Bài khóa luận đưa ra những định hướng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng thôn Thái Lai, qua đó khai thác và bảo tồn những tiềm năng du lịch của thôn, từng bước n
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA ĐỊA LÝ
NGUYỄN HOÀI LINH
PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI THÔN THÁI LAI XÃ HÒA NHƠN,
HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
CHUYÊN NGÀNH: ĐỊA LÝ HỌC – ĐỊA LÝ DU LỊCH
KHÓA 14 (2014 – 2018)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đà Nẵng, 05/2018
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA ĐỊA LÝ
NGUYỄN HOÀI LINH
PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI THÔN THÁI LAI XÃ HÒA NHƠN,
HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
CHUYÊN NGÀNH: ĐỊA LÝ HỌC – ĐỊA LÝ DU LỊCH
KHÓA 14 (2014 – 2018)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Giáo viên hướng dẫn: ThS Đoàn Thị Thông
Đà Nẵng, 05/2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Thầy Cô giáo của Khoa địa lý – Trường đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã trực tiếp hoặc gián tiếp giảng dạy truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên ngành bổ ích cho bản thân em trong những năm tháng qua
Em xin gửi tới cơ quan Sở Du lịch của thành phố Đà Nẵng và Phòng Văn Hóa Thông Tin của huyện Hòa Vang lời cảm tạ sâu sắc nhất vì đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp em có thể thu thập số liệu cùng những tài liệu nghiên cứu cần thiết liên quan tới đề tài tốt nghiệp một cách dễ dàng và thuận tiện nhất
Em xin được ghi nhận công sức và những đóng góp quý báu và nhiệt tình của
cô Th.S Đoàn Thị Thông đã đóng góp ý kiến và giúp đỡ cùng em triển khai, điều tra và thu thập những số liệu ngoại nghiệp Để có được sự thành công của khóa luận này, trước hết thuộc về của nhà trường và xã hội đã tạo điều kiện hướng dẫn và giúp đỡ, đặc biệt là sự quan tâm động viên khuyến khích và cảm thông sâu sắc của gia đình
Cuối cùng, Em rất mong nhận được sự đóng góp, nhận xét và phê bình của quý Thầy Cô và tất cả bạn đọc
Đà Nẵng, ngày 07 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Hoài Linh
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, CÔNG THỨC
Trang
Sơ đồ: Mối quan hệ giữa nguồn tài nguyên và hành động của cộng đồng 14 Hình 2.1: Bản đồ hành chính huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng 19 Hình 2.2: Bản đồ hành chính xã Hòa Nhơn, huyện Hòa vang 22 Bảng 2.1: Các điểm thu hút du lịch sinh thái cộng đồng tại thôn Thái Lai, xã Hòa Nhơn, huỵện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng 27 Bảng 3.1: Các sản phẩm du lịch sinh thái cộng đồng tại thôn Thái Lai, xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng 40
Trang 6MỤC LỤC
I PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
3.2.1 Về không gian 2
3.2.2 Về thời gian 2
3.2.3 Về nội dung 2
4 QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
4.1 Quan điểm nghiên cứu 2
4.1.1 Quan điểm hệ thống 2
4.1.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ 3
4.1.3 Quan điểm viễn cảnh 3
4.2 Phương pháp nghiên cứu 3
4.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu 3
4.2.2 Phương pháp bản đồ, biểu đồ 3
4.2.3 Phương pháp thống kê 3
4.2.4 Phương pháp chuyên gia 3
4.2.5 Phương pháp thực địa 4
5 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 4
6 BỐ CỤC ĐỀ TÀI 4
II PHẦN NỘI DUNG 5
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH SINH THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 5
1.1 Du lịch sinh thái 5
1.1.1 Khái niệm về DLST 5
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu về DLST 6
1.1.2.1 Trên thế giới 6
1.1.2.2 Ở Việt Nam 6
1.1.3 Đặc điểm của DLST 6
1.1.4 Những nguyên tắc cơ bản của DLST 7
1.1.4.1 Có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường, qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn 7
Trang 71.1.4.2 Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái 7
1.1.4.3 Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng 8
1.1.4.4 Tạo cơ hội việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương 8
1.1.5 Những yêu cầu cơ bản để phát triển DLST 8
1.1.5.1 Yêu cầu thứ nhất 8
1.1.5.2 Yêu cầu thứ hai 8
1.1.5.3 Yêu cầu thứ ba 9
1.1.5.4 Yêu cầu thứ tư 10
1.1.6 Phân biệt DLST với một số loại hình du lịch tương tự 10
1.1.7 Cơ sở thực tiễn về phát triển du lịch sinh thái 11
1.2 Du lịch cộng đồng 12
1.2.1 Khái niệm du lịch cộng đồng 12
1.2.2 Ý nghĩa phát triển du lịch cộng đồng 12
1.2.3 Nguyên tắc phát triển du lịch cộng đồng 12
1.2.4 Điều kiện phát triển du lịch cộng đồng 13
1.2.5 Đặc điểm của du lịch cộng đồng 13
1.2.6 Mục đích của du lịch cộng đồng 13
1.2.7 Mối quan hệ giữa cộng đồng địa phương và hoạt động du lịch 14
1.3 Kinh nghiệm của một số quốc gia về mô hình phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 16
1.3.1 Tại vườn Quốc gia Gunnung Halimun – Indonesia 16
1.3.2 Tại làng Ghandruk thuộc khu bảo tồn quốc gia Annapura, Nepal 17
1.3.3 Thái Lan 17
CHƯƠNG II: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI CỘNG ĐỒNG THÔN THÁI LAI XÃ HÒA NHƠN, HUYỆN HÒA VANG19 2.1 Khái quát về thôn Thái Lai, xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang 19
2.2 Phân tích các tiềm năng phát triển DLST dựa vào cộng đồng của thôn Thái Lai 22 2.2.1 Tài nguyên du lịch 22
2.2.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 22
2.2.1.2 Tài nguyên du lịch văn hóa 23
2.2.1.3 Các điểm thu hút du lịch 27
2.2.2 Năng lực cộng đồng 30
2.2.3 Tiềm năng thị trường 30
2.3 Thực trạng phát triển DLST cộng đồng của thôn Thái Lai trong những năm qua30 2.3.1 Lượng khách và doanh thu du lịch 30
2.3.1.1 Lượng khách du lịch 30
2.3.1.2 Doanh thu du lịch 31
Trang 82.3.2 Các loại hình du lịch sinh thái 31
2.3.2.1 Du lịch tham quan miệt vườn 31
2.3.2.2 Du lịch thăm bản làng dân tộc 31
2.3.3 Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật 32
2.3.4 Dân cư và lao động du lịch 34
2.3.5 Chính sách của Nhà nước 35
2.3.6 Tiểu kết 35
2.4 Đánh giá chung 36
2.4.1 Thuận lợi 36
2.4.2 Khó khăn khi xây dựng mô hình du lịch cộng đồng 37
CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG THÔN THÁI LAI XÃ HÒA NHƠN, HUYỆN HÒA VANG ĐẾN NĂM 2025 38
3.1 Những định hướng phát triển DLST cộng đồng tại thôn Thái Lai đến năm 2025 38 3.1.1 Mục tiêu 38
3.1.2 Định hướng thị trường khách du lịch 39
3.1.2.1 Đối với thị trường khách du lịch quốc tế 39
3.1.2.2 Đối với thị trường khách du lịch nội địa 39
3.1.3 Định hướng phát triển sản phẩm du lịch 40
3.1.4 Định hướng mô hình tổ chức quản lí du lịch cộng đồng thôn Thái Lai 43
3.2 Giải pháp phát triển mô hình DLST dựa vào cộng đồng thôn Thái Lai đến năm 2020 44
3.2.1 Giải pháp quy hoạch và xây dựng 44
3.2.1.1 Giải pháp quy hoạch 44
3.2.1.2 Giải pháp xây dựng 45
3.2.2 Giải pháp tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về du lịch 45
3.2.3 Giải pháp tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá du lịch 46
3.2.4 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 46
