1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

NHẬN THỨC của bác sỹ TRONG BỆNH VIỆN đa KHOA SAINT PAUL về CÔNG tác xã hội TRONG BỆNH VIỆN

89 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 430,87 KB
File đính kèm 13.rar (357 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Lí do chọn đề tài Hiện nay, lĩnh vực y tế được coi là một trong những chỉ số đánh giá mức độ hạnh phúc của một quốc gia. Chỉ số hạnh phúc đó được WHO khẳng định qua định nghĩa về sức khỏe, “Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật”. Do đó, việc chăm sóc sức khỏe cá nhân luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của mọi quốc gia, xã hội càng phát triển, nhu cầu về chăm sóc sức khỏe càng đòi hỏi được đáp ứng với chất lượng dịch vụ cao. Cùng với sự phát triển chung của thế giới, Việt Nam đã từng bước nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế nhằm hướng đến giải quyết những vướng mắc xuất hiện trong quá trình bệnh nhân tham gia khám và điều trị tại các bệnh viện. Bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu về khám chữa bệnh, các cơ sở y tế còn có chức năng hỗ trợ cán bộ nhân viên y tế, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân giải quyết những căng thẳng phát sinh trong mối quan hệ hay những khó khăn bệnh nhân có thể gặp phải trong việc tiếp cận dịch vụ… Từ nhận thức đó, công tác xã hội đã được đưa vào bệnh viện nhằm thực hiện các hoạt động hỗ trợ và góp phần nâng cao sự hài lòng của người bệnh. Việc đưa công tác xã hội vào trong bệnh viện là hết sức cần thiết và trở thành nhu cầu bức thiết hiện nay. Bởi lẽ, hầu hết các bệnh viện trong cả nước, nhất là các bệnh viện tuyến trên thường xuyên trong tình trạng quá tải. Nhân viên y tế không có đủ thời gian và khả năng để giải quyết nhiều nhu cầu bức xúc của bệnh nhân như hướng dẫn giải thích về qui trình khám chữa bệnh, tư vấn về phác đồ điều trị, cách phòng ngừa bệnh tật cho đến hỗ trợ về tâm lý, tinh thần cho người bệnh, khai thác thông tin về đặc điểm nhân khẩu xã hội của người bệnh, cung cấp thông tin về giá cả, chất lượng, địa điểm của các loại dịch vụ…thực trạng này đang dẫn đến không ít những phiền hà cho người bệnh tại các bệnh viện như: Sự thiếu hụt thông tin khi tiếp cận và sử dụng các dịch vụ khám chữa bệnh, sự không hài lòng của bệnh nhân đối với các cơ sở y tế, sự căng thẳng trong mối quan hệ giữa người bệnh và thầy thuốc… Hoạt động CTXH ở bệnh viện sẽ giúp cho mối quan hệ giữa nhân viên y tế và người bệnh, thân nhân người bệnh tốt hơn. Đây là một bước phát triển mới trong công tác chăm sóc và phục vụ người bệnh. Trong khi đó, công tác xã hội ở Việt Nam là một nghề mới. Nghề này chỉ dừng lại ở bước đầu hình thành, chưa được phát triển theo đúng ý nghĩa của nó trên tất cả các khía cạnh. Thực tế cho thấy, đa phần mọi người còn lạ lẫm trước tên gọi của nghề, một số khác có thể biết đến nhưng chưa hiểu đúng về bản chất của công tác xã hội. Vì vậy, khi đưa công tác xã hội vào triển khai trong bệnh viện, lĩnh vực này chưa nhận được sự quan tâm của bệnh nhân và mức độ tiếp cận cũng như tham gia chưa cao. Một trong những yếu tố mang tính quyết định đến sự thay đổi suy nghĩ của bệnh nhân về công tác xã hội là uy tín của bác sĩ. Bởi bệnh nhân thường mang tâm lí tin tưởng tuyệt đối vào bác sĩ. Khi tiếp bác sĩ đưa ra chỉ định hay chia sẻ bệnh nhân thường có khuynh hướng thực hiện theo những chia sẻ ấy. Do đó, việc bác sĩ có hiểu biết về công tác xã hội và đưa ra những gợi ý về hoạt động hay quan điểm mang tính định hướng về vai trò của công tác xã hội trong bệnh viện sẽ thu hút được sự chú ý của bệnh nhân về lĩnh vực này. Ngoài ra, để thực hiện hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện có hiệu quả thì nhận thức của bác sĩ về công tác xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng. Vì mỗi bác sĩ là một mắt xích trong mạng lưới công tác xã hội nên họ cần có hiểu biết nhất định về nhiệm vụ, vai trò của nghề công tác xã hội trong môi trường bệnh viện. Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn trên, tác giả chọn đề tài: “Nhận thức

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TÊN ĐỀ TÀI KHÓA LUẬN:

NHẬN THỨC CỦA BÁC SỸ TRONG BỆNH VIỆN ĐA KHOA SAINT

PAUL VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG BỆNH VIỆN.

Ngành đào tạo: Công tác xã hội

Mã số ngành: 7760101

Họ và tên sinh viên: NGUYỄN THỊ THU HÀ

Người hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp:

TS NGUYỄN THANH HUYỀN

Hà Nội, năm 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan nội dung khóa luận bao gồm các số liệu và kết quảthu được là do bản thân em trực tiếp theo dõi, thu thập với một thái độ hoàntoàn khách quan trung thực, các tài liệu đã trích dẫn của các tác giả đều đượcliệt kê đầy đủ, không sao chép bất cứ tài liệu nào mà không có trích dẫn Nếusai phạm em xin chịu mọi trách nhiệm cũng như các hình thức kỉ luật cuả nhàtrường

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Thu Hà

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp em đã nhận được sự giúp

đỡ rất nhiều từ thầy cô, bạn bè…

Bằng tất cả sự chân thành, kính trọng và lòng biết ơn của mình, em xingửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thanh Huyền, là người đã trực tiếphướng dẫn, động viên và chỉ bảo tận tình cho em trong suốt quá trình thựchiện đề tài này

Em xin chân thành cảm ơn đến tập thể giảng viên trường Đại học Laođộng- Xã hội nói chung và các giảng viên khoa Công tác xã hội nói riêng đãtrang bị kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong thời gian học tập vàthực hiện khóa luận tốt nghiệp

Bên cạnh đó, em xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến tập thể các bác sĩ hiệnđag công tác tại bệnh viện đa khoa Saint Paul cùng Phòng công tác xã hội củabệnh viện Saint Paul đã hỗ trợ về tài liệu và tạo điều kiện thuận lợi cho emtrong quá trình thực hiện nghiên cứu Nhờ có sự giúp đỡ này em đã có đượcnhững số liệu, thông tin mang tính khách quan, chính xác nhất trong bài khóaluận tốt nghiệp

Mặc dù bản thân em đã cố gắng thực hiện nghiên cứu nhưng do nhữnghạn chế về kiến thức, kinh nghiệm thực tế và thời gian nên bài khóa luận của

em không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự đónggóp ý kiến từ quý thầy cô để bài khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin trân trọng cảm ơn!

Hà nội, tháng 05 năm 2018

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Thu Hà

Trang 4

MỤC LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang 7

DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ, ẢNH

Trang 8

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hiện nay, lĩnh vực y tế được coi là một trong những chỉ số đánh giá mức

độ hạnh phúc của một quốc gia Chỉ số hạnh phúc đó được WHO khẳng địnhqua định nghĩa về sức khỏe, “Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thểchất, tinh thần và xã hội không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnhhay thương tật” Do đó, việc chăm sóc sức khỏe cá nhân luôn là một trongnhững ưu tiên hàng đầu của mọi quốc gia, xã hội càng phát triển, nhu cầu vềchăm sóc sức khỏe càng đòi hỏi được đáp ứng với chất lượng dịch vụ cao Cùng với sự phát triển chung của thế giới, Việt Nam đã từng bước nângcao chất lượng các dịch vụ y tế nhằm hướng đến giải quyết những vướng mắcxuất hiện trong quá trình bệnh nhân tham gia khám và điều trị tại các bệnhviện Bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu về khám chữa bệnh, các cơ sở y tế còn

có chức năng hỗ trợ cán bộ nhân viên y tế, bệnh nhân và người nhà bệnh nhângiải quyết những căng thẳng phát sinh trong mối quan hệ hay những khó khănbệnh nhân có thể gặp phải trong việc tiếp cận dịch vụ… Từ nhận thức đó,công tác xã hội đã được đưa vào bệnh viện nhằm thực hiện các hoạt động hỗtrợ và góp phần nâng cao sự hài lòng của người bệnh

Việc đưa công tác xã hội vào trong bệnh viện là hết sức cần thiết và trởthành nhu cầu bức thiết hiện nay Bởi lẽ, hầu hết các bệnh viện trong cả nước,nhất là các bệnh viện tuyến trên thường xuyên trong tình trạng quá tải Nhânviên y tế không có đủ thời gian và khả năng để giải quyết nhiều nhu cầu bứcxúc của bệnh nhân như hướng dẫn giải thích về qui trình khám chữa bệnh, tưvấn về phác đồ điều trị, cách phòng ngừa bệnh tật cho đến hỗ trợ về tâm lý,tinh thần cho người bệnh, khai thác thông tin về đặc điểm nhân khẩu xã hộicủa người bệnh, cung cấp thông tin về giá cả, chất lượng, địa điểm của cácloại dịch vụ…thực trạng này đang dẫn đến không ít những phiền hà cho ngườibệnh tại các bệnh viện như: Sự thiếu hụt thông tin khi tiếp cận và sử dụng cácdịch vụ khám chữa bệnh, sự không hài lòng của bệnh nhân đối với các cơ sở y

tế, sự căng thẳng trong mối quan hệ giữa người bệnh và thầy thuốc… Hoạtđộng CTXH ở bệnh viện sẽ giúp cho mối quan hệ giữa nhân viên y tế vàngười bệnh, thân nhân người bệnh tốt hơn Đây là một bước phát triển mớitrong công tác chăm sóc và phục vụ người bệnh

Trong khi đó, công tác xã hội ở Việt Nam là một nghề mới Nghề này chỉ

Trang 9

dừng lại ở bước đầu hình thành, chưa được phát triển theo đúng ý nghĩa của

nó trên tất cả các khía cạnh Thực tế cho thấy, đa phần mọi người còn lạ lẫmtrước tên gọi của nghề, một số khác có thể biết đến nhưng chưa hiểu đúng vềbản chất của công tác xã hội Vì vậy, khi đưa công tác xã hội vào triển khaitrong bệnh viện, lĩnh vực này chưa nhận được sự quan tâm của bệnh nhân vàmức độ tiếp cận cũng như tham gia chưa cao

Một trong những yếu tố mang tính quyết định đến sự thay đổi suy nghĩcủa bệnh nhân về công tác xã hội là uy tín của bác sĩ Bởi bệnh nhân thườngmang tâm lí tin tưởng tuyệt đối vào bác sĩ Khi tiếp bác sĩ đưa ra chỉ định haychia sẻ bệnh nhân thường có khuynh hướng thực hiện theo những chia sẻ ấy

Do đó, việc bác sĩ có hiểu biết về công tác xã hội và đưa ra những gợi ý vềhoạt động hay quan điểm mang tính định hướng về vai trò của công tác xã hộitrong bệnh viện sẽ thu hút được sự chú ý của bệnh nhân về lĩnh vực này

Ngoài ra, để thực hiện hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện có hiệuquả thì nhận thức của bác sĩ về công tác xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng

Vì mỗi bác sĩ là một mắt xích trong mạng lưới công tác xã hội nên họ cần cóhiểu biết nhất định về nhiệm vụ, vai trò của nghề công tác xã hội trong môitrường bệnh viện

Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn trên, tác giả chọn đề tài: “Nhận thức

của bác sỹ trong bệnh viện đa khoa Saint Paul về công tác xã hội trong bệnh viện” Kết quả của nghiên cứu sẽ là cơ sở để thấy rõ nhận thức của bác sĩ về

công tác xã hội trong bệnh viện hiện nay Từ đó, tác giả đóng góp ý kiếnnhằm giúp bác sĩ có được nhận thức toàn diện về công tác xã hội trong bệnhviện Điều này cũng góp phần thực hiện hiệu quả hoạt động công tác xã hộitrong bệnh viện và đem lại sự hài lòng của người dân về các dịch vụ y tế

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đưa ra những lý luận về những nội dung liên quan đến nhận thức củabác sĩ trong bệnh viện đa khoa Saint Paul về công tác xã hội trong bệnh viện.Phân tích và đưa ra những đánh giá về nhận thức của bác sĩ trong bệnhviện đa khoa Saint Paul về công tác xã hội trong bệnh viện

Đưa ra các khuyến nghị có liên quan nhằm nâng cao mức độ nhận thứccủa bác sĩ trong bệnh viện đa khoa Saint Paul về công tác xã hội trong bệnhviện

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 10

Nghiên cứu cơ sở lý luận đưa ra hệ thống các khái niệm liên quan đếncông tác xã hội trong bệnh viện.

