1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cẩm nang ValueLinks Phương pháp luận để thúc đẩy chuỗi giá trị

277 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 277
Dung lượng 3,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sơ đồ dưới đây cho thấy các module có quan hệ như thế nào với chu kỳ dự án trong việc thúc đẩy chuỗi giá trị: Các module của ValueLinks Xây dựng chiến lược nâng cấp chuỗi Phân tích chuỗ

Trang 1

Phòng 45 Nông nghiệp, Thuỷ sản và Thực phẩm

Phòng 41 Phát triển kinh tế và việc làm

Cẩm nang ValueLinks

Phương pháp luận để thúc đẩy chuỗi giá trị

Xuất bản lần thứ nhất

gtz

Trang 2

Cẩm nang ValueLinks

- Giới thiệu và tóm tắt nội dung -

-

Nội dung Giới thiệu về cẩm nang này ………

Phương pháp luận ValueLinks ………

Các đặc điểm của ValueLinks ………

Tổng quan về các module và nhiệm vụ trong ValueLinks ………

-

Giới thiệu về cẩm nang này

Cuốn cẩm nang này là một cuốn sách tham khảo cho phương pháp luận ValueLinks

ValueLinks là thuật ngữ để chỉ việc tập hợp có hệ thống các phương pháp thực tiễn nhằm

theo dõi sự phát triển kinh tế từ quan điểm của chuỗi giá trị Cuốn sách cung cấp những kiến thức cơ bản về các cách thức nâng cao cơ hội việc làm và thu nhập từ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ và các nông dân thông qua việc thúc đẩy chuỗi giá trị trong đó họ đang hoạt động

Cuốn cẩm nang ValueLinks được soạn thảo để phục vụ cho các dự án phát triển hay các cơ

quan của chính phủ hoạt động trong lĩnh vực xúc tiến các hoạt động nông nghiệp cụ thể, các khu vực chế tạo hay thủ công mỹ nghệ Cuốn sách này không chú trọng cụ thể vào một ngành nào Tuy nhiên, cuốn sách nhấn mạnh vào những thị trường sản phẩm đem lại nhiều

cơ hội cho người nghèo

Cẩm nang ValueLinks là một trong một số sản phẩm kiến thức có sử dụng phương pháp luận ValueLinnks Các hội thảo đào tạo ValueLinks cho các chuyên viên của các cơ quan nhà

nước và các chương trình phát triển là một công cụ quan trọng để chia sẻ kiến thức, và đều

được giảng dạy bởi các giảng viên có kinh nghiệm và trình độ của ValueLinks

Phương pháp luận ValueLinks

ValueLinks có tính thực tiễn rất cao Kiến thức được tổng hợp từ việc đúc kết những kinh

nghiệm trong thực tế cuộc sống Cuốn sách dựa trên những bài học rút ra từ những chương trình phát triển nông thôn và thúc đẩy khu vực tư nhân được GTZ hỗ trợ

Cẩm nang ValueLinks chia những kiến thức về thúc đẩy chuỗi giá trị thành 12 module, được

tổ chức theo chu kỳ dự án

Cẩm nang bắt đầu bằng việc quyết định xem có nên tham gia vào việc thúc đẩy chuỗi giá trị hay không, và làm thế nào để kết hợp việc thúc đẩy chuỗi giá trị với các cách tiếp cận phát triển khác (module 0) Bước đầu tiên trong thúc đẩy chuỗi giá trị là việc xác định chuỗi giá trị cần thúc đẩy (module 1), tiếp đó là phân tích chuỗi giá trị (module 2) và xây dựng một

Trang 3

chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị (module 3) Module 4 trình bày những kiến thức dành cho những tổ chức hỗ trợ của các dự án thúc đẩy chuỗi giá trị Các module tiếp theo (từ 5 đến 10) đều nói về việc thực hiện dự án Có ba lĩnh vực hành động được phân biệt, đó là: các liên kết kinh doanh (module 5-6), các dịch vụ (module 7-8), và môi trường kinh doanh trong đó có các tiêu chuẩn (module 9-10) Cuối cùng, module 11 là bước cuối cùng trong chu kỳ dự án, với các kiến thức về việc theo dõi tác động và quản lý để đạt được các kết quả phát triển

Yếu tố cốt lõi của phương pháp luận ValueLinks nằm trong các module 1-4 và module 11,

trong đó có những kiến thức rất cụ thể về khái niệm chuỗi giá trị Ngược lại, các module từ 5 đến 10 lại sử dụng và điều chỉnh các kiến thức từ những lĩnh vực khác có liên quan đến công tác phát triển

Sơ đồ dưới đây cho thấy các module có quan hệ như thế nào với chu kỳ dự án trong việc thúc đẩy chuỗi giá trị:

Các module của ValueLinks

Xây dựng chiến lược nâng cấp chuỗi

Phân tích chuỗi giá trị

Đưa vào các tiêu chuẩn xã hội, sinh thái và chất lượng sản phẩm

Phân tích và xây dựng chiến lược thúc đẩy chuỗi

Huy động vốn cho các chuỗi giá trị

Tăng cường các dịch vụ trong chuỗi giá trị

Tham gia vào các quan hệ đối tác nhà nước-tư nhân

Tăng cường các liên kết kinh tế

Trang 4

ValueLinks không yêu cầu phải sử dụng các module theo bất cứ một thứ tự nào Trên thực tế,

phương pháp luận này có tính lặp đi lặp lại Những người hoạt động thực tiễn thường phải tiến hành các bước thực hiện và phân tích xen lẫn với nhau Việc theo dõi được để ở cuối cùng trong sơ đồ trên, nhưng chắc chắn là hoạt động này cần phải được tiến hành trong suốt quá trình của dự án

Mỗi module đều nêu cụ thể những nhiệm vụ mà các tổ chức kinh doanh và các tổ chức hỗ trợ thúc đẩy chuỗi giá trị cần phải thường xuyên thực hiện Người đọc có thể lựa chọn trong tổng

số 37 nhiệm vụ, ví dụ như “lập bản đồ chuỗi giá trị”, “thống nhất về tầm nhìn” hay “huy động sự tham gia của các đối tác tư nhân trong công tác phát triển” Các hộp thông tin sẽ trình bày về những công cụ và biểu mẫu cũng như những ví dụ cụ thể về những dự án chuỗi giá trị được GTZ hỗ trợ trên khắp thế giới Do đó, người đọc sẽ được cung cấp một phuơng pháp luận với những yếu tố cấu thành để từ đó họ có thể xây dựng những dự án thúc đẩy

chuỗi giá trị của riêng mình, lựa chọn những yếu tố của ValueLinks theo những nhu cầu cụ

thể của họ

Bảng 2 cho thấy một bức tranh tổng quan về những nhiệm vụ nói trên (trang 6-7)

Những đặc điểm của ValueLinks

Thúc đẩy chuỗi giá trị không phải là một khái niệm mới Tuy nhiên, ValueLinks có một số

đặc điểm riêng biệt khác với các hướng dẫn khác về chuỗi giá trị Những đặc điểm được liệt

kê trong Bảng 1 dưới đây rất gần với những tiêu chí chủ yếu quyết định chất lượng cũng như tác động của việc hợp tác phát triển:

Bảng 1

Phương pháp luận ValueLinks

…và mối quan hệ với các tiêu chí về chất lượng viện trợ:

các kết hợp giữa thúc đẩy chuỗi giá

trị với các phương pháp tiếp cận

Trang 5

phát triển kinh tế khác

phân biệt rõ ràng giữa việc nâng

cấp do các chủ thể trong chuỗi giá

trị thực hiện và vai trò của những

thúc đẩy sự hợp tác chặt chẽ giữa

khu vực nhà nước và các công ty tư

sử dụng một ngôn ngữ hình ảnh cụ

thể tạo điều kiện cho sự hợp tác và

trao đổi kinh nghiệm

ValueLinks là một khái niệm mở Trong thời điểm hiện tại, nó bao hàm một phương pháp

luận chung về thúc đẩy chuỗi giá trị Việc áp dụng phương pháp luận này vào các ngành khác nhau và các quốc gia với những trình độ phát triển kinh tế khác nhau đòi hỏi phải có thêm những công cụ phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể Vấn đề mà nhiều người đặc biệt quan tâm

là việc áp dụng phương pháp luận này vào các cơ hội kinh doanh đối với những người có thu

nhập thấp Chúng tôi cũng dự định sẽ biên soạn những phiên bản ValueLinks cụ thể cho từng

ngành cũng như cho từng quốc gia để đáp ứng những nhu cầu cụ thể

Tổng quan về các module và nhiệm vụ trong ValueLinks

Bảng sau cho thấy một bức tranh tổng quan về các nhiệm vụ của ValueLinks, được chia thành hai phần Phần đầu tiên là các nhiệm vụ về phân tích và đưa ra quyết định để chuẩn bị cho một dự án thúc đẩy chuỗi giá trị, còn phần hai là những vấn đề về các biện pháp thực hiện và theo dõi dự án

Bảng 2

Trang 6

Các nhiệm vụ phân tích và đưa ra quyết định nhằm chuẩn bị cho một dự án thúc đẩy chuỗi giá trị

tham gia vào việc

thúc đẩy chuỗi giá trị

• (1.1) Xác định phạm vi các chuỗi giá trị cần thúc đẩy

• (1.2) Tiến hành và hỗ trợ nghiên cứu thị trường

• (1.3) Đặt ưu tiên trong các chuỗi giá trị khác nhau

Module 2

Phân tích chuỗi giá trị • (2.1) Lập bản đồ chuỗi giá trị

• (2.2) Lượng hoá và phân tích chi tiết chuỗi giá trị

• (2.3) Phân tích kinh tế đối với chuỗi giá trị

• (3.2) Phân tích các thuận lợi và khó khăn

• (3.3) Đặt ra các mục tiêu nâng cấp mang tính vận hành

• (3.4) Xác định các chủ thể tham gia vào việc thực hiện chiến lược nâng cấp

• (3.5) Dự báo về tác động của việc nâng cấp chuỗi

Trang 7

Các module của

ValueLinks

Các nhiệm vụ của ValueLinks

Module 5

Tăng cường các liên

kết kinh tế tư nhân

• (5.1) Làm trung gian cho hợp tác chiều dọc: ký kết hợp đồng giữa nhà cung cấp và người mua

• (5.2) Đẩy mạnh hợp tác chiều ngang giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị

• (5.3) Môi giới kinh doanh

Module 6

Tham gia vào đối tác

nhà nước – tư nhân

• (6.1) Khuyến khích các đối tác tư nhân tham gia vào công tác phát triển

• (6.2) Ký kết các thoả thuận hợp tác công tư

Module 7

Tăng cường các dịch

vụ trong các chuỗi giá

trị

• (7.1) Đánh giá các nhu cầu về dịch vụ và thị trường dịch vụ

• (7.2) Tăng cường các thị trường dịch vụ và các thoả thuận tư nhân

• (7.3) Cải thiện độ nhạy bén của các nhà cung cấp dịch vụ của nhà nước

• (7.4) Sử dụng các dịch vụ hỗ trợ tạm thời một cách chiến lược

• (9.1) Tạo điều kiện cho việc xây dựng các tiêu chuẩn

• (9.2) Theo sát quá trình thực hiện các tiêu chuẩn

• (9.3) Xây dựng năng lực cho việc kiểm chứng các tiêu chuẩn

Module 10

Cải thiện môi trường

kinh doanh cho các

Trang 8

Danh mục thuật ngữ của ValueLinks

Những thuật ngữ thường được sử dụng trong việc phát triển chuỗi giá trị

Giá trị tăng thêm

Xem “giá trị gia tăng”

Approche filière

Một phương pháp tiếp cận nhằm nghiên cứu các chuỗi cung ứng hàng hoá Truyền thống filière của Pháp được xây dựng bởi các nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc gia (INRA) và Trung tâm Hợp tác quốc tế vè Kinh tế nông nghiệp cho Phát triển (CIRAD) (http:// www.ids.ac.uk/ids/global/pdfs/GCCs%20and%20filieres.pdf)

So sánh đối chuẩn

Quá trình so sánh những thông số về hiệu quả hoạt động của chính mình với những thông số

về hiệu quả hoạt động của những tổ chức kinh doanh hay những chuỗi giá trị được coi là có hiệu quả nhất trong ngành Các thông số có thể nói đến nhiều khía cạnh Những thông số đối chuẩn quan trọng là năng suất, chi phí sản xuất hay chất lượng sản phẩm So sánh đối chuẩn được sử dụng để xác định các khoảng trống trong hoạt động của chuỗi giá trị đang được thúc đẩy

Nhà môi giới

Nhà môi giới là một trung gian trên thị trường, làm trung gian giữa người mua và người bán,

và được bên mua hoặc bên bán trả hoa hồng môi giới

Môi trường kinh doanh/môi trường đầu tư

Môi trường kinh doanh có nghĩa là những điều kiện chung về pháp lý, quy định và cơ sở hạ

tầng của một nước, trong đó các doanh nghiệp hoạt động Đây là những điều kiện ở cấp vĩ

mô Những điều kiện này bao gồm sự ổn định về kinh tế và chính trị, một hệ thống quản trị

nhà nước và tư pháp hiệu quả nói chung, và những quy định cụ thể liên quan đến việc kinh doanh, chẳng hạn như quyền sở hữu tài sản (ví dụ như đất và nước), các quy định về đăng ký kinh doanh và việc làm, các thể chế tài chính, hệ thống giao thông vận tải, và hiệu quả của các thủ tục hành chính Có những điều kiện chung về môi trường kinh doanh có liên quan đến nhiều ngành, nhưng cũng có những điều kiện mang tính đặc thù cho từng chuỗi giá trị

Các liên kết kinh doanh

Những chủ thể trong chuỗi giá trị có quan hệ với nhau theo cả chiều ngang (giữa các doanh nghiệp trong cùng một khâu của chuỗi giá trị, có cùng một loại hoạt động) lẫn chiều dọc (giữa các nhà cung cấp và người mua hàng hoá) Những liên kết kinh doanh theo chiều dọc

có thể là những trao đổi ngẫu nhiên trên thị trường, cũng có thể là việc phối hợp một cách bài

bản các hoạt động dựa trên việc ký kết hợp đồng (xem các quan hệ thị trường) Những liên

kết kinh doanh theo chiều ngang có thể là những mạng lưới không chính thức, cũng có thể là những hiệp hội và các tổ chức có thành viên chính thức

