trường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhậnđược sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, các đồng chí cán bộ cơ sở,nhân dân địa phương, gia đình và bạn bè
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo – TS Vũ ThịPhương Thụy đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo tôi trong quá trìnhthực tập và làm luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo, các cán bộ thị xã Từ Sơn, cán
bộ Phường Châu Khê, xã Hương Mạc, xã Tương Giang, bí thư và trưởng cáckhu phố Đa Hội, thôn Hương Mạc và Hồi Quan đã giúp đỡ, tạo điều kiệnthuận lợi cho tôi hoàn thành kế hoạch thực tập
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến cán bộ quản lý thư viện khoa KT và PTNT,quản lý thư viện Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện cho tôi
sử dụng tài liệu tham khảo
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Khoa KT và PTNT,các thầy cô trong bộ môn Kinh tế tài nguyên môi trường, các thầy cô đã trựctiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, cùngtoàn thể gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành đềtài thực tập tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 01 tháng 07 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Trường
Trang 5Page 4
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục từ viết tắt vii
Danh mục bảng viii
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG LÀNG NGHỀ 5
2.1 Cơ sở lý luận về quản lý và sử dụng lao động làng nghề 5
2.1.1 Lý luận về lao động làng nghề 5
2.1.2 Lý luận cơ bản về quản lý và sử dụng lao động làng nghề 7
2.1.3 Nội dung quản lý và sử dụng lao động làng nghề 10
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý và sử dụng lao động làng nghề 13
2.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý và sử dụng lao động nông thôn ở Việt Nam 16
2.2.1 Tình hình quản lý và sử dụng lao động nông thôn ở Việt Nam 16
2.2.2 Tình hình quản lý và sử dụng lao động nông thôn ở một số địa phương 17
2.2.3 Tình hình quản lý và sử dụng lao động nông thôn ở một số làng nghề 19
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 22
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 22
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 23
3.2 Phương pháp nghiên cứu 31
Trang 8TTCN Tiểu thủ công nghiệp
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 11PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, cả nước có khoảng 3.350 làng nghề, trong đó Hà Nội chiếm tỷ lệnhiều nhất với 1.350 làng nghề được công nhận (Nguyễn Văn Ba, 2012) Nhìnchung sự phát triển các làng nghề ở Việt Nam vẫn còn nhiều tồn tại, đặc biệt là vấn
đề quản lý và sử dụng lao động Hầu hết các cơ sở có sử dụng lao động làm thuêđều chưa ký hợp đồng bằng văn bản với người lao động, hoặc có ký nhưng thựchiện các điều khoản trên hợp đồng không đầy đủ Vì thế nhiều lao động không thiếttha với nghề Để làng nghề phát triển, công tác quản lý và sử dụng lao động tại các
cơ sở cần được củng cố, công tác quản lý về mặt hành chính phải được thực hiệnmột cách nghiêm túc và được sự đồng thuận của người dân Việc phát triển cáclàng nghề một cách có quy mô có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo việc làm cho laođộng nông thôn, phát triển kinh tế, tạo bộ mặt mới cho nông thôn đồng thời giảmbớt sự di cư ra các thành phố lớn, gìn giữ nghề truyền thống đồng thời nâng cao thu
nhập của người dân nông thôn (Hiệp Hội làng nghề Việt Nam,2013).
Tái lập năm 1997, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Đồng Bằng Bắc Bộ,Bắc Ninh đã và đang vươn lên từ những nguồn lực vốn có, chủ trương của tỉnhphấn đấu đến năm 2015 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp, mức tăng trưởng hàngnăm từ 10-16% Là một tỉnh có nhiều làng nghề và làng nghề truyền thống, trong
số 62 làng nghề còn tồn tại thì Bắc Ninh có tới 53 làng nghề sản xuất công nghiệp
và tiểu thủ công nghiệp Sự hình thành và phát triển các làng nghề trong những nămqua đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Cáclàng nghề tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn; giải quyếtcác vấn đề xã hội phức tạp ở khu vực nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; thúc đẩy tăng trưởngkinh tế của tỉnh và góp phần bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Cáclàng nghề đã góp phần rất lớn trong việc giải quyết công ăn việc làm cho nhân dântrong tỉnh (trên 75.000 lao động thường xuyên và trên 10.000 lao động thời vụ) Tạicác làng nghề, mức thu nhập của người dân cao gấp 3 đến 4,5 lần so với các làngthuần nông, nhờ vậy góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo của tỉnh Đây còn là nơi cung
Trang 12cấp nguồn hàng xuất khẩu quan trọng của tỉnh với kim ngạch từ 1.200 tỉ đến 1.500
tỉ đồng/ năm (Nguyễn Văn Luyện, 2014)
Trong vài năm gần đây, quá trình công nghiệp hóa ở thị xã Từ Sơn, cùng vớiviệc áp dụng các chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn đã làmcho các làng nghề thay đổi nhanh chóng Việc phát triển các làng nghề không chỉđóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội, góp phần vàoviệc tăng trưởng kinh tế mà còn góp phần phân phối lại lực lượng lao động trong xãhội, giải quyết việc làm, tăng thu nhập của người lao động, xoá đói giảm nghèo
Mô hình chủ yếu ở các làng nghề là hộ gia đình, công ty TNHH và doanh nghiệp tưnhân hoạt động với đặc điểm sản xuất chủ yếu là sản xuất tại nhà ở hoặc xen cư,một số làng nghề đã bước đầu đi vào quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề vớimột tỷ lệ nhỏ các hộ sản xuất/doanh nghiệp tham gia
Phần lớn các hộ gia đình/doanh nghiệp có mặt bằng sản xuất chật hẹp, nằmcận kề khu dân cư hoặc tại gia đình, xưởng tạm bợ, thiếu ánh sáng; vật liệu sảnxuất và sản phẩm làm ra bố trí, sắp xếp lộn xộn, bừa bãi Việc tổ chức sản xuất – tổchức lao động không hợp lý, với lao động thủ công chiếm tới 70 – 80%, và có tớigần 80% các khâu trong dây chuyền công nghệ người lao động phải làm việc trongđiều kiện nặng nhọc, vất vả ầu hết các cơ sở sản xuất đều không có hệ thống thônggió, hút bụi, xử lý hơi khí độc trong nhà xưởng, ngay cả các cơ sở sản xuất sử dụngnhiều hoá chất, nhiều chất dễ cháy, dễ nổ (axít, xút, cao su, xà phòng, đồ nhựa…);Không có hoặc thiếu bộ phận làm công tác quản lý và sử dụng lao động; Khôngtrang bị hoặc trang bị không đầy đủ các phương tiện bảo vệ cá nhân cho người laođộng; Việc tổ chức tập huấn cho người lao động mang tính sơ sài, hình thức, thậmchí nhiều nơi không tổ chức huấn luyện; Không có sổ sách theo dõi, thống kê đầy
đủ tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và thực hiện không nghiêm túc chế
độ khai báo khi xảy ra tai nạn lao động với các cơ quan chức năng;… Công tácquản lý và sử dụng lao động các cấp đối với khu vực này gần như đang bị bỏ ngỏ.Công tác này ở địa phương còn nhiều bất cập như: trình độ học vấn của người laođộng thấp nên nhận thức còn yếu về vấn đề này nên quản lý nhân khẩu gặp khókhăn, đa số các cơ sở thuê lao động ký hợp đồng miệng với người lao động nênquyền lợi của người lao động khó được đảm bảo,
Trang 13Để giúp những người lao động có thu nhập ngày càng cao từ làm nghề, các
cơ sở phải tổ chức lao động một cách hợp lý sao cho năng suất lao động đạt hiệu
quả cao nhất Chính vì lý do này tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu tình hình quản lý
và sử dụng lao động tại các làng nghề ở thị xã Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh” nhằm
tìm hiểu thực trạng quản lý và sử dụng lao động tại các làng nghề trên địa bàn thị
xã từ đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý, sửdụng lao động tại địa phương
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu tình hình quản lý và sử dụng lao động tại các làng nghề của thị xã
Từ Sơn từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp để nâng cao kết quả trong việcquản lý và sử dụng lao động của làng nghề trên địa bàn thị xã Từ Sơn
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu: Các vấn đề kinh tế xã hội liên quan đến quản lý và
Trang 141.3.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về tình hình quản lý và
sử dụng lao động các làng nghề trên địa bàn thị xã Từ Sơn
* Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn thị xã Từ Sơn vànghiên cứu sâu ở 3 xã, phường đại diện các làng nghề của thị xã là: Tương Giang,Châu Khê, Hương Mạc
Trang 152.1.1.1 Khái niệm về lao động, lao động làng nghề
- Lao động: Theo Bộ Luật lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994: Lao động là hoạt động quan trọngnhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội Laođộng có năng suất, chất lượng và hiệu quả là nhân tố quyết định sự phát triển củađất nước
Lao động nông thôn là toàn bộ những hoạt động lao động sản xuất tạo ra sảnphẩm của những người sống ở nông thôn Do đó, lao động nông thôn bao gồm: laođộng trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp nông thôn, dịch vụ ở nông thôn …
- Việc làm: Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp
luật cấm đều được thừa nhận là việc làm Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọingười có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà
nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội (Điều 13 – Bộ Luật lao động).