Tìm hiểu, khảo sát thực tế có liên quan đến nhận thức của bác sĩ trongbệnh viện đa khoa Saint Paul về công tác xã hội trong bệnh viện

Phân tích thực trạng nhận thức của bác sĩ trong bệnh viện đa khoa SaintPaul về công tác xã hội trong bệnh viện

Đưa ra các khuyến nghị dưới góc độ công tác xã hội để nâng cao nhậnthức của bác sĩ trong bệnh viện đa khoa Saint Paul về công tác xã hội trongbệnh viện

4 Đối tượng nghiên cứu

Nhận thức của bác sĩ trong bệnh viện đa khoa Saint Paul về công tác xãhội trong bệnh viện

5 Khách thể nghiên cứu

Trong bệnh viện đa khoa Saint Paul hiện có 165 bác sĩ đang làm việc tạibệnh viện Tương ứng với 165 phiếu khảo sát, trong đó có 109 nam và 56 nữ

6 Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian khảo sát năm 2018

Về không gian nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa Saint Paul

Về nội dung nghiên cứu: Đánh giá sự hiểu biết, thái độ và hành vi củabác sĩ trong bệnh viện đa khoa Saint Paul về công tác xã hội trong lĩnh vực Ytế

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp điều tra bảng hỏi

Phương pháp này, tác giả khảo sát 109 bác sĩ nam và 56 bác sĩ nữ đanglàm việc tại bệnh viện đa khoa Saint Paul nhằm thu thập thông tin, số liệu vềthực trạng nhận thức của bác sĩ về công tác xã hội trong bệnh viện Qua phântích và nhận diện những hạn chế cùng yếu tố tác động đến nhận thức của bác

sĩ về công tác xã hội trong bệnh viện, làm cơ sở để tác giả đề xuất khuyếnnghị ở phần sau

7.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Các tài liệu hiện có tại cơ sở nghiên cứu, chính sách, đề án phát triểnnghề Công tác xã hội trong ngành Y tế, các tài liệu có liên quan đến công tác

Trang 11

xã hội trong bệnh viện Phân tích các báo cáo, thông tin thu thập được từ cácnguồn khác nhau Từ đó, tổng hợp và đưa ra các nhận xét cũng như đánh giá

về vấn đề

Sử dụng phương pháp này giúp tác giả xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.Đồng thời giúp tác giả nắm bắt được thực trạng nhận thức của bác sĩ về côngtác xã hội trong bệnh viện cùng với các hoạt động công tác xã hội đang đượctriển khai tại bệnh viện đa khoa Saint Paul

7.3 Phương pháp quan sát

Đây là phương pháp được tác giả sử dụng xuyên suốt trong quá trìnhthực hiện đề tài Với phương pháp này, tác giả đã đến trực tiếp Bệnh viện đakhoa Saint Paul nhằm quan sát rõ hơn về các hoạt động công tác xã hội đangđược triển khai Đồng thời tham gia vào các hoạt động công tác xã hội như:Phát cháo từ thiện, tổ chức trao quà ngày lễ… với mục đích tìm hiểu sâu hơn

về thực trạng triển khai hoạt động cùng nhận thức của bác sĩ về công tác xãhội trong bệnh viện

7.4 Phương pháp phỏng vấn sâu

Kết hợp điều tra bảng hỏi, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu với cáctrưởng khoa của bệnh viện đa khoa Saint Paul Sau đó, tác giả tổng hợp cáccâu trả lời nhằm có cái nhìn sâu hơn, cụ thể hơn về cách nhìn nhận, hiểu biết,thái độ và hành vi của các bác sĩ đối với công tác xã hội trong bệnh viện

7.5 Phương pháp xử lí dữ liệu

Tác giả tiến hành thiết kế cơ sở dữ liệu, nhập dữ liệu và sử lý dữ liệu cóđược dựa trên 165 phiếu khảo sát thông qua phần mềm SPSS- version 20.0.Khi phần mềm SPSS cho ra kết quả, tác giả tiến hành đánh giá, chọn lọcnhững số liệu, thông tin cần thiết liên quan đến vấn đề nghiên cứu để đưa vàotrình bày trong bài khóa luận Thông tin được trình bày dưới dạng bảng biểu

và đồ thị

8 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp

Khóa luận ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo…phần nội dung chính gồm 2 chương:

Chương I: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội trong bệnh việnChương II: Thực trạng nhận thức của bác y trong bệnh viện đa khoaSaint Paul về công tác xã hội trong bệnh viện

Trang 12

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Với quan điểm này, nhận thức là một quá trình biện chứng xảy ra trong ýthức của con người Quá trình ấy kích thích khả năng tri giác tiềm ẩn trongmỗi cá nhân tạo nên một cách hiểu mới và đi đến những hành động tương ứngdựa trên cách hiểu và thái độ của họ đối với vấn đề được đặt ra

Mác- Lênin cũng có cách nhìn nhận tương đồng với quan niệm trên:

Nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thựckhách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sángtạo, trên cơ sở thực tiễn [21, tr.510]

Lênin đã khắc họa một cách cô đọng bản chất của nhận thức Theo quanđiểm đó, nhận thức cũng là một quá trình biện chứng dựa trên cơ sở thực tiễncuộc sống có tác động đến suy nghĩ và hành động của con người Nó phảnánh góc nhìn của mỗi cá nhân trước một sự vật hiện tượng hay một hoạt độngxảy ra trong cuộc sống

Như vậy, có thể hiểu: Nhận thức là quá trình biện chứng phản ánh tích

cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ra những tri thức về thế giới khách quan Từ đó, con người tiếp thu được những kiến thức cần thiết về một vấn đề trong cuộc sống

và thể hiện thái độ của mình trước vấn đề nhằm hướng tới thực hiện một số hành động tương ứng.

1.1.2 Khái niệm bác sĩ

Trang 13

Bác sĩ còn gọi là thầy thuốc là người khám chữa bệnh, giúp bệnh nhânngăn ngừa bệnh từ sớm, chuẩn đoán bệnh, đưa ra các phương pháp điều trị

chuyên khoa, bác sĩ ngoại khoa [3, tr.236]

Bác sĩ đa khoa: Làm việc trong các bệnh viện đa khoa, các trạm y tế tổnghợp, bác sĩ đa khoa có kiến thức rộng về các lĩnh vực của y học, đóng vai tròbác sĩ khám chung cho cơ thể của bệnh nhân Tuỳ vào tình trạng sức khoẻ củatừng bệnh nhân mà bác sĩ đa khoa có những lời khuyên thích đáng, kê đơnthuốc, yêu cầu làm các xét nghiệm cụ thể hoặc chuyển bệnh nhân tới gặp bác

sĩ chuyên khoa [3, tr.237]

Bác sĩ chuyên khoa có chuyên môn sâu về một bộ phận nào đó trong cơthể con người như các chuyên khoa: răng - hàm - mặt, tai - mũi - họng, mắt,chấn thương chỉnh hình, da liễu, tim mạch, tiêu hóa, nội tiết Ngoài ra, bác sĩchuyên khoa cũng có thể chuyên về một lứa tuổi nào đấy như nhi khoa lãokhoa Họ làm việc tại các bệnh viện, phòng khám chuyên khoa [3, tr.237]Bác sĩ ngoại khoa có công việc chủ yếu là tham gia phẫu thuật cơ thểbệnh nhân để cắt bỏ các ổ bệnh, chỉnh sửa, nối ghép các bộ phận bị thươngtổn… Công việc này đòi hỏi bạn phải là người có đôi bàn tay vàng, sức khoẻtốt và một thần kinh thép với khả năng tập trung tuyệt vời Bác sĩ ngoại khoacũng thường chuyên về một lĩnh vực nào đấy, như bác sĩ ngoại khoa chuyên

về phẫu thuật não, bác sĩ ngoại khoa chuyên về phẫu thuật tim… [3, tr.238]

Như vậy, có thể hiểu: Bác sĩ là người được đào tạo chuyên môn tại các

trường Y khoa trên cả nước Họ là người khám chữa bệnh và đưa ra phác đồ điều trị phù hợp nhằm giúp bệnh nhân điều dưỡng thân thể và có được sức khỏe tôt nhất Mỗi bác sĩ sẽ chuyên về một lĩnh vực riêng như: bác sĩ đa khoa, bác sĩ chuyên kho, bác sĩ ngoại khoa… Tùy theo loại bệnh sẽ cần đến sự chuẩn đoán và điều trị chuyên khoa khác nhau.

1.1.3 Khái niệm Công tác xã hội

Con người là tổng thể của ba yếu tố cấu thành: Sinh lý, tâm lý và xã hội.Khi con người gặp khó khăn về một vấn đề và không thể tự giải quyết thì họcần đến sự can thiệp từ các chuyên gia trong lĩnh vực đó Trong khi đó, cácvấn đề xã hội luôn nảy sinh như: sự tương tác, các mối quan hệ xã hội, nghèođói… cần đến sự hỗ trợ từ các hoạt động công tác xã hội

Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh cho rằng: CTXH là hoạt động thực tiễn, mang

Trang 14

tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi nguyên tắc, phương pháp hỗ trợ

cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết các vấn đề Công tác xã hội theo đuổimục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội [6, tr.15]

Theo quan điểm của tác giả này, công tác xã hội là hoạt động thực tiễn.Bởi lẽ, nhân viên xã hội luôn làm việc trực tiếp với thân chủ Tác giả nhấnmạnh công tác xã hội có thể hỗ trợ giải quyết các vấn đề xuất hiện trong nhiềukhía cạnh của cuộc sống Tuy nhiên, hoạt động hỗ trợ này chủ yếu hướng tớigiải quyết những vấn đề thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày của con ngườinhằm đem lại sự ổn định, hạnh phúc cho cộng đồng

Khi tác giả Nguyễn Thị Oanh cho rằng công tác xã hội là hoạt động thựctiễn thì một số tác giả khác lại nhìn nhận công tác xã hội dựa trên khía cạnhkhoa học ứng dụng:

Công tác xã hội là một khoa học ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quảhoạt động của con người, tạo ra những chuyển biến xã hội và đem lại nền ansinh cho người dân trong xã hội [23, tr.62]

Nghề công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trongmối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằmgiúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lýthuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, Công tác xã hội tương tác vàonhững điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và công bằng

xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề [5, tr.24]

Từ những phân tích trên có thể hiểu: Công tác xã hội là một nghề, một

hoạt động chuyên nghiệp mang tính khoa học ứng dụng cao Trong đó, các hoạt động trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng được triển khai nhằm khôi phục lại các chức năng xã hội, nâng cao năng lực, đáp ứng nhu cầu và tạo nên sự thay đổi tích cực của thân chủ Bên cạnh đó, công tác xã hội có vai trò thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ… hướng tới trợ giúp các cá nhân, gia đình, cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn

đề xã hội, góp phần đảo bảo an sinh xã hội.