Trang 9

Môi giới kinh doanh

Môi giới kinh doanh là hoạt động tạo ra và thúc đẩy những mối liên hệ kinh doanh và những

cơ hội bán hàng của những nhóm kinh doanh cụ thể hay của toàn bộ cộng đồng trong chuỗi giá trị Đây là một dịch vụ hỗ trợ cho chuỗi giá trị

Cụm

Một cụm là một khu vực địa lý tập trung các doanh nghiệp có quan hệ gần gũi với nhau, dọc theo chuỗi giá trị hay như một mạng lưới xung quanh một người mua quan trọng hay một công ty công nghiệp (ví dụ như những chủ thể trong chuỗi giá trị của mặt hàng hoa tươi xuất khẩu có vị trí gần với cảng hàng không quốc tế) Một định nghĩa đơn giản về cụm là: cụm là một chuỗi giá trị được tập trung tại cùng một địa điểm

Cấp chứng nhận

Cấp chứng nhận là một thủ tục trong đó một bên thứ ba (bên cấp chứng nhận hay cơ quan cấp chứng nhận) đảm bảo bằng văn bản rằng một sản phẩm, quy trình hay dịch vụ nào đó tuân thủ đúng theo những yêu cầu cụ thể - hay còn gọi là tiêu chuẩn Được cấp chứng nhận

là một tài sản quý giá đối với các nhà sản xuất

Hàng nguyên liệu

Hàng nguyên liệu là các sản phẩm rời (thường dựa trên tài nguyên thiên nhiên) được mua bán trên thị trường quốc tế như một nguyên liệu thô, hay sau khi đã được chế biến công nghiệp cơ bản Những loại nguyên liệu nông nghiệp quan trọng nhất là ngũ cốc (gạo, lúa mì),

cà phê nhân, dầu cọ, bông và đường trắng Những chuỗi giá trị của mặt hàng nguyên liệu thường có độ hợp nhất thấp, mặc dù việc mua bán có thể diễn ra tập trung Để tăng thêm giá trị, một chiến lược thú vị là “phi nguyên liệu hoá”, có nghĩa là đa dạng hoá các mặt hàng nguyên liệu truyền thống thành những biến thể có giá trị cao (ví dụ như cà phê đặc biệt, gạo đặc biệt, ca cao có hương vị đặc biệt, hay bông hữu cơ)

Năng lực cạnh tranh (các yếu tố quyết định và các chỉ số)

Hiệu quả hoạt động của một nền kinh tế là kết quả của nhiều biến số khác nhau: ở cấp vi mô, năng lực cạnh tranh được quyết định bởi những lợi thế so sánh “cứng” như địa điểm, mức độ sẵn có của tài nguyên và chi phí lao động, cũng như bởi các điều kiện “mềm” như năng lực của người chủ doanh nghiệp

Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh cũng là một hàm của việc phối hợp được các hoạt động trong chuỗi giá trị và sự tồn tại của các tổ chức hỗ trợ ở cấp trung Cuối cùng, một môi trường thuận lợi cho kinh doanh sẽ quyết định tổng chi phí của việc kinh doanh Nói tóm lại, năng lực cạnh tranh được thể hiện bằng những thước đo về hiệu quả kỹ thuật và khả năng sinh lợi nhuận, cũng như mức độ sáng tạo và đầu tư

Nông nghiệp hợp đồng

Một loại hình sản xuất trong đó nông dân và người mua ký kết hợp đồng trước mùa trồng trọt, thoả thuận về số lượng, chất lượng và ngày giao một mặt hàng nông sản nào đó tại một mức giá hay theo một công thức tính giá đã được ấn định trước Hợp đồng này đảm bảo cho

Trang 10

nông dân chắc chắn sẽ bán được sản phẩm của mình Đôi khi, trong hợp đồng còn có cả hỗ trợ kỹ thuật, tín dụng, dịch vụ, hay các đầu vào sản xuất do người mua cung cấp (xem thoả thuận dịch vụ có điều kiện)

(http:// www.bancomundial org.mx/pdf/SaladePrensa/EstudioRecientes/Lanpolfor/7.pdf)

Thu xếp dịch vụ liên kết (đi kèm)

Trong một thu xếp dịch vụ liên kết, các dịch vụ vận hành được cung cấp cùng với một giao dịch kinh doanh cơ bản (mua sản phẩm, hay cho vay) Ý tưởng căn bản là để tài trợ cho dịch

vụ như một phần trong giao dịch kinh doanh, ví dụ như kết hợp tư vấn kỹ thuật với việc bán nguyên liệu đầu vào Thu xếp dịch vụ liên kết có thể có sự tham gia của các đối tác kinh doanh khác với tư cách là nhà cung cấp dịch vụ, ví dụ như những nhà buôn nguyên liệu dầu vào hay các công ty chế biến, hay các nhà cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp với tư cách là một bên thứ ba

Các tổ chức hỗ trợ/ hỗ trợ

Các tổ chức hỗ trợ là những sáng kiến vì lợi ích cộng đồng trong phát triển kinh tế (ví dụ như mục tiêu tăng trưởng vì người nghèo) Các tổ chức hỗ trợ có thể là các chương trình của chính phủ cho phát triển khu vực tư nhân, hay các dự án phát triển do các nhà tài trợ quốc tế tài trợ Trái ngược với các chủ thể trong chuỗi giá trị, những chương trình và dự án này được tài trợ bởi nguồn vốn nhà nước (tức là bằng tiền đóng thuế của dân) Các tổ chức hỗ trợ đứng bên ngoài quy trình kinh doanh thường nhật, và chỉ cho phép mình hỗ trợ một cách tạm thời đối với một chiến lược nâng cấp chuỗi mà thôi Những nhiệm vụ hỗ trợ điển hình là tạo ra nhận thức, tạo điều kiện cho việc cùng xây dựng chiến lược và kế hoạch hành động, và điều phối các hoạt động hỗ trợ

An toàn thực phẩm/an toàn sản phẩm

An toàn có nghĩa là không bị nhiễm các chất độc hại từ môi trường và các chất độc hại khác

và các nguồn khác (vật lý, hoá chất và/hay sinh học) làm tổn hại đến sức khoẻ

Quản trị điều hành

Xem “quản trị chuỗi giá trị”

Mô hình tác động/khuôn khổ kết quả

Đây là một chuỗi từ “những đầu ra của dự án” đến “kết quả” và tiếp đến là những “tác động” trực tiếp và gián tiếp Chuỗi này bao gồm những liên kết nhân quả (“quan hệ nếu-thì”) Các

từ đồng nghĩa với mô hình tác động là “khuôn khổ kết quả”, “chuỗi kết quả”, “chuỗi tác động

Trang 11

hay “cơ chế tác động” Mô hình tác động là lý thuyết về tác động của một dự án, có nghĩa là

nó tổng hợp những giả định về những kết quả mà hành động của dự án có thể sẽ mang lại

Giả định về tác động

Các giả định về tác động là những mối “quan hệ nếu – thì” được dự đoán để kết nối các khâu khác nhau trong một mô hình tác động Chuỗi những giả định về tác động nói cho ta biết những gì chúng ta có thể kỳ vọng từ dự án

Can thiệp (để thúc đẩy chuỗi giá trị)

Các can thiệp là những hành động tạm thời của những tổ chức hỗ trợ bên ngoài, với mục

đích huy động và/hoặc kết nối các chủ thể trong chuỗi giá trị lại với nhau và xây dựng năng lực cho họ, từ đó thúc đẩy sự thay đổi trong chuỗi giá trị Ý tưởng là một can thiệp bên ngoài

sẽ tạo ra một sự thay đổi bên trong của hệ thống, trong trường hợp này chính là hành vi của các chủ thể trong chuỗi giá trị

Công ty dẫn đầu

Công ty dẫn đầu là những công ty buôn bán hay các công ty công nghiệp chủ chốt, đảm nhiệm vai trò điều phối trong chuỗi giá trị Những chuỗi giá trị có độ hợp nhất cao thường phụ thuộc vào các công ty dẫn đầu vì họ là những người mua chính đối với sản phẩm của

chuỗi (xem quản trị chuỗi)

Điểm chủ chốt

Là một yếu tố trong một hệ thống mà tại đó chỉ một sự can thiệp hay thay đổi nhỏ cũng có tác động lớn đến toàn bộ hệ thống

Cấp vĩ mô

Cấp vĩ mô nói đến những tổ chức và cơ quan nhà nước tạo nên một môi trường kinh doanh

thuận lợi Thông thường, cấp vĩ mô của một chuỗi giá trị bao gồm chính quyền cấp trung

ương, vùng và địa phương, hệ thống tư pháp và các nhà cung cấp các dịch vụ công cộng chủ yếu (đặc biệt là đường xá và cấp nước) Cấp vĩ mô sẽ quyết định chi phí chung của việc làm

ăn kinh doanh ở nhiều chuỗi giá trị khác nhau và ở nhiều ngành khác nhau của nền kinh tế

Thị trường/các quan hệ thị trường

Thị trường là sự tương tác giữa cung và cầu (người mua và người bán) của những loại hàng hoá và dịch vụ nhất định Các quy tắc trao đổi có thể khác nhau, tuỳ thuộc vào đặc điểm của loại hàng hoá được trao đổi (ví dụ như hàng nguyên liệu, hàng dễ hỏng, hàng và dịch vụ đầu tư) Có nhiều hình thức quan hệ thị trường: giao dịch thị trường cơ bản là việc mua đứt bán đoạn một sản phẩm do người bán trưng bày, ví dụ như ở một thị trường truyền thống trên phố (còn gọi là quan hệ thị trường độc lập trên mọt “thị trường hữu hình”) Các hình thức quan hệ thị trường phức tạp có thể là những hợp đồng đặt hàng hay các hợp đồng thầu lại thông thường

Tỉ lệ lợi nhuận (tỉ lệ lợi nhuận/giá thành hay tỉ lệ lợi nhuận/giá bán)

Trang 12

Tỉ lệ lợi nhuận gộp là hiệu số giữa “doanh thu” và “giá thành”, được thể hiện như số phần trăm của giá thành hay số phần trăm bớt đi trong giá bán Tỉ lệ lợi nhuận ròng cũng tương tự như vậy, nhưng trừ đi thuế trị giá gia tăng (VAT)

Cấp vi mô

Trong một chuỗi giá trị, cấp vi mô bao gồm những người vận hành chuỗi giá trị và những

nhà cung cấp dịch vụ vận hành chuỗi giá trị

Cấp trung

Trong một chuỗi giá trị, cấp trung bao gồm tất cả các chủ thể của chuỗi giá trị cung cấp những dịch vụ hỗ trợ thường xuyên hay đại diện cho những lợi ích chung của các chủ thể trong chuỗi Các chức năng tại cấp trung bao gồm những nhiệm vụ như nghiên cứu và phát triển công nghệ, thoả thuận về những tiêu chuẩn chuyên môn, các dịch vụ thúc đẩy, marketing chung, và vận động, tuyên truyền chính sách Những chức năng này được thực

hiện bởi các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ

Các dịch vụ vận hành/ các nhà cung cấp dịch vụ vận hành

Các dịch vụ vận hành là các dịch vụ trực tiếp thực hiện các chức năng của chuỗi giá trị thay mặt cho các nhà vận hành chuỗi, hoặc có liên hệ trực tiếp với họ Do đó, các dịch vụ vận hành là các dịch vụ giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) Những dịch vụ này bao gồm các dịch vụ cụ thể của chuỗi giá trị cũng như các dịch vụ kinh doanh nói chung, như dịch vụ

kế toán

Sản phẩm

Là một nhóm sản phẩm có chung các đặc tính vật lý hữu hình cũng như các dịch vụ có chung đặc tính được bán cho khách hàng Chuỗi giá trị được xác định bởi một sản phẩm hay một nhóm sản phẩm, ví dụ như chuỗi giá trị cà chua, hay chuỗi giá trị rau tươi

Năng suất

Sản lượng đầu ra trên một đơn vị đầu vào, ví dụ như số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một giờ đồng hồ hay trên một héc-ta

Tăng trưởng vì người nghèo

Tăng trưởng vì người nghèo là một mục tiêu được nêu ra nhiều nhất của việc thúc đẩy chuỗi

giá trị Tăng trưởng vì người nghèo có khái niệm tương đối và khái niệm tuyệt đối Khái

niệm tương đối nói rằng tăng trưởng kinh tế là vì người nghèo nếu người nghèo có thể tăng thu nhập của mình lên trên ngưỡng nghèo, ngay cả khi họ không nâng cao được tỉ lệ thu nhập của mình trong tổng thu nhập quốc dân (tỉ lề tăng trưởng dương cho người nghèo) Khái niệm tuyệt đối nói rằng tăng trưởng là vì người nghèo khi thu nhập của những người nghèo nhất (ví dụ như của một phần năm số người nghèo nhất trong tổng dân số) tăng lên ít nhất là bằng hoặc hơn so với thu nhập trung bình (như vậy sự bất bình đẳng sẽ giảm bớt) Tăng trưởng vì người nghèo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phảil àm cho người nghèo tham gia trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế, và không bị phụ thuộc vào phúc lợi xã hội

Trang 13

Đối tác nhà nước – tư nhân

Bất cứ khi nào các công ty tư nhân cùng quan tâm đến những lợi ích chung trong phát triển kinh tế, thì các cơ quan của nhà nước đều có thể thực hiện một số hoạt động phát triển cùng với công ty Khái niệm “đối tác nhà nước – tư nhân” là để chỉ một dự án chung giữa nhà nước và một công ty tư nhân nhằm thực hiện một số hoạt động nhất định để nâng cấp chuỗi giá trị Một tiêu chí quan trọng để một cơ quan nhà nước tham gia vào đối tác là các chủ thể khác trong chuỗi giá trị hoặc dân chúng nói chung phải nhận được một phần lợi ích thoả đáng

từ mối quan hệ đối tác đó

Ngành/tiểu ngành

Nền kinh tế có thể được chia thành các ngành theo những tiêu chí khác nhau Ở đây, thuật ngữ “ngành” được định nghĩa theo các nhóm thị trường sản phẩm chung Ví dụ như các ngành có thể là “ngành thực phẩm nông nghiệp, “ngành lâm nghiệp”, “ngành may mặc” hay

