1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu xác lập cơ sở địa lý phục vụ phát triển kinh tế và sử dụng hợp lý tài nguyên huyện QuảngNinh, tỉnh Quảng Bình

214 94 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 214
Dung lượng 5,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, nghiên cứu và đánh giá tổng hợp các điều kiện địa lý mà trong đó cảnh quan là đối tượng được quantâm hơn cả, dần trở thành luận cứ khoa học cho quy hoạch lãnh thổ và tổ chức k

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC HÌNH VẼ 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU 6

MỞ ĐẦU 9

1 Tính cấp thiết của đề tài 9

2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 10

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 10

2.2 Nội dung nghiên cứu 10

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 10

3.1 Phạm vi không gian 10

3.2 Phạm vi khoa học 10

4 Luận điểm bảo vệ 10

5 Những điểm mới của đề tài 11

6 Cơ sở tài liệu thực hiện đề tài 11

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 11

8 Cấu trúc của luận án 12

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 14

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về cảnh quan 14

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về tổ chức không gian phát triển kinh tế, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường 20

1.1.3 Các công trình nghiên cứu về liên kết vùng và quản trị vùng 24

1.1.4 Các công trình nghiên cứu về mô hình hệ kinh tế sinh thái 28

1.1.5 Các công trình nghiên cứu về tỉnh Quảng Bình và huyện Quảng Ninh 30

1.2 Những vấn đề lý luận 34

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 34

1.2.2 Cảnh quan - đối tượng của các hoạt động phát triển kinh tế, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường 39

1.2.3 Liên kết vùng/ tiểu vùng đối với lãnh thổ cấp huyện 41

Trang 2

1.3 Quan điểm, quy trình và phương pháp nghiên cứu 46

1.3.1 Quan điểm nghiên cứu 46

1.3.2 Quy trình nghiên cứu 49

1.3.3 Phương pháp nghiên cứu 50

CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU CẢNH QUAN - CƠ SỞ ĐỊA LÝ TỔNG HỢP CHO TỔ CHỨC KHÔNG GIAN SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG HUYỆN QUẢNG NINH 54

2.1 Huyện Quảng Ninh - đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án 54

2.1.1 Khu vực nghiên cứu trong lưu vực sông Nhật Lệ 54

2.1.2 Vị trí địa lý và ý nghĩa đối với sự phân hóa tự nhiên và phát triển kinh tế 56

2.2 Đặc điểm và vai trò của các yếu tố thành tạo cảnh quan 57

2.2.1 Đặc điểm địa chất - địa mạo 57

2.2.2 Đặc điểm khí hậu, thủy hải văn 62

2.2.3 Đặc điểm thổ nhưỡng và thực vật 66

2.2.4 Dân cư và các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên huyện Quảng Ninh 71

2.2.5 Tai biến thiên nhiên 78

2.2.6 Vai trò thành tạo cảnh quan của các hợp phần tự nhiên và nhân sinh 85

2.3 Đặc điểm cảnh quan huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 86

2.3.1 Hệ thống phân loại cảnh quan huyện Quảng Ninh 86

2.3.2 Đặc điểm cảnh quan huyện Quảng Ninh 88

2.3.3 Động lực và chức năng cảnh quan huyện Quảng Ninh 99

2.3.4 Tính trội trong phân hóa cảnh quan huyện Quảng Ninh và ý nghĩa đối với sử dụng hợp lý tài nguyên 104

2.3.5 Các tiểu vùng cảnh quan 105

CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 112

3.1 Cơ sở lý luận và phương pháp đánh giá 112

3.1.1 Cơ sở khoa học của việc đánh giá 112

3.1.2 Phương pháp và quy trình đánh giá thích nghi sinh thái 113

3.3.2 Đánh giá mức độ xói mòn tiềm năng và thực tế của các cảnh quan 140

3.3.3 Phân tích cảnh quan cho phát triển du lịch huyện Quảng Ninh 147

Trang 3

CHƯƠNG 4 NGHIÊN CỨU ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC KHÔNG GIAN

PHÁT TRIỂN KINH TẾ, SỬ DỤNG HỢP LÝ TNTN

VÀ BVMT HUYỆN QUẢNG NINH 151

4.1 Cơ sở định hướng tổ chức không gian phát triển kinh tế xã hội gắn với bảo vệ môi trường huyện Quảng Ninh 151

4.1.1 Quan điểm định hướng khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường 151

4.1.2 Các yêu cầu và nguyên tắc 152

4.2 Phân tích thực trạng phát triển các ngành kinh tế và tổ chức không gian phát triển kinh tế, sử dụng tài nguyên huyện Quảng Ninh 152

4.2.1 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 152

4.2.2 Phân tích hiện trạng tổ chức không gian phát triển kinh tế, sử dụng tài nguyên 157

4.3 Mô hình liên kết và quản trị vùng 159

4.3.1 Phân tích thực trạng quản trị vùng 159

4.3.2 Bước đầu đề xuất mô hình quản trị vùng huyện Quảng Ninh 161

4.4 Định hướng tổ chức không gian phát triển nông, lâm nghiệp và du lịch theo hướng bền vững cho huyện Quảng Ninh 170

4.5 Các mô hình kinh tế sinh thái 176

4.5.1 Đặc điểm chung của các mô hình kinh tế sinh thái huyện Quảng Ninh 176

4.5.2 Hiện trạng và hiệu quả mô hình kinh tế sinh thái trên một số tiểu vùng cảnh quan huyện Quảng Ninh 178

4.5.3 Nghiên cứu mô hình hệ kinh tế nông hộ bền vững trên đất cát ven biển huyện Quảng Ninh 187

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 196

KẾT LUẬN 196

KIẾN NGHỊ 200

TÀI LIỆU THAM KHẢO 201

Trang 4

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1a Cây đa mục đích và cây bụi trên nông trại, Trung Quốc 29

Hình 1.1b Mô hình kinh tế sinh thái trên đảo Java, Indonexia 29

Hình 1.1c Hệ thống Salt, chăn thả gia súc giữa hai hàng rào cây 29

Hình 1.2 Sơ đồ các hợp phần thành tạo cảnh quan (Phạm Quang Anh, 1983) 35

Hình 1.3 Vị trí của kinh tế sinh thái 37

Hình 1.4 Mối quan hệ giữa các tiểu vùng kinh tế khu vực huyện Quảng Ninh 47

Hình 1.5 Sơ đồ phát triển bền vững (UNESCO) 48

Hình 1.6 Quy trình các bước nghiên cứu 51

Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 55

Hình 2.2 Bản đồ địa chất huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Binh 58

Hình 2.3 Bản đồ địa mạo huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 61

Hình 2.4 Bản đồ thổ nhưỡng huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 67

Hình 2.5 Bản đồ hiện trạng thảm thực vật huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 70

Hình 2.6 Biểu đồ dân số huyện Quảng Ninh giai đoạn 1995 - 2010 71

Hình 2.7 Biểu đồ dân số các xã và thị trấn của huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình năm 2010 71

Hình 2.8 Bản đồ tai biến thiên nhiên huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 80

Hình 2.9 Bản đồ đánh giá xói mòn đất thực tế huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 82

Hình 2.10 Bản đồ đánh giá nguy cơ xói mòn đất huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 83

Hình 2.11 Sơ đồ hệ thống phân loại cảnh quan huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 87

Hình 2.12 Bản đồ cảnh quan huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 94

Hình 2.13 Lát cắt cảnh quan huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 96

Hình 2.14 Bản đồ phân vùng cảnh quan huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 109

Hình 3.1 Quy trình đánh giá (Nguyễn Cao Huần, 2002, 2005) 114

Hình 3.2 Bản đồ thích nghi sinh thái các cảnh quan cho phát triển lúa nước và cây ngắn ngày cần tưới huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 129

Hình 3.3 Đánh giá thích nghi sinh thái các cảnh quan cho phát triển cây trồng cạn không tưới huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 132

Hình 3.4 Bản đồ mức độ ưu tiên các cảnh quan cho phát triển rừng phòng hộ huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 135

Trang 5

Hình 3.5 Bản đồ thích nghi sinh thái các cảnh quan cho phát triển rừng sản xuất

huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 139Hình 4.1 Sơ đồ các thành phần tham gia và mối quan hệ giữa chúng trong mô hình liên kết và quản trị vùng huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 162Hình 4.2 So sánh thương số định vị ngành nông - lâm - thủy sản huyện Quảng Ninh .168Hình 4.3 So sánh thương số định vị ngành công nghiệp huyện Quảng Ninh 169Hình 4.4 So sánh thương số định vị ngành thương mại, dịch vụ huyện Quảng Ninh 169Hình 4.5 Bản đồ định hướng không gian phát triển nông - lâm nghiệp và du lịch

huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 172Hình 4.6 Biểu đồ tỷ lệ các hộ gia đình tham gia vào mô hình kinh tế sinh thái

huyện Quảng Ninh 177Hình 4.7 Biểu đồ tỷ lệ các mô hình kinh tế sinh thái hộ gia đình ở xã Trường Xuân 180Hình 4.8 Hiệu quả kinh tế của các mô hình kinh tế sinh thái xã Trường Xuân

(Triệu đồng/năm) 181Hình 4.9 Tỷ lệ các hộ dân tham gia các mô hình kinh tế sinh thái xã Vạn Ninh 182Hình 4.10.Biểu đồ thu nhập của các mô hình kinh tế sinh thái xã Vạn Ninh 184Hình 4.11 Sơ đồ tỷ lệ các hộ dân tham gia các mô hình kinh tế sinh thái xã Võ Ninh .185Hình 4.12 Biểu đồ thu nhập của các mô hình kinh tế sinh thái xã Võ Ninh 186Hình 4.13 Sơ đồ các dạng tiểu địa hình chính trên khu vực nghiên cứu 187Hình 4.14 Sơ đồ tổ chức phân hệ sản xuất trên mô hình nông trại bền vững

Cát Ngọc, Quảng Ninh, Quảng Bình 190Hình 4.15 Biểu đồ thu nhập và cơ cấu thu nhập của các hợp phần trong mô hình 194

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Khái quát nội dung nghiên cứu của các chương 13

Bảng 1.2 Các hệ thống phân vị trong phân loại cảnh quan 17

Bảng 2.1 Một số yếu tố khí hậu tại trạm Đồng Hới (giai đoạn 1960 - 1995) 63

Bảng 2.2 Đặc trưng dòng chảy mùa lũ hai hệ thống sông chính huyện Quảng Ninh 64

Bảng 2.3 Diện tích, dân số phân theo các xã trong huyện Quảng Ninh, năm 2010 72

Bảng 2.4 Diện tích đất rừng huyện Quảng Ninh năm 2010 73

Bảng 2.5 Diện tích các loại đất huyện Quảng Ninh năm 2010 74

Bảng 2.6 Tình hình thiên tai mưa lũ của huyện Quảng Ninh năm 2010 và 2011 78

Bảng 2.7 Diện tích đồng ruộng bị cát bay xâm lấn ở huyện Quảng Ninh (ha) 79

Bảng 2.8 Diện tích bị lấp do cát trôi ở các suối huyện Quảng Ninh 81

Bảng 2.9 Hiện trạng xói lở bờ biển huyện Quảng Ninh (Trần Hữu Tuyên, 2003) 84

Bảng 2.10 Hệ thống phân loại cảnh quan huyện Quảng Ninh 87

Bảng 2.11 Thống kê diện tích các loại cảnh quan huyện Quảng Ninh 98

Bảng 2.12 Chức năng của phụ lớp cảnh quan huyện Quảng Ninh 103

Bảng 2.13 Đặc điểm các tiểu vùng cảnh quan huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 110

Bảng 3.1 Nội dung đánh giá 113

Bảng 3.2 Bảng cơ sở đánh giá chung 115

Bảng 3.3 Đặc điểm tự nhiên và chức năng kinh tế - xã hội của các tiểu vùng cảnh quan huyện Quảng Ninh 117

Bảng 3.4 Trọng số của các tiêu chí đánh giá 120

đối với lúa nước và cây trồng ngắn ngày cần tưới 120

Bảng 3.5.Trọng số của các tiêu chí đánh giá đối với cây trồng cạn không tưới 121

Bảng 3.6 Phân cấp các tiêu chí của cảnh quan đối với sản xuất nông nghiệp 122

Bảng 3.7.Trọng số của các tiêu chí đánh giá đối với rừng phòng hộ 123

Bảng 3.8 Phân cấp các chỉ tiêu đối với phát triển rừng phòng hộ 124

Bảng 3.9.Trọng số của các tiêu chí đánh giá đối với rừng sản xuất 124

Bảng 3.10 Phân cấp chỉ tiêu đối với phát triển rừng sản xuất 125

Bảng 3.11 Kết quả đánh giá thích nghi sinh thái các cảnh quan cho cây lúa nước và cây ngắn ngày cần tưới 126

Bảng 3.12 Mức độ thích nghi của các cảnh quan đối với lúa nước và cây ngắn ngày cần tưới huyện Quảng Ninh 127

Trang 7

Bảng 3.13 Kết quả đánh giá thích nghi sinh thái các cảnh quan cho cây trồng cạn

không tưới 130

Bảng 3.14 Mức độ thích nghi của các cảnh quan đối với cây trồng cạn không tưới huyện Quảng Ninh 131

Bảng 3.15 Kết quả đánh giá thích nghi sinh thái các cảnh quan cho phát triển rừng phòng hộ 133

Bảng 3.16 Mức độ ưu tiên của các cảnh quan đối với phát triển rừng phòng hộ huyện Quảng Ninh 134

Bảng 3.17 Kết quả đánh giá thích nghi sinh thái các cảnh quan cho phát triển rừng sản xuất 136

Bảng 3.18 Mức độ thích nghi của các cảnh quan đối với phát triển rừng sản xuất huyện Quảng Ninh 137

Bảng 3.19 Tổng hợp mức độ thích nghi của các cảnh quan đối với phát triển nông, lâm nghiệp huyện Quảng Ninh 140

Bảng 3.20 Tổng hợp đánh giá riêng các tiêu chí của dạng cảnh quan với nguy cơ xói mòn đất 141

Bảng 3.21 Tổng hợp đánh giá riêng các tiêu chí của dạng cảnh quan với xói mòn thực tế 142

Bảng 3.22 Kết quả đánh giá cảnh quan đối với nguy cơ xói mòn đất 142

Bảng 3.23 Tổng hợp kết quả đánh giá cảnh quan đối với nguy cơ xói mòn đất 143

Bảng 3.24 Kết quả đánh giá mức độ xói mòn thực tế cho các cảnh quan 145

Bảng 3.25 Tổng hợp kết quả đánh giá cảnh quan đối với xói mòn thực tế 146

Bảng 3.26 Các chỉ tiêu đánh giá bãi tắm 148

Bảng 3.27 Đánh giá mức độ thích nghi phát triển bãi tắm đối với bãi tắm xã Hải Ninh 148

