QUẢN LÝ RỦI RO TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH GIỐNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GIỐNG CÂY TRỒNG MIỀN NAM Hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với những rủi ro, tổn thất có thể xảy ra đến từ khách quan hay chủ quan. Quản lý rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh là xu thế tất yếu nhằm đem lại lợi ích cho cả doanh nghiệp và người tiêu dùng, quản lý rủi ro gắn liền với việc dự báo các tổn thất có thể xảy ra và giảm thiểu những tác động của chúng thay vì chỉ dừng lại ở việc đương đầu với rủi ro một khi chúng xảy ra. Phải lấy phòng ngừa rủi ro làm chính, đúng như mọi người thường nói: “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Nếu biết quan tâm đúng mức đến rủi ro thì doanh nghiệp sẽ có thể loại bỏ mầm mống, không để xảy ra, hoặc lỡ xảy ra thì hậu quả cũng không quá lớn. Phải chấp nhận mạo hiểm, tức thừa nhận các rủi ro nhỏ để đạt tới lợi ích cao hơn. Nghiên cứu được thực hiện tại công ty Giống cây trồng Miền Nam, một trong những công ty lâu đời và có uy tín trên thị trường giống cây trồng Việt Nam, nhằm nghiên cứu mức độ kiểm soát, cảnh báo và xử lý rủi ro của bộ máy quản lý rủi ro của công ty, đánh giá mức độ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh, từ đó làm cơ sở đề xuất các biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả của bộ máy quản lý rủi ro, đưa công ty phát triển theo đúng định hướng. Nghiên cứu cho thấy đã thấy tác động tiêu cực của các công nợ khách hàng đến quản lý vốn của công ty cũng như sự bất lực của công ty trong nỗ lực nhằm làm giảm thiểu tổn thất do quản lý công nợ gây ra. Bên cạnh đó còn có rủi ro về sản xuất do thời tiết, khí hậu và công tác tổ chức chỉ đạo sản xuất, rủi ro về dự trữ và thu mua sản phẩm, do giá cả thu mua sản phẩm tại thời điểm có nhiều biến động làm cho công tác tổ chức thu mua gặp nhiều khó khăn, không thu mua đủ sản lượng theo kế hoạch làm giảm sản lượng cung ứng dẫn đến giảm doanh thu và lợi nhuận, đặc biệt là mất cơ hội ký các hợp đồng mua bán với khách hàng tiềm năng do khách hàng không tin vào khả năng đáp ứng của công ty. Vì vậy, nguy cơ mất khách hàng cho những đối thủ cạnh tranh bán sản phẩm cùng loại. Trong quá trình SXKD công ty đã có nhiều cơ hội trong việc khai thác thị trờng tiêu thụ rộng lớn, như¬ng bên cạnh đó cũng gặp phải những rủi ro chủ yếu như: rủi ro trong sản xuất, rủi ro trong thu mua và dự trữ sản phẩm,..Mặt khác, công ty SSC cũng gặp khó khăn như nhân sự trong công tác phòng ngừa rủi ro do vậy đã làm ảnh hưởng tới lợi nhuận chung của công ty. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng rủi ro và quản lý rủi ro tại công ty đề tài tiến hành phân tích ma trận SWOT để lựa chọn chiến l¬ược, từ đó đ¬a ra một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác quản lý rủi ro trong SXKD giống và đề tài đ¬a ra kế hoạch cụ thể nhằm tổ chức triển khai thực hiện. Xây dựng chiến l¬ược quản lý rủi ro hoàn hảo sẽ giảm thiểu các tổn thất trong quá trình sản xuất kinh doanh, dự báo được các tổn thất có thể xảy ra, làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh và duy trì sự phát triển bền vững của công ty Do vậy, biện pháp đề xuất hướng vào các biện pháp sau: Xây dựng chiến lược quản lý rủi ro trong sản xuất kinh doanh một cách hoàn hảo. Cần lập ban quản lý rủi ro trong sản xuất kinh doanh để kịp thời ứng phó với những tình huống xảy ra. Nâng cao chất lượng sản phẩm bằng cách kiểm soát chặt chẽ quy trình sản xuất và quy trình kiểm tra chất lượng nguyên liệu đầu vào cũng như sản phẩm đầu ra về tính ổn định của chất lượng sản phẩm và đa dạng sản phẩm kinh doanh; giảm giá thành để nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm bằng cách kiểm soát chặt chẽ các chi phí trong sản xuất, chi phí nhập khẩu và chi phí bán hàng, giảm bớt hàng hư hỏng,... tăng năng suất lao động. Định giá thu mua nguyên liệu hợp lý, kịp thời vụ và dự trữ sản phẩm vừa đủ, tăng cường dịch vụ sau bán hàng, thu hồi công nợ. Cần có kế hoạch tổ chức thu mua, dự trữ và chế biến sản phẩm phù hợp để nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty Hoàn thiện công tác quản lý và đào tạo nguồn nhân lực. Tìm kiếm và đào tạo đội ngũ nhân viên cho công ty và luôn tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các nhân viên, để họ có cơ hội phát huy được thế mạnh của mình. Lên kế hoạch thực hiện, theo dõi, giám sát và điều chỉnh trong sản xuất kinh doanh. Sau khi có chiến lược quản lý rủi ro thì cần lập kế hoạch thực hiện chi tiết và chuyền tải nội dung đến tất cả những người có liên quan để họ hiểu rõ được mục tiêu của kế hoạch và cùng nhau hướng tới mục tiêu đó. Trong quá trình thực hiện phải theo dõi giám sát và điều chỉnh kịp thời khi có biến cố trong sản xuất và trên thị trường tránh tổn thất xảy ra. Vai trò ý nghĩa của quản lý rủi ro trong sản xuất kinh doanh giống Mọi doanh nghiệp hoạt động đều hướng tới mục tiêu tạo lợi thế cạnh tranh và đem lại giá trị tăng thêm cho những đối tác bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp gắn kết chặt chẽ với các hoạt động của mình. Để đạt được mục tiêu đó, doanh nghiệp thường xây dựng cho mình chiến lược hoạt động cùng hàng loạt những chương trình, kế hoạch để thực thi những chiến lược đã đề ra. Trong quá trình thực thi chiến lược sẽ thường có nhiều rủi ro xảy ra làm ảnh hưởng đến quá trình tiến tới mục tiêu của doanh nghiệp. Sự hiểu biết quản lý rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh là khả năng của chúng ta trong mối tương quan so sánh với các đối thủ cạnh tranh liên quan đến việc đánh giá một rủi ro. Sự hiểu biết đó phụ thuộc vào các lợi thế thông tin và việc ứng dụng các lợi thế đó như thế nào. Vì vậy, quản lý rủi ro là bộ phận không thể tách rời với chiến lược của doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là chiến lược của doanh nghiệp sẽ được xem là không đầy đủ nếu thiếu vắng sự gắn kết với quản lý rủi ro (Đỗ Hoàng Toàn và cs., 2008). Có nhiều loại rủi ro được xâm nhập từ bên ngoài doanh nghiệp cũng như phát sinh bên trong doanh nghiệp. Rủi ro thường được phân loại vào những nhóm chính như rủi ro chiến lược, rủi ro hoạt động, rủi ro tài chính, rủi ro tỷ giá, rủi ro quản lý tri thức và rủi ro tuân thủ. Rủi ro tỷ giá mà nhà xuất nhập khẩu và nhà đầu tư quốc tế phải đối mặt là rủi ro cơ bản nhất trong thương mại và đầu tư quốc tế mà thương mại và đầu tư nội địa không có. Những biến động không lường trước được của tỷ giá ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu, chi phí và hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Tỷ giá là biến số rất nhạy cảm với tình hình kinh tế, chính trị xã hội của các nước và khu vực kinh tế quan trọng trên thế giới, tỷ giá thường xuyên biến động phức tạp, khó lường là kết quả của mối quan hệ mật thiết, phụ thuộc ảnh hưởng lẫn nhau ngày càng gia tăng giữa các thị trường tài chính của các quốc gia và khu vực từ quá trình toàn cầu hoá. Dù nguyên nhân nào gây nên sự biến động dữ dội của tỷ giá ngày nay thì điều cần thiết đối với các nhà kinh doanh, các nhà quản lý là phải thực hiện quản lý rủi ro cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình một cách có hiệu quả. Thương mại và đầu tư quốc tế càng phát triển thì vấn đề phát hiện rủi ro và sử dụng linh hoạt các công cụ phòng ngừa rủi ro càng trở nên cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp. Vì vậy trong sản xuất kinh doanh giống, một ngành mà chịu rất nhiều ảnh hưởng của các yếu tố gây ra rủi ro cho doanh nghiệp thì việc quản lý rủi ro giúp trong sản xuất giảm thiểu được thiệt hại, nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh. Giúp trong sản xuất kinh doanh một cách chủ động ứng phó với những tác động nhất là các tác động khách quan mang đến rủi ro. Rủi ro thường có tác động dây chuyền và cộng hưởng. Do đó, doanh nghiệp phải chủ động xây dựng cho mình quy trình đánh giá và quản trị rủi ro phù hợp, nhằm tự vệ trước biến động khôn lường của thị trường. Rủi ro kinh doanh bắt nguồn từ vô số các hoạt động giao dịch liên quan trực tiếp đến tài chính như sản xuất, mua bán, đầu tư, vay nợ và một số hoạt động kinh doanh khác hoặc là hệ quả gián tiếp của các chính sách thay đổi trong quản lý, trong cạnh tranh, trong các quan hệ quốc tế và thậm chí có thể chỉ do sự thay đổi của thời tiết hay khí hậu. Nếu quan sát kỹ các biến động về tài chính, có thể nhận ra được các nguồn chính gây ra rủi ro về tài chính bao gồm: Rủi ro phát sinh từ sự thay đổi bên ngoài về giá cả thị trường như lãi suất, tỷ giá; Rủi ro phát sinh từ các hoạt động hay giao dịch với các đối tác trong kinh doanh như nhà cung cấp, khách hàng, các đối tác trong giao dịch phát sinh; Rủi ro phát sinh ngay chính nội bộ doanh nghiệp, những thay đổi từ bên trong liên quan đến nhân sự, cơ cấu tổ chức hoặc quy trình sản xuất kinh doanh (Ngô Ngọc Huyền và cs., 2007). Quy trình quản lý rủi ro được thiết kế mang tính đồng bộ và có sự gắn kết với việc xây dựng và thực thi chiến lược của doanh nghiệp. Về cơ bản quy trình quản lý rủi ro cần chứa đựng những giai đoạn hay bước công việc cơ bản như xác định rủi ro, mô tả rủi ro, xử lý rủi ro, theo dõi và rà soát quy trình quản lý rủi ro (Nguyễn Dương và Ngọc Quyên, 2005). Quản trị rủi ro gắn liền với quản lý tài chính dự án hoặc quản lý tài chính doanh nghiệp với mục đích giúp doanh nghiệp kiểm soát chi phí và hạn chế tổn thất có thể xảy ra đến mức thấp nhất. Cụ thể trong ngắn hạn, chi phí phòng ngừa phải nhỏ hơn thiệt hại có thể xảy ra nếu không có biện pháp chống đỡ và trong dài hạn, chi phí quản lý rủi ro phải nhỏ hơn nhiều so với tổn thất mà biến động về giá cả, dự trữ, tỷ giá có thể gây ra. Thực chất quá trình quản trị rủi ro là quá trình quan sát, phân tích sự vận động của các rủi ro trong những điều kiện kinh tế cụ thể để dự báo mức độ thay đổi của từng yếu tố trong tương lai, ra quyết định và thực hiện những biện pháp phòng ngừa cho các luồng tiền liên quan đến ngoại tệ của doanh nghiệp nhằm hạn chế tối đa tổn thất tài chính do sự biến động của từng yếu tố rủi ro gây nên trước khi nó trở thành hiện thực (Nguyễn Dương và Ngọc Quyên, 2005). Vì vậy, việc quan trọng nhất trong quản trị rủi ro là phải xây dựng được quy trình quản lý rủi ro. Thông thường quản lý rủi ro được chia làm các bước sau đây: Nhận dạng rủi ro: Đây là bước đầu tiên nhằm tìm hiểu cặn kẽ về bản chất của rủi ro. Cách đơn giản và trực tiếp nhất là liệt kê từng nhân tố và các biến cố có thể gây ra rủi ro. Cách làm rõ bản chất của rủi ro là: + Thứ nhất: Nhận dạng những tác nhân kinh tế có thể gây ra rủi ro, ví dụ như yếu tố lãi suất, lạm phát, tỷ giá hối đoái, tăng trưởng kinh tế,... Mỗi dạng rủi ro có những đặc trưng cơ bản và phương thức quản trị khác nhau do vậy cần nhận dạng chính xác loại rủi ro đang phải đối mặt. Căn cứ vào tác động của thị trường đến sự thay đổi tăng hoặc giảm các luồng tiền trong tương lai bằng nội tệ hoặc ngoại tệ, nhà quản lý có thể nhận dạng loại rủi ro mà doanh nghiệp đang phải đối mặt là rủi ro nghiệp vụ, rủi ro trong hoạt động sản xuất, rủi ro kinh tế hay rủi ro chuyển đổi. + Thứ hai: Tìm hiểu xem chiều hướng có thể gây ra rủi ro, ví dụ việc Ngân hàng Trung ương tăng lãi suất sẽ tác động giá cả chứng khoán như thế nào? + Thứ ba: Kiểm tra lại xem biểu hiện rủi ro đang phân tích có phụ thuộc vào biến cố nào khác hay không, chẳng hạn công ty có biểu hiện rủi ro trong trường hợp không được tín nhiệm của khách hàng... Ước tính, định lượng rủi ro: Bước này sẽ đo lường mức độ phản ứng của công ty đối với các nguồn gốc rủi ro đã xác định ở trên. Cụ thể, dùng một phương pháp giả định nếu có nhân tố rủi ro thì công ty được gì và mất gì. Đánh giá tác động của rủi ro: Để đánh giá rủi ro người ta thường làm bài toán chi phí và lợi tức. Đôi khi, việc quản lý rủi ro tiêu tốn nhiều nguồn lực của công ty như tiền bạc và thời gian, do đó cần phải cân nhắc xem liệu việc quản lý rủi ro như vậy có thực sự đem lại lợi ích lớn hơn chi phí bỏ ra để thực hiện nó hay không. Đánh giá năng lực của người thực hiện chương trình bảo hiểm rủi ro Để quản lý rủi ro có hai chiến lược: Thứ nhất: Dựa vào một tổ chức tài chính chuyên nghiệp, thuê họ thiết kế một giải pháp quản lý rủi ro cụ thể, thích hợp với chiến lược quản lý của công ty. Thứ hai: Tự công ty đứng ra thực hiện phòng chống rủi ro bằng cách sử dụng các công cụ chứng khoán phái sinh như chứng quyền, quyền chọn, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai,... đồng thời xây dựng một đội ngũ nhân viên của công ty có khả năng lập và thực hiện hàng rào chống rủi ro. Vấn đề này đòi hỏi nhân viên công ty vừa phải thiết kế đúng lại vừa phải thực hiện chương trình phòng chống rủi ro bởi quản lý rủi ro cần phải được theo dõi thường xuyên và điều chỉnh kịp thời với sự biến đổi của thời gian. Lựa chọn công cụ và quản trị rủi ro thích hợp Đây là bước mấu chốt cuối cùng trong việc xây dựng chiến lược quản trị rủi ro. Trong bước này nhà quản lý phải chọn một giải pháp cụ thể. Chẳng hạn, đối với các công cụ trên thị trường hối đoái, người ta có thể sử dụng hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn,... làm công cụ phòng chống rủi ro, công cụ này có ưu điểm là có tính thanh khoản cao và có hiệu quả về giá. Tuy nhiên, công cụ này không linh động, không khắc phục được rủi ro cố hữu mà chi phí theo dõi lại khá tốn kém. Quyết định có nên phòng ngừa hay không Quyết định thực hiện phòng ngừa hay không được đưa ra trên cơ sở so sánh mức tổn thất có khả năng xảy ra với một tiêu chí nhất định nào đó, chẳng hạn như chi phí cần thiết để thực hiện phòng ngừa hoặc khả năng chịu rủi ro tối đa của doanh nghiệp hay mức lãilỗ của mỗi thương vụ... Tuỳ theo quan điểm của các nhà quản lý của từng doanh nghiệp, các tiêu chí được lựa chọn để so sánh sẽ khác nhau và ngay cả trong một doanh nghiệp, các tiêu chí được lựa chọn để so sánh vào những thời kỳ khác nhau cũng có thể không giống nhau. Nhìn chung, quyết định thực hiện phòng ngừa, phòng ngừa bao nhiêu và phòng ngừa như thế nào? tuỳ thuộc vào mức độ chịu đựng rủi ro và dự báo mức độ biến động của từng yếu tố rủi ro trong kỳ tính toán của các nhà quản lý. Lựa chọn kỹ thuật phòng ngừa hiệu quả nhất trong số các kỹ thuật khác nhau có thể. Trong tất cả các quyết định liên quan đến chi phí, doanh nghiệp bao giờ cũng hướng đến mục tiêu tối đa hoá chi phí vì thế nếu quyết định phòng ngừa, doanh nghiệp sẽ lựa chọn kỹ thuật phòng ngừa nào có hiệu quả nhất trong số các kỹ thuật khác nhau có thể. Hiệu quả nhất được hiểu là kỹ thuật đó phải phù hợp với đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp đồng thời có chi phí thấp nhất.
