1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

ĐỀ TÀI TỪ CHÍNH SÁCH ĐẾN THỰC TIỄN: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TAM GIANG, YÊN PHONG, BẮC NINH

66 142 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 763,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng thực trạng sử dụng cho thấy, bà con nông dân thường cókiến thức hạn chế về các loại hoạt chất trong thuốc BVTV, dẫn tới tình trạng sử dụng thuốc BVTV thiếu hiệu quả

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

KHOA MÔI TRƯỜNG

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng của bảnthân tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơnvới những sự giúp đỡ đó

Với tình cảm và lòng kính trọng sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn các thầygiáo, cô giáo Học viện Nông nghiệp Việt Nam nói chung và các thầy cô giáo trongkhoa Môi Trường nói riêng, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổích trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS Phạm VănHội đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đềtài

Tôi xin trân trọng cảm ơn ban lãnh đạo UBND xã Tam Giang, các banngành và bà con nhân dân xã Tam Giang– huyện Yên Phong đã tận tình giúp đỡvà tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực tập tại địa phương

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, bạn bè vàngười thân đã động viên, khích lệ,giúp đỡ cho tôi trong suốt thời gian học tập vànghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 2016

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH vi

Phần I 1

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

1.3 Yêu cầu của đề tài 2

Phần II 3

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Giới thiệu chung về thuốc BVTV 3

2.1.1 Phân loại thuốc BVTV 3

2.1.2 Vai trò, ý nghĩa của thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp 7

2.2 Lịch sử phát triển, tình hình sản xuất và sử dụng thuốc BVTV trên thế giới và tại Việt Nam 9

2.2.1 Lịch sử phát triển thuốc BVTV trên thế giới 9

2.2.2 Tình hình sản xuất và sử dụng thuốc BVTV trên thế giới 11

2.2.3 Lịch sử phát triển, tình hình sản xuất và sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam 12

2.3 Các vấn đề phát sinh do sử dụng thuốc BVTV 14

2.3.1 Sinh học 14

2.3.2 Kinh tế 18

2.3.3 Xã hội 19

2.4 Tổng quan sách quản lý thuốc BVTV của Việt Nam trong những năm qua 24

2.5 RAT và vai trò của BVTV 26

Phần III 31

Trang 4

ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ 31

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

3.1 Đối tượng nghiên cứu 31

3.2 Phạm vi nghiên cứu 31

3.4 Phương pháp nghiên cứu 31

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 31

3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 31

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 32

Phần IV 33

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

4.1 Điều kiện tự nhiên xã Tam Giang 33

4.1.1 Vị trí địa lý 33

4.1.2 Địa hình 33

4.1.3 Khí hậu 34

4.1.4 Thủy văn 34

4.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội năm 2015 xã Tam Giang 34

4.2.1 Đặc điểm kinh tế 34

4.2.2 Văn hóa, xã hội 37

4.2.3 Giới thiệu chung về việc sản xuất RAT trên địa bàn xã 40

4.3 Thực trạng lựa chọn và sử dụng thuốc BVTV và sự khác biệt so với chính sách 42

4.3.1 Lựa chọn sử dụng thuốc BVTV của người dân 42

4.3.2 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV 46

4.4 Nguyên nhân gây ra khác biệt giữa thực tế sử dụng thuốc BVTV so với quy định trong sản xuất RAT 51

4.5 Đề suất giải pháp 54

PHẦN V 55

KẾT LUẬN 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ATTP An toàn thực phẩm

BNN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

BVTV Bảo vệ thực vật

LD50 Lượng chất độc gây chết 50% số cá thể (Lethal Dose 50)

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 – Phân loại thuốc BVTV theo tính độc 3

Bảng 2.2 – Phân loại thuốc diệt cỏ 5

Bảng 4.1: Danh sách một số loại thuốc được sử dụng phổ biến 42

Bảng 4.2: Lý do lựa chọn loại thuốc của người nông dân 44

Bảng 4.3: Đợt tập huấn lớn mà người nông dân tham gia 45

Bảng 4.4: Cách sử dụng thuốc của người nông dân 46

Bảng 4.5: Thời điểm và số lần phun thuốc BVTV 46

Bảng 4.6: Thuốc BVTV được hỗn hợp sử dụng 48

Bảng 4.7: Cách sử lý thuốc BVTV dư thừa 50

Bảng 4.8: Đồ bảo hộ không chọn sử dụng thường xuyên 51

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Con đường di chuyển của thuốc BVTV trong đất 20

Hình 2.2: Tác hại của thuốc BVTV đối với con người 22

Hình 4.1: Vị trí địa lý xã Tam Giang 33

Hình 4.2: Vùng sản xuất rau an toàn tại Tam Giang – Yên Phong 40

Trang 8

Phần I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo thống kê của Tổ chức Lương thực Thế giới (FAO) hàng năm, thiệthại mùa màng do sâu, bệnh gây ra trung bình mất khoảng 20 - 30% tổng sảnlượng Việc sử dụng các hoá chất bảo vệ thực vật đã trở thành một trongnhững phương tiện hữu hiệu nhất trong công tác phòng trừ dịch hại và bảoquản nông sản, đảm bảo an ninh lương thực Ngành hóa chất bảo vệ thựcvật (BVTV) ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngànhnông nghiệp Việt Nam

Với điều kiện khí hậu tự nhiên và đa dạng, Việt Nam là nước có lợi thếlớn trong canh tác và phát triển nhiều loại giống rau quả khác nhau phục vụcho nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu Trên cả nước đã hình thànhnên các vùng chuyên canh rau lớn ở Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng SôngCửu Long và Đông Nam Bộ Tuy nhiên nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm nênsâu, bệnh và cỏ dại xuất hiện quanh năm Do đó để phòng trừ dịch hại và bảovệ cây trồng thì việc sử dụng thuốc BVTV vẫn là một biện pháp quan trọngvà chủ yếu Nhưng thực trạng sử dụng cho thấy, bà con nông dân thường cókiến thức hạn chế về các loại hoạt chất trong thuốc BVTV, dẫn tới tình trạng

sử dụng thuốc BVTV thiếu hiệu quả và an toàn, làm tăng chi phí sản xuất vànguy cơ mất an toàn thực phẩm (ATTP), ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và môitrường, đặc biệt là ở các khu vực nghèo nơi nông dân chủ yếu dựa vào thuốctrừ sâu giá rẻ nhưng thường lạc hậu và độc hơn Mặc dù các chính sách vàquy định về thuốc trừ sâu đã tăng lên nhưng nhà nước vẫn không thể điều tiếtthị trường thuốc trừ sâu Các nguyên nhân chính đằng sau sự thất bại nhànước trong điều tiết thị trường thuốc trừ sâu là ở cách thức quản lý, thamnhũng lớn, thông tin méo mó và một hệ thống pháp luật lỏng lẻo

Trang 9

Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Từ chính sách đến thực tiễn: Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại vùng trồng rau an toàn trên địa bàn xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh" Nhằm tìm hiểu sự khác biệt va nguyên nhân gây ra sự khác biệt giữa

các qui định hiện hành về sản xuất rau an toàn (RAT) và thực tiễn sản xuất

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Đánh giá hiện trạng sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau an toàntại xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

- Tìm hiểu sự khác biệt & nguyên nhân giữa các quy định hiện hànhvề sản xuất rau an toàn (RAT) và thực tiễn sản xuất

- Đề xuất một số giải pháp pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thựchiện các qui định về sản xuất RAT trong lĩnh vực sử dụng thuốc BVTV

1.3 Yêu cầu của đề tài

- Xác định những thuận lợi, khó khăn của điều kiện tự nhiên, kinh tế –xã hội trong phát triển sản xuất RAT

- Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc BVTV tại vùng sản xuất RAT ởxã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

- Chỉ rõ những khác biệt, khó khăn dữa thực tế sản xuất RAT với cácquy định chính sách hiện hành