Bảng 4.1 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng hàng năm huyện Quảng Ninh (giai đoạn 1995 đến 2010) 153

Bảng 4.2 Giá trị chăn nuôi trong nông nghiệp huyện Quảng Ninh (1995-2010) 154

Bảng 4.3 Chuyển dịch cơ cấu ngành trong lâm nghiệp (1995-2010) 155

Bảng 4.4 Giá trị sản lượng thủy sản huyện Quảng Ninh giai đoạn (1995-2010) 155

Bảng 4.5 Sản lượng thủy sản huyện Quảng Ninh so với các khu vực khác 2010 156

Bảng 4.6 Bảng giá trị công nghiệp & xây dựng huyện giai đoạn (1995-2010) 156 Bảng 4.7 Thống kê các không gian phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp

Trang 8

Bảng 4.8 Các mô hình kinh tế sinh thái điển hình huyện Quảng Ninh,

tỉnh Quảng Bình 177

Bảng 4.9 Phân kiểu mô hình kinh tế sinh thái xã Trường Xuân 180

Bảng 4.10 Các mô hình kinh tế sinh thái hộ gia đình tại xã Vạn Ninh 182

Bảng 4.11 Các mô hình kinh tế sinh thái xã Võ Ninh, huyện Quảng Ninh 185

Bảng 4.12 Tình hình sử dụng đất cát ven biển cho nông, lâm, thủy sản năm 2010 189

Bảng 4.13 Thu nhập trung bình của mô hình nông nghiệp sinh thái bền vững/năm 193

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Địa lý ứng dụng là một trong những hướng quan trọng của khoa học địa lý xuấtphát từ những vấn đề thực tiễn Trong đó, nghiên cứu và đánh giá tổng hợp các điều kiện

tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của lãnh thổ cho các mục đích phát triển kinh tế như:nông nghiệp, lâm nghiệp, du lịch,… có ý nghĩa to lớn trong nền kinh tế quốc dân

Hiện nay ở nước ta, các hoạt động phát triển kinh tế đều gắn liền với sử dụng tàinguyên với mức độ và quy mô khác nhau theo 2 hướng tích cực và tiêu cực Tuy nhiên,phần lớn các hoạt động này chú trọng đến lợi ích trước mắt mà gần như không quan tâmhoặc ít quan tâm đến lợi ích lâu dài cho cộng đồng và các hệ sinh thái Sự khai thác quámức các nguồn tài nguyên là nguyên nhân chính dẫn đến sự biến đổi của điều kiện tựnhiên theo hướng tiêu cực, gây suy thoái tài nguyên, suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễmmôi trường gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và đời sống con người Do đó, nghiên cứu

và đánh giá tổng hợp các điều kiện địa lý mà trong đó cảnh quan là đối tượng được quantâm hơn cả, dần trở thành luận cứ khoa học cho quy hoạch lãnh thổ và tổ chức khônggian phát triển sản xuất gắn với sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Quảng Ninh là một trong 3 huyện của tỉnh Quảng Bình có lãnh thổ trải từ biển lênđến biên giới phía tây nằm trọn trong lưu vực sông Nhật Lệ Địa hình của huyện đượcphân hóa khá rõ theo hướng từ đông sang tây (từ biển lên vùng núi) với ba loại địa hìnhchính: núi, đồi và đồng bằng là điều kiện thuận lợi để phát triển nền kinh tế đa dạng gắnvới quỹ sinh thái tự nhiên và đầy đủ cả nông, lâm, ngư nghiệp và du lịch Tuy nhiên, hoạtđộng sử dụng và khai thác tài nguyên trên địa bàn huyện còn kém hiệu quả, công tácquản lý và khai thác tài nguyên ở thượng nguồn chưa tốt là nguyên nhân dẫn đến nhữngbiến cố về thiên tai đối với khu vực hạ lưu (đồng bằng tích tụ sông - biển) Tiềm năng dulịch bãi tắm ven biển chưa được khai thác một cách tích cực nên hoạt động du lịch chưaphát triển phù hợp với tiềm năng của vùng Đặc biệt, dải cát ven biển có kiểu cực đoan vềđiều kiện khí hậu nhưng chưa có các giải pháp phù hợp trong cải tạo tự nhiên phục vụphát triển kinh tế, vì vậy các tai biến do cát bay, cát chảy gây vùi lấp đất canh tác ở dảiđồng bằng phía trong vẫn tiếp diễn.Trong những năm gần đây, sự xuất hiện hàng loạt các

cơ sở nuôi tôm trên cát cũng là một nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và suy thoái tàinguyên đất và nước ven biển Các vấn đề này chỉ có thể giải quyết được dựa trên đánhgiá tổng hợp điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển kinh tế theo hướng tiếp cận liên kết vàquản trị vùng trong sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên

Góp phần giải quyết các vấn đề nêu trên nhằm hỗ trợ cho phát triển bền vững

KT-XH khu vực nghiên cứu, đề tài nghiên cứu đã được lựa chọn với tiêu đề “Nghiên cứu xác lập cơ sở địa lý phục vụ phát triển kinh tế và sử dụng hợp lý tài nguyên huyện Quảng

Trang 10

2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Xác lập được cơ sở địa lý dựa trên phân tích, đánh giá tổng hợp cảnh quan chođịnh hướng tổ chức phát triển nông lâm nghiệp và du lịch theo hướng bền vững huyệnQuảng Ninh, tỉnh Quảng Bình

2.2 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, đề tài đã đặt ra các nội dung chính sau:

- Nghiên cứu xác lập cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu sự phân hoá và tính đặc thù của cảnh quan huyện Quảng Ninh

- Phân tích, đánh giá cảnh quan cho phát triển nông lâm nghiệp và du lịch huyện QuảngNinh

- Đề xuất mô hình liên kết và quản trị vùng, áp dụng trong tổ chức không gian phát triểnnông, lâm nghiệp, du lịch và bảo vệ môi trường; xây dựng mô hình KTST nông hộ đặcthù và bền vững như một mô hình mẫu cho huyện Quảng Ninh và các vùng cát khác

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trang 11

4 Luận điểm bảo vệ

Luận điểm 1: Sự phân hoá điều kiện tự nhiên theo độ cao địa hình từ Tây sang Đông vàlãnh thổ nằm trong lưu vực của các sông Long Đại, Kiến Giang và sông Nhật Lệ kết hợpvới quá trình tự nhiên và tác động của con người trong khai thác sử dụng tài nguyên đãhình thành nên một hệ thống các đơn vị cảnh quan vô cùng phong phú và đa dạng củalãnh thổ huyện Quảng Ninh Đây là tiềm năng lớn và là căn cứ quan trọng cho việc địnhhướng sử dụng bền vững nguồn tài nguyên khu vực nghiên cứu

Luận điểm 2: Kết quả phân tích, đánh giá các chức năng của cảnh quan và hiện trạng

khai thác sử dụng tài nguyên phát triển kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu là căn cứ khoahọc tin cậy để nghiên cứu áp dụng lý luận về liên kết và quản trị vùng trong quản lý tổnghợp lãnh thổ nhằm khai thác, sử dụng hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên, bảo vệmôi trường cho khu vực nghiên cứu

5 Những điểm mới của đề tài

- Bản đồ cảnh quan và bản đồ phân chia các tiểu vùng cảnh quan huyện Quảng Ninh tỷ lệ1:50 000 được thành lập, đã thể hiện quy luật phân hóa lãnh thổ huyện Quảng Ninh từđông sang tây (từ biển lên núi) và theo các tiểu vùng phản ánh mối liên hệ giữa chúngqua dòng vật chất và năng lượng

- Đã cụ thể hóa hướng tiếp cận liên kết và quản trị vùng trong khai thác, sử dụng tàinguyên và bảo vệ môi trường phục vụ phát triển bền vững lãnh thổ huyện Quảng Ninh

- Đã hoạch định tổ chức không gian phát triển nông, lâm nghiệp và du lịch và bảo vệ môitrường huyện Quảng Ninh trên quan điểm địa lý học

- Đã nghiên cứu, đánh giá và đề xuất được mô hình hệ kinh tế sinh thái bền vững đối vớidải cồn cát ven biển

6 Cơ sở tài liệu thực hiện đề tài

Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở nguồn dữ liệu chính như sau:

- Dữ liệu không gian: Bản đồ địa hình huyện Quảng Ninh tỷ lệ 1: 25 000, các bản đồ

chuyên đề chính gồm: thổ nhưỡng, địa chất, địa mạo, bản đồ hiện trạng sử dụng đất

- Dữ liệu phi không gian: Các công trình khoa học mang tính lý luận về đánh giá tổng

hợp các điều kiện tự nhiên (ĐKTN), KT-XH phục vụ cho phát triển bền vững tỉnh QuảngBình và huyện Quảng Ninh Các đề tài khoa học, các luận án và các công trình nghiêncứu khác có liên quan, bổ sung kiến thức lý luận và thực tiễn cho đề tài

Số liệu, văn bản, báo cáo KT-XH, niên giám thống kê của huyện, các nghiên cứu

đã được công bố trong giai đoạn 1995 - 2011

Trang 12

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học: kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ quy luật phân hoá và tính phức tạp

của tự nhiên nhiệt đới gió mùa Việt Nam nói chung, những tính đặc thù của điều kiện tựnhiên khu vực ven biển huyện Quảng Ninh nói riêng, đồng thời góp phần thể hiện đượctiềm năng tự nhiên, TNTN, KT - XH lãnh thổ Những vấn đề lý luận và thực tiễn nghiêncứu theo hướng tiếp cận liên kết và quản trị vùng sẽ góp phần hoàn thiện về mặt phươngpháp luận và phương pháp nghiên cứu sử dụng hợp lý TNTN theo hướng địa lý tự nhiêntổng hợp

- Ý nghĩa thực tiễn: những định hướng sử dụng và giải pháp quản lý bền vững tài nguyên

thiên nhiên của huyện Quảng Ninh được đề xuất, sẽ góp phần cho việc xác lập căn cứtrong quá trình ra quyết định và vạch chiến lược phát triển bền vững KT-XH, BVMT chocác nhà quản lý

8 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, cấu trúc luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiện cứu

Chương 2: Nghiên cứu cảnh quan - cơ sở địa lý tổng hợp cho tổ chức không gian

sử dụng tài nguyên huyện Quảng Ninh

Chương 3: Phân tích đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng sử dụng hợp lý tàinguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường

Chương 4: Định hướng tổ chức không gian phát triển nông, lâm nghiệp, du lịch và

sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên huyện Quảng Ninh

Các nội dung chính của các chương được khái quát hoá trong bảng 1.1

Trang 13

Bảng 1.1 Khái quát nội dung nghiên cứu của các chương

cứu 1

Chương

1

- Hiểu về lí luận NCCQ, ĐGCQ, KTST, liên kết và quản trị vùng

- Vận dụng vào nghiên cứu

ở Quảng Ninh

- Nghiên cứu lý luận, đánh giá cảnh quan, mô hình KTST và áp dụng cho huyện Quảng Ninh

- Cơ sở về liên kết và quản trị vùng

áp dụng với Quảng Ninh

- Xây dựng được cơ cở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Phân tích và tổng hợp tài liệu

2 Chương

2 - Tìm quy luật phân hóa tựnhiên của lãnh thổ nghiên

cứu

- Xác định được đặc điểm tự nhiên, phân hóa các hợp phần và cảnh quan huyện Quảng Ninh

- Đặc điểm và vai trò của các nhân tố thành tạo cảnh quan huyện Quảng Ninh

- Đặc điểm cảnh quan và các tiểu vùng cảnh quan huyện Quảng Ninh

- Tác động tổng hợp các nhân tố (TN và hoạt động khai thác lãnh thổ của người

dân) tạo nên sự phân hóa CQ

- Các bản đồ chuyên đề và bản đồ cảnh quan huyện Quảng Ninh (1/50 000)

- Hệ thống phân vị và sự phân hóa cảnh quan theo đơn vị kiểu loại và tiểu vùng

- Chức năng tự nhiên và động lực các tiểu vùng cảnh quan

- Ứng dụng mô hình DEM trong xây dựng các bản đồ hợp phần

và bản đồ cảnh quan

- Hệ phương pháp nghiên cứu cảnh quan

3 Chương

3 Đánh giá cảnh quan nhằmxác định mức độ thuận lợi

của cảnh quan cho phát triển nông, lâm nghiệp và du lịch

- Đánh giá cảnh quan cho nông, lâm,

4 Chương

4 Hoạch định các không gianphát triển nông, lâm nghiệp,

du lịch và sử dụng hợp lý tài nguyên huyện Quảng Ninh

- Định hướng tổ chức không gian phát triển nông, lâm nghiệp, du lịch

- Mô hình hệ kinh tế sinh thái nông

hộ trên vùng cát ven biển

- Cơ sở định hướng tổ chức không gian phát triển kinh tế xã hội gắn với bảo vệ

môi trường huyện Quảng Ninh

- Mô hình liên kết và quản trị vùng huyện Quảng Ninh

- Định hướng tổ chức không gian PTKT, sử dụng hợp lý nguồn TNTN và BVMT Huyện Quảng Ninh (theo các tiểu vùng)

- Đề xuất mô hình KTST bền vững trên đất cát ven biển huyện Quảng Ninh

- Phân tích và tổng hợp tài liệu

- Phương pháp điều tra nhanh nông thôn

Trang 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về cảnh quan

Cảnh quan được nghiên cứu dưới nhiều góc độ như kiến trúc, bảo tồn, du lịch vàđịa lý, Tuy nhiên, nghiên cứu cảnh quan phục vụ cho tổ chức lãnh thổ và sử dụng hợp

lý tài nguyên, luận án đề cập chủ yếu tới các công trình nghiên cứu cảnh quan theo tiếpcận địa lý học

- Trên thế giới

a) Nhận thức về cảnh quan và địa hệ thống

Vào đầu thế kỷ XIX, tại hầu hết các nước phương Tây “cảnh quan” được sử dụngvới nghĩa là “phong cảnh” Sau đó, Nga và các nước thuộc Liên Xô cũ và một số nướckhác như Ba Lan, Tiệp, Đức xem Cảnh quan như các tổng thể địa lý Vào cuối thế kỷXIX, cảnh quan học thực sự hình thành, phát triển tại hai nước Nga, Đức và trở thànhmột ngành khoa học độc lập, được phát triển ở nhiều nước trên thế giới, nhất là sau chiếntranh thế giới thứ II Ở Tây Âu, cảnh quan học được quan tâm nhiều ở Tây Đức (cũ), Áo,Thụy Điển và một số nước nói tiếng Anh như Mỹ, Anh, Úc, Canada, nhưng chủ yếumang tính ứng dụng