1.1.4 Khái niệm nhân viên công tác xã hội

Nhân viên công tác xã hội (tiếng Anh là social worker) là những ngườihoạt động trong nhiều lĩnh vực, được đào tạo chính quy và cả bán chuyênnghiệp, được trang bị các kiến thức và kỹ năng trong CTXH để trợ giúp cácđối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc

Trang 15

sống; tạo cơ hội để các đối tượng tiếp cận được nguồn lực cần thiết; thúc đẩy

sự tương tác giữa các cá nhân, giữa cá nhân với môi trường tạo ảnh hưởng tớichính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm

và cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn” [23,tr.1037]

Nhân viên công tác xã hội là những nhà chuyên nghiệp làm chủ nhữngnền tảng kiến thức cần thiết, có khả năng phát triển các kỹ năng cần thiết, tuântheo những tiêu chuẩn và đạo đức của nghề công tác xã hội [22, Tr.5]

Tóm lại, có thể hiểu: Nhân viên công tác xã hội hoạt động trên nhiều

lĩnh vực Họ dựa trên nền tảng kiến thức, kỹ năng, chuẩn mực, nguyên tắc nghề nghiệp để đưa ra những hoạt động trợ giúp đối tượng yếu thế một cách phù hợp nhằm giúp thân chủ của họ nâng cao khả năng tự giải quyết vấn đề Đồng thời nhân viên công tác xã hội còn sử dụng linh hoạt các vai trò để giúp thân chủ tăng cường sự tương tác giữa các cá nhân, tạo dựng những mối quan hệ tích cực, nắm bắt được các chương trình chính sách, tiếp cận được với nguồn lực cần thiết… đảm bảo quyền lợi của mỗi cá nhân và sự công bằng xã hội.

1.1.5 Khái niệm công tác xã hội trong bệnh viện

Bệnh viện là một bộ phận không thể tách rời của tổ chức xã hội Y tế,chức năng của nó là chăm sóc sức khỏe toàn diện cho nhân dân, cả phòngbệnh và dịch vụ ngoại trú của bệnh viện phải vươn tới gia đình và môi trường

cư trú Bệnh viện còn là trung tâm đào tạo cán bộ y tế và nghiên cứu khoahọc [13, tr.2]

Công tác xã hội bệnh viện có thể hiểu như sau: Công tác xã hội trong

bệnh viện là các hoạt động hỗ trợ người bệnh, người nhà người bệnh khi tham gia hoạt động chăm sóc sức khỏe và các nhân viên y tế trong bệnh viện nhằm giải quyết các vấn đề xã hội và tâm lý liên quan đến bệnh tật hay quá trình khám chữa bệnh

1.1.6 Khái niệm nhận thức của bác sỹ về công tác xã hội trong bệnh viện

Nhận thức của bác sỹ trong bệnh viện đa khoa Saint Paul về công tác xã hội trong bệnh viện là việc tiếp thu những kiến thức cần thiết của bác sỹ về công tác xã hội trong bệnh viện hay cụ thể là: các hoạt động hỗ trợ người bệnh, người nhà người bệnh và các nhân viên y tế trong bệnh viện… được phản ánh qua thái độ, hành động nhất định Từ thái độ, hành động của họ

Trang 16

được kiểm nghiệm trong thực tiễn nhằm đem đến sự ổn định và phát triển cho bệnh viện đa khoa Saint Paul.

1.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CUẢ CÔNGTÁC XÃ HỘI TRONG BỆNH VIỆN

2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ của công tác xã hội trong bệnh viện

Hiện nay có rất nhiều vấn đề nảy sinh tại các bệnh viện như: tình trạngbệnh nhân thiếu thông tin về các dịch vụ chăm sóc, mối qan hệ căng thẳnggiữa bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân với các cán bộ y tế… Đồng thờinắm bắt được tầm quan trọng cũng như hiệu quả của hoạt động công tác xãhội trong bệnh viên đem tại tại rất nhiều quốc gia trên thế giới Bộ Y tế đã phêduyệt “ Đề án phát triển nghề công tác xã hội trong ngành y tế giai đoạn 2010đến 2020” Bên cạnh đó, Bộ Y tế cũng ban hành Thông tư số 43/2015/TT-BYT quy định về nhiệm vụ công tác xã hội của bệnh viện và hình thức tổchức thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội của bệnh viện Theo đó, nhiệm vụcông tác xã hội của bệnh viện được quy định như sau:

Hình 1.1: Thông tư số 43/2015/TT-BYT quy định về nhiệm vụ công tác xã

hội của bệnh viện

Thứ nhất, công tác xã hội có thể hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn đề liênquan đến công tác xã hội cho người bệnh và người nhà người bệnh trong quátrình khám bệnh, chữa bệnh, bao gồm:

• Đón tiếp, chỉ dẫn, cung cấp thông tin, giới thiệu về dịch vụ khám bệnh,chữa bệnh của bệnh viện cho người bệnh ngay từ khi người bệnh vào khoakhám bệnh hoặc phòng khám bệnh;

Trang 17

về tình hình sức khỏe, hoàn cảnh khó khăn của người bệnh, xác định mức độ

và có phương án hỗ trợ về tâm lý, xã hội và tổ chức thực hiện;

của bạo hành, bạo lực gia đình, bạo lực giới, tai nạn, thảm họa nhằm bảo đảm

an toàn cho người bệnh: hỗ trợ về tâm lý, xã hội, tư vấn về pháp lý,giám định pháp y, pháp y tâm thần và các dịch vụ phù hợp khác;

người bệnh, các chương trình, chính sách xã hội về bảo hiểm y tế, trợ cấp xãhội trong khám bệnh, chữa bệnh;

bệnh, chữa bệnh hoặc xuất viện; Hỗ trợ thủ tục xuất viện và giới thiệu ngườibệnh đến các địa điểm hỗ trợ tại cộng đồng (nếu có);

trợ về công tác xã hội của bệnh viện;

Thứ hai, công tác xã hội thực hiện hoạt động về thông tin, truyền thông

và phổ biến, giáo dục pháp luật:

chức thực hiện kế hoạch sau khi được phê duyệt;

hoạt động của bệnh viện đến người bệnh và cộng đồng thông qua tổ chức cáchoạt động, chương trình, sự kiện, hội nghị, hội thảo:

quan đến công tác khám bệnh, chữa bệnh, hoạt động của bệnh viện cho nhânviên y tế, người bệnh và người nhà người bệnh;

viên y tế và người bệnh

Trang 18

Thứ ba, công tác xã hội thực hiện vai trò kết nối thông qua các hoạt độngvận động tiếp nhận tài trợ:

chất để hỗ trợ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn

Thứ tư, công tác xã hội có thể hỗ trợ nhân viên y tế, cụ thể như:

thiết để hỗ trợ công tác điều trị;

quá trình điều trị

Thứ năm, công tác xã hội thực hiện hoạt động đào tạo, bồi dưỡng:

các cơ sở đào tạo nghề công tác xã hội;

viên bệnh viện; phối hợp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cơ bản về y tế chongười làm việc về công tác xã hội

Thứ sáu, tổ chức đội ngũ cộng tác viên làm công tác xã hội của bệnhviện

Thứ bảy, tổ chức các hoạt động từ thiện, công tác xã hội của bệnh việntại cộng đồng (nếu có)

Như vậy, theo quy định này khi bệnh nhân tham gia thăm khám ở bệnhviện thì sẽ nhận được sự hỗ trợ khác nhau, phù hợp với từng hoàn cảnh, baogồm các hoạt động như: đón tiếp, chỉ dẫn, cung cấp thông tin, giới thiệu vềdịch vụ khám, chữa bệnh ngay từ khi người bệnh vào khoa khám bệnh hoặcphòng khám bệnh; tổ chức hỏi thăm người bệnh và người nhà người bệnh đểnắm bắt thông tin về tình hình sức khỏe, hoàn cảnh khó khăn của người bệnh,xác định mức độ và có phương án hỗ trợ về tâm lý, xã hội và tổ chức thựchiện; tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phù hợp chonhân viên y tế và người bệnh… nhằm đảm bảo quyền lợi của bệnh nhân khitham gia khám và điều trị tại cơ sở y tế

Trang 19

1.2.2 Tầm quan trọng của Công tác xã hội trong bệnh viện.

Công tác xã hội trong bệnh viện giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong việcđiều hòa các mối quan hệ, hỗ trợ giải quyết các vấn đề phát sinh, hỗ trợ hoạtđộng khám chữa bệnh trong bệnh viện, hạn chế trường hợp thiếu hụt thông tinkhi tiếp cận và sử dụng các dịch vụ khám chữa bệnh, tăng cường sự hài lòngcủa bệnh nhân đối với các cơ sở y tế … Tầm quan trọng của công tác xã hộitrong bệnh viện được thể hiện cụ thể như sau:

Hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện trở thành cầu nối giữa bệnhnhân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với cộng đồng Thông qua các hoạtđộng truyền thông, những thông tin về bệnh nhân có hoàn cảnh khó khănđược chia sẻ rộng rãi và thu hút được nhiều sự quan tâm từ các nhà hảo tâm.Hoạt động này đem đến niềm tin, sự hy vọng cho bệnh nhân cùng người nhàcủa họ vào một tương lai tốt đẹp hơn

Không chỉ dừng lại ở đó, công tác xã hội trong bệnh viện còn góp phầntạo nên mối quan hệ hài hòa giữa thể chất và tinh thần của người bệnh, giữangười bệnh với người thân, giữa người bệnh với nhân viên y tế và người bệnhvới môi trường xung quanh Các hoạt động hỗ trợ về tâm lí sẽ góp phầnkhông nhỏ đến việc ổn định tâm lí của người bệnh Từ đó, người bệnh cóđược sự thoải mái, hạn chế những va chạm không đáng có với những ngườixung quanh Đặc biệt, tâm lí thoải mái cũng tạo điều kiện thuận lợi cho quátrình điều trị của người bệnh Cùng với đó, công tác xã hội còn kết nối ngườibệnh với các dịch vụ chăm sóc trong bệnh viện giúp họ có được sự hài lòngtrong quá trình điều trị

Ngoài ra, hoạt động công tác xã hội ở bệnh viện góp phần không nhỏtrong việc điều hòa mối quan hệ giữa nhân viên y tế và người bệnh, thân nhânngười bệnh tốt hơn Đây là một trong những bước phát triển mới trong côngtác chăm sóc và phục vụ người bệnh

Bên cạnh đó, công tác xã hội trong bệnh viện còn góp phần đảm bảoquyền được chăm sóc sức khỏe của bệnh nhân thông qua một số hoạt độngchuyên môn như: tư vấn các vấn đề xã hội có liên quan cho bệnh nhân và giađình của họ trong quá trình điều trị; tìm kiếm các dịch vụ hỗ trợ trên cơ sở tìmhiểu và phân tích các yếu tố xã hội có ảnh hưởng đến sức khỏe của bệnhnhân; kết nối các dịch vụ hỗ trợ cho từng bệnh nhân; nghiên cứu cung cấpbằng chứng từ thực tế hoạt động để đề xuất chính sách; hỗ trợ giải tỏa tâm lýcho bệnh nhân, người nhà và nhân viên y tế…

Trang 20

Đặc biệt, công tác xã hội trong bệnh viện không chỉ hỗ trợ bệnh nhân màcòn có tác dụng rất lớn trong việc hỗ trợ cán bộ nhân viên y tế Bởi lẽ, tại tất

cả các cơ sở y tế đều đang diễn ra tình trạng quá tải Số lượng bệnh nhân quánhiều, nhu cầu của bệnh nhân rất lớn trong khi đó số lượng nhân viên y tế cònhạn chế đã tạo nên sứ ép không nhỏ đến nhân viên y tế nói chung và các bác

sỹ nói riêng Với áp lực ấy, bác sĩ gặp không ít khó khăn trong quá trình khám

và điều trị Chính vì lẽ đó, với việc thực hiện các hoạt động công tác xã hộinhằm hỗ trợ phân luồng bệnh nhân, cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh…

