Do vậy, để đánh giá được tính dễ bị tổn thương do lũ lụt gây ra đối với kinh tế - xã hội thì hướng tiếp cận đa ngành trong công tác quản lý tổng hợp rủi ro thiêntai là cần thiết để xây d
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN KHOA KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ HẢI DƯƠNG HỌC
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH 4
DANH MỤC BẢNG 5
BẢNG KÝ HIỆU, VIẾT TẮT 6
MỞ ĐẦU 7
Chương 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI LƯU VỰC CÁC SÔNG THẠCH HÃN – BẾN HẢI 8
1.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN 8
1.1.1 Vị trí địa lý 8
1.1.2 Địa hình, địa mạo 9
1.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng 9
1.1.4 Thảm phủ thực vật 10
1.1.5 Tình hình nghiên cứu thủy văn 10
1.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ – XÃ HỘI 12
1.2.1 Dân số 12
1.2.2 Cơ cấu kinh tế 15
1.2.3 Cơ sở hạ tầng 19
Chương 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TỎN THƯƠNG VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP 21
2.1 TỔNG QUAN 21
2.1.1 Khái niệm chung về tính dễ tổn thương 21
2.1.2 Tổng quan về các nghiên cứu trong và ngoài nước 24
2.2 GIỚI THIỆU CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DỄ BỊ TỔN THƯƠNG 29
2.2.1 Phương pháp Zhen Fang 29
Trang 32.2.2 Phương pháp Ibidun O Adelekan 30
2.2.3 Phương pháp Alexander Fekete 31
2.2.4 Phương pháp Shantosh Karki 31
2.2.5 Phương pháp Villagran de Leon 32
2.2.6 Phương pháp Messner và Meyer 32
2.2.7 Phương pháp UNESCO-IHE 32
2.3 LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP 32
Chương 3 KHẢO SÁT VAI TRÒ CỦA ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỐI VỚI GIÁ TRỊ DỄ BỊ TỔN THƯƠNG TRÊN CÁC LƯU VỰC SÔNG THẠCH HÃN – BẾN HẢI 35
3.1 TÌNH HÌNH SỐ LIỆU 35
3.1.1 Niên giám thống kê tỉnh Quảng Trị năm 2013 35
3.1.2 Bộ phiếu thu thập, điều tra 35
3.1.3 Các tài liệu, văn bản có liên quan khác 37
3.1.4 Các kết quả của đề tài BĐKH – 19 37
3.2 XÂY DỰNG CÁC KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI 44
3.2.1 Thay đổi giá trị sản xuất nông nghiệp 44
3.2.2 Thay đổi giá trị sản xuất công nghiệp 50
3.2.3 Thay đổi tỷ lệ người biết chữ 54
3.2.4 Thay đổi cơ sở y tế 56
KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC 1: BẢNG CHUẨN HÓA GIÁ TRỊ TÍNH NHẠY 62
PHỤ LỤC 2: BẢNG CHUẨN HÓA KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU 63
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Sơ đồ lưu vực nghiên cứu 8
Hình 2: Sơ đồ mạng lưới sông ngòi lưu vực nghiên cứu 11
Hình 3: Biểu đồ xác định rủi ro lũ 27
Hình 4: Cơ chế giảm thiểu rủi ro lũ của ADRC 27
Hình 5: Bản đồ sử dụng đất lưu vực sông Bến Hải – Thạch Hãn 41
Hình 6: Bản đồ độ phơi nhiễm lưu vực sông Bến Hải – Thạch Hãn 42
Hình 7: Bản đồ tính nhạy các lưu vực sông Bến Hải – Thạch Hãn 44
Hình 8: Bản đồ khả năng chống chịu các lưu vực sông Bến Hải – Thạch Hãn 46
Hình 9: Bản đồ tính dễ bị tổn thương các lưu vực sông Bến Hải- Thạch Hãn 47
Hình 10: Quan hệ giữa giá trị sản xuất nông nghiệp và giá trị tính nhạy 51
Hình 11:Quan hệ giữa giá trị sản xuất nông nghiệp và giá trị tổn thương 51
Hình 12: Quan hệ giữa giá trị sản xuất công nghiệp và tính nhạy 55
Hình 13: Quan hệ giữa giá trị sản xuất công nghiệp và giá trị tổn thương 55
Hình 14: Quan hệ giữa tỉ lệ số người biết chữ và tính nhạy 59
Hình 15: Quan hệ giữa tỉ lệ số người biết chữ và giá trị tổn thương 59
Hình 16: Quan hệ giữa giá trị tính nhạy và cơ sở y tế TP Đông Hà, TX Quảng Trị 62 Hình 17: Quan hệ giữa giá trị tổn thương và cơ sở y tế TP Đông Hà, TX Quảng Trị.62
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Các đặc trưng hình thái lưu vực sông Quảng Trị 12
Bảng 2: Dân số trung bình phân theo giới tính và phân theo khu vực 13
Bảng 3: Dân số trung bình phân theo giới tính và phân theo khu vực 14
Bảng 4: Tỷ lệ lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế đã qua đào tạo 15
Bảng 5: Thu nhập bình quân đầu người giai đoạn 2004 - 2012 16
Bảng 6: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân qua các thời kỳ (%) 17
Bảng 7: Chỉ số sản xuất công nghiệp phân theo ngành công nghiệp 19
Bảng 8: ưu, nhược điểm các phương pháp đánh giá tổn thương do lũ 33
Bảng 9: Phân loại mức độ tổn thương của từng loại đất 43
Bảng 10: Gía trị sản xuất nông nghiệp theo giá so sánh 2010 phân theo huyện 49
Bảng 11: Kết quả giá trị tổn thương và tính nhạy khi thay đổi giá trị sản xuất nông nghiệp 51
Bảng 12: Gía trị sản xuất của trồng trọt và chăn nuôi so với giá trị sản xuất nông nghiệp tỉnh Quảng Trị 53
Bảng 13: Bảng tính giá trị tổn thương và tính nhạy khi tăng giá trị sản xuất công nghiệp 54
Bảng 14: Bảng tính giá trị tổn thương và tính nhạy khi tăng tỉ lệ người biết chữ 58
Bảng 15: Số cơ sở y tế phân theo huyện năm 2013 61 Bảng 16: Bảng tính giá trị tổn thương khi tăng cơ sở y tế tại T.P Đông Hà và T.X Quảng Trị 61
Trang 7BẢNG KÝ HIỆU, VIẾT TẮT
IPCC Intergovermental Panel on Climate Change (Ban Liên
chính phủ về Biến đổi khí hậu) ISDR International Strategy for Disaster Reduction (Chiến
lược giảm nhẹ thiên tai quốc tế) SAR Second Assessment Report (Báo cáo đánh giá lần II) TAR Third Assessment Report (Báo cáo đánh giá lần III) UNDP United Nations Depvelopment Programme (Chương
trình Phát triển Liên hợp quốc) UNESCO United Nations Emducation, Scientific and Cultural
Organization (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóaLiên Hiệp Quốc)
Trang 9MỞ ĐẦU