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
QUẢN LÝ RỦI RO TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH GIỐNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GIỐNG CÂY TRỒNG
MIỀN NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 2
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với những rủi ro,tổn thất có thể xảy ra đến từ khách quan hay chủ quan Quản lý rủi ro trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh là xu thế tất yếu nhằm đem lại lợi ích cho cả doanhnghiệp và người tiêu dùng, quản lý rủi ro gắn liền với việc dự báo các tổn thất cóthể xảy ra và giảm thiểu những tác động của chúng thay vì chỉ dừng lại ở việcđương đầu với rủi ro một khi chúng xảy ra Phải lấy phòng ngừa rủi ro làm chính,đúng như mọi người thường nói: “Phòng bệnh hơn chữa bệnh” Nếu biết quan tâmđúng mức đến rủi ro thì doanh nghiệp sẽ có thể loại bỏ mầm mống, không để xảy
ra, hoặc lỡ xảy ra thì hậu quả cũng không quá lớn Phải chấp nhận mạo hiểm, tứcthừa nhận các rủi ro nhỏ để đạt tới lợi ích cao hơn
Nghiên cứu được thực hiện tại công ty Giống cây trồng Miền Nam, một trongnhững công ty lâu đời và có uy tín trên thị trường giống cây trồng Việt Nam, nhằmnghiên cứu mức độ kiểm soát, cảnh báo và xử lý rủi ro của bộ máy quản lý rủi rocủa công ty, đánh giá mức độ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh, từ đó làm cơ sở đềxuất các biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả của bộ máy quản lý rủi ro, đưa công
ty phát triển theo đúng định hướng
Nghiên cứu cho thấy đã thấy tác động tiêu cực của các công nợ khách hàngđến quản lý vốn của công ty cũng như sự bất lực của công ty trong nỗ lực nhằm làmgiảm thiểu tổn thất do quản lý công nợ gây ra Bên cạnh đó còn có rủi ro về sản xuất
do thời tiết, khí hậu và công tác tổ chức chỉ đạo sản xuất, rủi ro về dự trữ và thumua sản phẩm, do giá cả thu mua sản phẩm tại thời điểm có nhiều biến động làmcho công tác tổ chức thu mua gặp nhiều khó khăn, không thu mua đủ sản lượng theo
kế hoạch làm giảm sản lượng cung ứng dẫn đến giảm doanh thu và lợi nhuận, đặcbiệt là mất cơ hội ký các hợp đồng mua bán với khách hàng tiềm năng do kháchhàng không tin vào khả năng đáp ứng của công ty Vì vậy, nguy cơ mất khách hàngcho những đối thủ cạnh tranh bán sản phẩm cùng loại
Trong quá trình SXKD công ty đã có nhiều cơ hội trong việc khai thác thị ờng tiêu thụ rộng lớn, nhưng bên cạnh đó cũng gặp phải những rủi ro chủ yếu như:rủi ro trong sản xuất, rủi ro trong thu mua và dự trữ sản phẩm, Mặt khác, công tySSC cũng gặp khó khăn như nhân sự trong công tác phòng ngừa rủi ro do vậy đã làm
Trang 3tr-ảnh hưởng tới lợi nhuận chung của công ty.
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng rủi ro và quản lý rủi ro tại công ty đề tài tiếnhành phân tích ma trận SWOT để lựa chọn chiến lược, từ đó đa ra một số giải pháp chủyếu nhằm tăng cường công tác quản lý rủi ro trong SXKD giống và đề tài đa ra kế hoạch
cụ thể nhằm tổ chức triển khai thực hiện
Xây dựng chiến lược quản lý rủi ro hoàn hảo sẽ giảm thiểu các tổn thất trong quátrình sản xuất kinh doanh, dự báo được các tổn thất có thể xảy ra, làm tăng hiệu quả sảnxuất kinh doanh và duy trì sự phát triển bền vững của công ty
Do vậy, biện pháp đề xuất hướng vào các biện pháp sau:
- Xây dựng chiến lược quản lý rủi ro trong sản xuất kinh doanh một cách hoànhảo Cần lập ban quản lý rủi ro trong sản xuất kinh doanh để kịp thời ứng phó vớinhững tình huống xảy ra
- Nâng cao chất lượng sản phẩm bằng cách kiểm soát chặt chẽ quy trình sảnxuất và quy trình kiểm tra chất lượng nguyên liệu đầu vào cũng như sản phẩm đầu
ra về tính ổn định của chất lượng sản phẩm và đa dạng sản phẩm kinh doanh; giảmgiá thành để nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm bằng cách kiểm soát chặt chẽcác chi phí trong sản xuất, chi phí nhập khẩu và chi phí bán hàng, giảm bớt hàng hưhỏng, tăng năng suất lao động Định giá thu mua nguyên liệu hợp lý, kịp thời vụ
và dự trữ sản phẩm vừa đủ, tăng cường dịch vụ sau bán hàng, thu hồi công nợ
- Cần có kế hoạch tổ chức thu mua, dự trữ và chế biến sản phẩm phù hợp đểnâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty
- Hoàn thiện công tác quản lý và đào tạo nguồn nhân lực Tìm kiếm và đào tạođội ngũ nhân viên cho công ty và luôn tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh giữacác nhân viên, để họ có cơ hội phát huy được thế mạnh của mình
- Lên kế hoạch thực hiện, theo dõi, giám sát và điều chỉnh trong sản xuất kinhdoanh Sau khi có chiến lược quản lý rủi ro thì cần lập kế hoạch thực hiện chi tiết vàchuyền tải nội dung đến tất cả những người có liên quan để họ hiểu rõ được mụctiêu của kế hoạch và cùng nhau hướng tới mục tiêu đó Trong quá trình thực hiệnphải theo dõi giám sát và điều chỉnh kịp thời khi có biến cố trong sản xuất và trênthị trường tránh tổn thất xảy ra
Trang 4THESIS ABSTRACT
Business activities of enterprises are faced with the risks and losses that mayoccur from objective or subjective Risk management in production and businessactivities is inevitable in order to bring benefits to both businesses and consumers,and risk management associated with the prediction of probable losses andminimize their impacts instead of just stopping at dealing with risks as theyoccur Must take precautions as the main risk, as people often say: "Prevention isbetter than cure".If you know the proper attention to risk, enterprises will be able toremove the germ, not to occur, or miss occurs, the consequences are not toolarge Must take risks, which recognizes the small risk to achieve higher benefits
The study was conducted in the Southern Seed Company, one of the oldestcompanies and reputable seed market Vietnam plant, to study the degree of control,warning and risk treatment and risk management apparatus of the company, assessthe impact on business results, thereby making the proposed facility measures toenhance the effectiveness of risk management apparatus, making the company grow
in the right direction
Research shows that have seen the negative impact of customer liabilities tothe company's capital management also as the inability of the company in an effort
to minimize losses caused debt management Besides, there is a risk of productiondue to weather, climate and directing the organization of production, reserve riskand purchasing products, so product purchase price at the time of many changesmake up the organization of procurement difficulties, not purchasing enough output asplanned to reduce production supply leads to reduced revenues and profitability,especially the loss of the opportunity to sign the purchase agreement with potentialcustomers because customers do not believe in the ability of the company tomeet Therefore, the risk of losing customers to competitors selling similar products
In the process of business the company has more opportunities to exploit thevast consumer market, besides offensive stats also encounter major risks such as:risks in production, risks in purchasing and product reserves, On the other hand,the company also had difficulty SSC as personnel in the prevention of risks thusaffecting the overall profitability of the company
Trang 5On the basis of research and risk situation risk management in companiessubject to conduct a SWOT analysis matrix to select a strategic, thereby some keymeasures to strengthen risk management in rice seed business and subject specificplans to organize the implementation
Develop a strategic perfect risk management will minimize the loss ofproduction and business processes, predict losses can occur, increase businessefficiency and maintain the sustainable development of the company
Therefore, proposed measures focus on the following measures:
- Developing risk management strategies in production businessperfectly.Should establish risk management committee in producing business totimely respond to the situations that occur
- Enhance product quality by strict control of manufacturing processes andquality control processes materials input and output on the stability of productquality and product diversity of business; reduce costs to improve productcompetitiveness by tight control of costs in the production, import costs and cost ofsales, reduce damaged goods, increase labor productivity Valuation reasonableprocurement of raw materials, timely product service and sufficient reserves,strengthen after-sales service, debt collection
- For organizations planning to procurement, storage and processing ofproducts appropriate to enhance the business efficiency of the company
- Improving the management and training of human resources Search andtraining of staff for the company, and always create a healthy competitive environmentamong employees, so that they have the opportunity to promote their strengths
- Plan implementation, monitoring, monitoring and adjustments inproduction and business After having risk management strategy, it is necessary toplan the implementation details and conveyor content to all relevant people so thatthey understand the goals of the plan and work together towards that goal In theprocess of implementation must be monitored and adjusted in time when events inproduction and on the market to avoid losses
Trang 6MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn i
Trích yếu luận văn iv
Thesis Abstract vi
Mục lục viii
Danh mục bảng x
Danh mục từ viết tắt xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Lý luận về quản lý rủi ro trong sản xuất kinh doanh giống 4
2.1.1 Một số khái niệm liên quan 4
2.1.2 Vai trò ý nghĩa của quản lý rủi ro trong sản xuất kinh doanh giống 8
2.1.3 Các nguyên nhân rủi ro trong sản xuất kinh doanh giống 12
2.1.4 Nội dung rủi ro trong sản xuất kinh doanh giống 17
2.1.5 Nội dung quản lý rủi ro trong sản xuất kinh doanh giống 20
2.2 Cơ sở thực tiễn 28
2.2.1 Đặc điểm ngành giống cây trồng 28
2.2.2 Thực trạng sản xuất kinh doanh giống cây trồng ở Việt Nam 28
2.2.3 Kinh nghiệm quản lý rủi ro trong sản xuất kinh doanh giống của công ty ở Việt Nam 30
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 33
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33
3.1.1 Khái quát về công ty và tình hình sản xuất kinh doanh giống của công ty cổ phần giống cây trồng Miền Nam 33
3.1.2 Khái quát địa bàn hoạt động của công ty 41
Trang 73.2 Phương pháp nghiên cứu 42
3.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu (tài liệu thứ cấp và sơ cấp) 42
3.2.2 Phương pháp thống kê kinh tế 42
3.2.3 Phương pháp chuyên gia 43
3.2.4 Phương pháp dự báo 43
3.2.5 Phương pháp phân tích ma trận SWOT 43
3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 45
Phần 4 Kết quả và thảo luận 46
4.1 Thực trạng rủi ro trong sản xuất kinh doanh giống tại công ty cổ phần giống cây trồng Miền Nam 46
4.1.1 Rủi ro trong sản xuất của công ty 46
4.1.2 Rủi ro trong kinh doanh của công ty 52
4.1.3 Nguyên nhân rủi ro trong sản xuất kinh doanh tại công ty 61
4.2 Thực trạng quản lý rủi ro của công ty 62
4.2.1 Nhận dạng rủi ro của công ty 62
4.2.2 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của rủi ro đến kết quả sản xuất kinh doanh của công ty 64
4.2.3 Ứng xử của công ty đối với rủi ro trong sản xuất kinh doanh 74
4.2.4 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro trong sản xuất kinh doanh giống tại Công ty cổ phần giống cây Miền Nam 93
4.3 Đề xuất các giải pháp nhằm quản lý hiệu quả rủi ro trong sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần giống cây trồng Miền Nam 110
4.3.1 Xây dựng định hướng chiến lược cho công ty 110
4.3.2 Tăng cường nguồn lực của công ty 111
4.3.3 Tổ chức thực hiện tốt quản lý rủi ro 112
4.3.4 Nghiên cứu dự báo tốt về các yếu tố khách quan 114
4.3.5 Nâng cao năng lực cán bộ trong quản lý rủi ro 116