Học thuyết về cảnh quan là lý luận về tổng thể địa lý về các đới tự nhiên Năm

1889, khái niệm “cảnh quan” lần đầu tiên được định nghĩa một cách khoa học bởiHulmbold Ở Nga, Becgơ là người đầu tiên đưa định ngĩa nàu vào khoa học, ông đã xemcảnh quan là đối tượng nghiên cứu địa lý và xác định cảnh quan thiên nhiên như là mộtmiền Đóng góp to lớn vào việc hoàn thiện và phát triển lý thuyết nghiên cứu cảnh quanphải kể đến công lao của các nhà địa lý Xô Viết G.F Morodov, A.A Grigoriev,B.N.Xukatrov, B.B Polunov, X.V Kalexnic, N.A Xonlxev, N.A Gvozdexky,Nhicolaev, A.G Ixatxenko… Mặc dù còn tồn tại các quan niệm khác nhau về cảnh quan,nhưng các nhà địa lý Xô Viết đều thống nhất coi “cảnh quan” là một thực thể tự nhiên, làcác“tổng hợp thể tự nhiên” ở các cấp khác nhau Hiện nay, quan niệm về “cảnh quan”được hiểu theo 3 quan niệm khác nhau:

- Quan niệm xem cảnh quan là khái niệm chung: Cảnh quan biểu thị tổng hợp thể lãnh

thổ tự nhiên của một cấp bất kỳ F.N Minkov là người đề xuất quan điểm này và đã được

D L Armand, P.X Kuzonhexov, V.P Prokaev,… ủng hộ tích cực Tổng hợp thể tựnhiên (hay còn gọi là địa tổng thể tự nhiên) được coi là một hệ thống không gian và thờigian của các hợp phần địa lý có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau trong sự phân bố và pháttriển như một thể thống nhất (Ixatrenko,1991, tr.6)

Trang 15

- Quan niệm xem cảnh quan là đơn vị mang tính kiểu loại: Cảnh quan không phải là một

lãnh thổ, mà là tập hợp một số tính chất chung điển hình, cho khu vực này hay khác,không phụ thộc vào đặc điểm phân bố của chúng Quan điểm này được thấy trong cáccông trình của B.B.Polunov, Markov, N.A.Gvozdexky,… Theo quan điểm này, cảnhquan có thể được định nghĩa là:

- Quan niệm xem “cảnh quan” là những cá thể địa lý không lặp lại trong không gian, là

đơn vị cơ bản của phân vùng địa lý tự nhiên, thể hiện sự tác động tương hỗ giữa các hợpphần tự nhiên trong lãnh thổ xác định Người đầu tiên theo hướng nghiên cứu này là L.X.Berg, sau đó là A.A Grigoriev (1957), N.A Xonlxev (1948,1949), A.G Ixatxenko(1953,1965) Theo quan niệm này, cảnh quan được hiểu theo nghĩa sau: “Cảnh quan làmột phần riêng biệt về mặt phát sinh của một hợp phần cảnh quan, một bối cảnh quanhay nói chung là một đơn vị phân vùng lớn bất kỳ, đặc trưng bằng sự thống nhất cả tươngquan địa đới lẫn phi địa đới, có một cấu trúc riêng và một cấu tạo hình thái riêng” (Cơ sởcảnh quan học và phân vùng địa lý tự nhiên, A.G.Ixatrenko, 1965)

Như vậy, cảnh quan được xem xét đồng thời cả 3 khía cạnh: chung, kiểu loại và cáthể (Shishenko P.G, 1987,…) Tuy nhiên, dù xét theo khía cạnh nào đi nữa thì cảnh quanvẫn là địa tổng thể tự nhiên, còn sự khác biệt của các quan niệm ở chỗ: coi cảnh quan làđơn vị thuộc cấp phân vị nào Cảnh quan được nghiên cứu không những theo đặc điểmhình thái mà cả cấu trúc, chức năng (chức năng tự nhiên, chức năng kinhtế - xã hội) vàđộng lực cảnh quan Cách tiếp cận và nhận thức về cảnh quan sẽ là nguồn tri thức để lựachọn và sử dụng các phương pháp nghiên cứu hợp lý

b) Hệ thống phân vị trong phân loại cảnh quan

Cùng với sự ra đời của các học thuyết cảnh quan, các hệ thống phân vị cảnh quancũng được đi sâu nghiên cứu Tùy theo quan niệm của mỗi người và khu vực nghiên cứu

mà các hệ thống phân vị được hình thành như: Hệ thống phân vị của các đơn vị đồng phụthuộc (A.G Ixatxenko, 1961) được chia thành 8 đơn vị gồm nhóm kiểu, kiểu, phụ kiểu,lớp, phụ lớp, loại, phụ loại và thể loại; hệ thống phân loại cảnh quan của N.A Gvozdexki(1961) chia thành 5 đơn vị phân loại gồm lớp, kiểu, phụ kiểu, nhóm, loại Ngoài ra, cónhiều hệ thống phân loại khác như: hệ thống phân loại cảnh quan của Nhicolaev, B.BPolunov, P.W Mitchell và I.A Howard,… (bảng 1.2)

Nhìn chung, sự khác biệt giữa các hệ thống phân loại cảnh quan của các tác giả là

vị trí cấp phân vị và dấu hiệu phân loại Tuy các nhóm có sự khác nhau nhưng điểmchung của các nhóm là quan niệm gần giống nhau về cấp phân vị và các dấu hiệu nhậnbiết của chúng; cụ thể là: lớp, phụ lớp, loại cảnh quan, các đơn vị hình thái (dạng và diệncảnh quan)

Trang 16

Phân vùng địa lý tự nhiên được chia thành 2 loại: (1) Phân vùng địa lý tự nhiên bộphận như: phân vùng địa mạo, phân vùng thổ nhưỡng, phân vùng khí hậu, (2) Phân vùngđịa lý tự nhiên tổng hợp hay còn gọi là phân vùng cảnh quan (Prokaev, ) Trong đó, phânvùng cảnh quan là phương tiện để nghiên cứu một cách đầy đủ và tổng hợp nhất các điềukiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên đồng thời là cơ sở khoa học tự nhiên quan trọnggiúp các nhà quy hoạch đưa ra các kế hoạch, phương án sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên.

Do tính phức tạp và khác biệt của từng vùng lãnh thổ nghiên cứu nên trước khi phânvùng cảnh quan các nhà địa lý cần xây dựng các hệ thống phân vị phù hợp với lãnh thổ đó.Hiện tại, hệ thống phân vị trong phân vùng cảnh quan được chia thành các nhóm sau:

- Hệ thống phân vị sắp xếp theo tính địa đới và phi địa đới ở cấp cao (A.A Grigogiev;V.B XotSava, 1956; F.N Miako, 1959; ), ví dụ, hệ thống phân vị của Parmuzin (1958):Vòng đai - Xứ - Đới - Khu - Á đới - Miền - Đai - Vùng - Cảnh quan địa lý

- Hệ thống phân vị dựa vào tính đới và tính phi địa đới (T.S Sukin, 1974; A.G Ixatrenko,

1953, 1961, 1991): Đới - Xứ - Miền - Vùng (hoặc cảnh quan) Tuy nhiên, hệ thống phân

vị này không có sự luân phiên giữa các đơn vị mang tính địa đới và các đơn vị mang tínhphi địa đới

- Hệ thống phân vị dựa vào tính phi địa đới (I.A Xontev, 1958, 1960; P.V địa lý tự nhiêncác lục địa): hệ thống này hoàn toàn loại bỏ các quy luật địa đới trong phân hóa cảnhquan: Lục địa - Xứ - Miền - Vùng

- Hệ thống phân vị dựa vào tổng thể các yếu tố phân hóa địa lý trên nguyên tắc đánh giácác nhân tố phân hóa địa lý tự nhiên (N.A Gvozaexki, 1957, 1959,1960; N.I Mikhailop,1962; Kondratxki, 1965,1968): Xứ - Đới (miền ở miền núi) - Khu - Á đới (á miền ở miềnnúi) - Á khu - Vùng (á vùng) - Tiểu vùng

Tuy có sự khác nhau giữa các cấp phân vị, song giữa chúng có điểm chung là cấpmiền, á miền và vùng, á vùng (có thể hiểu cảnh quan theo ý nghĩa cá thể tức là tươngđương với vùng) khá giống nhau về quan niệm và dấu hiệu xác định Tuy nhiên, vấn đềliên quan đến bậc phân vị tiểu vùng cảnh quan không được nhắc đến trong hệ thống phân

vị trong phân vùng cảnh quan nói chung Do đó, vấn đề đặt ra khi nghiên cứu địa lý ứngdụng cho lãnh thổ quy mô nhỏ (ví dụ cấp huyện) mà cần phải phân vùng thì đơn vị phânvùng cảnh quan cấp nào là phù hợp?

Trang 17

Bảng 1.2 Các hệ thống phân vị trong phân loại cảnh quan

Tác giả

Đơn vị

ph.loại CQ

A.G.Ixatrenco (1961, 1991) V.A Nhicolaev (*) (1966) Vũ Tự Lập (1976) Viện KH&CN Việt Nam Viện Địa lí Đại học KHTN ĐHQGHN

tính địa đới Nền tảng nhiệt, ẩm Nền bức xạ Nền bức xạ

3 Phụ hệ Hoàn lưu khí quyển(tương tác với địa hình) Chế độ hoàn lưu gió mùa Hoàn lưu khí quyển (chếđộ gió mùa)

4 Kiểu (mangtính đới) Điều kiện nhiệt ẩm (của đới) , cùngđặc điểm về cấu trúc, quá trình di

động của nguyên tố hóa học.

5 Lớp (*) Yếu tố kiến tạo sơn văn tác động

đến cấu trúc đới của CQ Cấu trúc hình thái đại địahình (núi,đồng bằng) Nhóm kiểu địa hình Đại địa hình (bóc mòn,tích tụ) Đặc trưng hình thái đại địahình

6 Phụ lớp Sự phân hóa của dãy vòng đai theochiều cao Phân hóa theo tầng tronglớp Nhóm kiểu địa hình vàkiểu địa hình Sự phân tầng bên tronglớp Sự phân tầng theo đai caotrong lớp

7 Nhóm những nét tương tự địa đới của cácCQ trong phạm vi địa ô và lục địa Kiểu chế độ thủy địa hóa(theo mức độ thoát nước) Nhóm kiểu địa hình(kiểu địa hình) và nhóm

8 Kiểu (*) Sinh khí hậu thổ nhưỡng Nhóm kiểu khí hậu vàđại tổ hợp đất Đặc điểm sinh - khí hậu Đặc điểm sinh - khí hậu

9 Phụ kiểu (Chủng) Nét khác biệt của địa đới thứ cấp vàchuyển tiếp trong cấu trúc. Phân hóa thứ cấp Đồng nhất tất cả cácyếu tố vô cơ Đặc điểm sinh khí hậucực đoan Đặc điểm sinh khí hậu cựcđoan

10 Hạng Kiểu địa hình phát sinh Kiểu địa hình phát sinh,nền nham Kiểu địa hình phát sinh,động lực hiện đại

11 Phụ hạng Kiểu địa hình phát sinh vànham thạch bề mặt

12 Loại CQ (*) Cùng nguồn gốc, kiểu địa hình, đá

mẹ và cấu trúc hình thái ưu thế Sự giống nhau của cácdạng ưu thế Đồng nhất toàn bộ cácĐKTN

Mối quan hệ tương hỗ giữa nhóm quần xã thực vật

và loại đất.

Mối quan hệ tương hỗ giữa nhóm quần xã thực vật và loại đất.

13 Dạng CQPhụ loại (thứ) Khác nhau ở một vài đặc điểm vềbối cảnh Ưu thế về diện tích củacác dạng phụ thuộc Đồng nhất về biện phápsử dụng, bảo vệ và cải

tạo

Mối quan hệ giữa nhóm quần xã thực vật, một tổ hợp đất.

Trang 18

d) Đánh giá cảnh quan

Hướng nghiên cứu đánh giá cảnh quan đã được xem xét từ những năm 70 của thế

kỷ XX theo nhiều khía cạnh khác nhau Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu của cácnhà địa lý Liên Xô, L.I Mukhina (1973) trong công trình khoa học của mình đã đưa ranguyên tắc, phương pháp và quy trình đánh giá tổng hợp thể tự nhiên phục vụ các mụcđích thực tiễn Sau đó, một loạt các nghiên cứu đánh giá tổng hợp cho các vùng lãnh thổkhác nhau như đánh giá kinh tế - xã hội của Kunhixki (1973), đánh giá tổng hợp các điềukiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cộng hòa Ucraina của A.M Marinhich (1976),…Mặc dù các kết quả của nghiên cứu đã được ứng dụng thực tế nhưng mới dừng lại ở bướcđánh giá mức độ phù hợp với điều kiện tự nhiên của các cảnh quan đó

Tiếp nối các phương pháp cảnh quan trước đó, trong những năm gần đây, nhiều kỹthuật đánh giá cảnh quan được đưa ra Ngoài hướng đánh giá mức độ thuận lợi của cảnhquan, hướng đánh giá kinh tế sinh thái còn mang khía cạnh khác như đánh giá hiệu quảkinh tế bằng phương pháp sử dụng chi phí - lợi ích (Alfred Mashall và Zvoruvkin K.B.1968), đánh giá ảnh hưởng môi trường (Leopold, 1972; Hudson, 1984; Petermann T,1996;…) hoặc tổ hợp giữa chúng (Shishenko P.G, 1988; Nguyễn Cao Huần, 1992) Việcnghiên cứu đánh giá một cách tổng hợp và toàn diện hơn từ tự nhiên đến môi trường,kinh tế và xã hội được đề cập trong các công trình của FAO về đánh giá đất đai từ nhữngnăm 1980 (đặc biệt từ những năm 1990) đến nay (FAO, 1993) Tuy nhiên, hầu hết cáccông trình này mới chỉ dùng lại ở mức độ đánh giá cho từng mục đích nông nghiệp