đã phần nào làm giảm đi những áp lực và góp phần nâng cao chất lượng khámchữa bệnh Đây cũng là một khía cạnh tạo nên sự hài lòng của bệnh nhân khitham gia khám và điều trị tại các cơ sở y tế

Từ những điều trên ta có thể thấy, công tác xã hội trong bệnh viện thực

sự có vị trí rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnhtrong bệnh viện Các hoạt động công tác xã hội đã góp phần làm tăng thêm sựhài lòng của người bệnh và gia đình người bệnh khi đến điều trị tại bệnh viện.Đặc biệt, nhờ có công tác xã hội mà quyền lợi của người bệnh được đảm bảohơn, đem đến những mối quan hệ tốt đẹp

1.3 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG TÁC XÃ HỘITRONG BỆNH VIỆN TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

1.3.1 Sự hình thành và phát triển của Công tác xã hội trong bệnh viện trên thế giới

So với rất nhiều ngành nghề khác thì công tác xã hội trong bệnh viện còn

là một nghề non trẻ Song công tác xã hội trong bệnh viện lại có lịch sử pháttriển khá lâu đời trên thế giới từ dạng hoạt động trợ giúp đơn thuần sang hoạtđộng chuyên nghiệp

Từ cuối thế kỷ XIX, từ những năm 1880 ở Anh khi có một nhóm tìnhnguyện viên làm việc tại một nhà thương điên của Anh đã có những cuộcthăm viếng thân thiện nhằm tìm hiểu và giúp đỡ bệnh nhân sau khi xuất việntrở lại trạng thái cân bằng trong điều kiện nhà ở hiện tại của họ

Sau đó, công tác xã hội trong bệnh viện được hình thành ở Mỹ vào đầuthế kỷ XX, năm 1900 khi những người y tá đã đến thăm bệnh nhân sau khixuất viện và họ đã cho thấy được tầm quan trọng của việc hiểu rõ các vẫn đề

xã hội của bệnh nhân Công tác xã hội được đưa vào bệnh viện năm 1905 tại

Trang 21

Boston, Mỹ Trong thời gian từ 1905 đến 1915 đã có nhân viên CTXH làmviệc tại hơn 100 bệnh viện Đến năm 1918 đã có Hiệp hội nhân viên CTXH Ykhoa do Ida Cannon góp phần xây dựng Vai trò quan trọng của CTXH Ykhoa ngày càng được củng cố, số bệnh viện có nhân viên CTXH tăng lên 300vào năm 1919, và đến năm 1940 Hiệp hội các Bệnh viện Mỹ đã soạn ra tiêuchuẩn chất lượng đòi hỏi bệnh viện phải có nhân viên CTXH Điều này cónghĩa để được chứng nhận chất lượng, bệnh viện bắt buộc phải có dịch vụCTXH chuyên nghiệp Lịch sử phát triển gắn bó lâu dài giữa CTXH và Ykhoa đã dẫn đến sự hình thành các Hiệp hội CTXH riêng cho nhiều chuyênngành khác nhau của Y khoa, thí dụ Hiệp hội Nhân viên CTXH chuyên ngànhung thư được thành lập tại Mỹ từ năm 1983 Đến nay hầu hết các bệnh việnđều có phòng công tác xã hội và đây là một trong những điều kiện để cácbệnh viện được công nhận là một hội viên của Hội các bệnh viện tại Mỹ.Tại Châu Á, hoạt động xã hội được công nhận đầu tiên tại Trung Quốc làhoạt động xã hội về y tế tại khoa công tác xã hội tại bệnh viện ở Bắc Kinh,thành lập năm 1921 bởi một nhân viên làm công tác xã hội Hoa Kỳ, IdaPruitt Bộ phận này cung cấp các dịch vụ nghiên cứu xã hội, công tác thíchứng, tái định cư Bên cạnh đó, bộ phận này cũng tham gia đào tạo dịch vụđược tổ chức cho các nhân viên xã hội – có thể đây là công việc đào tạo đầutiên tại Trung Quốc.

Từ những ngày đầu tiên của lịch sử ra đời ngành công tác xã hội trongbệnh viện đến nay đã trải qua hơn một thế kỷ, công tác xã hội trong bệnh viện

đã càng ngày càng chứng tỏ là một nghề không thể thiếu được trong bệnhviện ở các nước phát triển như: châu Âu, châu Mỹ, châu Úc,…

Nhân viên công tác xã hội tham gia vào các hoạt động trong bệnh việnnhư là một lực lượng, một đội ngũ không thể thiếu được, bên cạnh đội ngũ ybác sĩ và điều dưỡng của bệnh viện Tại đây, nhân viên xã hội là một thànhphần trong ê kíp trị liệu Họ có nhiệm vụ tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh,phương pháp chữa trị thích hợp trên cơ sở thu thập thông tin về điều kiệnsống, thói quen, cá tính, đặc điểm tâm lý của bệnh nhân Nhân viên xã hội cònthực hiện các trợ giúp về tâm lý đối với người bệnh như: trấn an, giảm áp lực,tránh xấu hổ, tư vấn về điều trị… Nhân viên xã hội cũng có thể tham mưu về

kế hoạch xuất viện của bệnh nhân và theo dõi bệnh nhân sau khi ra viện.Chăm sóc sức khỏe tại gia đình và cộng đồng như: truyền thông, giáo dục sứckhỏe, giúp các nhóm đặc thù phục hồi, phát triển thể chất và tinh thần…

Trang 22

Ngoài ra, sau khi điều trị bệnh, nhân viên công tác xã hội còn giúp bệnh nhânphục hồi và tái hòa nhập cộng đồng.

Đặc biệt, theo kết quả của một cuộc khảo sát quốc gia về chứng chỉ hànhnghề của nhân viện xã hội tại Mỹ thì bệnh viện là môi trường làm việc thôngdụng nhất của người làm nghề công tác xã hội Nghiên cứu cũng cho thấy cácbệnh viện trên thế giới hiện nay đều phải giải quyết những vấn đề nghiêmtrọng của bệnh nhân, khối lượng công việc của bệnh viện gia tăng, nhữngcông việc liên quan đến những thủ tục giấy tờ, danh sách bệnh nhân chờ đợiđược cung cấp dịch vụ ngày càng tăng

1.3.2 Sự hình thành và phát triển của Công tác xã hội trong bệnh viện tại Việt Nam.

Trong những năm gần đây, tại một số bệnh viện tuyến Trung ương cũng

đã triển khai hoạt động công tác xã hội với sự tham gia của đội ngũ nhân viên

y tế kiêm nhiệm và tình nguyện viên nhằm hỗ trợ thầy thuốc trong phân loạibệnh nhân, tư vấn, giới thiệu dịch vụ chuyển tiếp, hỗ trợ chăm sóc ngườibệnh… Một số mô hình tổ chức hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện vàtại cộng đồng cũng đã được hình thành trong thực tiễn như: phòng công tác xãhội, phòng chăm sóc khách hàng… thuộc bệnh viện

Tuy nhiên, hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện hiện chủ yếu mangtính tự phát chưa được điều chỉnh nhiều bởi các văn bản mang tính pháp lý.Hiện tại, ở cả ba cấp độ hoạt động của ngành Y tế đều chưa có sự tham giaphù hợp của công tác xã hội Trước hết, tại các bệnh viện ở các tuyến khu vựccông lập cũng như ngoài công lập, hoạt động khám chữa bệnh mới chỉ đượcthực hiện bới các nhân viên có trình độ chuyên môn về Y, Dược Các biệnpháp trị liệu về xã hội chưa được quan tâm Hiện một số bệnh viện có xuấthiện các hoạt động còn mang nặng tính từ thiện và tự phát mà thiếu đi tínhchuyên nghiệp khiến cho các hoạt động chỉ giải quyết được phần ngọn màkhông hỗ trợ thay đổi được phần gốc khiến cho vấn đề không được giải quyếttriệt để Trong khi đó, các bệnh viện thường xuyên trong tình trạng quá tải,các vấn đề khó khăn ngày càng nhiều, thời gian hỗ trợ giải quyết của đội ngũ

y bác sỹ còn hạn chế… Vì vậy, ta có thể thấy nhu cầu về hoạt động hỗ trợ củacông tác xã hội trong bệnh viện là rất lớn

Nghề công tác xã hội ở Việt Nam có thể được coi là chính thức từ năm

2010 sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTgngày 25/3/2010 về việc phê duyệt Đề án phát triển nghề Công tác xã hội giai

Trang 23

đoạn 2010- 2020 Công tác xã hội trong ngành y tế cũng đã được hình thànhngay sau khi Bộ Y tế ban hành Quyết định số 2154/QĐ-BYT ngày 15/7/2011

về việc phê duyệt “Đề án Phát triển nghề Công tác xã hội trong ngành Y tếgiai đoạn 2010-2020” Và gần đây nhất là Quyết định số 1791/QĐ-TTg ngày15/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc quyết định lấy ngày 25 tháng 3hàng năm là “Ngày Công tác xã hội Việt Nam” Như vậy, chúng ta có thể thấycông tác xã hội trong bệnh viện ngày càng phát triển và có vai trò quan trọngtrong việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, giải quyết nhu cầu bức thiếttrong chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như làmgia tăng sự hài lòng của người dân khi sử dụng dịch vụ y tế

1.4 CÁC HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG BỆNH VIỆN

Công tác xã hội trong bệnh viện được xây dựng bởi hệ thống các hoạtđộng về an sinh, truyền thông, hỗ trợ dịch vụ, chăm sóc khách… nhằm hướngtới đem đến những dịch vụ tốt nhất và đảm bảo quyền lợi cho tất cả mọingười

1.4.1 Hoạt động hỗ trợ và tư vấn tâm lý xã hội

Hoạt động hỗ trợ bệnh nhân gặp khó khăn trong quá trình khám và điềutrị tại cơ sở y tế nhằm giúp họ có thêm kiến thức và sự hiểu biết về các thôngtin về cơ sở y tế Công tác xã hội có thể hỗ trợ bệnh nhân trong quá trình đóntiếp, chỉ dẫn, giới thiệu dịch vụ… giúp họ có được những thông tin cần thiết

và được tiếp nhận những dịch vụ chăm sóc phù hợp khi tham gia khám chữabệnh tại bệnh viện Bởi lẽ, việc tiếp đón và chỉ dẫn sẽ góp phần làm giảm thờigian thực hiện các thủ tục cần thiết cho quá trình đăng kí khám hay nhập việnđiều trị nội trú Bên cạnh đó, tại một số bệnh viện như Saint Paul công tác hỗtrợ đăng kí khám tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân đặt lịch khám với bác

sĩ theo nhu cầu tránh tình trạng xếp hàng lấy số khám như các bệnh viện khác.Ngoài ra, các bác sĩ kết hợp với mạng lưới công tác xã hội xây dựng lịchkhám mạn tính cho bệnh nhân và thực hiện công tác hỗ trợ khám theotháng…

Cùng với đó, hoạt động tư vấn tâm lý xã hội cho bệnh nhân nhằm giúp

họ có được niềm ti, hy vọng và tâm lý thoải mái để vượt qua đau đớn mà bệnhtật mang lại Nhân viên CTXH trong bệnh viện trở thành những hỗ trợ tâm lýthông qua việc họ tiếp nhận thông tin được phản ánh từ các khoa và tiến hànhtiếp cận bệnh nhân Họ lắng nghe những chia sẻ, ước muốn của bệnh nhân.Bởi lẽ, đồng hành với sự hành hạ về thể xác do bệnh tật thì họ còn phải chịu