“ngành du lịch” Mỗi ngành đều bao gồm các công ty hoạt động trên thị trường tương ứng và những quy tắc thị trường cụ thể Các ngành có thể được chia nhỏ hơn nữa thành các tiểu ngành, theo các thị trường sản phẩm hay dịch vụ cụ thể, ví dụ như “tiểu ngành trồng trọt”,

“tiểu ngành lâm sản ngoài gỗ”, hay “tiểu ngành du lịch sinh thái” Cụ thể hoá hơn nữa các

tiểu ngành này sẽ dẫn đến các định nghĩa về chuỗi giá trị Tuy nhiên, cũng chưa có một cách

phân nhóm về các ngành, tiểu ngành hay chuỗi giá trị nào được chấp nhận rộng rãi Trên thực

tế, các thuật ngữ có thể chồng chéo nhau Thuật ngữ ngành (hay ngành kinh tế) là thuật ngữ chung hơn so với tiểu ngành, và trong một ngành thì có nhiều tiểu ngành

Dịch vụ

Dịch vụ là các hàng hoá kinh tế do một nhà cung cấp dịch vụ cung cấp cho khách hàng Dịch

vụ khác với sản phẩm hữu hình, bởi vì việc cung cấp và tiêu dùng dịch vụ có quan hệ mật thiết với nhau Một sự khác biệt quan trọng là sự khác biệt giữa các dịch vụ tư nhân cung cấp cho khách hàng tư nhân hay cho các doanh nghiệp (dịch vụ B2B), và dịch vụ lợi ích công cộng cung cấp cho những nhóm người khác nhau vì lợi ích tập thể của họ Trong các chuỗi

giá trị, cần phân biệt giữa các dịch vụ vận hành và các dịch vụ hỗ trợ Một loại dịch vụ nữa là

các dịch vụ dành cho thành viên, cung cấp cho những người ở trong một tổ chức, ví dụ như một hợp tác xã, một hiệp hội, hay một ủy ban

Tiêu chuẩn

Tiêu chuẩn là cách để xác định và quy định về chất lượng sản phẩm bằng việc nêu rõ những đặc tính mà một sản phẩm hoặc quy trình sản xuất ra sản phẩm đó phải có Điều nà liên quan đến những tính chất nội tại cũng như đạo đức Các liên kết kinh doanh trong các chuỗi giá trị cần phải tuân thủ những tiêu chuẩn an toàn sản phẩm, cũng như những tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn về sinh thái và xã hội nếu phù hợp Khi tiêu chuẩn đã được xây dựng và thống nhất, thì cần phải thực hiện các tiêu chuẩn đó – và cũng cần kiểm tra mức độ tuân thủ các tiêu chuẩn Những người vận hành đáp ứng tiêu chuẩn sẽ được cấp chứng chỉ

(xem cấp chứng chỉ)

Dịch vụ hỗ trợ/ các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ

Khác với các dịch vụ vận hành, các dịch vụ hỗ trợ không trực tiếp hỗ trợ (hay thực hiện) các

chức năng cơ bản trong chuỗi giá trị Ngược lại, các dịch vụ hỗ trợ là các hoạt động đầu tư và chuẩn bị chung, đồng thời có lợi cho tất cả hay ít nhất cũng là một vài nhà vận hành trong chuỗi giá trị Do đó, các dịch vụ hỗ trợ cung cấp một thứ hàng hoá chung cho các chủ thể của

Trang 14

chuỗi giá trị Những ví dụ điển hình về các dịch vụ hỗ trợ là việc đặt ra tiêu chuẩn chuyên môn, cung cấp thông tin về ngành, marketing xuất khẩu chung, tìm kiếm các giải pháp kỹ thuật có thể ứng dụng chung, hay vận động chính sách Các dịch vụ hỗ trợ thường được các hiệp hội kinh doanh, các phòng thương mại hay các viện nghiên cứu chuyên ngành của nhà nước cung cấp

Chuỗi cung/quản lý chuỗi cung

Khái niệm cơ bản của chuỗi cung cũng tương tự như chuỗi giá trị Sự khác biệt là ở chỗ chuỗi cung nói đến một loạt các chức năng sản xuất (đầu chuỗi) và marketing (cuối chuỗi) của các doanh nghiệp tư nhân, chủ yếu là các công ty đầu mối Do đó, quản lý chuỗi cung là một công cụ quản lý kinh doanh hơn là một khái niệm phát triển Chuỗi cung quan tâm đến các vấn đề hậu cần hơn là việc phát triển thị trường

Chi phí giao dịch

Ngoài chi phí sản xuất và marketing tại mỗi khâu trong chuỗi giá trị, những quan hệ thị trường giữa nhà cung cấp và người mua thường làm phát sinh “chi phí giao dịch” Những chi phí này bao gồm chi phí tìm kiếm đối tác kinh doanh, tìm kiếm thông tin và sàng lọc thị trường, chi phí đàm phán, theo dõi và cưỡng chế thực hiện hợp đồng Chi phí giao dịch cao thường là kết quả của những yếu tố kém hiệu quả của thị trường, ví dụ như độ minh bạch của thị trường kém, thiếu các tiêu chuẩn và phân thứ hạng cho sản phẩm, hay những yếu kém trong môi trường kinh doanh Có thể giảm những chi phí giao dịch này bằng cách tổ chức thị trường tốt hơn và cải thiện mức độ phối hợp trong chuỗi giá trị

Nâng cấp/nâng cấp chuỗi

Thuật ngữ “nâng cấp” dùng để chỉ con đường phát triển của chuỗi giá trị Gary Gereffi đã phân biệt giữa khái niệm “nâng cấp sản phẩm”, tức là việc đổi mới, đa dạng hoá hay cải tiến sản phẩm cuối cùng, với khái niệm “nâng cấp quy trình”, tức là cải tiến công nghệ sản xuất, tiêu thụ và hậu cần Những hình thức nâng cấp này sẽ cải tiến được độ hiệu quả nói chung

“Nâng cấp chức năng” có nghĩa là việc chuyển các chức năng của chuỗi giá trị từ một người vận hành này sang một người vận hành khác (ví dụ như chuyển khâu sơ chế sang cho nông dân) Điều này dẫn đến việc phân bổ giá trị gia tăng sẽ khác đi dọc theo các khâu trong chuỗi giá trị

Trong thuật ngữ của ValueLinks, nâng cấp nói về các hoạt động ở nhiều khía cạnh nhằm “cải thiện các liên kết kinh doanh, các hiệp hội, và các đối tác”, “tăng cường cung và cầu dịch vụ”

và “đưa vào áp dụng các tiêu chuẩn và cải thiện chính sách và môi trường kinh doanh cho chuỗi” Một khía cạnh nữa là việc ở rộng năng lực sản xuất nhằm tăng lượng hàng bán ra

Chiến lược nâng cấp

Một chiến lược nâng cấp là một thoả thuận giữa các chủ thể trong chuỗi về những biện pháp chung nhằm nâng cấp chuỗi

Giá trị gia tăng

Giá trị gia tăng là thước đo về giá trị được tạo ra trong nền kinh tế Khái niệm này tương đương với tổng giá trị được tạo ra bởi những người vận hành chuỗi (doanh thu của chuỗi = giá bán cối cùng * số lượng bán ra) Giá trị gia tăng trên một đơn vị sản phẩm là hiệu số giữa giá mà người vận hành chuỗi bán được trừ đi giá mà người vận hành chuỗi đó đã bỏ ra để mua những nguyên liệu đầu vào mà những người vận hành chuỗi ở công đoạn trước cung

Trang 15

cấp, và giá của những hàng trung gian mua từ những nhà cung cấp hàng hoá và dịch vụ không được coi là mắt xích trong chuỗi Nói tóm lại, “giá trị mà được cộng thêm vào hàng hoa hay dịch vụ tại mỗi khâu của quá trình sản xuất hay tiêu thụ mặt hàng đó” (McCormick/Schmitz) Một phần của giá trị gia tăng được tạo ra được giữ lại trong chuỗi (=giá trị được giữ lại), còn một phần khác thì được giữ lại bởi những nhà cung cấp nằm ngoài chuỗi

Giữ lại giá trị/ giá trị được giữ lại

Là giá trị tăng thêm được tạo ra nhờ việc nâng cấp chuỗi giá trị, và giá trị này được giữ lại với các nhà vận hành chuỗi

Chuỗi giá trị (VC)

Một chuỗi giá trị là:

- một loạt các hoạt động kinh doanh (hay chức năng) có quan hệ với nhau, từ việc cung cấp các đầu vào cụ thể cho một sản phẩm nào đó, đến sơ chế, chuyển đổi, marketing,

đến việc cuỗi cùng là bán sản phẩm đó cho người tiêu dùng (đây là quan điểm theo

chức năng đối với chuỗi giá trị)

- Là một loạt các doanh nghiệp (nhà vận hành) thực hiện các chức năng này, có nghĩa

là nhà sản xuất, nhà chế biến, nhà buôn bán, và nhà phân phối một sản phẩm cụ thể nào đó Các doanh nghiệp kết nối với nhau bằng một loạt các giao dịch kinh doanh trong đó sản phẩm được chuyển từ tay nhà sản xuất sơ chế đến tay người tiêu dùng cuối cùng Theo thứ tự các chức năng và các nhà vận hành, chuỗi giá trị sẽ bao gồm một loạt các đường dẫn trong chuỗi (hay còn gọi là khâu)

Quản trị chuỗi giá trị

Quản trị là cách phối hợp các hoạt đông kinh doanh theo chiều dọc trong chuỗi giá trị Theo

thuật ngữ được Gary Gereffi định nghĩa, chúng ta có thể phân biệt những hình thức quản trị khác nhau, trong đó hình thức quan trọng nhất là thị trường, các chuỗi giá trị theo mô-đun, các mối quan hệ bất đắc dĩ, và hợp nhất theo chiều dọc Trong khi trong một chuỗi giá trị theo mô-đun, một nhà cung cấp độc lập có thể chế tạo ra sản phẩm theo yêu cầu của người mua, thì các mối quan hệ bất đắc dĩ lại nói đến một hình thức quản trị trong đó những nhà

cung cấp nhỏ phải lệ thuộc vào một công ty đầu mối lớn hơn nhiều

Bản đồ chuỗi giá trị/lập bản đồ chuỗi giá trị

Bản đồ chuỗi giá trị là một hình thức trình bày bằng hình ảnh (sơ đồ) về những cấp độ vi mô

và cấp trung của chuỗi giá trị Theo định nghĩa về chuỗi giá trị, bản đồ giá trị bao gồm mọt bản đồ chức năng kèm với một bản đồ về các chủ thể của chuỗi Lập bản đồ chuỗi có thể nhưng không nhất thiết phải bao gồm cấp độ vĩ mô của chuỗi giá trị

Người vận hành chuỗi giá trị

Người vận hành chuỗi là các doanh nghiệp thực hiện những chức năng cơ bản của chuỗi giá trị Những người vận hành điển hình là nông dân, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các công ty công nghiệp, các nhà xuất khẩu, các nhà bán buôn và các nhà bán lẻ Họ có một điểm chung

là tại một khâu nào đó trong chuỗi giá trị, họ sẽ trở thành người chủ sở hữu của sản phẩm (nguyên liệu thô, bán thành phẩm hay thành phẩm) Do đó, nhà vận hành chuỗi và nhà cung cấp dịch vụ vận hành là hai khái niệm khác nhau Nhà cung cấp dịch vụ vận hành là nhà thầu phụ được các nhà vận hành thuê lại

Trang 16

Tuy nhiên, trong một chuỗi giá trị dịch vụ, những người vận hành chuỗi lại bao gồm cả doanh nghiệp cung cấp sản phẩm dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng (dù đó là một khách hàng cá nhân hay là một công ty), cũng như các nhà cung cấp chuyên biệt khác chuyên cung cấp đầu vào và các dịch vụ (thứ cấp) ở những khâu đầu của chuỗi

Thúc đẩy chuỗi giá trị

Thúc đẩy chuỗi giá trị có nghĩa là hỗ trợ sự phát triển của chuỗi bằng cách tạo điều kiện từ

bên ngoài cho một chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị

Tạo ra giá trị/giá trị được tạo ra

Là giá trị tăng thêm được tạo ra nhờ việc nâng cấp chuỗi giá trị

Chủ thể trong chuỗi giá trị

Thuật ngữ này bao gồm tất cả các các nhân, doanh nghiệp và các cơ quan của nhà nước có quan hệ với một chuỗi giá trị, cụ thể là những người vận hành chuỗi, các nhà cung cấp dịch

vụ vận hành, và những nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ Nói rộng hơn, một số cơ quan nhà nước tại cấp vĩ mô cũng có thể được coi là chủ thể của chuỗi nếu họ thực hiện những chức năng quan trọng trong môi trường kinh doanh của chuỗi

Người hỗ trợ chuỗi giá trị/ nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ

Những người hỗ trợ chuỗi giá trọ cung cấp những dịch vụ hỗ trợ chuõi và đại diện cho lợi ích chung của các chủ thể trong chuỗi Họ thuộc về cấp trung của chuỗi giá trị

Phối hợp theo chiều dọc / hợp nhất theo chiều dọc

Khi chuỗi giá trị được nâng cấp, sự phối hợp theo chiều dọc giữa các khâu khác nhau trong chuỗi giá trị cũng tăng lên Điều này có nghĩa là những mối quan hệ được điều tiết thông qua các thoả thuận và các hợp đồng bằng văn bản Chức năng điều phối hoạt động này thường được một công ty đầu mối thực hiện Ở cấp độ cao nhất, mối quan hệ giữa các nhà cung cấp

và người mua sẽ được “hợp nhất” tới mức các chức năng sản xuất và marketing của nhà cung

cấp sẽ hoàn toàn bị kểm soát bởi công ty mua (xem quản trị chuỗi giá trị)