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 118
5.1 Kết luận 118
5.2 Kiến nghị 119
Tài liệu tham khảo 121
Phụ lục 122
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Chiến lược đối phó rủi ro do môi trường kinh tế 15
Bảng 2.2 Phân loại rủi ro theo giá trị doanh nghiệp 21
Bảng 2.3 Ma trận đo lường rủi ro 23
Bảng 2.4 Tình hình sản xuất và cung ứng giống cây trồng phân theo nhóm cây 29
Bảng 3.1 Tình hình lao động của công ty qua các năm (2012 - 2014) 37
Bảng 3.2 Tình hình vốn và nguồn vốn của công ty qua các năm 40
Bảng 3.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty qua các năm 41
Bảng 4.1 Biến động về năng suất và diện tích sản xuất giống của công ty qua các năm 49
Bảng 4.2 Kết quả thu mua giống của công ty qua các năm (2012 - 2014) 51
Bảng 4.3 Tình hình tồn kho của công ty qua các năm (2012 - 2014) 53
Bảng 4.4 Tình hình tài chính của công ty qua các năm (2012 - 2014) 56
Bảng 4.5 Tóm tắt quá trình thanh toán hợp đồng nhập khẩu giống lúa lai qua các năm 59
Bảng 4.6 Nhận dạng rủi ro của công ty 65
Bảng 4.7 Đánh giá mức tổn thất trong sản xuất giống của công ty qua các năm .67
Bảng 4.8 Đánh giá mức tổn thất trong quá trình thu mua sản phẩm của công ty qua các năm 69
Bảng 4.9 Rủi ro trong quá trình dự trữ sản phẩm của công ty qua các năm (2012 - 2014) 70
Bảng 4.10 Chỉ tiêu khả năng sinh lời của công ty năm 2013, 2014 72
Bảng 4.11 Tổn thất vì rủi ro tỷ giá đối với các hợp đồng liên quan đến ngoại tệ của công ty qua các năm 74
Bảng 4.12 Khối lượng sản xuất các loại giống của Công ty (2012-2014) 78
Bảng 4.13 Khối lượng thu mua giống các loại giống của Công ty (2012-2014) 80
Bảng 4.14 Chiến lược về thị trường giá cả 81
Bảng 4.15 Chỉ tiêu khả năng thanh toán của công ty 83
Bảng 4.16 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ 107
Bảng 4.17 Phân tích Ma trận SWOT 109
Trang 10PHẦN 1 MỞ ĐẦU
Việt Nam đã và đang phát triển nền kinh tế thị trường, với các chính sách kinh
tế mở và chiến lược tham gia hội nhập quốc tế Phát triển kinh tế thị trường sẽ đặtnền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng phải đối mặt với những tháchthức, khó khăn trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt mang tính quốc tế nhằmgiành giật khách hàng, mở rộng thị trường ngay trong nước cũng như thế giới.Trong đời sống sinh hoạt và sản xuất hàng ngày, dù muốn hay không, lúc này haylúc khác và dù khoa học kỹ thuật có tiến bộ đến đâu đi nữa, người ta vẫn phải gánhchịu những tổn thất - hậu quả do rủi ro, trong sự tác động của các nguy cơ đưa tới.Quản lý rủi ro trong doanh nghiệp được định nghĩa là một quy trình được thiếtlập bởi hội đồng quản trị, ban quản lý và các cán bộ có liên quan khác áp dụng trongquá trình xây dựng chiến lược của doanh nghiệp thực hiện những sự vụ có khả năngxảy ra gây ảnh hưởng tới doanh nghiệp, đồng thời quản lý rủi ro trong phạm vi chophép nhằm đưa ra mức độ đảm bảo trong việc đạt được các mục tiêu của doanhnghiệp Trong những năm gần đây trước những tác động của lạm phát cao, suythoái kinh tế do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra đối với các doanh nghiệpthì việc quản lý rủi ro trong doanh nghiệp gắn liền với chiến lược phát triển củadoanh nghiệp Một hệ thống quản lý rủi ro tốt sẽ giúp doanh nghiệp đứng vững vàvượt qua những biến động của thị trường
Trong hoạt động sản xuất và kinh doanh giống cây trồng nói riêng, có nhữngđặc thù riêng nên việc phải đối mặt với các rủi ro là rất lớn Với chức năng sản xuấtkinh doanh các sản phẩm về lĩnh vực nông nghiệp mà chủ yếu là hạt giống câytrồng, công ty cổ phần giống cây trồng Miền Nam(SSC) đã quan tâm đến việc xâydựng chính sách và chiến lược quản lý rủi ro để có thể đạt hiệu quả tốt nhất trongsản xuất kinh doanh Trong những năm gần đây công ty SSC đã có nhiều cố gắngtrong việc định ra các chiến lược để giảm thiểu các rủi ro mang lại Hàng năm công
ty sản xuất và kinh doanh một lượng giống khá lớn nhưng trên thị trường có nhiềudiễn biến phức tạp nên công ty thường xuyên phải đối mặt với không ít những rủi ronhư rủi ro về tăng trưởng kinh tế, biến động lãi xuất, biến động tỷ giá, đặc thùnghành, pháp luật và các rủi ro khác Mặc dù công ty cổ phần giống cây trồng Miền
Trang 11Nam(SSC) đã quan tâm đến chiến lược quản lý rủi ro, song việc hoạch định chiếnlược chưa phù hợp với thời cuộc, còn nhiều tồn tại cần giải quyết và khắc phục nhưchưa khai thác hết lợi thế kinh doanh, cơ sở sản xuất còn yếu kém, cơ cấu tài chínhchưa được kiểm soát chặt chẽ, trình độ chuyên môn và năng suất lao động còn thấp.Việc đổi mới cách làm và phát triển các sản phẩm mới phù hợp với thị trường cònchậm, hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm còn lỏng lẻo.Vì vậy việc quản lý vàkhắc phục những yếu kém trên cần được quan tâm nghiên cứu.
Để đảm bảo được quản lý rủi ro được thực hiện được các mục tiêu đã định,việc tổ chức thực hiện phải đảm bảo các yêu cầu : Nâng cao nhận thức về rủi do vàứng phó rủi ro một cách phù hợp, chính thức hóa quá trình rủi ro, xây dựng hệthống quản lý rủi ro một cách thống nhất, đưa quản lý rủi ro thành một phần chính
được tổ chức tốt và vận hành hiệu quả sẽ góp phần tăng thêm giá trị cho doanhnghiệp, cụ thể là: Giúp cải thiện hiệu quả hoạt động và tạo lợi thế cạnh tranh, Gópphần phân bổ và sử dụng hiệu quả những nguồn lực trong doanh nghiệp,Giảm thiểunhững sai sót trong mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp…Nhưng hiện tại chưa cónghiên cứu cụ thể về quản lý rủi ro trong sản xuất kinh doanh giống ở công ty cổphần giống cây trồng Miền Nam(SSC) Xuất phát từ những lý do trên tôi tiến hànhnghiên cứu đề tài:“Quản lý rủi ro trong sản xuất kinh doanh giống của công ty
cổ phần giống cây trồng Miền Nam”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích thực trạng quản lý rủi ro trong sản xuất kinh doanh giống của công
ty cổ phần giống cây trồng Miền Nam, từ đó đề xuất giải pháp nhằm hạn chế rủi rotrong sản xuất kinh doanh giống của công ty trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý rủi
ro trong sản xuất kinh doanh giống
- Phân tích thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro trong sản xuấtkinh doanh giống của công ty cổ phần giống cây trồng Miền Nam
- Đề xuất giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong sản xuất kinh doanh của công
ty cổ phần giống cây trồng Miền Nam trong thời gian tới
Trang 121.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu quản lý rủi ro trong sản xuất kinh doanh của công ty cổ phầngiống cây trồng Miền Nam
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập chung nghiên cứu về rủi ro trong sản xuấtkinh doanh giống và quản lý rủi ro trong sản xuất kinh doanh của công ty cổ phầngiống cây trồng Miền Nam
- Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu tại công ty cổ phần giống câytrồng Miền Nam
- Phạm vi về thời gian:
Thời gian làm luận văn: Tháng 5 năm 2015 đến tháng 5 năm 2016
Thời gian thu thập số liệu nghiên cứu: 4 năm ( từ năm 2012 đến hết tháng 6năm 2015)
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH GIỐNG 2.1.1 Một số khái niệm liên quan
2.1.1.1 Khái niệm về rủi ro
Theo cách suy nghĩ truyền thống: “rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguyhiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắcchắn có thể xảy ra cho con người”
Cho đến nay chưa có được định nghĩa thống nhất về rủi ro Những trườngphái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau.Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, nhưng tập trung lại có thể chiathành hai trường phái lớn: Trường phái truyền thống Trường phái hiện đại Theotrường phái truyền thống, rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất mấtmát, nguy hiểm Nó được xem là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ xảy đến
Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dựkiến Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trìnhkinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển củamột doanh nghiệp.Tóm lại, theo quan điểm này thì rủi ro là những thiệt hại, mấtmát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điềukhông chắc chắn có thể xảy ra cho con người Theo trường phái hiện đại, rủi ro(risk) là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tínhtiêu cực Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng
có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người
ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đónnhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai Nhiều nhà kinh tế trênthế giới đã nghiên cứu và đưa ra một số khái niệm về rủi ro sau:
Frank Knight, học giả mỹ cho rằng “ Rủi ro là những bất trắc có thể đolường được” Theo ông, các loại bất trắc không thể đo lường được coi là bất trắc,còn các loại bất trắc có thể đo lường được gọi là rủi ro Nghĩa là cách tiếp cận củaông liên quan đến khả năng đo lường được hoặc không được của bất trắc (NguyễnAnh Tuấn, 2006)
Trang 14Allan Willett, học giả người mỹ khác cho rằng “ Rủi ro là sự bất trắc cụ thểliên quan đến một biến cố mong đợi” Như vậy cách tiếp cận của ông liên quan đếnthái độ của con người Những biến cố ngoài sự mong đợi không phải là rủi ro, cònnhững biến cố mong đợi chính là rủi ro Điều này đã giải thích cho rủi ro đối xứng,hoặc rủi ro suy đoán liên quan đến sự thành bại của một sự kiện diễn ra Thành côngcủa người này chính là thất bại (rủi ro) của người khác (Nguyễn Anh Tuấn, 2006).
Inrving Pferfer học giả mỹ lại cho rằng “ Rủi ro là tổng hợp của những sựngẫu nhiên có thể đo lường bằng xác xuất” Theo ông, rủi ro gắn với hiện diện ngẫunhiên của vạn vật, hiện tượng mà có thể đo lường bằng xác xuất Tức là, rủi ro là sựngẫu nhiên không phụ thuộc vào ý chí của con người Tuy nhiên, điều đó khônghoàn toàn đúng bởi nhiều loại rủi ro chính là hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp ro conngười gây ra (Nguyễn Anh Tuấn, 2006)
Marilu Hurt MrCarty thuộc viện khoa học kỹ thuật Georgia (Mỹ) cho rằng
“Rủi ro là tình trạng trong đó các biến cố xảy ra trong tương lai có thể xác địnhđược” Có nghiã là rủi ro là biến cố xảy ra trong tương lai liên quan đến điều kiện,môi trường rủi ro Kinh nghiệm của một công ty có thể cung cấp chứng cứ về tần sốcác biến cố riêng biệt trong quá khứ, do đó cho phép các nhà quản lý xác định phân
bố xác xuất hiện của các biến cố trong tương lai Tuy vậy, sự xuất hiện của các biến
cố còn bị ảnh hưởng bởi những yếu tố tác động hiện tại (Nguyễn Anh Tuấn, 2006)
Theo từ điển bách khoa Việt Nam, “ Rủi ro là hậu quả gây thiệt hại ít nhiều
có thể dự đoán được của một hành vi mà việc thực hiện không chỉ phụ thuộc vào ýchí của người đương sự” (Đỗ Hoàng Toàn và cs., 2008)
Theo từ điển Microsoft Encarta, “ Rủi ro là khả năng điều gì đó xấu sảy ra : sựnguy hiểm xảy ra thiệt hại, chấn thương hoặc thua lỗ” (Đỗ Hoàng Toàn và cs., 2008)
Theo nhiều tác giả trong cuốn Dictionnaire d'assurance (Francias –Vietnamien), Ha Noi 1994 định nghĩa: “Rủi ro là một sự cố không chắc chắn xảy
ra hoặc ngày giờ xảy ra không chắc chắn Để chống lại điều đó, người ta có thể
yêu cầu bảo hiểm” Ví dụ: Cái chết là chắc chắn nhưng ngày giờ xảy ra là không
chắc chắn
Chính vì rủi ro gây ra mất mát thiệt hại nên không ai mong đợi Song rủi ro
là những bất trắc vì thế không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Tuy
Trang 15nhiên rủi ro lại có thể đo lường được và đây chính là cánh cữa hé mở cho các nhàkinh doanh đi vào thế giới rủi ro để tìm kiếm vận may Canh tranh là đặc tính cốhữu của nền kinh tế thị trường và cạnh tranh thường mang lại rủi ro cho 1 bên nhấtđịnh Vậy muốn thắng lợi trong cạnh tranh, muốn tồn tại và phát triển, các nhà kinhdoanh phải tiên lượng trước xem cái gì đang chờ đón để có được những giải phápngăn ngừa, chấp nhận rủi ro ở mức hợp lý chứ không phỉa run sợ, né tránh rủi ro.