Hiện nay, ngoài các phương pháp đánh giá cảnh quan truyền thống còn có cácphương pháp hỗ trợ như phương pháp đánh giá đất của FAO (1976, 1981), phương pháptích hợp đất đai tự động (ALES) và hệ thống thông tin địa lý (GIS) (David Rositer vànnk, 2000; Nguyễn An Phong, 1993), phương pháp phân tích nhân tố (Đặng Mai, 1991;Nguyễn Thơ Các, 1999; Nguyễn Viết Thịnh, 2002; Nguyễn Cao Huần, 2004; Vũ ChíĐồng, 1998; Cao Đăng Dư, 1999; Dillon W.R., 1984)

Các nghiên cứu nêu trên chủ yếu đề cập đến các chức năng tự nhiên mà chưa có nhữngchỉ tiêu để đánh giá chức năng kinh tế - xã hội của cảnh quan hoặc các tiểu vùng cảnh quan

e) Nghiên cứu địa lý ứng dụng

Cơ sở lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu cảnh quan là nền tảng cho sự pháttriển hướng nghiên cứu cảnh quan học ứng dụng Sự ra đời của hướng cảnh quan học ứngdụng, chứng tỏ sự đòi hỏi của thực tiễn xã hội với cảnh quan học là rất lớn Tại Đức vàLiên Xô Cũ chủ yếu ứng dụng cảnh quan vào việc quản lý các hệ sinh thái dựa trênphương pháp phân tích, đánh giá cảnh quan, trường phái này chú ý nghiên cứu mối quanhệ giữa các yếu tố trong cảnh quan (G Harse, 1967) Các nhà cảnh quan học ở Pháp lại

Trang 19

ứng dụng nghiên cứu cảnh quan cho mục đích sử dụng và quy hoạch dựa trên các quátrình động lực phát sinh: địa mạo động lực và phát sinh thổ nhưỡng Hướng nghiên cứunày đã được 2 nhà cảnh quan G Cabaussel và G Bertran sử dụng để xây dựng phươngpháp phân kiểu cảnh quan, mỗi kiểu cảnh quan tương ứng với một kiểu thích nghi củathảm thực vật tự nhiên hay nhân tác Nổi bật trong hướng nghiên cứu này là công trình

của Tricarst và Kilian “Cơ sở cho quy hoạch, giải quyết mối quan hệ giữa địa mạo động lực và phát sinh thổ nhưỡng” Đặc biệt hướng nghiên cứu sinh thái cảnh quan được

nghiên cứu từ rất sớm với sự đóng góp của nhiều nhà khoa học: Lieberman, Bastian vàSteinhardt, Forman và Godron,

- Tại Việt Nam

- Cảnh quan là đơn vị cá thể, tương đương với cấp vùng địa lý tự nhiên (vùng cảnh quan),

là đơn vị cơ bản của sự phân hóa cảnh quan Nhận thức này giống với quan niệm của

Ixatrenko và được hiện thực hóa trong tác phẩm “Cảnh quan miền Bắc Việt Nam” (Vũ

Tự Lâp, 1976)

b) Nghiên cứu về đánh giá cảnh quan

Do Việt Nam thừa kế và tiếp thu các nhận thức về cảnh quan của các nước tiêntiến trên thế giới và áp dụng vào thực tiễn từ nhiều năm trước Tuy nhiên, chỉ những năm

1970 nhất là sau 1980 trở lại đây, các nghiên cứu về cảnh quan đã đề cập đến cả hai vấn

đề lý luận và thực tiễn, đặc biệt là ở các trường đại học và viện nghiên cứu lớn như:Trường Đại học Tổng hợp trước đây, nay là trường Đại học Khoa học Tự Nhiên -ĐHQGHN; Viện Địa lý, Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam; Trường Đại học Sư Phạm

Hà Nội; Trường Đại học khoa học Huế, đại học Thái Nguyên, Trong đó, các nghiên

cứu mang tính chất lý thuyết cảnh quan ứng dụng như: “Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam” (1976), “phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu, đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên và quy hoạch lãnh thổ” của Vũ Tự Lập (1982); “Đánh giá cảnh quan theo tiếp cận kinh tế sinh thái” (Nguyễn Cao Huần, 2005)

Trang 20

Trên cơ sở đó, các công trình đã nghiên cứu và xác định vai trò của các hợp phần

tự nhiên như địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, đất, thực vật và con người với các hoạtđộng khai thác và sử dụng tài nguyên (Nguyễn Cao Huần, 1992, 2004; Phạm Hoàng Hải,1997; Vũ Tự Lập, 1976; )

c) Hệ thống phân loại và phân vùng cảnh quan

Dựa trên các nghiên cứu đã có và nhu cầu thực tiễn, các hệ thống phân loại cảnhquan cũng được ra đời và tồn tại nhiều hệ thống phân loại cảnh quan khác nhau như: Vũ

Tự Lập (1976) đã đưa ra hệ thống phân loại cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam gồm 8cấp với các chỉ tiêu kèm theo; hệ thống phân loại cảnh quan Việt Nam của tập thể tác giảphòng Địa Lý tự nhiên thuộc trung tâm Địa lý và tài nguyên thiên nhiên gồm 10 cấp Hệthống phân loại này được tác giả ứng dụng để nghiên cứu và thành lập bản đồ cảnh quanmột số vùng như dải ven biển Việt Nam (1:250 000), Tây Nguyên (1:250 000), tỉnh HàTây (1:100 000), vùng ven Hồ Hòa Bình (1:50 000), các khu kinh tế mới của Quảng Bình(1:25 000); hệ thống phân loại của Hoàng Đức Triêm và cộng sự để ứng dụng xây dựngbản đồ cảnh quan tỉnh Quảng Trị (1:200 000) gồm: hệ CQ - phụ hệ CQ - lớp CQ - phụlớp CQ - kiểu CQ - CQ Trong nghiên cứu vùng sinh thái đặc thù Quảng Bình-Quảng Trịtrong chương trình KC-08 đã sử dụng hệ thống phân loại gồm 6 cấp: Hệ cảnh quan, phụhệ cảnh quan, lớp cảnh quan, kiểu cảnh quan, hạng cảnh quan, loại cảnh quan (NguyễnCao Huần và nnk, 2003)

Như vậy, nghiên cứu cảnh quan được nghiên cứu theo nhiều hướng khác nhau,trên nhiều địa phương khác nhau, quy mô lãnh thổ khác nhau nhưng đều nhằm mục đíchphát triển kinh tế gắn với sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về tổ chức không gian phát triển kinh tế, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

a) Các công trình nghiên cứu về tổ chức không gian phát triển kinh tế, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trên Thế giới

- Về tổ chức không gian phát triển kinh tế

Các nghiên cứu về tính quy luật phân hoá không gian của sự phát triển lực lượngsản xuất và lĩnh vực phi sản xuất đã xuất hiện từ giữa thế kỷ XIX Trong giai đoạn này,tất cả các nghiên cứu về tổ chức lãnh thổ mới chỉ tập trung tìm các quy luật tổ chức lãnhthổ tại một địa phương cụ thể nhằm thiết kế một mạng lưới tối ưu giữa các điểm dân cư,đồng thời tìm khả năng chuyển từ Địa lý mô tả sang địa lý kinh tế cấu trúc (Địa lý kinh tếhiện đại) Nổi bật nhất là các nhà khoa học Carl Sauer (1923), I.G.Thunen (1826),W.Christaller (1933), Kôlôsôpxki (1947), Francoi Peroux (1950) đã góp phần đưa ranhững hướng nghiên cứu cơ bản về tính kết cấu và tính toán chặt chẽ các mối liên hệ

Trang 21

xung quanh để xác định quy luật khách quan của sự phân bố Tuy nhiên, những nghiêncứu trong giai đoạn này còn hạn chế về phương pháp luận, quan điểm kinh tế chủ nghĩa

“kinh tế học nhân văn” hoặc quá lạm dụng các phương pháp “toán học”, “vật lý xã hội”làm mất đặc trưng cơ bản của khoa học địa lý kinh tế

Các lý thuyết về tổ chức lãnh thổ được phát triển mạnh ở các nước phương Tây nhưPháp, Cộng Hòa Liên bang Đức, Thụy Sĩ và các nước Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc,Trung Quốc nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể về tổ chức lãnh thổ của các Quốc gia đó

Tại Pháp, vấn đề chênh lệch vùng trong TCLT kinh tế - xã hội bằng việc xây dựngcác thành phố cân bằng và pháp luật với hệ thống chính sách hợp lý Trong những thập

kỷ gần đây, hội nhập kinh tế quốc tế trong phạm vi khu vực và toàn cầu là nguyên nhânchính gây nên sự chênh lệch kinh tế-xã hội giữa các vùng của Pháp, vì vậy Chính phủPháp đã có quyết định về thay đổi chính sách phát triển vùng với mục tiêu "phát triển hàihoà lãnh thổ" Khác với chính sách của Pháp, CHLB Đức và Thụy Sĩ tổ chức lãnh thổ sửdụng phương pháp khuyến khích sự tự lực của các vùng kém phát triển Nhà nước chỉ hỗtrợ một số vốn nhất định cho các vùng kém phát triển, sau đó các vùng này tự bứt lên và

có thể phát triển trong thế ổn định Tuy nhiên, các chính sách của Thụy Sĩ không chỉhướng vào việc phát triển các vùng miền núi với các vùng khác mà còn phải đảm bảo giữgìn bản sắc riêng của mỗi vùng

Tại một số nước phát triển tại Châu Á, tổ chức lãnh thổ kinh tế theo hướng pháttriển cân đối theo từng vùng Trong những thập kỷ 70, Nhật Bản hạn chế đưa ra các chínhsách phát triển với các thành phố chính, ưu tiên tăng trưởng cho các vùng kém phát triển

và phân bố lại sản xuất giữa các vùng Tại Trung Quốc, phát triển kinh tế dựa trên quanđiểm hình thành các đặc khu kinh tế từ ven biển đến các thành phố và khai phá khu vựcphía tây Khác với Nhật Bản và Trung Quốc, Hàn Quốc thực hiện theo chính sách pháttriển hài hòa giữa đô thị và nông thôn

Bên cạnh đó, các nước Đông Nam Á tiến hành tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hộibằng việc xây dựng khu đô thị mới và xây dựng nông thôn mới, hình thành các vùng kinh

tế, Malaysia lựa chọn các khu vực lãnh thổ để xây dựng các khu chế xuất, khu thươngmại tự do trên cơ sở phát triển công nghiệp và thương mại gắn liền với cảng biển

Các nghiên cứu về tổ chức lãnh thổ trên chủ yếu tập trung cho các lãnh thổ quy

mô lớn như: vùng, miền, quốc gia

- Về quy hoạch bảo vệ môi trường

Thuật ngữ environmental planning (quy hoạch môi trường) ra đời vào đâu nhữngnăm 1970 và được phổ biến rộng rãi vào những năm 90 của thế kỷ XX Đây là lĩnh vựckhoa học mới và hiện nay còn nhiều quan điểm về tên gọi cũng như nội dung quy hoạch

Trang 22

Từ cuối những năm 70, ở Anh, Mỹ các vấn đề môi trường đã được quan tâm John

M Edington (1977) đã xuất bản cuốn sách “sinh thái học và quy hoạch môi trường” phântích rõ các vấn đề sinh thái trong quy hoạch môi trường, sử dụng đất nông thôn, phát triển

đô thị, phát triển công nghiệp Sau đó, Water E Westman (1985) cũng nhấn mạnh về ảnhhưởng sinh thái và mối quan hệ khăng khít giữa sinh thái với ĐTM trong cuốn sách “Sinhthái, ĐTM, QHMT” Đáng chú ý nhất là công trình “QHMT cho phát triển vùng” Anne

R Beer (1990) đã trình bày chi tiết các mối quan hệ giữa QHMT và quy hoạch vùng

Cuốn “QHMT bền vững” được biên tập bởi Andrew Blowers xuất bản lần đầu tạiLuân Đôn vào năm 1993, sau đó tái bản nhiều lần (1994, 1995, 1996, 1997) đã đưa ra 10vấn đề cho QHMT: (1) sự thay đổi theo thời gian; (2) Quy hoạch nền, quy hoạch thànhphố, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch bền vững địa phương; (3) Các hệ sinh thái và tàinguyên thiên nhiên; (4) Chính sách năng lượng bền vững; (5) Ô nhiễm và rác thải; (6)Xây dựng một môi trường bền vững; (7) Lợi ích giữa giao thông vận tải công cộng và tưnhân; (8) Kinh tế bền vững; (9) Quy hoạch khu vực thành phố bền vững; (10) thực hiệnquy hoạch Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu về quy hoạch môi trường như: Sinh thái, đánhgiá tác động và bảo vệ môi trường (John Wiley and Sons, 1976);QHBVMT và ra quyếtđịnh (Leonard Ortolano,1984); Quy hoạch cộng đồng nông thôn bền vững (Frederic O.Sargen, Paul Lusk và nnk, 1991); Quy hoạch bền vững môi trường (John Wiley andSons, 1996); Quy hoạch môi trường cho cộng đồng nhỏ (Hãng bảo vệ môi trường Mỹ,1994); Quy hoạch môi trường (Em manuel K Boon, 1998)

Tại Châu Á, Chen Jingsheng (Trung Quốc) và Malone-Leo Lai Cho (Singapore) là

2 tác giả đi đầu trong nghiên cứu nhiều về quy hoạch môi trường Trong bài viết “Triểnvọng của Địa học môi trường Trung Quốc” tác giả Chen Jingsheng (1986) đã nêu lên cáctiến bộ của địa học môi trường ở Trung Quốc, điều tra tổng hợp chất lượng môi trường,nghiên cứu phân vùng môi trường và QHBVMT Năm 1997, Malone-Leo Lai Cho đãtrình bày quan điểm: QHBVMT đáp ứng nhu cầu về nhà ở, việc làm và nghỉ ngơi, giảiquyết xung đột về môi trường và phát triển, cần thiết phải quy hoạch trên cơ sở nhữngvấn đề về môi trường

b) Các công trình nghiên cứu về tổ chức không gian phát triển kinh tế, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường tại Việt Nam

- Về tổ chức lãnh thổ kinh tế-xã hội: Tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội hay tổ chức khônggian phát triển kinh tế - xã hội là khái niệm cơ bản trong địa lý học, là gạch nối giữa nhậnthức lý luận và hành động thực tiễn của khoa học này Tổ chức lãnh thổ kinh tế-xã hộiđược hiểu như sự kết hợp của các tổ chức lãnh thổ đang hoạt động: cấu trúc lãnh thổ quần

cư, cấu trúc không gian xã hội, cấu trúc không gian sử dụng tự nhiên,… bao gồm cả phânvùng và quy hoạch vùng