- Đề xuất một số giải pháp pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vàhạn chế ảnh hưởng của thuốc BVTV tại một số vùng trồng rau sạch tại xãTam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

Trang 10

Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Giới thiệu chung về thuốc BVTV

2.1.1 Phân loại thuốc BVTV

a Phân loại theo tính độc

Các nhà sản xuất thuốc BVTV luôn ghi rõ độc tính của từng loại.Đơn vị đo lường được biểu thị dưới dạng LD50 (Lethal Dose 50 là liềulượng chất độc gây chết 50% số cá thể dùng trong nghiên cứu) và tínhbằng mg/kg cơ thể Các loại thuốc BVTV được chia mức độ độc như sau:

• Vạch màu đỏ trờn nhón là thuốc độc nhóm I, rất nguy hiểm

• Vạch màu vàng là thuốc độc nhóm II, cảnh báo có hại

• Vạch màu xanh da trời là thuốc độc nhóm III, lưu ý cẩn thận

• Vạch màu xanh lá cây là thuốc độc nhóm IV, ít độc

Nhà sản xuất dùng kí hiệu đầu lâu gạch chéo là vô cùng nguy hiểm,rất độc, có thể gây chết người

Bảng 2.1 – Phân loại thuốc BVTV theo tính độc.

Mức độ độc

LD50 với chuột (mg/kg)

Thuốc rắn Thuốc nước Thuốc rắn Thuốc nước

Nhóm III 50 - 500 200 - 2000 100 - 1000 400 - 4000Nhóm IV > 500 > 2000 > 1000 > 4000

(Nguồn: Cách phân nhóm độc của tổ chức WHO)

Nói chung, thuốc BVTV có LD50 thấp thì có độ độc cao và ngượclại Cho nên, trong khi sử dụng nhiều loại có cùng tác dụng như nhau, nênchọn loại thuốc có LD50 cao, vì an toàn hơn

b Phân loại theo công dụng

Thuốc BVTV được chia thành từng nhóm tuỳ theo công dụng củachúng và thường được chia làm 2 loại chính là thuốc trừ sâu, thuốc diệt

Trang 11

cỏ; ngoài ra cũng có thuốc trừ bệnh, thuốc diệt chuột và chất điều hoàsinh trưởng cây trồng.

Thuốc trừ sâu là chất hay hỗn hợp các chất có tác dụng tiêu diệt,

xua đuổi hay di chuyển bất kỳ loại côn trùng nào có mặt trong môitrường Chúng được dùng để diệt trừ hoặc ngăn ngừa tác hại của côn trùngđến cây trồng, cây rừng, nông lâm sản, gia súc và con người Bao gồm cácthuốc diệt trứng và thuốc diệt ấu trùng để diệt trứng và ấu trùng của côntrùng Các loại thuốc trừ sâu thường gặp:

Các loại thuốc trừ sâu ngấm vào cơ thể : được kết hợp vào trongcác loại cây được xử lý Các loại côn trùng ăn vào thuốc trừ sâu khi ăncây

Các loại thuốc trừ sâu tiếp xúc độc hại với côn trùng: có tiếp xúc

trực tiếp với chúng Tính hiệu quả thường liên quan tới số lượng sử dụng ,với các giọt nhỏ (như sương ) thường cải thiện tính năng

Các loại thuốc trừ sâu tự nhiên: như các chiết xuất nicotine ,pyrethrum và neem do các loại cây tạo ra để bảo vệ chống lại côn trùng.Các loại thuốc trừ sâu dựa trên nicotine đã bị cấm tại Hoa Kỳ từ năm 2001

để ngăn chặn dư lượng làm nhiễm độc thực phẩm

Các loại thuốc trừ sâu vô cơ: được sản xuất bằng các kim loại

bao gồm các hợp chất arsenate đồng - và fluorine , hiện ít được sử dụng, vàsulfur , thường được sử dụng

Các loại thuốc trừ sâu hữu cơ: là các hóa chất tổng hợp chiếm

phần lớn lượng thuốc trừ sâu sử dụng ngày nay

Thuốc diệt cỏ là những hóa chất có khả năng giết chết hoặc ức chế

sự phát triển của cỏ, được dùng để diệt trừ các loại thực vật hoang dại (cỏdại, cây dại) mọc lẫn với cây trồng, tranh chấp nước, chất dinh dưỡng,ánh sáng với cây trồng, khiến cho cây sinh trưởng và phát triển kém, ảnhhưởng xấu đến năng suất cây trồng và phẩm chất nông sản Đây là nhómthuốc dễ gây hại cho cây trồng nhất Vì vậy khi dựng các thuốc trong

Trang 12

nhóm này cần đặc biệt thận trọng.

Bảng 2.2 – Phân loại thuốc diệt cỏ.

Thuốc trừ cỏ

không chọnlọc

Những thuốc trừ cỏ khi dùng gây độccho mọi loại cỏ và cây trồng

Thuốc trừ cỏ

nội hấp

Xâm nhập qua lá hoặc qua rễ và thuốcdịch chuyển khắp trong cây và gây độccho cỏ dại

Theo thời gian

sử dụng

Thuốc trừ cỏ

chưa làm đất

Dùng trên ruộng chưa gieo trồng cónhiều cỏ dại, sau một thời gian thuốc bịphân huỷ, không hại cây trồng

Thuốc trừ cỏ

dùng sau khigieo hạt

Những thuốc trừ cỏ xử lý đất, chỉ diệtcỏ dại mới nảy mầm (còn gọi là thuốctrừ cỏ tiền nẩy mầm)

Thuốc trừ cỏ

trên ruộng có

cây trồngđang sinhtrưởng

Những thuốc trừ cỏ chọn lọc và phảidùng vào thời kỳ mà cây có sức chốngchịu cao, còn cỏ dại có sức chống chịuyếu đối với thuốc

(Nguồn: Giáo trình sử dụng thuốc BVTV – Trường ĐH Nông nghiệp HN)

Thuốc trừ bệnh: bao gồm các hợp chất có nguồn gốc hoá học (vô

cơ và hữu cơ), sinh học (vi sinh vật và các sản phẩm của chúng, nguồngốc thực vật), có tác dụng ngăn ngừa hay diệt trừ các loài vi sinh vật gâyhại cho cây trồng và nông sản (nấm ký sinh, vi khuẩn, xạ khuẩn) bằngcách phun lên bề mặt cây, xử lý giống và xử lý đất Thuốc trừ bệnh dùng

để bảo vệ cây trồng trước khi bị các loài vi sinh vật gây hại tấn công tốthơn là diệt nguồn bệnh và không có tác dụng chữa trị những bệnh do

Trang 13

những yếu tố phi sinh vật gây ra (thời tiết, đất úng, hạn ) Thuốc trừ bệnhbao gồm cả thuốc trừ nấm (Fungicides) và trừ vi khuẩn (Bactericides).Thường thuốc trừ vi khuẩn có khả năng trừ được cả nấm; còn thuốc trừnấm thường ít có khả năng trừ vi khuẩn

Dựa theo tác động của thuốc đến vi sinh vật, có thể phân các thuốctrừ bệnh thành 2 nhóm:

Thuốc có tác dụng phòng bệnh (còn gọi là thuốc có tác dụng bảo

vệ cây): Thuốc được phun xịt lên cây hoặc trộn - ngâm hạt giống, có tácdụng ngăn ngừa vi sinh vật gây bệnh có thể xâm nhập vào bên trong môthực vật để phát triển rồi gây hại cho cây Những thuốc này phải đượcdùng sớm, khi dự báo bệnh có khả năng xuất hiện và gây hại cho thực vật.Nếu dùng chậm thuốc không thể ngăn chặn được bệnh phát triển Ví dụ:Boocđô, Đồng oxyclorua, Monceren, Mancozeb…

