DANH MỤC BẢNG, BIỂU Bảng 1.1 Bảng thống kê hiện trạng hệ thống hào, rãnh chôn cáp viễn thông lưới truyền dẫn đô thị trung tâm 29 Bảng 2.1 Phân vùng cấu trúc nền và đánh giá điều kiện
Trang 3LỜI CẢM ƠN -* -
Sau thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay luận án đã hoàn thành tại trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến
đã tận tình hướng dẫn trong suốt thời gian nghiên cứu và động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận án
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, khoa Sau đại học, khoa Quản lý đô thị - Trường đại học Kiến trúc Hà Nội đã quan tâm, động viên, góp ý kiến quý báu để tác giả hoàn thành luận án
Tác giả xin được gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ
Hà Nội và các đồng nghiệp tại Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội đã tạo điều kiện về thời gian và những lời động viên quý báu giúp tác giả hoàn thành luận
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Lê Trần Phong
Trang 5Chương 1: Tổng quan về quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi
trong và ngoài nước
8
1.1 Tổng quan về quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi tại
các nước trên thế giới
8
1.1.1 Quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi tại Liên Xô cũ 9 1.1.2 Quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi tại Trung Quốc 9 1.1.3 Quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi tại Nhật Bản 11
1.2 Tổng quan về công tác quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp
đi nổi tại một số Thành phố ở Việt Nam
13
1.2.1 Quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi tại Thành phố Hồ 13
Trang 6Chí Minh
1.2.2 Quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi tại TP Đà Nẵng 17 1.2.3 Quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi tại TP Vũng Tàu 18 1.2.4 Quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi tại Thành phố Hạ
Long – tỉnh Quảng Ninh
19
1.3 Thực trạng về công tác quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp
đi nổi tại đô thị trung tâm Thành phố Hà Nội
1.3.3 Những khó khăn, bất cập của quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây,
cáp đi nổi tại đô thị trung tâm Thành phố HN
36
1.4 Tổng quan về những công trình khoa học có liên quan đến luận án 39
Chương 2: Cơ sở khoa học về quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi
2.3.3 Điều kiện địa chất công trình đến việc xây dựng hạ ngầm các đường dây,
cáp đi nổi tại đô thị trung tâm Thành phố Hà Nội
47
2.3.4 Phân loại đường đô thị phục vụ cho công tác xây dựng hạ ngầm đường
dây, cáp đi nổi tại đô thị trung tâm thành phố Hà Nội
59
2.4 Các hình thức hạ ngầm đường dây, cáp đi nổi 66 2.4.1 Chôn ngầm hệ thống các đường dây, đường ống một cách riêng l 67 2.4.2 Bố trí đường dây, cáp trong cống, bể cáp kỹ thuật 68 2.4.3 Bố trí các đường dây và đường ống chung trong c ng một hào 70 2.4.4 Bố trí hệ thống dây và đường ống vào chung trong một tuy nen kỹ thuật 71 2.5 Tổ chức quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi 76
Trang 72.5.1 Yêu cầu đối với cơ cấu tổ chức quản lý 76 2.5.2 Nguyên tắc cơ bản tổ chức quản lý hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi 76 2.5.3 Phương pháp phân chia cơ cấu tổ chức quản lý xây dựng hạ ngầm các
Chương 3: Một số đề xuất về quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi
nổi tại đô thị trung tâm Thành phố Hà Nội – Bàn luận kết quả nghiên cứu
97
3.1 Quan điểm quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi 97
3.2 Đề xuất quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi 97 3.2.1 Đề xuất bổ sung các nguyên tắc quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây,
cáp đi nổi
97
3.2.2 Đề xuất định hướng hệ trục để hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi đô thị
trung tâm của Hà Nội
99