Việt Nam là một trong năm nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổikhí hậu và nước biển dâng Đặc biệt, tỉnh Quảng Trị là nơi chịu ảnh hưởng nặng nềcủa lũ với tần suất và mức độ khốc liệt ngày càng cao Để tăng cường ứng phó với
lũ lụt ngoài các biện pháp công trình (đê kè, hồ chứa cắt lũ thượng lưu, ) thì cácbiện pháp phi công trình đóng vai trò rất quan trọng, mà phần lớn trong số đó cótính dài hạn và bền vững như các biện pháp quy hoạch sử dụng đất và bố trí dân cư,nâng cao nhận thức của người dân Mặt khác, ứng phó nhanh với lũ lụt bằng cácbiện pháp tức thời như cảnh báo, dự báo vùng ngập, di dời và sơ tán dân cư đến khuvực an toàn, đã tỏ ra rất hiệu quả trong việc hạn chế những thiệt hại về người vàtài sản
Do vậy, để đánh giá được tính dễ bị tổn thương do lũ lụt gây ra đối với kinh
tế - xã hội thì hướng tiếp cận đa ngành trong công tác quản lý tổng hợp rủi ro thiêntai là cần thiết để xây dựng các giải pháp nhằm giảm nhẹ tác hại của lũ gây ra Đây
cũng là lý do dẫn đến sự hình thành khóa luận “Khảo sát vai trò của điều kiện kinh
tế - xã hội đối với giá trị dễ bị tổn thương trên các lưu vực sông Thạch Hãn – Bến Hải” Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, các nhà
hoạch định chính sách đưa ra những quyết định, chiến lược phát triển bền vững
Bố cục của khóa luận bao gồm:
Trang 10Chương 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI LƯU VỰC CÁC SÔNG THẠCH HÃN – BẾN HẢI
1.1.1 Vị trí địa lý
Hệ thống các lưu vực sông Thạch Hãn – Bến Hải (hình 1) là 2 hệ thống sônglớn nhất tỉnh Quảng Trị với diện tích lưu vực tương ứng là 2.660 km2 và 809 km2,chiếm ~73% diện tích toàn tỉnh Trãi dài từ 16o18 đến 17o11 vĩ độ Bắc, 106o32 đến
107o24 kinh độ Đông, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình, phía Nam giáp lưu vực sông
Ô Lâu và tỉnh Thừa Thiên - Huế, phía Tây giáp lưu vực sông Sê Păng Hiêng, SêPôn và lãnh thổ Lào [4]
Hình 1: Sơ đồ lưu vực nghiên cứu
Trang 111.1.2 Địa hình, địa mạo
Do cấu tạo của dãy Trường Sơn, địa hình Quảng Trị thấp dần từ Tây sangĐông, Đông Nam và chia thành 4 dạng địa hình: vùng núi cao phân bố ở phía Tây
từ đỉnh dãy Trường Sơn đến miền đồi bát úp; vùng trung du và đồng bằng nhỏ hẹpchạy dọc tỉnh; kế đến là vùng cát nội đồng và ven biển Do địa hình phía Tây núicao, chiều ngang nhỏ hẹp nên hệ thống sông suối đều ngắn và dốc Tác động với địahình nghiêng dần từ Tây sang Đông đã tạo nên hướng chảy chủ đạo trong vùng Địahình có 3 bậc núi cao, gò đồi đặc biệt với khu vòm đột ngột làm ngăn cản hành langthoát lũ cho khu vực
Trong vùng địa hình có dãy Trường Sơn tạo ra khí hậu Đông Tây TrườngSơn duy nhất trên toàn quốc với hai chế độ mùa khác nhau
Địa hình vùng ven bờ tỉnh Quảng Trị thuộc hai dạng cơ bản địa hình đồngbằng và ven biển:
− Địa hình đồng bằng là những vùng đất được bồi đắp phù sa từ hệ thốngcác sông, địa hình tương đối bằng phẳng, có độ cao tuyệt đối từ 25-30 m.Bao gồm đồng bằng Triệu Phong được bồi tụ từ phù sa sông Thạch Hãnkhá màu mỡ; đồng bằng Hải Lăng, đồng bằng sông Bến Hải tương đốiphì nhiêu
− Địa hình ven biển chủ yếu là các cồn cát, đụn cát phân bố dọc ven biến.Địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc phân bố dân cư Một
số khu vực có địa hình phân hóa thành các bồn trũng cục bộ dễ bị ngậpúng khi có mưa lớn hoặc một số khu vực chỉ là các cồn cát khô hạn, sảnxuất chưa thuận lợi, làm cho đời sống dân cư thiếu ổn định [8]
Trang 12Tây Đông Tầng đá gốc ở đây nằm sâu, tầng phủ dày, có rất nhiều quặng nhưngphân bố rất phân tán, không thành khu tập trung.
Vỏ phong hoá chủ yếu phát triển trên đất đá bazan (Hướng Hóa) vùng trầmtích biển và phù sa sông; vùng gò đồi có dạng địa hình đồi thấp, một số dạng thunglũng sông thuộc địa phận huyện Gio Linh, Cam Lộ nằm trên vỏ phong hóa Mazma
và vùng đồi, núi dãy Trường Sơn [4]
1.1.4 Thảm phủ thực vật
Trong thời gian chiến tranh, tỉnh Quảng Trị nằm trong vùng bị huỷ diệt khốcliệt, lớp phủ thực vật bị tàn phá Rừng trồng theo chương trình hỗ trợ của PAM dọccác quốc lộ hoặc tỉnh lộ phát triển nhanh và có hiệu quả môi trường rõ rệt Từ cácChương trình Quốc gia 327, 264 và kế hoạch trồng rừng, trồng cây nhân dân củacấp tỉnh, phát động và đầu tư, đã nâng cao tỷ lệ che phủ rừng khá nhanh, độ che phủrừng đã tăng bình quân 1%/năm [3]
1.1.5 Tình hình nghiên cứu thủy văn
Tỉnh Quảng Trị có ba hệ thống sông chính là sông Bến Hải, sông Thạch Hãn
và sông Ô Lâu
Đặc điểm chung của các hệ thống sông là ngắn, hướng chảy chính là Tây Đông, độ dốc trung bình khoảng 13 – 25 m/km Ở phần thượng nguồn các sôngphân nhánh thành các chi lưu, lòng sông thu hẹp, nhiều ghềnh thác [1]
-− Hệ thống sông Thạch Hãn có 37 con sông gồm 17 sông nhánh cấp I với 3nhánh tiêu biểu là Vĩnh Phước, Rào Quán và Cam Lộ, 13 sông nhánh cấp II,
6 sông nhánh cấp III Diện tích lưu vực là 2660 km2, độ dài sông chính 156
km, độ cao bình quân lưu vực 301 m, độ dốc bình quân lưu vực 20,1%, độrộng trung bình lưu vực 36,8 km, mật độ lưới sông 0,92; hệ số uốn khúc 3,5
− Hệ thống sông Bến Hải có diện tích lưu vực là 809 km2, dài 64,5 km, độ caobình quân lưu vực 115 m, độ dốc bình quân lưu vực là 15,7%, mật độ lướisông là 1,15, hệ số uốn khúc là 1,43
Trang 13− Hệ thống sông Ô Lâu thuộc lưu vực sông Mỹ Chánh chảy qua phá TamGiang về cửa Thuận An bao quát một diện tích lưu vực là 855 km2, dài 65
km [3]
Hình 2: Sơ đồ mạng lưới sông ngòi lưu vực nghiên cứu