Thuốc có tác dụng trừ bệnh: Khi phun lên cây, thuốc có khả năng

xâm nhập dịch chuyển bên trong mô thực vật và diệt được vi sinh vật gâybệnh đang phát triển ở bên trong mô thực vật Nhiều loại thuốc trừ bệnhthông dụng ở nước ta là những thuốc có tác dụng trị bệnh như Aliette,Anvil, Kitazin, Validacin, …

Muốn đạt hiệu quả phòng trừ bệnh cao những thuốc có tác dụng trừbệnh cũng cần được phun sớm, khi bệnh chớm phát hiện Phun muộn thìcho dù có diệt được nấm bệnh ở bên trong mô thực vật, nhưng cây sẽ khóhồi phục và điều này sẽ ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, chất lượngnông sản

Thuốc diệt chuột: là những hợp chất vô cơ, hữu cơ; hoặc có nguồn

gốc sinh học có hoạt tính sinh học và phương thức tác động rất khác nhau,được dùng để diệt chuột gây hại trên ruộng, trong nhà và kho tàng Chúngtác động đến chuột chủ yếu 2 con đường vị độc và xông hơi (ở nơi kínđáo)

Trang 14

Chất điều hoà sinh trưởng cây trồng: còn được gọi là chất (thuốc)

kích thích sinh trưởng cây trồng Ở nồng độ thích hợp, các hợp chất nàykích thích cây sinh trưởng và phát triển, tăng tỷ lệ nảy mầm, tăng sứcsống của mầm, giúp cây nhanh ra rễ, lá, hoa, quả, rút ngắn thời gian sinhtrưởng tăng năng suất và chất lượng nông sản Ở nồng độ cao thuốc dễgây hại cho thực vật Thuốc ít độc với động vật có vú, môi sinh và môitrường

Các nhóm thuốc BVTV chỉ diệt trừ được một số loài dịch hại nhấtđịnh, chỉ phát huy hiệu quả tối ưu trong những điều kiện nhất định về thờitiết, đất đai, cây trồng, canh tác…

c Phân loại theo nguồn gốc

Thuốc có nguồn gốc thảo mộc: bao gồm các thuốc BVTV làm từ cây cỏ

hay các sản phẩm chiết xuất từ cây cỏ có khả năng tiêu diệt dịch hại

Thuốc có nguồn gốc sinh học: gồm các loài sinh vật (các loài ký sinh

thiên địch), các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật ( như các loài kháng sinh )có khả năng tiêu diệt dịch hại

Thuốc có nguồn gốc vô cơ: bao gồm các hợp chất vô cơ ( như dung

dịch boocđô, lưu huỳnh và lưu huỳnh vôi ) có khả năng tiêu diệt dịch hại

Thuốc có nguồn gốc hữu cơ: Gồm các hợp chất hữu cơ tổng hợp có khả

năng tiêu diệt dịch hại (như các hợp chất clo hữu cơ, lân hữu cơ, cacbamat )

2.1.2 Vai trò, ý nghĩa của thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp

Để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng do việc bùng nổ dân số, cùngvới xu hướng đô thị hoá và công nghiệp hoá ngày càng mạnh, con người chỉcòn một cách duy nhất: thâm canh để tăng sản lượng cây trồng

Khi thâm canh cây trồng, một hậu quả tất yếu không thể tránh được làgây mất cân bằng sinh thái, kéo theo sự phá hoại của dịch hại ngày càng tăng

Để giảm thiệt hại do dịch hại gây ra, con người ta phải đầu tư thêm kinh phí

Trang 15

để tiến hành các biện pháp phòng trừ, trong đó biện pháp hoá học được coi làquan trọng.

Biện pháp hoá học BVTV đóng một vai trò quan trọng trong sản

xuất nông nghiệp với nhiều ưu điểm nổi trội

• Thuốc hoá học có thể diệt dịch hại nhanh, triệt để, đồng loạt trên diệnrộng và chặn đứng những trận dịch trong thời gian ngắn mà các biện phápkhác không thể thực hiện được

• Biện pháp hoá học đem lại hiệu quả phòng trừ rõ rệt, kinh tế, bảo vệđược năng suất cây trồng, cải thiện chất lượng nông sản và mang lại hiệu quảkinh tế, đồng thời cũng giúp giảm được diện tích canh tác

• Biện pháp hoá học dễ dùng, có thể áp dụng ở nhiều vùng khác nhau,đem lại hiệu quả ổn định và nhiều khi là biện pháp phòng trừ duy nhất

Đến nay, thuốc BVTV đã để lại những dấu ấn quan trọng trong hầu hếtcác lĩnh vực của nền nông nghiệp hiện đại Nhưng loài người vẫn tiếp tục tìmkiếm các dạng sản phẩm mới dễ sử dụng hơn, có hiệu lực trừ dịch hại caohơn, thân thiện hơn với môi sinh và môi trường

Thuốc BVTV cũng là một trong những nhân tố gây mất ổn định môi trường Do bị lạm dụng, thiếu kiểm soát, dùng sai, nên nhiều mặt tiêu cực của thuốc BVTV đã bộc lộ như: Gây ô nhiễm nguồn nước và đất; để lại dư

lượng trên nông sản, gây độc cho người và nhiều loài động vật máu nóng; gâymất sự cân bằng trong tự nhiên, làm suy giảm tính đa dạng của sinh quần,xuất hiện các loài dich hại mới, tạo tính chống thuốc của dịch hại và làm đảolộn các mối quan hệ phong phú giữa các loài sinh vật trong hệ sinh thái, gâybùng phát và tái phát dịch hại, dẫn đến hiệu lực phòng trừ của thuốc bị giảmsút hoặc mất hẳn

Để sử dụng thuốc BVTV được hiệu quả và an toàn, chúng ta phải hiểuđúng và thực hiện đúng nguyên tắc “bốn ñúng”: đúng thuốc; đúng lúc; đúngnồng độ liều lượng và đúng cách

Trang 16

Muốn thực hiện tốt được các nguyên tắc trên, chúng ta phải hiểu thấuđáo mối quan hệ qua lại giữa chất độc, dịch hại và điều kiện ngoại cảnh.; phảikết hợp hài hoà giữa biện pháp hoá học với các biện pháp BVTV khác tronghệ thống phòng trừ tổng hợp.

2.2 Lịch sử phát triển, tình hình sản xuất và sử dụng thuốc BVTV trên thế giới và tại Việt Nam

2.2.1 Lịch sử phát triển thuốc BVTV trên thế giới

Hoá chất bảo vệ thực vật được sử dụng từ thời thượng cổ Theo một sốtriết gia cổ đại cho biết thì việc sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật đã có từ xaxưa qua việc dùng một số lá cây dải xuống chỗ nằm để tránh côn trùng đốt.Theo tài liệu của Hassall (1982) thì việc sử dụng các chất vô cơ để tiêu diệtcác loại côn trùng đã có từ thời Hy Lạp cổ đại

Loại thuốc trừ sâu DDT đã được Zeidler tìm ra tại Thụy Sỹ năm 1924,hợp chất phối pho hữu cơ trừ sâu HETP đã được phát minh và sử dụng ở Đứcnăm 1942 do Cshoender Cùng thời gian đó các chất hoá học này đã được sửdụng rất nhiều ở Vương quốc Anh và một loại thương phẩm thuốc diệt cỏthuộc nhóm axit

Theo Nguyễn Trần Oánh và CS (2007) Quá trình phát triển củathuốc BVTV trên thế giới chia thành các giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1 (Trước thế kỷ 20): Với trình độ canh tác lạc hậu, các

giống cây trồng có năng suất thấp, tác hại của dịch hại còn chưa lớn Đểbảo vệ cây, người ta dựa vào các biện pháp canh tác, giống sẵn có Sựphát triển nông nghiệp trông chờ vào sự may rủi Tuy con người đã pháthiện ra cách sử dụng một số chất hóa học để diệt trừ sâu bệnh như:

• 1848, lưu huỳnh trừ bệnh phấn trắng Erysipphacea hại nho

• Dung dịch boocđô ra đời năm 1879; lưu huỳnh vôi dùng để trừrệp sáp Aspidiotus perniciosus hại cam (1881)