3.2.3 Đề xuất quy trình quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi 121 3.2.4 Đề xuất một số giải pháp về quản lý nhà nước và các cơ chế khuyến khích
các thành phần tham gia đầu tư, xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi
nổi của thành phố Hà Nội
134
3.3 Nâng cao năng lực quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi
nổi
140
3.3.1 Đề xuất tổ chức bộ máy để quản lý công tác xây dựng hạ ngầm các đường
dây, cáp đi nổi
Trang 83.4 Bàn luận kết quả nghiên cứu 146 3.4.1 Bàn luận về định hướng hệ trục để hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi đô
thị trung tâm của Hà Nội
Danh mục các bài báo đã công bố
Tài liệu tham khảo
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Rịa – Vũng Tàu
Trang 10DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Hình ảnh các đường dây, cáp đi nổi tại phố Khâm Thiên – Hà
Nội
1
Hình 1.3 Tuy nen kỹ thuật kết hợp với đường giao thông ở Thượng ải,
Trung uốc
10
Hình 1.4 Sơ đồ lộ trình ngầm hóa tại Nhật Bản 11 Hình 1.5 Đường trục chính công trình ngầm ở Tokyo, Nhật Bản 12 Hình 1.6 Bố trí các công trình HTKT ngầm trên đường phố tại Nhật Bản 13
Hình 1.7 Công trình ngầm hóa đường Lê Thánh Tôn (theo giải pháp cổ
Hình 1.12 Hình ảnh bảo dưỡng và sửa chữa điện 23 Hình 1.13 Lưới điện cao áp và trạm biến áp hiện có tại Hà Nội 26 Hình 1.14 Hiện trạng hệ thống cáp viễn thông, tổng đài 28 Hình 1.15 Sơ đồ các tuyến phố có công trình sử dụng hạ tầng kỹ thuật
chung
33
Hình 2.1 Đường Tân Mai, quận Hoàng Mai, Hà Nội 45 Hình 2.2 Sơ đồ phân bố và chiều dầy lớp đất lấp đô thị trung tâm Hà Nội 48 Hình 2.3 Mặt cắt ĐCCT theo tuyến IV - IV 51 Hình 2.4 Sơ đồ phân vùng cấu trúc nền ĐCCT đô thị trung tâm Hà Nội 58
Trang 11Hình 2.5 Mặt cắt ngang đường đô thị dạng 2 khối 60 Hình 2.6 Mặt cắt ngang đường đô thị dạng 3 khối 60 Hình 2.7 Mặt cắt ngang đường đô thị dạng 4 khối 60 Hình 2.8 Mặt cắt ngang đường đô thị kết hợp với đường cao tốc 61 Hình 2.9 Mặt cắt ngang đường phố chính dạng 4 khối 61
Hình 2.10 Sơ đồ phân loại đường đô thị trong phạm vi khu đô thị trung
tâm thành phố Hà Nội
64
Hình 2.11 Bố trí công trình ngầm riêng l trên mặt cắt ngang đường 67 Hình 2.12 Bố trí đường dây, cáp trong cống, bể cáp kỹ thuật 69 ình Bố trí công trình ngầm trong c ng một hào 70
Hình 2.14 Cấu tạo điển hình của tuy nen thường, dạng hình tr n và chữ
nhật
72
ình Bố trí hệ thống đường dây, đường ống trong tuy nen kỹ thuật 73
ình Mô hình cơ cấu trực tuyến – tham mưu 79
Hình 2.19 Mô hình cơ cấu trực tuyến – chức năng 80 Hình 3.1 Sở đồ các trục công trình kỹ thuật sử dụng chung như cống, cáp,
hào và tuy nen kỹ thuật xuyên tâm và vành đai TP à Nội
106
Hình 3.5 Mặt cắt ngang đường Tôn Đức Thắng 108 Hình 3.6 Mặt cắt ngang đường Nguyễn Lương Bằng 108
Trang 12Hình 3.8 Mặt cắt đường Nguyễn Trãi 109
Hình 3.11 Mặt cắt ngang đường Nguyễn Chí Thanh 110 Hình 3.12 Mặt cắt ngang đường Trần Duy ưng 111
Hình 3.14 Mặt cắt ngang đường Nguyễn Thái Học 112
Hình 3.18 Mặt cắt ngang đường Lạc Long Quân 114
Hình 3.20 Mặt cắt ngang đường Trường Chinh 115 Hình 3.21 Sơ đồ phương án vành đai 0 (đi theo đường vành đai R4) 115 Hình 3.22 Mặt cắt đường đoạn từ Ngã tư Sở đến Cầu Vĩnh Tuy (theo quy
Hình 3.26 Mặt cắt ngang đường Khuất Duy Tiến 117
Hình 3.28 Sơ đồ đề xuất tuyến tuynen và hào kỹ thuật cho khu đô thị
trung tâm của Thành phố Hà Nội
118
Hình 3.29 Sơ đồ các bước thực hiện trong quy trình quản lý xây dựng 129
Trang 13ngầm hóa các đường dây, cáp đi nổi Hình 3.30 Sơ đồ bước 1 công tác lập kế hoạch 130 Hình 3.31 Sơ đồ bước 2 công tác thiết kế 131 Hình 3.32 Sơ đồ bước 3 công tác chuẩn bị, xin phép đào đường và triển
khai thi công xây dựng
132
Hình 3.33 Sơ đồ công tác quản lý vận hành khai thác và lưu trữ hồ sơ 133 Hình 3.34 Sơ đồ cơ cấu tổ chức Trung tâm Quản lý HTKT ngầm Hà Nội 142 Hình 3.35 Đề xuất cấu trúc hệ thống cơ sở dữ liệu công trình HTKT ngầm 145
Trang 14DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1 Bảng thống kê hiện trạng hệ thống hào, rãnh chôn cáp viễn