Trang 23

Từ sau 1975, các công trình về phân bố và tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội bắt đầuphát triển Bên cạnh các sách xuất bản có tính chất lý thuyết, công trình khoa học cấp nhànước về “Phân vùng Kinh tế lớn Việt Nam” (Đề tài 70.01 - năm 1989) đã khẳng định hướngnghiên cứu kết cấu lãnh thổ trong sự phát triển của khoa học Địa lý Kinh tế Việt Nam

Công trình “TCLT Đồng bằng sông Hồng và các tuyến trọng điểm" (Đề tài độc lậpcấp Nhà nước - Hà Nội, 6/1994) của Lê Bá Thảo là nghiên cứu có tính đột phá đầu tiên.Sau đó là một loạt các nghiên cứu về Quy hoạch tổng thể Kinh tế xã hội ở quy mô cấptỉnh như: "Việt Nam - lãnh thổ và các vùng địa lý" (Lê Bá Thảo, 1998); "Địa lý kinh tế xãhội Việt Nam" (Lê Thông và nnk, 2001); "TCLT kinh tế xã hội" (Ngô Doãn Vịnh vàNguyễn Văn Phú, 2001);"Địa lý kinh tế Việt Nam" (Nguyễn Viết Thịnh và Đỗ Thị MinhĐức, 2006) có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của khoa học nghiên cứu về tổchức lãnh thổ kinh tế - xã hội

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về TCLT Việt Nam mới chỉ dừng lại ở quy

mô vùng, quốc gia, liên tỉnh,… xác định các trung tâm kinh tế (các cực phát triển) và cáctuyến trục phát triển kinh tế Vì ở quy mô lớn nên TCLT chưa thể đề cập sâu đến vấn đề

bố trí tổ chức hoạch định cụ thể ở từng địa phương cũng như chưa kết nối được với vấn

đề sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trong quá trình phát triển

- Các nghiên cứu về quy hoạch bảo vệ môi trường

Có thể nói, những nghiên cứu liên quan đến QH BVMT được bắt đầu một cáchkhông chính thức trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội của cả nước và cảcác địa phương, cũng như các quy hoạch về các ngành nông - lâm - ngư nghiệp,…Mặc

dù trong các quy hoạch này các mục tiêu về môi trường chưa được làm rõ nhưng đã xácđịnh được các khu vực rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và các khu bảotồn,…Đây là một trong những nội dung của QHMT Các mô hình kinh tế hộ gia đình,kinh tế sinh thái đã được thiết lập ở nước ta cũng là các mô hình vừa có chức năng kinh

tế, vừa có chức năng môi trường Vấn đề quy hoạch môi trường ở nước ta được quan tâmnhiều hơn từ khi Luật Bảo vệ môi trường được ban hành

Tại Việt Nam, nghiên cứu quy hoạch môi trường mới được chú ý đến, nghiên cứu

“phương pháp luận Quy hoạch môi trường” (Trương Thị Thanh, Nguyễn Cao Huần vànnk, 1999; Vũ Quyết Thắng 2004); “Dự thảo hướng dẫn quy hoạch môi trường vùng”(Trịnh Thị Thanh, Vũ Quyết Thắng và nnk, 1998) là cơ sở lý thuyết cho các đề tài, dự ánquy hoạch môi trường sau này

Dưới góc độ của những người làm công tác quản lý môi trường, Nguyễn NgọcSinh và cộng tác viên đã trình bày ý tưởng khái quát về QHBVMT trong các nghiên cứu

“Những định hướng trong QHBVMT Bắc Trung Bộ” và “QH ngành môi trường trong

Trang 24

một cách hiệu quả, trong QHBVMT các tác giả này xuất phát từ việc xác định các vấn đềmôi trường để đề xuất các phương hướng, mục tiêu chiến lược và các chương trình môitrường trong khu vực Đối với đồng bằng sông Hồng, nghiên cứu đã đề xuất việc phânđồng bằng sông Hồng thành 2 á vùng dựa trên các đặc điểm về phát triển kinh tế tiếp đó

đề xuất các chính sách và chương trình môi trường riêng cho các á vùng này Năm2009,“Chương trình quy hoạch môi trường đô thị Việt Nam-kinh nghiệm và bài học từcác dự án nhỏ”(Liên minh Châu Âu và chính phủ CHXHCN Việt Nam thực hiện, 2005-2009) được thực hiện nhằm cải thiện chất lượng quy hoạch và cải thiện môi trường tạicác đô thị cấp tỉnh của nước ta nói chung và ĐBSCL nói riêng

Đặc biệt, trong các công trình nghiên cứu của Nguyễn Cao Huần và cộng sự về:

“Quy hoạch bảo vệ môi trường thị xã Uông Bí đến 2020” (Nguyễn Cao Huần và nnk,2006); “Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Ninh và các vùng trọng điểm”(Nguyễn Cao Huần và nnk, 2009); “Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ tỉnh biên giới miền núiphía Bắc phục vụ phát triển công nghiệp hóa-hiện đại hóa đến năm 2020 (Nguyễn CaoHuần và nnk, 2003-2005); “Luận chứng khoa học cho quản lý tổng hợp và phát triển bềnvững đới bờ biển Quảng Bình - Quảng Trị (N.C Huần và nnk, 2007) đã lồng ghép tổchức không gian phát triển kinh tế với sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.Quan điểm nghiên cứu của các công trình này được thực hiện theo hướng phát triển bềnvững và theo cách tiếp cận địa lý tổng hợp

Những ý tưởng và kinh nghiệm rút ra từ những nghiên cứu trong nước có vai tròquan trọng đối với việc thực hiện quy hoạch không gian phát triển kinh tế, sử dụng hợp lýtài nguyên và bảo vệ môi trường huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình

1.1.3 Các công trình nghiên cứu về liên kết vùng và quản trị vùng

a) Liên kết vùng

- Trên thế giới

Liên kết vùng là thuật ngữ được sử dụng nhiều trong các lĩnh vực khoa học khácnhau như liên kết kinh tế, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường,… Trong đó, mối liênhệ giữa các vùng về mặt không gian thể hiện ở vị trí, vai trò và chức năng của từng lãnhthổ khi xét đến mối quan hệ tổng thể ở một khu vực lớn hơn Liên kết vùng trong nghiêncứu tài nguyên và bảo vệ môi trường được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thếgiới, bao gồm 4 dạng chính: liên kết vùng trong nghiên cứu tài nguyên nước, liên kếtvùng trong nghiên cứu tài nguyên rừng, liên kết vùng trong bảo tồn đa dạng sinh học, liênkết vùng trong bảo vệ môi trường

Liên kết vùng trong nghiên cứu tài nguyên nước được nghiên cứu chủ yếu nhằm

quản lý bền cững các lưu vực sông, quản lý và sử dụng tài nguyên nước Ở châu Phi, tại

Trang 25

Nam Phi, đã thực hiện nghiên cứu “Mô hình quản lý tài nguyên nước liên vùng” ,nhằm

giải quyết các vấn đề được xác định trong quá trình phát triển, bao gồm: thay đổi chấtlượng nước, nhu cầu đầu ra, sự không phù hợp giữa địa giới hành chính và ranh giới lưuvực, (C Schultz và nnk, 2000) Tại Tây Phi, Gao và Margolies (2009) nghiên cứu về

“Quản lý khai thác tài nguyên nước khu vực đồng bằng sông Volta” đã hình thành một tổ

chức quản lý lưu vực sông theo hướng liên vùng đã được thành lập với sự tham gia của sáuquốc gia nằm trong lưu vực sông Volta Trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á, quản lý

và sử dụng tài nguyên nước liên vùng cũng được xác định là vấn đề quan trọng hàng đầu

Ủy ban sông Mekong được thành lập vào năm 1957 với sự tham gia của 4 quốc gia cóchung vùng hạ lưu sông Mekong bao gồm: Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan

Như vậy, trong lĩnh vực quản lý và sử dụng tài nguyên nước, tính liên kết vùngđược thể hiện rõ nét thông qua sự liên kết của các quốc gia và sự ra đời của các ủy ban,các chương trình và dự án nhằm điều hành, quản lý và tăng cường hiệu quả của công tácquản lý, sử dụng tài nguyên nước trên bình diện khu vực

Liên kết vùng trong quản lý và sử dụng tài nguyên rừng: một số bài học kinh

nghiệm về việc tàn phá rừng tạo ra những tác động tiêu cực liên vùng Do suy thoái rừngtràn lan và lũ cực lớn và hậu quả từ phá rừng đầu nguồn, Chính phủ Thái Lan đã cấmkhai thác gỗ từ năm 1989 Sau trận lũ lịch sử năm 1998 trên sông Trường Giang, TrungQuốc cũng cấm khai thác gỗ ở các khu rừng tự nhiên Tác động của Luật cấm khai thác

gỗ của Thái Lan là chuyển nạn suy thoái rừng sang các quốc gia láng giềng Lào,Campuchia và Myanmar (MRC, 1997b; Hirsch, 1995) Tác động của chính sách này làcác quốc gia trong khu vực đã gia tăng sản lượng xuất khẩu gỗ (hợp pháp và bất hợppháp) để đáp ứng nhu cầu của Thái Lan Luật cấm khai thác rừng của Trung Quốc cũnggây ra các tác động tương tự nhưng ở mức độ mạnh hơn (EIA và Telapak, 2001)

Liên kết vùng trong bảo tồn đa dạng sinh học tạo điều kiện hình thành các mạng

lưới bảo tồn Điển hình là khu vực liên kết bao gồm phần phía tây bắc British Columbia,phía đông nam Alaska thuộc Hoa Kỳ, kéo dài từ khu vực núi cao tới những khu rừngnhiệt đới ven biển và môi trường biển đảo phía đông nam Alaska Tại Thái Lan, với sự

hỗ trợ tài chính từ Tổ chức Gỗ nhiệt đới Quốc tế (the International Tropical TimberOrganization - ITTO), Cục Lâm nghiệp Hoàng gia Thái Lan (RFD) đã khởi xướng mộtchiến lược hợp tác bảo tồn đa dạng sinh học với Campuchia và Lào Các khu bảo tồnquản lý bằng cách sử dụng các tiếp cận khác nhau bảo vệ các khu rừng tiếp giáp và làmgiảm các xung đột về sử dụng tài nguyên của cư dân địa phương trong vùng đệm

Liên kết vùng trong bảo vệ môi trường: Hướng tiếp cận liên vùng trong bảo vệ

môi trường xuất phát từ tình trạng ô nhiễm bắt nguồn từ một lãnh thổ, một Quốc gia có

Trang 26

xuyên quốc gia hoặc liên vùng Tuy nhiên, về mặt lý luận, đến năm 2008, hai nhà nghiêncứu là V Gupta và R Subramanian mới đề xuất được bảy nguyên tắc về liên kết vùngtrong quản lý khai thác tài nguyên và quản lý bảo vệ môi trường Một hướng quan trọngnữa hiện đang phát triển mạnh là đánh giá tác động môi trường liên vùng Các tác độngmôi trường liên vùng, bao gồm cả lý luận và thực tiễn nghiên cứu, đánh giá cũng nhưđịnh hướng chiến lược tương lai được đề cập tới trong nhiều công trình (Marsden, 2001;Bastmeijer và Koivurova, 2008,…)

- Tại Việt Nam

Liên kết vùng tại Việt Nam chủ yếu chú trọng tới khía cạnh liên kết kinh tế Hiệnnay vấn đề liên kết sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và ngăn ngừa taibiến giữa các vùng thuộc Việt Nam với các quốc gia lân cận, các vùng trong nước hoặcgiữa các địa phương với nhau cũng đã được quan tâm

Ở quy mô liên quốc gia, các hoạt động của Tiểu vùng Sông Mekong mở rộng(Greater Mekong Subregion) là một ví dụ điển hình Đây là một khu vực địa lý bao gồmcác quốc gia và lãnh thổ nằm trong lưu vực của sông Mekong, bao gồm Việt Nam,Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanma và tỉnh Vân Nam, Quảng Tây của Trung Quốc Bảovệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển nguồn năng lượng mới là mục tiêu quantrọng mà các thành viên của khu vực tiểu vùng sông Mekong cùng đặt ra nhằm hướng tớiphát triển bền vững Vào tháng 4/2010, Hội nghị Ủy ban sông Mekong với 4 thành viên

là Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam diễn ra ở Hua Hin (Thái Lan) đã xem xétnhững vấn đề của dòng sông và đưa ra những chương trình giúp cho các quốc gia pháttriển kinh tế theo hướng bền vững và quản lý nguồn nước theo hướng bảo vệ môi trường

và các hệ sinh thái

Ở quy mô liên vùng, chưa có nhiều nghiên cứu cũng như những hoạt động cụ thểliên quan tới lĩnh vực liên kết vùng trong sử dụng, khai thác tài nguyên thiên nhiên vàbảo vệ môi trường

b) Quản trị vùng

- Trên thế giới

Trên thế giới, quản trị vùng được nghiên cứu theo hai hướng chính là: quản trị môitrường và quản trị lãnh thổ Trong đó, quản trị môi trường được nghiên cứu phổ biến vàrộng rãi hơn

Quản trị môi trường thường quan tâm tới các vấn đề ô nhiễm liên vùng, liên quốcgia Trong đó, mối liên kết liên vùng được quan tâm ở nhiều khía cạnh không gian địa lý

Ví dụ, như mối liên hệ trong một lưu vực sông: liên hệ thượng nguồn - hạ lưu Dự ánQuản lý môi trường sông Mekong là một trong những nỗ lực để giải quyết vấn đề ô

Trang 27

nhiễm liên quốc gia trong vùng hạ lưu sông Mekong (Nathan Badenoch, 2002) Dự ánnhằm giải quyết một số vấn đề mang tính liên quốc gia như: i) tác động liên vùng của cáccông trình thủy điện trong khu vực; ii) ô nhiễm nước trong lưu vực sông Mekong; iii) suygiảm đa dạng sinh học; iv) quản lý các hệ sinh thái và những tác động của hoạt động khaithác tài nguyên thiên nhiên liên quốc gia

Trên bình diện khu vực Đông Á, nghiên cứu của Sangbum Shin và cộng sự (2009)

về quản trị môi trường đã chỉ ra rằng: “Quản trị môi trường ở các nước Đông Á đã được quan tâm từ khá sớm” bằng việc thành lập Hội nghị Bộ trưởng môi trường các nước

Đông Á Theo Sangbum Shin, quản trị môi trường có thể được thực hiện ở nhiều quy môkhác nhau: liên quốc gia, liên vùng, vùng và cấp thấp hơn (Sangbum Shin, 2009)