3.2.5 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về du lịch 47
3.2.6 Giải pháp thu hút cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch 47
3.2.7 Giải pháp về vốn 48
3.2.7.1 Ngân sách Nhà nước 48
3.2.7.2 Tổng kinh phí thực hiện 48
III KẾT LUẬN 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51 PHỤ LỤC
Trang 9I PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, khi điều kiện kinh tế ngày một phát triển, nhu cầu đi
du lịch, thư giãn, tham quan cũng ngày một tăng Du lịch đang phát triển nhanh chóng không chỉ riêng ở nước ta mà với quy mô toàn cầu Nó được mệnh danh là “ngành công nghiệp không khói” Theo xu thế thân thiện với môi trường của tất cả các ngành kinh tế, trong ngành du lịch đã xuất hiện các hình thức du lịch gắn với bảo vệ môi trường như du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng,…Vì vậy, nghiên cứu sự phát triển của các hình thức này là rất cần thiết
Hình thức du lịch sinh thái cộng đồng đang nhận được nhiều sự quan tâm trong chiến lược phát triển du lịch không chỉ ở các quốc gia phát triển mà còn có ở nhiều quốc gia khác với mục tiêu mang lại lợi ích chung cho cộng đồng địa phương, đặc biệt cho cộng đồng các làng quê xa xôi ở vùng nông thôn Tại Việt Nam, du lịch sinh thái cộng đồng cũng đã đem lại nhiều lợi ích thực sự về mặt kinh tế cho người dân ở các vùng nông thôn
Hòa Vang là một huyện nằm ở phía tây của thành phố Đà Nẵng, là một địa phương không chỉ có bề dày truyền thống Cách mạng chống lại các thế lực xâm lược
mà từ lâu cả du khách ở trong và ngoài nước đã biết tới với hệ thống sản phẩm du lịch phong phú như: Bà Nà – Suối Mơ; Suối Hoa – Ngầm Đôi; các di tích lịch sử, các đình làng, khu căn cứ cách mạng, danh lam thắng cảnh,…
Thái Lai là một thôn của xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, có lịch sử hình thành lâu đời, nằm bên bờ bắc sông Túy Loan, có hệ sinh thái đa dạng, khí hậu trong lành, phong cảnh hữu tình; nơi có nhiều di sản vật thể và hội tụ của những nét văn hóa đậm bản sắc của làng quê Trung bộ xưa, mà hiện nay ít nơi nào còn giữ được Yếu tố địa lí, sinh thái, văn hóa và con người đã tạo nên cho Thái Lai nên vẻ đẹp thơ mộng, hài hòa trong một không gian khá tĩnh lặng bên cạnh đô thị Đà Nẵng đầy náo nhiệt
Với những lý do đó, bài khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Phát triển du lịch sinh
thái dựa vào cộng đồng tại thôn Thái Lai, xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng” nhằm nghiên cứu, khai thác tiềm năng thế mạnh về du lịch sinh thái
cộng đồng của thôn Thái Lai, xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang Bài khóa luận đưa ra những định hướng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng thôn Thái Lai, qua đó khai thác và bảo tồn những tiềm năng du lịch của thôn, từng bước nâng cao đời sống của người dân, tạo ra những sản phẩm mới về du lịch huyện Hòa Vang, góp phần giải quyết việc làm và chuyển dịch cơ cấu ngành nghề ở địa phương trong bối cảnh hội nhập hiện nay
Trang 102 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu tiềm năng phát triển DLST dựa vào cộng đồng tại thôn Thái Lai, xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang Đánh giá hiện trạng và đưa ra định hướng, giải pháp để phát triển du lịch sinh thái cộng đồng nơi đây
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu và tổng hợp một số vấn đề lý luận cơ bản về DLST và DLCĐ
- Phân tích tiềm năng phát triển DLST dựa vào cộng đồng tại thôn Thái Lai, xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang
- Phân tích và đánh giá thực trạng của du lịch sinh thái cộng đồng trên địa bàn thôn Thái Lai và kinh nghiệm phát triển DLST ở một số địa phương trong nước
- Đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển DLST cộng đồng ở thôn Thái Lai, xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Phạm vi không gian của đề tài là thôn Thái Lai xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
Nội dung của đề tài là du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại thôn Thái Lai xã
Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
4 QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Quan điểm nghiên cứu
4.1.1 Quan điểm hệ thống
Hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống mở, bao gồm cả các thành phần về tự nhiên, kinh tế, xã hội và các thành phần này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chịu sự chi phối của nhiều quy luật cơ bản Quan điểm hệ thống giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể, khái quát về toàn bộ hệ thống du lịch trong khi vẫn nắm vững được hoạt động của mỗi phân hệ trong hệ thống đó Du lịch ở Hòa Vang cũng như bất kì một điểm nào khác cũng cần được ngiên cứu trong mối quan hệ tương hỗ: Tự nhiên và kinh tế - xã
Trang 11hội Quan điểm này sẽ được vận dụng trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài để đảm bảo tính khách quan, khoa học của đề tài
4.1.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Lãnh thổ du lịch được tổ chức như một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch trên cơ sở các nguồn tài nguyên du lịch và các dịch vụ du lịch Việc nghiên cứu các vấn đề du lịch của bất kì lãnh thổ nào nói chung và huyện Hòa Vang nói riêng đều không thể tách rời khỏi hiện trạng, xu hướng chung của ngành du lịch Việt Nam Nói cách khác, quá trình phát triển du lịch của huyện Hòa Vang là một phần trong quá trình phát triển du lịch của nước ta
4.1.3 Quan điểm viễn cảnh
Bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng đều trải qua quá trình phát sinh, vận động, phát triển và biến đổi theo thời gian Quá trình ấy có thể đã bắt đầu từ trong quá khứ
và hiện tại vẫn đang diễn ra và còn kéo dài mãi đến tận tương lai Quan điểm này được vận dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài để phân tích nguồn gốc phát sinh của vấn
đề, đánh giá tình hình ở hiện tại làm cơ sở để đưa ra những định hướng xác thực trong tương lai
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu
Sử dụng phương pháp này để thu thập, phân tích, xử lý và khái quát, tổng hợp tài liệu từ các nguồn khác nhau như: Từ các cơ quan, tổ chức, từ các các tài liệu khoa học, các công trình nghiên cứu trước, từ Internet, Từ các nguồn tài liệu thô đó xử lý thành tài liệu tính toán để rút ra nhận xét, kết luận cho vấn đề nghiên cứu
4.2.2 Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Phương pháp bản đồ là phương pháp đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong thực hiện nghiên cứu các vấn đề Địa lý Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các bản đồ tự nhiên, kinh tế - xã hội, du lịch để khai thác thông tin, dữ liệu phục
vụ Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các biểu đồ để thể hiện kết quả điều tra số liệu, qua
đó thể hiện thực trạng phát triển của vấn đề
4.2.4 Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình thực hiện đề tài, ngoài việc đi khảo sát thực tế và tham khảo các