thông (lưới truyền dẫn) đô thị trung tâm
29
Bảng 2.1 Phân vùng cấu trúc nền và đánh giá điều kiện địa chất công
trình phục vụ xây dựng CTN loại nông đô thị trung tâm Hà Nội
57
Bảng 2.2 Chức năng của đường sử dụng cho các khu vực 59
Bảng 2.3 Phân loại đường phố theo chức năng giao thông áp dụng cho
đô thị trung tâm Thành phố HN
ngầm đô thị
84
Bảng 2.7 Khoảng cách tối thiểu giữa các công trình hạ tầng kỹ thuật
ngầm đô thị không nằm trong tuy nen hoặc hào kỹ thuật
85
Bảng 3.1 Ký hiệu tên các trục đề xuất ngầm hóa 100
Trang 15Ầ ẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Cùng với quá trình đổi mới và hội nhập của đất nước, Thủ đô Hà Nội đã và đang đạt được những thành tựu to lớn về xây dựng, phát triển đô thị ô thị trung tâm thành phố Hà Nội với diện tích tự nhiên gần 750 km2 bao gồm khu vực nội đô (giới hạn từ khu vực tản ngạn sông Hồng đến đường vành đai xanh sông Nhuệ ), chuỗi đô thị phía ông đường vành đai 4 (khu vực phía nam sông Hồng) và chuỗi
đô thị phía Bắc sông Hồng (khu vực Mê Linh – ông Anh; Yên Viên – Long Biên – Gia Lâm) Vị tr và ranh giới đô thị trung tâm thành phố Hà Nội được xác định
cụ thể trong quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 tầm nhìn
2050 và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
ô thị trung tâm của Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị, văn hóa, lịch sử, dịch vụ y tế của thành phố Hà Nội và của cả nước ô thị trung tâm Thành phố
Hà Nội trong những năm vừa qua và những năm tới đây đã, đang và vẫn sẽ là một trong những khu vực có tốc độ đô thị hóa cao nhất cả nước Tuy có tốc độ đô thị hóa cao, nhưng bộ mặt thành phố Hà Nội vẫn chưa thực sự đẹp, cảnh quan kiến trúc và đặc biệt mạng lưới đường dây, cáp đi nổi chằng chịt như mạng nhện trên các cột treo cáp, trên cây xanh, trên đường phố hoặc gắn với công trình gây mất
mỹ quan đô thị.
Hình 1.1 Hình ảnh các đường dây, cáp đi nổi tại phố Khâm Thiên – Hà Nội[nguồn tác giả]
Trang 16Mặt khác việc quản lý các đường dây, cáp đi nổi do quá nhiều cơ quan quản
lý (khoảng 20 đơn vị hiện là chủ sở hữu) Thành phố chưa ban hành quy trình quản
lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi cho nên từ khâu kế hoạch đến thiết
kế, xin phép đào đường, thi công đưa vào vận hành, khai thác sử dụng còn nhiều bất cập
rong thời gian qua, Thành phố Hà Nội đã tiến hành hạ ngầm đường dây, cáp đi nổi ở một số tuyến phố trung tâm thành phố Hà Nội Việc hạ ngầm đường dây, cáp đi nổi đã đem lại những hiệu quả nhất định Tuy nhiên, cho đến nay Hà Nội vẫn chưa có bản đồ hiện trạng các công trình ngầm, công tác lưu trữ cơ sở dữ liệu và thông tin cập nhật các dữ liệu về công trình hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi c n nhiều hạn chế, chưa có qui chế phối hợp đa ngành và đặc biệt thiếu các quy định cụ thể về quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi ch nh vì vậy công tác hạ ngầm đường dây, cáp đi nổi tại Thủ đô Hà Nội đạt hiệu quả chưa
cao Việc Nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài: “ Quản lý xây dựng hạ ngầm các
đường dây, cáp đi nổi tại đô thị trung tâm Thành phố Hà Nội” để nghiên cứu
là cần thiết
2 ục đích nghiên cứu:
Xây dựng cơ sở khoa học và đề xuất các giải pháp quản lý xây dựng hạ ngầm đường dây, cáp đi nổi tại đô thị trung tâm Thành phố Hà Nội, góp phần nâng cao mỹ quan, cảnh quan kiến trúc đô thị, giảm thiểu tình trạng đào lên, lấp xuống
và an toàn cho người dân đô thị
3 hạm vi và đối tư ng nghiên cứu:
- Phạm vi: ô thị trung tâm thành phố Hà Nội với diện tích tự nhiên khoảng
750 km2 (bao gồm khu vực nội đô lịch sử; khu vực nội đô mở rộng; chuỗi đô thị phía Bắc sông Hồng; chuỗi đô thị ph a ông đường vành đai 4; hành lang dọc sông
Hồng và vành đai xanh sông Nhuệ - theo quy định quản lý quy hoạch chung xây
dựng Thủ đô Hà Nội)