Ngoài ra còn có một số sông suối lưu vực sông Xê Pôn và Sê Păng Hiêngthuộc Tây Trường Sơn và một số suối nhỏ vùng cồn cát đổ thẳng ra biển
Trang 14Bảng 1: Các đặc trưng hình thái lưu vực sông Quảng Trị
1.2.1 Dân số
Năm 2013 dân số toàn tỉnh là 613.655 người (trong đó nữ giới có 310.270người và nam giới có 303.385 người), dân số thành thị 177.9191 người, dân số nôngthôn 435.736 nhân khẩu Toàn tỉnh có 155.320 hộ, bình quân 3,92 người/hộ [2]
Đồng bào dân tộc thiểu số phân bố tập trung chủ yếu ở hai huyện ĐaKrông,Hướng Hoá, ngoài ra còn phân bố ở 1 số xã thuộc các huyện Gio Linh, huyện VĩnhLinh và Cam Lộ
Mật độ dân số bình quân của tỉnh là 129 người/km2 (thấp hơn mức trung bìnhcủa cả nước 259 người/km2), dân số của tỉnh phân bố không đồng đều giữa các đơn
vị hành chính, đa số tập trung với mật độ cao tại các thành phố, thị xã, khu vực thịtrấn nơi có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế, với hệ thống hạ tầng cơ sở khá đồngbộ
Trang 15Bảng 2: Dân số trung bình phân theo giới tính và phân theo khu vực
Lực lượng lao động qua đào tạo, có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm tỷ lệkhoảng 39,4% tổng số lao động, trong đó: cao đẳng và đại học trở lên chiếm 7,3%,công nhân kỹ thuật chiếm 26,7%, trung học chuyên nghiệp chiếm 5,4%
Trang 17Bảng 3: Dân số trung bình phân theo giới tính và phân theo khu vực
Đơn vị tính: người
Chỉ tiêu Năm
2004
Năm 2005
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011Tổng số
lao động 278.590 281.937 289.232 317.466 313.686 302.650 315.392 318.477 -Nông,
dựng 11.377 13.514 13.801 22.053 21.877 21.307 22.070 22.860-Dịch vụ 28.501 31.013 38.230 36.624 41.579 29.274 32.894 33.962-Khách
Nhìn chung, dân số và nguồn nhân lực của tỉnh Quảng Trị dồi dào; có nền
văn hóa đa dạng và giàu truyền thống quý báu Tuy nhiên vấn đề dân cư và lao động
của tỉnh vẫn còn những hạn chế, bất cập như: dân cư phân bố không đều trên các
địa bàn lãnh thổ; trình độ dân trí còn thấp nhất là vùng sâu, vùng xa; trình độ
chuyên môn, kỹ thuật lành nghề còn hạn chế, thiếu đội ngũ lao động có chất lượng
cao, thiếu chuyên gia giỏi
Trang 18Bảng 4: Tỷ lệ lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế đã qua đào tạo
Đơn vị tính (%)
Chỉ tiêu Năm
2005
Năm2006
Năm2007
Năm2008
Năm2009
Năm2010
Năm2011
1.2.2 Cơ cấu kinh tế
Trong thập niên qua tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đạt mức khá
cao, tuy nhiên có xu hướng giảm trong những năm gần đây Tốc độ tăng trưởng
kinh tế GDP của một số ngành và lĩnh vực kinh tế - xã hội đang tiếp tục được cải
thiện đặc biệt ngành dịch vụ, tuy nhiên kinh tế nông nghiệp có xu hướng giảm
tương đối lớn từ 4,6% năm 2005 xuống 2,2% năm 2009; 3,6% năm 2010; 3,2% năm
2011 và tăng trở lại khoảng 4,7% năm 2012 [2]
Giai đoạn 2001- 2005 Tăng trưởng kinh tế đạt bình quân 8,7%/năm, trong
đó công nghiệp - xây dựng tăng 21,7%/năm, nông nghiệp tăng 4,7%/năm, dịch vụ
tăng 6,7%/năm Năm 2005, tổng GDP (giá HH) đạt 3.407 tỉ đồng, bình quân đầu
người đạt 5.165 triệu đồng, tăng hơn 1.8 lần so với năm 2000
Mức thu nhập bình quân đầu người một tháng tăng từ 304,7 nghìn đồng năm
2004 lên 436,4 nghìn đồng vào năm 2006 và năm 2012 là 1342,67 nghìn đồng Tuy
nhiên thu nhập và mức sống của dân cư vùng nông thôn còn thấp, nhất là ở vùng
sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (Hướng Hóa,
Đakrông )
Trang 19Bảng 5: Thu nhập bình quân đầu người giai đoạn 2004 - 2012
Đơn vị tính: 1000 đ/tháng
Chỉ tiêu Năm
2004
Năm 2006
Năm 2008
Năm 2010
Năm 2012Thu nhập bình quân
đầu người chung 304,7 436,4 659,6 950,7 1342,6
2005 đã đạt là 8,68%/năm Đánh giá về tốc độ tăng trưởng bình quân GDP giaiđoạn 05 năm 2006-2010 của các ngành kinh tế cho thấy, tốc độ tăng trưởng ngànhxây dựng và ngành công nghiệp có tốc độ cao trong cả giai đoạn 10 năm 2001-2010với tốc độ 23,3%/năm và 19,3%/năm; Tiếp theo là ngành thương mại - dịch vụ đạttốc độ 7,6%/năm và ngành nông nghiệp là 4,1%/năm Năm 2010, tổng GDP (theogiá cố định 1994) của tỉnh đạt khoảng 3.008 tỷ đồng gấp hơn 1,6 lần so với năm
2005 và đạt mức tăng trưởng 10,6%/năm trong giai đoạn 2006-2010
Giai đoạn 2011-2012: Kinh tế tỉnh đạt tốc độ tăng trưởng 8,45%/năm (năm
2011 tăng 9.5%, năm 2012 tăng 7,4%)
Năm 2013 Quảng Trị đạt được một số kết quả như sau:
Giá trị tổng sản phẩm năm 2013 ước đạt 11.934 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởngnền kinh tế ước đạt 6,7% so với năm 2012 (mục tiêu đề ra cả năm là 8,5% - 9%);trong đó tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,8%;công nghiệp - xây dựng tăng 7,9%; dịch vụ tăng 8,6%
Tổng thu ngân sách trên địa bàn ước đạt: 2.520 tỷ đồng; trong đó thu nội địa:
889 tỷ đồng; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu: 562 tỷ đồng GDP bình quân đầungười (giá HH) đạt 23,743 triệu đồng [6]
Trang 20Về cơ cấu kinh tế, sự chuyển dịch của tỉnh đúng hướng, phù hợp với xu thếchung của cả nước, theo xu thế tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng
và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản Ngànhcông nghiệp tăng nhanh tỉ trọng trong cơ cấu kinh tế và ngày càng đóng vai trò quantrọng Tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng tăng từ 15,1% năm 2000 lên35,5% năm 2010, 36,7% năm 2011, 37,1% năm 2012 và 37,9% năm 2013; khu vựcnông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 44,9% năm 2000 xuống 35.9% năm