đề tài sẵn có, tác giả còn kết hợp trao đổi với các cán bộ, ban ngành tại các cơ quan quản lý về thực trạng DLST cũng như các định hướng phát triển về DLST tại huyện
Trang 12Hòa Vang để có những thông tin chính xác về thực trạng và định hướng giải pháp đúng đắn cho vấn đề được nghiên cứu
4.2.5 Phương pháp thực địa
Phương pháp này dùng để thu thập tài liệu, số liệu lấy được do trực tiếp nghiên cứu, kết quả nhận được do trực tiếp đối chiếu với đối tượng nghiên cứu và cập nhật những vấn đề có sự biến đổi theo không gian và thời gian Phải quan sát có mục đích,
có chỉ tiêu và kế hoạch định trước, có ghi chép kết quả, kiểm tra toàn bộ quá trình diễn biến thực địa Do đó tác giả đã đi đến thôn Thái Lai, xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang
để tìm hiểu về tiềm năng và thực trạng phát triển DLST dựa vào cộng đồng tại nơi đây
5 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
- Đã có 1 đề tài nghiên cứu “Phát triển du lịch trên địa bàn huyện Hòa Vang” của Nguyễn Văn Chiến, năm 2013 Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch, đề tài đã đánh giá và phân tích thực trạng phát triển du lịch trên địa bàn Hòa Vang Trong đó nêu bật những nguyên nhân của mặt tích cực và hạn chế, yếu kém của nó, để từ đó đề xuất phương hướng phát triển, giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với lĩnh vực du lịch nhằm khắc phục những hạn chế và thúc đẩy phát triển du lịch trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
- Khẳng định chưa có bất kì công trình nghiên cứu nào liên quan đến DLST tại thôn Thái Lai, xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
6 BỐ CỤC ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung của khóa luận được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch sinh thái cộng đồng tại
thôn Thái Lai xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng
đồng thôn Thái Lai xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang đến năm 2025
Trang 13II PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH SINH THÁI DỰA VÀO
CỘNG ĐỒNG 1.1 Du lịch sinh thái
1.1.1 Khái niệm về DLST
- Một trong những định nghĩa được coi là sớm về DLST mà đến nay vẫn được nhiều người quan tâm là định nghĩa của Hội Du lịch Sinh thái Quốc tế đưa ra năm 1991: “Du lịch Sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm đối với các vùng tự nhiên, bảo vệ môi trường và duy trì cuộc sống yên bình của người dân địa phương”
Định nghĩa này đề cao trách nhiệm của du khách đối với khu vực mà họ đến thăm đó là trách nhiệm giữ gìn, tôn tạo, tránh sự ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên, hệ sinh thái, và cả cuộc sống của cư dân địa phương
- Theo quỹ bảo tồn động vật hoang dã (WWF - World Wild Fund): "Du lịch sinh thái đề cập tới các hoạt động du lịch đi tới các khu vực thiên nhiên hoang dã, gây tác động tối thiểu tới môi trường tự nhiên và cuộc sống của các loài động thực vật hoang
dã trong khi mang lại một số lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương và những người bản địa phục vụ tại đó"
Ở định nghĩa này cũng đề cập đến địa điểm có thể tổ chức các tour DLST, đó là các khu vực tự nhiên hoang dã, và điều quan trọng là giảm thiểu những tác động tiêu cực tới môi trường tự nhiên và đặc biệt là mang lại những lợi ích kinh tế cho cộng đồng cư dân địa phương và những người bản địa làm việc trực tiếp trong ngành du lịch
- Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO - World Tourism Organisation):
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch được thực hiện tại những khu vực tự nhiên còn ít bị can thiệp bởi con người, với mục đích để chiêm ngưỡng, học hỏi về các loài động thực vật cư ngụ trong khu vực đó, giúp giảm thiểu và tránh được các tác động tiêu cực tới khu vực mà du khách đến thăm Ngoài ra, DLST phải đóng góp vào công tác bảo tồn những khu vực tự nhiên và phát triển những khu vực cộng đồng lân cận một cách bền vững đồng thời phải nâng cao được khả năng nhận thức về môi trường
và công tác bảo tồn đối với người dân bản địa và du khách đến thăm
Có thể nói đây là một định nghĩa đầy đủ nhất nội dung cũng như những đặc điểm của DLST, đó là địa điểm để tổ chức được một tour du lịch, mục đích chuyến đi của du khách đặc biệt là việc giáo dục và nâng cao nhận thức cho du khách cùng với
nó là trách nhiệm của các tổ chức cũng như du khách trong việc bảo tồn giữ gìn môi trường tự nhiên và môi trường văn hoá để đảm bảo cho sự phát triển bền vững ở những nơi mà du khách tới tham quan
Trang 141.1.2 Lịch sử nghiên cứu về DLST
1.1.2.1 Trên thế giới
Du lịch sinh thái được phát triển rất mạnh ở các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới như Khối cộng đồng Châu Âu, Mỹ, Canada, Australia… Trong nhóm các nước đang phát triển, DLST đã được tiến hành ở Nepal, Kenya, một số vùng ở Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia và Trung Mỹ Các nước này đã xây dựng thành công những
mô hình DLST như Ecomost của EU, Làng DLST của Áo, mô hình Hoàng Sơn ở Trung Quốc, mô hình DLST trên cơ sở cộng đồng Nepal
Năm 2002 được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn làm “Năm Quốc tế Du lịch sinh thái – International Year of Ecotourism” Liên hợp quốc kêu gọi các nước đẩy mạnh nghiên cứu, áp dụng DLST và tổ chức tuyên truyền sâu rộng về DLST, tổ chức các hội nghị, hội thảo, chương trình DLST ở các nước, các khu vực, chuẩn bị tốt nhất,
có hiệu quả nhất cho Hội thảo Quốc tế về DLST tổ chức vào năm 2002 Chủ trương này đã thúc đẩy nhiều nước đang phát triển, muốn dựa vào DLST để cải thiện nền kinh
tế ốm yếu của mình Hưởng ứng lời kêu gọi của Liên hợp quốc, nhiều quốc gia như Mexico, Úc, Malaysia… đã xây dựng chiến lược và kế hoạch DLST quốc gia
Đã có nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân quan tâm đến việc nghiên cứu và áp dụng DLST ở Việt Nam Ví dụ năm 2004, Cục Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã phối hợp với Tổ chức phát triển bền vững Fundeso và
Cơ quan hợp tác Quốc tế Tây Ban Nha cho xuất bản cuốn “Cẩm nang quản lý phát triển DLST ở các khu bảo tồn Việt Nam” Trong các tài liệu chính thức này, những vấn đề quy hoạch điểm DLST, quy định kiến trúc, kết cấu điểm DLST, đào tạo nguồn nhân lực, tiếp thị du lịch,… được trình bày rất rõ ràng
1.1.3 Đặc điểm của DLST
Dựa trên địa bàn hấp dẫn về tự nhiên cả các yếu tố văn hóa bản địa: Đối tượng của DLST là những khu vực hấp dẫn về tự nhiên, kể cả những nét văn hóa bản địa đặc sắc Đặc biệt, những khu vực tự nhiên còn tương đối nguyên sơ, ít bị tác động lớn Chính vì vậy, hoạt động DLST thường diễn ra và thích hợp tại lãnh thổ các vườn Quốc gia và các khu bảo tồn tự nhiên có giá trị
Trang 15Đảm bảo bền vững về sinh thái, ủng hộ bảo tồn: Đây là một đặc trưng khác biệt
vì nó được phát triển trong môi trường có những hấp dẫn ưu thế về mặt tự nhiên Vì thế, trong DLST, hình thức, địa điểm và mức độ sử dụng cho các hoạt động du lịch phải được duy trì và quản lý cho sự bền vững của cả hệ sinh thái và bản thân ngành du lịch Điều này được thể hiện ở quy mô nhóm khách tham quan thường có số lượng nhỏ, yêu cầu sử dụng các phương tiên, dịch vụ về tiện nghi của du khách thường thấp hơn các yêu cầu về đảm bảo kinh nghiệm du lịch có chất lượng Các hoạt động trong DLST thường ít gây tác động đến môi trường và du khách sẵn sàng chi trả cho việc bảo vệ môi trường