• Mở đầu cho việc dùng các chất xông hơi trong BVTV là sự kiện

Trang 17

dùng HCN trừ rệp vảy Aonidiella aurantii hại cam (1887)

• 1889, aseto asenat đồng dùng trừ sâu Leptinotarsa decemeatas hạikhoai tây

• 1892, asenat chì trừ sâu rừng Porthetria despr, sâu ăn quả

• Nửa cuối thế kỷ 19, dùng cacbon disulfua (CS2) để chống chuộtđồng và các ổ rệp Pluylloxera hại nho Nhưng những biện pháp hoá họclúc này vẫn chưa có một vai trò đáng kể trong sản xuất nông nghiệp

Giai đoạn 2 ( Từ đầu thế kỷ 20 đến năm 1960): Các thuốc trừ dịch

hại hữu cơ ra đời, làm thay đổi vai trò của biện pháp hoá học trong sảnxuất nông nghiệp Lúc này người ta cho rằng: Mọi vấn đề BVTV đều cóthể giải quyết bằng thuốc hoá học Biện pháp hoá học bị khai thác ở mứctối đa, thậm chí người ta còn hy vọng, nhờ thuốc hoá học để loại trừ hẳnmột loài dịch hại trong một vùng rộng lớn Từ cuối những năm 1950,những hậu quả xấu của thuốc BVTV gây ra cho con người, môi sinh vàmôi trường được phát hiện Khái niệm phòng trừ tổng hợp sâu bệnh rađời

Giai đoạn 3 (những năm 1960- 1980): Việc lạm dụng thuốc BVTV

đã để lại những hậu quả rất xấu cho môi sinh môi trường dẫn đến tìnhtrạng, nhiều chương trình phòng chống dịch hại của nhiều quốc gia và các

tổ chức quốc tế dựa vào thuốc hoá học đã bị sụp đổ; tư tưởng sợ hãi,không dám dùng thuốc BVTV xuất hiện; thậm chí có người cho rằng, cầnloại bỏ không dùng thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp

Tuy vậy, các loại thuốc BVTV mới có nhiều ưu điểm, an toàn hơnđối với môi sinh môi trường, như thuốc trừ cỏ mới, các thuốc trừ sâu bệnhcó nguồn gốc sinh học hay tác động sinh học, các chất điều tiết sinhtrưởng côn trùng và cây trồng vẫn liên tục ra đời Lượng thuốc BVTVđược dựng trờn thế giới không những không giảm mà còn tăng lên khôngngừng

Giai đoạn 4 (từ những năm 1980 đến nay): Vấn đề bảo vệ môi

Trang 18

trường được quan tâm hơn bao giờ hết Nhiều loại thuốc BVTV mới,trong đó có nhiều thuốc trừ sâu bệnh sinh học, có hiệu quả cao với dịchhại, nhưng an toàn với môi trường ra đời Vai trò của biện pháp hoá họcđã được thừa nhận Tư tưởng sợ thuốc BVTV cũng bớt dần Quan điểmphòng trừ tổng hợp được phổ biến rộng rãi.

2.2.2 Tình hình sản xuất và sử dụng thuốc BVTV trên thế giới

Mặc dù sự phát triển của biện pháp hoá học có nhiều lúc thăng trầm,song tổng giá trị tiêu thụ thuốc BVTV trên thế giới và số hoạt chất tănglên không ngừng, số chủng loại ngày càng phong phú Nhiều thuốc mới vàdạng thuốc mới an toàn hơn với môi sinh môi trường liên tục xuất hiệnbất chấp các quy định quản lý ngày càng chặt chẽ của các quốc gia đốivới thuốc BVTV và kinh phí đầu tư cho nghiên cứu để một loại thuốc mới

ra đời ngày càng lớn

Trong 10 năm gần đây tổng lượng thuốc BVTV tiêu thụ có xuhướng giảm, nhưng giá trị của thuốc tăng không ngừng Nguyên nhân là

cơ cấu thuốc thay đổi: nhiều loại thuốc cũ, giá rẻ, dùng với lượng lớn, độcvới môi sinh môi trường được thay thế dần bằng các loại thuốc mới hiệuquả, an toàn và dùng với lượng ít hơn, nhưng lại có giá thành cao

Tuy vậy, mức đầu tư về thuốc BVTV và cơ cấu tiêu thụ các nhómthuốc tuỳ thuộc trình độ phát triển và đặc điểm canh tác của từng nước.Ngày nay, biện pháp hoá học BVTV được phát triển theo các xu hướngchính sau:

• Nghiên cứu tìm ra các hoạt chất mới có cơ chế tác động mới, cótính chọn lọc và hiệu lực trừ dịch hại cao hơn, lượng dùng nhỏ hơn, tồnlưu ngắn, ít độc và dễ dùng hơn Thuốc trừ sâu tác dụng chậm (điều khiểnsinh trưởng côn trùng, pheromon, các chất phản di truyền, chất triệt sản)là những ví dụ điển hình Thuốc sinh học được chú ý dùng nhiều hơn

• Tìm hiểu các phương pháp và nguyên liệu để gia công thành các

Trang 19

dạng thuốc mới ít ô nhiễm, hiệu lực dài, dễ dùng, loại dần dạng thuốc gây

ô nhiễm môi trường

• Nghiên cứu công cụ phun rải tiên tiến và cải tiến các loại công cụhiện có để tăng khả năng trang trải, tăng độ bám dính, giảm đến mức tốithiểu sự rửa trôi của thuốc Chú ý các phương pháp sử dụng thuốc khácbên cạnh phun thuốc còn đang phổ biến Thay phun thuốc sớm, đại trà vàđịnh kỳ bằng phun thuốc khi dịch hại đạt đến ngưỡng

2.2.3 Lịch sử phát triển, tình hình sản xuất và sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam

Theo Nguyễn Trần Oánh và cộng sự (2007), chia thành ba giaiđoạn:

Giai đoạn trước năm 1957: Biện pháp hoá học hầu như không có vị

trí trong sản xuất nông nghiệp Một lượng rất nhỏ sunfat đồng được dùng

ở một số đồn điền do Pháp quản lý để trừ bệnh gỉ sắt cà phê và bệnh thối

gốc chảy mủ cao su và một ít DDT được dùng để trừ sâu hại rau.

Việc thành lập Tổ Hoá Bảo vệ thực vật (1/1956) của Viện Khảo cứutrồng trọt đã đánh dấu sự ra đời của ngành Hoá Bảo vệ thực vật ở Việtnam Thuốc BVTV được dùng lần đầu trong sản xuất nông nghiệp ở miềnBắc là trừ sâu gai, sâu cuốn lá lớn bùng phát ở Hưng yên (vụ đông xuân1956-1957) Ở miền Nam, thuốc BVTV được sử dụng từ 1962

Giai đoạn từ 1957 - 1990: Thời kỳ bao cấp Việc nhập khẩu, quản

lý và phân phối thuốc do nhà nước độc quyền thực hiện Nhà nước nhậprồi trực tiếp phân phối thuốc cho các tỉnh theo giá bao cấp Bằng mànglưới vật tư nông nghiệp địa phương, thuốc BVTV được phân phối thẳngxuống HTX nông nghiệp Ban Quản trị HTX quản lý và giao cho tổBVTV hướng dẫn xã viên phòng trị dịch hại trên đồng ruộng Lượngthuốc BVTV dùng không nhiều, khoảng 15000 tấn thành phẩm/ năm vớikhoảng 20 chủng loại thuốc trừ sâu (chủ yếu) và thuốc trừ bệnh Đa phần