2005, còn 30.4% năm 2009 và 28.9 năm 2010, 28,6 năm 2011, 25,7% năm 2012 và23,8% năm 2013; khu vực dịch vụ giảm từ 40,0% năm 2000 xuống còn 38,4% năm
2005, 35,6% năm 2010, 34,7% năm 2011, 37% năm 2012 và 38,3% năm 2013 Căn cứ vào giá trị tổng sản phẩm GDP của các ngành kinh tế cho thấy, cơcấu kinh tế hiện tại của Quảng Trị (năm 2013) là cơ cấu công nghiệp và xây dựng,thương mại - dịch vụ và nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản Trong giai đoạn 05năm 2006-2010, cơ cấu kinh tế có xu thế chuyển dịch nhanh theo hướng tăng nhanh
tỷ trọng công nghiệp và xây dựng
Về cơ cấu thành phần kinh tế, có sự chuyển đổi theo hướng đa dạng hóa cácthành phần Tỷ trọng cơ cấu GDP của khu vực kinh tế nhà nước giảm (năm 2010đạt 23,3%, giảm 3,9% so với năm 2005; năm 2012 đạt 23,9%, giảm 0,01% so vớinăm 2011), trong khi đó khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỉ trọng ngày cànglớn (năm 2010 đạt 75,5% tăng 4,6% so với năm 2005, năm 2012 đạt 74,9% tăng0.1% so với năm 2011); khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có chiều hướngngày càng tăng, nhưng quy mô vẫn còn nhỏ bé (năm 2010 đạt 1,2%, 2011 đạt 1,2%
và năm 2012 đạt 1,3%) Đây là một hạn chế của địa phương, do chưa tạo ra các tiền
đề hấp dẫn để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) [2]
Bảng 6: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân qua các thời kỳ (%)
Chỉ tiêu 2005 2010 2011 Sơ bộTăng trưởng GDP bq/năm 10,4 10,6 9,5 6,9
- Công nghiệp - xây dựng 24,5 17,9 14,3 7,9
- Nông, lâm, ngư nghiệp 4,6 3,6 3,2 3,3
(NGTKQT 2013)
Trang 21Khu vực kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản phát triển mạnh theo
hướng thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng năng suất, chất lượng
và hiệu quả sản xuất; khai thác, nuôi trồng thủy sản bước đầu gắn với công nghiệpchế biến và xuất khẩu; kinh tế trang trại phát triển mạnh cả về số lượng, quy mô,phát huy ưu thế của từng vùng Kết quả giá trị tăng thêm toàn ngành nông nghiệp,lâm nghiệp và thủy sản năm 2010 tăng 4,4%, năm 2010 tăng 3,6%, năm 2012 theo
sơ bộ tăng 5,8% Năm 2012 tổng giá trị sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủysản (giá HH) đạt 7.015.812 triệu đồng
Khu vực kinh tế công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp TTCN
Thống kê năm 2011, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị có 7109 cơ sở sản xuất côngnghiệp, trong đó: 1979 doanh nghiệp và 5130 cơ sở sản xuất nhỏ, cá thể hộ gia đình.Tổng số cơ sở sản xuất công nghiệp trong cả 2 giai đoạn 2001-2005 và 2006-2010
có tốc độ tăng bình quân đạt 2,5%/năm và 1,92%/năm, năm 2011 tăng 3,12% so vớinăm 2010
Theo ngành công nghiệp, hiện các cơ sở công nghiệp khai thác có xu hướnggiảm, từ 380 cơ sở năm 2005 giảm xuống còn 205 cơ sở năm 2010, tăng lên 216năm 2011 Số lượng cơ sở ngành công nghiệp chế biến hiện có 6893 cơ sở tăng 204
cơ sở so với năm 2010
Khu vực kinh tế thương mại - dịch vụ, du lịch
Hoạt động thương mại, dịch vụ được đẩy mạnh đầu tư và đã có những bướcphát triển đáng kể, hàng hóa lưu thông ngày càng thuận lợi Hiện tại đã nâng cấp vàxây dựng các chợ trung tâm thành phố Đông Hà, thị xã Quảng Trị, ở các thị trấn(huyện Gio Linh, Vĩnh Linh, Hải Lăng, Cam Lộ) Trung tâm thương mại Đông Hà,Trung tâm thương mại Lao Bảo đang phát huy hiệu quả, thu hút ngày càng đông dukhách đến tham quan, mua sắm [2]
Năm 2013, tổng mức bán lẻ hàng hóa xã hội trên địa bàn đạt 15092,06 tỷđồng, tăng 13,22% so với năm 2012 Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hộithời kỳ 2001 - 2011 tăng bình quân 38,61%/năm
Trang 22Bảng 7: Chỉ số sản xuất công nghiệp phân theo ngành công nghiệp
106,38
88,98
4,25
121,00
114,48
111,06
CN sản xuất và PP điện, nước 11
7,12
71,40
93,91
107,11Cung cấp nước, hoạt động quản lý và
xử lý rác thải
115,20
124,90
121,41
106,98
(Nguồn trích: NGTK Quảng Trị 2013
Giá trị xuất khẩu năm 2013 tăng 23,98%, đạt 118726 triệu USD, ngoài năm
2009 tổng giá trị xuất khẩu có xu hướng giảm nhẹ (4,9%) so với năm 2008, tổng giátrị xuất khẩu tăng mạnh trở lại vào năm 2010, tăng 83,8% so với năm 2009 Trongkhi đó tổng giá trị nhập khẩu có xu thế biến đổi ngược lại, ngoại trừ xu thế tăngmạnh vào năm 2009, 38,08% so với năm trước đó, lại giảm 21,8% vào năm 2010 sovới năm 2009 và tăng trở lại vào các năm 2011, năm 2012 với mức tăng 49,37%,năm 2013 với mức tăng 13,72% [2]
1.2.3 Cơ sở hạ tầng
Y tế : Mạng lưới y tế ở vùng đồng bằng phát triển rộng khắp ở các cộng đồng
dân cư nhất là y tế cộng đồng, phòng ngừa quản lý và phát hiện các dịch bệnh Mỗihuyện có một bệnh viện với quy mô 80 giường bệnh, công tác y tế đã đóng vai tròtích cực trong việc bảo vệ sức khoẻ nhân dân và phát huy thắng lợi chương trìnhsinh đẻ có kế hoạch Tuy nhiên, ở các xã miền núi, hệ thống y tế còn chưa đượcphát triển, nhìn chung mỗi xã có 1 trạm y tế, song do khoảng cách từ các cụm dân
cư tới trạm xá còn xa và do mê tín, nên tệ nạn chữa bệnh bằng cúng vái vẫn còn tồntại ở một số địa phương
Giáo dục : Các xã trong vùng đồng bằng đã thực hiện tốt công tác xoá mù
chữ Lực lượng lao động vùng nông thôn có tới 60% đã qua trình độ văn hoá cấp cơ
sở và 20% số lao động có trình độ văn hoá phổ thông trung học Ở vùng núi, tìnhtrạng bỏ học còn phổ biến Tỷ lệ mù hoặc tái mù chữ còn cao
Giao thông: Hệ thống giao thông ở đây tương đối phát triển, tuy nhiên vẫn
có sự khác biệt giữa vùng đồng bằng ven biển và miền núi Có 3 tuyến quốc lộ