- Tại Việt Nam

Các nghiên cứu về quản trị vùng trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam còn chưanhiều Theo thống kê, phần lớn các công trình nghiên cứu về quản trị vùng thường nằmtrong khuôn khổ các dự án có tài trợ của quốc tế Lê Thạc Cán và cộng sự (2001) đã phântích quản trị môi trường, đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam và sự phụ thuộc vào cácnguồn tài nguyên thiên nhiên Sự chia sẻ các nguồn tài nguyên cho mục đích phát triểnnhư tài nguyên nước, tài nguyên rừng, tài nguyên đất,… Khung thể chế về quản trị môitrường ở Việt Nam cũng được các tác giả phân tích chi tiết

Ở quy mô nhỏ hơn, Lê Thạc Cán và cộng sự đã phân tích mối liên kết chặt chẽ vàtương hỗ giữa các dạng tài nguyên với nhau trong quá trình phát triển của các vùng thuộcViệt Nam trong bối cảnh nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên Các tácgiả chỉ rõ những bất cập và yếu kém trong quản trị môi trường ở quy mô không gian địa

lý cấp vùng của Việt Nam Đồng thời những giải pháp nhằm nâng cao công tác quản trịmôi trường ở Việt Nam cũng được đề xuất

Xét trên khía cạnh quản trị lãnh thổ, một số công trình của các nhà khoa học Việt

Nam đã đề cập đến những khía cạnh của quản trị lãnh thổ Trong nghiên cứu “xây dựng

mô hình hợp tác và liên kết vùng trong phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung”

Lê Thế Giới (2008) đã phân tích đặc điểm về tính liên kết vùng giữa Tây Nguyên vàmiền trung Việt Nam Tuy nhiên, những phân tích của tác giả này chủ yếu dựa trên mốiliên hệ kinh tế giữa các vùng Mối liên hệ không gian và thời gian của liên kết vùng chưađược đề cập

Eli Mazur và nnk trong nghiên cứu về khu kinh tế mở Chu Lai đã đề cập tới tínhliên kết vùng của khu vực với các vùng khác trong tỉnh Quảng Nam cũng như một số tỉnhthuộc Tây Nguyên (Eli Mazur và nnk, 2006)

Trang 28

Gần đây nhất, đề tài về liên kết vùng trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên ở TâyNguyên với các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ (Đặng Văn Bào chủ nhiệm) thuộc chươngtrình Tây Nguyên được phê duyệt và bắt đầu thực hiện từ 2012 - đầu 2015

Tóm lại, trên cơ sở phân tích các nghiên cứu trong và ngoài nước và các hệ quả

của quá trình này, liên kết vùng có một số điểm cần chú ý như sau:

- Liên kết vùng gồm nhiều hợp phần khác nhau Xét về bản chất, liên kết vùng là kháiniệm để chỉ các mối liên kết về kinh tế, xã hội, văn hóa, khai thác và sử dụng tài nguyên,bảo vệ môi trường

- Xét theo quan điểm tổng hợp, liên kết vùng chưa được nghiên cứu nhiều Các công trìnhnghiên cứu chủ yếu tập trung vào một số khía cạnh và một số lĩnh vực cụ thể mà chưa đềcập đến tính tổng hợp trong liên kết vùng

- Quản trị vùng chính là quản lý tổng hợp vùng trên tất cả các lĩnh vực và trong bối cảnhliên kết với các tiểu vùng, các vùng trong khu vực

1.1.4 Các công trình nghiên cứu về mô hình hệ kinh tế sinh thái

a) Trên thế giới

Vấn đề kinh tế đã được nghiên cứu từ lâu dưới nhiều hình thức, góc độ, quy môkhác nhau từ kinh tế tư nhân, kinh tế hộ gia đình cho đến kinh tế trang trại,…nhưng nhìnchung việc nghiên cứu đó chỉ dưới góc độ kinh tế là chủ yếu Tại một số nước trong khuvực Đông Nam Á cũng xuất hiện các mô hình kinh tế sinh thái theo hướng nông lâm kếthợp (NLKH) nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên:

- Tại Trung Quốc: kỹ thuật phát triển các mô hình kinh tế sinh thái theo hình thức nông lâm

kết hợp đã có từ lâu đời với một số mô hình như: Hệ thống nông lâm kết hợp trong đó câyrừng là chính, được áp dụng phổ biến ở các tỉnh dọc theo thung lũng sông Dương Tử; Hệthống NLKH dựa vào cây ăn quả là chính, chủ yếu phân bố tại miền Nam Trung Quốc;Miền Bắc của Trung Quốc thì chủ yếu là các mô hình kinh tế sinh thái với các loại cây hoamàu là chính, còn cây gỗ chỉ chiếm phần phụ Ngoài ra, Trung Quốc còn phân loại theo cácvùng sinh thái để đảm bảo lợi ích theo kiểu kinh tế trang trại (hình 1.1a)

- Tại Indonexia, mô hình NLKH theo kiểu vườn hộ (pekarangan) là một sự kết hợp giữa

cây ngắn ngày, cây lâu năm và vật nuôi trong khu vườn quanh nhà Một mô hình phổbiến ở đây là cây ăn quả - cây công nghiệp - cây lương thực - chăn nuôi gia súc nhỏ cungcấp sản phẩm cho gia đình và thu nhập quanh năm (hình 1.1b)

- Tại Philipines, phần lớn các gia đình áp dụng mô hình: vườn-chăn nuôi Trong đó, vườn

chủ yếu là các loại cấy làm thức ăn cho gia súc như đậu triều, Flemingia được trồngthành đám dày tại các nông trại (hình 1.1c) Ngoải ra, tại đây còn xuất hiện mô hìnhNLKH nhiều tầng nhằm tận dụng tối đa tài nguyên đất và ánh sáng thúc đẩy hiệu quả chu

Trang 29

trình của dưỡng chất, hạn chế xói mòn Trong đó, Mô hình phổ biến là trồng xen các loạicây: dừa, cà phê, chuối (phổ biến ở tỉnh Cavite), cà phê, ca cao được trồng chung (thườngthấy ở các tỉnh Mindanao)

Hình 1.1a Cây đa mục đích và cây

bụi trên nông trại, Trung Quốc

Hình 1.1b Mô hình kinh tế sinh thái trên đảo Java, Indonexia

Hình 1.1c Hệ thống Salt, chăn thả gia súc giữa hai hàng rào cây

(Nông Lâm kết hợp ở vùng cao, nhóm nhà khoa học nông nghiệp ĐNA dịch)

- Tại Việt Nam

Ở Việt Nam mô hình hệ kinh tế sinh thái được nghiên cứu ở những năm cuối củathập kỷ 80 thế kỉ XX Lý luận về mô hình hệ kinh tế sinh thái được đề cập trong một sốnghiên cứu của: Phạm Quang Anh (năm 1983), Nguyễn Văn Trương, Đào thế Tuấn vàmột số các tác giả khác, cụ thể:

- Đặng trung Thuận, Nguyễn Cao Huần và nnk (2000): “Nghiên cứu vùng đất ngập nước đầm Trà Ổ nhằm khôi phục nguồn lợi thủy sản và phát triển bền vững vùng ven đầm”

- Trương Quang Hải và nnk (2004): “Nghiên cứu và xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ phát triển bền vững cụm xã vùng cao Sa Pả - Tả Phìn, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai”.

Trang 30

- Ngoài ra, còn rất nhiều công trình khác như: mô hình HKTST nông thôn bền vững củaĐặng Trung Thuận, Trương Quang Hải (1999); xây dựng mô hình nông - lâm kết hợp tại

xã Kỳ Hợp của Lê Trần Tuấn, Phạm Văn Ngạc

Trong những năm gần đây, mối quan hệ giữa cộng đồng và các hệ sinh thái được

ứng dụng trong nghiên cứu làng sinh thái - hệ sinh thái điển hình Đề tài KN 03-06: “Mô hình làng sinh thái Triệu Vân, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị” xây dựng làng lâm

nghiệp trên vùng đất hoang hóa ở thôn Vĩnh Hòa, xã Triệu Vân, huyện Triệu Phong, do

GS TSKH Nguyễn Văn Trương làm chủ nhiệm, thực hiện từ 1993-1998 Trên cơ sởkhảo sát chi tiết các đặc trưng sinh thái, nguồn lực lao động, và phân tích các đặc trưng lý

- hóa của đất để quy hoạch chi tiết từng ô, từng thửa theo hình bàn cờ, mỗi ô có diện tích

từ 1,5-2 ha Mỗi ô có đai rừng phòng hộ bên ngoài cùng các mương thoát nước, bên trong

phát triển nông nghiệp, thả cá, chuồng nuôi Ngoài ra, cuốn sách “các hệ sinh thái kém bền vững và việc lựa chọn khu vực nghiên cứu để xây dựng làng sinh thái” (Viện kinh tế

sinh thái, 2006) đã xác lập cơ sở lý luận và một số mô hình làng sinh thái tại 3 vùng sinhthái kém bền vững: đồng bằng úng ngập nước, cát hoang mạc ven biển và vùng đồi núitrơ trọc tại Việt Nam Hiện nay, mô hình làng sinh thái được xây dựng trên cơ sở giúp đỡnhân dân về kỹ thuật nhằm cải tạo hệ sinh thái bản địa theo hướng bền vững, thúc đẩy sảnxuất phát triển, cải thiện đời sống dân cư, đồng thời góp phần ổn định cân bằng sinh thái

Đặc trưng của làng sinh thái được thể hiện theo công thức: Đặc trưng sinh thái + kiến thức bản địa + kiến thức khoa học = mô hình làng kinh tế sinh thái.

Ở quy mô hộ gia đình, mô hình hệ kinh tế sinh thái chính là mô hình kinh tế sinh

thái nông hộ như VAC, RAC, các mô hình nông lâm kết hợp Đặc biệt, cuốn sách “phát triển kinh tế - xã hội vùng đồi gò Bắc Trung Bộ” (viện nghiên cứu chiến lược và chính

sách khoa học về công nghệ, 1999) đã bước đầu coi hộ gia đình là 1 trong 4 chủ thể sảnxuất chính: hộ gia đình, trang trại, doanh nghiệp nông - lâm nghiệp, liên doanh với nướcngoài và bước đầu xác lập mô hình kinh tế sinh thái phù hợp

Nhìn chung, đã có nhiều nghiên cứu về mô hình hệ kinh tế sinh thái, tùy thuộc vàođiều kiện cụ thể của từng địa phương mà có các mô hình hệ kinh tế sinh thái phù hợp.Mặc dù, các mô hình hệ kinh tế sinh thái cụ thể rất đa dạng, nhưng giữa chúng có nhữngđiểm chung về mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường phục vụ phát triển bền vững

1.1.5 Các công trình nghiên cứu về tỉnh Quảng Bình và huyện Quảng Ninh

a) Các công trình nghiên cứu về tổ chức lãnh thổ tỉnh Quảng Bình

Các công trình nghiên cứu nguồn lực và cảnh quan tỉnh Quảng Bình chủ yếu tập

trung nghiên cứu các nguồn lực tự nhiên phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội TrướcCách mạng tháng Tám, công việc nghiên cứu về điều kiện tự nhiên của Quảng Bình cũng

Trang 31

đã được các nhà địa lý người Pháp tiến hành Từ khi Quảng Bình được tái lập (1989), đểphục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhiều công trình nghiên cứu về

nguồn lực phát triển được thực hiện Trong đó, đáng chú nhất là các công trình "Ảnh hưởng của trầm tích Kainozoi đến việc hình thành các dạng địa hình và khoáng sản ở vùng đồng bằng các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế" (Bùi Văn Nghĩa - luận án PTS, ĐHSP Hà Nội, 1996); Bản đồ địa chất và khoáng sản Quảng Bình (Sở KHCN và MT Quảng Bình, 1997); báo cáo“Đặc điểm khí hậu, bản đồ sinh khí hậu tỉnh Quảng Bình và đánh giá mức độ thích hợp của điều kiện khí hậu 3 vùng dự án cho một số cây trồng và đời sống con người” (Viện Địa lí, 1992); "Đặc điểm cảnh quan sinh thái và phương hướng sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên vùng gò đồi Quảng Bình" (Nguyễn Văn Vinh, luận án PTS - Viện Địa lí 1996); "Nghiên cứu quá trình cát bay, cát nhảy ở Quảng Bình và đề xuất các biện pháp phòng chống" (Lê Đức An và nnk -Viện Địa lí,

1992); “Phân vùng địa lý tự nhiên lãnh thổ Bình Trị Thiên” (Hoàng Đức Triêm và nnk,

1998); "Nghiên cứu những vấn đề kinh tế - xã hội - môi trường vùng sinh thái đặc thù Quảng Bình - Quảng Trị" (Đề tài khoa học cấp nhà nước, mã số KC 08.07, chủ nhiệm GS.TSKH Trương Quang Học, 2002); “Nghiên cứu cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Bình” (Trương Thị Tư, 2012),

Ngoài ra, còn có nhiều nghiên cứu đơn ngành về địa chất - địa mạo, khí hậu, thổ nhưỡng,rừng và đa dạng sinh học như:

- Về địa chất, địa mạo: Báo cáo tổng quan địa chất và tài nguyên khoáng sản tỉnh Quảng Bình (Cục địa chất và khoáng sản Việt Nam, 2001), Điều tra, nghiên cứu tổng hợp địa chất và khoáng sản phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường Quảng Bình (Lê Tiến Dũng và nnk, 2004); Cấu trúc địa chất Quảng Bình (Nguyễn Đức Lý, 2008); báo cáo tổng kết đề tài “Điều tra nghiên cứu tổng hợp Địa Chất và Khoáng sản phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Bình” (Trường Đại học Mỏ Địa Chất, 2004); Đặc điểm trầm tích và sự tiến hoá của các thành tạo cát ven biển Quảng Bình (Nguyễn Tiến Hải, Trần Nghi, Nguyễn Văn Bách, 2004).