Tầm nhìn/ xác định tầm nhìn (để phát triển chuỗi giá trị)

Thúc đẩy chuỗi giá trị cần phải có một tầm nhìn chiến lược Tầm nhìn này mô tả sự thay đổi

mà chúng ta mong muốn đối với chuỗi giá trị, trả lời cho câu hỏi: sau năm năm nữa, chuỗi giá trị của chúng ta trông sẽ như thế nào? Một điều vô cùng quan trọng là phải đảm bảo rằng tầm nhìn được các chủ thể và các tổ chức hỗ trợ chuỗi giá trị cùng nhau xây dựng và chia sẻ,

để có thể đạt được các mục tiêu vận hành và tạo điều kiện cho việc phối hợp các hoạt động nâng cấp chuỗi

Trang 17

ValueLinks

Các biểu tượng lập bản đồ chuỗi trong các hội thảo đào tạo

và tài liệu đào tạo Hình và mầu các

tấm thẻ sử dụng

trong hội thảo

Hình các tấm thẻ trong tài liệu màu đen trắng

Cấp độ của chuỗi giá trị có sử dụng những biểu tượng này

Cấp vi mô

Khâu trong chuỗi giá trị

Người vận hành chuỗi giá trị

Mối liên kết giữa các nhà vận hành

Thị trường cuối cùng trong chuỗi giá trị

Cấp trung và vĩ mô

Người hỗ trợ chuỗi giá trị

Người tạo điều kiện cho chuỗi giá trị

Tất cả các cấp độ trong chuỗi giá trị

Hạn chế

Trang 18

Tiềm năng

Trang 19

ValueLinks Module 0

Quyết định có nên tham gia vào việc thúc đẩy chuỗi giá trị hay không

Các nội dung chính:

Nội dung chính của Module này ………

Các nhiệm vụ trong việc nhận thức về thúc đẩy chuỗi giá trị cho phát triển …………

(Nhiệm vụ 0.1) Đánh giá tiềm năng và các hạn chế của việc thúc đẩy chuỗi giá trị……

(Nhiệm vụ 0.2) Kết hợp thúc đẩy chuỗi giá trị với các cách tiếp cận phát triển khác … Kết hợp thúc đẩy chuỗi giá trị với phát triển kinh tế vùng ………

Kết hợp thúc đẩy chuỗi giá trị với phát triển thị trường dịch vụ ………

Kết hợp thúc đẩy chuỗi giá trị với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên ………

Tài liệu tham khảo và các trang web ………

Trang 20

ValueLinks Module 0

Quyết định có nên tham gia vào việc thúc đẩy chuỗi giá trị hay không

Nội dung chính của Module này

Xuất phát điểm của cuốn Cẩm nang này, và cũng là mục tiêu cơ bản mà cuốn Cẩm nang này

cố gắng đóng góp phần nào, chính là sự tăng trưởng vì người nghèo Khái niệm tăng trưởng

vì người nghèo dựa trên một tiền đề cơ bản là chỉ có tăng trưởng kinh tế và sự thành công trên thị trường của người nghèo mới có thể mang lại một giải pháp bền vững cho vấn đề nghèo đói Bất cứ khi nào người nghèo có thể tham gia vào các thị trường sản phẩm, ví dụ như ở những thị trường thực phẩm hay chế tạo sản phẩm sử dụng nhiều lao động, việc thúc đẩy chuỗi giá trị có liên quan cũng có thể góp phần giúp họ thoát khỏi đói nghèo Hộp 0.1 đưa ra hai định nghĩa tiêu chuẩn về tăng trưởng vì người nghèo, cả hai định nghĩa này đều liên quan tới việc tăng thu nhập cho người nghèo

Hộp 0.1 Hai định nghĩa về tăng trưởng vì người nghèo

Khái niệm tương đối về tăng trưởng vì người nghèo

Tăng trưởng kinh tế được coi là vì người nghèo nếu như thu nhập của người nghèo tăng nhanh hơn so với thu nhập của những người không nghèo (nhờ đó sự bất bình đẳng giữa người nghèo và người không nghèo sẽ giảm bớt)

Khái niệm tuyệt đối về tăng trưởng vì người nghèo

Tăng trưởng kinh tế được coi là vì người nghèo nếu như người nghèo tăng được thu nhập của mình trên ngưỡng nghèo, cho dù tỉ lệ thu nhập của họ trong tổng thu nhập quốc dân không tăng lên (có nghĩa là một tốc độ tăng trưởng dương cho người nghèo)

Nguồn: trích từ A.McKay, 2005

Mặc dù nghèo về thu nhập là trọng tâm của việc phát triển theo định hướng thị trường, song các khía cạnh khác của nghèo đói cũng cần được xem xét Quyền sở hữu tài sản, sự tiếp cận với giáo dục và các dịch vụ xã họi, hay sự tham gia vào đời sống chính trị cũng là những nhân tố có thể giúp người nghèo có khả năng tham gia vàokinh doanh, nhờ đó có được thu nhập tốt hơn trong tương lai

Module đầu tiên trong ValueLinks này giới thiệu về phương pháp tiếp cận phát triển “thúc đẩy chuỗi giá trị”, đặt nó trong bối cảnh rộng hơn của các chiến lược phát triển để giảm nghèo Module này cũng đưa ra những tiêu chí để thực hiện thúc đẩy chuỗi giá trị như một chiến lược của một dự án phát triển Thúc đẩy chuỗi giá trị có thể là một dự án độc lập, hoặc

là mọt hợp phần trong một chương trình phát triển có sử dụng nhiều cách tiếp cận khác nữa

Trang 21

Thúc đẩy chuỗi giá trị là gì?

Thúc đẩy chuỗi giá trị giúp tăng trưởng kinh tế - như một điều kiện cần thiết để tăng thu nhập – bằng cách đảm bảo rằng thu nhập tăng thêm được tạo ra sẽ thực sự đem lại lợi ích cho những nhóm người nghèo Điều này phải đạt được thông qua việc tăng cường cách thức hoạt động của các thị trường sản phẩm thương mại liên quan đến người nghèo, bằng cách cải thiện

sự tiếp cận của họ đối với các thị trường này, và/hoặc bằng cách gây ảnh hưởng đến kết quả phân phối của các quy trình trên thị trường Do đó, thúc đẩy chuỗi giá trị vận dụng những lực lượng thị trường để đạt được các mục tiêu phát triển Nó hướng đến các cơ hội kinh doanh,

và cố gắng phát huy những tiềm năng kinh tế sẵn có hoặc đang nổi lên của người nghèo Do

đó, thúc đẩy chuỗi giá trị về cơ bản là một cách tiếp cận phát triển – và rõ ràng cần được phân biệt với khái niệm quản lý chuỗi cung cấp Trong khi thúc đẩy chuỗi giá trị có một quan điểm vì lợi ích chung, thì quản lý chuỗi cung cấp lại nhằm tối ưu hoá những công việc hậu cần của việc tìm kiếm nguồn đầu vào và marketing sản phẩm – tức là nhìn từ góc độ của một công ty đầu mối cụ thể nào đó Quản lý chuỗi cung cấp là một công cụ quản lý tư nhân và có phạm vi hẹp hơn nhiều

Thúc đẩy chuỗi giá trị có thể được kết hợp với các cách tiếp cận phát triển khác Nhưng nó không thể dùng để thay thế cho các chiến lược tăng trưởng vì người nghèo khác

Các nhiệm vụ trong việc nhận thức về thúc đẩy chuỗi giá trị cho phát triển

Điểm đầu tiên và quan trọng nhất đối với các nhà hoạch định đang có ý định tham gia vào việc thúc đẩy chuỗi giá trị là phải kiểm tra lại tiền đề cơ bản của tăng trưởng vì người nghèo: liệu chúng ta có khả năng đến đâu trong việc đạt được cùng một lúc hai mục tiêu là tăng

trưởng kinh tế và giảm nghèo trong một bối cảnh phát triển cụ thể? Module này đưa ra những

tiêu chí để đánh giá những tiềm năng và hạn chế của việc thúc đẩy chuỗi giá trị như một cách

để giảm nghèo

Tuỳ thuộc vào câu trả lời đối với câu hỏi trên mà việc thúc đẩy chuỗi giá trị có thể được kết hợp với các phương pháp tiếp cận phát triển khác để chuẩn bị và bổ sung cho sự phát triển của các thị trường sản phẩm Điều này dẫn đến một loạt các cân nhắc khác nữa liên quan đến việc thiết kế các chương trình phát triển trong đó việc thúc đẩy chuỗi giá trị chỉ là một hợp phần trong số nhiều hợp phần khác Để đảm bảo rằng việc thúc đẩy chuỗi giá trị thực sự đóng góp vào việc giảm nghèo, chúng tôi phân biệt giữa hai nhiệm vụ:

• (Nhiệm vụ 0.1) Đánh giá tiềm năng và những hạn chế của việc thúc đây chuỗi giá trị trong một bối cảnh phát triển cụ thể

• (Nhiệm vụ 0.2) Kết hợp việc thúc đẩy chuỗi giá trị với những cách tiếp cận phát triển khác

Nhiệm vụ đầu tiên bao gồm kiểm tra xem đã có đầy đủ những điều kiện tối thiểu để người nghèo tham gia vào thị trường thương mại hay chưa Nếu thiếu một số điều kiện, thiết kế một chương trình phát triển có thể bao gồm thêm một số cách tiếp cận khác để chuẩn bị và hỗ trợ cho một hợp phần về thúc đẩy chuỗi giá trị Ngay cả khi có tiềm năng rất hứa hẹn, vẫn cần phải đặt ra những ranh giới xa hơn – xác định phạm vi của các can thiệp và lựa chọn các chuỗi giá trị cụ thể Khía cạnh này của thiết kế chương trình được đề cập đến trong Module 1

của ValueLinks

Trang 22

(Nhiệm vụ 0.1) Đánh giá tiềm năng và những hạn chế của việc thúc đẩy chuỗi giá trị

Trước khi tham gia vào việc thúc đẩy chuỗi giá trị, những nhà hoạch định chính sách phát triển cần phải tìm hiểu xem cần phải có những điều kiện nào để quan điểm chuỗi giá trị là thực sự phù hợp trong việc giải quyết vấn đề đói nghèo Trên thực tế, việc hỗ trợ cho các nhóm người nghèo trong bối cảnh của thị trường sản phẩm có thể là chưa đủ, vì tiềm năng kinh tế và năng lực cạnh tranh của người nghèo thường bị hạn chế bởi những vấn đề chung ở rất nhiều nếu không muốn nói là tất cả các chuỗi giá trị Hộp 0.2 liệt kê những hạn chế ảnh hưởng đến sự tham gia của người nghèo vào các thị trường thương mại

Hộp 0.2 Khái niệm: Những nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người nghèo vào các thị trường thương mại

Những nhân tố chung hạn chế sự tham gia thị trường của người nghèo

Môi trường và chính sách kinh doanh

• Môi trường kinh doanh thường chứa đựng nhiều rủi ro hơn và chi phí làm ăn tương đối đắt hơn đối với các doanh nghiệp nhỏ so với các doanh nghiệp lớn,

Tiếp cận với các thị trường dịch vụ liên ngành

• Những người nông dân hỏ và các doanh nghiệp siêu nhỏ chịu ảnh hưởng tiêu cực của những điều kiện tiếp cận vào các thị trường tài chính chính thức đòi hỏi phải có thế chấp và bảo lãnh

• Do quy mô hoạt động còn nhỏ, nên các nhà sản xuất nhỏ thường gặp phải những vấn

đề về tiếp cận đối với đầu vào và các thị trường dịch vụ kinh doanh

Tài sản sản xuất và quyền sở hữu tài sản

• Những vấn đề về trình độ giáo dục thấp và vấn đề về sức khoẻ khiến cho người nghèo

bị thiệt thòi trên thị trường lao động

• Việc thiếu tài sản và không có quyền sở hữu tài sản đối với đất và nước đã hạn chế đáng kể việc đầu tư của nông dân

Các điều kiện về vị trí

• Nghèo đói thường tập trung vào những vùng xa xôi, có địa hình khó khăn phức tạp; ở những vùng đó, việc tiếp cận thị trường bị hạn chế đáng kể - làm tăng chi phí marketing và ngăn cản đầu tư

Nguồn: tự biên soạn

Trang 23

Việc thiết kế một cách tiếp cận theo chuỗi giá trị cần phải tính đến những yếu tố này Vì ở mỗi thị trường khác nhau, mức độ phù hợp của các yếu tố này lại khác nhau, cho nên khả năng đảm bảo rằng tăng trưởng sẽ dẫn đến giảm nghèo còn phụ thuộc vào việc lựa chọn kỹ lưỡng những thị trường sản phẩm cần phải phát triển Một phương án là đầu tiên nên lựa chọn những chuỗi giá trị có ít khó khăn nhất đối với những người nghèo tự doanh Một phương án khác là nên đạt được những gì tốt nhất có thể trong điều kiện khó khăn hiện nay

Ví dụ như, ngay cả khi một vùng có vị trí xa xôi khó khăn, thì vùng đó vẫn có thể sản xuất ra một mặt hàng đặc sản nào đó, hay có thể hấp dẫn đối với khách du lịch Như vậy, hạn chế có thể được chuyển thành cơ hội Một số điều kiện khó khăn chỉ đúng với những người nghèo tự doanh hoặc các doanh nghiệp siêu nhỏ Ta có thể khắc phục những khó khăn đó bằng cách tập trung vào những ngành sử dụng nhiều lao động, tạo ra cơ hội việc làm cho người nghèo Như vậy tác động vì người nghèo sẽ không phải là giúp cho những nông dân nghèo và các doanh nghiệp siêu nhỏ tiếp cận với thị trường, mà là tạo ra những việc làm nhờ có thúc đẩy chuỗi giá trị Việc phân tích những điều kiện và cơ hội cụ thể là một phần trong quá trình lựa chọn chuỗi giá trị cần được thúc đẩy Module 1 của cuốn cẩm nang này chủ yếu là để trả lời câu hỏi trên