Có giáo dục môi trường: Đặc điểm giáo dục môi trường trong DLST là một yếu
tố cơ bản phân biệt DLST với các loại hình du lịch khác Giáo dục và thuyết minh môi trường bằng các nguồn thông tin, truyền tải thông tin đến du khách thông qua tài liệu, hướng dẫn viên, các phương tiện trên điểm, tuyến tham quan là những hình thức quan trọng trong việc trong việc làm giàu kinh nghiệm du lịch, nâng cao nhận thức về môi trường và bảo tồn
Giáo dục môi trường trong DLST có tác dụng trong việc làm thay đổi thái độ của
du khách, cộng đồng và chính ngành du lịch đối với giá trị bảo tồn, và sẽ góp phần tạo nên sự bền vững lâu dài của những khu tự nhiên
Khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia và hưởng lợi ích du lịch: DLST cải thiện đời sống, tăng thêm lợi ích cho cộng đống địa phương trên cơ sở cung cấp về kiến thức, những kinh nghiệm thực tế để đa số người dân có khả năng tham gia vào quản lý, vận hành dịch vụ DLST Đó cũng là cách để người dân có thể trở thành những người bảo tồn tích cực
1.1.4 Những nguyên tắc cơ bản của DLST
1.1.4.1 Có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi
trường, qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động DLST, tạo ra sự khác biệt rõ ràng giữa DLST với các loại hình dựa vào tự nhiên khác Du khách khi rời khỏi nơi mình đến tham quan sẽ phải có được sự hiểu biết cao hơn về các giá trị của môi trường tự nhiên, về những đặc điểm sinh thái khu vực và văn hóa bản địa Từ đó thái
độ cư xử của du khách sẽ thay đổi, được thể hiện bằng những nổ lực tích cực hơn trong hoạt động bảo tồn và phát triển những giá trị về tự nhiên, sinh thái và văn hóa khu vực
1.1.4.2 Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái
Việc bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái chính là mục tiêu hoạt động của DLST Sự tồn tại của DLST gắn liền với môi trường tự nhiên và các hệ sinh thái điển hình Sự xuống cấp của môi trường, sự suy thoái của hệ sinh thái đồng nghĩa với sự đi
Trang 16xuống của hoạt động DLST Vì vậy mọi hoạt động DLST sẽ phải được quản lý chặt chẽ để giảm thiểu tác động tới môi trường, đồng thời một phần thu nhập từ hoạt động DLST sẽ được đầu tư để thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường và duy trì sự phát triển các hệ sinh thái
1.1.4.3 Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng
Đây được xem là một trong những nguyên tắc quan trọng đối với hoạt động DLST, bởi các giá trị văn hóa bản địa là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời các giá trị môi trường của hệ sinh thái của một khu vực cụ thể Sự xuống cấp hoặc thay đổi tập tục, sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương dưới tác động nào đó sẽ làm mất đi sự cân bằng sinh thái tự nhiên vốn có của khu vực và vì vậy sẽ làm thay đổi
hệ sinh thái đó
1.1.4.4 Tạo cơ hội việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương
Đây vừa là nguyên tắc vừa là mục tiêu hướng tới của DLST DLST sẽ dành một phần đáng kể lợi nhuận từ hoạt động của mình để đóng góp nhằm cải thiện môi trường sống của cộng đồng địa phương Huy động tối đa sự tham gia của người dân địa phương như đảm nhiệm vai trò hướng dẫn viên, đáp ứng chỗ nghĩ cho du khách, cung ứng các nhu cầu về thực phẩm, văn hóa,… thông qua đó sẽ tạo việc làm tăng thu nhập
Từ đó cuộc sống của người dân sẽ ít phụ thuộc hơn vào việc khai thác tự nhiên, đồng thời họ sẽ nhận thấy lợi ích của việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phát triển DLST
1.1.5 Những yêu cầu cơ bản để phát triển DLST
1.1.5.2 Yêu cầu thứ hai
Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao được hiểu biết cho khách DLST, người hướng dẫn viên cần: Kiến thức ngoại ngữ tốt, còn phải là người am hiểu các đặc trưng sinh thái tự nhiên và văn hóa cộng đồng địa phương Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động DLST Nếu trong những trường hợp cần thiết thì phải cộng tác với người dân địa phương để có được những hiểu biết tốt nhất, lúc đó người hướng dẫn viên chỉ đóng vai trò là người phiên dịch giỏi
Hoạt động DLST đòi hỏi phải có được người điều hành có nguyên tắc Các nhà điều hành du lịch truyền thống thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà không có cam kết gì đối với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự nhiên, họ chỉ đơn giản tạo cho
Trang 17khách du lịch một cơ hội để biết được những giá trị tự nhiên và văn hóa trước khi những cơ hôi này thay đổi hoặc vĩnh viễn mất đi Ngược lại nhà điều hành DLST phải cộng tác với các nhà quản lý khu bảo tồn tự nhiên và cộng đồng địa phương nhằm mục đích đóng góp vào việc bảo tồn một cách lâu dài các giá trị tự nhiên và văn hóa khu vực, nâng cao nhận thức cho khách du lịch
về không gian đối với mỗi du khách cũng như đối với nhu cầu sinh hoạt của họ
- Đứng ở góc độ sinh học: Sức chứa là tổng giá trị có thể sử dụng của điểm du lịch mà không tạo ra các tác động tiêu cực quá mức lên hệ sinh thái Sức chứa này sẽ đạt tới giới hạn khi số lượng du khách và các tiện nghi mà họ sử dụng bắt đầu có những ảnh hưởng tới tập tục sinh hoạt của các loài thú hoang dã và làm cho hệ sinh thái bị xuống cấp rõ rệt
- Đứng ở góc độ tâm lý: Sức chứa là giới hạn lượng khách mà nếu vượt quá thì bản thân du khách sẽ bắt đầu cảm thấy khó chịu vì sự đông đúc và hoạt động của họ bị ảnh hưởng bởi sự có mặt quá nhiều của các du khách khác Khó quan sát được các loài thú hoang dã, đi lại khó khăn hơn, rác thải bừa bãi,… những tác động này làm giảm sự hài lòng của khách du lịch
- Đứng dưới góc độ xã hội: Sức chứa là giới hạn về lượng du khách mà tại đó bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến đời sống văn hóa
xã hội, kinh tế xã hội của khu vực Xét ở 2 khía cạnh là:
+ Mức độ chịu đựng của cư dân ở điểm du lịch về sự có mặt và các hành vi của khách du lịch
+ Mức độ chấp nhận của du khách đối với sự có mặt và hành vi của những du khách khác
Khía cạnh thứ 2 sẽ quan trọng hơn vì du khách luôn là thượng đế Chính vì thế sức chứa xã hội còn được gọi là sức tải hành vi, tâm lý, là nhận thức về mật độ khách cực đại mà du khách vẫn có thể chấp nhận được Khi vượt quá mật độ này, nếu không
có những thay đổi cần thiết của điểm du lịch thì số lượng khách sẽ bắt đầu giảm xuống
- Sức tải kinh tế: Là khả năng hấp thụ các hoạt động du lịch mà không làm mất
đi hay xáo trộn các hoạt động kinh tế của địa phương Điều này có ý nghĩa là các hoạt
Trang 18động du lịch gây phương hại nghiêm trọng đến các hoạt động kinh tế khác của địa phương thì có nghĩa là đã vượt quá sức tải
- Sức tải dịch vụ: Liên quan đến các loại hình và số lượng các dịch vụ nhằm phục vụ cho các nhu cầu của khách như bãi đậu xe, bến thuyền, các phòng vệ sinh, các nơi cắm trại, số lượng nhân viên hành chính và phục vụ