- Người lao động: là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có
giao kết hợp đồng lao động
- Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan tổ chức hoặc cá nhân,
nếu là cá nhân thì ít nhất phải đủ 18 tuổi, có thuê mướn, sử dụng và trả công laođộng
- Làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn
nuôi nhưng cũng có một số nghề phụ khác như đan lát, gốm sứ, làm tương song
đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyênnghiệp hay bán chuyên nghiệp, có cơ cấu tổ chức, cùng một số thợ và phó nhỏ, đãchuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định sống chủ yếu được bằng nghề đó vàsản xuất ra những mặt hàng thủ công có tính mỹ nghệ, đặc trưng của địa phương(Trần Quốc Vượng, 1996)
Trang 16- Lao động làng nghề là những người lao động tham gia sản xuất ra những
sản phẩm mang tính đặc trưng của địa phương đó
Lao động làng nghề nói chung hiện nay chia ra 2 nhóm rõ rệt:
Nhóm lao động không thường xuyên: thiếu kỹ năng làm những công việcđơn giản, không hoặc ít có đào tạo bài bản
Lao động thường xuyên, kỹ năng cao, thường làm việc ở những cơ sởhoặc doanh nghiệp làm hàng mỹ nghệ cao cấp
2.1.1.2 Đặc điểm kỹ thuật, công nghệ của sản xuất sản phẩm trong làng nghề
- Đặc trưng đầu tiên của nghề thủ công truyền thống là kỹ thuật thủ côngmang tính truyền thống và bí quyết dòng họ Công cụ sản xuất chủ yếu là thô sơ dochính người thợ thủ công chế tạo ra
- Công nghệ truyền thống không thể thay thế hoàn toàn bằng công nghệ hiệnđại mà chỉ có thể thay thế ở một số khâu, công đoạn nhất định Đây chính là mộttrong những yếu tố tạo nên tính truyền thống của sản phẩm
- Kỹ thuật công nghệ trong các làng nghề truyền thống hầu hết là thô sơ, lạc hậu
- Thông qua sự phát triển của khoa học, kỹ thuật đã tạo ra sự kết hợp giữacông nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại trong quá trình sản xuất
- Sản phẩm làng nghề truyền thống rất đa dạng, phong phú Nó có thể đượcsản xuất hàng loạt hoặc sản xuất đơn chiếc Việc sản xuất hàng loạt sản phẩm giốngnhau chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ hoặc vừa Bên cạnh đó, sản phẩm mang tính đơnchiếc thường là sản phẩm mỹ nghệ cao cấp – vì những nét hoa văn, phần tinh hoacủa chúng luôn được cải biến them nhằm thu hút sự thưởng thức của những ngườisành chơi Nhìn chung, trong sản phẩm của làng nghề truyền thống vẫn tồn đọngnhững hao phí lao động sống, đó là lao động thủ công của con người
2.1.1.3 Đặc điểm của lao động làng nghề
- Thứ nhất, lao động được sử dụng trong các làng nghề chủ yếu là lao động
thủ công Lao động trong làng nghề có nhiều loại hình và nhiều trình độ khác nhau.Trong đó, nghệ nhân đóng vai trò quan trọng, được coi là nòng cốt của quá trìnhsản xuất và sang tạo sản phẩm Người thợ thủ công trước hết là người nông dân.Làng nghề là tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp Các làng nghềxuất hiện trong từng làng - xã ở nông thôn sau đó các ngành nghề thủ công nghiệp
Trang 17được tách dần nhưng không rời khỏi nông thôn, sản xuất nông nghiệp và sản xuất kinh doanh thủ công nghiệp trong các làng nghề đan xen lẫn nhau Có thể lúc nàyngười lao động làm nghề nhưng ở thời điểm khác họ lại làm công việc của nhànông Lao động làng nghề đôi khi tách khỏi nông nghiệp nhưng không tách khỏinông thôn.
Thứ hai, người thợ nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay,
vào đầu óc thẩm mỹ và sáng tạo của người thợ, của các nghệ nhân để làm ra sảnphẩm Trước kia, do trình độ khoa học và công nghệ chưa phát triển thì hầu hết cáccông đoạn trong quy trình sản xuất đều là thủ công, giản đơn Ngày nay, cùng với
sự phát triển của khoa học - công nghệ, việc ứng dụng khoa học - công nghệ mớivào nhiều công đoạn trong sản xuất của làng nghề đã giảm bớt được lượng lao độngthủ công, giản đơn Tuy nhiên, một số công đoạn trong quy trình sản xuất vẫn phảiduy trì kỹ thuật lao động thủ công tinh xảo
-Thứ ba, lao động được học nghề chủ yếu theo phương thức truyền nghề
trong các gia đinh từ đời này sang đời khác và chỉ khuôn lại trong từng làng Tuynhiên, hiện nay đã có sự kết hợp phương thức đào tạo nghề mới, mở các trường đàotạo nghề đồng thời vừa học vừa làm có sự truyền nghề của nghệ nhân, thợ cả đốivới thợ phụ, thợ học việc
Trình độ học vấn thấp làm hạn chế việc sử dụng thiết bị, công nghệ cao vàosản xuất hạn chế khả năng tư duy, sang tạo sản phẩm mới Tính kỉ luật lao động,tác phong làm việc chưa nhanh nhẹn
2.1.2 Lý luận cơ bản về quản lý và sử dụng lao động làng
nghề
2.1.2.1 Khái niệm về quản lý và sử dụng lao động
- Quản lý lao động
Lao động làng nghề truyền thống khác với lao động trong các doanh nghiệp
về cách thức và tổ chức làm việc Vì thế để quản lý lao động nghề tốt trước hết cầnphải nắm rõ những vấn đề của quản lý:
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đốitượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, cơhội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môitrường
Trang 18Như vậy, quản lý lao động được hiểu là tất cả những tác động có tổ chức vàhướng đích mà chủ thể tác động lên người lao động trọng điều kiện biến động củamôi trường nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra Quá trình quản lý có thể diễn ra dướinhiều hình thức và ở các công đoạn khác nhau, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp.Nhưng dù cách thức quản lý nào thì mục đích của hoạt động quản lý đều là nhằmlàm cho hoạt động sản xuất thực sự có hiệu quả, đem lại lợi ích cho cả nhà sản xuấtlẫn người lao động (Nguyễn Văn Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2010).
- Sử dụng lao động
Sử dụng lao động trong nông thôn tại các làng nghề là việc dùng lao độngtrong các hoạt động sản xuất của các cơ sở làm nghề Do sức lao động là lực lượngsản xuất quan trọng của xã hội nên nhiệm vụ đặt ra có tính chất nguyên tác là phải
sử dụng đầy đủ và hợp lý nguồn lao động
Theo nguyên tắc này, đơn vị sử dụng lao động trong nông nghiệp, nông thônphải sử dụng đầy đủ về mặt số lượng lao động: toàn bộ những người lao động trong
và ngoài tuổi quy đinh và có khả năng lao động đều cần được tham gia vào sự pháttriển kinh tế của hộ gia đình nói riêng và xã hội nói chung
Lao động cần được sử dụng hợp lý về mặt thời gian: Để đạt được hiệu suấtlao động nhất định, việc sử dụng sức lao động cần đảm bảo khai thác hết khả nănglao động của họ cả về thể lực và trí lực, nhưng phải phù hợp với trình độ, điều kiệnsức khỏe của từng người lao động để làm được điều này, thời gian lao động trongnăm cần được phân bố một cách hợp lý theo mùa vụ
Tóm lại, sử dụng lao động đầy đủ, hợp lý có quan hệ mật thiết với nhau Sửdụng đầy đủ, hợp lý thì hiệu quả mang lại sẽ thúc đẩy việc tăng thu nhập cho ngườilao đông Ngược lại, thì hiệu quả sử dụng lao động sẽ không cao Quá trình sử dụnglao động gắn liền với sự phát triển của kinh tế nông thôn Khi kinh tế phát triển, sửdụng lao động càng yêu cầu cao về chất lượng và phân công lao động ngày mộthợp lý hơn
Sử dụng lao động cần đạt hiệu quả kinh tế cao: Trong thời vụ căng thẳng,ngoài lao động gia đình thì các nông hộ vẫn phải thuê lao động trên thị trường, vì laođộng là một hàng hóa đặc biệt, nên vấn đề thuê mướn lao động cũng thay đổitheo
Trang 19quan hệ cung cầu Do đó, hộ gia đình cần so sánh giá trị vật chất mà lao động thuêlàm ra có bằng với tiền thuê lao động đó hay không.