Tuy nhiên, trong trường hợp những nhân tố đề cập đến trong hộp 0.2 trở nên quá phổ biến đến nỗi việc thúc đẩy chuỗi giá trị không thể khắc phục được, thì chính sách phát triển cần phải cân nhắc lại phương pháp tiếp cận phát triển nói chung: câu hỏi ở đây là liệu việc thúc đẩy chuỗi giá trị vẫn còn phù hợp hay không nếu được bổ sung bằng những can thiệp nhằm vào những vấn đề liên ngành một cách riêng biệt Nếu không, cần phải chuyển trọng tâm, từ thúc đẩy chuỗi giá trị sang một phương pháp tiếp cận khác hướng đến giảm nghèo

Một quy tắc chung trong việc cân nhắc những phương án này là xem xét mức độ nghiêm trọng của vấn đề đói nghèo và mối quan hệ giữa các hạn chế Nền kinh tế càng kém phát triển thì những nhân tố hạn chế nêu trong họp 0.2 càng trở nên quan trọng Tổ chức OECD

đã đưa ra một cách phân loại rất hữu ích về các tình trạng nghèo đói ở nông thôn (“Thúc đẩy nông nghiệp tăng trưởng vì người nghèo”, 2006) OECD-DAC đã phân biệt năm “thế giới nông thôn” khác nhau tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và định hướng thị trường, từ “nông nghiệp thương mại quy mô lớn (“thế giới nông thon 1”) đến “các hộ gia đình nông thôn nghèo kinh niên, nhiều hộ gia đình không còn hoạt động kinh tế nữa” (“thế giới nông thôn 5”) Những thế giới nông thôn kém phát triển nhất đều chứa đựng những vấn đề liên quan đến nghèo đói rất phức tạp, hạn chế tầm quan trọng của các phương pháp tiếp cận theo định hướng thị trường – mà thúc đẩy chuỗi giá trị là một trong những phương pháp đó Mặc dù khó có thể xác định một “ngưỡng” phân định thật rạch ròi, mà dưới ngưỡng đó việc thúc đẩy chuỗi giá trị trở nên không khả thi, song rõ ràng là có những giới hạn tuyệt đối Chắc chắn là việc thúc đẩy chuỗi giá trị sẽ không có nhiều tác dụng trong những điều kiện nghèo cùng cực như trong “thế giới nông thôn 5” Khi vẫn còn những trở ngại đối với sự tham gia kinh tế, thì những nhóm người nghèo sẽ tiếp tục không được hưởng những lợi ích từ tăng trưởng kinh tế Trong những trường hợp như vậy, những can thiệp về quyền sở hữu đất và nước, sự tiếp cận đối với giáo dục hay các dịch vụ y tế cơ bản, các tổ chức xã hội, hay thậm chí việc chuyển giao các phúc lợi xã hội cần phải được ưu tiên trước khi tiến hành bất cứ sự phát triển theo định hướng thị trường nào

May mắn là ranh giới phân định giữa những người nghèo có tiềm năng “cạnh tranh” và những người “không có năng lực cạnh tranh” có thể được thay đổi Ngay cả những người với mức thu nhập dưới 1 đô-la một ngày cũng có thể trở thành những đối tác kinh tế thú vị Những nghiên cứu gần đây cho thấy có những cơ hội kinh doanh quan trọng ngay tại “đáy của kim tự tháp kinh tế”: một ví dụ là thị trường điện thoại làng xã ở Bangladesh, trong đó những người “phụ nữ điện thoại” nghèo bán thời gian sử dụng điện thoại di động cho những người dân cùng làng, nhờ đó nâng cao thu nhập và cung cấp một dịch vụ có lợi cho cả khách hàng của họ nữa (S.Hart, 2005, trang 119)

Trang 24

Khắc phục những tác động tiêu cực tiềm tàng của việc phát triển theo định hướng thị trường

Những người làm công tác phát triển cần phải ý thức được về những ảnh hưởng tiêu cực có thể của việc sử dụng phương pháp tiếp cận phát triển thị trường mang tính thương mại Một vấn đề là những hậu quả của sự thay đổi cơ cấu: việc thúc đẩy các thị trường cạnh tranh có thể đẩy những nhà sản xuất truyền thống ra ngoài lề trong những ngành sản xuất quy mô nhỏ hay sản xuất nông nghiệp, trong khi lại mang lại lợi ích cho những nhà sản xuất lớn hơn và

có hiệu quả hơn Chỉ phát huy lợi thế duy nhất là giá thành rẻ và nhân công rẻ có thể dẫn đến

sự hợp nhất thị trường, nhưng có thể lại không đem lại tác động giảm nghèo đáng kể nào cả (khái niệm này được gọi là “mặt trái” của hợp nhất thị trường) Bất kỳ sự đầu tư nào vào việc nâng cao năng suất ở những thị trường thực phẩm có tính cạnh tranh cao nhưng giá trị thấp sẽ khiến cho giá bán giảm xuống Ngược lại, việc sản xuất hoa màu quy mô nhỏ trong thế độc canh có thể ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh lương thực Ngoài ra, còn cần chú ý đặc biệt đến những điều kiện mà những nhóm người lao động dễ bị tổn thương (người di cư và lao động giản đơn) tham gia vào nền kinh tế

Tuỳ thuộc vào tầm quan trọng của những hạn chế kể trên mà quan điểm chuỗi giá trị phải được bổ sung bằng những can thiệp khác, nhằm vào khả năng nói chung của người nghèo trong việc tham gia vào các hoạt động kinh tế Một lựa chọn là nên tập trung theo vùng lãnh thổ, giải quyết những điều kiện về cơ sở hạ tầng cho những vùng sâu vùng xa, hoặc khắc phục những hạn chế về hành chính đối với người nghèo hay những vấn đề chung về tiếp cận dịch vụ Trên thực tế, hầu hết các chương trình phát triển đều kết hợp nhiều loại can thiệp khác nhau Những sự kết hợp điển hình giữa thúc đẩy chuỗi giá trị với các phương pháp tiếp cận phát triển khác được đề cập sâu hơn ở phần 0.2 dưới đây

(Nhiệm vụ 0.2)

Kết hợp giữa thúc đẩy chuỗi với các phương pháp tiếp cận khác

Việc thúc đẩy tăng trưởng vì người nghèo có thể nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau, tuỳ thuộc vào lĩnh vực kinh tế đang cần được thúc đẩy Hộp 0.3 cho thấy những phương pháp tiếp cận đó có mối quan hệ với nhau như thế nào: sự khác biệt cơ bản là giữa quan điểm ngành và quan điểm không gian về phát triển kinh tế Trong khi phát triển kinh tế địa phương

và vùng miền tập trung vào việc tăng cường năng lực cạnh tranh của một địa phương hay nền kinh tế của địa phương và của vùng, quan điểm ngành lại nhằm mục tiêu phát huy tiềm năng tăng trưởng của một thị trường nhất định Quan điểm ngành còn có thể được cụ thể hoá hơn nữa thành các thị trường hàng tiêu dùng và các thị trường dịch vụ và nguồn lực Thep quan điểm của một thị trường sản phẩm (có nghĩa là theo quan điểm về chuỗi giá trị), những người nghèo đóng vai trò là những nhà sản xuất và cung cấp những sản phẩm trên thị trường Còn theo quan điểm dịch vụ kinh doanh hay quan điểm phát triển tài chính vi mô thì những người nghèo lại được coi là khách hàng của một hệ thống các dịch vụ dành cho người nghèo cần được thiết lập Việc đặt trọng tâm vào chính sách kinh tế và moi trường kinh doanh là một quan điểm bao trùm trong tăng trưởng vì người nghèo Do đó, việc thúc đẩy chuỗi giá trị chỉ

là một trong một vài khả năng để cụ thể hoá phát triển kinh tế mà thôi

Trang 25

Hộp 0.3 Khái niệm/hình mẫu: Các cấp độ quan điểm về phát triển kinh tế

Các quan điểm về phát triển kinh tế (in đậm) và các phương pháp tiếp cận phát triển (in nghiêng)

Thúc đẩy tăng trưởng Thị trường dịch vụ và

vì người nghèo bằng thị trường nguồn lực

việc phát triển kinh - Phát triển dịch vụ KD

tế thị trường - Tài chính vi mô

Quan điểm về vị trí địa lý - Quản lý đất đai

- Phát triển kinh tế địa phương

Quan điểm về chính sách và môi trường kinh doanh

- Cải thiện môi trường đầu tư

Nguồn: Tự biên soạn

Các quan điểm khác nhau nói trên không loại trừ lẫn nhau Trong thực tiễn phát triển, các phương pháp tiếp cận theo ngành và theo lãnh thổ thường được kết hợp với nhau, và việc thúc đẩy chuỗi giá trị trở thành một hợp phần trong những chương trình phát triển kinh tế và nông thôn lớn hơn

Các thiết kế chương trình điển hình đều có sự kết hợp giữa:

- Thúc đẩy chuỗi giá trị và phát triển kinh tế theo vùng lãnh thổ (phát triển kinh tế nông thôn hay phát triển nông thôn)

- Thúc đẩy chuỗi giá trị và phát triển thị trường dịch vụ kinh doanh (BDS)

- Thúc đẩy chuỗi giá trị và tư vấn chính sách kinh tế

Quan điểm về các thị trường cụ thể trong phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị cũng kết hợp tốt với các chương trình phát triển trong các lĩnh vực về quản lý nguồn tài nguyên, đặc biệt là việc quản lý bền vững các nguồn tài nguyên rừng nhiệt đới, các hệ sinh thái biển và đa dạng

Trang 26

sinh học Một nguyên tắc cốt lõi trong việc bảo vệ các nguồn tài nguyên này là việc sử dụng chúng một cách bền vững

Do đó, việc phát triển các thị trường cho các sản phẩm thiên nhiên có xuất xứ từ những khu vực được bảo hộ cũng có thể là một hợp phần trong các chương trình quản lý tài nguyên thiên nhiên

Các phần sau đây đề ra những tiêu chí để tìm hiểu về các tác động cộng ưởng tiềm tàng và tính bỏ sung lẫn nhau giữa việc thúc đẩy chuỗi giá trị và các các tiếp cận phát triển khác theo

ý tưởng là việc kết hợp các quan điểm phát triển có thể khiến cho tác động được tăng cường hơn

Kết hợp giữa việc thúc đẩy chuỗi giá trị và phát triển kinh tế vùng miền

Phát triển kinh tế địa phương (và vùng miền) là một cách tiếp cận phát triển đã được đề cập nhiều trong các tài liệu và được các tổ chức phát triển sử dụng rộng rãi Hộp 0.4 mô tả ngắn gọn khái niệm này

Các quan điểm phát triển kinh tế theo ngành và vùng lãnh thổ có tác dụng bổ sung cho nhau Việc đặt trọng tâm vào một vùng miền nhất định cũng xem xét đến các ngành kinh tế đang hoạt động tại địa phương đó Việc phân tích tiềm năng kinh tế của những ngành đó bắt đầu với việc xem xét đa ngành, từ đó mới xác định thị trường và các chuỗi giá trị có tiềm năng Ngược lại, việc đặt trọng tâm vào một ngành hay chuỗi giá trị cụ thể cho phép chúng ta nhìn nhận tất cả các mối liên kết kinh doanh dẫn đến thị trường cho người tiêu dùng cuối cùng Việc phân tích chuỗi giá trị thường cho ta thấy những nhân tố quan trọng của vùng miền; những nhân tố này cần được giải quyết thoả đáng để tăng tính cạnh tranh cho vùng miền đó

Hộp 0.4 Khái niệm: Phát triển kinh tế địa phương và vùng lãnh thổ (LRED)

Phát triển kinh tế địa phương và vùng lãnh thổ

Phát triển kinh tế địa phương và vùng lãnh thổ là một chiến lược để thúc đẩy nền kinh tế của các địa phương và vùng lãnh thổ Các mục tiêu chủ yêu của cách tiếp cận LRED là tạo ra những điều kiện khung thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh tại một địa phương cụ thể, dỡ

bỏ các rào cản về hành chính, tăng cường tính cạnh tranh của địa phương để thu hút các nhà đầu tư mới, và củng cố các doanh nghiệp địa phương và các chu kỳ kinh doanh ở địa phương LRED giúp cho các bên liên quan của một vùng miền thực hiện những sáng kiến để cùng thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương bằng cách thiết lập các mối liên kết giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, và các nhóm lợi ích trong xã hội dân sự Các chiến lược phát triển địa phương được dựa trên tiềm năng phát triển kinh tế, các nguồn lực và điều kiện thể chế của vùng miền đó Một khái niêm có liên quan là “thúc đẩy kinh tế cộng đồng”

Nguồn: Tự biên soạn

Do đó, một sự kết hợp giữa cả hai quan điểm trên có thể tạo ra những tác động cộng hưởng quan trọng Tác dụng cộng hưởng này có hai tác dụng, như được trình bày trong Hộp 0.5

Hộp 0.5 Khái niệm: Tác dụng cộng hưởng giữa cách tiếp cận ngành và vùng lãnh thổ

Tác dụng của quan điểm phát triển theo vùng lãnh thổ đối với việc thúc đẩy chuỗi giá trị:

• điều chỉnh các nhân tố về địa điểm để đáp ứng các yêu cầu về phát triển chuỗi giá trị,

Trang 27

đặc biệt là về cơ sở hạ tầng địa phương, hệ thống hành chính địa phương và việc cung cấp các dịch vụ công

• quản lý xung đột giữa các nhu cầu khác nhau của các chuỗi khác nhau đối với nguồn lực tài nguyên và các nhân tố sản xuất khan hiếm)

• giải quyết mối quan hệ lẫn nhau và bổ sung cho nhau của các chuỗi giá trị

Tác dụng của quan điểm chuỗi giá trị đối với phát triển kinh tế địa phương:

• Củng cố kinh tế địa phương, xác định những ngành trong vùng có nhiều tiềm năng nhất về thị trường và phát triển