Trang 23chính đi qua: tuyến đường 1A từ ranh giới Quảng Bình - Quảng Trị đến Thừa ThiênHuế, tuyến đường 9 từ thị xã Đông Hà đi Lào và cửa Việt (đường 9 đến cửa khẩuLao Bảo dài 82 km) Tuyến đường 14 từ cầu Đakrông đi sang thượng nguồn sôngHương Tuyến đường này cùng với đường mòn Hồ Chí Minh trở thành tuyến đườngTrường Sơn công nghiệp Đường thuỷ có trục đường theo sông Bến Hải, SôngHiếu, sông Thạch Hãn từ biển vào sâu đất liền, tuy nhiên tuyến đường thuỷ nàycũng chỉ cho phép thuyền trọng tải 10 tấn đi lại Tuyến đường sắt chạy theo hướngBắc Nam có ga chính Đông Hà là nơi trung chuyển hàng hoá ra Bắc và vào Nam.Ngành dịch vụ thương mại, du lịch: Ngành dịch vụ ở đây phát triển đã lâu
Dịch vụ chủ yếu là buôn bán hàng hoá qua Lào, Thái Lan theo trục đường 9
và phục vụ sản xuất nông nghiệp như sửa chữa công cụ lao động, cung cấp vật tư vàbao tiêu sản phẩm cho sản xuất nông nghiệp
Khu thương mại quốc tế Lao Bảo được hình thành và đóng vai trò lớn tronghành lang kinh tế Đông – Tây Dịch vụ của tư nhân hiện tại phần nào đáp ứng đượcnhu cầu của người tiêu dùng nhưng chỉ tập trung ở vùng đồng bằng nơi dân cư đôngđúc [8]
Trang 24Chương 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG
VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP
2.1 TỔNG QUAN
2.1.1 Khái niệm chung về tính dễ tổn thương
Khái niệm về tính dễ bị tổn thương đã có nhiều thay đổi trong 20 năm qua
Đã có nhiều hướng nghiên cứu khác nhau nhằm phân loại các thành phần, yếu tố đểđánh giá tính dễ bị tổn thương Tuy nhiên việc sử dụng các thuật ngữ liên quan đếntính dễ bị tổn thương giữa các ngành, lĩnh vực nghiên cứu vẫn còn nhiều tranh cãitrong các cộng đồng, các hướng nghiên cứu khoa học khác nhau
Trong ngành khoa học kinh tế - xã hội: Với cách tiếp cận của Ramade (1989)
thì tính dễ bị tổn thương bao gồm cả con người và kinh tế - xã hội, liên quan đếnkhuynh hướng hàng hóa, con người, cơ sở hạ tầng, các hoạt động bị thiệt hại, sức đềkháng của cộng đồng, khi được giới thiệu trong một số nghiên cứu địa lý vào nhữngnăm 1980 Nhưng nghiên cứu đó lại không đề cập đến mặt tự nhiên, mức độ, tầnsuất xuất hiện của các hiện tượng thiên tai Trong nghiên cứu gần đây trong lĩnh vựcnày đã giải thích tính dễ bị tổn thương của một hệ thống địa lý, vùng lãnh thổ là kếtquả của các hoạt động, khả năng chống chịu khác nhau của xã hội, bối cảnh kinh tế
và công nghệ không đồng nhất
Watts and Bohie (1993) đã xem xét đến bối cảnh xã hội của các mối nguyhiểm và liên hệ tính dễ bị tổn thương xã hội đến khả năng phục hồi, chống chịu củacộng đồng Họ đã cố gắng tìm mọi cách dễ dàng hơn để tìm hiểu và đơn giản hóakhái niệm đó thông qua các nghiên cứu sâu hơn về nền tảng xã hội
Tính dễ bị tổn thương được mô tả bởi tổ chức chiến lược và giảm nhẹ thiêntai thế giới (ISDR, 2004) như là các điều kiện xác định bởi các yếu tố vật lý, xã hội,kinh tế và môi trường hay các quá trình, làm tăng tính nhạy của cộng đồng dưới tácđộng của thiên tai
Trong cách tiếp cận của ngành khoa học xã hội, thì tính dễ bị tổn thương lại
tập trung vào năng lực của con người để đối phó với mối nguy hiểm và kịp thời
Trang 25khôi phục lại các thiệt hại và những tổn thất Cách tiếp cận này đòi hỏi ít kiến thức
về hệ thống địa lý vì mục tiêu của nghiên cứu là giải thích các hành vi xã hội
Ngành khoa học tự nhiên có một điểm khác để giải thích tính dễ bị tổnthương do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Hội đồng quốc tế về biến đổi khí hậu(IPCC) đã phát triển các định nghĩa về tính dễ bị tổn thương qua nhiều năm Năm
1992, họ xác định tính dễ bị tổn thương như mức độ không có khả năng đối phó vớinhững hậu quả của biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Năm 1996, SAR (báo cáo đánh giá lần 2) đã xác định tính dễ bị tổn thươngnhư mức độ mà biến đổi khí hậu có thể gây tồn tại hay bất lợi cho hệ thống,khôngchỉ phụ thuộc vào độ nhạy của hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thíchứng của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới Được xem như những tác động cònlại của biến đổi khí hậu sau khi các biện pháp thích ứng được thực hiện ( Dowing,2005) Định nghĩa này bao gồm sự lộ diện, tính nhạy, khả năng phục hồi của hệthống để chống lại các mối quy hiểm do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
IPCC TAR (báo cáo đánh giá lần 3) (2011) đã giải thích khái niệm tính dễ bịtổn thương như mức độ dễ bị ảnh hưởng của hệ thống hoặc khả năng không thể đốiphó được với các tác động của biến đổi khí hậu Tính dễ bị tổn thương là một hàmđặc trưng của cường độ, tốc độ biến đổi khí hậu khi hệ thống bị phơi nhiễm, baogồm cả độ nhạy và khả năng thích ứng
Các định nghĩa này đã thể hiện sự phát triển, với định nghĩa của SAR vàTAR đã bao gồm các thành phần xã hội để giải thích tính dễ bị tổn thương Trongnhững năm 1980 và đặc biệt trong những năm 1990 thì những nghiên cứu về mốiquan hệ giữa các hoạt động con người và tác động của thiên tai theo chiều hướngtổn thương kinh tế xã hội đã tăng lên Các định nghĩa về tính dễ bị tổn thương đãdần được cải thiện thể hiện một cái nhìn toàn diện của xã hội, liên quan đến lĩnh vực
tự nhiên và kinh tế xã hội của hệ thống
Tổn thương do lũ lụt
Theo Nguyễn Thanh Sơn, Cấn Thu Văn [5] khái niệm tính dễ bị tổn thương
sử dụng dựa trên khái niệm của UNESCO-IHE “ Tính dễ bị tổn thương là mức độ
Trang 26gây hại có thể được xác định trong những điều kiện nhất định thông qua tính nhạy,
sự tổn thất và khả năng phục hồi”.