- Đề tài “Thu thập và chỉnh lý số liệu khí tượng thủy văn Quảng Bình từ năm 1956 đến năm 2005” (Nguyễn Đại, 2006) một trong những nghiên cứu chi tiết nhất về khí hậu-thủy

văn của tỉnh Quảng Bình nói chung và huyện Quảng Ninh nói riêng

- Nghiên cứu về tài nguyên đất được đề cập chủ yếu trong các nghiên cứu phân loại đất

và các dự án quy hoạch sử dụng đất Một số đề tài được kể đến như: Báo cáo“Dự án tổng quan khai thác, sử dụng đất bằng hoang hóa, bãi bồi ven sông, ven biển, mặt nước chưa

sử dụng tỉnh Quảng Bình” (UBND tỉnh Quảng Bình, 1996);Báo cáo quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất tỉnh Quảng Bình thời kì 2001-2010,(UBND tỉnh Quảng Bình, 2002) Nghiên cứu đánh giá phân hạng đất đai tỉnh Quảng Bình theo phương hướng của FAO -

Trang 32

UNESCO bằng phần mềm ALES phục vụ quy hoạch Nông - Lâm - Ngư nghiệp bền vững (Nguyễn Anh Hoành và nnk, 2004); Báo cáo tài nguyên đất Quảng Bình (Sở Tài nguyên

- Môi trường tỉnh Quảng Bình, 2005)

- Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học được đề cập trong một số đề tài và nghiên cứu về

lâm nghiệp tại tỉnh Quảng Bình như: Báo cáo tài nguyên rừng tỉnh Bình Trị Thiên (Bộ Lâm nghiệp, Viện Điều tra quy hoạch rừng, 1983); Đề án “Tổng quan lâm nghiệp theo chương trình 327 tỉnh Quảng Bình” (Sở Lâm nghiệp Quảng Bình, 1993).

Nghiên cứu về quy hoạch và TCLT Quảng Bình được đề cập đến chủ yếu trong các

dự án quy hoạch tổng thể, các đề án quy hoạch phục vụ phát triển các ngành kinh tế nhưnông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ,… một số công trình tiêu biểu như: Báo cáo tổng hợp

“Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình thời kì 1996-2010 (UBND tỉnh Quảng Bình, 1996); báo cáo tổng hợp "Quy hoạch tổng thể phát triển kinh

tế - xã hội tỉnh Quảng Bình thời kì 2000 - 2010, tầm nhìn đến năm 2020” (UBNND tỉnh

Quảng Bình, 2007); báo cáo tóm tắt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Quảng Bình thời kì

2001 - 2010 (UBNND tỉnh Quảng Bình, 5/2003; “Luận cứ khoa học phục vụ phát triển kinh tế - xã hội miền Tây Quảng Bình sau khi hoàn thành xây dựng đường Hồ Chí Minh” (Sở KH&CN Quảng Bình, 2004); Báo cáo tổng hợp đề tài "Nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Quảng Bình nhằm đảm bảo mục tiêu tăng trưởng, ổn định và đầu tư có hiệu quả trong thời kì 2000 - 2005 và 2010" (6/2000); Báo cáo điều chỉnh định hướng

quy hoạch phát triển ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, công nghiệp, dịch vụ vàthương mại, giao thông vận tải, đô thị Quảng Bình đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm

2020 (Các sở ban ngành tỉnh Quảng Bình, 2005, 2006) Ngoài ra, báo cáo tổng hợp “Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Nông nghiệp tỉnh Quảng Bình đến năm 2020” (UBND tỉnh Quảng Bình, 2011); Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Thủy sản tỉnh Quảng Bình đến Năm 2020 (UBND tỉnh Quảng Bình, 2011); Báo cáo điều chỉnh định hướng quy hoạch phát triển ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn Quảng Bình đến năm 2010 (Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Bình); Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Thủy sản tỉnh Quảng Bình đến Năm 2020 (UBND tỉnh Quảng Bình, 2011); Quy hoạch phát triển cao

su tỉnh Quảng Bình đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 (UBND tỉnh Quảng Bình,

2011) cũng góp phần định hướng tổ chức không gian phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh

Nghiên cứu về mô hình hệ kinh tế sinh thái khu vực tỉnh Quảng Bình còn hạn chế,

một số nghiên cứu đáng quan tâm như: “Nghiên cứu đánh giá các mô hình phát triển kinh tế

xã hội, tổ chức thực hiện mô hình trình diễn tại Quảng Bình, Quảng trị” của GS.TSKH Trần

Đình Lý, thuộc đề tài KC 08-07 Nghiên cứu đã làm 16 mô hình KTST ở khu vực này và

mô hình phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường của tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị theoquan điểm phát triển hệ thống, đồng thời tiếp cận hai vấn đề chung của cả nước là dân số và

Trang 33

xóa đói giảm nghèo Công trình nghiên cứu “Xác lập mô hình kinh tế nông hộ phù hợp với các tiểu vùng sinh thái cảnh quan lãnh thổ đồi núi tỉnh Quảng Bình” (Hà Văn Hành, Trần

Thúy Hằng, 2009) dựa trên sự phân hóa lãnh thổ và đặc điểm sinh thái của từng tiểu vùng, từ

đó đề xuất một số mô hình kinh tế nông hộ đặc trưng cho từng tiểu vùng Trong nghiên cứunày, 5 mô hình kinh tế được đề xuất bao gồm: 3 mô hình tại vùng núi phía tây bắc và tây

nam và 2 mô hình kinh tế ở đồi; Nghiên cứu “Xây dựng mô hình tự nhiên - kinh tế - xã hội

theo hướng Kinh tế - sinh thái - nhân văn và môi trường cho vùng gò đồi Quảng Bình”(Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Văn Nhưng,…)

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây là các tài liệu quan trọng chonghiên cứu của đề tài luận án

b) Các công trình nghiên cứu về huyện Quảng Ninh

Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội đến 2020 (UBND huyện Quảng Ninh, 2011) là

công trình mang tính tổng hợp cao và đề cập chi tiết đến kinh tế - xã hội, môi trường vàquy hoạch huyện Quảng Ninh trong tương lai Trên cơ sở luận chứng về điều kiện vàthực trạng phát triển thời gian qua, theo xu thế hội nhập quốc tế và khu vực nhằm khaithác, sử dụng và phát huy có hiệu quả các điều kiện và đặc điểm của các ngành, các vùnglãnh thổ huyện Quảng Ninh

Phát triển các mô hình kinh tế sinh thái luôn là mục tiêu trong phát triển kinh tế

của huyện Quảng Ninh, nhất là đối với khu vực miền núi và đồi gò Một số nghiên cứu về

kinh tế sinh thái liên quan đến khu vực như: Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồi gò Bắc Trung Bộ (viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học về công nghệ, 1999); Nghiên cứu sự phân hóa lãnh thổ tự nhiên, xác lập mô hình kinh tế sinh thái nông hộ hợp

lý phục vụ phát triển bền vững ở huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình (Trần Hải Châu)

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu riêng về huyện Quảng Ninh còn hạn chế,phần lớn các nghiên cứu về Quảng Ninh được lồng ghép trong các nghiên cứu và đề ánchung cho tỉnh Quảng Bình và khu vực Bắc Trung Bộ Hầu hết các đề tài mới chỉ dừng ởmức độ phân tích các điều kiện tự nhiên và tài nguyên nhưng chưa đi sâu vào ý nghĩathực tiễn và chưa đặt huyện Quảng Ninh trong mối quan hệ mật thiết giữa các tiểu vùng

và các vùng lân cận

Từ những phân tích các công trình nghiên cứu đã công bố ở trên, nghiên cứu củaluận án này sẽ quan tâm tới tổng hoà mối quan hệ của các yếu tố tự nhiên, xã hội tại khuvực nghiên cứu và vai trò của nó đối với sự hình thành cảnh quan huyện Quảng Ninh.Trước hết, sử dụng cảnh quan được nghiên cứu theo tiếp cận quản trị vùng và liên kếtvùng/tiểu vùng trong hệ thống lưu vực sông, tiếp cận liên kết và quản trị vùng trong sửdụng hợp lý tài nguyên, phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường, phòng chống tai

Trang 34

biến thiên nhiên, đề xuất các mô hình kinh tế sinh thái tối ưu cho từng đơn vị cảnh quan

và từng tiểu vùng

Như vậy, cơ sở địa lý học trong sử dụng hợp lý tài nguyên chính là sử dụng, khaithác tài nguyên dựa trên chu trình vật chất - năng lượng Việc nghiên cứu, đánh giá cảnhquan giúp xác định chức năng, động lực và tính trội trong phân hóa cảnh quan và tiềmnăng tự nhiên của cảnh quan Đây là nền tảng cho việc xác lập mô hình liên kết và quảntrị vùng, định hướng tổ chức không gian phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp và du lịch,xác lập mô hình kinh tế sinh thái bền vững Bên cạnh đó, các nghiên cứu đã được công

bố trên địa bàn tỉnh Quảng Bình và huyện Quảng Ninh sẽ là tài liệu quan trọng để tác giảxác lập cơ sở địa lý học cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên huyện QuảngNinh theo hướng tiếp cận liên kết và quản trị vùng

1.2 Những vấn đề lý luận

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

a) Khái niệm cảnh quan và đánh giá cảnh quan

- Khái niệm cảnh quan

Từ những phân tích các quan niệm về cảnh quan hiên đang hiện hữu, có thể địnhnghĩa về cảnh quan như sau:

Cảnh quan là một phức hợp các hợp phần tự nhiên (địa chất, địa hình, khí hậu,thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật) và các hoạt động của con người liên quan đến khai thác,

sử dụng tài nguyên trong mối tác động qua lại và tương hỗ lẫn nhau bởi dòng vật chất vànăng lượng, tạo thành một tổng hợp thể lãnh thổ như một địa hệ thống Trong nghiên cứu

cơ bản và thực tiễn, cảnh quan được xem là đơn vị loại hình, đồng thời vừa là đơn vị cáthể Tính kiểu loại của cảnh quan thể hiện càng rõ ở các đơn vị cảnh quan cấp thấp, còntính cá thể của cảnh quan thể hiện càng rõ ở các đơn vị cấp cao, nhất là các đơn vị phânvùng; Tính cá thể của các đơn vị bậc thấp được thể hiện ở các khoanh vi riêng biệt trongbậc kiểu loại

Quan niệm này có thể được làm rõ qua ví dụ cụ thể sau: trong phạm vị trung duBắc bộ một đồi thấp độc lập với đặc trưng riêng về đá mẹ, địa hình, thổ nhưỡng, sinh vậttrên nền chung của tiểu khí hậu và thủy văn nằm trong mối tác động tạo thành một mộtđịa tổng thể Bản thân khoanh vi này như một cá thể, mặt khác nó lại thuộc một bộ phậncủa kiểu cảnh quan đồi thấp với các đặc trưng tương tự trên phạm vi trung du Bắc bộ

Trang 35

Hình 1.2 Sơ đồ các hợp phần thành tạo cảnh quan (Phạm Quang Anh, 1983)

- Các hợp phần thành tạo cảnh quan là những bộ phận của lớp vỏ rắn, lớp vỏ nước và khí

quyển cùng với những sinh vật và thổ nhưỡng liên hệ mật thiết với nhau (Ixatrenko,1962) Sự phân chia các hợp phần cảnh quan có nhiều cách khác nhau tùy theo quan niệm

và mục tiêu nghiên cứu của từng tác giả: Theo tiếp cận sinh thái chia hợp phần cảnh quanthành 2 nhóm - nhóm nguyên sinh và nhóm thứ cấp (A.A.Krauklis, 1979); dựa vào mức

độ tác động của các hợp phần có thể nhóm các hợp phần thành 3 nhóm - các thành phầncứng, các thành phần động và các thành phần tích cực (A.A.Krauklis, 1979) Để thuận lợicho việc phân tích đặc điểm, chức năng và động lực cảnh quan, luận án đã sử dụng cáchphân chia vào tính chất của mỗi yếu tố, hợp phần thành tạo cảnh quan có thể được nhómthành 3 nhóm: (1) Hợp phần vô sinh bao gồm: địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn; (2)Hợp phần hữu sinh gồm: thổ nhưỡng và thế giới sinh vật; (3) Nhân tố thời gian và hoạtđộng của con người

Trong đó, địa chất và đại khí hậu là yếu tố quyết định sự thành tạo địa hình; Địahình có vai trò phân bố lại nền nhiệt ẩm của từng khu vực và kết quả hình thành nên khíhậu và thủy văn địa phương và lớp vỏ phong hóa tương ứng Khí hậu địa phương và lớp

vỏ phong hóa hình thành sinh quần thể và tương tác lẫn nhau tạo thành lớp phủ thổnhưỡng theo thời gian, con người thông qua các quá trình hoạt động sản xuất của mình

đã tác động lên cảnh quan cho phù hợp với “nhu cầu của mình” và góp phần không nhỏvào sự phát triển của cảnh quan Do vậy, yếu tố thời gian và hoạt động của con ngườihiện nay đã trở thành một trong số các nhân tố quan trọng tham gia vào quá trình hìnhthành cảnh quan Hơn nữa, sự trao đổi vật chất và năng lượng giữa các bộ phận cấu thànhriêng lẻ quy định về tính hoàn chỉnh của lớp vỏ cảnh quan, biến chúng thành một hệthống vật liệu thống nhất, thành phần này phụ thuộc vào thành phần khác, thành phần nàyảnh hưởng đến thành phần khác

- Phân loại cảnh quan là sự nhóm gộp các thể địa lý cùng cấp theo một số dấu hiêu

chung chủ đạo, mỗi một cấp đặc trưng riêng về dấu hiệu phân loại Tùy theo quy mô vàmức độ phức tạp của lãnh thổ mà số lượng các cấp phân vị được lựa chọn khác nhau,

Trang 36

loại ở một số nước trên thế giới (chủ yếu ở Nga, Ucraina, Ba Lan, Đức, Tiệp Khắc,…),hệ thống phân loại tại Việt Nam được sử dụng gồm: hệ/phụ hệ → lớp/phụ lớp →kiểu/phụ kểu → hạng → loại cảnh quan→ kiểu các đơn vị hình thái Trong hệ thốngnày, các hệ/phụ hệ, lớp/ phụ lớp và loại cảnh quan là các cấp đơn vị chính được chấpnhận và sử dụng trong mọi nghiên cứu.