Trang 20

là các thuốc có độ tồn lưu lâu trong môi trường hay có độ độc cao Việcquản lý thuốc lúc này khá dễ dàng, thuốc giả thuốc kém chất lượng khôngcó điều kiện phát triển Song tình trạng phân phối thuốc không kịp thời;đáp ứng không đúng chủng loại, nơi thừa, nơi thiếu, gây tình trạng khanhiếm giả tạo, dẫn đến hiệu quả sử dụng thuốc thấp Mặt khác, người nôngdân không có điều kiện lựa chọn thuốc, thiếu tính chủ động và ỷ lại nhànước

Tuy lượng thuốc dùng ít, nhưng tình trạng lạm dụng thuốc BVTVvẫn nảy sinh Để phòng trừ sâu bệnh, người ta chỉ biết dựa vào thuốcBVTV Thuốc dùng tràn lan, phun phòng là phổ biến, khuynh hướng phunsớm, phun định kỳ ra đời, thậm chí dùng thuốc cả vào những thời điểmkhông cần thiết; tình trạng dùng thuốc sai kỹ thuật nảy sinh khắp nơi;thậm chí người ta còn hy vọng dùng thuốc BVTV để loại trừ hẳn một loàidịch hại ra khỏi một vùng rộng lớn Thuốc đã để lại những hậu quả rấtxấu đối với môi trường và sức khoẻ con người

Khi nhận ra những hậu quả của thuốc BVTV, cộng với tuyên truyềnquá mức về tác hại của chúng đã gây nên tâm lý sợ thuốc Từ cuối nhữngnăm 80 của thế kỷ 20, đã có nhiều ý kiến đề xuất nên hạn chế, thậm chíloại bỏ hẳn thuốc BVTV; dùng biện pháp sinh học để thay thế biện pháp

hoá học trong phòng trừ dịch hại nông nghiệp

Giai đoạn từ 1990 đến nay: Thị trường thuốc BVTV đã thay đổi cơ

bản: nền kinh tế từ tập trung bao cấp chuyển sang kinh tế thị trường Nămthành phần kinh tế, đều được phép kinh doanh thuốc BVTV Nguồn hàngphong phú, nhiều chủng loại được cung ứng kịp thời, nông dân có điềukiện lựa chọn thuốc, giá cả khá ổn định có lợi cho nông dân Lượng thuốcBVTV tiêu thụ qua các năm đều tăng Nhiều loại thuốc mới và các dạngthuốc mới, hiệu quả hơn, an toàn hơn với môi trường được nhập Mộtmạng lưới phân phối thuốc BVTV rộng khắp cả nước đã hình thành, việc

Trang 21

cung ứng thuốc đến nông dân rất thuận lợi Công tác quản lý thuốc BVTVđược chú ý đặc biệt và đạt ñược hiệu quả khích lệ

Nhưng do nhiều nguồn hàng, mạng lưới lưu thông quá rộng đã gâykhó cho công tác quản lý; quá nhiều tên thuốc đẩy người sử dụng khó lựachọn được thuốc tốt và việc hướng dẫn kỹ thuật dùng thuốc cũng gặpkhông ít khó khăn Tình trạng lạm dụng thuốc, tư tưởng ỷ lại biện pháphoá học đã để lại những hậu quả xấu cho sản xuất và sức khoẻ con người.Ngược lại, có nhiều người “bài xích” thuốc BVTV, tìm cách hạn chế,thậm chí đòi loại bỏ thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp và tìm cáchthay thế bằng các biện pháp phòng trừ khác

2.3 Các vấn đề phát sinh do sử dụng thuốc BVTV

2.3.1 Sinh học

a Tác động tiêu cực đến thiên địch và các sinh vật khác

Tính đa dạng trong hệ sinh thái nông nghiệp tuy không phong phú bằnghệ sinh thái tự nhiên, nhưng cũng rất phức tạp và luôn thay đổi dưới tác độngcủa con người Thuốc BVTV là một trong nhưng yếu tố quan trọng do conngười tạo ra làm mất tính ổn định của quần thể sinh vật

Theo Pimetel (1971), để chống lại 1000 loài sâu hại, thuốc trừ sâu đãtác động đến khoảng 200 ngàn loài động thực vật khác nhau, trong đó cónhiều loài không những không phải là đối tượng phòng trừ mà còn rất cần chosự tồn tại và phát triển của con người

Thuốc BVTV dùng trên qui mô càng lớn, thời gian dùng càng dài, sốlần phun thuốc càng nhiều, sẽ làm giảm càng mạnh số cá thể trong loài vàgiảm số loài trong quần thể Các thuốc trừ sâu trước tiên làm giảm số lượngcác loài côn trùng và nhện có ích (Crofts và Brown, 1975) Sau 8 năm dùng

thuốc DDT và Wofatox tỷ lệ ong ký sinh trên sâu non sâu loang Earias fabia

hại bông đã giảm từ 38.4% xuống còn 0.32% Ở Định Tường, khi dùng càng

nhiều hỗn hợp DDT và Wofatox đã làm cho mật độ sâu xanh Heliothis

Trang 22

armigera càng tăng và ngược lại mật độ ong ký sinh lưng cong càng giảm (Lê

Trường, 1965)

Các loài ký sinh thiên địch thường mẫn cảm với thuốc trừ sâu hơn sâuvà nhện gây hại vì: Sau mỗi lần dùng thuốc, số côn trùng và nhện gây hại bịchết nhiều, làm cho ký sinh thiếu thức ăn, bị đói mà chết; phần còn sống, lạibị ngộ độc bởi các con mồi đã trúng thuốc (Ahmed 1954), nên khả năng hồiphục số lượng quần thể chậm hơn dịch hại Các thuốc trừ nấm trừ cỏ cũng ảnhhưởng đến sự phát triển của côn trùng và nhện, trong một số trường hợpthuốc tỏ ra rất độc với một số loài côn trùng có ích Nhưng những tác độngnày không mạnh bằng tác động của các thuốc trừ sâu

b Xuất hiện dịch hại mới hay bùng phát dịch hại thứ cấp

Sau một thời gian dùng thuốc, một số loài dịch hại chủ yếu trước đây,chỉ còn gây hại không đáng kể Ngược lại, một số loài dịch hại trước đâykhông được coi trọng, lại trở nên rất nguy hiểm, gây những tổn thất to lớn.Việc phòng trừ những loài dịch hại mới nổi lên này thường phức tạp và khókhăn hơn trước nhiều

Hậu quả của việc sử dụng các loại dầu và các thuốc trừ sâu tổng hợp

hữu cơ trên vườn cây ăn quả đã làm nhện đỏ Malatetranychus ulmi từ chỗ

không phải là dịch hại đáng quan tâm vào những năm 20 đã trở thành đốitượng gây hại chủ yếu của những năm 50 của thế kỷ 20 (Jacob,1958)

Ở Việt nam, sau 6-7 năm dùng thuốc DDT, Wofatox để trừ sâu hạichính trên chè, cam quít và bông đã làm cho nhện hại cây từ chỗ là dịch hạikhông đáng quan tâm trở thành một loài dịch hại nguy hiểm gây khô lá trêndiện rộng Các loài rệp sáp theo đó cũng phát triển mạnh (Vũ Công Hậu,1969; Hồ Khắc Tín, 1982) Trên bông, ngoài nhện, còn có nhiều đối tượng

mới, mới phát sinh như rầy xanh Chlorita bigutula (hậu quả dùng DDT và 666); sâu xanh Heliothis spp (hậu quả dùng các thuốc clo và lân hữu cơ); sâu

ăn lá Spodoptera erigra mới xuất hiện nhiều ở vùng bông Nha hố từ khi dùng

Trang 23

nhiều thuốc trừ sâu để trừ sâu loang và sâu xanh (Nguyễn Thị Toàn, 1983).