Để tăng cường tính ứng dụng trong của các nghiên cứu trong thực tế, đặc biệt
là trong chủ động đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ thì Janet Edwards (2007) đã
đưa ra một khái niệm nữa là bản đồ tính dễ bị tổn thương do lũ “ là bản đồ cho biết
vị trí các vùng nơi mà con người, môi trường thiên nhiên, của cải gặp rủi ro do các thảm họa có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như thiệt hại về người, gây ô nhiễm môi trường”.
Ngoài ra, theo một số nghiên cứu khác định nghĩa: Khái niệm tính dễ bị tổnthương do lũ lụt là việc xem xét lựa chọn tiếp xúc, nhạy cảm và các chỉ số đối phócủa người dân trong khu vực nghiên cứu Phân tích các chỉ số này cung cấp một cáinhìn sâu sắc vào các đặc tính dễ bị tổn thương của người dân bị ảnh hưởng và tácđộng với quản lý nguy cơ lũ lụt Khi định lượng được tính dễ bị tổn thương của mộtvùng nào đó thì nó sẽ cung cấp những thông tin cần thiết hỗ trợ trong việc ra quyếtđịnh nhằm chống lại các mối nguy hiểm do lũ lụt gây ra mà xã hội phải hứng chịu
Sự cần thiết để đánh giá tính dễ bị tổn thương lũ
Trong những năm qua việc quản lý lũ bằng các phương án công trình như đê
và hồ chứa, được thiết kế với các trận lũ có tần suất khác nhau đã chiếm ưu thế Đây
là cách tiếp cận nhằm giảm thiên tai lũ, nghĩa là làm giảm xác suất xuất hiện, cường
độ lưu lượng lũ, cũng như giảm diện ngập lụt
Thời gian gần đây đã có sự phát triển quan trọng đó là chuyển mục tiêuquản lý thiên tai sang quản lý rủi ro lũ, trong đó rủi ro lũ là những thiệt hại do lũ lụtgây ra với một tần suất nhất định trong một khoảng thời gian xác định Vì thế việcđánh giá những thiệt hại, tổn thương lũ cần được nghiên cứu một cách cẩn trọngtrong quản lý rủi ro lũ Việc đánh giá thiệt hại, tổn thương lũ đang đạt được nhữngkết quả quan trọng phục vụ cho việc đưa ra những quyết định trong quản lý rủi ro lũthông qua các bước sau:
− Đánh giá tổn thương lũ: Các đối tượng trong vùng lũ như nhà ở, cộng đồng,
công trình bị tổn thương một cách biến động không chỉ theo không gian,
Trang 27thời gian mà còn phụ thuộc vào khả năng chống chịu của người dân tại đó.
Ví dụ, các cộng đồng phải thường xuyên đối mặt với lũ lụt, họ sẽ phát triểncác chiến lược đối phó với các hiện tượng đó Còn các cộng đồng không phảiđối mặt với các trận lũ lụt thường bỏ qua việc thích nghi với nguy cơ lũ, vìthế họ sẽ bị tổn thương nhiều hơn khi phải đối mặt với lũ Do đó, những đánhgiá về tổn thương lũ đồng đóng vai trò quan trọng trong bài toán xác địnhphương án giảm rủi ro thích hợp, như phát triển các kế hoạch khẩn cấp vàthực hiện các bài tập trong tình huống khẩn cấp
− Bản đồ hóa tổn thương lũ: bản đồ tổn thương lũ là một phần quan trọng
trong quản lý rủi ro lũ, cung cấp những thông tin về đối tượng, thể hiện mộtcách trực quan về những rủi ro tiềm năng trong vùng có nguy cơ lũ
− Quyết định tối ưu cho các phương án giảm nhẹ lũ: an toàn lũ và giảm thiểu
tổn thương lũ là mục đích của bài toán, do vậy việc lựa chọn các phương ángiảm thiểu tổn thương lũ phải được xác định và những lợi ích, chi phí chocác lựa chọn khác được định lượng và so sánh Những bước này nhằm sửdụng chi phí quản lý rủi ro một cách hiệu quả, do vậy những đánh giá thiệthại, tổn thương lũ là một yếu tố quan trọng
− Đánh giá tài chính ngay sau lũ được thực hiện khi lũ xảy ra, cơ quan quản
lý thiên tai và Chính phủ cần đánh giá nhanh những thiệt hại, tổn thương do
lũ để dự thảo ngân sách và đưa ra các quy định về bồi thường thiệt hại chocác đối tượng trong vùng bị lũ lụt
2.1.2 Tổng quan về các nghiên cứu trong và ngoài nước
a Ngoài nước
Nguy cơ lũ lụt là khả năng xảy ra những thiệt hại tiềm năng do lũ với mộtcường độ nhất định trong một vùng nhất định ở một thời điểm nhất định (Crichton2002; Kron2005) Một số các yếu tố (hoặc các tham số) gây ra những thiệt hại tiềmnăng do hiểm họa lũ lụt Các tham số này có thể được định lượng thông qua các chỉ
số như: độ sâu ngập lụt, thời gian ngập lụt, vận tốc, tỷ lệ tăng lên của mực nướcbiển, tần xuất xuất hiện Tất cả các nhân tố này và các chỉ số có mối quan hệ phức
Trang 28tạp và tác động khác nhau (ESCAP 1991; Smith 1994; Xanh và cộng sự 2000;.Alkema2003; Tingsanchali và Karim, 2005).