- ối tư ng nghiên cứu: Quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi
nổi tại đô thị trung tâm thành phố Hà Nội
Trang 17- Thời gian: heo uy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030
và tầm nhìn 2050
4 ác phư ng pháp nghiên cứu:
a) iều tra, khảo sát:
- iều tra điều kiện tự nhiên; địa giới hành chính; dân số; điều kiện hạ tầng kỹ thuật tại khu đô thị trung tâm
- iều tra thực trạng hạ tầng kỹ thuật, cụ thể là hệ thống các đường dây, cáp đi nổi tại các tuyến đường thuộc khu đô thị trung tâm
- iều tra công tác hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi tại các tuyến đường đang thi công thuộc khu đô thị trung tâm
- iều tra thực trạng công tác quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi tại khu đô thị trung tâm
- Khảo sát sự tham gia của cộng đồng, người dân trong công tác thi công xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi
b) Phân tích, tổng h p: Dựa trên các tài liệu khoa học đã được công bố
cũng như kết quả nghiên cứu trước của các luận văn, luận án tổng hợp nhận diện
hoạt động và lựa chọn xu hướng mới trong lý thuyết
c) Kế thừa và tham vấn ý kiến chuyên gia: Luận án tham vấn ý kiến
chuyên gia trong quá trình nghiên cứu luận án, kế thừa các nghiên cứu lý thuyết quản lý đô thị, các công trình nghiên cứu liên quan đến công tác hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi trong và ngoài nước
Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã xin ý kiến, học hỏi kiến thức quý báu của các chuyên gia đầu ngành về những vấn đề liên quan đến đề tài luận án trong nhiều lĩnh vực quản lý đô thị, H , H K : giao thông, cấp thoát nước, các cơ quan quản lý chuyên ngành, các tổ chức tư vấn thiết kế… để làm cơ sở định hướng cho luận án
d) hư ng pháp so sánh đối chiếu: Các kết quả đề xuất được đối chiếu,
so sánh với thực tế hiện trạng nội dung phân t ch đánh giá công tác quản lý xây
Trang 18dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi trên địa bàn Thành phố, từ đó chỉ ra những cải thiện, hiệu quả của kết quả nghiên cứu;
5 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn:
- Ý nghĩa khoa học: Góp phần hoàn thiện nội dung văn bản quản lý nhà nước về quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi; ổi mới và nâng cao năng lực quản lý xây dựng ngầm hóa
- Ý nghĩa thực tiễn: Giúp cho các cơ quan quản lý và đơn vị thi công nắm bắt được quy trình xây dựng hạ ngầm nhằm đảm bảo được tính thông suốt cũng như
tiết kiệm kinh phí và thời gian xây dựng ngầm, cụ thể:
+ ề xuất qui trình quản lý xây dựng hạ ngầm đường dây, cáp đi nổi góp phần bổ sung, hoàn thiện các qui định có liên quan đến quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi nói riêng và xây dựng công trình ngầm tại Thủ đô Hà Nội nói chung
+ Giải quyết được yêu cầu ngầm hóa đường dây, cáp đi nổi và giảm thiểu tình trạng đào lên, lấp xuống, tai nạn giao thông…
+ Bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn về hạ ngầm đường dây, cáp đi nổi cho
các cơ quan có liên quan (Điện lực, Chiếu sáng, Thông tin, Bưu điện, Truyền hình,
Cấp nước, Thoát nước, Giao thông, Quy hoạch kiến trúc…) trong việc nâng cao
chất lượng tư vấn, thiết kế và phục vụ quản lý xây dựng công trình ngầm
6 óng góp mới của luận án:
- ề xuất quy trình quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi
- ề xuất định hướng hệ trục HTKT phục vụ cho việc xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi tại đô thị trung tâm Thành phố Hà Nội
- ề xuất bổ sung cơ chế chính sách khuyến khích các thành phần tham gia đầu tư, xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp (công trình hạ tầng kỹ thuật ngầm)
đi nổi của thành phố Hà Nội
- ề xuất tổ chức quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi
7 Giải thích thuật ngữ khoa học:
Trang 19+ Không gian xây dựng ngầm đô thị’: là không gian dưới mặt đất được sử
dụng cho mục đ ch xây dựng công trình ngầm đô thị[5]