2.1.1.2 Khái niệm quản lý rủi ro
Trên thực tế tồn tại nhiều cách tiếp cận khái niệm “ quản lý” Thông thường,quản lý đồng nhất với các hoạt động tổ chức chỉ huy, điều khiển, động viên, kiểmtra, điều chỉnh… theo lý thuyết hệ thống: “quản lý là sự tác động có hướng đích củachủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sangtrạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điềukhiển hệ thống (Đỗ Hoàng Toàn và cs., 2008)
Bất kỳ một nhà doanh nghiệp nào thường cũng đều mang ý nghĩ theo mối lời
mà không kìm giữ nổi cho nên muốn chinh phục, ý muốn mạo hiểm thường cùngnảy sinh một lúc Để giành được mối lợi nhuận lớn trong cạnh tranh thị trường, họthường dốc hết năng lực của mình ra và kết quả không ít doanh nghiệp đã trở lênlớn mạnh Thực tế cho thấy, không có sự lãnh đạo mạnh mẽ, doanh nghiệp sẽ bị đổ
vỡ Nếu không có những mưu cao kế lạ để mạo hiểm thì sẽ không giành được thắnglợi vẻ vang trong cạnh tranh
Doanh nghiệp tham gia thương trường phải luôn chấp nhận và đối mặt vớinhững nguy cơ, rủi ro và làm cho doanh nghiệp tổn thất về tinh thần và tài sản Rủi
ro và lời lãi cùng tồn tại; rủi ro và hiệu quả thường tỷ lệ thuận với nhau Nếu rủi ro
ít thì sẽ có nhiều người theo đuổi, tìm kiếm cơ hội đó và hiệu quả cũng sẽ khônglớn Nếu rủi ro nhiều, thì sẽ có ít người tìm kiếm theo đuổi, cho nên hiệu quả thuđược cũng sẽ lớn hơn Từ ý nghĩa đó mà chúng ta có thể thấy rằng rủi ro chính làhiệu quả, rủi ro càng lớn thì sẽ càng mang lại hiệu quả cao trong sản xuất kinhdoanh
Khi đối mặt với rủi ro, người ta thường ứng phó bằng một trong những cách sau
- Chấp nhận rủi ro tức là chịu đựng tổn thất;
- Né tránh rủi ro bằng cách loại trừ những nguyên nhân gây nên rủi ro đó;
Trang 16- Hạn chế rủi ro tức là thực hiện các biện pháp để làm giảm ảnh hưởng của rủi
ro hay là hạn chế mức độ tổn thất
Trong ba cách ứng xử trên thì chấp nhận rủi ro là cách ứng phó thụ động và sựchấp nhận rủi ro cũng chỉ giới hạn trong khả năng chịu đựng tối đa của chủ thể Nétránh và hạn chế rủi ro là cách ứng xử mang tính chủ động, tuy nhiên cách thứ haikhông phải bao giờ cũng có thể thực hiện bởi vì người ta chỉ có thể loại bỏ nhữngnguyên nhân mang tính chủ quan chứ không thể loại trừ các nguyên nhân kháchquan Cách thứ ba chủ động thực hiện các biện pháp nhằm giảm thiệt hại do rủi rogây nên do đó được gọi là quản lý rủi ro (Đỗ Hoàng Toàn và cs., 2008)
Quản lý rủi ro trong sản xuất kinh doanh là quá trình phát hiện, phân tích vàứng phó đối với sự thay đổi của những rủi ro tiềm ẩn bên trong đến môi trường bênngoài để nhằm hạn chế rủi ro, tổn thất về: Tài chính cho dự án, tỷ giá trong quátrình thực hiện các giao dịch liên quan đến ngoại tệ, dự trữ hàng tồn kho và về conngười, (Đỗ Hoàng Toàn và cs., 2008)
2.1.1.3 Khái niệm về sản xuất kinh doanh
Trong thời đại ngày nay, hoạt động sản xuất tạo ra của cải vật chất và dịch vụluôn gắn liền với cuộc sống của con người, công việc sản xuất thuận lợi khi các sảnphẩm tạo ra được thị trường chấp nhận tức là đồng ý sử dụng sản phẩm đó Để đượcnhư vậy thì các chủ thể tiến hành sản xuất phải có khă năng kinh doanh (Phạm VănĐược và Đặng Kim Cương, 1997)
Nếu loại bỏ các phần khác nhau nói về phương tiện, phương thức, kết quả cụthể của hoạt động kinh doanh thì có thể hiểu kinh doanh là các hoạt động kinh tếnhằm mục tiêu sinh lời của chủ thể kinh doanh trên thị trường
Hoạt động kinh doanh có đặc điểm:
+ Do một chủ thể thực hiện và gọi là chủ thể kinh doanh, chủ thể kinh doanh
có thể là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp (Phạm Văn Được và Đặng Kim Cương,1997)
+ Kinh doanh phải gắn với thị trường, các chủ thể kinh doanh có mối quan hệmật thiết với nhau, đó là quan hệ với các bạn hàng, với chủ thể cung cấp đầu vào,với khách hàng, với đối thủ cạnh tranh, với Nhà nước Các mối quan hệ này giúp
Trang 17cho các chủ thể kinh doanh duy trì hoạt động kinh doanh đưa doanh nghiệp củamình này càng phát triển (Phạm Văn Được và Đặng Kim Cương, 1997).
+ Kinh doanh phải có sự vận động của đồng vốn: Vốn là yếu tố quyết định chocông việc kinh doanh, không có vốn thì không thể có hoạt động kinh doanh Chủthể kinh doanh sử dụng vốn mua nguyên liệu, thiết bị sản xuất, thuê lao động( Phạm Văn Được và Đặng Kim Cương, 1997)
+ Mục đích chủ yếu của hoạt động kinh doanh là lợi nhuận (Phạm Văn Được
và Đặng Kim Cương, 1997)
2.1.2 Vai trò ý nghĩa của quản lý rủi ro trong sản xuất kinh doanh giống
Mọi doanh nghiệp hoạt động đều hướng tới mục tiêu tạo lợi thế cạnh tranh
và đem lại giá trị tăng thêm cho những đối tác bên trong và bên ngoài của doanhnghiệp gắn kết chặt chẽ với các hoạt động của mình Để đạt được mục tiêu đó,doanh nghiệp thường xây dựng cho mình chiến lược hoạt động cùng hàng loạtnhững chương trình, kế hoạch để thực thi những chiến lược đã đề ra Trong quátrình thực thi chiến lược sẽ thường có nhiều rủi ro xảy ra làm ảnh hưởng đến quátrình tiến tới mục tiêu của doanh nghiệp Sự hiểu biết quản lý rủi ro trong hoạt độngsản xuất kinh doanh là khả năng của chúng ta trong mối tương quan so sánh với cácđối thủ cạnh tranh liên quan đến việc đánh giá một rủi ro Sự hiểu biết đó phụ thuộcvào các lợi thế thông tin và việc ứng dụng các lợi thế đó như thế nào Vì vậy, quản
lý rủi ro là bộ phận không thể tách rời với chiến lược của doanh nghiệp Điều đó cónghĩa là chiến lược của doanh nghiệp sẽ được xem là không đầy đủ nếu thiếu vắng
sự gắn kết với quản lý rủi ro (Đỗ Hoàng Toàn và cs., 2008)
Có nhiều loại rủi ro được xâm nhập từ bên ngoài doanh nghiệp cũng như phátsinh bên trong doanh nghiệp Rủi ro thường được phân loại vào những nhóm chínhnhư rủi ro chiến lược, rủi ro hoạt động, rủi ro tài chính, rủi ro tỷ giá, rủi ro quản lýtri thức và rủi ro tuân thủ
Rủi ro tỷ giá mà nhà xuất nhập khẩu và nhà đầu tư quốc tế phải đối mặt là rủi
ro cơ bản nhất trong thương mại và đầu tư quốc tế mà thương mại và đầu tư nội địakhông có Những biến động không lường trước được của tỷ giá ảnh hưởng rất lớnđến doanh thu, chi phí và hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Tỷ giá là biến
số rất nhạy cảm với tình hình kinh tế, chính trị - xã hội của các nước và khu vực
Trang 18kinh tế quan trọng trên thế giới, tỷ giá thường xuyên biến động phức tạp, khó lường
là kết quả của mối quan hệ mật thiết, phụ thuộc ảnh hưởng lẫn nhau ngày càng giatăng giữa các thị trường tài chính của các quốc gia và khu vực từ quá trình toàn cầuhoá Dù nguyên nhân nào gây nên sự biến động dữ dội của tỷ giá ngày nay thì điềucần thiết đối với các nhà kinh doanh, các nhà quản lý là phải thực hiện quản lý rủi
ro cho các hoạt động sản xuất - kinh doanh của mình một cách có hiệu quả Thươngmại và đầu tư quốc tế càng phát triển thì vấn đề phát hiện rủi ro và sử dụng linh hoạtcác công cụ phòng ngừa rủi ro càng trở nên cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp
Vì vậy trong sản xuất kinh doanh giống, một ngành mà chịu rất nhiều ảnhhưởng của các yếu tố gây ra rủi ro cho doanh nghiệp thì việc quản lý rủi ro giúptrong sản xuất giảm thiểu được thiệt hại, nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinhdoanh Giúp trong sản xuất kinh doanh một cách chủ động ứng phó với những tácđộng nhất là các tác động khách quan mang đến rủi ro
Rủi ro thường có tác động dây chuyền và cộng hưởng Do đó, doanh nghiệpphải chủ động xây dựng cho mình quy trình đánh giá và quản trị rủi ro phù hợp,nhằm tự vệ trước biến động khôn lường của thị trường Rủi ro kinh doanh bắt nguồn
từ vô số các hoạt động giao dịch liên quan trực tiếp đến tài chính như sản xuất, muabán, đầu tư, vay nợ và một số hoạt động kinh doanh khác hoặc là hệ quả gián tiếpcủa các chính sách thay đổi trong quản lý, trong cạnh tranh, trong các quan hệ quốc
tế và thậm chí có thể chỉ do sự thay đổi của thời tiết hay khí hậu Nếu quan sát kỹcác biến động về tài chính, có thể nhận ra được các nguồn chính gây ra rủi ro về tàichính bao gồm: Rủi ro phát sinh từ sự thay đổi bên ngoài về giá cả thị trường nhưlãi suất, tỷ giá; Rủi ro phát sinh từ các hoạt động hay giao dịch với các đối tác trongkinh doanh như nhà cung cấp, khách hàng, các đối tác trong giao dịch phát sinh;Rủi ro phát sinh ngay chính nội bộ doanh nghiệp, những thay đổi từ bên trong liênquan đến nhân sự, cơ cấu tổ chức hoặc quy trình sản xuất kinh doanh (Ngô NgọcHuyền và cs., 2007)
Quy trình quản lý rủi ro được thiết kế mang tính đồng bộ và có sự gắn kết vớiviệc xây dựng và thực thi chiến lược của doanh nghiệp Về cơ bản quy trình quản lýrủi ro cần chứa đựng những giai đoạn hay bước công việc cơ bản như xác định rủi
ro, mô tả rủi ro, xử lý rủi ro, theo dõi và rà soát quy trình quản lý rủi ro (NguyễnDương và Ngọc Quyên, 2005)
Trang 19Quản trị rủi ro gắn liền với quản lý tài chính dự án hoặc quản lý tài chínhdoanh nghiệp với mục đích giúp doanh nghiệp kiểm soát chi phí và hạn chế tổn thất
có thể xảy ra đến mức thấp nhất Cụ thể trong ngắn hạn, chi phí phòng ngừa phảinhỏ hơn thiệt hại có thể xảy ra nếu không có biện pháp chống đỡ và trong dài hạn,chi phí quản lý rủi ro phải nhỏ hơn nhiều so với tổn thất mà biến động về giá cả, dựtrữ, tỷ giá có thể gây ra
Thực chất quá trình quản trị rủi ro là quá trình quan sát, phân tích sự vận độngcủa các rủi ro trong những điều kiện kinh tế cụ thể để dự báo mức độ thay đổi củatừng yếu tố trong tương lai, ra quyết định và thực hiện những biện pháp phòng ngừacho các luồng tiền liên quan đến ngoại tệ của doanh nghiệp nhằm hạn chế tối đa tổnthất tài chính do sự biến động của từng yếu tố rủi ro gây nên trước khi nó trở thànhhiện thực (Nguyễn Dương và Ngọc Quyên, 2005)
Vì vậy, việc quan trọng nhất trong quản trị rủi ro là phải xây dựng được quytrình quản lý rủi ro Thông thường quản lý rủi ro được chia làm các bước sau đây:
* Nhận dạng rủi ro: Đây là bước đầu tiên nhằm tìm hiểu cặn kẽ về bản chấtcủa rủi ro Cách đơn giản và trực tiếp nhất là liệt kê từng nhân tố và các biến cố cóthể gây ra rủi ro
Cách làm rõ bản chất của rủi ro là:
+ Thứ nhất: Nhận dạng những tác nhân kinh tế có thể gây ra rủi ro, ví dụ nhưyếu tố lãi suất, lạm phát, tỷ giá hối đoái, tăng trưởng kinh tế, Mỗi dạng rủi ro cónhững đặc trưng cơ bản và phương thức quản trị khác nhau do vậy cần nhận dạngchính xác loại rủi ro đang phải đối mặt Căn cứ vào tác động của thị trường đến sựthay đổi tăng hoặc giảm các luồng tiền trong tương lai bằng nội tệ hoặc ngoại tệ,nhà quản lý có thể nhận dạng loại rủi ro mà doanh nghiệp đang phải đối mặt là rủi
ro nghiệp vụ, rủi ro trong hoạt động sản xuất, rủi ro kinh tế hay rủi ro chuyển đổi.+ Thứ hai: Tìm hiểu xem chiều hướng có thể gây ra rủi ro, ví dụ việc Ngânhàng Trung ương tăng lãi suất sẽ tác động giá cả chứng khoán như thế nào?