Trang 24

đựng những vấn đề về mặt tin thần khiến họ rất dễ tổn thương, đặc biệt lànhững bệnh nhân đặc biệt khó khăn Vì vậy, bệnh nhân không chỉ cần sự hỗtrợ trong việc điều trị bệnh tật mà còn cần tới sự hỗ trợ về mặt tâm lý để giúp

họ vượt qua những quãng thời gian khủng hoảng và suy sụp

Tiếp đến phải kể tới các hoạt động hỗ trợ khẩn cấp dành cho nhóm đốitượng đặc thù (người bệnh là nạn nhân của bạo lực gia đình, trẻ bị bỏ rơi,người già neo đơn…) nhằm bảo đảm an toàn cho người bệnh:

trình, chính sách xã hội về bảo hiểm y tế, trợ cấp xã hội trong khám và điều trịbệnh;

lên các cấp có thẩm quyền nhằm giúp người bệnh có được nơi ở ổn định,được chăm sóc sau khi kết thúc điều trị

cộng đồng (nếu có)

1.4.2 Hoạt động truyền thông và quan hệ công chúng

Hoạt động truyền thông và quan hệ công chúng hướng tới mục đích kéogần khoảng cách giữa những nhà hảo tâm, các tổ chức từ thiện, hội chữ thập

đỏ với bệnh nhân cần được hỗ trợ giúp họ nắm bắt được thông tin về hoàncảnh và căn bệnh mà bệnh nhân ấy đang gặp phải Đồng thời tạo cơ hội tuyêntruyền nâng cao nhận thức về những căn bệnh hiểm nghèo, thông tin về bệnh,hậu quả mà bệnh đem đến, cách khắc phục bệnh và phòng tránh bệnh

Hoạt động này được thực hiện thông qua chuỗi các hoạt động nhỏ như:viết bài về Y học thường thức hay tin từ thiện đăng trên fanpage, website,cung cấp thông tin cho truyền thông, lên kế hoạch truyền thông chăm sóc sứckhỏe, quảng bá hình ảnh bệnh viện, tổ chức các chương trình hoặc sự kiệntrong những ngày lễ tết cho bệnh nhân đang tham gia điều trị nội trú; cập nhật

và tổ chức phổ biến các chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan đếncông tác khám bệnh, chữa bệnh, hoạt động của bệnh viện cho nhân viên y tế,người bệnh và người nhà người bệnh… các hoạt động đều dựa trên nhữngnhiệm vụ cụ thể mà công tác xã hội trong bệnh viện cần thực hiện Nhờnhững hoạt động thiết thực này đã xây dựng nên hình ảnh bệnh viện thânthiện và có chất lượng dịch vụ tốt trong mắt nhân dân Bên cạnh đó, nó gópphần làm tăng hiệu quả trong việc truyền thông nâng cao nhận thức của người

Trang 25

dân về các căn bệnh cũng như đem đến chất lượng sống tốt hơn cho mọingười

Hoạt động truyền thông và quan hệ công chúng được thực hiện dướinhiều hình thức khác nhau như: tổ chức họp báo, tổ chức các chương trìnhtruyền hình, các phương tiện truyền thông, áp phích

1.4.3 Hoạt động huy động nguồn lực

Trong hoạt động này nhân viên CTXH sau khi tiếp nhận thông tin đượcphán ánh từ khoa điều trị trong bệnh viện sẽ có nhiệm vụ tìm hiểu và xácminh thông tin của bệnh nhân (lí do gây bệnh, thời gian nhập viện, phươngpháp chữa trị, kinh phí cần có để điều trị, hoàn cảnh gia đình, đặc điểm tâmlý…) thông qua việc thu thập thông tin từ địa phương bệnh nhân sinh sống,các bệnh viện đã từng tiếp nhận và điều trị cho bệnh nhân đó Tiếp đến nhânviên CTXH trong bệnh viện thực hiện hoạt động huy động nguồn lực hỗ trợ

từ các nhà hảo tâm, các đối tác sẵn có của bệnh viện… Nhân viên CTXHđóng vai trò là cầu nối giữa bệnh nhân cần trợ giúp với các dịch vụ hỗ trợ hayvới nhà tài trợ

Bên cạnh đó, nhân viên CTXH không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ bệnhnhân tiếp nhận sự trợ giúp trong quá trình điều trị tại bệnh viện mà còn trởthành cầu nối giúp bệnh nhân kết nối với hệ thống trợ giúp sau khi ra viện.Nhân viên CTXH cần xác định nhu cầu của bệnh nhân khi họ kết thúc phác

đồ điều trị để đưa ra các biện pháp hỗ trợ thân chủ hòa nhập với cộng đồngnơi họ sinh sống Vì vậy mà cần có sự liên kết, phối hợp giữa phòng CTXHvới địa phương nơi người bệnh cư trú

1.4.4 Hoạt động hỗ trợ nhân viên y tế

Công tác xã hội trong bệnh viện chú trọng triển khai các hoạt động hỗtrợ bệnh nhân nhằm đem đến những dịch vụ chăm sóc và điều trị tối ưu Tuynhiên, không thể không nhắc tới các hoạt động công tác xã hội hướng đến hỗtrợ nhân viên y tế nhằm tạo nên môi trường làm việc tích cực, thoải mái chocán bộ nhân viên y tế Một số hoạt động được thực hiện cụ thể như:

Cung cấp thông tin về người bệnh cho nhân viên y tế trong trường hợpcần thiết để hỗ trợ công tác điều trị Đây là hoạt động được thực hiện thôngqua mạng lưới công tác xã hội trong bệnh viện để nắm bắt được thông tin kháiquát cũng như tiền sử bệnh hoặc diễn biến bệnh trong thời gian gần nhất để

Trang 26

khi bác sĩ tiếp nhận ca có thể nắm được đầy đủ thông tin và đưa ra những hỗtrợ phù hợp.

Động viên, chia sẻ với nhân viên y tế khi có vướng mắc với người bệnhtrong quá trình điều trị… Với cách làm này sẽ làm giảm bớt những áp lực màcác y bác sĩ gặp phải trong quá trình khám va điều trị cho bệnh nhân Trongmột số trường hợp đặc biệt người nhà bệnh nhân hoặc bệnh nhân có nhữnghành động, thái độ quá khích đối với y bác sĩ nếu không nhận được sự hỗ trợkịp thời từ công tác xã hội sẽ tạo nên những hậu quả nghiêm trọng: bệnh nhânkhông phối hợp điều trị do cho rằng bác sĩ có thái độ không tốt dành cho họ,người nhà bệnh nhân dùng vũ lực với bác sỹ tại bệnh viện Saint Paul vào17/4/2018

Như vậy, hoạt động hỗ trợ nhân viên y tế là một trong những hoạt độngrất cần thiết của công tác xã hội trong bệnh viện Bởi nó đem đến sự thoải máitrong các mối quan hệ cũng như tạo nên kết quả điều trị tốt đẹp khi mối quan

hệ giữa bệnh nhân và nhân viên y tế

1.4.5 Tổ chức đào tạo và bồi dưỡng

Khi nhắc tới các hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện chúng takhông thể không nhắc đến hoạt động tổ chức đào tạo và bồi dưỡng cho cáccán bộ nhân viên trong bệnh viện, học sinh hoặc sinh viên thực tập… Hoạtđộng này được thực hiện cụ thể như sau:

các cơ sở đào tạo nghề công tác xã hội;

viên bệnh viện; phối hợp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cơ bản về y tế chongười làm việc về công tác xã hội

Tuy nhiên, trong hoạt động đào tạo và bồi dưỡng này cần đạt một số yêucầu nhất định: Người tập huấn cần có chứng chỉ nghề công tác xã hội, nắmvững chuyên môn, nghiệp vụ, chuẩn mực đạo đức, nguyên tắc nghề nghiệp,các kỹ năng… Bên cạnh đó, nhân viên công tác xã hội chủ trì buổi tập huấn

và bồi dưỡng cần chuẩn bị tài liệu có liên quan đến chủ đề chính của buổi tậphuấn một cách đầy đủ

Trang 27

1.4.6 Hoạt động tổ chức đội ngũ cộng tác viên làm công tác xã hội của bệnh viện

Công tác xã hội trong bệnh viện cũng giống như các khía cạnh công tác

xã hội khác, để đạt được hiệu quả cao trong quá trình thực hiện cần xây dựngmạng lưới công tác xã hội trải rộng và bao quát Chính vì lẽ đó, việc xây dựngđội ngũ cộng tác viên là hoạt động vô cùng cần thiết trong quá trình hoànthiện mạng lưới công tác xã hội Với đội ngũ cộng tác viên làm công tác xãhội sẽ trở thành những mắt xích quan trọng tại mỗi khoa phòng và có tính linhhoạt trong các hoạt động hỗ trợ dành cho bệnh nhân

1.4.7 Tổ chức các hoạt động từ thiện tại cộng đồng

Bên cạnh các hoạt động hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân, truyền thông, kếtnối nguồn lực, hỗ trợ nhân viên y tế, tổ chức đội ngũ cộng tác viên làm côngtác xã hội, tổ chức đào tạo và bồi dưỡng nhân viên công tác xã hội còn tổchức các hoạt động từ thiện tại cộng đồng Việc tổ chức các hoạt động từ thiệnnhư: khám bệnh miễn phí cho những người thuộc dân tộc thiểu số, phẫu thuậtmiễn phí cho một số bệnh nhân đặc biệt khó khăn mắc bệnh hiểm nghèo…được diễn ra thường xuyên tại tất cả các bệnh viện Mặc dù những hoạt động

kể trên được thực hiện từ trước khi triển khai công tác xã hội trong bệnh việnnhưng khi có sự xuất hiện của công tác xã hội trong bệnh viện thì tần số thựchiện các hoạt động này diễn ra ngày càng nhiều và hiệu quả Dưới sự liên kếtcủa mạng lưới công tác xã hội các bác sỹ có thể nắm bắt được thông tin vàdựa trên nhu cầu của nhóm đối tượng để xây dựng các chương trình từ thiện

Từ đó, các bác sỹ có thể đến các vùng sâu vùng xa thực hiện các hoạt độngkhám chữa bệnh từ thiện phù hợp với nhu cầu của người dân địa phương.1.5 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NHẬN THỨC CỦA BÁC SĨ VỀCÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG BỆNH VIỆN

1.5.1 Yếu tố chủ quan tác động đến nhận thức của bác sĩ về công tác xã hội trong bệnh viện.

Các bác sĩ không chủ động tiếp cận tài liệu về công tác xã hội trong bệnhviện tạo nên trở ngại trong quá trình tìm hiểu và bày tỏ thái độ cũng như hành

vi của bản thân về lĩnh vực này Các bác sĩ tiếp thu lượng thông tin về côngtác xã hội một cách thụ động qua website, trang thông tin nội bộ và khôngdành thời gian tự tìm hiểu hay nghiên cứu về vấn đề Bên cạnh đó, đa số bác

sĩ dành thời gian tìm hiểu thông tin hay tham gia tập huấn về công tác xã hội

Trang 28

trong bệnh viện đều xuất phát từ áp lực từ phía lãnh đạo nên thái độ của họtrước lĩnh vực này chưa tích cực Do đó, một bộ phận không nhỏ các bác sĩnắm được những thông tin cơ bản về công tác xã hội trong bệnh viện thôngqua các hoạt động tiêu biểu về công tác xã hội đang diễn ra tại cơ sở y tế như:

hỗ trợ bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn, hỗ trợ tiếp đón, kết nối các dịch vụ

y tế… Từ đó, các bác sĩ bước đầu tìm hiểu và đưa ra đánh giá cùng sự phốihợp hoạt động trong những hoạt động nổi bật mà bỏ qua những hoạt độngkhác (hỗ trợ tư vấn tâm lý, hỗ trợ cán bộ y tế…) khiến cho nhận thức của bác

sĩ về công tác xã hội trong bệnh viện chưa thực sự hoàn chỉnh

Trình độ về công tác xã hội của các bác sĩ còn hạn chế ảnh hưởng trựctiếp đến quá trình nhận thức của bác sĩ về công tác xã hội trong bệnh viện.Bởi lẽ, trong các trường cao đẳng, đại học Y khoa trên cả nước đào tạo ra cácbác sĩ đa khoa, chuyên khoa đều tập trung chủ yếu vào những kiến thứcchuyên môn trên góc độ y học mà chưa có sự xuất hiện của các học phần vềcông tác xã hội trong bệnh viện Chính vì lẽ đó, các bác sĩ gặp trở ngại nhấtđịnh trong quá trình tiếp nhận và phân tích thông tin Cùng với đó, các thôngtin có liên quan đến công tác xã hội trong bệnh viện mà các bác sĩ có đượcchủ yếu từ các buổi tập huấn hay các cuộc họp cán bộ Vì vậy, các bác sĩ chỉtiếp nhận được những thông tin khái quát mà chưa hiểu rõ tính chất vấn đề