Năm 1942, sâu xanh bướm trắng Pieris rapae là sâu hại chủ yếu trên rau họ

thập tự ở nước ta Sau một thời gian dùng thuốc để trừ sâu này, đén nay, sâu

xanh bướm trắng đã gây hại không đáng kể; thay vào đó, sâu tơ Pluttella

xylostella trước kia không phải là loài sâu hại quan trọng, thì nay đã trở thành

đối tượng gây hại nguy hiểm, khó phòng trừ nhất trong các loài sâu hại hiệnnay

Việc thay đổi thành phàn các thuốc trừ cỏ trên ruộng lúa Nhật Bản cũnglà một ví dụ lý thú Những thuốc trừ cỏ clofenoxi (như 2,4-D, MCPA) đượcdùng để trừ cỏ lá rộng và cói lác vào những năm 50, được thay thế dần bằngcác loại thuốc có hiệu lực trừ cỏ lồng vực như DCPA và Saturn vào nhữngnăm 60 (Nassas, 1966) Đến những năm 70 của thế kỷ 20, người ta đã phảidùng các thuốc trừ cỏ mới để trừ các loại cỏ lâu năm, thân ngầm, ngày cànglan rộng (Nakayama, 1970)

Việc dùng lâu dài các thuốc trừ nấm Benomyl và Benzimidazole đã làm

cho bệnh thối thân đậu đũa Pythium aphanidermatum gây hại nặng hơn

(Smith, 1970; Williams, 1975) Bón Heptaclo để trừ sâu đất đã làm tăngnhanh bệnh thối rễ đại mạch ( Richard, 1975) Thuốc trừ cỏ Trifluralid đã làm

cho bệnh lở cổ rễ bông Rhizoctonia solani hay 2,4-D làm cho bệnh virus

TMV trên dưa chuột, thuốc lá, bông gây hại nặng hơn (Kantan và Eshel,1972)

Như vậy, dịch hại mới không phải là những dịch hại từ nơi khác dichuyển đến, mà là dịch hại thứ yếu có ngay tại địa phương đó mới bùng phátmà thành

Sự hình thành loài dịch hại mới là kết quả của sự sai khác về độ mẫncảm giữa các loài và khả năng hình thành tính chống thuốc sớm hơn các loàikhác

c Sự tái phát của dịch hại:

Trang 24

Ngay sau khi dùng thuốc trừ sâu hay trừ nhện, số lượng dịch hại giảm

đi nhanh chóng Sau một thời gian ngắn, chúng lại hồi phục số lượng nhưngnhiều hơn trước Để chống lại, người ta lại dùng thuốc, quá trình đó cứ lặp lại

Để khắc phục, người ta lại tăng nồng độ/liều lượng, tăng số lần dùng thuốc,khoảng cách giữa các lần dùng thuốc ngắn lại Kết quả thời gian dịch hại hồiphục lại số lượng quần thể càng ngắn dần, số lần tái phát càng nhanh và năngthêm, dịch hại dễ chống thuốc, đời sống các sinh vật có ích càng bị đe doạ,

môi trường sinh sống càng bị ô nhiễm Hiện tượng này được gọi là sự tái phát

của dịch hại và được nghiên cứu nhiều trên nhện và côn trùng.

Hiện tượng tái phát rầy nâu Nilaparvata lugens ở vùng Đông Nam A

cũng là một ví dụ điển hình Để chống rầy nâu trên lúa nương, Viện lúa Quốctế (IRRI) đã phun Decamethrin, Wofatox và Diazinon ở dạng lỏng với lượng0.75kga.i./ha vào những ngày thứ 49-72 và 94 sau gieo Trước khi phun thuốclần thứ 3, mật độ rầy nâu của ô phun thuốc cao hơn đối chứng theo thứ tựthuốc là 16.4-6.0 và 4.7 lần Diện tích cháy rầy ở 117 ngày sau gieo cũng ở ôđối chứng là 4%; nhưng ở các công thức phun thuốc lần lượt là 100-75 và55%.Trên ô phun Bassa và Pertan không có hiện tượng tái phát của rầy( Heinrichs,1978)

Theo Lê Thị Nhung (2000), sau khi phun Sherpa 25EC 14 ngày cho chè

đã có hệ số tái phát với bọ cánh tơ Physothrips stiventris 37 lần; rẫy xanh

Empoasca flavescens 26 lần

Hiện tượng tái phát của dịch hại phổ biến cả trên cạn, dưới nước; cảvùng ôn đới và nhiệt đới Riêng ở châu Âu đã có 50 loài côn trùng và nhệngây hại trên các giống cây trồng chính đã có hiện tượng này (Rud, 1970) Ôngđã tổng kết các nguyên nhân gây ra hiện tượng tái phát của dịch hại là: Thuốchoá học ở liều thấp đã kích thích những cá thể sống sót phát triển mạnh hơn

do chúng được hưởng nguồn dinh dưỡng phong phú dồi dào hơn (số lượng cáthể dịch hại giảm do dùng thuốc); chất lượng thức ăn cao hơn (do cây không

Trang 25

bị dịch hại gây hại) nên tăng sức sống, tăng khả năng sinh sản, mật độ quầnthể mau hồi phục

Theo Maggi và Leigh (1983), khi phun thuốc trừ sâu Wofatox (Methyl

parathion) cho bông, đã làm tăng lượng trứng đẻ của nhện đỏ Tetranychus

urticae Những cá thể sống sót hình thành tính chống thuốc và đã làm thay đổi

đặc tính sinh học của loài Thuốc BVTV làm giảm số loài và số lượng cá thểsinh vật có ích (do số lượng cá thể dịch hại giảm, sinh vật có ích thiếu thức ănmà chết) Mặt khác, dịch hại có khả năng hồi phục quần thể nhanh hơn sinhvật có ích, dễ gây thành dịch trước khi sinh vật có ích hồi phục đủ số lượng đểkìm hãm dich hại (Brown, 1978)

2.3.2 Kinh tế

Liên tục phụ thuộc vào thuốc BVTV trong nông nghiệp đã đe dọa mộtcách nghiêm trọng cho cả hệ sinh thái và sức khỏe con người Là một nướcdựa trên nông nghiệp, Việt Nam hiện nay phải trả chi phí cao cho sự phụthuộc vào thuốc BVTV Chỉ với một vài cơ sở hoạt động sản xuất trong nước,

từ năm 2006 đến nay, Việt Nam nhập khẩu bình quân trên 70.000 tấn thànhphẩm hàng năm với trị giá từ 210 - 774 triệu USD Trên 90% thuốc BVTVđược nhập khẩu từ Trung Quốc Bên cạnh đó, còn có một lượng lớn thuốcBVTV nhập lậu chưa kiểm soát được Tuy nhiên, các chi phí khác là cao hơnnhiều: chi phí xã hội và môi trường liên quan đến việc sử dụng thuốc BVTV,mất cơ hội xuất khẩu do dư lượng thuốc BVTV cao trên sản phẩm, và năngsuất nông nghiệp không ổn định cùng một hệ sinh thái nông nghiệp bị suythoái

Chi phí hàng năm cho sức khỏe con người trong nước và mất cơ hộixuất khẩu các loại rau quả và trái cây có liên quan đến thuốc BVTV ở ViệtNam ước tính khoảng 700 triệu $ Điều này ước tính bằng với giá trị thu nhập

từ xuất khẩu rau quả trong năm 2010, trong đó chi phí về môi trường củathuốc BVTV chưa được bao gồm

Trang 26

2.3.3 Xã hội

a Dư lượng thuốc BVTV gây ô nhiễm môi trường

Dư lượng là phần còn lại của hoạt chất, các sản phẩm chuyển hoá và

các thành phần khác có trong thuốc, tồn tại trên cây trồng, nông sản, đất, nướcsau một thời gian dưới tác động của các hệ sống (living systems) và điều kiệnngoại cảnh ( ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ v.v ) Dư lượng của thuốc được tínhbằng mg (miligam) thuốc có trong 1 kg nông sản, đất hay nước (mg/kg)

Như vậy, dư lượng thuốc BVTV bao gồm bất kỳ dẫn xuất nào củathuốc cũng như các sản phẩm chuyển hoá của chúng có thể gây độc cho môisinh, môi trường