- Đứng ở góc độ quản lý: Sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà khu du lịch có khả năng phục vụ Nếu lượng khách vượt quá giới hạn này thì năng lực quản lý của khu du lịch không đáp ứng được nhu cầu của khách, làm mất khả năng quản lý và kiểm soát hoạt động của khách, kết quả là làm ảnh hưởng đến môi trường và xã hội
1.1.5.4 Yêu cầu thứ tư
Thỏa mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết và kiến thức của khách du lịch Việc thỏa mãn mong muốn này của khách DLST về những kinh nghiệm, hiểu biết mới đối với tự nhiên, văn hóa bản địa thường là rất khó khăn, song lại là yêu cầu cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của ngành DLST Vì vậy những dịch vụ để làm hài lòng khách có vị trí quan trọng chỉ đứng sau công tác bảo tồn những gì họ tham quan DLST bền vững đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững
1.1.6 Phân biệt DLST với một số loại hình du lịch tương tự
* Phân biệt DLST với du lịch tự nhiên (nature tourism):
- Du lịch tự nhiên, theo tổ chức du lịch thế giới (WTO) là loại hình du lịch với động cơ chính của khách du lịch là quan sát và cảm thụ tự nhiên
- Khái niệm du lịch tự nhiên cho thấy nó mang một ý nghĩa rất rộng bao trùm cả DLST và các loại hình du lịch khác Theo đó, bất cứ hoạt động du lịch nào liên quan đến thiên nhiên đều được coi là du lịch tự nhiên Kèm theo đó không có yêu cầu mang tính trách nhiệm đối với cộng đồng dân cư địa phương hoặc ràng buộc nào khác đối với tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động du lịch DLST đòi hỏi tính trách nhiệm cao đối với môi trường và cộng đồng cư dân địa phương
* Phân biệt DLST với du lịch mạo hiểm (adventure tourism):
- Theo tổ chức du lịch Quebec, Canada: Du lịch mạo hiểm là hoạt động thể chất ngoài trời hoặc các hoạt động kết hợp diễn ra tại một khu vực tự nhiên nhất định (khu vực hoang dã, tách biệt hoặc đặc thù,…) Những hoạt động này thường có tính mạo hiểm và mức độ rủi ro tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường (sự cách ly, các tính chất địa lý,…) bản chất của các hoạt động và các phương tiện vận tải được sử dụng
- Khái niệm này cho thấy đây là loại hình du lịch đến với thiên nhiên Điểm chú
ý là loại hình du lịch này không chú ý đến việc tìm hiểu về hệ sinh thái mà khai thác tài nguyên thiên nhiên để phục vụ mục đích mạo hiểm, chinh phục thiên nhiên, thậm chí sẵn sàng sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại để hỗ trợ Loại hình du lịch mạo hiểm nhằm chứng tỏ khả năng chinh phục tự nhiên của con người, nó hoàn toàn
Trang 19khác với DLST vì DLST đi tìm sự hoà hợp, cùng chung sống hài hoà giữa con người với thiên nhiên (các hệ sinh thái có các loài động thực vật cùng cư ngụ trong đó)
1.1.7 Cơ sở thực tiễn về phát triển du lịch sinh thái
- “Việt Nam – Một điểm đến, nhiều lựa chọn” Việt Nam nằm trong vùng Châu
Á, nơi mà tổ chức du lịch thế giới và nhiều nhà chuyên môn du lịch có tên tuổi đã khẳng định và dự báo rằng sẽ là nơi thu hút nhiều khách du lịch quốc tế nhất Nhờ những lợi thế về vị trí địa lý, kinh tế và giao lưu quốc tế mà Việt Nam có cơ hội cho sự phát triển du lịch phù hợp với xu thế của thế giới và khu vực
- Cùng với sự phát triển của du lịch nói chung, trong những năm gần đây DLST tại Việt Nam cũng phát triển rất nhanh chóng Đất nước có nguồn tài nguyên vô cùng phong phú và đa dạng cả về thể loại và chủng loại Khách nước ngoài khi đến với Việt Nam đều đánh giá cao vẻ đẹp của đất nước
- Đã có các tour DLST, chủ yếu là đưa khách du lịch đến tham quan các thắng cảnh thiên nhiên và tham gia vào các lễ hội Những tour kết hợp được nhiều hoạt động như vừa tham dự lễ hội, vừa tham quan tìm hiểu lối sống, phong tục tập quán của người dân bản địa, cách thức tổ chức du lịch cộng đồng, nghiên cứu các di tích lịch sử
- văn hóa còn ít, các sản phẩm DLST này chưa lôi cuốn du khách và cũng giới hạn đối tượng tham gia
- Các sự kiện du lịch như: Festival du lịch, lễ hội du lịch, liên hoan du lịch, năm
du lịch,… được tổ chức khắp cả nước suốt thời gian qua để tuyên truyền về du lịch, thu hút khách du lịch
- DLST phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày một tăng của khách du lịch, của cộng đồng Nhu cầu này liên quan chặt chẽ đến sự phát triển không ngừng của xã hội, đảm bảo về tổng thể một tương lai phát triển lâu dài của hệ sinh thái, với tư cách là một ngành kinh tế Bên cạnh việc phát triển DLST do nhu cầu khách quan thì còn có nhu cầu chủ quan khi mà các giá trị về tài nguyên ngày càng bị suy thoái, khai thác một cách cạn kiệt
- DLST đang là xu thế mới của phát triển du lịch hiện nay, khi mà khắp nơi trên thế giới đều hướng đến tự nhiên, hướng đến sự phát triển bền vững trong du lịch và du lịch sinh thái là loại hình du lịch đặc biệt tổng hợp nhiều mối quan tâm đến môi trường thiên nhiên Và từ đó tìm đến những vùng thiên nhiên nhiều tiềm năng về môi trường sinh thái để cải thiện kinh tế, phúc lợi xã hội, sức khoẻ và hưởng thụ, khám phá những cái mới, cái lạ, cái đẹp và sự trong lành của thế giới tự nhiên, tạo ra mối quan hệ hữu
cơ, hoà đồng giữa con người với thiên nhiên, môi trường Đồng thời hành động có ý thức trách nhiệm làm cho thiên nhiên môi trường bền vững, phong phú phục vụ trở lại lợi ích của con người cả ở hiện tại và tương lai
Trang 201.2 Du lịch cộng đồng
1.2.1 Khái niệm du lịch cộng đồng
“Du lịch cộng đồng” còn được gọi là “du lịch dựa vào cộng đồng” được biết đến như một nguyên tắc mà cộng đồng địa phương là những người quản lý hợp pháp đối với những nguồn tài nguyên đó Có nhiều quan điểm về DLCĐ:
- “Du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du lịch trong đó cộng đồng dân cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để phát triển du lịch, tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời cộng đồng được hưởng quyền lợi về vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên”
- Viện nghiên cứu phát triển Miền Núi (Mountain Institute) đưa ra khái niệm về DLCĐ: “DLCĐ là nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch tại điểm du lịch đón khách vì sự phát triển du lịch bền vững dài hạn DLCĐ khuyến khích sự tham gia của người dân địa phương trong du lịch và có cơ chế tạo các cơ hội cho cộng đồng”
- DLCĐ nhấn mạnh cả vào hai yếu tố là môi trường tự nhiên và con người DLCĐ hướng đến con người và không phủ nhận tầm quan trọng của yếu tố tự nhiên và môi trường Nguyên lý cơ bản trên đây cho thấy hoạt động kinh doanh du lịch dựa vào cộng đồng là chính cộng đồng địa phương tham gia, làm chủ và quản lý, đồng thời chính họ là người quan tâm đến sự bảo tồn, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên môi trường, nơi gắn liền với sự tồn tại của cá nhân họ, gia đình họ và cả cộng đồng
động du lịch vào môi trường, kinh tế - xã hội và văn hoá địa phương
1.2.3 Nguyên tắc phát triển du lịch cộng đồng
Cộng đồng được quyền tham gia thảo luận các kế hoạch, quy hoạch, thực hiện và quản lý, đầu tư để phát triển du lịch