+ Quản lý không gian xây dựng ngầm đô thị’: bao gồm việc quy hoạch
không gian xây dựng ngầm và các hoạt động liên quan đến xây dựng công trình ngầm đô thị[5]
+ Quy hoạch không gian xây dựng ngầm đô thị’: là việc tổ chức không
gian xây dựng dưới mặt đất để xây dựng công trình ngầm[5]
+ Công trình ngầm đô thị’: là những công trình được xây dựng dưới mặt đất
tại đô thị bao gồm: công trình công cộng ngầm, công trình giao thông ngầm, các công trình đầu mối kỹ thuật ngầm và phần ngầm của các công trình xây dựng trên mặt đất, công trình đường dây, cáp, đường ống kỹ thuật ngầm, hào và tuy nen kỹ thuật [5]
+ ông trình công cộng ngầm’: là công trình phục vụ hoạt động công cộng
được xây dựng dưới mặt đất [5]
+ ông trình giao thông ngầm’: là các công trình đường tàu điện ngầm, nhà
ga tàu điện ngầm, hầm đường bộ, hầm cho người đi bộ và các công trình phụ trợ kết nối (kể cả phần đường nối phần ngầm với mặt đất)[5]
+ ông trình đầu mối kỹ thuật ngầm’: là các công trình hạ tầng kỹ thuật
ngầm, bao gồm: trạm cấp nước, trạm xử lý nước thải, trạm biến áp, trạm gas được xây dựng dưới mặt đất[5],
+ ông trình đường dây, cáp, đường ống kỹ thuật ngầm: là các công trình
đường ống cấp nước, cấp năng lượng, thoát nước; công trình đường dây cấp điện, thông tin liên lạc được xây dựng dưới mặt đất [5]
+ hần ngầm của các công trình xây dựng trên mặt đất: là tầng hầm (nếu
có) và các bộ phận của công trình nằm dưới mặt đất [5]
+ Tuy nen kỹ thuật: là công trình ngầm theo tuyến có k ch thước lớn đủ để
đảm bảo cho con người có thể thực hiện các nhiệm vụ lắp đặt, sửa chữa và bảo trì các thiết bị, đường ống kỹ thuật [5]
Trang 20+ ào kỹ thuật: là công trình ngầm theo tuyến có k ch thước nhỏ để lắp đặt
các đường dây, cáp và các đường ống kỹ thuật [5]
+ ống, bể kỹ thuật: là hệ thống ống, bể cáp để lắp đặt đường dây, cáp ngầm
thông tin, viễn thông, cáp truyền dẫn t n hiệu, cáp truyền hình, cáp điện lực, chiếu sáng [5]
+ ông trình đường dây, cáp, đường ống kỹ thuật ngầm: là các công trình
đường ống cấp nước, cấp năng lượng, thoát nước; công trình đường dây cấp điện, thông tin liên lạc được xây dựng dưới mặt đất [5]
+ Chỉ giới xây dựng công trình ngầm đặt nông: Không gian ngầm được
phép xây dựng công trình ngầm có diện tích giới hạn trên mặt đất được đào xuống đến độ sâu cho phép với mái dốc thẳng đứng [41]
+ Chỉ giới công trình ngầm đặt sâu: Không gian ngầm được phép xây dựng
công trình ngầm mà khi xây dựng vùng ảnh hưởng tương hỗ không vượt ra ngoài chỉ giới kiểm soát an toàn[41]
+ ông trình đầu mối kỹ thuật ngầm: là các công trình hạ tầng kỹ thuật
ngầm, bao gồm: trạm cấp nước, trạm xử lý nước thải, trạm biến áp, trạm gas được xây dựng dưới mặt đất [5]
+ Quy hoạch không gian xây dựng ngầm đô thị: là việc tổ chức không gian
xây dựng dưới mặt đất để xây dựng công trình ngầm[5]
8 Cấu trúc của luận án:
Luận án gồm có 151 trang, ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dung của luận án gồm có 3 chương:
Chương I Tổng quan về quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi tại đô thị trung tâm TP Hà Nội
Chương II: Cơ sở khoa học về quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp
đi nổi
Chương III ề xuất các giải pháp về quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi tại đô thị trung tâm Thành phố Hà Nội và bàn luận kết quả nghiên cứu
Trang 21Hình 1.2 Sơ đồ nghiên cứu của luận án
VẤ Ề NGHIÊN CỨU
THỰC TIỄN
TRO G ƯỚC
Ơ S KHOA HỌC
KINH NGHIỆM ƯỚC NGOÀI
TỔNG HỢP – PHÂN TÍCH
Ề XUẤT
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trang 22CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG HẠ NGẦM CÁC ĐƯỜNG DÂY, CÁP ĐI NỔI TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.1 Tổng quan về quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi tại các nước trên thế giới