Ô nhiễm không khí

Không khí có thể dễ dàng bị ô nhiễm bởi thuốc BVTV dễ bay hơi, thậmchí không bay hơi như DDT sẽ bay hơi rất nhanh vào không khí trong điềukiện khí hậu thời tiết nóng Ở các vùng nhiệt đới, khoảng 90 % thuốc BVTVphốt pho hữu cơ có thể bay hơi nhanh hơn Các thuốc diệt cỏ cũng bị bay hơinhất là trong quá trình phun thuốc Tuy nhiên theo Ewards có rất ít bằngchứng về tiếp xúc với thuốc BVTV trong không khí gây ảnh hưởng nghiêmtrọng lên sức khỏe con người trừ những nơi mà thuốc BVTV được sử dụngtrong những khu vực bị quây kín, thông khí không được thông thoáng (ĐỗHàm và CS, 2007)

Ô nhiễm đất và nước

Trang 27

Hình 2.1: Con đường di chuyển của thuốc BVTV trong đất

Dù xử lý bằng phương pháp nào, cuối cùng thuốc BVTV cũng đi vào đất, tồntại ở các lớp đất khác nhau, trong các khoảng thời gian không giống nhau.Trong đất thuốc BVTV thường bị VSV đất phân giải hay bị đất hấp phụ (bịsét và mùn hút) Nhưng có nhiều loại thuốc có thời gian phân huỷ dài, khidùng liên tục và lâu dài, chúng có thể tích luỹ trong đất một lượng rất lớn.Tính riêng ở vùng lúa An Giang, mỗi năm người dân ở đây sử dụng hơn247.000 tấn phân bón các loại và hơn 1.000 tấn thuốc BVTV Ngoài số lượngphân bón, thuốc trừ sâu được cây trồng hấp thu, số còn lại sẽ chảy tràn trênđồng ruộng, kênh rạch hay ngấm vào đất, các mạch nước ngầm Chưa kể hầuhết các loại bao bì chai lọ thuốc BVTV được nông dân vứt bỏ bừa bãi trênđồng ruộng cũng là nguyên nhân khiến cho tình trạng ô nhiễm môi trường đấtngày càng trầm trọng, đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe con người

Dư lượng thuốc BVTV trong đất tồn tại dưới 2 dạng:

Dư lượng liên kết: Thuốc BVTV không thể tách chiết bằng các dung

môi thông thường trong phân tích hoá học Ở dạng liên kết, thuốc BVTV ít

Trang 28

được cây hấp thu; không hay ít ảnh hưởng đến điều kiện sinh thái, nên ít có ýnghĩa trong thực tiễn

Dư lượng tự do: Thuốc BVTV có thể tách chiết dễ dàng bằng dung môi

thông thường trong phân tích dư lượng Thuốc BVTV ở dạng tự do trong đấttác động đến môi sinh thể hiện ở: Các thuốc BVTV, đặc biệt là thuốc trừ cỏ cóthời gian tồn tại lâu, có thể gây hại cho cây trồng nối tiếp (thậm chí 1-2 nămsau), hoặc làm cho cây trồng vụ sau trở nên mẫn cảm hơn với thuốc, dẫn đếnnăng suất và chất lượng cây bị ảnh hưởng

Thuốc BVTV dư thừa chảy tràn trên đồng ruộng ra sông, ngòi, kênh,mương hoặc ngấm vào mạch nước ngầm, một phần do ý thức người sử dụngđã xục, rửa, đổ thuốc BVTV dư thừa ra nguồn nước mặt gần đó gây ảnhhưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người sử dụng nguồn nước cũng nhưsinh vật sống trong nước

Cây trồng và nông sản

Thuốc BVTV tồn tại trên cây và nông sản một thời gian là điều cầnthiết để bảo vệ cây trồng và nông sản chống lại sự gây hại của dịch hại ở trênruộng, trong quá trình vận chuyển và bảo quản Nhưng dư lượng của thuốc cótrên nông sản, sẽ là nguồn gây hại cho người tiêu dùng Dư lượng thuốcthường có trên cây trồng nông sản và chỉ gây hại khi chúng vượt ngưỡng chophép

Ô nhiễm môi trường do thuốc BVTV ở Việt Nam.

Theo ông Hồ Kiên Trung, Phó Cục trưởng Cục Quản lý chất thải và Cảithiện môi trường Tổng Cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường chobiết, với lượng thuốc BVTV sử dụng rất lớn, ô nhiễm môi trường do hóa chấtBVTV tồn lưu gây ra tại Việt Nam đang trở nên ngày một nghiêm trọng hơn.Kết quả điều tra, thống kê về các điểm tồn lưu hóa chất BVTV từ năm 2007đến năm 2009 đã phát hiện 1.153 khu vực gây ô nhiễm môi trường trên địabàn 35 tỉnh, thành phố

Trang 29

Trong số này, có khoảng 864 khu vực môi trường đất bị ô nhiễm do hóachất BVTV tồn lưu trên địa bàn 17 tỉnh, thành phố và 289 kho hóa chất bảovệ thực vật tồn lưu trên địa bàn 35 tỉnh, thành phố.

Trong đó, 189 khu vực bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng và ô nhiễmnghiêm trọng, 87 khu vực bị ô nhiễm và 588 khu vực đất có ô nhiễm hóa chấtBVTV tồn lưu nhưng vẫn chưa đánh giá chi tiết mức độ ô nhiễm

Kết quả điều tra mới đây nhất của các tỉnh thành phố trực thuộc Trungương đã phát hiện thêm 409 khu vực bị ô nhiễm môi trường do hóa chấtBVTV tồn lưu Hầu hết nằm ở địa bàn các tỉnh miền Bắc và miền Trung

b Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sức khỏe con người

Khi trực tiếp tiếp xúc (công nhân sản xuất thuốc, thủ kho thuốcBVTV ) và sử dụng ( người đi phun thuốc ), thuốc BVTV dễ xâm nhập vào

cơ thể người qua đường tiếp xúc, vị độc, xông hơi, gây nhiễm độc và ngộ độcthuốc BVTV Những người ít hay không tiếp xúc với thuốc BVTV cũng cóthể bị nhiễm độc do ăn, uống những nông sản, nước nguồn, nước mưa có dưlượng thuốc BVTV

Hình 2.2: Tác hại của thuốc BVTV đối với con người

Tuỳ theo mức độ ngộ độc, chúng có thể gây:

Trang 30

Ngộ độc cấp tính (acute poisoning): Xảy ra khi chất độc xâm nhập

vào cơ thể với liều lượng lớn, phá huỷ mạnh các chức năng sống, được thểhiện bằng các triệu chứng rõ ràng, quyết liệt, đặc trưng của mỗi loại chất độc,thậm chí gây chết sinh vật

Ngộ độc mãn tính (chronic poisoning): Xảy ra khi chất độc xâm nhập

vào cơ thể với liều lượng nhỏ, nhiều lần, trong thời gian dài, được tích luỹ lạitrong cơ thể sinh vật( tích luỹ hoá học hay chức năng), những triệu chứng thểhiện chậm, lâu dài, gây tổn thương cho các cơ quan của cơ thể, làm cho sinhvật bị ốm, yếu ( ảnh hưởng đến sức khoẻ của sinh vật, gây đột biến, ung thư,quái thai, thậm chí ảnh hưởng đến sự phát triển của thế hệ sau) và có thể dẫnđến tử vong

Biểu hiện của việc ngộ độc thuốc BVTV ở người:

Trường hợp nhiễm độc nhẹ: Có thể gặp một hoặc nhiều biểu hiện

trong các triệu chứng như: Nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏi, chảy nước miếng,chảy nước mắt