+ Thứ ba: Kiểm tra lại xem biểu hiện rủi ro đang phân tích có phụ thuộc vàobiến cố nào khác hay không, chẳng hạn công ty có biểu hiện rủi ro trong trường hợpkhông được tín nhiệm của khách hàng
Trang 20* Ước tính, định lượng rủi ro: Bước này sẽ đo lường mức độ phản ứng củacông ty đối với các nguồn gốc rủi ro đã xác định ở trên Cụ thể, dùng một phươngpháp giả định nếu có nhân tố rủi ro thì công ty được gì và mất gì.
* Đánh giá tác động của rủi ro: Để đánh giá rủi ro người ta thường làm bàitoán chi phí và lợi tức Đôi khi, việc quản lý rủi ro tiêu tốn nhiều nguồn lực củacông ty như tiền bạc và thời gian, do đó cần phải cân nhắc xem liệu việc quản lý rủi
ro như vậy có thực sự đem lại lợi ích lớn hơn chi phí bỏ ra để thực hiện nó haykhông
* Đánh giá năng lực của người thực hiện chương trình bảo hiểm rủi ro
Để quản lý rủi ro có hai chiến lược:
- Thứ nhất: Dựa vào một tổ chức tài chính chuyên nghiệp, thuê họ thiết kế mộtgiải pháp quản lý rủi ro cụ thể, thích hợp với chiến lược quản lý của công ty
- Thứ hai: Tự công ty đứng ra thực hiện phòng chống rủi ro bằng cách sử dụngcác công cụ chứng khoán phái sinh như chứng quyền, quyền chọn, hợp đồng kỳhạn, hợp đồng tương lai, đồng thời xây dựng một đội ngũ nhân viên của công ty
có khả năng lập và thực hiện hàng rào chống rủi ro Vấn đề này đòi hỏi nhân viêncông ty vừa phải thiết kế đúng lại vừa phải thực hiện chương trình phòng chống rủi
ro bởi quản lý rủi ro cần phải được theo dõi thường xuyên và điều chỉnh kịp thời với
sự biến đổi của thời gian
* Lựa chọn công cụ và quản trị rủi ro thích hợp
Đây là bước mấu chốt cuối cùng trong việc xây dựng chiến lược quản trị rủi
ro Trong bước này nhà quản lý phải chọn một giải pháp cụ thể Chẳng hạn, đối vớicác công cụ trên thị trường hối đoái, người ta có thể sử dụng hợp đồng tương lai,hợp đồng quyền chọn, làm công cụ phòng chống rủi ro, công cụ này có ưu điểm là
có tính thanh khoản cao và có hiệu quả về giá Tuy nhiên, công cụ này không linhđộng, không khắc phục được rủi ro cố hữu mà chi phí theo dõi lại khá tốn kém
* Quyết định có nên phòng ngừa hay không
Quyết định thực hiện phòng ngừa hay không được đưa ra trên cơ sở so sánhmức tổn thất có khả năng xảy ra với một tiêu chí nhất định nào đó, chẳng hạn nhưchi phí cần thiết để thực hiện phòng ngừa hoặc khả năng chịu rủi ro tối đa của
Trang 21doanh nghiệp hay mức lãi/lỗ của mỗi thương vụ Tuỳ theo quan điểm của các nhàquản lý của từng doanh nghiệp, các tiêu chí được lựa chọn để so sánh sẽ khác nhau
và ngay cả trong một doanh nghiệp, các tiêu chí được lựa chọn để so sánh vàonhững thời kỳ khác nhau cũng có thể không giống nhau Nhìn chung, quyết địnhthực hiện phòng ngừa, phòng ngừa bao nhiêu và phòng ngừa như thế nào? tuỳ thuộcvào mức độ chịu đựng rủi ro và dự báo mức độ biến động của từng yếu tố rủi rotrong kỳ tính toán của các nhà quản lý
* Lựa chọn kỹ thuật phòng ngừa hiệu quả nhất trong số các kỹ thuật khác nhau
có thể
Trong tất cả các quyết định liên quan đến chi phí, doanh nghiệp bao giờ cũnghướng đến mục tiêu tối đa hoá chi phí vì thế nếu quyết định phòng ngừa, doanhnghiệp sẽ lựa chọn kỹ thuật phòng ngừa nào có hiệu quả nhất trong số các kỹ thuậtkhác nhau có thể Hiệu quả nhất được hiểu là kỹ thuật đó phải phù hợp với đặc điểmhoạt động của doanh nghiệp đồng thời có chi phí thấp nhất
2.1.3 Các nguyên nhân rủi ro trong sản xuất kinh doanh giống
* Rủi ro sản xuất
Một trong những nguyên nhân gây ra rủi ro sản xuất đó là môi trường thiênnhiên như: Động đất, núi lửa, bão, lũ lụt, sóng thần, sét đánh, đất lở, hạn hán, sươngmuối, đã làm cho năng suất bị biến động lớn Những rủi ro này thường dẫn đếnnhững thiệt hại to lớn về người và của, làm cho các doanh nghiệp nông nghiệp đặcbiệt là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh giống cây trồng bị tổn thất nặng nề vìnông nghiệp chịu ảnh hưởng của yếu tố không kiểm soát được Chính yếu tố thờitiết ảnh hưởng đến năng suất cây trồng đã gây lên tình trạng không chắc chắn vềđầu ra Cùng với sự không chắc chắn về đầu ra là sự không chắc chắn về giá thànhsản xuất Giá đầu vào có xu hướng biến động ít hơn giá đầu ra nhưng vẫn là mộtnguyên nhân gây ra rủi ro sản xuất Ngoài ra, công nghệ mới cũng là nguyên nhângây ra rủi ro sản xuất
* Rủi ro về cung cấp nguyên liệu đầu vào
Mà biểu hiện là các tình huống không đảm bảo được các đầu vào quan trọngtheo số lượng, giá cả, chất lượng đã dự kiến gây khó khăn trong việc vận hành,thanh toán các khoản nợ,
Trang 22* Rủi ro marketing
Rủi ro marketing (hoặc rủi ro thị trường, rủi ro giá) là rủi ro liên quan đến biếnđộng giá đầu ra Biến động giá đầu ra là một trong những nguyên nhân quan trọnggây ra rủi ro trong nông nghiệp Giá nông sản thay đổi năm này qua năm khác vàđặc biệt là biến động lớn theo vụ sản xuất ngay trong một năm Giá nông sản thayđổi mà người nông dân không có khả năng kiểm soát Cung nông sản chịu tác độngcủa quyết định sản xuất của từng cá nhân và thời tiết xảy ra năm đó Còn nhu cầunông sản cũng chịu ảnh hưởng bởi vô số yếu tố, như thu nhập của người tiêu dùng,xuất khẩu và chính sách xuất khẩu, nền kinh tế nói chung, tất cả những vấn đề đó đềuảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến nhu cầu thông qua chính sách của chính phủ
* Rủi ro tài chính
Rủi ro tài chính liên quan đến sự an toàn hoặc mất an toàn về tài chính củadoanh nghiệp An toàn tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở khả năng trả nợ và khảnăng thanh toán Khác với rủi ro kinh doanh, nguyên nhân sinh ra rủi ro tài chính là
do sử dụng vốn vay Tăng vốn vay làm tăng tỷ số nợ trên vốn của chủ sở hữu, làmtăng cán cân tài chính, tăng cán cân tài chính có khả năng dẫn đến rủi ro tài chínhkhi thu nhập giảm Tỷ trọng vốn vay càng lớn so với tổng vốn chủ sở hữu thì hệ sốnhân đóng góp vào rủi ro kinh doanh càng cao Chỉ khi doanh nghiệp tự tài trợ100% vốn thì mới không có rủi ro về tài chính Tăng lãi suất vốn vay cũng dẫn đếnkhả năng tăng rủi ro tài chính
* Rủi ro do môi trường văn hoá
Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác,
từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quántrồng trọt của từng vùng
Rủi ro do môi trường văn hoá là những rủi ro do sự thiếu hiểu biết về phongtục, tập quán, lối sống, của dân tộc khác, từ đó dẫn đến cách hành xử không phùhợp, gây ra những thiệt hại, mất mát, mất cơ hội kinh doanh
* Rủi ro do môi trường xã hội
Sự thay đổi các chuẩn mực giá trị, hành vi của con người, cấu trúc xã hội, cácđịnh chế, là một rủi ro quan trọng Nếu không nắm được điều này sẽ có thể gánh
Trang 23chịu những thiệt hại nặng nề.
* Rủi ro do môi trường chính trị
Môi trường chính trị có ảnh hưởng rất lớn đến bầu không khí kinh doanh Môitrường chính trị ổn định sẽ giảm thiểu rất nhiều rủi ro cho các doanh nghiệp Khimột chỉnh thể mới ra đời sẽ có thể làm đảo lộn hoạt động của nhiều doanh nghiệp.Trong kinh doanh quốc tế ảnh hưởng của môi trường chính trị lại càng lớn Chỉ cónhững ai biết nghiên cứu kỹ, nắm vững và có những chiến lược, sách lược thích hợpvới môi trường chính trị không chỉ ở nước mình, mà còn ở nước đến kinh doanh thìmới có thể gặt hái được thành công rực rỡ
* Rủi ro do môi trường pháp luật
Có rất nhiều rủi ro phát sinh từ hệ thống luật pháp Luật pháp đề ra các chuẩnmực mà mọi người phải thực hiện và các biện pháp trừng phạt những ai vi phạm.Luật pháp đảm bảo sự công bằng cho các doanh nghiệp, chống lại sự cạnh tranhkhông lành mạnh Nhưng xã hội luôn phát triển, nếu các chuẩn mực luật phápkhông phù hợp với bước tiến của xã hội thì sẽ gây ra nhiều rủi ro Ngược lại luậtpháp thay đổi quá nhiều, quá trường xuyên, không ổn định, cũng gây ra những khókhăn không nắm vững những đổi thay, không theo kịp những chuẩn mực mới chắcchắn sẽ gặp rủi ro
Trong kinh doanh quốc tế môi trường luật pháp phức tạp hơn rất nhiều, bởichuẩn mực luật pháp của các nước khác nhau là khác nhau Nếu chỉ nắm vững vàtuân thủ các chuẩn mực luật pháp nước mình, mà không am hiểu luật pháp nước đốitác, thì sẽ gặp rủi ro
* Rủi ro do môi trường kinh tế
Trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, mặc dù trongmỗi nước môi trường kinh tế thường vận động theo môi trường chính trị, nhưng ảnhhưởng của môi trường kinh tế chung của thế giới đến từng nước là rất lớn (biếnđộng của thị trường, thu nhập, thanh toán, biến động không dự kiến trước được của
tỷ giá hối đoái, lạm phát, lãi suất, ) Mặc dù hoạt động của một chính phủ (đặc biệt
là chính phủ của các nước siêu cường quốc) có thể ảnh hưởng sâu sắc đến thị trườngthế giới, nhưng họ cũng không thể kiểm soát nổi thị trường thế giới rộng lớn này và
từ đó có rất nhiều rủi ro, bất ổn Các chiến lược về sản xuất và marketing mà doanh
Trang 24nghiệp theo đuổi để phòng ngừa rủi ro kinh tế, có thể đề cập như sau:
Bảng 2.1 Chiến lược đối phó rủi ro do môi trường kinh tế
Chiến lược marketing Nội dung
Lựa chọn thị trường - Phân tích rủi ro quốc gia để lựa chọn thị trường và chấp
nhận rủi ro
- Phân khúc thị trường trong mỗi quốc gia
Chiến lược sản phẩm - Thay đổi chiến lược sản phẩm liên quan như giới thiệu
sản phẩm mới, những quyết định về nguồn cung ứng sảnphẩm
- Cải tiến sản phẩm, thay đổi cơ cấu sản phẩm
- Thay đổi thời gian giới thiệu sản phẩm
Chiến lược giá - Hai vấn đề then chốt cần xem xét là chú trọng đến thị
phần hoặc đến lợi nhuận
- Công ty có thể lựa chọn hoặc giữ giá bán để duy trì lợinhuận hoặc giảm giá bán để giữ thị phần
Chiến lược khuyến mãi - Những chính sách khuyến mãi đi cùng với chiến lược giá
- Sử dụng nguyên liệu đa dạng để giảm bớt giá thành
Địa điểm nhà máy - Công ty đa quốc gia có thể phân bố sản xuất giữa các
quốc gia Tăng sản xuất ở những nơi rủi ro thấp và giảmsản xuất ở những nơi rủi ro cao
Tăng năng suất sản xuất - Cải tiến một cách hiệu quả hoạt động sản xuất
- Đóng cửa các nhà máy không có hiệu quả, cắt giảm chiphí
- Nâng cao năng suất sản xuất
Trang 25* Rủi ro cạnh tranh
Sự thay đổi thị hiếu nhu cầu của người tiêu dùng, đồng thời với sự gia tăng về sốlượng cũng như qui mô của các doanh nghiệp sản xuất trong cùng một ngành đã tạonên một áp lực cạnh tranh lớn hiện nay trên thị trường Mức độ cạnh tranh trong nội bộngành càng cao thì khả năng để một doanh nghiệp bị thôn tính hay buộc phải từ bỏ thịtrường do thiếu khả năng thích nghi càng lớn Rủi ro cạnh tranh đến từ các đối thủtrong cùng ngành sản xuất có thể bao gồm:
+ Thiếu thông tin về sản phẩm và công nghệ của đối thủ cạnh tranh
+ Sự cạnh tranh của hàng giả, hàng nhái trên thị trường và giá bán sản phẩmcủa đối thủ cạnh tranh
+ Ngủ quên trên chiến thắng khiến doanh nghiệp không tự đổi mới để nângcao năng lực cạnh tranh
+ Cạnh tranh thiếu lành mạnh của các đổi thủ cạnh tranh
* Rủi ro thông tin
Sự bùng nổ thông tin hiện nay với sự giúp đỡ của mạng internet đã góp phầnkhông nhỏ vào sự thành công của các doanh nghiệp nhưng cũng là mở đầu cho sựthất bại của các doanh nghiệp chậm đổi mới và thiếu thông tin trong kinh doanh.Rủi ro về thông tin thể hiện như sau:
+ Thiếu thông tin về phía đối tác dẫn đến bị đối tác lừa không thanh toán hoặckhông thực hiện đơn hàng
+ Thiếu thông tin về sự thay đổi giá cả của sản phẩm trên thị trường
+ Thiếu thông tin về sự thay đổi công nghệ sản xuất sản phẩm trên thị trường
+ Thiếu kiến thức về thị trường mục tiêu mà doanh nghiệp thâm nhập
Điều quan trọng là doanh nghiệp phải điều tra các khách hàng tiềm năng, thẩmđịnh năng lực tài chính các đối tác để đảm bảo họ sẽ có khả năng thanh toán và thựchiện đơn hàng cũng như không có yếu tố lừa đảo
* Rủi ro do môi trường hoạt động của tổ chức
Trong quá trình hoạt động của mọi tổ chức có thể phát sinh rất nhiều rủi ro.Rủi ro có thể phát sinh ở mọi lĩnh vực, như: công nghệ, tổ chức bộ máy, văn hoá tổchức, tuyển dụng, đãi ngộ nhân viên, quan hệ với khách hàng (cả nhà cung cấp -đầu vào lẫn người tiêu thụ - đầu ra), đối thủ cạnh tranh, tâm lý của người lãnh
Trang 26đạo, Rủi ro do môi trường hoạt động của tổ chức có thể xuất hiện dưới rất nhiềudạng.