Đối với lãnh thổ huyện Quảng Ninh, hệ thống phân loại cảnh quan bao gồm: Hệ/phụ hệ - Kiểu-Lớp/ phụ lớp - Hạng cảnh quan - Loại cảnh quan Kết quả nghiên cứu đượctrình bày chi tiết ở chương 2

- Phân vùng cảnh quan (phân vùng địa lý tự nhiên tổng hợp) là sự phân chia lãnh thổ thành

các khu vực riêng biệt, không lặp lại trong không gian, có chung nguồn gốc phát sinh địađới và phi địa đới, đồng nhất tương đối về địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡngsinh vật và mức độ tác động của con người Hệ thống phân vùng thường được sử dụngtrong phân vùng lãnh thổ bao gồm: Miền/ phụ miền→ vùng /phụ vùng Đối với quy môlãnh thổ không lớn như cấp tỉnh và huyện có thể sử dụng hai cấp vùng và tiểu vùng

- Khái niệm đánh giá cảnh quan

Bản chất của đánh giá cảnh quan là đánh giá tổng hợp các tổng thể tự nhiên chomục đích cụ thể nào đó

Đánh giá cảnh quan là một nhiệm vụ trong nghiên cứu địa lý ứng dụng, có vị trí vàvai trò rất quan trọng đối với các hoạt động phát triển kinh tế, giúp các nhà quản lý, quyhoạch đưa ra quyết định phù hợp với từng đơn vị lãnh thổ cụ thể Cho nên, đánh giá cảnhquan là bước trung gian giữa nghiên cứu cơ bản (NCCB) và quy hoạch sử dụng hợp lý tàinguyên và bảo vệ môi trường (SDHLTN và BVMT):

Kết quả của nghiên cứu cơ bản là các bản đồ chuyên đề và dữ liệu thuộc tính củacác địa tổng thể

Từ các kết quả của nghiên cứu cơ bản thực hiện đánh giá kinh tế sinh thái các cảnhquan để cho ra mức độ phù hợp của cảnh quan đối với loại hình sử dụng

Sử dụng kết quả đánh giá cảnh quan để đưa ra các phương án lựa chọn hoạch địnhlâu dài, tương đối phù hợp với hiệu quả cao của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiênnhiên của mỗi vùng, đồng thời bố trí hợp lý nhất các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội,các ngành sản xuất theo lãnh thổ

Đánh giá cảnh quan bao gồm 5 bước cơ bản (N.C Huần, 2005): (1) Đánh giá thíchnghi sinh thái; (2) Đánh giá ảnh hưởng môi trường; (3) Đánh giá kinh tế cảnh quan; (4)Đánh giá tính bền vững xã hội; (5) Đánh giá tổng hợp Các sản phẩm ở đầu vào và đầu ratrong từng bước đánh giá tạo thành một quy trình đánh giá kinh tế sinh thái hoàn chỉnh,

Trang 37

một bộ phận không thể thiếu và được thực hiện trong giai đoạn tiền quy hoạch khônggian phát triển kinh tế, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

b) Khái niệm kinh tế sinh thái và mô hình hệ kinh tế sinh thái

- Khái niệm kinh tế sinh thái

Bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, “oikos” là nguồn gốc của từ sinh thái trong cả 2 hệsinh thái học và kinh tế học Oikos có nghĩa là “nơi ở” Sinh thái học có thể được hiểu lànghiên cứu về mối quan hệ của động vật và thực vật trong tổ chức môi trường hữu cơ, vô

cơ Kinh tế nghiên cứu về cách con người làm nên cuộc sống và làm thế nào để thỏa mãnnhu cầu của họ

Kinh tế sinh thái nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Nói cáchkhác, đó là sự tương tác giữa các hệ thống kinh tế và hệ sinh thái

Robert Costanza cho rằng:“Kinh tế sinh thái chỉ ra mối quan hệ giữa hệ thống kinh

tế và hệ sinh thái” (1989) Như vậy, kinh tế học và sinh thái học là những chuyên ngành có

chung một số lĩnh vực nghiên cứu và phần chung đó là kinh tế sinh thái (hình 1.2)

Hình 1.3 Vị trí của kinh tế sinh thái

(Nguồn: Mick Common và Sigrid Stagl)Phạm Quang Anh định nghĩa kinh tế học sinh thái (1983): “Là luận thuyết giúpcon người tạo ra quy trình làm kinh tế hợp với quy luật sinh thái (địa sinh thái) nhằm đảmbảo cân bằng cung của tự nhiên và cầu của con người một cách lâu bền nhất”

Như vậy, kinh tế học sinh thái ngoài việc quan tâm đến hiệu quả kinh tế còn cónhiệm vụ quan trọng không thể thiếu được là môi trường và các quy luật sinh thái, nóicách khác là phát triển kinh tế gắn liền với sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môitrường theo hướng bền vững

- Khái niệm hệ kinh tế sinh thái

Sinh tháiKinh tế

Kinh

tế sinh thái

Trang 38

Hệ kinh tế sinh thái là đối tượng nghiên cứu của kinh tế học sinh thái Hệ kinh tếsinh thái là hệ thống chức năng nằm trong các tác động tương hỗ giữa sinh vật với môitrường dưới sự điều khiển của con người nhằm mục đích phát triển bền vững Như vậy,hệ kinh tế sinh thái là một hệ thống vừa đảm bảo chức năng cung cấp (chức năng kinh tế)vừa đảm bảo chức năng bảo vệ (chức năng sinh thái) Mỗi một hệ thống đều có quan hệnội tại (quan hệ giữa các hợp phần bên trong) và mối quan hệ bên ngoài (quan hệ giữacác hệ thống với nhau và môi trường xung quanh).

Có thể hiểu:“Hệ kinh tế sinh thái là kết quả của mối tác động tương hỗ của cácyếu tố tự nhiên và kinh - tế xã hội dưới sự quản lý của con người sao cho các hoạt độngnày hoạt động theo quy luật sinh thái và quy luật kinh tế nhằm đạt hiệu quả trong sử dụngtài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xã hội bền vững” (ĐặngTrung Thuận, 1999)

Tóm lại, hệ kinh tế sinh thái có thể hiểu là một hệ thống cấu trúc, chức năng baogồm các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, có mối quan hệ bên trong và bên ngoài thôngqua các dòng vật chất - năng lượng - thông tin - tiền tệ

Mô hình hệ kinh tế sinh thái đã được áp dụng trên địa bàn huyện Quảng Ninh vớinhiều quy mô khác nhau Phần lớn các mô hình được xây dựng với quy mô kinh tế hộ giađình theo mô hình cơ bản vườn – ao - chuồng hoặc các mô hình có cải tiến dựa trên đặcđiểm từng địa phương, mô hình theo quy mô trang trại còn hạn chế ở quy mô nhỏ Đốivới mỗi tiểu vùng sinh thái có những mô hình kinh tế hộ gia đình phù hợp với tự nhiên vàtiềm năng phát triển của tiểu vùng, ví dụ: khu vực đồi núi xuất hiện mô hình vườn -chuồng - dịch vụ, vườn -ao - chuồng; lúa - chuồng - vườn - rừng - tiểu thủ công nghiệp;khu vực đồng bằng có các mô hình: lúa - vườn - chuồng - cây ăn quả, lúa - vườn - chuồng

- thuỷ sản - tiểu thủ công nghiệp,…

c) Khái niệm liên kết và quản trị vùng

Khái niệm vùng trong quản trị, “Vùng” là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãitrong nhiều chuyên ngành khoa học cũng như các lĩnh vực phát triển khác nhau Tuynhiên, mỗi ngành và lĩnh vực khoa học lại có cách hiểu không giống nhau về khái niệmvùng (region): trong quan hệ quốc tế “vùng” thường được dùng để chỉ một nhóm quốcgia có chung một số đặc điểm địa lý nhất định như chung một lưu vực sông, chung mộtđặc điểm khí hậu, ; trong quản lý nhà nước “vùng” hay “vùng kinh tế” được hiểu là baogồm một số đơn vị hành chính nhất định (thường là cấp tỉnh thành) nằm trong một khuvực được đánh giá là có mối quan hệ tương tác về kinh tế xã hội với nhau, cùng chungmột số đặc điểm nhất định mà từ đó có thể có những chính sách phù hợp để phát triểnchung cho cả vùng; trong kinh tế học ”vùng” là một khu vực lãnh thổ nhất định (có thểmột hoặc nhiều tỉnh thành) được xác định là có mối quan hệ mật thiết với nhau trong phát

Trang 39

triển kinh tế xã hội Song dù quan niệm thế nào, quy mô ra sao thì vùng có điểm chungnhất về khái niệm vùng là: “vùng có ranh giới xác định và tại đó các hoạt động đều cómối tác động tương hỗ với nhau” và bản thân nó có quan hệ với các yếu tố bên ngoài.Các hoạt động trong một vùng được hiểu là những hoạt động phát triển kinh tế - xã hội,trong đó bao gồm các hoạt động khai thác và quản lý tài nguyên thiên nhiên Tính tácđộng qua lại có thể là giữa các thành phần của một vùng (nội vùng) hay giữa các vùngvới nhau (ngoại vùng) là hệ quả tất yếu của quá trình phát triển.

- Khái niệm liên kết vùng

Khái niệm “Liên kết vùng” thường được xem xét và vận dụng chủ yếu dưới góc

độ chuyên ngành như: kinh tế, xã hội, môi trường, liên kết vùng tổng hợp bao gồm cảliên kết về kinh tế - xã hội - môi trường và tài nguyên thường ít được đề cập đến trongcác văn liệu khoa học kể cả trong nước và trên thế giới

“Liên kết vùng là tổng hòa những mối liên kết ở các lĩnh vực kinh tế, xã hội, vănhóa, môi trường và tài nguyên trong phạm vi một vùng hoặc nhóm vùng” (TheodoreHershberg, ) Những liên kết này được thể hiện thông qua các dòng sản phẩm, tài chính

và thông tin luân chuyển trong nội bộ một vùng và các vùng lân cận Có thể cụ thể hóacho huyện Quảng Ninh là liên kết các tiểu vùng (tiểu vùng núi, tiểu vùng đá vôi, tiểuvùng đồi và thung lũng, tiểu vùng đồng bằng tích tụ sông biển, tiểu vùng đồng bằng cátven biển, tiểu vùng cảnh quan ngập nước ven biển) trong quy hoạch, trong sử dụng vàbảo vệ tài nguyên môi trường

- Khái niệm quản trị vùng: Trên cơ sở phân tích các nghiên cứu được nêu trong phần

tổng quan, có thể hiểu quản trị vùng như sau: Quản trị vùng là quá trình quản lý tổng hợplãnh thổ trong các lĩnh vực kinh tế xã hội, văn hoá, tài nguyên và môi trường với sự thamgia của nhiều đối tượng và được điều hành bởi các thể chế, chính sách của nhà nước vàđịa phương

1.2.2 Cảnh quan - đối tượng của các hoạt động phát triển kinh tế, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường

Các cảnh quan được xem như đối tượng chính trong sử dụng tài nguyên, nơi diễn

ra các hoạt động khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên của con người, vì vậy việcnghiên cứu nó sẽ tạo cơ sở khoa học quan trọng cho tổ chức lãnh thổ, sử dụng hợp lý tàinguyên và bảo vệ thiên nhiên (Kiev, Pridnheprovie, 1988) Trong quá trình phát triểnkinh tế, con người không ngừng tác động, cải tạo môi trường và cảnh quan tự nhiên đểphục vụ lợi ích của mình thông qua các hoạt động sản xuất, quy hoạch, tổ chức sản xuất

Do đó, con người được xem là điểm khởi đầu và kết thúc của các vấn đề trong sử dụng vàkhai thác tài nguyên thiên nhiên

Trang 40

Mục đích nghiên cứu cảnh quan với tư cách là đối tác động và sự tổng hợp cácđiều kiện cần thiết của sử dụng tài nguyên được xác định bằng các đặc điểm sau:

a) Mỗi cảnh quan là một đơn vị hoàn chỉnh của bộ phận bề mặt trái đất, đặc trưngtính đồng nhất về chất của lãnh thổ theo nguồn gốc phát sinh, thành phần và mối liên hệgiữa các hợp phần và các đơn vị bậc thấp, đặc trưng sự trao đổi vật chất và năng lượng(Bảo vệ cảnh quan, 1983)

b) Cảnh quan đồng thời là môi trường sống của con người, là hệ thống tài nguyên,

là không gian phân bố các cơ sở sản xuất Đặc biệt hơn, cảnh quan là sự tổng hợp của cácđiều kiện sinh thái, tạo nên quỹ sinh thái lãnh thổ cũng như tiềm năng phát triển sản xuấtnông, lâm nghiệp

c) Mỗi một đơn vị kiểu loại cảnh quan (lớp, phụ lớp, kiểu, phụ kiểu, loại, ) đượcđặc trưng về các dạng sử dụng tài nguyên Trong quá trình sản xuất, trước hết là cácnguồn tài nguyên thiên nhiên (quỹ sinh thái) của cảnh quan được khai thác, như vậy, lúcnày cảnh quan đã thực hiện chức năng xã hội của mình Trong quá trình thực hiện chứcnăng xã hội, cảnh quan bị biến đổi nhưng chưa thể chuyển ngay về trạng thái tương ứngvới chức năng đó.Vì vậy, chức năng tương ứng của cảnh quan với một dạng sử dụng nào

đó chính là một trong những điều kiện quan trọng của các quyết định quy hoạch, thiết kếlãnh thổ (P.G Shishenko, 1983), trong đó có nông, lâm nghiệp Sự phù hợp trạng tháichức năng cảnh quan với nhu cầu sinh học của xã hội, con người xác định đặc điểm sửdụng thiên nhiên trong quá trình phát triển Trong giai đoạn hiện nay, tại các nước đangphát triển ở châu Phi, Mỹ La Tinh, châu Á, trong đó có Việt Nam, sản xuất nông, lâmnghiệp đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Quốc dân, sự tăng sức sản xuất của haingành này chắc chắn phải dựa vào kết quả nghiên cứu cảnh quan một cách tổng hợp

Sản xuất nông, lâm nghiệp có mối quan hệ mật thiết với điều kiện tự nhiên và vớitổng thể của chúng là cảnh quan Các điều kiện tự nhiên quyết định sự tồn tại, phát triển

và phân bố cây trồng (tự nhiên và nhân tác), vì thế mỗi loại cảnh quan phù hợp với một

số loại cây trồng nhất định Ngược lại, sản xuất nông, lâm nghiệp cũng tác động đến cảnhquan theo nhiều hướng khác nhau, có thể làm tăng quỹ sinh thái bằng cách cải thiện điềukiện tự nhiên, tối ưu hóa điều kiện sống của con người và làm thay đổi cấu trúc cảnhquan, xây dựng cảnh quan mới Hai hướng tiếp cận khác nhau trong việc sử dụng và khaithác cảnh quan gồm: (1) làm suy thoái các điều kiện và tài nguyên trong cảnh quan, làmxấu đi môi trường sống của con người; (2) Hoạt động của con người có thể làm tăngnhanh sự thay đổi sự phát sinh và điều chỉnh chức năng xã hội của cảnh quan Do đó, tấtcả các hoạt động phát triển trong cảnh quan đòi hỏi phải xác định các dạng sử dụng hợp

lý Như vậy, điều kiện tự nhiên và phát triển kinh tế gắn với sử dụng tài nguyên có mốiquan hệ tương hỗ với nhau Một mặt điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên là nền

Ngày đăng: 23/05/2019, 01:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w