• Thúc đẩy xuất khẩu từ địa phương, phát huy tính cạnh tranh của các nhà sản xuất, hội nhập vào các chuỗi giá trị quốc gia và quốc tế

Phân tích giá trị gia tăng được tạo ra trong vùng và xây dựng các chién lược nhằm nâng cao mức độ đóng góp của địa phương đó

Nguồn: Tự biên soạn

Để có thể khai thác triệt để những tác dụng cộng hưởng tiềm tàng nói trên, các chương trình phát triển phải phối hợp việc lựa chọn các vùng và việc lựa chọn các chuỗi giá trị cần được

hỗ trợ Trên thực tế, việc thúc đẩy một nền kinh tế của một vùng miền mà không sử dụng quan điểm chuỗi giá trị để tận dụng tiềm năng kinh tế của địa phương thì sẽ khó có hiệu quả Một điều hiển nhiên là tác dụng cọng hưởng sẽ là lớn nhất khi thị trường cuối cùng của một chuỗi giá trị được đặt ở chính địa phương đó Trong trường hợp này, thúc đẩy chuỗi giá trị là nói đến chuỗi giá trị địa phương hay “các cụm kinh tế địa phương”, kết hợp giữa các can thiệp phát triển cụ thể của địa phương với can thiệp cụ thể về thị trường Do đó, ở đây có một mối quan hệ chặt chẽ và tương tác với cách tiếp cận phát triển theo cụm (xem Pietrobelli và Rabellotti, 2004)

Hộp 0.6 Trường hợp: Kết hợp cách tiếp cận theo ngành và cách tiếp cận theo vùng lãnh thổ ở Lào

Các sản phẩm trên thị trường có tiềm năng kinh tế và tăng trưởng vì người nghèo

Các tỉnh bắc và tây Lào là đối tượng của Chương trình “Phát triển nông thôn ở vùng núi”, Lào

Nguồn: dựa trên thông tin của Chương trình RDMA, GTZ Lào

Ví dụ trong Hộp 0.6 cho thấy phát triển kinh tế vùng miền có thể dẫn đến một quan điểm về chuỗi giá trị như thế nào Chương trình RDMA ở Lào được triển khai ở một số huyện tại ba tỉnh miền bắc nước Lào Việc phân tích tiềm năng kinh tế vùng ở từng miền đã cho thấy một danh mục các sản phẩm có tiềm năng, ví dụ như mủ cao su để xuất khẩu sang Trung Quốc,

vỏ cây Po Saa - một lâm sản ngoài gỗ cung cấp nguyên liệu để sản xuất giấy thủ công có chất lượng cao, chủ yếu là để xuất khẩu sang Thái Lan, nhưng cũng để ché biến trong nước, hay gạo để phục vụ tiêu dùng ở các hu đô thị của Lào Hầu hết các sản phẩm này đều có thị

Trang 28

trường vươn ra ngoài biên giới của tỉnh Điều này có nghĩa là việc phát triển thị trường cần phải có sự tham gia của các chủ thể khác trong chuỗi giá trị nằm ở những địa bàn khác Trường hợp sản phẩm du lịch sinh thái đặc biệt đáng chú ý: ngành du lịch có sự tham gia của các công ty du lịch quốc tế ở châu Âu và Mỹ Để phát triển các điểm du lịch trong vùng, các nhà hoạch định phát triển cần phải tìm kiếm những trung gian bên ngoài khu vực để nâng cao doanh số

Mối liên kết giữa vùng miền và ngành cũng rất quan trọng khi xuất phát điểm là chuỗi giá trị

Ví dụ như, loại ca cao chất lượng cao của E-cua-đo, một mặt hàng xuất khẩu quan trọng, có nguồn gốc từ một vài địa phương nổi tiếng của nước này Việc thúc đẩy ngành sản xuất ca cao làm nảy sinh nhu cầu phải giải quyết các vấn đề về công nghệ và dịch vụ trên quy mô cả vùng Khía cạnh không gian lãnh thổ của chuỗi giá trị có mối tương tác với các can thiệp hỗ trợ cho việc phi tập trung hoá và lập kế hoạch vùng Ví dụ như, việc đầu tư vào sản xuất mật ong hữu cơ đòi hỏi phải sử dụng đất có tổ chức, và cấm các hoạt động nông nghiệp thâm canh ở một số địa điểm nhằm ngăn chặn việc ảnh hưởng đến chất lượng của mật ong

Kết hợp thúc đẩy chuỗi giá trị với phát triển thị trường dịch vụ

Việc phát triển cung và cầu dịch vụ cho doanh nghiệp là những nhân tố then chốt của việc thúc đẩy chuỗi giá trị Mặc dù có rất nhiều dịch vụ chuyên biệt cho các chuỗi giá trị khác nhau, nhưng phần lớn các dịch vụ kinh doanh đều có tác dụng hỗ trợ các nhiệm vụ sản xuất

và marketing nói chung của nhiều ngành Điều này đặc biệt đúng đối với các dịch vụ tài chính

Việc phát triển các dịch vụ kinh doanh (cách tiếp cận “BDS”) và việc thúc đẩy các hệ thống tài chính vi mô tạo nên các cách tiếp cận độc lập đối với việc phát triển kinh tế vì người nghèo Cả hai cách tiếp cận này đều tập trung vào các vấn đề về sự sẵn có của dịch vụ dành cho các doanh nghiệp nhỏ (xem phần mô tả ngắn gọn được trình bày trong Hộp 0.7) Đối với trường hợp LRED, đã có rất nhiều cuộc tranh luận quốc tế và một phương pháp luận được ghi chép đầy đủ Các nguyên tắc cư bản của những cách tiếp cận này có thể áp dụng được cả cho việc thúc đẩy chuỗi giá trị và được đưa vào trong Module 7 và 8 với một số điều chỉnh nhỏ Tuy nhiên, sẽ rất hữu ích nếu ta kết hợp việc thúc đẩy chuỗi giá trị với những cách tiếp cận về phát triển dịch vụ nói chung Trên thực tế, nhiều dự án phát triển kinh doanh đã chuyển sang cách tiếp cận về chuỗi giá trị trong quá trình thực hiện dự án

Hộp 0.7 Khái niệm: Phát triển các thị trường dịch vụ cho người nghèo

Phát triển các thị trường dịch vụ kinh doanh (BDS)

Mục tiêu của các can thiệp trong dịch vụ phát triển kinh doanh (BDS) là tạo ra một thị trường hoạt động hiệu quả với nhiều dịch vụ đa dạng có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu và phù hợp với túi tiền của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Các dịch vụ phát triển kinh doanh là những dịch vụ phi tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa gia nhập thị trường, tồn tại được, nâng cao năng suất và tăng trưởng Các dịch vụ phát triển kinh doanh nói chung thường bao gồm các dịch vụ đào tạo và tư vấn, hỗ trợ marketing và cung cấp thông tin

Phát triển các hệ thống tài chính vi mô

Cách tiếp cận tài chính vi mô nhằm mục đích thiết lập và phát triển các hệ thống tài chính cho các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, đồng thời tăng sự tiếp cận của người nghèo đối với các dịch vụ tài chính Cách tiếp cận này bao gồm việc hỗ trợ cho các tổ chức tài chính vi mô,

Trang 29

cho những tổ chức cung cấp dịch vụ kinh doanh cho khu vực tài chính vi mô, cũng như hỗ trợ cho khu vực nhà nước trong việc xây dựng và thực thi những chính sách trong lĩnh vực tài chính vi mô

Nguồn: tự biên soạn

Những tác động cộng hưởng chính giữa việc phát triển dịch vụ và thúc đẩy chuỗi giá trị được liệt kê ở Hộp 0.8 Một điều quan trọng là cần phải đảm bảo rằng các loại dịch vụ đưa ra phù hợp với những yêu cầu của các chuỗi giá trị đã được lựa chọn Quan điểm chuỗi giá trị phải

đi trước, để việc thúc đẩy dịch vụ dựa trên nhu cầu thực tế xuất phát từ những cơ hội kinh doanh

Hộp 0.8 Khái niệm: Tác động cộng hưởng giữa việc phát triển dịch vụ kinh doanh và thúc đẩy chuỗi giá trị

Những đóng góp của các cách tiếp cận BDS và thúc đẩy chuỗi giá trị:

• phát triển các tổ chức tài chính vi mô phục vụ đồng thời cho các chuỗi giá trị khác nhau

• hỗ trợ cho các dịch vụ tài chính vi mô theo quan điểm hệ thống, bao gồm cả chính sách

• phát triển các dịch vụ kinh doanh nói chung đáp ứng nhu cầu và dễ tiếp cận với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, chẳng hạn như đào tạo hay tư vấn

Những đóng góp của quan điểm chuỗi giá trị đối với các cách tiếp cận BDS và tài chính vi mô:

• gắn nhu cầu dịch vụ với tiềm năng của thị trường cuối cùng cho doanh nghiệp nhỏ và các yeu cầu của việc phát triển chuỗi giá trị

• cung cấp một khuôn khổ phân tích để thiết kế những thoả thuận dịch vụ trọn gói cho doanh nghiệp

Nguồn: tự biên soạn

Hộp 0.9 trình bày một ví dụ về việc thiết kế chương trình kết hợp Chương trình PROGRESS

ở Bangladesh cho thấy cách tiếp cận phát triển thị trường dịch vụ có thể được kết hợp với quan điểm chuỗi giá trị như thế nào Chương trình này hoạt động trong bốn ngành kinh tế -

da, lụa, cói, và đồ may mặc Trong mỗi ngành, các nghiên cứu về ngành và chuỗi giá trị đã được tiến hành, trong đó xác định những nhu cầu dịch vụ chính

Đồng thời, chương trình cũng tập trung vào ba loại dịch vụ kinh doanh nói chung rất phù hợp cho nền kinh tế dịch vụ thiết kế, phát triển kỹ năng và dịch vụ thông tin doanh nghiệp Phương pháp luận của chương trình cho phép chúng ta đáp ứng được những nhu cầu về nâng cấp được phát hiện qua việc phân tích chuỗi giá trị - và đòng thời vẫn có thể tập trung vào năng lực chuyên môn trong từng dịch vụ Nhờ việc hoạt động vượt ra ngoài biên giới của một ngành, nên các nhà cung cấp dịch vụ được tiếp cận với một thị trường rộng hơn so với trường hợp chỉ hoạt động trong một chuỗi giá trị Tương tự như vậy, chương trình này cũng giải quyết được những hạn chế trong môi trường kinh doanh và phù hợp với các chuẩn mực

xã hội quốc tế

Tạo ra một môi trường kinh doanh và đầu tư thuận lợi là một cách tiếp cận phát triển khu vực

tư nhân khác (xem ValueLinks Module 10) Các hoạt động bao gồm việc phát triển các công

cụ nhằm cải thiện khuôn khổ thể chế và quy định, tạo ra nhiều cơ hội phát triển tốt hơn cho

Trang 30

khu vực tư nhân Việc ứng dụng những ý tưởng này trong bối cảnh thúc đẩy chuỗi giá trị được đề cập đến trong ValueLinks module 10 cùng với một số ví dụ

Hộp 0.9 Tình huống: Kết hợp giữa BDS với cách tiếp cận chuỗi giá trị ở Bangladesh

Chương trình PROGRRESS, hợp phần về phát triển thị trường cho các dịch vụ kinh doanh: dịch vụ thiết kế, phát triển kỹ năng, và thông tin doanh nghiệp

đồ da sản phẩm lụa sản phẩm cói quần áo may sẵn

Marketing

và buôn bán

Bán lẻ và tiêu dùng

Thông tin doanh nghiệp

Thông tin đánh giá trị trường

Nguồn: trích từ bài trình bày trên trang web của chương trình: http:// www.gtz-progress org/

Kết hợp việc thúc đẩy chuỗi giá trị với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

Khác với các cách tiếp cận phát triển được nêu ra trong các phần trước, các chương trình nhằm mục đích bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên (các hệ sinh thái thiên nhiên, đời sống hoang dã, đa dạng sinh học hay các nguồn gien) không theo một phương pháp luận phát triển đồng nhất nào Tuy nhiên, nhiều chương trình quản lý tài nguyên thiên nhiên đều dựa trên cùng một nguyên tắc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên bằng cách sử dụng chúng một cách tiết kiệm Các hệ sinh thái và đa dạng sinh học đang bị đe doạ có thể được bảo vệ một cách tốt nhất bằng cách mở ra một thị trường cho các sản phẩm của chúng

Một xu thế đang trở nên phổ biến là các chương trình quản lý tài nguyên thiên nhiên thường

bổ sung các hoạt động của mình bằng một hợp phần nhằm thúc đẩy việc sử dụng bền vững

và tiết kiệm các nguồn tài nguyên sinh học (ví dụ như sản xuất ra các loại dược phẩm hay mỹ phẩm), các dịch vụ môi trường (như bán chứng chỉ các-bon), hay cảnh quan thiên nhiên (cho

du lịch sinh thái) Việc phát triển thị trường cho những sản phẩm này góp phần nâng cao nhận thức về giá trị của những nguồn tài nguyên đó, tạo ra khuyến khích để bảo vệ chúng, và tạo ra thu nhập cho những người sống trong các khu vực được bảo vệ Đổi lại, các chương trình thúc đẩy chuỗi giá trị cũng được hưởng lợi từ các chương trình môi trường, vì những khu vực được bảo vệ là một nguồn nguyên liệu cụ thể Các khu rừng nhiệt đới và các môi trường sinh thái khác cung cấp các sản phẩm thiên nhiên quý hiếm, và do đó có thể là nguồn đổi mới sản phẩm Các đặc sản của địa phương và các giống cây truyền thống thường được thấy ở những vùng sâu vùng xa với dân số là người nghèo làm nông nghiệp Do đó, việc hợp tác với ban quản lý các khu vực được bảo vệ có thể tăng cường khía cạnh vì người nghèo của

Trang 31

việc thúc đẩy chuỗi giá trị Hộp 0.10 đề cập đến khái niệm kết hợp cả hai cách tiếp cận phát triển