Phần lớn những nghiên cứu đánh giá rủi ro lũ lụt, các tham số rủi ro đã đượcthẩm định một cách riêng biệt và số lượng các tham số cũng được giới hạn Việc sốlượng các trận lũ ngày càng tăng và nước biển dâng do nóng lên toàn cầu, biến đổikhí hậu và sự thay đổi môi trường cũng được tính đến một cách thích hợp Để cóđược những tham số này thì các nghiên cứu phải được tiếp cận theo hướng quản lýtổng hợp rủi ro lũ lụt trong vùng đồng bằng ngập lũ Số lượng các tham số có liênquan tới các khía cạnh: hiểm họa lũ, kinh tế, xã hội và môi trường theo sự phân bố
có trọng số của rủi ro lũ Bên cạnh đó thì đặc trưng tần suất, cường suất lũ, sự thayđổi của mực nước biển coi như tham số tính nhạy đối với đánh giá tương lai
Plate (2002) đã xây dựng một chương trình khung cho việc đánh giá rủi ro lũlụt bao gồm: phân tích rủi ro (xác định hiểm họa, phân tích tính dễ bị tổn thương, vàxác định rủi ro), giảm nhẹ thiên tai (công nghệ và phi công nghệ) và sự sẵn sàngđương đầu với lũ lụt (các dự án cứu trợ, sự cảnh báo sớm và việc sơ tán) Ông đã đềxuất công thức như sau:
x D fxx Ddx K
D Ruiro( ) 0 (1)Trong đó: K là hàm hậu quả (hàm tổn thất), x là độ lớn của hiểm họa (như mựcnước lũ), D là véc tơ định hướng (độ cao của đê dọc theo sông) mà ảnh hưởng đếnhậu quả K của hiểm họa x, fx là hàm mật độ tần suất xuất hiện của biến x Theo đórủi ro là giá trị mong đợi của hàm hậu quả K
Van Duivendjik (1999) cho rằng rủi ro lũ lụt là mức độ nguy hiểm của hiểmhọa lũ lụt Hai định nghĩa về rủi ro lũ được giải thích là: (1) sự thay đổi kinh nghiệm
lũ (đã gặp phải, trải qua nhiều trận lũ) Rủi ro thường đến nhanh sau đỉnh lũ xuấthiện, nhưng vận tốc lũ, bùn cát, và độ sâu ngập lũ đôi khi cũng được sử dụng đểphân tích trong vùng rủi ro Sự đánh giá rủi ro lũ cũng có thể dựa vào con người hayvật nuôi và tài sản có thể gặp nguy hiểm; (2) Là xác suất của một hiện tượng nhânvới hậu quả của nó gây ra (giống như xác định thiệt hại) Giá trị này bằng với giá trịmong đợi của thiệt hại Khái niệm này đã được dùng trong việc phân tích rủi ro
Trang 29Crichton (2002) đã đưa ra tam giác rủi ro và diện tích của tam giác ấy chính là
độ rủi ro, tam giác được hình thành bởi 3 thành phần là: Hiểm họa, tính dễ bị tổnthương và phơi nhiễm Nếu một trong 3 thành phần này tăng lên thì diện tích tamgiác tăng lên và kéo theo là mức độ rủi ro tăng theo và ngược lại mức độ rủi ro sẽgiảm Tác giả đã định nghĩa tam giác rủi ro như sau: Rủi ro là tổn thất tiềm năng, sựxuất hiện và mức độ là ngẫu nhiên, nó phụ thuộc vào hiểm họa, tính dễ bị tổnthương và phơi nhiễm: Hiểm họa đặc trưng cho tần suất, cường suất của hiện tượngcực đoan mà nó có thể gây thiệt hại Tính dễ bị tổn thương đặc trưng cho giá trị tíchlũy và trạng thái gần của đối tượng chính bị ảnh hưởng bởi hiểm họa Các đối tượngchính này là tính mạng, sức khỏe của con người hay vật nuôi, tài sản, số liệu haykhía cạnh môi trường
Dwyer và cộng sự (2004) đã giải thích tam giác rủi ro của Crichton bằng mộtkim tự tháp 3 chiều và thể tích của kim tự tháp là giá trị rủi ro Ba mặt của kim tựtháp đặc trưng cho 3 thành phần là hiểm họa, tính dễ bị tổn thương và phơi nhiễm.Bất kỳ thành phần nào của kim tự tháp tăng lên đều làm cho thể tích kim tự tháptăng, kéo theo là giá trị rủi ro tăng và ngược lại Hiểm họa là thành phần đặc trưngcho cường độ và độ lớn của hiện tượng cực đoan, phơi nhiễm đặc trưng cho các đốitượng bị tác động bởi hiểm họa (con người, nhà cửa, công trình, cơ sở hạ tầng, kinh
tế và môi trường), tính dễ bị tổn thương đặc trưng cho khả năng của các yếu tố nhưđường xá, nhà cửa, người hoặc kinh tế có thể chống chịu, đối phó hoặc tự phục hổidưới tác động của hiểm họa tự nhiên
ADRC (2005) (Asian Disaster Reduction Center) cũng có cách tiếp cận giốngnhư Crichton và Dwyer, nhưng ADRC lại sử dụng 3 vòng tròn đặc trưng cho 3thành phần và độ rủi ro được xác định là phần diện tích giao nhau giữa 3 vòng trònnày Rủi ro là giá trị mong chờ của thiệt hại như là: tính mạng, thương, tài sản… bị
ảnh hưởng bởi hiểm họa Rủi ro là hàm số của hiểm họa, tính dễ bị tổn thương và phơi nhiễm Ở đây “hiểm họa” đặc trưng cho các hiện tượng cực đoan như động
đất, lũ lụt, bão, sóng thần Chú ý rằng các hiện tượng không được coi là hiểm họatrong chính bản thân chúng Ví dụ, động đất xảy ra ở sa mạc hay đảo mà không có
Trang 30người ở hay động vật thì không được coi là hiểm họa Mặt khác, tính dễ bị tổnthương do hiện tượng tự nhiên phải có hiện tượng gây ra như thiên tai
Hình 3: Biểu đồ xác định rủi ro lũ
“Tính dễ bị tổn thương” được định nghĩa là điều kiện kết quả từ các nhân
tố hoặc quá trình vật lý, xã hội, kinh tế và môi trường Nó làm tăng tính nhạy của
cộng đối đối với tác động của hiểm họa tự nhiên “Phơi nhiễm” đặc trưng cho các
đối tượng bị ảnh hưởng bởi hiểm họa tự nhiên như người và tài sản
Theo đó ADRC (2005) cũng đã đề xuất các biện pháp nhằm giảm rủi ro lũ là:(i) giảm tính dễ bị tổn thương; (ii) giảm diện tiếp xúc với tác động của hiểm họanhư biện pháp di dời nơi ở và tài sản Rủi ro thiên tai và diện tích bị ảnh hưởng cóthể làm giảm nhẹ nếu các biện pháp này được áp dụng đúng
Hình 4: Cơ chế giảm thiểu rủi ro lũ của ADRC
Kron (2005) cũng đã đề xuất công thức tính rủi ro lũ lụt:
Rủi ro lũ = Hiểm họa x Giá trị x Tính dễ bị tổn thương (2)