Trong những năm vừa qua cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, hạ tầng kỹ thuật đô thị được đầu tư xây dựng, nhiều tuyến đường đô thị được xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp theo định hướng quy hoạch phát triển đô thị
Sự phát triển kinh tế gắn kết với sự phát triển của kết cấu hạ tầng giao thông đô thị mà ở đó các công trình hạ tầng kỹ thuật bao gồm: đường dây, cáp (đi nổi, ngầm) các ống cấp nước, thoát nước, cấp năng lượng… là một phần không thể tách rời của giao thông đô thị Tuy nhiên, hình ảnh thường thấy ở nhiều đô thị tại các nước đang phát triển và ở Việt Nam – mạng lưới đường dây, cáp đi nổi được lắp đặt lộn xộn, đan xen chằng chịt làm mất mỹ quan đô thị, tiềm ẩn nhiều nguy
cơ, nguy hiểm đến an toàn tính mạng con người và tài sản do các sự cố chập, cháy,
nổ có thể xảy ra bất cứ lúc nào
Trong khi đó, nhiều nước phát triển cảnh quan của các đô thị khang trang
và hiện đại, Chính quyền các đô thị đã có chiến lược, chương trình đầu tư xây dựng đồng bộ ngay từ khi quy hoạch xây dựng thành phố đặc biệt tại các thành phố
cũ, cải tạo và xây dựng mới Việc kết hợp xây dựng các công trình giao thông với xây dựng một hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật sử dụng chung như hào, tuy nen
kỹ thuật được thực hiện từng bước để bố trí lắp đặt các đường dây, cáp đi nổi và các đường ống kỹ thuật trong quá trình cải tạo, xây dựng các thành phố Việc ngầm hóa các đường dây, cáp đi nổi được cho là yêu cầu bắt buộc, mặt khác, việc làm này đem lại hiệu quả lâu dài cả về quản lý và mỹ quan đô thị, nhưng chi phí đầu tư xây dựng lại khá cao, chính vì vậy việc ngầm hóa cần phải được thực hiện theo một lộ trình nhất định
Việc hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi trong cống cáp, hào hoặc tuy nen kỹ thuật sẽ kéo dài thời gian phục vụ của chúng, tạo ra điều kiện thuận lợi trong công tác lắp đặt, khai thác và quản lý, đồng thời sẽ làm giảm đáng kể các hiện tượng đào
Trang 23lòng đường, hè phố, không gây trở ngại cho các phương tiện giao thông trên đường
và người đi bộ Chính vì lẽ đó, nhiều thành phố trên thế giới đã nêu khẩu hiệu “Vì một thành phố không bị đào bới” để kêu gọi sự quan tâm của mọi người về lĩnh vực thiết kế - thi công các loại hào, tuynen kỹ thuật này, nhằm sắp xếp, bố trí các đường dây, cáp đi nổi cùng với các công trình hạ tầng kỹ thuật ngầm trong đô thị
1.1.1 Quản lý xây dựng hạ ngầm tại Liên Xô cũ[22][65]:
Liên Xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay là đất nước phát triển và có bề dày lịch sử trong phát triển đất nước Đặc biệt là phát triển đô thị nói chung và phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật ngầm nói riêng, việc quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây cáp đi nổi được quan tâm và triển khai song song cùng các dự án làm đường Ngày nay đã có nhiều công trình hạ tầng kỹ thuật ngầm nổi tiếng dưới lòng đất, đặc biệt hệ thống hạ tầng kỹ thuật ngầm là các tuy nen, hào kỹ thuật phục vụ công tác ngầm hóa hệ thống các đường dây, cáp đi nổi Tại quảng trường Arơbat
có bốn tầng hầm: tầng trên cùng dành cho người đi bộ, tầng hai cho ô tô nối với đường vành đai Matxcơva, tầng ba dành cho tầu điện ngầm nối với các ga Kalinin
và Arơbát, tầng bốn dành cho tầu điện ngầm sâu hơn và hệ thống các đường ống cấp thoát nước, cấp khí đốt, cấp nhiệt, điện thoại, cáp điện, cáp thông tin… vv Tại các công trình vượt ngầm ở nút giao thông, thường gồm hai bộ phận: phần hầm kín
và phần đường đào hở, thường kết hợp làm luôn hầm cho người đi bộ ở phía trên trần của đường hầm kín, phần dưới làm đường ống kỹ thuật (collector) tuy nen phục vụ cho việc hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật ngầm hiện đại, đặc biệt là các đường dây, cáp đi nổi được hạ ngầm đưa vào hệ thống HTKT ngầm ( có thể là tuy nen, hào, cống cáp ) của Thành phố ở Liên Xô cũ đã góp phần đưa công tác sửa chữa, bảo dưỡng, khai thác và sử dụng an toàn, thuận tiện và tránh việc đào lên lấp xuống tại các đô thị