2.1.2.2 Vai trò của quản lý và sử dụng lao động làng nghề
- Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Lao động là yếu tố đầu vào không thể thiếu của quá trình sản xuất, đặc biệtđối với nghề truyền thống Lao động là nhân tố chính tạo ra các sản phẩm có giá trị,tạo nên sự khác biệt của sản phẩm Đánh giá sự tăng trưởng kinh tế thông qua tiềnlương và mức chi tiêu của người lao động Khi tiền công của người lao động tăngchứng tỏ chi phí sản xuất tăng, phản ánh khả năng sản xuất tăng Đồng thời, khimức tiền công tăng lên làm cho thu nhập có thể sử dụng của người lao động tăng,
do đó, khả năng chi tiêu của người tiêu dùng ở các làng nghề cũng tăng lên
- Góp phần xóa đói giảm nghèo
Lao động tham gia vào các làng nghề sẽ giảm áp lực giải quyết việc làm cholao động nông thôn, đồng thời giảm bớt lượng lao động di cư lên thành phố làmviệc Mức thu nhập của người lao động tại các làng nghề hiện nay tương đối ổnđịnh, đảm bảo được nhu cầu của người dân nông thôn
Tỷ lệ thất nghiệp cao là gánh nặng cho nền kinh tế, là nguyên nhân dẫn đến
sự chậm tăng trưởng của nền kinh tế làm chậm quá trình xoá đói giảm nghèo Dovậy, việc phát triển các làng nghề là cách giải quyết hợp lý, sẽ tận dụng được nguồntài nguyên, lao động địa phương với chi phí thấp Bên cạnh việc tạo việc làm, tăngthu nhập cho lao động ở khu vực nông thôn, phát triển làng nghề ở nông thôn sẽ tạothem việc làm cho người lao động lúc nông nhàn, lao động phụ như người già, trẻ
em, người khuyết tật góp phần trong việc xoá đói giảm nghèo của địa phương
- Đóng góp vào việc bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống làng nghềHầu hết các làng nghề có khởi nguồn sang tạo từ cư dân địa phương nêntrong các sản phẩm làng nghề từ kiểu dáng, mẫu mã đều có dấu ấn riêng về bản sắcvăn hoá của từng địa phương Lịch sử phát triển của các làng nghề truyền thốnggắn với lịch sử phát triển văn hóa dân tộc Nhiều sản phẩm truyền thống có tínhnghệ thuật cao, trong đó thể hiện những sắc thái riêng của mỗi làng nghề Để làm ranhững sản phẩm như vậy không thể thiếu bàn tay tài hoa của những người thợ Do
Trang 20vậy, sự tham gia của lao động làng nghề góp phần bảo tồn và phát triển các làngnghề, bảo tồn những nét độc đáo của bản sắc dân tộc.
2.1.2.3 Đặc điểm của quản lý và sử sự lao động làng nghề
Lao động làng nghề truyền thống khác với lao động trong các doanh nghiệp
về cách thức và tổ chức làm việc Trong lao động làng nghề sử dụng lao động thủcông là chính Lao động trong làng nghề có nhiều loại hình và nhiều trình độ khácnhau Trong đó, nghệ nhân đóng vai trò quan trọng, được coi là nòng cốt của quátrình sản xuất và sang tạo sản phẩm Người thợ thủ công trước hết là người nôngdân Người lao động tại các làng nghề đa phần có trình độ học vấn thấp làm hạnchế việc sử dụng thiết bị, hạn chế khả năng tư duy nên cần được đào tạo kĩ năng cơbản và đơn giản Tính kỷ luật lao động, tác phong làm việc chưa nhanh nhẹn Chonên người sử dụng lao động cần thường xuyên kiểm tra giám sát và hướng dẫnngười lao động
Nhìn chung, quản lý con người cần phải có kinh nghiệm, hỉểu biết về conngười, về công việc Đối với cơ sở làm nghề truyền thống, công tác quản lý laođộng có đặc thù riêng Đa số chủ cơ sở cũng xuất thân làm nông nghiệp như nhữngngười lao động, do vậy, họ hiểu được tâm lý của người lao động Nghề truyềnthống cũng gắn liền với sản xuất nông nghiệp nên cũng có yếu tố mùa vụ Ngườilao động tới cơ sở khi công việc của nhà nông đã hoàn thành Một số ít có thể coilàm nghề là nguồn thu nhập chính của gia đình họ sẽ tập trung làm nghề, còn làmnông do các thành viên khác trong gia đình đảm nhiệm Nắm được đặc điểm này sẽgiúp các cơ sở tận dụng lao động một cách hiệu quả nhất
2.1.3 Nội dung quản lý và sử dụng lao động làng nghề
2.1.3.1 Nội dung quản lý và sử dụng lao động làng nghề tại các cơ sở kinh doanh
Cho dù là doanh nghiệp hay hộ gia đình sản xuất kinh doanh nhỏ thì mụctiêu cuối cùng vẫn là lợi nhuận Yếu tố con người trong quá trình sản xuất là quantrọng nhất Do đó, để đạt được mục tiêu thì công tác quản lý và sử dụng lao động
vô cùng quan trọng; nó giúp tìm kiếm, phát triển và duy trì lực lượng lao động cóchất lượng tốt nhất (Nguyễn Đức Lợi, 2010)
Trang 21Nhìn chung, quản lý con người cần phải có kinh nghiệm, hỉểu biết về conngười, về công việc Đối với cơ sở làm nghề truyền thống, công tác quản lý laođộng có đặc thù riêng Đa số chủ cơ sở cũng xuất thân làm nông nghiệp như nhữngngười lao động, do vậy, họ hiểu được tâm lý của người lao động Nghề truyềnthống cũng gắn liền với sản xuất nông nghiệp nên cũng có yếu tố mùa vụ Ngườilao động tới cơ sở khi công việc của nhà nông đã hoàn thành Một số ít có thể coilàm nghề là nguồn thu nhập chính của gia đình họ sẽ tập trung làm nghề, còn làmnông do các thành viên khác trong gia đình đảm nhiệm Nắm được đặc điểm này sẽgiúp các cơ sở tận dụng lao động một cách hiệu quả nhất.
a Xác định số lao động cần thiết
Để xác định được số lao động cần dùng thật chính xác trong các doanhnghiệp là rất khó, đặc biệt là các doanh nghiệp làm nghề truyền thống, người laođộng hầu hết làm nông nghiệp, họ chỉ tới làm việc vào những lúc nông nhàn Đặcđiểm của nông dân ở nước ta là tổ chức kỷ luật chưa cao, họ làm việc theo ý của
họ Vì thế, khi họ làm việc trong một tập thể cần phải xây dựng kế hoạch làm việcchú ý tới đặc điểm này (Nguyễn Đức Lợi, 2010)
Đối với những cơ sở có quy mô, quy định làm việc giữa công ty và ngườilao động được quy định chặt chẽ, cụ thể hơn Kế hoạch sản xuất kinh doanh, tuyểndụng, đào tạo lao động được xây dựng rõ ràng Việc xác định lao động trong từnggiai đoạn, từng thời điểm cũng được cơ sở lập ra cụ thể Do đó, quyền lợi, thu nhậpcủa người lao động được đảm bảo (Nguyễn Đức Lợi, 2010)
Thông qua việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh sẽ xác định được nhu cầulao động cần thiết cho hoạt động sản xuất sắp tới thực sự hiệu quả
Không chỉ xác định tổng số lao động mà còn phải xác định nhu cầu lao độngtrong từng công đoạn, bộ phận sản xuất để lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nghềcho người lao động hợp lý và đạt năng suất cao nhất
b Tuyển dụng lao động
Tuyển dụng lao động nhằm tìm kiếm, thu hút ứng viên từ những nguồn khácnhau và làm việc và chọn lựa những người đáp ứng tốt công việc của cơ sở Đây làcông việc quan trọng vì khi tuyển chọn được nguồn lao động tốt thì hiệu quả côngviệc sẽ được nâng cao Công tác tuyển dụng lao động phải xuất phát từ kế hoạch
Trang 22SXKD và kế hoạch nhân lực Nếu lực lượng lao động cơ sở có kỹ năng tốt sẽ giúptiết kiệm được chi phí như: tiền lương, chi phí đào tạo và tránh được rủi ro trongquá trình SXKD (Nguyễn Đức Lợi, 2010).