Ngộ độc ở mức độ trung bình: Buồn nôn, nôn, mờ mắt, đánh trống

ngực, tức ngực, đau thắt dạ dày, run rẩy, vã mồ hôi, co đồng tử, mạch chậm,

do thuốc BVTV gây ra có thể ảnh hưởng đến 2 triệu nông dân Việt Nam

Trang 31

2.4 Tổng quan sách quản lý thuốc BVTV của Việt Nam trong những năm qua

Trước những năm 1980, Việt Nam đã sử dụng một hệ thống quản lý tậptrung cho nông nghiệp Thuốc BVTV được nhập khẩu, phân phối và hướngdẫn sử dụng cho các cán bộ nhà nước ở các cấp chính quyền khác nhau Tuynhiên, kể từ khi Việt Nam phát triển hướng tới một nền kinh tế thị trường, bắtđầu từ các chính sách đổi mới được thông qua vào năm 1986, ngành thuốcBVTV được tư nhân hóa nhiều hơn, đặc biệt là đối với việc nhập khẩu thuốcBVTV, sản xuất, xây dựng và phân phối (bán lẻ) Các dịch vụ khuyến nông tưvấn nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp được giới thiệu bởi các công tysản xuất và kinh doanh thuốc BVTV và các nhà bán lẻ tư nhân, cũng là người

tư vấn và thông báo cho nông dân sử dụng thuốc BVTV cho sản xuất rau

Để cung cấp một cơ sở pháp lý cho các tư nhân nhập khẩu thuốcBVTV, sản xuất, đóng gói và phân phối, Bộ NN & PTNT hàng năm (từ năm

1986 trở đi) đã ra một danh sách các loại thuốc BVTV đã được phê duyệt chonhập khẩu, sản xuất, phân phối và sử dụng tại Việt Nam Từ năm 1992 trở đi,danh sách này đã được bao gồm ba loại: loại thuốc BVTV được phép, thuốcBVTV hạn chế sử dụng, và thuốc BVTV bị cấm Thuốc BVTV loại thứ haichỉ có thể được sử dụng tại địa điểm cụ thể, đối với các loại cây trồng cụ thể,với các phương pháp ứng dụng yêu cầu nghiêm ngặt Danh sách các loạithuốc BVTV hàng năm được cập nhật là các loại thuốc BVTV mới đăng kýcũng như phân loại lại thuốc BVTV, giới hạn hoặc cấm sử dụng Danh sáchnày rất quan trọng cho các cơ quan quản lý thuốc BVTV của nhà nước ở tấtcả các cấp để thực hiện các chính sách quốc gia Nó cũng quan trọng đối với

tư nhân trong việc nhập khẩu thuốc BVTV, sản xuất và phân phối

Pháp lệnh số 8-L/CTN ban hành vào năm 1993, là văn bản pháp lý toàndiện đầu tiên về quản lý thuốc trừ sâu tại Việt Nam, phác thảo các mục tiêubảo vệ thực vật; các yêu cầu cho sản xuất thuốc BVTV, phân phối và sử dụng;

Trang 32

trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan nhà nước có liên quan trong việctheo dõi và kiểm tra các hoạt động liên quan đến nhập khẩu, sản xuất, phânphối và sử dụng thuốc BVTV; thiết lập một hệ thống bảo vệ thực vật từ Trungương đến cấp huyện Pháp lệnh số 8-L/CTN đã được sửa đổi vào năm 2001,cùng việc sử dụng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) để kiểm soát sâu bệnhtrong nông nghiệp Việt Nam đã được nhấn mạnh hơn nữa (CHXHCN ViệtNam, 2002 )

Thương mại thuốc BVTV đã đạt được rất nhiều lợi nhuận tại Việt Nam,với một sự gia tăng đáng kể về số lượng của các hoạt chất trong nhiều thập kỷqua Trong năm 2012, Cục Bảo vệ thực vật (một cơ quan của Bộ NN &PTNT) đã ban hành văn bản số 310/BVTV-TTra thắt chặt kiểm soát đối vớicác chương trình không hạn chế sử dụng thuốc BVTV của các công ty thuốcBVTV, ví dụ các tuyên bố về tác dụng phụ tích cực của thuốc BVTV như kíchthích tăng trưởng cây trồng và ra quả thành công (Cục Bảo vệ thực vật, 2012 )

Trong thập kỷ qua, chính phủ Việt Nam đã nỗ lực đáng kể ủng hộ vàthực hiện các chiến dịch giảm thuốc BVTV khác nhau như “3 Giảm, 3 Tăng”,

"1 Phải, 5 Giảm" (nhắm mục tiêu giảm thuốc trừ sâu trong sản xuất lúa gạo),và “4 Đúng” (nhắm mục tiêu vào tất cả các loại cây trồng) Chiến dịch "4Đúng" đã chính thức được thể chế hoá vào năm 2013 trong Luật Bảo vệ vàKiểm dịch thực vật Luật này bao gồm các phần tương tự như Pháp lệnh sửađổi số 8-L/CTN năm 2002, quy định đặc biệt về đăng ký thuốc BVTV, nhưngtập trung vào hiệu quả sinh học là tiêu chí quan trọng nhất đối với đăng kýthuốc BVTV Trong đó tác động (tiêu cực) của thuốc BVTV đối với sức khỏevà môi trường vẫn là trách nhiệm của các công ty thuốc BVTV, thông qua hồ

sơ đăng ký thuốc BVTV mà họ cung cấp cho Bộ NN&PTNT, dự kiến Luật sẽcó tác động hành chính mạnh hơn về thuốc BVTV, như nguồn nhân lực và tàichính được phân bổ nhiều hơn cho việc thực thi các chính sách đăng ký thuốcBVTV và các chiến dịch thuốc trừ

Trang 33

2.5 RAT và vai trò của BVTV

Sản xuất rau quả đang ngày càng tăng một cách bền vững cả về diệntích, chủng loại đa dạng, chất lượng sản phẩm, đồng thời phải được sản xuấtkinh doanh theo tiêu chuẩn rau an toàn, theo quy trình sản xuất nông nghiệptốt (GAP) Ở đây, bảo vệ thực vật có một vai trò hết sức quan trọng, nhiều khiquyết định

Gia tăng sản xuất, gia tăng tiêu dùng đồng thời với sự gia tăng yêu cầu ngày càng cao và khắt khe đối với chất lượng sản phẩm, đặc biệt về vệ sinh an toàn thực phẩm(VSATTP) là yêu cầu ngày càng tăng của sản xuất,

xã hội và người tiêu dùng đối với BVTV.

Chúng ta đều biết, muốn đảm bảo rau có năng suất cao, chất lượng tốtthì phải thực hiện tốt các biện pháp bảo vệ sản xuất, trong đó có việc quản lý,phòng trừ sâu bệnh

Ở đây nổi lên vai trò rất quan trọng nhiều khi quyết định của công tácBVTV Nhiều diện tích rau như rau thập tự, cà chua, khoai tây đã bị mấttrắng vì dịch hại do không coi trọng công việc BVTV

Chúng ta cũng biết, một trong những yếu tố hàng đầu làm mất an toànthực phẩm đối với rau quả, đó là việc ô nhiễm thuốc BVTV ở môi trường sảnxuất rau (đất, nước ) và đặc biệt là việc tồn dư dư lượng thuốc BVTV quámức cho phép trên rau khi thu hoạch và tiêu thụ Ở đây lại nổi lên vai trò quantrọng của công tác BVTV, nhất là việc sử dụng thuốc BVTV

Để đảm bảo sản xuất rau cho năng suất cao, chất lượng tốt, đảm bảo VSATTP, những năm gần đây trên thế giới coi trọng phát triển một chế độ canh tác - sản xuất rau với công nghệ sạch trong “chuỗi thực phẩm khép kín từ trang trại đến bàn ăn”.

Chế độ sản xuất “Thực hành nông nghiệp tốt – GAP" ra đời nhằm đápứng yêu cầu đó GAP, đó là 1 hệ thống các biện pháp tổng hợp về quản lý, tổchức sản xuất, công nghệ, đào tạo nhân lực, chứng nhận sản phẩm, ghi chép

Ngày đăng: 23/05/2019, 01:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w