Phù hợp với khả năng của cộng đồng, khả năng bao gồm nhận thức về vai trò và
vị trí của mình trong việc sử dụng tài nguyên, nhận thức được tiềm năng to lớn của du lịch trong sự phát triển của cộng đồng cũng như biết được bất lợi từ hoạt động du lịch
và khách du lịch đối với tài nguyên, cộng đồng
Chia sẻ lợi ích từ du lịch cho cộng đồng DLCĐ phải đảm bảo lợi ích cho cộng đồng địa phương trong tất cả các lĩnh vực môi trường kinh tế - xã hội và văn hoá, như:
Trang 21Tái đầu tư cho cộng đồng xây dựng đường xá, cầu cống, điện nước và chăm sóc sức khoẻ, giáo dục,…
Xác lập quyền sở hữu và tham dự của cộng đồng đối với tài nguyên thiên nhiên
và văn hoá, hướng tới sự phát triển bền vững
1.2.4 Điều kiện phát triển du lịch cộng đồng
DLCĐ chỉ được phát triển trong điều kiện điểm đến có tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú, nguyên sơ và tài nguyên du lịch nhân văn độc đáo, đặc sắc Đồng thời, cộng đồng địa phương phải sở hữu những giá trị văn hoá truyền thống đặc trưng tộc người và đặc biệt họ phải có nhận thức trách nhiệm đúng đắn về phát triển du lịch
và bảo tồn tài nguyên
Thị trường khách trong nước và khách quốc tế cũng là điều kiện quan trọng để phát trển DLCĐ
Bên cạnh đó, để phát triển DLCĐ thì sự hỗ trợ của chính phủ, tổ chức phi chính phủ về tài chính và kinh nghiệm, sự hỗ trợ của các công ty lữ hành trong vấn đề tuyên truyền quảng cáo thu hút khách du lịch là rất quan trọng
1.2.5 Đặc điểm của du lịch cộng đồng
Là một phương thức hoạt động trong kinh doanh du lịch mà cộng đồng dân cư là người cung cấp chính các sản phẩm du lịch cho du khách, họ giữ vai trò chủ đạo trong phát triển và duy trì các dịch vụ
Các khu, điểm tổ chức phát triển du lịch dựa vào cộng đồng là những khu vực có tài nguyên hoang dã còn nguyên vẹn, đang bị tác động huỷ hoại, cần được bảo tồn Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại điểm đang có sức thu hút khách du lịch đến tham quan
Cộng đồng phải là người dân địa phương sinh sống, làm ăn trong đó hoặc liền kề các điểm tài nguyên thiên nhiên, nhân văn
Cộng đồng dân cư là người có trách nhiệm trực tiếp tham gia bảo vệ tài nguyên
du lịch và môi trường nhằm hạn chế, giảm thiểu tác động bởi khách du lịch và khai thác của chính bản thân cộng đồng dân cư
Dựa vào cộng đồng gồm các yếu tố giao quyền cho cộng đồng, cộng đồng được tham gia khuyến khích và đảm nhận các hoạt động du lịch và bảo tồn tài nguyên môi trường
1.2.6 Mục đích của du lịch cộng đồng
Mục đích của DLCĐ là khai thác hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn các di sản, văn hoá, nâng cao đời sống cộng đồng, xoá đói giảm nghèo, tạo ra thu nhập cho người dân, mang lại doanh thu cho du lịch ngày càng tăng
Ngoài ra, DLCĐ còn khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương với sự
tự nguyện, giúp họ chủ động hơn, tôn trọng và có trách nhiệm đối với tài nguyên du
Trang 22lịch Phát triển DLCĐ có nghĩa là trả lại cho cộng đồng địa phương quyền làm chủ thực sự các giá trị tài nguyên thiên nhiên, văn hoá nơi họ sinh sống và hướng dẫn họ cùng tổ chức các hoạt động du lịch, từ đó đem lại lợi ích trực tiếp cho đời sống dân cư Một số mục đích, mục tiêu chính của du lịch cộng đồng đã được coi là kim chỉ nam cho loại hình phát triển du lịch này bao gồm:
- DLCĐ phải góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và văn hoá, bao gồm sự
đa dạng về sinh học, tài nguyên nước, rừng, bản sắc văn hoá,…
- DLCĐ phải đóng góp vào sự phát triển kinh tế địa phương thông qua việc tăng doanh thu về du lịch và những lợi ích khác cho cộng đồng địa phương
- DLCĐ phải có sự tham gia ngày càng tăng của cộng đồng địa phương
- DLCĐ phải mang đến cho khách một sản phẩm du lịch có trách nhiệm đối với môi trường và xã hội
1.2.7 Mối quan hệ giữa cộng đồng địa phương và hoạt động du lịch
Sơ đồ: Mối quan hệ giữa nguồn tài nguyên và hành động của cộng đồng
Mô hình trên cho thấy mối quan hệ giữa nguồn tài nguyên và hành động của cộng đồng có ý nghĩa rất lớn trong phát triển du lịch dựa vào cộng đồng, tức là: Có tài nguyên du lịch là đối tượng để phục vụ cho việc thu hút khách du lịch tạo ra thu nhập cho cộng đồng và khuyến khích họ tham gia các dịch vụ cung cấp phục vụ khách du lịch, đồng thời cộng đồng tích cực tham gia các hoạt động bảo tồn, bảo vệ tài nguyên môi trường và ngược lại tài nguyên môi trường tốt hấp dẫn khách du lịch đến tham quan hay nói cách khác đây là vòng tuần hoàn trong việc phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
Cộng đồng địa phương trong hoạt động du lịch là tập thể người có mối quan hệ với nhau, sống trên lãnh thổ nơi có các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn mà các nhà du lịch đang khai thác và sử dụng nhằm phục vụ cho mục đích kinh doanh du lịch Những nguồn tài nguyên này bao gồm: Đất đai, sản vật của rừng, thuỷ hải sản ở
Trang 23hồ, biển,… vốn trước đây là nguồn sống của cộng đồng địa phương hiện nay đã bị chia
sẻ vì nhiều mục đích
Môi trường và hoạt động du lịch có mối quan hệ chặt chẽ, gắn mật thiết với nhau Môi trường bao gồm nguồn tài nguyên vốn là nguồn sống của cộng đồng địa phương nay đã bị chia sẻ cho du khách Nghĩa là: các điểm du lịch được hình thành dần dần tại những vị trí có tiềm năng du lịch trong không gian kinh tế - văn hoá - sinh thái Có trước và tồn tại song song với hoạt động du lịch và hoạt động sinh hoạt sản xuất hàng ngày của cư dân địa phương
Một trong những đặc trưng cơ bản của lãnh thổ du lịch là có tính đan xen ghép Hầu hết các điểm du lịch: du lịch làng quê, DLST, du lịch làng nghề,… đều đồng thời
là các điểm dân cư, hoặc gần khu dân cư có hoạt động kinh tế sôi động, mạnh mẽ Đặc tính xen ghép khiến không gian du lịch và không gian kinh tế, xã hội của cộng đồng địa phương không thể phân biệt rạch ròi, tác động qua lại giữa môi trường và du lịch cũng khó phân định rõ ràng Đặc tính xen ghép khiến cho việc quản lý môi trường, quản lý kinh tế, xã hội tại điểm du lịch phức tạp và kém hiệu quả Hoạt động du lịch không được tách rời mà phải có sự tác động tương hỗ với hoạt động kinh tế, xã hội của cộng đồng địa phương Cần phải thu hút cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch, đồng thời tạo ra động lực kinh tế xoá đói giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng địa phương
Du lịch cũng như nhiều ngành kinh tế khác đều hướng tới mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế - môi trường - xã hội, phát triển du lịch cần đảm bảo:
- Sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên
- Bảo vệ văn hoá và phúc lợi của cộng đồng địa phương
- Tạo lập sự công bằng trong nội bộ và giữa các thế hệ với nhau
Như vậy, một trong những đối tượng mà DLCĐ hướng tới là cộng đồng địa phương bởi họ chính là chủ nhân của tài nguyên du lịch nơi họ sinh sống và nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng địa phương là một mục tiêu rất quan trọng
Vai trò của CĐĐP trong hoạt động du lịch