Sau khi đã xác định được số lao động cần thiết, các cơ sở cần lập kế hoạchtuyển dụng lao động Bảng kế hoạch này cần nêu rõ những nội dung như: vị trícông việc tuyển dụng, đối tượng tuyển dụng, yêu cầu đối với người tuyển dụng, hồ
sơ đăng ký tuyển dụng (Nguyễn Văn Điển, Nguyễn Ngọc Quân, 2010)
Lao động tuyển dụng có thể từ nhiều nguồn khác nhau: ở các trường nghề,địa phương khác Tuy nhiên, hoạt động tuyển dụng cũng cần tuân theo các quyđịnh của pháp luật về tuyển dụng lao động được áp dụng tại thời điểm hiện tại
c Phân công lao động
Nguồn nhân lực nếu được sử dụng tốt sẽ mang lại nhiều lợi ích cho doanhnghiệp Sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực sẽ nâng cao năng suất lao động, giảm cácchi phí qua đó hạ giá thành sản phẩm, nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm vớicác sản phẩm cùng loại khác trên thị trường Sau khi tuyển dụng được đủ lao độngtheo kế hoạch, cần phân công lao động vào những bộ phận phù hợp từ đó lên kếhoạch đào tạo nghề cho những người chưa biết nghề và bồi dưỡng cho những người
đã có nghề Việc đào tạo nghề cho người lao động trước khi vào lao động trực tiếp
là công việc quan trọng giúp người lao động có kiến thức cơ bản nhất với công việcmình sắp làm từ đó hiệu quả công việc sẽ tăng lên (Nguyễn Đức Lợi, 2010)
d Giám sát quá trình làm việc của lao động và kiểm tra chất lượng hoàn thành
Nghề thủ công có nhiều công đoạn sản xuất Trước đây một người có thểlàm nhiều công đoạn, nhưng nay, do ảnh hưởng của công nghiệp nên nghề thủ côngcũng được chuyên môn hóa ngay ở các công đoạn sản xuất Mỗi người làm mộtcông việc cụ thể Vì thế công tác kiểm tra, giám sát sản phẩm cũng cần được tiếnhành thường xuyên, ở từng công đoạn sản xuất Làm như vậy khi sản phẩm mắc lỗi
ở một bộ phận nào đó thì chỉ cần chỉnh sửa ở giai đoạn làm ra bộ phận đó mà thôi,như thế sẽ đảm bảo được chất lượng cũng như tiến độ hoàn thành sản phẩm đó
Công việc này đòi hỏi người kiểm tra phải am hiểu, nắm bắt được toàn bộquá trình sản xuất ra sản phẩm, do vậy thường là những người thợ lành nghề.Người đảm nhiệm công việc này có thể trực tiếp sửa sản phẩm mắc lỗi hoặc chỉ dẫn
Trang 23người thợ sửa tuỳ thuộc và từng sản phẩm, để sao cho sản phẩm làm ra đạt tiêuchuẩn (Nguyễn Đức Lợi, 2010).
e Đào tạo nghề cho người lao động
Tổ chức đào tạo nghề cho người lao động là hết sức cần thiết Đào tạo nghềkhông nên hiểu đơn giản là đào tạo cho người lao động chưa biết nghề Mà phảiquan niệm đây là hoạt động phải được tiến hành thường xuyên và theo định kỳ Về
tổ chức đào tạo nghề thường xuyên sẽ đảm bảo nâng cao chất lượng người laođộng, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa trên thịtrường Do đó, bản thân người đào tạo cũng phải liên tục tìm tòi, cập nhật nhữngmẫu mã, thị hiếu tiêu dùng mới … về sản phẩm, thị trường tiêu thụ (Nguyễn ĐứcLợi, 2010)
f Trả công cho người lao động
Đối với nghề thủ công nói chung, giá trị sức lao động hao phí cho 1 đơn vịsản phẩm khá lớn Vì thế, thường áp dụng các hình thức trả công theo số lượng sảnphẩm làm ra, hoặc theo thời gian làm việc (Nguyễn Đức Lợi, 2010)
g Quản lý hợp đồng lao động
Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụnglao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗibên trong quan hệ lao động (Nguyễn Đức Lợi, 2010)
Đối với làng nghề, chủ yếu sử dụng 2 loại hợp đồng sau:
+ Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xácđịnh thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ
2.1.4 Các y ếu tố ảnh hưởng đến quản lý và sử dụng lao động làng nghề
2.1.4.1 Quy mô và cơ cấu sản xuất sản phẩm của làng nghề
Quy mô sản xuất càng lớn thì cần nhiều lao động nên công tác quản lý và sửdụng lao động phức tạp hơn Nhìn chung, quy mô sản xuất tại các làng nghề ở nước
Trang 24ta hiện nay vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún, chủ yếu là các hộ gia đình và dựa vào cácyếu tố sản xuất vốn có Ở mỗi cơ sở thường xuyên chỉ có từ 3 – 7 người làm việc,
số lao động chỉ tăng lên vào một thời điểm nhất định nào đó trong năm, khi nhu cầusản xuất tăng lên Lao động ở các làng nghề truyền thống chủ yếu được tận dụng từlao động dư thừa của nông nghiệp để làm các công việc phụ như: đánh vecni, đánhbóng Với quy mô sản xuất như vậy thì quản lý lao động ở các hộ sản xuất nhỏkhông khó khăn Tuy nhiên, đối với thợ phụ - chỉ làm vào những luc nông nhàn thìlại cần tổ chức làm việc hợp lý, tránh làm công việc bị đình trệ (Nguyễn Văn Điển,Nguyễn Ngọc Quân, 2010)
2.1.4.2 Trình độ học vấn của chủ cơ sở
Ở các làng nghề truyền thống, nhiều chủ cơ sở trình độ học vấn thấp, họ làmnghề theo kiểu “cha truyền con nối” nên việc quản lý lao động ở những cơ sở nàyrất sơ sài Đa số người lao động làm tất cả các khâu của quá trình sản xuất, ngườilao động không được đào tạo bài bản, ít được cải thiện công nghệ và quy trình sảnxuất nên hao phí sức lao động lớn mà công lao động lại thấp (Nguyễn Văn Điển,Nguyễn Ngọc Quân, 2010)
2.1.4.3 Ý thức của người lao động
Người lao động có trình độ văn hóa cao thì việc tuyên truyền, phố biến cácchính sách sẽ đơn giản, người lao động cũng dễ dàng nhận thức và thực hiện Khinắm được các quyền lợi của mình, người lao động tự khắc sẽ thực hiện các chủtrương chính sách về quản lý lao động tại địa phương nói chung và của các cơ sởlàm việc nói riêng (Nguyễn Văn Điển, Nguyễn Ngọc Quân, 2010)
2.1.4.4 Công nghệ sản xuất
Nghề truyền thống có đặc điểm riêng biệt đó là các công đoạn sản xuất chủyếu bằng tay nên tiêu hao sức lao động lớn Tuy nhiên, hiện nay có nhiều loại máymóc đã được đưa vào sử dụng nên lao động sống sẽ được giảm bớt, một lao động
có thể đảm nhiệm nhiều khâu trong quá trình sản xuất, hoặc chỉ chuyên sản xuấtmột bộ phận của sản phẩm Công tác quản lý lao động sẽ trở nên đơn giản hơn(Nguyễn Văn Điển, Nguyễn Ngọc Quân, 2010)
Trang 252.1.4.5 Ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp
Đối với lao động làng nghề, ảnh hưởng của tính thời vụ trong sản xuấtnông nghiệp khá rõ Khi tới mùa thu hoạch, những lao động làm thuê sẽ trở vềđịa phương của họ để thu hoạch mùa màng, khi đó, lao động trong các cơ sở sẽgiảm xuống Khi hết giai đoạn làm mùa họ lại quay lại làm việc Chính đặc điểmnày, công tác quản lý lao động nghề cần linh hoạt để đảm bảo sản xuất không bịảnh hưởng (Nguyễn Văn Điển, Nguyễn Ngọc Quân, 2010)