Một ví dụ là việc bảo vệ và sử dụng tiết kiệm loại cây dại Argania spinosa ở miền nam nước Ma-rốc Loài cây này mọc ở một khu vực rộng khoảng 800.000 héc-ta (hệ sinh thái

“arganeraie) tại vùng Agadir Quả của loại cây này thường được thu hoạch để chiết xuất ra dầu Argania có tiềm năng giá trị cao, đây là một đặc sản địa phương đem lại nguồn sinh kế chính cho những người nông dân ở đây Vì loài cây Argania tăng trưởng rất chậm và rất khó sinh sôi, nên hệ sinh thái ở cạnh sa mạc này đang bị đe doạ nghiêm trọng Việc sử dụng không bền vững và chặt cây khiến cho nguồn nước ở đây bị giảm sút và tăng tốc độ sa mạc hoá Dân cư ở đây đã phải d cư sang các vùng khác, và số lao động để sản xuất ra dầu Argania bị giảm sút Cách đây vài năm, nhờ một chương trình bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, một khuôn khổ sử dụng arganeraie đã được xây dựng, và khu vực này đã được công bố là một khu bảo tồn sinh quyển của UNESCO Để ngăn chặn quá trình thoái hoá, loài cây này phải được định giá lại để phản ánh lợi ích kinh tế của nó Việc cải thiện chuỗi giá trị dầu Argania có thể là một đóng góp quan trọng để đạt được mục tiêu này

Hộp 0.10 Khái niệm: Kết hợp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên với quan điểm chuỗi

Nguồn cung nguyên liệu ổn định

Các khuyến khích về tài chính

Chương trình bảo vệ tài

nguyên thiên nhiên

điều tiết/củng cố quyền

về tài sản và quyền sử

dụng

tiêu dùng

Nguồn: Tự biên soạn

Khi thiết kế sự kết hợp giữa việc quản lý tài nguyên thiên nhiên với việc thúc đẩy chuỗi giá tặi, cần phải cân nhắc đến một vài yếu tố quan trọng Yếu tố quan trọng nhất là sự khác biệt điển hình về quan điểm: các chương trình quản lý tài nguyên thiên nhiên thường có cách tư duy theo hướng từ phía nguồn cung cấp, còng thúc đẩy chuỗi giá trị lại xuất phát từ nhu cầu của thị trường Việc các sản phẩm thiên nhiên có tiêu thụ được trên thị trường thương mại hay không sẽ do nhu cầu của những nhà buôn bán những sản phẩm tương tự quyết định, chứ không phải do việc quản lý tài nguyên thiên nhiên quyết định Để tăng cơ hội thành công, việc thúc đẩy chuỗi giá trị cho các sản phẩm sinh thái và môi trường không nên chỉ giới hạn

ở một ít sản phẩm và nguồn gốc xuất xứ, mà nên đồng thời phối hợp với nhiều chương trình quản lý tà nguyên thiên nhiên Một yếu tố quan trọng nữa là số lượng và doanh thu Các sản phẩm thiên nhiên mà chúng ta đang nói đến ở đây nói chung đều là các sản phẩm đặc biệt Điều này có nghĩa là những nỗ lực đầu tư vào việc phát triển thị trường cũng phải hạn chế

Do đó, việc thúc đẩy chuỗi giá trị cần phải tiếp cận với toàn bộ loại sản phẩm và phải có tính sáng tạo rất cao

Trang 32

Nói tóm lại, việc kết hợp giữa các cách tiếp cận phát triển khác nhau có vẻ như rất hứa hẹn

và có thể nâng cao tác động tăng trưởng tiềm năng vì người nghèo Tuy nhiên, việc thiết kế chương trình cũng phải áp dụng những tiêu chí thực tế để tránh những khái niệm quá phức tạp Một số các vấn đề chiến lược có liên quan sẽ được đề cập đến trong các module 3 và 4 của cẩm nang ValueLinks này

Tài liệu tham khảo và các trang web

Tài liệu tham khảo

Altenburg, T (2006) “Các cách tiếp cận của các nhà tài trợ đối với việc hỗ trợ cho các chuỗi giá trị vì người nghèo Báo cáo được thực hiện để phục vụ cho Ủy ban các nhà tài trợ để phát triển doanh nghiệp” www.enterprisedevelopment.org

DFID (2005), Làm cho các hệ thống thị trường hoạt động tốt hơn vì người nghèo (M4P) - Giới thiệu về hái niệm, Manila, February 2005

McKay, A (2005): “Những công cụ để phân tích tăng trưởng và nghèo đói: giới thiệu”, London

Làm cho thị trường hoạt động tốt hơn vì người nghèo: www.markets4poor.org/

Phát triển kinh tế địa phương và khu vực ở châu Á: http://www.lred.info/group.html

Mạng lưới phát triển kinh tế địa phương Nam Phi: http://www.led.co.za/

Trang 33

Các dịch vụ phát triển kinh doanh: http://www.bdsknowledge.org/

ValueLinks Module 1

Lựa chọn một chuỗi giá trị để thúc đẩy

Các nội dung chính

Các bước cần tiến hành trong lựa chọn một chuỗi giá trị để thúc

- Các yếu tố cấu thành của nghiên cứu thị trường ……… 7

- Các phương pháp nghiên cứu thị trường ……… 8

- Đánh giá tiềm năng tăng trưởng ……… 12

- Đánh giá tiềm năng giảm nghèo ……… 12

- Xây dựng các tiêu chí quyết định cho việc lựa chọn một chuỗi giá trị

- Tổ chức tiến trình ra quyết định ……… 14

Trang 34

Cẩm nang ValueLinks

Phương pháp luận để thúc đẩy chuỗi giá trị

© GTZ Eschborn, 2007

ValueLinks Module 1

Lựa chọn một chuỗi giá trị để thúc đẩy

Nội dung chính của module này

Thúc đấy chuỗi giá trị là một cách tiếp cận hệ thống đối với phát triển kinh tế Một chuỗi giá trị là một hệ thống kinh tế bao gồm các nhà vận hành chuỗi, các nhà cung cấp dịch vụ vận hành và sự liên kết kinh doanh của họ ở cấp độ vi mô, đồng thời, bao gồm các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ ở cấp trung Tất cả các nhà vận hành đang tạo thêm giá trị cho một sản phẩm

cụ thể nào đó trên thị trường theo cách của họ - từ nguyên liệu thô cho đến khi sản phẩm tới tay người tiêu dùng cuối cùng - đều được coi là một phần của chuỗi giá trị Đường ranh giới

hệ thống của chuỗi giá trị được xác định bởi sản phẩm cuối cùng và bản thân chuỗi giá trị đã bao gồm các nhà sản xuất và các doanh nghiệp thực hiện những chức năng cần thiết để đưa sản phẩm ra thị trường

Hộp 1.1 Định nghĩa về “chuỗi giá trị”

Một chuỗi giá trị là một hệ thống kinh tế có thể được mô tả như:

- một chuỗi các hoạt động kinh doanh có liên quan mật thiết với nhau (các chức năng) từ khi mua các đầu vào cụ thể dành cho việc sản xuất sản phẩm nào đó, đến việc hoàn chỉnh và quảng cáo, cuối cùng là bán thành phẩm cho người tiêu dùng

- các doanh nghiệp (nhà vận hành) thực hiện những chức năng này, ví dụ như: nhà sản xuất, người chế biến, thương gia, nhà phân phối một sản phẩm cụ thể Các doanh nghiệp này được liên kết với nhau bởi một loạt các hoạt động kinh doanh, trong đó, sản phẩm được chuyển từ các nhà sản xuất ban đầu tới những người tiêu dùng cuối cùng

- một mô hình kinh doanh đối với một sản phẩm thương mại cụ thể Mô hình kinh doanh này cho phép các khách hàng cụ thể được sử dụng một công nghệ cụ thể và là một cách điều phối đặc biệt giữa hoạt động sản xuất và marketing giữa nhiều doanh nghiệp

Tất cả các thuật ngữ trên đây đều được định nghĩa trong phần giải thích Thuật ngữ của

ValueLinks

Nguồn: tự biên soạn, được sử dụng trong cuốn Cẩm nang ValueLinks

Các chủ thể đều chia sẻ lợi ích trong sản phẩm cuối cùng vì những thay đổi trên thị trường sẽ đồng thời tác động đến tất cả các chủ thể Một cộng đồng chuỗi giá trị và các nguyên tắc nội

bộ của nó là một mảnh đất tự nhiên để thực hiện các hoạt động phát triển (Để có mô tả và phân tích chi tiết hơn về chuỗi giá trị với tư cách là một hệ thống kinh tế, xem Module 2 của ValueLinks)

Trang 35

Module này đưa ra vấn đề lựa chọn một hoặc nhiều chuỗi giá trị để thúc đẩy Xây dựng giới hạn cho các hoạt động phát triển là trách nhiệm của tất cả các cơ quan phát triển và các cơ quan chính phủ cam kết thúc đẩy chuỗi giá trị Việc xác định một chuỗi giá trị cụ thể là bước đầu tiên và chắc chắn cũng là bước quyết định quan trọng nhất trong mọi dự án thúc đẩy chuỗi giá trị Việc lựa chọn các tiểu ngành và các chuỗi giá trị trên diện rộng sẽ có ảnh hưởng tới việc thúc đẩy chuỗi giá trị

Module này giới thiệu các công cụ để phân tách các tiểu ngành rộng hơn thành các chuỗi giá trị đơn lẻ, đồng thời, giới thiệu các công cụ thiết lập ưu tiên cho các sản phẩm và các chuỗi giá trị có nhiều hứa hẹn Để ra quyết định, cần đánh giá các tiêu chí lựa chọn Do đó, phương pháp luận cũng bao gồm cả việc thu thập thông tin về nhu cầu đối với sản phẩm trên thị trường

Các bước cần tiến hành trong lựa chọn một chuỗi giá trị để thúc đẩy

Xác định một dự án thúc đẩy chuỗi giá trị được bắt đầu bởi việc mô tả phác hoạ toàn bộ các hoạt động nhằm xác định “giới hạn hệ thống” của chuỗi giá trị cần thúc đẩy Vì các chuỗi giá trị được tạo ra bởi các nhà sản xuất và các doanh nghiệp nên việc lựa chọn một sản phẩm hay một loạt các sản phẩm cũng sẽ xác định doanh nghiệp được thúc đẩy sau đó Tiến trình lựa chọn này cần phải được phân tách thành hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất là xác định mức độ tác hợp – có thể là chỉ bao gồm một sản phẩm, một loại sản phẩm hoặc toàn bộ tiểu ngành Giai đoạn đầu tiên này cũng nhằm xây dựng cấu trúc của tiểu ngành, ví dụ như: nghề trồng hoa quả, thủ công mỹ nghệ, hay các sản phẩm từ da; sau đó, phân tách chúng thành các loại sản phẩm và các sản phẩm riêng rẽ Giai đoạn này cung cấp một danh sách các lựa chọn và đưa đến quyết định sơ bộ về kích cỡ của các thị trường và kích cỡ của các cộng đồng kinh doanh mà dự án thúc đẩy chuỗi giá trị sẽ cùng làm việc (Nhiệm vụ 1.1)

Dựa trên việc xác định các phương án này, giai đoạn hai là so sánh các lợi thế so sánh của các phương án, sau đó đưa ra lựa chọn cuối cùng Tiềm năng mở rộng thị trường là “tiêu chí chết”: một điều kiện tối cần thiết và tiêu chí quan trọng để lựa chọn một chuỗi giá trị là việc tồn tại một nhu cầu đầy tiềm năng đối với sản phẩm đó Nếu người mua không có khả năng tiêu thụ thêm một lượng sản phẩm và không sẵn lòng trả giá cao hơn để mua sản phẩm đó, thì mọi nỗ lực thúc đấy chuỗi giá trị tương ứng sẽ chỉ là vô ích mà thôi Để đo lường được nhu cầu thì các thông tin thị trường cần phải được thu thập ngay từ khi mới bắt đầu một dự

án thúc đẩy chuỗi giá trị Vì vậy, nghiên cứu thị trường được đề cập đến trong module này và

là bước thứ hai cần tiến hành để chuẩn bị và cung cấp thông tin cho việc lựa chọn chuỗi giá trị Điểm cuối cùng cần nhấn mạnh là quyết định ưu tiên cho các chuỗi giá trị được thúc đẩy Như vậy, module này đề cập đến tổng cộng ba bước tiến hành Các bước này có mối tương tác chặt chẽ với nhau Chúng cần phải được các nhà hoạch định chính sách cân nhắc một cách cẩn trọng và không được bỏ sót hay đảo lộn vị trí thực hiện của bất kỳ bước tiến hành nào

• (Nhiệm vụ 1.1) Quyết định phạm vi các thị trường cần thúc đẩy

• (Nhiệm vụ 1.2) Tiến hành và hỗ trợ nghiên cứu thị trường

Trang 36

• (Nhiệm vụ 1.3) Đặt ưu tiên trong các sản phẩm và các chuỗi giá trị

Nghiên cứu thị trường vẫn luôn là một bước cần thiết tại tất cả các giai đoạn khác của thúc đẩy chuỗi giá trị Để lựa chọn một chuỗi giá trị thì nghiên cứu thị trường không cần phải đi quá sâu Để đưa ra quyết định ưu tiên về một chuỗi giá trị cụ thể và để định hướng cho việc xây dựng một chiến lược nâng cấp thì nghiên cứu thị trường cần phải được thực hiện sâu hơn

(Nhiệm vụ 1.1) Xác định phạm vi các chuỗi giá trị cần thúc đẩy

Thúc đẩy chuỗi giá trị cần phải được thực hiện cùng với sự phối hợp của các doanh nghiệp

và các tổ chức hỗ trợ nằm trong chuỗi Vấn đề là ở chỗ dự án thúc đẩy chuỗi giá trị sẽ phối hợp cùng với các chủ thể kinh tế nào Câu trả lời nằm trong việc lựa chọn sản phẩm hoặc một nhóm sản phẩm Giới hạn của chuỗi giá trị được xác định bởi việc định ra các chức năng và các nhà vận hành cần thiết để sản xuất và đưa một sản phẩm cụ thể ra thị trường Như vậy, xác định kiểu loại của sản phẩm cũng sẽ giúp xác định những ai là chủ thể sẽ tham gia vào chuỗi giá trị Vì vậy, việc hiểu rõ cấu trúc của các thị trường là bước đi đầu tiên để thiết lập giới hạn của dự án một cách hợp lý