- Trước khi có hoạt động du lịch, cộng đồng địa phương đã sinh sống và gắn bó với mảnh đất quen thuộc, họ là người chủ, gắn chặt cuộc sống của họ với mảnh đất ấy Đồng thời, chính họ tạo ra những nền văn hoá bản địa đặc sắc, điều này đã tạo ra sức hút với du khách
- Tiếp nối nhau, các thế hệ luôn tìm cách bảo tồn và phát triển các giá trị tự nhiên và văn hoá của nơi diễn ra hoạt động du lịch Khi diễn ra hoạt động du lịch, cộng đồng địa phương phải chia sẻ một phần tài nguyên với du khách, với những người làm
du lịch chuyên nghiệp, vốn là nguồn sống của họ trước đây Cần phải tạo cho họ một
vị thế làm chủ thực sự, không chỉ dừng lại ở những công việc làm hướng dẫn viên, bán
Trang 24hàng lưu niệm, vận chuyển khách,… mà họ sẽ có vai trò quản lý tài nguyên du lịch, tham gia vào quá trình quy hoạch du lịch ở vùng đất họ đã sinh sống Sự tham gia không đầy đủ của cộng đồng địa phương và người làm du lịch không phải là duy nhất
mà còn có nhiều bên tham gia: Giữa người dân địa phương và nhà quản lý, giữa người dân và du khách… Do đó, cần điều hoà mối quan hệ lợi ích giữa các bên
Trong hoạt động DLCĐ, việc lôi kéo sự tham gia của cộng đồng địa phương là một vấn đề phức tạp và rất quan trọng nếu muốn tổ chức chuyến du lịch thành công Mặc dù có nhiều lựa chọn và giải pháp khác nhau ở mỗi vùng khác nhau và các cộng đồng khác nhau nhưng có một nguyên tắc quan trọng là phải làm việc với các tổ chức
xã hội và cộng đồng, mọi ý kiến của cộng đồng địa phương cần được coi trọng
1.3 Kinh nghiệm của một số quốc gia về mô hình phát triển du lịch sinh thái
dựa vào cộng đồng
1.3.1 Tại vườn Quốc gia Gunnung Halimun – Indonesia
Vườn Quốc gia Gunnung Halimun được xây dựng từ năm 1992 với diện tích 40.000ha, có 237 loài động vật, trong đó có nhiều loài quý hiếm Trong vườn quốc gia
có người dân sinh sống Phát triển loại hình DLST dựa vào cộng đồng tại đây là điều cần thiết do đây là vườn quốc gia có vùng đất nguyên sơ, hệ sinh thái đa dạng, du lịch phát triển nhưng người dân không được hưởng lợi gì từ việc phát triển đó Vấn đề bảo
vệ tài nguyên không đảm bảo đã dẫn đến xung đột giữa du khách và người dân bản xứ
Để cân bằng giữa bảo tồn, phát triển và lợi ích cho cộng đồng từ hoạt động du lịch, các
tổ chức phi chính phủ đã phối hợp với Ban quản lý xây dựng mô hình phát triển DLST dựa vào cộng đồng
Các bài học kinh nghiệm:
- Du lịch dựa vào cộng đồng nhận được sự giúp đỡ của tổ chức phát triển du lịch, gồm 5 tổ chức tham gia: Câu lạc bộ sinh học, Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới, Trường đại học Indonexia và nhà hàng Mc Donald’s ở Indonexia Các tổ chức đã tạo điều kiện giúp đỡ khu du lịch và cộng đồng dân cư về tài chính và kinh nghiệm nên
đã huy động được những người dân vừa tham gia cung cấp dịch vụ cho khách, vừa bảo
vệ tài nguyên thiên nhiên
- Thành lập Ban quản lý tham gia với cộng đồng Ban quản lý này chủ động hỗ trợ cộng đồng thực hiện các việc hoạch định, quản lý, thực thi các kế hoạch phát triển DLST dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và bản sắc văn hoá dân tộc như: Phát triển nhà nghỉ cộng đồng, cơ cấu nhân sự phục vụ trong nhà nghỉ, ăn uống, hướng dẫn viên,…
- Phát triển du lịch đi đôi với quảng cáo về tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn để thu hút khách du lịch
- Đảm bảo công bằng trong việc chia sẻ quyền lợi từ phát triển du lịch
Trang 25- Giao quyền cho cộng đồng, đảm bảo họ được khuyến khích tham gia và đảm nhận trách nhiệm các công việc có liên quan đến việc phát triển du lịch và bảo về tài nguyên
1.3.2 Tại làng Ghandruk thuộc khu bảo tồn quốc gia Annapura, Nepal
Làng Ghandruk thuộc khu bảo tồn Annapura, Nepal Dân cư thuộc các sắc tộc và tôn giáo khác nhau, nguồn thu nhập chủ yếu là từ nông nghiệp, chăn nuôi trang trại và khai thác nguồn tài nguyên có sẵn trong khu bảo tồn Họ làm nhà ở bằng gỗ khai thác trong rừng, khai thác gỗ làm nhiên liệu Năm 1986, được sự hỗ trợ của Dự án bảo tồn thiên nhiên tại vùng Annapura, vùng đã phát triển hoạt động DLST dựa vào cộng đồng
Bài học kinh nghiệm:
- Nhận được sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ về tài chính, kinh nghiệm
tổ chức và chú trọng công tác đào tạo hướng dẫn cho cộng đồng ngay từ khi triển khai các vấn đề của dự án
- Chú trọng công tác đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ về du lịch và bảo tồn thông qua các tập huấn, báo cáo chuyên đề và tổ chức tham gia học tập cho cộng đồng
- Trong quá trình tổ chức, cần tôn trọng các giá trị tri thức văn hoá bản địa của cộng đồng trong suốt quá trình triển khai dự án từ việc hỏi ý kiến, bàn bạc, nêu kế hoạch và triển khai
- Có sự cam kết với cộng đồng về đảm bảo quyền lợi và chia sẻ lợi ích được hưởng từ du lịch
1.3.3 Thái Lan
Thái Lan một quốc gia Đông Nam Á có nền du lịch phát triển mạnh, nó đã đem lại một nguồn thu rất lớn cho nền kinh tế quốc dân Ngoài những hình thức du lịch thông thường thì DLST của Thái Lan cũng rất phát triển Họ xây dựng chiến lược quốc gia về xây dựng và phát triển DLST dựa vào cộng đồng Khái niệm DLST dựa vào cộng đồng đã được sử dụng để đề cao sự tham gia của người địa phương vào phát triển
và quản lý du lịch Nếu không có sự tham gia của người dân địa phương thì việc kiểm soát sử dụng tài nguyên rất khó khăn Ở Thái Lan, một số chương trình DLST do người ngoài địa phương khởi xướng đã không thành công trong công tác bảo tồn do quy hoạch không thích hợp Từ quan điểm môi trường và kinh tế, nếu người dân địa phương không tham gia thì khu vực có tài nguyên du lịch có thể bị khai thác quá mức, các nguồn tài nguyên mà du lịch dựa vào để khai thác cho hoạt động kinh doanh sẽ bị tàn phá Bằng cách để người dân địa phương tham gia vào việc ra quyết định, các chương trình du lịch có trách nhiệm và bền vững hơn về lâu dài
Hiến pháp của Thái Lan công nhận sự tham gia của người dân địa phương vào việc bảo tồn thiên nhiên và trực tiếp khuyến khích người địa phương tìm các phương
Trang 26thức để quản lý các nguồn lực của mình hơn là cho người ngoài tất cả các lợi ích và lợi thế Điều này tạo cơ sở cho người địa phương tham gia vào sự phát triển du lịch để phát triển cộng đồng vào bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên
Trang 27CHƯƠNG II: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI CỘNG ĐỒNG THÔN THÁI LAI XÃ HÒA NHƠN, HUYỆN HÒA VANG 2.1 Khái quát về thôn Thái Lai, xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang
Huyện Hòa vang là một huyện nằm phía Tây của thành phố Đà Nẵng, với diện tích là 736,91km2
Hệ thống đường giao thông đối ngoại và nội vùng của huyện tương đối thuận tiện Có quốc lộ 1A, 14B, tuyến đường tránh Nam Hải Vân đi qua; các tuyến đường
601, 602, 604, 605 do thành phố quản lý và hệ thống các tuyến đường giao thông liên huyện và liên xã Vị trí địa lý, điều kiện giao thông thuận lợi là một điều kiện quan trọng để Hòa Vang khai thác tốt hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian ngắn cũng như dài lâu
Hình 2.1: Bản đồ hành chính huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