2.1.4.6 Các chính sách của Nhà nước
Khi Nhà nước có các chính sách ưu đãi cho phát triển làng nghề thì các cơ
sở sẽ mở rộng sản xuất, tăng cường sản xuất những sản phẩm có giá trị văn hóa cao
để xuất khẩu, do đó phải đào tạo lao động có trình độ chuyên môn, có kỷ luật và ýthức lao động tốt
Ngày 20.12.2011 UBND tỉnh Bắc ninh có ra quyết định số 1632/QĐ-UBND
về việc phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp nông thôn tỉnh Bắc Ninh giaiđoạn 2011 – 2020 Trong quyết định có đưa ra quy hoạch một số ngành côngnghiệp chủ yếu
Ngày 12 tháng 7 năm 2013 Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã ban hànhNghị quyết số 96/NQ-HĐND17về việc Quy định tiêu chuẩn, thủ tục xét công nhậnnghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống, thợ giỏi, nghệ nhân, tổ chức,
cá nhân (UBND tỉnh Bắc Ninh, 2013)
Đây là cơ hội để các cơ sở mở rộng sản xuất, trang bị máy móc công nghệ,người lao động cũng có cơ hội tiếp cận với công nghệ sản xuất tiên tiến mới Sảnxuất phát triển buộc người quản lý phải nâng cao năng lực quản lý của mình đểtăng cường công tác quản lý và sử dụng lao động để sản xuất đạt hiệu quả tốt nhất
2.1.4.7 Trình độ quản lý của cán bộ cấp cơ sở
Cán bộ quản lý cấp xã, cấp thôn có trình độ cao có chuyên môn nghiệp vụthì sẽ quản lý nắm bắt tốt được số lượng lao động, thong tin về người lao động vàngười sử dụng lao động Từ đó, có những biện pháp để quản lý tuyên truyền quyền
và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động thự hiện các chủ trươngchính sách về quản lý lao động tại địa phương
Trang 262.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý và sử dụng lao động nông thôn ở Việt
m2, cao nhất là 10.149 m2 (đồng bằng sông Cửu Long), thấp nhất 2.284 m2 (đồngbằng Bắc Bộ) Nhiều hộ gia đình đã kết hợp phát triển nghề phụ hoặc chuyển sanghoạt động phi nông nghiệp nhưng vẫn giữ lại đất nông nghiệp được giao và đăng kí
là lao động nông nghiệp (Phạm Thị Thu Trang, 2013)
Tình trạng thiếu việc làm hay còn gọi là thất nghiệp bộ phận, bán thất nghiệp
là đặc trưng của lao động nông thôn Khu vực nông thôn chiếm 76% lực lượng laođông cả nước, trong đó 30% lao động thiếu việc làm, phổ biến là thiếu mang tínhthời vụ Thiếu việc làm chủ yếu thể hiện ở thời gian sử dụng lao động của hộ giađình nông dân khá thấp Phần lớn lao động nông thôn mới chỉ sử dụng hết khoảng81,79% thời gian lao động trong năm (Phạm Thị Thu Trang, 2013)
Đến năm 1998, khu vực nông thôn vẫn còn khoảng 8,2 triệu người thườngxuyên thiếu việc làm, chiếm 28,19% tổng số lao động hoạt động kinh tế nôngthôn Số lao động nữ thiếu việc làm chiếm 26,2% lao động nữ nông thôn Phần lớnngười thiếu việc làm là lao động trẻ ở độ tuổi 15 - 34 Tỉnh có tỷ lệ thiếu việc làmcao thuộc đồng bằng sông Hồng và trung du Bắc Bộ (Phạm Thị Thu Trang, 2013)
Do thiếu việc làm và năng suất lao động còn thấp nên thu nhập bình quân củalao động nông thôn không cao, Năm 2005 thu nhập bình quân của lao động nôngthôn đạt 495.000 đồng/tháng, trong đó lao động ngành nông lâm nghiệp thấpnhất
392.000 đồng/tháng, lao động ngành công nghiệp, xây dựng đạt 770.000 đồng/tháng,ngành dịch vụ đạt 797.000 đồng/tháng Bình quân thu nhập của lao động nông thônthấp hơn 3 lần so với khu vực thành thị (Phạm Thị Thu Trang, 2013)
Tính chất thời vụ, rủi ro cao và tình trạng bất ổn là đặc trưng của sản xuấtnông nghiệp và của lao động nông thôn Vào kỳ thời nông nhàn, một bộ phận laođộng có nghề thường đi các địa phương khác, vùng khác hành nghề nhằm tăng thu
Trang 27làm ruộng Do đó, công tác quản lý và sử dụng lao động ở nông thôn rất phức tạp,đòi hỏi phải có sự linh hoạt và thường xuyên kiểm tra, thống kê (Phạm Thị ThuTrang, 2013).
Trang 282.2.2 Tình hình quản lý và sử dụng lao động nông thôn ở một số địa phương
a Ở Thanh Hóa
Lao động và việc làm ở khu vực nông thôn tỉnh Thanh Hóa nằm trong tìnhtrạng chung như đối với các tỉnh khác: Lao động nông nghiệp chiếm 83% tổng lựclượng lao động toàn tỉnh (1,8 triệu người), trong khi lao động làm việc trong khuvực dịch vụ, thương mại chỉ chiếm 4% và lao động trong khu vực nhà nước chiếm7% Phần lớn lao động nông nghiệp tập trung ở đồng bằng, nơi đất đai hạn chế vàchật chội Hàng năm, toàn tỉnh có trên 30.000 người tham gia vào lực lượng laođộng Lao động nông thôn chỉ sử dụng hết 70% quỹ thời gian trong năm dẫn đếntình trạng thiếu việc làm rất phổ biến Hàng năm, tỉnh phải lo tạo việc làm cho ítnhất 70.000 người, tăng tỷ lệ thời gian làm việc của lao động nông thôn lên 75%(Phạm Thị Thu Trang, 2013)
Trước tình hình đó, Đảng bộ tỉnh đã có Nghị quyết đề ra các biện pháp: Thúcđẩy đầu tư phát triển kinh tế — xã hội; Tăng cường đào tạo tay nghề gắn với cácchương trình dự án phát triển chung, xây dựng các khu công nghiệp; Tăng cường vànâng cao chất lượng dịch vụ việc làm, cung cấp thông tin đầy đủ và thường xuyên
về thị trường lao động; Hỗ trợ người lao động để họ tự phát triển sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ để tự tạo việc làm cho mình, cho lao động trong gia đình họ Cácngành, các cấp xây dựng đề án về giải quyết việc làm; Tạo điều kiện về thuê đất,mặt bằng, thuê lao động, cho vay tín dụng ưu đãi, miễn giảm thuế, khuyến khích
sử dụng nguyên liệu, lao động tại chỗ; Xúc tiến xuất khẩu lao động
b Huyện Châu Giang, Hưng
Yên
Trước năm 2000, Châu Giang (nay là Khoái Châu và Văn Giang, Hưng Yên)
là huyện đất chật, người đông, độc canh cây lúa truyền thống, ngày nay mới bắt đầuchuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và phát triển ngành nghề phi nông nghiệp
Huyện Châu Giang là huyện thuần nông, lao động nông nghiệp chiếm 85,6%tổng lao động của toàn huyện, cao hơn mức trung bình của cả nước, lao động phinông nghiệp có xu hướng giảm Trong khi đó, bình quân diện tích đất nông nghiệptheo lao động nông nghiệp có xu hướng giảm (năm 1995 là 1.150m2/người đến năm
1998 chỉ còn 1.048m2/người) Hơn nữa số lao động di chuyển ra khỏi huyện cũng
Trang 29khá lớn: khoảng hơn 6.000 người, chiếm hơn 4% tổng số lao động, phần lớn nhữnglao động
Trang 30này làm việc tạm thời tại thành phố, đến mùa vụ họ lại quay về làm nông nghiệp(Phạm Thị Thu Trang, 2013).