ở đây: Hiểm họa – là các hiện tượng cực đoan tự nhiên (bao gồm tần suất, cường suất xuất hiện); Giá trị - như là giá trị rủi ro (nhà cửa, người phải sơ tán );
Trang 31Tính dễ bị tổn thương- là khả năng chống đỡ của cộng đồng với các hiểm họa tự
nhiên
Trong khoảng 30 năm trở lại đây, thì tính dễ bị tổn thương được các nhàkhoa học tập trung nghiên cứu nhiều trong các lĩnh vực như; kinh tế - xã hội, môitrường, tự nhiên, thiên tai…Tuy nhiên các nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương dongập lụt thì mới được nghiên cứu trong những năm gần đây theo các cách tiếp cậnkhác nhau như:
Conner (2007) đã đưa các biện pháp công trình và phi công trình vào tính toánchỉ số tổn thương lũ, nó thể hiện khả năng chống chịu của cộng đồng dân cư màkhông xét đến sự phơi nhiễm của cộng đồng đó trước nguy cơ lũ Hay Sebastian(2010) đã xác định tính dễ bị tổn thương lũ là sự kết hợp giữa xác suất, tác động(thiệt hại) và khả năng chống chịu Theo như nghiên cứu này chưa xét đến phơinhiễm, khả năng phục hồi của hệ thống
Ở một số nước châu âu các nghiên cứu định tính và định lượng đã được thựchiện tập trung vào sự tác động của lũ lụt tới cộng đồng và hộ gia đình và phản ứngvới lũ lụt của họ Trong đó bao gồm các khía cạnh của dễ bị tổn thương xã hội, chủyếu là về tác động kinh tế - xã hội của lũ lụt và quá trình phục hồi (ví dụ nhưTapsell và cộng sự, 1999, 2003; Tapsell và Tunstall năm 2001; Carroll và cộng sự,2006; Tunstall và cộng sự, 2006; Werritty và cộng sự, 2007; Thieken và cộng sự,2007; Whittle và cộng sự, 2010; Walker và cộng sự, 2010)
Nghiên cứu gần đây thực nghiệm về lũ quét được tiến hành ở Italy, Đức vàAnh cho các dự án EC FP6 FLOOD có những điểm nổi bật: a) so sánh xuyên quốcgia, b) về hiệu quả của việc áp dụng các chỉ số dễ bị tổn thương "cổ điển" như tuổitác, giới tính hoặc thu nhập (De Marchi và cộng sự (2007; Steinführer và Kuhlicke,2007; Tunstall và cộng sự, 2007) [6]
b.Trong nước
Trong nghiên cứu của Viet Trinh (2010) đã đánh giá rủi ro do lũ trên lưu vựcsông Thạch Hãn – Quảng Trị dựa trên bản đồ nguy cơ do lũ và bản đồ tính dễ bị tổn
Trang 32thương Tác giả đã coi tính dễ tổn thương do lũ là một hàm của bản đồ sử dụng đất
và mật độ dân số mà chưa xét đến khả năng chống chịu của cộng đồng
Tác giả Mai Dang (2010) đã nghiên cứu cả về khía cạnh kinh tế, xã hội vàmôi trường trong nghiên cứu tổn thương lũ ở lưu vực sông Đáy Tác giả cũng chưađánh giá được khả năng chống chịu của cộng đồng, khả năng tự phục hồi của hệthống và tính nhạy của cộng đồng (sự hiểu biết, khả năng nhận thức rủi ro, sự chuẩn
2.2 GIỚI THIỆU CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DỄ BỊ TỔN THƯƠNG
2.2.1 Phương pháp Zhen Fang
Có ba mô-đun trong mô hình FVI (Flood Vulnerability Index): mô-đun thíchứng, mô-đul tổn thương xã hội và mô-đul thiệt hại Chức năng mô-đun thích ứng có
cả chức năng của 2 mô-đul còn lại: đầu tiên nó cho thấy mối quan hệ giữa hiểm họa
lũ lụt, phơi nhiễm và các yếu tố dễ bị tổn thương xã hội, dựa vào các khu vực ngậplụt được chia thành các khu vực rủi ro khác nhau Thứ hai, nó tạo ra các kết quả đầu
ra trung gian cho hai mô-đun kia Ba mô-đun này được kết hợp và tích hợp trongmôi trường của các hệ thống thông tin địa lý (GIS) để xác định các thành phần phân
bố không gian tổn thương
− Mô-đul thích ứng: Thành phần động là các dữ liệu động được lấy từ việc mô phỏng lũ lụt: độ sâu ngập lụt lớn nhất, thời gian và tốc độ lũ lụt Thành phần tĩnh là các yếu tố tĩnh là những yếu tố dễ bị tổn thương xã hội trong pha thích
ứng Trong mô-đun này, bốn yếu tố được xem xét là: Tổn thương vật lý về
Trang 33người, tổn thương về cơ sở vật chất, về giao thông - liên lạc, phương tiện sơtán.
− Mô-đul tổn thương xã hội: Phân tích tổn thương tài chính và tổn thương vềcác dân tộc ít người
− Mô-đul thiệt hại: Áp dụng mô hình HIS-SSM (Hà Lan) bằng việc chập cácbản đồ sử dụng đất, bản đồ ngập lụt, bản đồ tổn thất, giá trị vận tốc dòngchảy được sử dụng cho việc tính toán thiệt hại (vận tốc lớn thì thiệt hại nhiều
và ngược lại) [6]
Để xây dựng chỉ số dễ bị tổn thương sử dụng số liệu thống kê G cho giá trị caohay thấp và so sánh với các giá trị trong khu vực nghiên cứu Điểm - Z được đưa ranhư một biện pháp tham khảo về mức độ có ý nghĩa (trung bình của số không và độlệch tiêu chuẩn của 1) Cao hơn (hoặc thấp hơn) số điểm Z, mạnh hơn cường độ củanhóm Một điểm số-Z gần bằng không cho thấy không có phân nhóm rõ ràng trongkhu vực nghiên cứu Z số điểm tích cực cho thấy nhóm các giá trị cao Điểm Z tiêucực cho thấy nhóm các giá trị thấp
2.2.2 Phương pháp Ibidun O Adelekan
Phương pháp này chủ yếu dựa vào hình thức điều tra xã hội học và phân tíchkết quả đạt được thông qua các chỉ số tổn thương mà người nghiên cứu đưa ra
Dữ liệu trong nghiên cứu được thu thập từ các nguồn chính và phụ Nguồn dữliệu chính được thực hiện thông việc quản lý hình thức thiết kế bảng câu hỏi
Bảng câu hỏi được thiết kế bao gồm các tham số:
- Chỉ số kinh tế - xã hội: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, thu nhập hàng tháng
và nghề nghiệp
- Chỉ số nhạy cảm (tính nhạy): Cấu trúc nhà, thời gian ở trong khu vực ảnhhưởng lũ, kinh nghiệm đối phó với lũ, nhận thức về nguy cơ lũ lụt, nhận thức về rủi
ro lũ lụt, sự chuẩn bị cho việc xuất hiện lũ
- Chỉ số phơi nhiễm (tiếp xúc): khoảng cách từ nhà tới dòng sông, suối, độ sâungập lũ