* Rủi ro do nhận thức của con người
Môi trường nhận thức là nguồn rủi ro đầy thách thức Một khi nhận diện vàphân tích không đúng thì tất yếu sẽ đưa ra kết luận sai Nếu nhận thức thực tế hoàntoàn khác nhau thì rủi ro sẽ vô cùng lớn
Ngoài cách phân loại rủi ro trên để phân loại rủi ro phục vụ cho công tác quảntrị rủi ro còn sử dụng nhiều tiêu chí khác
- Phân loại rủi ro theo môi trường tác động
+ Môi trường bên trong: Môi trường hoạt động nội tại bên trong tổ chức.+ Môi trường bên ngoài: Môi trường thiên nhiên, môi trường văn hoá, môitrường xã hội, môi trường chính trị, luật pháp, kinh tế,
Hoặc theo tiêu chí phân loại theo môi trường tác động còn có thể chia ra:+ Môi trường bên trong: Bao gồm các bộ phận nội bộ doanh nghiệp
+ Môi trường vi mô: Nhà cùng cấp, khách hàng (người tiêu dùng), đối thủcạnh tranh
+ Môi trường vĩ mô: Tự nhiên, văn hoá, luật pháp, kinh tế, xã hội, chính trị,công nghệ
2.1.4 Nội dung rủi ro trong sản xuất kinh doanh giống
2.1.4.1 Rủi ro trong sản xuất
kỹ thuật cũng ảnh hưởng lớn tới năng xuất, các kỹ thuật mới cũng là một trong cácyếu tố gây ra rủi ro cho người sản xuất, vì đưa giống mới vào sản xuất không phảilúc nào cũng mang lại kết quả như mong muốn
Trang 27Thời tiết ảnh hưởng tới năng xuất cây trồng, gây ra tình trạng không chắcchắn về đầu ra Cùng với sự không chắc chắn về đầu ra là sự không chắc chắn về giáthành sản xuất Giá đầu vào có xu hướng biến động ít hơn giá đầu ra nhưng cũng làmột nguyên nhân trong sản xuất giống Giá thành sản xuất phụ thuộc vào cả hai yếu tốchi phí và năng xuất vì vậy nó có thể biến động khi cả hai yếu tố này biến động.
Công nghệ mới cũng là một nguyên nhân nữa trong rủi ro sản xuất Chuyển
từ công nghệ cũ sang công nghệ mới bao giờ cũng chứa đựng yếu tố rủi ro trong đó.Liệu công nghệ mới có đáp ứng được mong muốn không? Có thực sự giảm đượcchi phí không? Những câu hỏi như thế và nhiều câu hỏi khác nữa đã được đặt ratrước khi công nghệ mới được chấp nhận đưa vào sản xuất
* Trong thu mua, dự trữ
Trong sản xuất giống, khâu thu mua và bảo quản vô cùng quan trọng Nónằm ở cả hai yếu tố tính toàn khối lượng thu mua và công tác bảo quản sản phẩmgiống nông nghiệp Khác với các tư liệu sản xuất thông thường, giống là một loại tưliệu sản xuất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố ngoại cảnh như: thời tiết, độ ẩm, đấtđaim kỹ thuật canh tác Giống sau khi được canh tác cân được bảo quản ở nơi khôthoáng, điều kiện nhiệt độ và độ ẩm phù hợp với từng loại, cần được sấy đến độ ẩmnhất định, cho vào bao tải gai, khâu lại Sàn kho có thể lát hạc hay xi măng Vớimột công ty có quy mô lớn, cần tránh rủi ro trong khâu thu mua, dữ trữ bởi nếu saisót nhỏ có thể khiến đơn hàng không được giao đúng hẹn, gây ảnh hưởng lớn đến
uy tín của công ty
2.1.4.2 Rủi ro trong kinh doanh
* Về thị trường, giá cả
Rủi ro về giá là rủi ro liên quan đến biến động đầu ra Biến động giá đầu ra lànguyên nhân quan trọng gây ra rủi ro trong sản xuất kinh doanh Giá nông sản thayđổi năm này qua năm khác và đặc biệt biến động lớn theo mùa vụ sản xuất ngaytrong một năm Nhiều rủi ro có thể lường trước được nếu chu kỳ sản xuất ngắn đểgiá không lịp thay đổi hoặc biến động về giá là không lớn Nhưng nông nghiệp lại
có chu kỳ sản xuất lớn thường là từ 3-4 tháng và dài hơn, do đó các quyết định sảnxuất phải trước đó 3-4 tháng hoặc nhiều hơn nữa Với thời gian đó đủ để giá cácgiống có thể thay đổi Giá giống thay đổi do vô số lý do mang lại mà không có khảnăng kiểm soát chúng Giá cả thị trường các mặt hàng giống phụ thuộc nhiều vào
Trang 28quyết định sản xuất và thời tiết xảy ra năm đó Còn nhu cầu về giống cũng chịu ảnhhưởng bởi vô số yếu tố, như thu nhập của người tiêu dùng, xuất khẩu, nền kinh tếnói chung Tất cả những yếu tố đó ảnh hưởng trực tiếp hoặc dán tiếp tới nhu cầuthông qua chính sách của chính phủ.
Sự thay đổi thị hiếu nhu cầu của người tiêu dùng, đồng thời với sự gia tăng về
số lượng cũng như qui mô của các doanh nghiệp sản xuất trong cùng một ngành đã tạonên một áp lực cạnh tranh lớn hiện nay trên thị trường Mức độ cạnh tranh trong nội bộngành càng cao thì khả năng để một doanh nghiệp bị thôn tính hay buộc phải từ bỏ thịtrường do thiếu khả năng thích nghi càng lớn Rủi ro cạnh tranh đến từ các đối thủtrong cùng ngành sản xuất có thể bao gồm:
+ Thiếu thông tin về sản phẩm và công nghệ của đối thủ cạnh tranh
+ Sự cạnh tranh của hàng giả, hàng nhái trên thị trường và giá bán sản phẩmcủa đối thủ cạnh tranh
+ Ngủ quên trên chiến thắng khiến doanh nghiệp không tự đổi mới để nângcao năng lực cạnh tranh
+ Cạnh tranh thiếu lành mạnh của các đổi thủ cạnh tranh
* Về tài chính
Rủi ro tài chính liên quan đến sự an toàn hoặc mất an toàn về tài chính củadoanh nghiệp An toàn tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở khả năng trả nợ và khảnăng thanh toán Khác với rủi ro kinh doanh, nguyên nhân sinh ra rủi ro tài chính là
do sử dụng vốn vay Tăng vốn vay làm tăng tỷ số nợ trên vốn của chủ sở hữu, làmtăng cán cân tài chính, tăng cán cân tài chính có khả năng dẫn đến rủi ro tài chínhkhi thu nhập giảm Tỷ trọng vốn vay càng lớn so với tổng vốn chủ sở hữu thì hệ sốnhân đóng góp vào rủi ro kinh doanh càng cao Chỉ khi doanh nghiệp tự tài trợ100% vốn thì mới không có rủi ro về tài chính Tăng lãi suất vốn vay cũng dẫn đếnkhả năng tăng rủi ro tài chính
* Về tỷ giá
Rủi ro tỷ giá mà nhà xuất nhập khẩu và nhà đầu tư quốc tế phải đối mặt là rủi
ro cơ bản nhất trong thương mại và đầu tư quốc tế mà thương mại và đầu tư nội địakhông có Những biến động không lường trước được của tỷ giá ảnh hưởng rất lớnđến doanh thu, chi phí và hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Tỷ giá là biến
số rất nhạy cảm với tình hình kinh tế, chính trị - xã hội của các nước và khu vực
Trang 29kinh tế quan trọng trên thế giới, tỷ giá thường xuyên biến động phức tạp, khó lường
là kết quả của mối quan hệ mật thiết, phụ thuộc ảnh hưởng lẫn nhau ngày càng giatăng giữa các thị trường tài chính của các quốc gia và khu vực từ quá trình toàn cầuhoá Dù nguyên nhân nào gây nên sự biến động dữ dội của tỷ giá ngày nay thì điềucần thiết đối với các nhà kinh doanh, các nhà quản lý là phải thực hiện quản trị rủi
ro cho các hoạt động sản xuất - kinh doanh của mình một cách có hiệu quả Thươngmại và đầu tư quốc tế càng phát triển thì vấn đề phát hiện rủi ro và sử dụng linh hoạtcác công cụ phòng ngừa rủi ro càng trở nên cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp
2.1.5 Nội dung quản lý rủi ro trong sản xuất kinh doanh giống
Quản lý rủi ro trong doanh nghiệp là một quy trình được thực thi bởi một hộiđồng bao gồm những người quản lý, người điều hành và những người khác được ápdụng trong việc xây dựng chiến lược quản lý doanh nghiệp, được thiết lập để xácđịnh các sự kiện có khả năng tác động đến doanh nghiệp, đồng thời quản lý các rủi
ro để giới han mức độ rủi ro và các đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu cụthể (Nguyễn Dương và Ngọc Quyên, 2005)
Nguyên tắc quản lý rủi ro trong doanh nghiệp bao gồm:
Toàn và cs , 2008)
2.1.5.1 Nhận dạng rủi ro của công ty
Rủi ro thường là những biến động ngoài dự kiến, khó có thể tránh được.Chính vì vậy, nhận dạng rủi ro một cách kịp thời để tìm cách hạn chế tác động bấtlợi của chúng là rất quan trọng Đối với mỗi phương án sản xuất kinh doanh, cầnxem xét các rủi ro trên hai phương diện: Một là, bản thân rủi ro và biểu hiện của nó,
và hai là, thời điểm mà rủi ro có thể nảy sinh Mọi rủi ro đều ảnh hưởng đến tàichính, con người, của doanh nghiệp, những rủi ro đều có tính liên kết và tác độngqua lại với nhau nên khi thị trường đi xuống, sự cộng hưởng của chúng sẽ gây lêntổn thất khôn lường đối với doanh nghiệp
* Nhận dạng rủi ro: Để quản lý rủi ro trước hết cần nhận dạng được rủi ro.Đây là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro trong hoạt động kinhdoanh của các công ty Hoạt động nhận dạng rủi ro nhằm phát triển các thông tin về
Trang 30nguồn gốc rủi ro, các yếu tố mạo hiểm, đối tượng rủi ro và các loại tổn thất Nhậndạng rủi ro bao gồm các công việc theo dõi, xem xét nghiên cứu môi trường hoạtđộng và toàn bộ mọi hoạt động của công ty nhằm thống kê được tất cả các rủi ro,không chỉ những loại rủi ro đã và đang xảy ra, mà còn dự báo được những dạng rủi
ro mới có thể xuất hiện đối với tổ chức, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp kiểmsoát và tài trợ rủi ro thích hợp
Phương pháp nhận dạng rủi ro: Để nhận dạng được rủi ro cần lập được bảngliệt kê tất cả các dạng rủi ro đã, đang và sẽ có thể xuất hiện đối với công ty, có thể
sử dụng các phương pháp sau đây:
- Lập bảng câu hỏi nghiên cứu về rủi ro và tiến hành điều tra Các câu hỏi cóthể được sắp xếp theo nguồn rủi ro, hoặc môi trường tác động
- Phân tích báo cáo tài chính: Đây là phương pháp thông dụng Trong công tácquản lý rủi ro, bằng cách phân tích bảng tổng kết tài sản, báo cáo hoạt động kinhdoanh, các tài liệu bổ trợ khác để từ đó xác định giá trị doanh nghiệp và nhận địnhđược mọi nguy cơ rủi ro của công ty
Bảng 2.2 Phân loại rủi ro theo giá trị doanh nghiệp
- Phương pháp lưu đồ: Đây là phương pháp quan trọng để nhận dạng rủi ro
Để thực hiện phương pháp này trước hết cần xây dựng lưu đồ trình bày tất cả cáchoạt động của công ty Chẳng hạn như để thực hiện được một thương vụ xuất nhậpkhẩu thì cần qua nhiều giai đoạn, bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường, lựa chọnkhách hàng và kết thúc bằng khâu thanh lý hợp đồng Nhìn chung quá trình này cóthể thông qua 3 bước chính sau đây:
Nghiên cứu thị
trường, lựa chọn
khách hàng
Đàm phán, ký kếthợp đồng
Tổ chức thựchiện hợp đồng
Trang 31Trong trường hợp cụ thể, quá trình đàm phán, ký kết và tổ chức thực hiện hợpđồng xuất nhập khẩu có thể được cụ thể hoá từng bước chi tiết khác nhau.