1.1.2 Quản lý xây dựng hạ ngầm tại Trung Quốc [16]
Trung Quốc đã đạt được những bước đại nhảy vọt về phát triển kinh tế, trong
đó đặc biệt là việc phát triển cơ sở hạ tầng Đi kèm theo đó việc chỉnh trang cảnh quan kiến trúc các tuyến phố đô thị Đặc biệt hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi tại
Trang 24các tuyến phố cổ và cũ Hiện nay nhiều thành phố của Trung Quốc đã không còn những bó dây trên các cột điện, mà thay vào đó là hệ thống hào, tuy nen, cống cáp hiện đại để bố trí các đường dây, cáp đi nổi
Để đạt được những thành tựu phát triển to lớn trong phát triển kinh tế cũng như
cơ sở hạ tầng, Trung Quốc đã có những chiến lược, chính sách quy hoạch phát triển các trọng điểm kinh tế phù hợp nhằm tập trung nguồn lực đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng đồng bộ Trung Quốc khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các vùng khó khăn ở miền Trung và miền Tây của Trung Quốc Chính phủ tập trung xây dựng các đặc khu kinh tế và các thành phố duyên hải Nhà nước cho phép địa phương tự khai thác mọi khả năng để có vốn đầu tư xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào quy trình tái cơ cấu, đổi mới doanh nghiệp nhà nước nhằm tạo ra nguồn vốn thực hiện một trong những việc chỉnh trang đô thị là hạ ngầm các đường dây, cáp
đi nổi
Để chuẩn bị cho sự kiện Triển lãm Thế giới ở Thượng Hải, tổ chức vào năm
2010 (World Expo 2010 , một hệ thống tuy nen kỹ thuật kết hợp để bố trí các đường dây, cáp đi nổi với đường kính khoảng 20 mét đã được đề xuất xây dựng Mục đích là tạo dựng hình ảnh mới về thành phố Thượng Hải, đảm bảo không gian sống cho cư dân đô thị sạch sẽ hơn, nâng cao chất lượng sống của người dân; xây dựng thành một thành phố không dây điển hình của Châu với mục tiêu tiết kiệm năng lượng giảm nh tối đa sự ảnh hưởng của hệ thống cơ sở hạ tầng đối với môi trường [16]
Hình 1.3 Tuy n n p n o n T n T n [16]
Trang 251.1.3 Quản lý xây dựng hạ ngầm tại Nhật Bản[8][12][37]:
Ở Nhật Bản chương trình ngầm hóa nội đô được thực hiện theo từng giai đoạn Năm 1986 là năm khởi đầu cho chương trình hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi tại nội đô của các đô thị Nhật Có 4 giai đoạn là:
Giai đoạn 1986-1990 kế hoạch ngầm hóa của giai đoạn này tập trung chủ yếu vào các Thành phố lớn có nhu cầu cao về điện Giai đoạn đầu mỗi tuyến điện lực hoặc viễn thông đi trong một cống cáp riêng
Giai đoạn 1991-1994 kế hoạch ngầm hóa của giai đoạn này mở rộng thêm ra các Thành phố khác và các khu tham quan du lịch Xây dựng trước hệ thống ngầm tại những nơi có nhu cầu sử dụng điện cao Ở giai đoạn này vẫn sử dụng giải pháp mỗi tuyến điện lực hoặc viễn thông đi trong 1 cống cáp riêng
Giai đoạn 1995-1998 kế hoạch ngầm hóa của giai đoạn này tiếp tục mở rộng
ra các Thành phố, các khu du lịch khác và những khu xây dựng trước, có nhu cầu
sử dụng điện cao Phương pháp ngầm hóa của giai đoạn này là sử dụng máng ngầm dẫn điện một cách linh hoạt, gọi là phương pháp máng ống dẫn Ở giai đoạn này sử dụng phương thức thế hệ mới Sử dụng nhiều tuyến điện lực hoặc tuyến viễn thông
đi chung trong một loại hào hoặc tuy nen kỹ thuật
Hình 1.4 Sơ ồ lộ trình ngầm hóa tại Nh t B n[12]
Trang 26Giai đoạn 1999 - 2003 kế hoạch ngầm hóa của giai đoạn này tiếp tục mở rộng tới những khu nhà, khu trung tâm dịch vụ, thương mại Phương pháp ngầm hóa của giai đoạn này là sử dụng phương pháp máng ống dẫn Giải pháp ngầm hóa của giai đoạn này sử dụng phương pháp nhiều tuyến điến lực hoặc viễn thông đi chung trong một loại ống dẫn
Hình 1.5 Đ ng trục chính công trình ngầm Tokyo, Nh t B n[37]
Việc xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi được Chính phủ Nhật Bản
đặc biệt quan tâm, cụ thể bằng việc tích hợp cùng với hệ thống Metro Mở đầu là
Trang 27việc xây dựng các tuyến Metro ở khu vực trung tâm thành phố, việc thực hiện theo