Không có phương pháp nào bất di bất dịch trong việc phân tách các sản phẩm tiêu thụ thành các nhóm sản phẩm vì tiêu chí phân loại phụ thuộc vào mục đích sử dụng của sản phẩm đó Hai hệ thống phân loại sản phẩm được quốc tế công nhận là “Phân loại sản phẩm trung tâm” (CPC) và “Phân loại thương mại tiêu chuẩn quốc tế” (SITC) của Cục Thống Kê Hoa Kỳ Cả hai cách phân loại này đều được xây dựng với mục đích thống nhất các thống kê quốc gia qua biên giới (Xem http://unstats.un.org/unsd/class/prodserve.htm) CPC sử dụng 10 phân loại sản phẩm, đầu tiên là “0 – các sản phẩm nông lâm ngư nghiệp”, được phân tách thành nhiều nhất chín tiểu loại với bốn cấp khác nhau Ví dụ “0 – các sản phẩm nông lâm ngư nghiệp”, được phân tách thành “01 – các sản phẩm nông nghiệp, hoa quả và làm vườn” và các sản phẩm khác Các loại này lại được phân tách thành các tiểu loại, ví dụ như “012 – rau”

và “0121 – khoai tây”

Phân loại sản phẩm có thể là bước được thực hiện đầu tiên để thiết lập cấu trúc tiểu ngành Tuy nhiên, việc phân loại không phải lúc nào cũng chỉ được thực hiện với một sản phẩm đơn

lẻ mà còn được thực hiện với các nguyên liệu thô hay các sản phẩm trung gian Vì vậy, CPC

và SITC không hoàn toàn tương thích với việc xếp loại các chuỗi giá trị Tuy nhiên, chúng

có thể được sử dụng để xác định cấu trúc trên dưới của một phân loại thị trường

Trang 37

Hộp 1.2 chỉ ra các cấp phân tách dựa vào khái niệm về chuỗi giá trị Ở cấp cao nhất là các ngành kinh tế có nhiều loại sản phẩm Các loại này tương thích với các tiểu ngành ở cấp độ thấp hơn Mỗi tiểu ngành được phân tách thành nhiều chuỗi giá trị và các chuỗi giá trị này lại

có thể được chia thành “các tiểu chuỗi” hoặc các kênh thị trường Hộp 1.2 mô tả cách thức sản phẩm và các loại sản phẩm liên quan tới việc xác định các tiểu ngành, các chuỗi giá trị và các kênh như thế nào Hộp này chỉ mang tính chất minh hoạ

Hộp 1.2 Khái niệm: Các cấp phân tách trên thị trường tiêu dùng

- cà chua bán tại siêu thị

dịch vụ và sở thích cá nhân:

- nơi ở cho khách

du lịch khám phá vườn quốc gia

- điều kiện thuận lợi

để quan sát thiên nhiên

sản phẩm cuối cùng:

- phụ trang được bán trong các cửa hàng chuyên biệt

Nguồn: tự biên soạn

Bắt đầu từ một ngành nào đó, ví dụ như ngành công nghiệp dệt may, có thể chọn tiểu ngành

để thúc đẩy, ví dụ như: quần áo, xác định một chuỗi giá trị, ví dụ như: phụ trang côtông hoặc thậm chí có thể giới hạn việc thúc đẩy chuỗi giá trị chỉ trong một sản phẩm, chẳng hạn như

sơ mi nam có nhãn hiệu “côtông Ai cập”

Việc phân tách thị trường thành các phân đoạn cụ thể là rất quan trọng bởi ba lý do:

• trước khi chọn một chuỗi giá trị cụ thể, các phương án cần phải rất rõ ràng Một vài thị trường hay các phân đoạn thị trường thường thích đáng hơn các lựa chọn dựa trên tiềm năng tăng trưởng vì người nghèo Nó có nghĩa là ta đã cân nhắc toàn bộ các phương án lựa chọn

• các nguồn lực có thể sử dụng cần phải phù hợp với số lượng nhà vận hành tham gia chuỗi giá trị Xây dựng một cấu trúc từ trên xuống dưới bao gồm các loại thị trường

sẽ cho phép lựa chọn các nỗ lực và phạm vi khác nhau

• có các giới hạn không được vượt qua nếu không muốn sự phân tách trở nên vô nghĩa

vì cộng đồng kinh doanh trở nên quá nhỏ và việc thúc đẩy chuỗi giá trị trở nên không

Trang 38

còn hiệu suất nữa; hoặc vì các biến thể của sản phẩm được thực hiện bởi cùng các nhà vận hành như nhau

Bước đầu tiên sẽ được mô tả dưới đây trong phần 1.3 Các bước thứ hai và ba sẽ được thực hiện phù hợp với kích cỡ của thị trường Vấn đề là giữ cho việc thúc đẩy chuỗi giá trị luôn nằm trong tầm kiểm soát, có thể quản lý và có hiệu suất Đồng thời, phân biệt các thị trường không nên đi quá xa: đôi khi, các nhà vận hành giống nhau lại sản xuất, giao dịch, và bán cùng một loại sản phẩm, ví dụ các loại rau quả tươi Mối quan tâm của các cộng đồng kinh doanh thường rất khác nhau, ví dụ như trong trường hợp các nhà sản xuất dồ da, trong khi tất

cả bọn họ lại có những nguồn nguyên liệu giống nhau

Người lập kế hoạch cần phải chắc chắn về việc họ đã phân tách ở cấp độ phù hợp chưa, có đủ nguồn lực không, có đủ kỹ năng, bí quyết sản xuất và nỗ lực tương thích với triển vọng của các nhà vận hành hay chưa

Hộp 1.3 Nghiên cứu trường hợp: Cơ cấu ngành dệt may ở Êtiôpia

* (*)

- thị trường đang lớn mạnh, có công nghệ, dùng nguồn lực địa phương (bông), không cần kỹ năng cao

- xem ở trên, chiếm 50% giá trị vải gia dụng xuất khẩu

- xây dựng các mối xuất khẩu

- đồng phục nhà máy

- đồng phục quân đội và cảnh sát

- váy truyền thống

*

*

(*)

*

- giá trị gia tăngở Êtiôpia, sản phẩm có

độ hàm chứa lao động cao cho thị trường trong nước và xuất khẩu

- thị trường hàng hoá nội địa, công nghệ

đã sẵn sàng, sử dụng bông địa phương

- cơ hội xuất khẩu tốt, làm theo đơn đặt hàng, không dễ phân biệt hoá nguồn gốc

- nhu cầu đang tăng đối với các sản phẩm thời trang, được sản xuất bởi các công ty nhỏ, hàm chứa nhiều lao động,

Trang 39

Cơ cấu ngành được xây dựng sau hai giờ làm việc của các chuyên gia ngành và được sử dụng

để xác định các sản phẩm và các chuỗi giá trị có thể nhận được sự hỗ trợ của nhà nước Hộp này không chỉ mô tả các lựa chọn mà còn giúp quyết định về thời gian và cách thức sử dụng toàn bộ nhóm sản phẩm hữu hiệu hơn các sản phẩm đơn lẻ Đó chính là trường hợp nhóm sản phẩm “đồng phục và quần áo bảo hộ lao động” Đồng phục học sinh, bệnh viện và công sở không cần phải được tách riêng ra vì tất cả đều được làm bởi các công ty nhỏ với công nghệ tương đồng và được bán trên thị trường nội địa Mặc dù các thị trường là khác nhau song việc nâng cấp các chuỗi giá trị tương ứng bao gồm các hoạt động như nhau Vì vậy, nên xếp các sản phẩm riêng rẽ này vào một nhóm sản phẩm

Việc phân tách hoặc hợp nhất sản phẩm sẽ tạo ra các phương án để so sánh và cân nhắc dựa trên sự hấp dẫn của chúng đối với hoạt động đầu tư của nhà nước và tư nhân Phần giới thiệu

về nhiệm vụ 1.3 sẽ đưa ra các tiêu chí để so sánh

(Nhiệm vụ 1.2) Tiến hành và hỗ trợ nghiên cứu thị trường

Khả năng đạt được bất kỳ một ảnh hưởng tích cực nào cùng với thúc đẩy chuỗi giá trị phụ thuộc vào tiềm năng tăng trưởng và triển vọng mở rộng thị trường Nhu cầu của thị trường và lợi ích của người mua là các “tiêu chí quyết định” trong lựa chọn một chuỗi giá trị Chỉ khi sản phẩm cuối cùng được bán đi và tăng giá trị gia tăngthì mới có thêm những khoản thu nhập cho người nghèo Bên cạnh đó, tầm quan trọng của các nghiên cứu thị trường đối với lựa chọn chuỗi giá trị, việc xác định tiềm năng thị trường và các cơ hội thị trường cụ thể cũng

là các nhiệm vụ căn bản cần phải thực hiện trong mọi cách tiếp cận phát triển theo định hướng thị trường Sự thông thái của thị trường đóng một vai trò quan trọng trong các giai đoạn khác nhau của nâng cấp và thúc đẩy chuỗi giá trị Ví dụ như:

• để đánh giá tiềm năng tăng trưởng khi lựa chọn một chuỗi giá trị để thúc đẩy

• để xác định các cơ hội thị trường và xây dựng chiến lược và các mục tiêu nâng cấp

• nhằm thiết kế hoạt động hỗ trợ phù hợp với các điều kiện của cầu

Ý đầu tiên trên đây có nghĩa là cần phải hoàn tất việc phân tích nhu cầu của thị trường nhằm xác định rõ tiêu chí tối thiểu (“điểm chết”) để lựa chọn một chuỗi giá trị Điều này không đòi hỏi phải thực hiện một nghiên cứu thị trường đầy đủ nhưng cần phải có dữ liệu về tăng trưởng doanh thu bán hàng năm và các nhân tố quyết định như các xu hướng của cầu, quá trình đô thị hoá và sự thay đổi các thói quen tiêu dùng Tác dụng thứ hai của nghiên cứu thị trường là việc xác định các cơ hội thị trường Một phân tích thị trường vững chắc là một đầu vào tối cần thiết cho việc xây dựng tầm nhìn nâng cấp chuỗi giá trị Cuối cùng, nghiên cứu thị trường đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị Trong mỗi giai đoạn nâng cấp, các giải pháp phải phù hợp với đòi hỏi của thị trường (Xem ValueLinks module 3 để thấy cách xây dựng một chiến lược nâng cấp và các module tiếp theo về liên kết kinh doanh, dịch vụ và tiêu chuẩn chất lượng)

Trang 40

Các yếu tố cấu thành của nghiên cứu thị trường

Mặc dù mỗi nghiên cứu thị trường có các mục đích khác nhau song thông thường chúng đều phải trả lời được các câu hỏi đặt ra trong hộp 1.4 Hộp này tóm tắt các yếu tố chính cấu thành nên bất kỳ loại nghiên cứu thị trường nào

Hộp 1.4 Các nội dung chính của nghiên cứu thị trường trong chuỗi giá trị

Các câu hỏi và tiêu chí quan trọng hàng đầu:

(a) Có thị trường không và thị trường đó có những đặc điểm gì?

- các loại sản phẩm có nhu cầu (ví dụ như tính phong phú, tính mùa vụ, chất lượng, bao bì mà các ngành công nghiệp chế biến và/hoặc người tiêu dùng cuối cùng ưa thích)

- các xu hướng và kích cỡ của thị trường (ví dụ như lượng hàng hoá đang được trao đổi buôn bán trên thị trường, các nhóm khách hàng và các nhóm tiêu thụ khác nhau)

- tính mùa vụ của các nguồn cung trên thị trường (ví dụ như các giai đoạn thiếu cung hoặc dư cung), các đỉnh cầu

- giá của sản phẩm (ví dụ như mức giá cao nhất và thấp nhất, xu thế của giá, sự dao động của giá, xếp loại giá)

- yêu cầu của người mua về chất lượng, giá cả, số lượng và độ tin cậy

(b) Ai là đối thủ cạnh tranh và năng lực của họ như thế nào?

- các nhà sản xuất/các chuỗi giá trị là đối thủ cạnh tranh (ví dụ như nhập khẩu, và các nguồn cung từ nơi khác)

- năng lực của các chủ thể tham gia vào thị trường cạnh tranh (ví dụ như giá, chất lượng, thị phần)

- các lợi thế cạnh tranh của các đối thủ cạnh tranh (ví dụ như khoảng cách thị trường)

- các sản phẩm cạnh tranh (ví dụ như các sản phẩm thay thế)

(c) Các điều kiện tiếp cận thị trường là gì?

- các kênh phân phối hiện nay (ví dụ như ngành công nghiệp, xuất khẩu, hoặc các thị trường tiêu dùng cuối cùng)

- sức mạnh của các chủ thể tham gia thị trường (ví dụ như các hãng độc quyền)

- cơ sở hạ tầng của đường xá và chợ (ví dụ như các thị trường nông thôn hay thành thị, các điều kiện kho bãi)

- các tiêu chuẩn sản phẩm (ví dụ như luật và quy định về an toàn sản phẩm, nhãn hiệu hoặc đóng gói)

- thuế và các chế độ thuế (ví dụ như thuế nhập khẩu đầu vào, phí cầu đường)

- các dịch vụ hỗ trợ tiếp cận thị trường (ví dụ như các dịch vụ thông tin và tài chính)

Nguồn: tự biên soạn

Nghiên cứu thị trường là trách nhiệm của khu vực tư nhân Tất cả các doanh nghiệp đều có những khách hàng riêng và các doanh nghiệp này cần phải hiểu rõ phân đoạn thị trường cụ thể mà nó đang phục vụ Mặc dù các cơ quan xúc tiến xuất khẩu và các chương trình phát triển có thể có ích trong thu thập và xử lý dữ liệu có liên quan song các doanh nghiệp đều

Ngày đăng: 22/05/2019, 23:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w