1.5.2 Yếu tố khách quan tác động đến nhận thức của bác sĩ về công tác xã hội trong bệnh viện.

Thứ nhất, thiếu tài liệu về công tác xã hội trong bệnh viện gây trở ngạitrong quá trình nhận thức của bác sĩ về lĩnh vực này Mặc dù đây là một trongcác lĩnh vực thuộc công tác xã hội nhằm đem đến sự đảm bảo về chất lượngcuộc sống cho người dân nhưng nó chưa nhận được sự quan tâm đúng mứctrên khía cạnh đào tạo Tại các trường đào tạo nghề công tác xã hội đã có rấtnhiều giáo trình công tác xã hội như: Công tác xã hội đối người khuyết tật,công tác xã hội đối với người nghèo, công tác xã hội trong trường học, côngtác xã hội với người cao tuổi… nhưng hiện nay tại tất cả các trường đào tạonghề công tác xã hội đều chưa có giáo trình đào tạo chính thức về công tác xãhội trong bệnh viện Cũng vì lẽ đó, lĩnh vực này gần như không được nhắcđến trong thời gian đào tạo 4 năm của sinh viên Ngoài ra, các tài liệu có liênquan về công tác xã hội trong bệnh viện còn rất ít và đa số là các tài liệu nướcngoài dẫn đến nhiều hạn chế trong việc tìm hiểu hay nghiên cứu về lĩnh vựcnày Các bác sĩ chủ yếu nhận thức vấn đề thông qua nhiều nguồn thông tin

Trang 29

chính thống và không chính thống Từ đó tạo nên những trở ngại đối với cácbác sĩ trong quá trình nhận thức về công tác xã hội trong bệnh viện Bởi lẽ,thiếu tài liệu nghiên cứu sẽ trực tiếp tạo nên những khó khăn và sự chênh lệchtrong quá trình tiếp nhận của các bác sĩ về vấn đề này Điều này dẫn tới cókhá nhiều bác sĩ có cái nhìn chưa thực sự đúng đắn về công tác xã hội trongbệnh viện Họ rất dễ đánh đồng công tác xã hội với các hoạt động từ thiệnkhác.

Thứ hai, công tác truyền thông về công tác xã hội trong bệnh viện cònhạn chế khiến các bác sĩ thiếu cơ hội hiểu và thể hiện thái độ của bản thân đốivới lĩnh vực đó Mặc dù công tác truyền thông được triển khai dưới nhiềuhình thức khác nhau: chia sẻ thông tin về công tác xã hội trong bệnh viện trên

hệ thống website, fanpage, trang nội bộ,… nhằm truyền tải thông điệp cũngnhư nội dung hoạt động của công tác xã hội trong bệnh viện đến các bác sĩđang làm việc trong các cơ sở y tế nhưng công tác này chỉ tập trung vào sốlượng lượt xuất hiện của thông tin mà chưa được chú trọng vào chất lượngcũng như chiều sâu của những nội dung truyền thông ấy Do đó, số lượng bác

sĩ biết về công tác xã hội trong bệnh viện khá nhiều nhưng số lượng bác sĩhiểu rõ về tính chất của hoạt động và thực hiện trong lĩnh vực này còn hạnchế Điều này đồng nghĩa với việc nhận thức của các bác sĩ cùng sự phối hợptham gia các hoạt động CTXH chịu sự tác động của công tác truyền thông.Thứ ba, các chính sách liên quan đến công tác xã hội trong bệnh việncòn có nhiều khoảng trống, bất cập, chồng chéo và thiếu đồng bộ gây khókhăn trong quá trình tiếp cận cũng như thực hiện của bác sĩ làm việc trong các

cơ sở y tế Việc ban hành thông tư, nghị định có liên quan đến nhiệm vụ,quyền hạn, hình thức… của công tác xã hội trong bệnh viện còn chưa rõ ràng.Nói cách khác chưa có quy định pháp lý nào khác về những nhân viên thamgia công tác xã hội trong bệnh viện Điều này tạo nên không ít khó khăn chocác bác sĩ trong việc hiểu và tham gia vào các hoạt động công tác xã hội.Thứ tư, các bác sĩ phải chịu áp lực công việc rất lớn dẫn đến ảnh hưởngtới nhận thức của bác sĩ về công tác xã hội trong bệnh viện Do mỗi ngày cácbác sĩ phải giải quyết số lượng công việc quá nhiều nên thiếu thời gian tìmhiểu về lĩnh vực này Trong khi đó, công tác xã hội trong bệnh viện được triểnkhai đa dạng dưới nhiều hoạt động khác nhau nên việc nắm bắt thông tin về

nó cũng cần có thời gian nghiên cứu Tuy nhiên, trước một vấn đề luôn xuấthiện hai thái cực tốt – xấu nên những thông tin có liên quan về lĩnh vực này

Trang 30

cũng xuất hiện ý kiến trái chiều Vì vậy, các bác sĩ muốn hiểu được và đưa rathái độ của bản thân đối với công tác xã hội trong bệnh viện cần thời gian đểphân tích, đánh giá về vấn đề Từ đó, các bác sĩ có cái nhìn chính xác về lĩnhvực này

Thứ năm, định hướng phát triển của lãnh đạo cơ sở cũng có tác động tớinhận thức của bác sĩ về công tác xã hội trong bệnh viện Do các hoạt độngđều dựa theo kế hoạch phát triển bệnh viện được xây dựng trên định hướngcủa ban giám đốc bệnh viện đã đề ra trước đó Nếu ban giám đốc bệnh viện

có sự quan tâm nhất định về công tác xã hội trong bệnh viện thì lĩnh vực này

sẽ được triển khai trên diện rộng và được đưa vào nội dung phát triển chiếnlược lưu hành nội bộ trong cơ sở y tế đó Cách làm này sẽ nhận được sự quantâm của đông đảo cán bộ nhân viên nói chung và các bác sĩ nói riêng Từ đó,

họ dành thời gian tìm hiểu và nghiên cứu về lĩnh vực này để có hiểu biết về

nó cùng với những hoạt động phù hợp để đạt được mục tiêu đề ra trong chiếnlược phát triển Tuy nhiên, nếu ban giám đốc bệnh viện không tập chung chútrọng công tác xã hội thì các chiến lược phát triển sẽ không có sự xuất hiệncủa lĩnh vực này Điều này khiến cho các hoạt động công tác xã hội trongbệnh viện triển khai một cách mờ nhạt và không nhận được sự quan tâm củamọi người Như vậy, định hướng phát triển của lãnh đạo bệnh viện có tácđộng rất lớn đến nhận thức của bác sĩ về công tác xã hội trong bệnh viện.Thứ sáu, cơ sở vật chất cũng là một yếu tố có tác động đến nhận thức củabác sĩ về công tác xã hội trong bệnh viện Nếu cơ sở y tế có đầy đủ hệ thống

cơ sở vật chất, mạng lưới thông tin nội bộ phát triển sẽ có khả năng kéo theonhận thức của bác sĩ về các hoạt động công tác xã hội được nâng cao Từ đó,công tác xã hội trong bệnh viện trở nên quen thuộc và gần gũi với các hoạtđộng chuyên môn của bác sĩ hơn và tạo nên thái độ tích cực của bác sĩ khinhìn nhận về lĩnh vực này

Trang 31

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA BÁC SĨ TRONG BỆNH VIỆN ĐA KHOA SAINT PAUL VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI

TRONG BỆNH VIỆN.

2.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của bệnh viện đa khoa Saint Paul

Lịch sử hình thành và phát triển của Bệnh viện đa khoa Saint Paul gắnliền với các giai đoạn lịch sử của đất nước Bệnh viện ra đời vào thế kỉ củachủ nghĩa anh hùng ca cách mạng mà dân tộc Việt Nam là một trong nhữngđại diện tiêu biểu Việt Nam đã ghi những trang vàng vào lịch sử giải phóngdân tộc bằng những mốc son chói lọi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 vàhai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thần kì Một thế kỉ so với bốnnghìn năm lịch sử của đất nước chưa phải là dài nhưng với truyền thống vẻvang ấy Bệnh viện đa khoa Saint Paul hoàn toàn có quyền tự hào về quá khứ

và tin tưởng vào một tương lai huy hoàng, xán lạn trong những thiên niên kỉtiếp theo

Bệnh viện ra đời vào những năm cuối của thế kỷ XIX với mục đích chữatrị cho các quan thầy, sĩ quan của Pháp Cơ sở vật chất ban đầu của bệnh việnnằm cạnh nhà thờ Saint Paul, nằm cạnh khuôn viên của bệnh viện có tượngthánh Paul và có xây thêm một số dãy nhà về hướng đông Bệnh viện tiếpgiáp: phía Bắc bệnh viện giáp với đường Félix Faure (nay là đường TrầnPhú) Phía Nam bệnh viện giáp với đường Gurue Duvillier (nay là đườngNguyễn Thái Học) Phía Đông bệnh viện giáp với đại lộ Avenue VanVollenhoveh (nay là đường Chu Văn An) Phía Tây bệnh viện giáp với đại lộAvelue Briere de Lisle (nay là đường Hùng Vương)

Thời kì này Bệnh Viện Saint Paul chỉ có một khoa ngoại với 90 giườngbệnh, tiếp nhận các bệnh nhân cấp cứu bụng, chấn thương, tiết niệu và bỏng,

do các thầy thuốc người Pháp đảm nhiệm

Với mong muốn quan tâm đến công tác chăm sóc sức khỏe của cán bộ

và nhân dân thủ đô, sẵn sàng phục vụ sản xuất và chiến đấu ngày 26 tháng 08năm 1970 Sở Y-Tế đã ra quyết định số 1093/YT-TC về việc tổ chức 4 bệnhviện đa khoa khu vực nội thành trong bệnh viện đa khoa Saint Paul đượcthành lập trên cơ sở hợp nhất của 4 đơn vị gồm: Bệnh viện ngoại khoa Saint

Trang 32

Paul, bệnh viện B nhi khoa, bệnh viện khu phố Ba Đình, phòng khám Phụkhoa Hà Nội Ban giám đốc bệnh viện gồm 4 người do Bác sĩ Thái Duy Bích

là Giám đốc, đảng bộ bệnh viện có 133 đảng viên gồm 6 chi bộ, 24 tổ đảng.Tổng số cán bộ công nhân viên chức mới thành lập là 526 cán bộ, trong đó có

60 bác sĩ, 56 y sĩ và dược sĩ trung cấp, 176 y tá, 13 dược tá, 6 nữ hộ sinh, 56

hộ lý, 7 xét nghiệm, 1 lương y

Năm 1972 Bệnh viện đã có những đóng góp to lớn trong "Chiến dịchĐiện Biên Phủ trên không” nên đã vinh dự được Nhà nước trao tặng “Huânchương Kháng chiến hạng Nhì” Đến năm 1975 bệnh viện đã được Nhà nướctrao tặng “Huân chương Lao động hạng III”

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta kết thúc thắng lợi,đất nước thống nhất, bệnh viện cũng có những thay đổi thích hợp theo xuhướng của thời đại Năm 1985, đội ngũ cán bộ Bệnh viện đã trưởng thành lớnmạnh, với tổng số 692 cán bộ công nhân viên, trong đó có 2 giáo sư, 1 phótiến sĩ, 34 bác sĩ chuyên khoa I và II, 118 bác sĩ và dược sĩ đại học, 7 kỹ sư,