Lực lượng lao động mới bổ sung hàng năm chủ yếu là lao động trẻ, có trình
độ văn hóa từ tốt nghiệp cấp 2 trở lên Tuy nhiên số lao động có tay nghề, đã quađào tạo chỉ chiếm 5% so với tổng số Số lao động này chủ yếu làm việc trong cácngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ (Phạm Thị Thu Trang, 2013)
Số lao động không có việc nhưng có nhu cầu làm việc chiếm 6,4% tổng sốlao động Ngoài ra thời gian nông nhàn của lao động nông nghiệp chiếm tới 40%tổng số thời gian, cao hơn số ước tính của cả nước (28 - 30%) (Phạm Thị ThuTrang, 2013)
Như vậy, hàng năm huyện có thêm 3.138 người và hơn 9.000 lao động thấtnghiệp với thời gian nông nhàn lớn Nguyên nhân chủ yếu do ngành nghề phi nôngnghiệp không phát triển, dẫn đến không thu hút lao động thậm chí còn dôi dư.Điều này gây một áp lực không nhỏ cho vấn đề giải quyết việc làm của huyện ChâuGiang (Phạm Thị Thu Trang, 2013)
Bằng những giải pháp tích cực, huyện Châu Giang đã giải quyết được vấn đềviệc làm:
Thứ nhất: Thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng: Từ cây lúa nước sang cácloại cây có giá trị kinh tế cao như cây dược liệu, cây ăn quả, cây cảnh
Thứ hai: Thực hiện chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa: Từ chăn nuôigia súc quy mô nhỏ lẻ, mang tính kết hợp và tận dụng cao chuyển thành chăn nuôiquy mô lớn mang tính sản xuất hàng hóa trong các hộ gia đình Thu hút số lượnglớn lao động tham gia vào quá trình vận chuyển, tiêu thụ gia cầm, gia súc
Thứ ba: Phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp: một số nghề truyềnthống tiếp tục được khôi phục và phát triển như: Vật liệu xây dựng, mây tre đan,chế biến lương thực) Bên cạnh đó, số người tham gia ngành thương nghiệp, dịch
vụ như xay sát, bơm nước, làm đất, đã tăng lên đáp ứng được nhu cầu sản xuất vàsinh hoạt của nông dân
Thứ tư: Triển khai các chương trình quốc gia về giải quyết việc làm: Thựchiện chương trình 120 và 773 di dân đi vùng kinh tế mới bằng nguồn vốn vay đượchuy động từ ngân hàng Nông nghiệp, ngân hàng Người nghèo, cho người dân vayvới lãi suất ưu đãi
Trang 31Thứ năm: Hỗ trợ vốn tạo việc làm thông qua các hiệp hội: Hội Nông dân,Hội Phụ nữ đã tín chấp với Ngân hàng Nông nghiệp và Ngân hàng Người nghèocho hàng nghìn hộ vay vốn để tổ chức sản xuất trồng trọt, chăn nuôi tạo việc làmcho nhiều lao động.
2.2.3 Tình hình quản lý và sử dụng lao động nông thôn ở một số làng nghề
a Làng nghề mộc Cúc Bồ - Hải Dương
Làng mộc Cúc Bồ được tỉnh Hải Dương công nhận là làng nghề từ năm
2003, nhưng đến nay việc phát huy và phát triển còn chậm, chưa hình thành một tổchức chặt chẽ mang tầm cỡ lớn như công ty hoặc doanh nghiệp
Ở làng nghề mộc Cúc Bồ hiện nay tồn tại các nhóm sản xuất hàng hóa như sau: Nhóm sản xuất hàng hóa là kiến trúc làm Đình,Chùa, Miếu .và tu sửa di
tích Sản phẩm của họ không phải để bán mà bảo lưu các công trình kiến trúc mangtính tôn giáo, tín ngưỡng Tuy nhiên, sản phẩm không chủ động được vì đầu ra củasản phẩm phụ thuộc vào địa phương và cá nhân có nhu cầu Đại tiện cho nhóm này
là “ Hợp tác xã mộc truyền thống Cúc Bồ” với 9 thành viên và hơn 50 thợ Số thợnày có tay nghề cao, thông thạo nhiều việc, làm theo kinh nghiệm truyền thốngnhưng đều ở độ tuổi cao từ 50 – 60 tuổi (Phạm Thị Thu Trang, 2013)
Nhóm chuyên sản xuát đồ gia đình như: tủ, giường, bàn ghế Thợ làm trongnhóm này chủ yếu còn trẻ, biết dùng máy móc như: cưa, xẻ, bào, đục, cắt mộng, Sản phẩm sản xuất tùy theo nhu cầu thị trường nhưng vì chưa có nhãn mác nên sứcảnh hưởng chưa lớn Từ nhóm này trong làng hình thành hoạt động kinh doanhthương mại Một số chủ nhỏ mở xưởng thuê thợ sản xuất hoặc chuyển sang bao tiêusản phẩm và trở thành người buôn bán kiếm lời
Nhóm chuyên sản xuất các sản phẩm cao cấp như: sập, tủ, tượng, phù điêu,bàn ghế cao cấp Họ sử dụng công nghệ truyền thống: sơn son, thếp bạc, vànghoặc áp dụng công nghệ hiện đại cho loại hàng mỹ nghệ cao cấp
Với cách thức sản xuất như hiện nay, đa số các cơ sở đều có quy mô nhỏ,chưa biết hợp tác với nhau để sản xuất sản phẩm Vốn ít nên không đầu tư đượccông nghệ máy móc, mẫu mã sản phẩm còn đơn giản, lạc hậu nên hàng hóa cạnhtranh trên thị trường kém
Trang 32Công tác quản lý ở các cơ sở cũng chưa chặt chẽ Cho đến nay, tất cả các
“ông chủ nhỏ” ở làng mộc Cúc Bồ đều chưa được đào tạo qua trường lớp Họtrưởng thành trong nghề, có chút vốn rồi đứng ra làm ông chủ vì muốn có thu nhậpcao hơn Ngoài việc thuê thợ chính họ còn nhận đào tạo người đến xin học việc Sốthợ học việc thực chất do thợ chính hoặc thợ bạn truyền nghề cho bằng cách dạylàm thực dụng cho từng công việc, từng công đoạn từ đơn giản đến phức tạp
Để làng nghề mộc Cúc Bồ phát triển, các cơ sở làm nghề phải kết hợp vớichính quyền địa phương nâng cao vai trò tổ chức, quản lý, đào tạo thợ Cần mởtrường dạy nghề ngay tại địa phương hoặc cử người cho đi học, ưu tiên thôngthoáng về đất đai và cơ sở hạ tầng (Nguyễn Thị Thuận, 2009)
b Làng nghề mộc Đồng Kỵ - Bắc Ninh
Phường Đồng Kỵ có khoảng 149 Hợp tác xã, doanh nghiệp và 3.134 hộ thamgia kinh doanh sản xuất đồ gỗ mĩ nghệ (chiếm 95% số hộ) Nghề truyền thống đãgóp phần không nhỏ làm thay đổi diện mạo của làng quê nơi đây Nơi đây đượcmệnh danh là “làng doanh nhân”, “làng giám đốc”, bởi cả làng có tới hơn 200 công
ty với 500 giám đốc, phó giám đốc Đồng Kỵ có khả năng giải quyết việc làm cho
6000 lao động tại chỗ và khoảng 4000 người đến từ các vùng lân cận như: BắcGiang, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Vĩnh Phúc… với mức thu nhập bình quân
từ 2-5 triệu đồng/người/tháng Trong những năm gần đây, để đáp ứng những nhucầu của thị trường, đồ gỗ Đồng Kỵ đã được cải biến mẫu mã rất nhiều Đồ gỗ Đồng
Kỵ hiện nay không chỉ được ưa chuộng trong nước mà còn ở các nước khác Khilàng nghề ngày một phát triển thì mô hình kinh tế hộ gia đình trở nên chật hẹp,không đáp ứng được nhu cầu đi lên của làng nghề Nhiều gia đình trong làng đãchuyển từ sản suất quy mô nhỏ thành các công ty với quy mô lớn Đến nay, cảphường Đồng Kỵ có hơn 160 công ty, hợp tác xã chuyên sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ.Trong hệ thống sản xuất, việc chuyên môn hoá đang được hình thành (Phạm ThịThu Trang, 2013) Tuỳ theo tính chất của từng nghề mà sự phân công lao động có
sự phân công có khác nhau Ví dụ với 1 làng nghề mộc có thể được phân thành:
• Nhóm chuyên kinh doanh sản phẩm: bán hàng tại làng hoặc các đại lýtrong đô thị
• Nhóm kiêm cả sản xuất và kinh doanh
Trang 33• Nhóm hoạt động chuyên theo 1 số công đoạn: Mua gỗ, pha gỗ, tẩm sấy,nhóm gia công thô, nhóm gia công tinh, nhóm vận chuyển.