Thái Lai nằm về phía tả ngạn sông Túy Loan, thuộc xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 25km về phía Tây – Tây Nam; Thôn
có 3 xóm: xóm Gò, xóm Ngoài và xóm Trên
- Phía Đông giáp làng Phước Thái
Trang 28- Phía Tây giáp thôn Ninh An
- Phía Nam giáp thôn An Tân (Hòa Phong)
- Phía Bắc giáp thôn Phước Hưng
Thôn Thái Lai hình thành cách đây gần 500 năm vào thời nhà Lê, trước đây có tên gọi là Làng Bàu Trai Đến thời Gia Long (năm thứ 10) 1818 được đổi tên thành làng Thái Lai phản ánh ước vọng một cuộc sống an bình, tốt đẹp của nhân dân Qua các đời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Duy Tân, Khải Định, thôn được 17 tờ sắc phong, một hương ước của thôn gồm 45 điều khoản do Cụ Đỗ Văn Oai (Tú Hanh) viết cho thôn thời Vua Thành Thái năm thứ 14 (năm Nhâm dần 1902) và tên Thái Lai được gọi đến ngày nay
Về số dân thôn có 238 hộ với 975 nhân khẩu
Về diện tích thì thôn có tổng diện tích tự nhiên là 218ha Vì xã Hòa Nhơn thuộc vùng bán sơn địa núi rừng chiếm 2/3 diện tích, đất đai phần lớn là ruộng bậc thang và chua phèn nên việc sản xuất lương thực và cây công nghiệp năng suất có hạn chế Do vậy Thái Lai cũng bị ảnh hưởng ít nhiều về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đó
Nền kinh tế chủ đạo của cư dân Thái Lai là sản xuất nông nghiệp trồng lúa, làm hoa màu kết hợp với chăn nuôi gia súc, gia cầm Nằm trong dải đất miền Trung, là mảnh đất không được thiên nhiên ưu đãi, nên cho dù người dân luôn tích cực, chí thú làm ăn, cần cù, chịu thương chịu khó, cuộc sống vẫn không dư dật Tuy nhiên, nhân dân Thái Lai trong quá trình hoạt động thực tiễn đã sáng tạo nhiều sắc thái, giá trị văn hóa, làm khởi sắc hơn cho cuộc sống của mình
Bên cạnh đó có dòng sông Túy Loan đoạn chảy qua xã Hòa Nhơn không rộng, nhưng lại có giá trị vô cùng lớn, cung cấp nước tưới tiêu cho các cánh đồng lúa của thôn Thái Lai từ bao đời nay, nhân dân sống ở ven con sông này đã trọn đời gắn bó với nghề nông trồng lúa, canh tác được thuận lợi, thóc lúa đầy bồ Và chính sự ổn định về kinh tế và nhờ biết vận dụng các tài nguyên du lịch sẵn có của thôn Thái Lai bao gồm cảnh quan, sông, khe suối, ao, hồ, cánh đồng quê, và đậm nét văn hóa làng quê mà người dân đã có điều kiện xây dựng cho làng quê của mình những ngôi đình làng, những nhà thờ họ tộc, những ngôi chùa làng thâm nghiêm để làm nơi sinh hoạt cộng đồng và gởi gắm niềm tin vào thế giới tâm linh, cầu mong điều an bình, hạnh phúc Không những thế người dân Thái Lai đã dần phát triển được loại hình DLST tại đây, thu hút khách du lịch đến đây, cải thiện đời sống cộng đồng địa phương ngày một tốt hơn nữa
Một nét đẹp không thể không nhắc đến khi nói về văn hóa tại thôn Thái Lai là sự
nỗ lực xây dựng, phổ biến những quy tắc, quy ước gìn giữ thuần phong mỹ tục, đạo đức truyền thống trong ứng xử cộng đồng Hưởng ứng “Năm văn hóa, văn minh đô thị 2015”, huyện Hòa Vang đã ban hành bộ quy tắc ứng xử cộng đồng, trong đó đặc biệt
Trang 29đề cao những giá trị nhân văn, vai trò của gia đình, tộc họ, nền nếp gia phong trong việc chăm lo học hành, giáo dục đạo đức cho con cháu, đề cao tình làng nghĩa xóm, ứng xử văn hóa, văn minh ở nông thôn Và trong đó thôn Thái Lai xã Hòa Nhơn là thôn đã tiên phong trong việc hưởng ứng các ban hành mà huyện đã đưa ra, tích cực xây dựng lối sống lành mạnh, tình đoàn kết xóm làng và đặc biệt là ý thức bảo vệ môi trường xanh của cư dân tại thôn Mặc dù phát triển theo lối sống văn minh nhưng người dân nơi đây không xa lạ, không tách rời những nét đẹp vốn có của gia đình, làng quê Việt Nam Cái “tình làng” tưởng đã mai một nay được chính những người dân phố huyện làm sống lại
Những năm qua, chương trình xây dựng nông thôn mới ở Hòa Nhơn đạt nhiều kết quả khả quan 100% hộ dân tự nguyện hiến đất, tháo dỡ tường rào, cổng ngõ để xây dựng và mở rộng giao thông kiệt xóm theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” Nhiều tuyến đường và khu vực công cộng đã được trồng cây xanh, vừa tạo bóng mát, vừa để bảo vệ đất đai, môi trường Hệ thống giao thông nội đồng cũng đang được xây dựng theo tiêu chí nông thôn mới, bảo đảm nhu cầu vận chuyển vật tư và sản phẩm nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa nông thôn Tất cả 15 thôn trong xã Hòa Nhơn đều chung tay góp sức xây dựng, và hiển nhiên thì thôn Thái Lai vẫn là một điểm sáng tại xã Hòa Nhơn, thôn luôn tiên phong trong việc hoàn thành các mục tiêu
mà xã Hòa Nhơn đề ra Và mấu chốt để hoàn thành tốt những mục tiêu đó chính là ý thức của mỗi người dân trong thôn, họ luôn muốn thôn của mình phát triển hơn, đời sống người dân trong thôn được cải thiện hơn
Mặc dù vậy nhưng vẫn còn có một số bất cập cần được chấn chỉnh kịp thời Cụ thể như việc bỏ rác vào thùng còn có những hành vi không đúng và rất phản cảm Tại các điểm thu gom rác, hằng ngày số người đến bỏ rác vào thùng không nhiều, đa số là chạy xe ngang qua, vất đại bao rác vào Thậm chí, có những hộ vẫn còn thói quen vứt rác bừa bãi Do vậy, công tác tuyên truyền vận động nhân dân bỏ rác vào thùng nói riêng, thực hiện nếp sống văn hóa – văn minh nói chung cần phải được tăng cường hơn nữa để thôn Thái Lai trở thành một khu du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại huyện Hòa Vang
=> Chính những yếu tố đậm chất hồn quê xen lẫn những lối sống văn minh hay tinh thần lưu giữ bản sắc văn hóa truyền thống của những người dân tại thôn Thái Lai
đã cho ta thấy được Thái Lai rất có tiềm năng để phát triển DLST dựa vào cộng đồng Người dân nơi đây đã lưu giữ được rất tốt những nét cổ xưa bên cạnh việc đô thị hóa đang diễn ra rất mạnh mẽ Và chính những sức mạnh vô hình từ tinh thần của người dân mà chính quyền địa phương đã biết vận dụng để tuyên truyền mạnh mẽ nhằm thu hút người dân chung tay góp sức vào công tác làm du lịch tại thôn Thái Lai Với mục
Trang 30tiêu đưa thôn Thái Lai là trung tâm của loại hình DLST dựa vào cộng đồng tại huyện Hòa Vang
Hình 2.2: Bản đồ hành chính xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
2.2 Phân tích các tiềm năng phát triển DLST dựa vào cộng đồng của thôn
Thái Lai
2.2.1 Tài nguyên du lịch
2.2.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
- Địa hình đa dạng gắn liền với cảnh đẹp và sự đa dạng của phong cảnh của thôn Thái Lai Khách du lịch thường thích tìm đến các khu vực có các đặc điểm đa dạng về địa hình, có sự đan xen giữa rừng, sông, hồ, núi, đồng bằng,… Tại thôn Thái Lai, các khu cảnh quan có sức thu hút lớn đối với khách du lịch trong và ngoài nước như là Khe Ngang và con đường mòn ven Khe Ngang, đoạn sông Túy Loan chảy qua địa phận thôn Thái Lai…
- Tài nguyên khí hậu cũng là một trong những điều kiện được khách du lịch quan tâm tại nơi đây Mỗi loại hình du lịch thích hợp vối những điều kiện khí hậu khác nhau
và đáp ứng nhu cầu của từng nhóm khách nhất đinh Khách du lịch nghỉ biển thường đến các vùng biển có khí hậu ấm áp, số ngày nắng và giờ nắng cao, độ ẩm không khí vừa phải, ít xuất hiện gió lớn hoặc bão Khách du lịch nghỉ mát thường đến các vùng