277 y tá, kỹ thuật viên, dược sĩ trung cấp Bệnh viện tiếp tục giữ vai trò đầungành của Thành phố: Ngoại, Nhi, Dinh dưỡng, Xét nghiệm

Năm 1986, Bệnh viện đã thực hiện những chủ trương của Đảng và Nhànước đổi mới không ngừng nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngàycàng cao của nhân dân và thực hiện nhiệm vụ phát triển thành 1 bệnh viện đakhoa hiện đại là cơ sở y tế mang chức năng đào tạo, nghiên cứu khoa học vàhợp tác quốc tế Bệnh viện từng bước cải tạo và nâng cấp cơ sở hạ tầng, trangthiết bị đồng bộ đáp ứng nhu cầu triển khai các kỹ thuật tiên tiến và côngnghệ y học hiện đại trong chuẩn đoán và điều trị các bệnh nhân theo nhiệm vụphân công

Trong thời kỳ đổi mới, các cơ chế chính sách của nhà nước đối vớingành y tế cũng đã được thay đổi, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành pháttriển, đặc biệt việc đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng cung cấp các trang thiết bị y

tế hiện đại được chú trọng hơn bao giờ hết

Tính đến cuối năm 2017 bệnh viện đa khoa Saint Paul có khoảng 800giường bệnh Bên cạnh đó, bệnh viện có 948 cán bộ công nhân viên chức(biên chế: 722 cán bộ, hợp đồng: 226 cán bộ) Trong đó có 165 bác sĩ, gồm 1

Trang 33

Phó giáo sư, 4 Tiến sĩ Y khoa, 13 bác sĩ chuyên khoa II, 66 Thạc sĩ Y khoa, 81bác sĩ chuyên khoa I, chiếm 75% tổng số bác sĩ Về dược có 87 dược sĩ (1Tiến sĩ, 5 Thạc sĩ, 4 Dược sĩ đại học, 43 dược sĩ Cao đẳng, 34 dược sĩ trunghọc) Còn lại là cán bộ nhân viên khác.

Trong suốt chiều dài lịch sử bệnh viện Saint Paul đã có những thay đổivượt trội chất lượng dịch vụ cũng như số lượng giường bệnh cùng số lượngcán bộ nhân viên làm việc tại bệnh viện Trải qua hơn 100 năm số lượnggiường bệnh đã tăng khoảng 710 giường bệnh (từ 90 giường trong thời kìthành lập lên khoảng 800 giường tính đến hết năm 2017) Trong khi đó, điềuđáng chú ý hơn cả đó là số lượng bác sĩ trong bệnh viện từ 60 người tăng lên

165 người và có nhiều bác sĩ giỏi là phó giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ…

Một thế kỷ một chặng đường với bao biến đổi cùng vận mệnh dân tộc,bệnh viện da khoa Saint Paul đã hoàn thành xuất sắc sứ mạng lịch sử củamình để cùng cả nước chuẩn bị bước sang giai đoại đổi mới và phát triển toàndiện Trong mỗi thời khắc quan trọng của đất nước, bệnh viện đã luôn chứng

tỏ được vai trò và ảnh hưởng để thực sự đã lắng đọng trong lịch sử Thủ đô HàNội

2.1.2 Điều kiện cơ sở vật chất- hạ tầng của bệnh viện đa khoa Saint Paul

Bệnh viện đa khoa Saint Paul là bệnh viện trực thuộc tuyến thành phốcủa Thủ Đô Hà Nội có địa chỉ chính là số 12 Chu Văn An – Ba Đình – HàNội, nằm trong khu vực chính trị - xã hội quan trọng của Việt Nam nói chung

và của thủ đô Hà Nội nói riêng

Bệnh viện tiếp giáp với những đường phố quan trọng của Thủ Đô HàNội nơi đặt các cơ quan đầu não của Thủ đô và đất nước

- Mặt phía Bắc: Bệnh viện tiếp giáp với đường Trần Phú

- Mặt phía Tây: Bệnh viện tiếp giáp với đường Hùng Vương

- Mặt phía Đông: Bệnh viện tiếp giáp với đường Chu Văn An

- Mặt phía Nam: Bệnh viện tiếp giáp với đường Nguyến Thái Học

Bệnh viện Saint Paul Là một trong những bệnh viện có lịch sử hìnhthành lâu đời nhất của thành phố Hà Nội Với lịch sử hình thành và phát triểntrên 100 năm gắn liền với nhiều biến động của đất nước Đến nay bệnh việnSaint Paul là một trong số ít các bệnh viện vẫn giữ nguyên vẹn hình thái kiếntrúc của các bệnh viện ở Hà Nội thời Pháp thuộc mang văn hóa Châu Âu

Trang 34

Bệnh viện đã được Đảng và Nhà nước nói chung và lãnh đạo Thành phốnói riêng quan tâm chú trọng đầu tư xây dựng cơ cở hạ tầng và vật chất và cáctrang thiết bị y tế hiện đại.

Hiện tại bệnh viện có tổng thể 13 dãy nhà được phân bổ bố trí các khoa,phòng phục vụ công tác khám chữa và điều trị nội trú của bệnh nhận

Từ cở sở chỉ 90 giường bệnh đến nay bệnh viện đã có khoảng 800giường bệnh Đặc biệt trong năm 2013 được sự quan tâm và giúp đỡ của

đã hoàn thành, đến này đã được đưa vào sử dụng đáp ứng phần nào nhu cầukhám chữa bệnh ngày càng cao của nhân dân Hàng năm bênh viện đầu tư 1.5

tỷ đến 2 tỷ cho việc tu bổ nâng cấp cơ sở vật chất Bệnh viên cũng đã nângcao hệ thống điện và trang thiết bị máy phát điện dự phòng nhằm đảm bảocung cấp điện liên tục phục vụ công tác điều trị không bị gián đoạn, triển khai

hệ thống hạ tầng mạng công nghệ thông tin cho toàn bệnh viện Đồng thờihàng năm bệnh viện cũng đã chi ra 5 đến 7 tỷ cho việc mua sắm trang thiết bị.Đến nay bệnh viện có những trang thiết bị hiện đại bảo đảm cho nhu cầukhám chữa bệnh và phát triển các kỹ thuật chuyên sâu của bệnh viện như:máy thở cao tần, hệ thống monitor trung tâm nhiều thông số, trang thiết bị choghép tạng, máy chạy thận nhân tạo, máy lọc máu liên tục, hệ thống nội soitiêu hóa, hệ thống phẫu thuật nội soi tiêu hóa, tiết niệu, thần kinh, can thiệptim mạch Các phương tiện chuẩn đoán hiện đại như máy cắt lớp vi tính, máycộng hưởng từ, máy chụp mạch số hóa xóa nền, siêu âm Doppler màu, máyXquang kỹ thuật số, máy sinh hóa, huyết học tự động

Ngày 7/5/2014 Ngân hàng Thương mại cố phần Công Thương(ViệttinBank) tổ chức lễ bàn giao các trang thiết bị y tế cho bênh viện ĐaKhoa Saint Paul Hà Nội với tổng tài trợ trên 24 tỷ đồng

Các trang thiết bị bao gồm: thiết bị chuẩn đoán hình ảnh; thiết bị phòngmổ; thiết bị y tế tại các khoa; thiết bị công nghệ thông tin… để Bệnh việnSaint Paul quản lý sử dụng, phục vụ công tác khám chữa bệnh

2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của bệnh viện đa khoa Saint Paul.

Bệnh viện đa khoa Saint Paul có quyết định thành lập từ ngày26/08/1970, là bệnh viện đa khoa hạng I trực thuộc Sở Y tế Thành phố HàNội Hiện nay, bệnh viện có 07 chuyên khoa đầu ngành là Ngoại khoa, Nhi

Trang 35

khoa, Phẫu thuật tạo hình, Xét nghiệm, Gây mê hồ sức, Chuẩn đoán hình ảnh

và Điều dưỡng Bệnh viện là tuyến cuối của Thành phố và là một trong nhữngtrung tâm y học lớn của Thủ đô tiếp nhận bệnh nhân nặng của Hà Nội và cáctỉnh lân cận Với thế mạnh về cơ sở vật chất và trình độ chuyên môn, bệnhviện hiện là địa chỉ thực hành của nhiều trường đại học

2.1.3.1 Công tác khám chữa bệnh

Công tác khám chữa bệnh của bệnh viện Saint Paul có một số chức năng,nhiệm vụ như sau: Thứ nhất, tổ chức tiếp nhận, cấp cứu, khám, phát hiện vàđiều trị bệnh cho các bệnh nhân đăng ký khám chữa bệnh theo bảo hiểm y tếtại bệnh viện đa khoa Saint Paul, các bệnh nhân các tuyến chuyển đến và cáctỉnh thành khác Thứ hai, thực hiện công tác khám chữa bệnh cho cán bộ cấpcao của thành phố, anh hùng lực lượng cũ trang, cán bộ lão thành cáchmạng có chiến tích cao trong thi đua và được nhà nước phong tặng và khenthưởng Thứ ba, khám sức khỏe cho các đối tượng đi công tác, học tập, laođộng ở nước ngoài và kết hôn với người nước ngoài Thứ tư, hoạt động khám,chữa bệnh và khám sức khỏe cho người nước ngoài Thứ năm, tham gia khámgiám định y khoa, giám định pháp y theo yêu cầu của các Hội đồng Giámđịnh Y khoa và của pháp luật trên cơ sở phân cấp của Bộ Y tế Thứ sáu, phụchồi chức năng sau điều trị và phục hồi chức năng cộng đồng Thứ bảy, hốihợp với các cơ sở y tế trên địa bàn để phát hiện và dập tắt dịch Cuối cùng làthực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Bộ Y tế

2.1.3.2 Nghiên cứu khoa học

Hoạt động nghiên cứu và tham gia nghiên cứu khoa học, triển khai ứngdụng những tiến bộ khoa học để phục vụ khám chữa bệnh, phòng bệnh, phụchồi chức năng trong phòng chống ung thư Cùng với đó là quyền được chủ trì

và tham gia công trình nghiên cứu khoa học các cấp Ngoài ra chúng ta có thể

kể đến việc tổ chức các Hội nghị khoa học cấp bệnh viện, tổ chức các chươngtrình hợp tác nghiên cứu khoa học phối hợp trong nước và với nước ngoàitheo sự phân công

2.1.3.3 Đào tạo cán bộ

Đào tạo cán bộ là nhiệm vụ cũng như quyền hạn mà bệnh viện đa khoaSaint Paul cần thực hiện Có thể nói bệnh viện đa khoa Saint Paul là cơ sởthực hành đáng tin cậycủa Trường Đại học Y Hà Nội và của một số TrườngĐại học, Cao đẳng, Trung học Y, Dược Bệnh viện có chức năng và nhiệm vụ

Trang 36

đào tạo lại cũng như đào tạo nâng cao trình độ cho cán bộ, công chức, viênchức trong bệnh viện Bên cạnh đó, bệnh viện còn nhận các thực tập sinhnước ngoài đến học tập, nghiên cứu tại bệnh viện Ngoài ra, nhận viên bệnhviện cần phối kết hợp cũng các chuyên gia bác sỹ trong và ngoài nước thamgiao hồi đàm, tham khảo và học hỏi kỹ năng, kinh nghiệm điều trị và khámchữa bệnh.