Sự phân hóa dần các thứ bậc sản xuất – kinh doanh đã mang rõ nét tính kinh
tế thị trường, một thị trường lao động được phân loại rõ theo năng lực Tại nhiềulàng nghề, những người gốc ở làng thường tham gia điều hành hoặc làm trọn vẹnmột công đoạn, phần làm công thường là những người từ các nơi khác đến Nhờ cóphương thức sản xuất hợp lý mà đến nay làng nghề Đồng Kỵ đã phát triển một cáchmạnh mẽ Hiện nay việc truyền nghề ở Đồng Kỵ mang đậm màu sắc truyền thốngnghĩa là nghề được truyền trực tiếp từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sangthế hệ khác
Trang 34PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Từ Sơn có vị trí địa lý khá thuận lợi, nằm ở phía Bắc thủ đô Hà Nội, cáchtrung tâm Thành phố Bắc Ninh 12 km, thuộc vùng kinh tế phát triển Về địa giớihành chính Từ Sơn có vị trí tiếp giáp như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Yên Phong - Bắc Ninh,
- Phía Nam giáp huyện Gia Lâm - Hà Nội,
- Phía Đông giáp huyện Tiên Du - Bắc Ninh,
- Phía Tây giáp huyện Gia Lâm và Đông Anh - Hà Nội
3.1.1.2 Địa hình
Khu vực Từ Sơn nói chung có địa hình cao ráo bằng phẳng, cốt cao độ daođộng từ 4,5m - 6,5m độ, có chỗ gò cao 7,0m-15m Cấu tạo địa tầng chủ yếu là đấtsét pha có cường độ chịu lực khá và ổn định, đáp ứng nhu cầu xây dựng công trình
Nhìn chung địa hình của thị xã thuận lợi cho việc phát triển mạng lưới giaothông, thuỷ lợi, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng mạng lưới khu dân cư, các khucông nghiệp, TTCN…
3.1.1.3 Khí hậu và thời tiết
Do nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng nên khí hậu thời tiết của thị xã TừSơn mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm với hai mùa rõ rệt
Mùa khô lạnh bắt đầu từ tháng 11 năm trước kết thúc vào tháng 4 năm sau,mùa mưa nóng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 Ngoài ra ở Từ Sơn vào các thángmùa hạ còn bị ảnh hưởng của gió bão kèm theo mưa lớn kéo dài nhiều ngày, tạongập úng cho một số vùng trũng của thị xã gây không ít khó khăn cho sản xuất vàđời sống của dân cư Vào mùa đông đôi khi có sương muối xuất hiện làm ảnhhưởng đến sản xuất nông nghiệp
Trang 3520 13/
20 14/ BQ
96
97
97
97
1 0
10 2,
10
102,
10
101,
10
103,
10
10
100,
100,
1 0
1 0
10 0, T
Nguồn: phòng thống kê Thị xã Từ Sơn
Thị xã Từ Sơn có tổng diện tích (DT) đất tự nhiên là 6133 ha (chiếm 7,64%diện tích tự nhiên của tỉnh), phân bố không đều giữa các đơn vị hành chính xã.Toàn thị xã có 4 xã và 7 phường, phường có diện tích đất tự nhiên lớn nhất là xãĐình Bảng có 827 ha chiếm 13,48 %, phường Đông Ngàn có diện tích đất tự nhiênnhỏ nhất là 141 ha chiếm 2,3%
Biểu 3.2 cho thấy tình hình sử dụng đất đai của thị xã Từ Sơn qua các năm
2012 - 2014 Đất sản xuất nông nghiệp có diện tích lớn nhất và phần lớn là đất trồng cây hàng năm chiếm khoảng 98,4 %, đất nuôi trồng thủy sản và đất trồng cây lâu năm
Trang 3621320 2014 T
ĐPT
Số lư ợn
C
C Số
C
C Số
C C
15
2. 158 897
165 908
1 0
7 5
8 4
87 5
91 2
1 0
3 1
3 1
chiếm phần nhỏ, không có đất rừng Tiếp đó là đến đất chuyên dùng, đất thổ cư, đấtchưa sử dụng Diện tích đất nông nghiệp trong những năm qua giảm bình quânmỗi năm 2,11%, diện tích đất này có xu hướng giảm qua các năm do nhu cầu về đấtthổ cư và đất chuyên dùng tăng lên cùng với sự phát triển kinh tế của thị xã, năm
2014 giảm so với năm 2012 là 158 ha Đất chuyên dùng có vị trí quan trọng trongviệc phát triển kinh tế xã hội của thị xã, đặc biệt là đối với sự phát triển ngành nghềcông nghiệp N- TTCN nông thôn Trước tình hình phát triển kinh tế như hiện nay,việc tăng lên của diện tích đất chuyên dùng là tất yếu và việc lấn sang đất sản xuấtnông nghiệp là không tránh khỏi
3.1.2.2 Dân số và lao động
Theo thống kê của thị xã, dân số hiện nay, của thị xã là 165908 người Là 1thị xã có nhiều nghề truyền thống nên số dân làm nông nghiệp của thị xã chỉ chiếmgần 1/3 tổng dân số và có xu hướng ngày càng giảm
Bảng 3.2 Tình hình dân số - lao động tại Thị xã Từ Sơn
động làm nghề Nguồn: phòng thống kê thị xã Từ Sơn
Qua bảng số liệu thống kê tình hình dân số, lao động được tổng hợp từphòng thống kê của thị xã thấy 55% tổng dân số của thị xã trong độ tuổi lao động.Lao động phi nông nghiệp chiếm trên 60%, trong đó chủ yếu là lao động làm nghề.Qua 3 năm tốc độ tăng bình quân của lao động làm nghề là 1,85 % Năm 2012 lao
Trang 37động phi nông nghiệp là 52.693 người thì lao động làm nghề chiếm 60,2% tươngđương với 31.721 người Đến năm 2014 lao động phi nông nghiệp là 58.234 ngườithì lao động làm nghề cũng tăng lên 37.211 người chiếm 63,9%.
Lao động của thị xã tăng và biến động là do nhiều lao động từ nơi khácchuyển đến làm việc Chính vì lẽ đó, công tác quản lý dân số của địa phương, côngtác quản lý lao động ở các cơ sở làm nghề gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi phải phốihợp chặt chẽ và ngày càng nâng cao hiệu quả quản lý, để môi trường làm việc,quyền lợi, thu nhập, của người lao động được đảm bảo
3.1.2.3 Cơ sở hạ tầng
a Giao thông xây dựng
Trong thời gian qua thị xã Từ Sơn đã đầu tư xây dựng và đưa và hoạt độngmột số công trình như: xây dựng lò đốt rác thải ở phường Đình Bảng; chỉnh trang
đô thị thị xã phục vụ Tết Nguyên đán; sửa chữa cải tạo một số tuyến đường giaothông của thị xã Tiếp tục thi công 04 công trình chuyển tiếp từ năm 2013, tập trungchính vào các công trình; Quần thể lưu niệm đồng chí Ngô Gia Tự, Trường THCS
Từ Sơn và các công trình PCLB, thủy lợi cải tạo đất Đã tổ chức mở thầu 02 góiđấu thầu xây dựng Đài tưởng niệm trong khu công viên Lý Thái Tổ Trình UBNDtỉnh phê duyệt 02 dự án: Khu trung tâm văn hóa thể thao thị xã và Dự án xây dựngNhà máy rác thải để phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng ở địa phương, tạo điều kiệnthuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế xã hội ở địa phương
UBND thị xã đã tích cực chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, các đơn vị xã,phường triển khai, tổ chức tốt công tác chuẩn bị và tổ chức thực hiện đầu tư xâydựng các dự án đã ghi kế hoạch vốn năm 2014, 2015 tập trung vào các công trình:Trường học, Trạm y tế, đường GTNT và hạ tầng các dự án đất tái định cư, đất đấugiá, đất dân cư dịch vụ của các xã, phường; Hoàn thành việc đấu nối dự án cấpnước sạch xã Tương Giang đưa vào sử dụng; Đang thực hiện việc đấu nối đườngống cấp nước sạch xã Tam Sơn với dự án nước sạch xã Tương Giang; xã HươngMạc và Phù Khê đang thực hiện dự án cung cấp nước sạch theo dự án nhà máynước sạch Tam Giang Yên Phong sử dụng vốn ODA; đối với phường Châu Khê đãxin chủ trương UBND tỉnh đồng ý cho đấu nối với nhà máy nước An Việt; xã PhùChẩn đấu nối với KCN VSIP; các phường còn lại chưa được sử dụng nước sạch thị
Trang 38xã đã phối hợp với Sở Xây dựng đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án xây dựng mạnglưới cung cấp nước sạch cho các xã, phường.