- Thanh tra hiện trường: Đối với nhà quản lý rủi ro thanh tra hiện trường là côngviệc phải làm thường xuyên Nhờ quan sát, theo dõi trực tiếp hoạt động của các bộ phậntrong tổ chức, trên cơ sở đó tiến hành phân tích, đánh giá, các nhà quản lý có khả năngnhận dạng được những rủi ro mà công ty có thể gặp
- Phân tích các hợp đồng: Trong hoạt động kinh doanh nói chung, hoạt độngkinh doanh xuất nhập khẩu nói riêng, hợp đồng đóng vai trò đặc biệt quan trọng.Chính vì vậy, phân tích hợp đồng chính là một phương pháp hữu hiệu để nhận dạngrủi ro Khi phân tích hợp đồng cần phân tích tất cả các bộ phận của hợp đồng, từphần mở đầu, giới thiệu các bên chủ thể, cho đến nội dung các điều kiện, điềukhoản của hợp đồng và phần ký kết của hợp đồng Trong đó cần tập trung phân tích
kỹ tất cả các điều kiện và điều khoản của hợp đồng, cụ thể: Tên hàng (Commodity);chất lượng (Quality); số lượng (Quanlity); giá cả (Price); giao hàng (Shipment);thanh toán (Payment); bao bì, ký mã hiệu (Packing and marking); bảo hành(Warranty); phạt (Penalty); bảo hiểm (Insurance); bất khả kháng (Force majeure);khiếu nại (Claim); trọng tải (Arbitration); các điều kiện và điều khoản khác (Otherterms and conditions)
2.1.5.2 Đánh giá mức độ ảnh hưởng rủi ro của công ty
Để đánh giá mức độ ảnh hưởng rủi ro của công ty, cần thu thập số liệu và phântích, đánh giá chỉ tiêu sau:
- Tần suất xuất hiện của rủi ro, số lần xảy ra tổn thất hay khả năng xảy ra biến
cố nguy hiểm đối với tổ chức trong khoảng thời gian nhất định (thường là năm, quý,tháng )
- Mức độ nghiêm trọng của rủi ro, tổn thất, mất mát, nguy hiểm,
Trên cơ sở thu thập được, lập Ma trận đo lường rủi ro như sau:
Trang 32Bảng 2.3. Ma trận đo lường rủi ro
Tần suất xuất hiện
Mức độ nghiêm trọng
Bảng trên cho thấy:
+ Ô I tập trung những rủi ro có mức độ nghiêm trọng cao và tần suất xuất hiện
2.1.5.3 Ứng xử của công ty với rủi ro trong sản xuất kinh doanh
Chính sách quản lý rủi ro xác định phương pháp tiếp cận, đánh giá đối với rủi
ro và quản lý rủi ro, đồng thời nêu rõ trách nhiệm trong việc quản lý rủi ro trongtoàn bộ doanh nghiệp Hội đồng quản trị là người chịu trách nhiệm xác định hướngchiến lược và cơ cấu cho chức năng quản lý rủi ro doanh nghiệp nhằm đảm bảo hoạtđộng hiệu quả nhất Các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp có trách nhiệmtrong việc quản lý rủi ro hàng ngày, gắn kết việc nhận thức và tuyên truyền về quản
lý rủi ro trong bộ phận mình công tác Bộ phận quản lý rủi ro doanh nghiệp phải xâydựng được chính sách kiểm soát bất cứ một rủi ro nào thông qua việc phân tích cácrủi ro mà doanh nghiệp gặp phải Từ đó, phát triển các chiến lược nhằm từng bướcgiảm thiểu tần suất và nguy cơ mắc rủi ro, thiết kế định hướng quản lý rủi ro ở cấp
độ chiến lược và chức năng Đặc biệt có những chuẩn bị kịp thời để phản ứng nhanhchóng đối với những biến cố xảy ra trong quá trình sản xuất cũng như cung ứng rabên ngoài thị trường Xây dựng và nâng cao văn hóa nhận thức về rủi ro trongdoanh nghiệp trong đó có việc đào tạo về quản lý rủi ro trong doanh nghiệp; thiết kế
Trang 33và rà soát quy trình quản lý rủi ro; điều phối các hoạt động chức năng khác nhau cóliên quan đến vấn đề quản lý rủi ro trong doanh nghiệp…cũng cần được quan tâm,chú trọng.
Đánh giá rủi ro bao gồm việc xác định và phân tích những rủi ro có liên quanđến quá trình hướng tới mục tiêu của doanh nghiệp làm nền tảng cho việc xác địnhcách thức xử lý rủi ro Thông qua việc xác định mục tiêu đề ra ở cả cấp độ tổng thểdoanh nghiệp và cấp độ quy trình hay các bộ phận chức năng, doanh nghiệp có thểxác định được những yếu tố chủ yếu dẫn đến thành công và sau đó xác định nhữngrủi ro gây ảnh hưởng đến những yếu tố thành công này
Sau khi nhận định được các rủi ro có thể xảy ra, doanh nghiệp cần tiến hànhđánh giá hậu quả mà rủi ro có thể mang lại một khi nó xảy ra, để từ đó đưa ra quyếtđịnh quản lý rủi ro cho hợp lý và hiệu quả Ví dụ như theo phương pháp thống kê,rủi ro có thể được biểu diễn bằng một hàm phân phối thống kê, diễn tả các thông tin
về mức độ tổn thất tiềm tàng và xác suất xảy ra của chúng
Khi đối mặt với rủi ro, người ta thường ứng phó bằng một trong những cách sau
- Chấp nhận rủi ro tức là chịu đựng tổn thất;
- Né tránh rủi ro bằng cách loại trừ những nguyên nhân gây nên rủi ro đó;
- Hạn chế rủi ro tức là thực hiện các biện pháp để làm giảm ảnh hưởng của rủi
ro hay là hạn chế mức độ tổn thất
Trong ba cách ứng xử trên thì chấp nhận rủi ro là cách ứng phó thụ động và sựchấp nhận rủi ro cũng chỉ giới hạn trong khả năng chịu đựng tối đa của chủ thể Nétránh và hạn chế rủi ro là cách ứng xử mang tính chủ động, tuy nhiên cách thứ haikhông phải bao giờ cũng có thể thực hiện bởi vì người ta chỉ có thể loại bỏ nhữngnguyên nhân mang tính chủ quan chứ không thể loại trừ các nguyên nhân kháchquan Cách thứ ba chủ động thực hiện các biện pháp nhằm giảm thiệt hại do rủi rogây nên do đó được gọi là quản lý rủi ro
Quản lý rủi ro trong sản xuất kinh doanh là quá trình phát hiện, phân tích vàứng phó đối với sự thay đổi của những rủi ro tiềm ẩn bên trong đến môi trường bênngoài để nhằm hạn chế rủi ro, tổn thất về: Tài chính cho dự án, tỷ giá trong quátrình thực hiện các giao dịch liên quan đến ngoại tệ, dự trữ hàng tồn kho và về conngười,
Trang 34* Lựa chọn công cụ và quản lý rủi ro thích hợp
Đây là bước mấu chốt cuối cùng trong việc xây dựng chiến lược quản lý rủi
ro Trong bước này nhà quản lý phải chọn một giải pháp cụ thể Chẳng hạn, đối vớicác công cụ trên thị trường hối đoái, người ta có thể sử dụng hợp đồng tương lai,hợp đồng quyền chọn, làm công cụ phòng chống rủi ro, công cụ này có ưu điểm là
có tính thanh khoản cao và có hiệu quả về giá Tuy nhiên, công cụ này không linhđộng, không khắc phục được rủi ro cố hữu mà chi phí theo dõi lại khá tốn kém
* Quyết định có nên phòng ngừa hay không
Quyết định thực hiện phòng ngừa hay không được đưa ra trên cơ sở so sánhmức tổn thất có khả năng xảy ra với một tiêu chí nhất định nào đó, chẳng hạn nhưchi phí cần thiết để thực hiện phòng ngừa hoặc khả năng chịu rủi ro tối đa củadoanh nghiệp hay mức lãi/lỗ của mỗi thương vụ Tuỳ theo quan điểm của các nhàquản lý của từng doanh nghiệp, các tiêu chí được lựa chọn để so sánh sẽ khác nhau
và ngay cả trong một doanh nghiệp, các tiêu chí được lựa chọn để so sánh vào nhữngthời kỳ khác nhau cũng có thể không giống nhau Nhìn chung, quyết định thực hiệnphòng ngừa, phòng ngừa bao nhiêu và phòng ngừa như thế nào? tuỳ thuộc vào mức độchịu đựng rủi ro và dự báo mức độ biến động của từng yếu tố rủi ro trong kỳ tính toáncủa các nhà quản lý
* Lựa chọn kỹ thuật phòng ngừa hiệu quả nhất trong số các kỹ thuật khác nhau
có thể
Trong tất cả các quyết định liên quan đến chi phí, doanh nghiệp bao giờ cũnghướng đến mục tiêu tối đa hoá chi phí vì thế nếu quyết định phòng ngừa, doanh nghiệp
sẽ lựa chọn kỹ thuật phòng ngừa nào có hiệu quả nhất trong số các kỹ thuật khác nhau
có thể Hiệu quả nhất được hiểu là kỹ thuật đó phải phù hợp với đặc điểm hoạt độngcủa doanh nghiệp đồng thời có chi phí thấp nhất
2.1.5.4 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến quản lý rủi ro trong sản xuất kinh doanh giống
a Định hướng phát triển của công ty
Định hướng phát triển của công ty hay tôn chỉ định hướng của doanh nghiệp cóvai trò quan trọng đến quản lý rủi ro như bản hiến pháp của một quốc gia Mọi hoạtđộng, định hướng phát triển của doanh nghiệp nhất nhất phải tuân theo tầm nhìn địnhhướng này Mục tiêu từng thời kỳ có thể thay đổi, nhưng tầm nhìn, tôn chỉ định hướng
Trang 35của doanh nghiệp phải mang tính dài hạn và phải được phổ biến sâu rộng trong toàncông ty để mỗi thành viên hiểu, tự hào và toàn tâm, toàn ý thực hiện Điều này là mộttrong những yếu tố quyết định
Yếu tố thứ nhất là giá trị mang lại cho khách hàng Ngày nay, trong tất cả các tàiliệu về marketing, về quản lý đều nhấn mạnh tới định hướng khách hàng Khách hàngchính là người mang lại nguồn lợi cho doanh nghiệp Có khách hàng nghĩa là sẽ códoanh số, có lợi nhuận, khi đó công ty mới tồn tại và phát triển, giảm thiểu những rủi rotrong doanh nghiệp
Mang lại giá trị cho người lao động trong công ty là giá trị nền tảng thứ hai.Doanh nghiệp của chúng ta phải thực sự quan tâm và mang lại lợi ích cho người laođộng Họ chính là những người đại diện cho công ty tiếp xúc với khách hàng Mộtcông ty không quan tâm, chăm sóc những thành viên của mình, rất khó có thể quan tâmthực sự đến các khách hàng của mình Vì thế ngày càng có nhiều công ty thực sự chăm
lo đội ngũ của mình không chỉ bằng các chính sách, chế độ lương bổng thỏa đáng, màcòn là điều kiện phát triển nghề nghiệp, cơ hội thăng tiến, cơ hội tham gia điều hành vàcùng sở hữu doanh nghiệp qua các hình thức bán và chia cổ phần
Giá trị nền tảng thứ ba của tầm nhìn định hướng chính là các giá trị mang lại cho
cổ đông, cho chủ đầu tư Nhà đầu tư bỏ tiền vào doanh nghiệp không phải chỉ để giảitrí hay để làm công tác xã hội Điều mà doanh nghiệp không được quên, đó là lợinhuận mà nó mang lại qua các sản phẩm và dịch vụ của mình
Mang lại giá trị cho cộng đồng, cho xã hội là điều mà các doanh nghiệp cần quantâm Doanh nghiệp không chỉ chăm lo cho khách hàng, cho người lao động, cho chủđầu tư mà còn cần quan tâm đến cộng đồng, nơi doanh nghiệp hoạt động, nơi thịtrường muốn nhắm đến Trong cộng đồng, ngoài khách hàng còn bao gồm cả người laođộng, những người đang làm việc trong doanh nghiệp và đối với các công ty cổ phầnđại chúng, nó còn bao gồm luôn các cổ đông hiện tại lẫn tiềm năng Tạo ra giá trị chocộng đồng cũng chính là tạo thêm giá trị cho ba yếu tố chúng ta đề cập ở trên
Một doanh nghiệp không có tầm nhìn sẽ giống như một người đi trong rừng màkhông có la bàn, đi trên biển lớn mà không có hải đồ
b Nguồn lực của công ty
Nguồn lực của một doanh nghiệp bao gồm: nguồn nhân lực, tài sản vật chất,các nguồn lực vô hình Đây là nhóm yếu tố quyết định khả năng hoạt động của
Trang 36doanh nghiệp, quyết định sự thành bại trên thị trường; trong đó nguồn lực quantrọng nhất là con người Trong từng thời kỳ, mỗi nguồn lực đều có điểm mạnh,điểm yếu riêng so với các đối thủ cạnh tranh trong ngành do đó nhà quản lý các cấpnhất là nhà quản lý cấp cao luôn luôn phải có thông tin về các nguồn lực hiện tại vàtiềm năng phân tích và đánh giá chặt chẽ tận dụng đúng mức các nguồn lực sẵn cócủa mình nhằm tạo lợi thế trong cạnh tranh lâu dài Ngược lại, nếu nhân viên trongcông ty bất mãn thì rủi ro có thể xảy ra khi những kế hoạch của công ty hay côngnghệ kĩ thuật được bán cho đối thủ cạnh tranh gây thiệt hại lớn cho công ty.