2.1.3.4 Chỉ đạo tuyến

Chỉ đạo tuyến thực hiện công tác chỉ đạo, tuyên truyền, hỗ trợ các banngành đoàn thể trong bệnh viện thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ, cụ thểnhư sau: Chỉ đạo tuyến dưới về công tác dự phòng, chẩn đoán, điều trị và cácbệnh dịch bùng phát tại thành phố Hà Nội Tiếp đến là công tác chuyển giao

và hỗ trợ các kỹ thuật chuyên môn về chuyên ngành cho tuyến dưới Đồngthời, chỉ đạo tuyến còn thực hiện chỉ đạo chuyên môn kỹ thuật cho tuyếntrước về Ngoại khoa, Nhi khoa, Cận lâm sàng và phục hồi chức năng Songsong với đó là hoạt động theo dõi, giám sát các hoạt động y tế tuyến trướctrong khu vực được phân công…

kế hoạch đoàn ra, đoàn vào theo chương trình hợp tác quốc tế; cử cán bộ, họcviên đi học tập, nghiên cứu, công tác ở nước ngoài; nhận giảng viên, học viên

là người nước ngoài đến nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm và học tập tại bệnhviện; quản lý đoàn ra, đoàn vào trong phạm vi hoạt động của bệnh viện theoquy định của Bộ Y tế Cuối cùng là công tác tổ chức: các hội nghị, hội thảo,các lớp học quốc tế về lĩnh vực thuộc phạm vi của bệnh viện quản lý theo quiđịnh của pháp luật

2.1.3.6 Quản lý bệnh viện

Quản lý bệnh viện là nhiệm vụ và cũng là chức năng cần thiết để đảmbảo sự vận hành của bệnh viện theo đúng định hướng đã đưa ra trước đóthông qua việc: Một là, xây dựng và triển khai thực hiện quy chế hoạt động

Trang 37

của bệnh viện, thực hiện quy chế dân chủ theo quy định Hai là, quản lý và sửdụng có hiệu quả các nguồn lực của bệnh viện (nhân lực, tài chính, cơ sở vậtchất và trang thiết bị y tế) Ba là, tổ chức, thực hiên nghiêm chỉnh các quyđịnh của Nhà nước về thu, chi ngân sách của bệnh viện, từng bước cải tiếnhạch toán thu theo quy định của pháp luật Bốn là, tạo thêm nguồn kinh phícho bệnh viện từ các dịch vụ y tế (viện phí, bảo hiểm y tế, các dịch vụ khoahọc kỹ thuật, các dự án đầu tư trong nước và quốc tế).

Trang 38

2.1.4 Hệ thống tổ chức bộ máy của Bệnh viện đa khoa Saint Paul

Đoàn Thanh Niên Ban Giám Đốc Công Đoàn

Khối Cận Lâm Sàng Khối Ngoại

K Dinh dưỡng

P Khám liên chuyên khoa

K gây mê hồi sức

K Phẫu Thuật Thần Kinh

K Phẫu Thuật Tiết Niệu

K Phẫu Thuật Tạo Hình

K Phục hồi chức năng

K chấn thương chỉnh hình

K Nhi Tổng Hợp

K Nhi Tim Mạch

Khối Nội Khối Chức Năng

K Hồi sức cấp cứu nội

P Tài chính kế

toán

K Phẫu thuật lồng ngực K Giải phẫu

Trang 39

2.2 HỰC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA BÁC SĨ TRONG BỆNH VIỆN ĐAKHOA SAINT PAUL VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG BỆNH VIỆN.

Công tác xã hội trong bệnh viện là các hoạt động hỗ trợ người bệnh,người nhà người bệnh và các nhân viên y tế trong bệnh viện nhằm giải quyếtcác vấn đề xã hội và tâm lý liên quan đến bệnh tật và quá trình khám chữabệnh Tuy nhiên, dưới sự hiểu biết và thái độ khác nhau các bác sĩ sẽ cónhững hoạt động tương ứng Vì vậy, trong khuôn khổ khóa luận này, tác giảchú trọng đề cập đến nhận thức của bác sỹ về công tác xã hội trong bệnh việntại bệnh viện đa khoa Saint Paul

2.2.1 Sự hiểu biết của bác sĩ trong bệnh viện đa khoa Saint Paul về công tác xã hội trong bệnh viện.

2.2.1.1 Hiểu hiết về ctxh trong bệnh viện của các bác sĩ tại bệnh viện đa khoa Saint Paul.

Thực hiện Quyết định 32/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt Đề án phát triển nghề Công tác xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020

và Quyết định số 2514/QĐ-BYT về việc phê duyệt Đề án phát triển nghềCông tác xã hội trong ngành y tế giai đoạn 2011-2020, ban giám đốc bệnhviện đa khoa Saint Paul đã đưa công tác xã hội vào thực hiện tại bệnh viện Trong 3 năm thực hiện công tác xã hội, bệnh viện đã có nhiều chuyểnbiến theo hướng tích cực Công tác xã hội trong bệnh viện từ một khái niệmmới có ít người biết đến, trải qua 3 năm thực hiện và thông qua nhiều nguồnthông tin khác nhau, 100% các bác sĩ trong bệnh viện đa khoa Saint Paul đều

có những hiểu biết nhất định về lĩnh vực này

Dưới đây là khảo sát của tác giả đánh giá về nguồn cung cấp thông tinliên quan đến công tác xã hội cho các bác sĩ trong bệnh viện đa khoa SaintPaul:

Trang 40

Bảng 2.1: Đánh giá các nguồn cung cấp thông tin cho bác sĩ về công tác

xã hội trong bệnh viện

Nguồn cung cấp thông tin Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

(Nguồn: Kết quả khảo sát tháng 5/2018)

Từ bảng số liệu trên có thể thấy, có rất nhiều nguồn cung cấp thông tin

về công tác xã hội trong bệnh viện và các bác sĩ cũng tiếp cận tìm hiểu thôngtin dưới nhiều nguồn khác nhau để có được hiểu biết về lĩnh vực này

Nguồn cung cấp thông tin về công tác xã hội trong bệnh viện cho các bác

sĩ được nhắc đến nhiều nhất đó là tập huấn với 132/165 bác sĩ chiếm 80%.Bởi lẽ, tập huấn là hoạt động phổ biến của tất cả các cơ sở khi đưa một lĩnhvực mới, một nội dung mới vào thực hiện Tập huấn là công tác cung cấpthông tin và đào tạo cơ bản nhất về lĩnh vực nào đó giúp các cá nhận tham giatập huấn nắm bắt được những thông tin quan trọng và có sự hiểu biết nhấtđịnh trước khi đi vào thực hiện Vì vậy, khi đưa công tác xã hội vào thực hiện,bệnh viện đa khoa Saint Paul đã tổ chức rất nhiều các buổi tập huấn cho nhânviên y tế đang làm việc tại bệnh viện nói chung và các bác sĩ nói riêng Do đó,tập huấn đã trở thành nguồn cung cấp thông tin chủ yếu cho các bác sĩ vềcông tác xã hội trong bệnh viện

Nguồn thông tin được các bác sĩ sử dụng xếp thứ 2 trong tìm hiểu thôngtin về công tác xã hội chiếm tỷ lệ khá lớn đó là Fanpage bệnh viện với 74/165bác sĩ chiếm 44,8% Đây là nguồn thông tin gắn với công việc hàng ngày củacác bác sĩ Họ thường xuyên cập nhật tin tức mới nhất thông qua fanpagebệnh viện, đồng thời nguồn thông tin này có được sự lan truyền khá cao thôngqua cộng đồng mạng

Ngày đăng: 23/05/2019, 15:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Thị Xuân Mai (2010), Nhập môn Công tác xã hội, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn Công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2010
2. Đào Văn Dũng, Đỗ Văn Dung (2013), Y học xã hội và Xã hội hóa sức khỏe, Nxb Chính trị Quốc gia - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học xã hội và Xã hội hóa sứckhỏe
Tác giả: Đào Văn Dũng, Đỗ Văn Dung
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Hà Nội
Năm: 2013
5. Nguyễn Hồi Loan, Nguyễn Kim Thoa, Nguyễn Khắc Bình, Giáo trình Công tác xã hội đại cương, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trìnhCông tác xã hội đại cương
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
6. Nguyễn Thị Oanh (2014), Công tác xã hội, một ngành khoa học, một nghề chuyên môn, Nxb Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội, một ngành khoa học, mộtnghề chuyên môn
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2014
7. Phạm Huy Tuấn Kiệt (2012), Lý thuyết công tác xã hội và tiếp cận dạy công tác xã hội cho y tế, NXB Y học - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết công tác xã hội và tiếp cận dạycông tác xã hội cho y tế
Tác giả: Phạm Huy Tuấn Kiệt
Nhà XB: NXB Y học - Hà Nội
Năm: 2012
8. Phạm Song (2012), Một thập kỉ suy nghĩ về chiến lược, chính sách ngành y tế 2000-2010, NXB Y học - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một thập kỉ suy nghĩ về chiến lược, chính sáchngành y tế 2000-2010
Tác giả: Phạm Song
Nhà XB: NXB Y học - Hà Nội
Năm: 2012
9. Trần Hữu Trung, Nguyễn Văn Hồi (2011), Kỷ yếu hội nghị triển khai đề án phát triển nghề Công tác xã hội, Nxb Thống kê - Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội nghị triển khaiđề án phát triển nghề Công tác xã hội
Tác giả: Trần Hữu Trung, Nguyễn Văn Hồi
Nhà XB: Nxb Thống kê - Hà nội
Năm: 2011
10. Báo cáo hàng năm của bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn 2017 (tài liệu lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hàng năm của bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn 2017
11. Bệnh Viện Đa Khoa Xanh Pôn niềm tự hòa của một thế kỷ (tài liệu lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh Viện Đa Khoa Xanh Pôn niềm tự hòa của một thế kỷ
12. Đề án thành lập phòng Công tác xã hội tại bệnh viện đa khoa Xanh Pôn (tài liệu lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án thành lập phòng Công tác xã hội tại bệnh viện đa khoa XanhPôn
14. Bộ Y tế, Thông tư số 43/2015/TT-BYT, ngày 26/11/2015 “Quy định về nhiệm vụ và hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội của bệnh viện” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 43/2015/TT-BYT, ngày 26/11/2015" “Quy định vềnhiệm vụ và hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội củabệnh viện
15. Đặng Kim Khánh Ly (2011), “Định hướng phát triển mô hình Công tác xã hội chuyên nghiệp trong bệnh viện ở Việt Nam hiện nay”, kỉ yếu hội thảo khoa học: Đổi mới CTXH trong điều kiện kinh tế thị trường và hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển mô hình Công tácxã hội chuyên nghiệp trong bệnh viện ở Việt Nam hiện nay”
Tác giả: Đặng Kim Khánh Ly
Năm: 2011
16. Kỉ yếu Hội thảo khoa học quốc tế (2015), “Công tác xã hội Việt Nam thách thức tính chuyên nghiệp trước nhu cầu hội nhập và phát triển”, 3, tr.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỉ yếu Hội thảo khoa học quốc tế" (2015), “Công tác xã hội Việt Namthách thức tính chuyên nghiệp trước nhu cầu hội nhập và phát triển
Tác giả: Kỉ yếu Hội thảo khoa học quốc tế
Năm: 2015
17. Kỉ yếu Hội thảo quốc tế (2012): “Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về Công tác xã hội và An sinh xã hội”, 2, tr.10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỉ yếu Hội thảo quốc tế "(2012): “Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về Côngtác xã hội và An sinh xã hội
Tác giả: Kỉ yếu Hội thảo quốc tế
Năm: 2012
3. Hội đồng Quốc gia (2011), Từ điển Bách khoa Việt Nam 1, Nxb Từ điển Bách khoa Khác
4. Hội đồng Quốc gia (2011), Từ điển Bách khoa Việt Nam 2, Nxb Từ điển Bách khoa Khác
13. Bộ Y tế, Quyết định số 2514/QĐ-BYT, ngày 15/7/2011 về Kế hoạch Phát triển nghề Công tác xã hội trong ngành Y tế giai đoạn 2011-2020 Khác
19. www.baochinhphu.vn, Phát triển nghề công tác xã hội trong ngành y tế giai đoạn 2011 – 2020, 27/4/2018 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w