b Công tác quy hoạch
Thị xã đã hoàn thành quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của thị xãđến năm 2020 tầm nhìn 2030, thông qua Hội đồng thẩm định tỉnh và trình UBNDtỉnh phê duyệt Thị xã thực hiện điều chỉnh và trình UBND tỉnh phê duyệt quyhoạch chi tiết khu du lịch - văn hóa Đền Đầm để xây dựng Nhà văn hóa khu phốYên Lã 1 và xin khảo sát xây dựng Nhà văn hóa khu phố Nội Trì Thị xã đã thựchiện quy hoạch 05 dự án và phê duyệt 06 đồ án quy hoạch giao thông và hạ tầng thị
xã Điều chỉnh cục bộ quy hoạch chung các xã: Tam Sơn, Tương Giang và HươngMạc có quy hoạch khu xử lý rác thải và nghĩa trang theo quy hoạch vùng củaUBND tỉnh Bắc Ninh
Thị xã cũng đã lập xong Dự án đầu tư xây dựng Nhà máy xử lý chất thảidinh hoạt và trình UBND tỉnh phê duyệt UBND tỉnh đã có văn bản về việc khảosát lập dự án đầu tư xây dựng đường vào khu xử lý chất thải; Khu chôn lấp phế thảirắn, vật liệu xây dựng thông thường đã được quy hoạch trình UBND tỉnh
Bên cạnh đó, thị xã cũng đã xin cấp giấy phép xây dựng nhà và quản lý, xử
lý vi phạm về xây dựng, giao thông, dô thị đảm bảo đúng trình tự, quy định; cấpđược 186/193 giấy phép xây dựng đạt 96,37%, kiểm tra được gần 69 công trình xâydựng qua kiểm tra xử phạt vi phạm hành chính 13 trường hợp phạt 142,5 triệuđồng Chỉ đạo các cơ quan liên quan hoàn thành tốt việc giải tỏa, phân luồng không
để xảy ra ùn tắc giao thông vào giờ cao điểm, ngày lễ, tết
3.1.2.4 Tăng trưởng và cơ cấu kinh tế
a Công nghiệp - TTCN
Sản xuất công nghiệp năm 2014 tăng trưởng đột biến so cùng kỳ, đặc biệt làkhu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Toàn thị xã hiện có 1185 doanh nghiệpđăng ký, trong đó hiện có 853 doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 103 doanhnghiệp so với cùng kỳ năm 2013
Gía trị sản xuất công nghiệp - TTCN ước 19398 tỷ đồng, đạt 240% KH, tăng87,6% so cùng kỳ Trong đó: kinh tế tư nhân, hộ cá thể 4590 tỷ đồng, giảm 12,8%
so cùng kỳ, chiếm 23,6%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 14582 tỷ tăng 3 lần so
Trang 39cùng kỳ, chiếm 75,1%; kinh tế nhà nước đạt 226 tỷ đồng, tăng 22,9% so cùng kỳ,chiếm 1,3%.
Bảng 3.3 Kết quả phát triển kinh tế của thị xã Từ Sơn
CC (%)
GT (tỷ đồng)
CC (%)
GT (tỷ đồng)
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo thống kê thị xã Từ Sơn
b Sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới
Chỉ đạo các xã, phường tập trung triển khai kế hoạch sản xuất theo đúng kếhoạch kịp thời vụ Toàn thị xã ước gieo trồng đcược 5094 ha đạt 97,5% KH, bằng96% so cùng kỳ; trong đó diện tích lúa 4742 ha, 102,4% KH, bằng 96,4% so cùng
kỳ, năng suất lúa đạt 52,9 tạ/ha; cây rau màu các loại 270,5 ha, 117% KH bằng93,1% so cùng kỳ Tổng thời điểm điều tra 1/4: Bò 89 con, giảm 41 con so cùng kỳ,lợn 27512 con, giảm 1,3% so cùng kỳ; tổng đàn gia cầm 309276 con, tăng 1,7% socùng kỳ (Phòng thống kê thị xã Từ Sơn, 2014)
Giá trị sản xuất nông nghiệp - thủy sản cả năm ước tính đạt 161,2 tỷ đồng,bằng 104,4% KH, 88% so cùng kỳ; trong đó: trồng trọt đạt 50,7 tỷ đồng, bằng 92%
so cùng kỳ, thủy sản: 9,7 tỷ đồng bằng 93% so cùng kỳ Tiếp tục chỉ đạo các xã,phường thực hiện các biện pháp khủ trùng tiêu đọc xử lý môi trường, vệ sinhchuồng trại, phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm (Phòng thống kê thị xã TừSơn, 2014)
Đã trình UBND tỉnh xét công nhận xã Tương Giang và xã Phù Khê đạtchuẩn Nông thôn mới; phê duyệt đề án xây dựng NTM cho 2 xã Phù Chẩn và TamSơn tiếp tục chỉ đạo các xã triển khai chương trình xây dựng NTM hoàn thành Đề
Trang 40án xây dựng NTM đã được phê duyệt theo quy định; ưu tiên triển khai các dự ánxây dựng cơ sở hạ tầng các chương trình cấp bách trên cơ sở khả năng cân đốinguồn vốn.
Hưởng ứng tết trồng cây, thị xã đã tổ chức Lễ phát động tết trồng cây năm
2014, đồng thời chỉ đạo các xã, phường tổ chức phát động tết trồng cây đầu xuânGiaps Ngọ và trồng cây năm 2014; kết quả toàn thị xã đã trồng được 1000 cây phântán các loại, đạt 38,4% kế hoạch (KH) năm (Phòng thống kê thị xã Từ Sơn, 2014)
c Thương mại - dịch vụ
Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ ước 8134 tỷ đồng, đạt100% KH, tăng 18,4 so với cùng kỳ Hoạt động bưu chính viễn thông tiếp tục pháttriển, doanh thu ước 76,9 tỷ đồng, tăng 12,3% so cùng kỳ Tổng thu tiền mặt quangân hàng ước 177954 tỷ đồng, tăng 12% so cùng kỳ, chi tiền mặt qua ngân hàng
173769 tỷ đồng, tăng 15% so cùng kỳ; Tổng nguồn vốn huy động 13420 tỷ đồng,đạt 111,8% KH tăng 10% so cùng kỳ, tổng dư nợ tín dụng 17120 tỷ đồng, đạt114,1% KH tăng 8% so cùng kỳ
d Công tác thu chi ngân sách
Tổng thu ngân sách Nhà nước trên đại bàn ước 689,3 tỷ đồng, đạt 101,6% KHnăm, tăng 8,2% so cùng kỳ, các khoản giao thị xã thu ước đạt 134,3 tỷ đồng,đạt
103% KH bằng 93,2% so cùng kỳ; thu từ tiền đất ước 250 tỷ đồng, đạt 100% so KH
Tổng chi ngân sách 509,1 tỷ đồng đạt 120,3% KH, 98,2% so cùng kỳ, trongđó: chi trong cân đối 267,8 tỷ đồng đạt 100% so KH, bằng 82,3% so cùng kỳ; chiđầu tư từ nguồn qũy đất đấu giá tạo vốn 212,4 tỷ đồng đạt 144,5% KH bằng121,6% so cùng kỳ
3.1.2.5 Điều kiện văn hóa – xã hội
a Công tác giáo dục
Qui mô trường lớp được giữ vững, số học sinh có tăng so với cùng kỳ: tỷ lệhuy động trẻ vào nhà trẻ mẫu giáo tăng hơn cùng kỳ; Khối tiểu học tăng 8 lớp (540HS); THCS tăng 11 lớp ( 843 HS) so với cùng kỳ Cơ sở vật chất tiếp tục được cáccấp các ngành quan tâm; tỷ lệ kiên cố hóa trường lớp học ( chỉ tính phòng họcthông thường); 93,1% (mầm non 82,2%, TH 95,3%, THCS 97,6%), 98% trường đạtchuẩn quốc gia Chất lượng đại trà ổn định và ngày càng thực chất hơn, tỷ lệ tốt