c Tổ chức quản lý rủi ro của công ty
Để thiết lập hệ thống quản lý rủi ro, doanh nghiệp cần bắt đầu từ việc xây dựngChính sách quản lý rủi ro Chính sách này sẽ xác định rõ phương pháp tiếp cận đối vớirủi ro và quản lý rủi ro Bên cạnh đó, chính sách quản lý rủi ro cũng qui định rõ tráchnhiệm đối với quản lý rủi ro xuyên suốt doanh nghiệp, đối với: Ban Giám đốc; Cácđơn vị trực thuộc; phòng ban; Bộ phận quản lý rủi ro (nếu có); Bộ phận Kiểm toánnội bộ - kiểm soát nội bộ Việc triển khai hoạt động quản lý rủi ro cần gắn liền vớiChiến lược kinh doanh, Kế hoạch ngân sách hàng năm và các chu trình nghiệp vụtrong doanh nghiệp
Trong quá trình triển khai hoạt động quản lý rủi ro, doanh nghiệp cần đặc biệtquan tâm đến việc chuẩn bị bố trí và sử dụng hợp lý các nguồn lực Các nguồn lực cầnthiết cho hoạt động quản lý rủi ro phải được thiết lập tại từng cấp quản lý và trong từngđơn vị Kinh nghiệm từ thực tế cho thấy, để hệ thống quản lý rủi ro thực sự hoạt động,cần đảm bảo các yêu cầu sau:
· Cam kết của Ban lãnh đạo cấp cao đối với hoạt động quản lý rủi ro;
· Phân công trách nhiệm rõ ràng trong doanh nghiệp đối với hoạt động quản lýrủi ro;
· Cần đảm bảo phân bổ hợp lý các nguồn lực cho họat động đào tạo và nâng caonhận thức về rủi ro;
· Đặc biệt là việc thực thi, tuân thủ chính sách quản lý rủi ro Tại nhiều doanhnghiệp, việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro được đưa vào hệ thống tiêu chíđánh giá chất lượng thực hiện công việc của nhân viên (KPIs)
Trang 37d Các nguyên nhân khách quan
Các yếu tố khách quan tác động đến quản lý rủi ro trong doanh nghiệp giốngbao gồm yếu tố điều kiện tự nhiên, tác động của kinh tế khoa học xã hội hoặc cácchính sách của chính phủ, nguy cơ từ phía nhà cung cấp và ảnh hưởng của đối thủcạnh tranh Đối thủ cạnh tranh có thể nắm bắt được xu thế khoa học công nghệ mới
để giảm chi phí, hạ giá thành Dù là yếu tố nào thì doanh nghiệp cũng phải đưa racác chiến lược quản lý rủi ro hiệu quả
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1 Đặc điểm ngành giống cây trồng
Giống cây trồng là một trong những lĩnh vực quan trọng của sự phát triểnngành lương thực Với những khoa học công nghệ, nhiều loại giống cây trồng đãđóng vai trò trong việc đảm bảo an ninh lương thực của nhiều nước và xuất khẩu rathế giới Ngành giống cây trồng đã cung cấp một bộ giống phong phú, bao gồmgiống thuần và giống ưu thế lai ngắn ngày, có năng suất cao, chất lượng tốt, chốngchịu sâu bệnh, có khả năng thích ứng rộng, và nhiều loại cây trồng lâu năm được cảitiến, chọn lọc đưa vào sản xuất Những kết quả này đã tạo điều kiện rất cơ bản đểcon người cải thiện cuộc sống trong điều kiện thiên nhiên đang trở nên khắc nghiệtnhư hiện nay
2.2.2 Thực trạng sản xuất kinh doanh giống cây trồng ở Việt Nam
Trong những năm qua, ngành sản xuất giống cây trồng ở Việt Nam đã đạtđược nhiều thành tựu đáng kể Trong khi đảm bảo được an ninh lương thực trongnước, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia lớn trên thế giới trong lĩnhvực sản xuất giống cây trồng của một số loại cây rau, lúa, đậu và cải bắp Cùng vớiviệc nâng cao kĩ thuật giống cây trồng, các giống mới đã đóng vai trò quan trọng đểđạt được nhiều thành tựu trong phát triển nông nghiệp nông thôn
Theo kết quả điều tra tình hình sản xuất, kinh doanh giống cây trồng tại cácđịa phương và một số doanh nghiệp đại diện năm 2014, chủng loại giống được sảnxuất, kinh doanh tại các Trung tâm giống hoặc Công ty giống tỉnh chủ yếu vẫn tậptrung vào các cây lương thực, đặc biệt là lúa và ngô Trong đó các loại lúa thuần vàmột phần lúa lai (thường thấy ở các doanh nghiệp phía Bắc) chiếm khoảng 80 -90% sản lượng sản xuất, kinh doanh Đối với giống lúa, các doanh nghiệp phía Bắctập trung sản xuất và kinh doanh giống đời cao (siêu nguyên chủng và nguyên
Trang 38chủng), các giống cây trồng thuộc nhóm cây có hạt và củ giống bao gồm lúa, ngô,lạc, đậu tương, rau các loại và khoai tây được thể hiện ở bảng dưới đây
Bảng 2.4 Tình hình sản xuất và cung ứng giống cây trồng phân theo nhóm cây
- Cây giống hoa
206.200.000hoa cắt cành,địa lan
Nguồn: Báo cáo hiện trạng ngành giống cây trồng Việt Nam của Cục trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2015
Giống lúa được sản xuất, kinh doanh một cách chính thống (có kiểm soát) là
132 nghìn tấn, bao gồm 89 nghìn tấn có thống kê riêng và khoảng 43 nghìn tấnđược tách ra từ thống kê chung với các cây trồng khác Như vậy, so với nhu cầuhiện nay khoảng 900 nghìn tấn giống lúa/năm (7,3 triệu ha lúa, trung bình sử dụng
120 kg/ha) thì lượng giống này mới đáp ứng được khoảng 15%, còn lại nông dân tự
để giống Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, thông tin về số lượng giốngsản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thông báo thường thấp hơn so với thực
tế Tỷ lệ sử dụng giống từng cấp xác nhận trở lên ở các vùng rất khác nhau Vùng
Trang 39ĐBSH, tỷ lệ sử dụng giống từ cấp xác nhận cao nhất, bình quân ước đạt khoảng60%; các tỉnh vùng Miền núi phía Bắc và vùng Tây Nguyên, tỷ lệ này thấp nhất, chỉđạt dưới 20% Tại vùng ĐBSCL, theo đánh giá của Cục Trồng trọt, nhờ tác độngcủa dự án giống lúa xuất khẩu mà hệ thống nhân giống lúa 3 cấp đã được hình thành
và đi vào hoạt động ở hầu hết các địa phương trong vùng Năm 2014, diện tích sửdụng lúa xác nhận khoảng 24% diện tích gieo trồng
Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp và chủng loại giống, nguồn giống đầu vàophục vụ kinh doanh của các doanh nghiệp cũng khác nhau nhưng nhìn chung nguồngiống do nông dân sản xuất đóng vai trò rất quan trọng đối với thương mại giống ởViệt Nam
Đối với các công ty TW: Mặc dù có hệ thống các trạm trại và chi nhánh khárộng, có thể sản xuất với số lượng giống đáng kể nhưng các doanh nghiệp này vẫnphải hợp đồng sản xuất với nông dân ở các vùng thích hợp Các doanh nghiệp cungcấp giống siêu nguyên chủng hoặc giống nguyên chủng và hướng dẫn, giám sátnông dân thực hiện kỹ thuật đảm bảo chất lượng Sau đó mua lại sản phẩm của nôngdân sản xuất theo hợp đồng đã ký kết Ví dụ như Công ty CP giống cây trồng MiềnNam sản xuất và kinh doanh mỗi năm khoảng 10.000 tấn giống các loại, trong đó cótrên 3.000 tấn giống lúa xác nhận và 3.000 tấn ngô lai
Đối với các đơn vị giống tỉnh: Phần lớn các doanh nghiệp, trung tâm giốngtỉnh sản xuất và kinh doanh các loại giống phục vụ cho nhu cầu trong tỉnh Cácdoanh nghiệp này phần lớn đều có diện tích đất dành cho sản xuất nhất định và cóthể sản xuất được từ 50 - 80% nhu cầu cần cho kinh doanh, lượng còn lại đơn vịphải hợp đồng sản xuất nông dân
2.2.3 Kinh nghiệm quản lý rủi ro trong sản xuất kinh doanh giống của công ty
ở Việt Nam
2.2.3.1 Công ty giống cây trồng Bắc Ninh
Công ty giống cây trồng Bắc Ninh là công ty chuyên sản xuất kinh doanh lĩnhvực giống cây trồng, hoa cây cảnh các loại Đây là chức năng đầu tiên đảm nhiệmviệc tạo nguyên liệu cho quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty, sảnphẩm đưa ra thị trường có chất lượng cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào khâu sảnxuất nguyên liệu này Ngoài ra Công ty chế biến sản phẩm lúa, lạc, đậu tương vàkhoai tây đã thu hoạch tươi thành sản phẩm giống cây trồng đạt tiêu chuẩn quy định
Trang 40của Bộ Nông nghiệp và PTNT qua các khâu chế biến Được thành lập từ năm 2004,công ty giống cây trồng Bắc Ninh cũng là một trong những đối thủ cạnh tranh của công
ty Giống cây trồng Miền Nam trên thị trường Với nhiều năm kinh nghiệm, công tygiống cây trồng Bắc Ninh đã có nhiều biện pháp quản lý rủi ro
Trong sản xuát, công ty đã xây dựng kế hoạch sản xuất, cơ cấu giống cụ thểcho từng vụ, từng giống tức là việc sắp xếp tổng hoạt động của doanh nghiệp trongmột khoảng thời gian ngắn và dài hạn Nhưng bên cạnh đó trong quá trình sản xuấtthì rủi ro về thiên nhiên, dịch bệnh công ty đã và đang phải gánh chịu mà chưa cóbiện pháp hữu hiệu mặc dù có kế hoạch chỉ đạo sản xuất vào thời điểm thuận lợinhất, cụ thể như đã có dự phòng phần một diện tích mạ để bù vào phần bị thiệt hạikhi gặp rủi ro về thời tiết
Trong thu mua và lưu trữ sản phẩm, việc thu mua, định giá thu mua sản phẩm
và dự trữ hàng tồn kho thì công ty cũng đã tính đến sản lượng kế hoạch thu mua và
dự trữ làm sao vừa phải đảm bảo đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh và vừa phảiđảm bảo dự trữ hàng tồn kho một lượng phù hợp, hàng vụ công ty đã căn cứ vàonhu cầu của thị trường và tình hình thực tế đã có kế hoạch thu mua cụ thể Trongquá trình thu mua công ty dựa vào giá cả trên thị trường mà định giá thu mua thíchhợp cho từng thời điểm, sản phẩm thu mua đạt tiêu chuẩn chất lượng mới đượcnhập kho sản phẩm Nhưng trong những năm vừa qua nhìn chung công tác thu muasản phẩm của công ty gần như chưa có biện pháp phù hợp trong quá trình thu muasản phẩm Không thu mua được hết lượng sản phẩm tại các điểm sản xuất trong tỉnhchỉ đạt khoảng 60 - 70% sản lượng thực tế và công ty vẫn phải chịu phần thiệt hại
về sản lượng không thu mua được đó
Đối với rủi ro tỷ giá trong quá trình nhập khẩu giống lúa lai, nhà quản trị công
ty cổ phần giống cây trồng Bắc Ninh hoàn toàn nhận thức được sự thay đổi của tỷgiá VNĐ/CNY ảnh hưởng như thế nào đến giá trị bằng VNĐ của hợp đồng nhậpkhẩu từ đó dẫn đến giảm sút lợi nhuận của mỗi thương vụ và làm ảnh hưởng đến kếtquả quản xuất kinh doanh Nhằm giải bớt thiệt hại tài chính cho các hợp đồng liênquan đến ngoại tệ khi tỷ giá VNĐ/CNY tăng, nhà quản lý công ty đang áp dụng một
số biện pháp: Tạo khoản dự phòng trong giá chào bán để bù đắp tổn thất cho giáđầu vào của giống lúa lai do bị tỷ giá VNĐ/CNY tăng
Tuy nhiên trình độ yếu kém trong quản lý rủi ro tỷ giá của nhà quản lý BSC