lộ trình đã được phê duyệt trước Tuy nhiên cũng xuất hiện nhiều khó khăn cần phải giải quyết như: vấn đề huy động vốn đầu tư xây dựng, thông gió, hạn chế rủi
ro thiên tai, thảm họa Để tránh tình trạng xây dựng không có quy hoạch tập trung, người Nhật đã phải xem xét kế hoạch sử dụng theo các lớp, tầng đất ngầm
Hình 1.6 B trí các công trình HTKT ngầm ên ng ph tại Nh t B n[nguồn:internet]
Như vậy kế hoạch ngầm hóa khu vực nội đô của Nhật Bản đi trước Việt Nam tới hơn 20 năm Những bài học của việc ngầm hóa khu vực nội đô của Nhật Bản sẽ
là những kinh nghiệm quý báu để các đô thị, các khu vực nội thành, nội thị ở Việt Nam tham khảo và áp dụng
1.2 Tổng quan về quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi tại một số Thành phố ở Việt Nam
1.2.1 Quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi tại Thành phố
Hồ Chí Minh [15] [37]
Trang 28Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những đô thị lớn và phát triển nhanh của cả nước, thành phố có bề dày lịch sử xây dựng và phát triển, như nhiều Thành phố khác tại Việt Nam, TP Hồ Chí Minh có hệ thống đường dây, đường cáp (dây điện, dây thông tin, dây chiếu sáng, cáp truyền hình … chủ yếu đi nổi, được treo trên cột điện hoặc cây làm mất mỹ quan, cảnh quan của thành phố và gây mất an toàn giao thông cho người dân Chính vì thế, bắt đầu từ những năm 1996 - 2000, ngành điện TP.HCM đã bắt đầu tiến hành ngầm hóa các công trình xây dựng mới lưới điện trung thế tại các tuyến đường chính khu vực nội thành
Vào những năm 2003 - 2005, Thành phố bắt đầu xây dựng một số dự án chỉnh trang đô thị, điển hình các tuyến đường Lê Duẩn, Nguyễn Huệ, Nam Kỳ Khởi Nghĩa
Năm 2005, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Thành ủy TP.HCM, ngành điện bắt đầu xây dựng kế hoạch ngầm hóa chỉnh trang đô thị Nhưng đến ngày 16/6/2011 mới hiện thực hóa bằng đề án ngầm hóa được UBND Thành phố thông qua Nội dung của đề án được tóm tắt như sau:
+ Giai đoạn 2011 - 2015: tập trung ngầm hóa lưới điện trung, hạ thế cùng với dây thông tin trên các tuyến đường và hẻm đã được xây dựng ổn định theo qui hoạch trên địa bàn của khu vực trung tâm Thành phố (toàn bộ quận 1 và quận 3) Các quận nội thành khác, thực hiện từ 3 - 5 công trình trọng điểm Đối với lưới điện cao thế 110KV thực hiện ngầm hóa một số tuyến dây xuyên tâm thành phố theo tiêu chí đảm bảo mỹ quan đô thị kết hợp xử lý các điểm vi phạm hành lang an toàn lưới điện, ưu tiên ngầm hóa tại các khu vực trung tâm
+ Giai đoạn 2016 - 2020: hoàn tất ngầm hóa lưới điện trung, hạ thế và dây thông tin cho khu vực nội thành Thành phố gồm các quận trung tâm và các quận lân cận (quận 4, 5,6, 7, 8, 10, 11, Gò Vấp, Bình Thạnh, Phú Nhuận, Tân Bình Đối với các quận, huyện còn lại thực hiện ngầm hóa tại các khu trung tâm hành chính, thương mại Thực hiện ngầm hóa các tuyến dây cao thế 110KV tại khu vực các quận nội thành, ưu tiên thực hiện đồng bộ đối với các dự án xây dựng mới, mở rộng đường
Trang 29+ Giai đoạn 2021-2025: cơ bản hoàn tất ngầm hóa lưới điện kết hợp với đường dây, cáp thông tin tại các quận, các trung tâm hành chính huyện, các khu đô thị mới, khu công nghiệp trên phạm vi toàn thành phố
TP Hồ Chí Minh chưa thành lập cơ quan chịu trách nhiệm chung về quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi, vì vậy còn gặp nhiều khó khăn đó là:
- Sự ph i h p giữ á ơn ị v n hành: có 13 đơn vị vận hành và mỗi đơn vị
quản lý vận hành một hệ thống riêng biệt Quá nhiều đầu mối quản lý dẫn đến khó khăn trong khâu điều tra, thu thập thông tin, việc phối hợp giữa các đơn vị thường thiếu đồng bộ, mỗi đơn vị mỗi quan điểm, mỗi ý kiến khác nhau nên việc thống nhất rất khó khăn Đôi khi không xác định được công trình đường dây, cáp của đơn
vị nào, đến khi xảy ra sự cố mới có đơn vị quản lý xuất hiện
- Hệ th ng công trình n dây áp nổi và công trình HTKT ngầm dày ặc:
tại đường Trần Hưng Đạo và khu vực dân cư liền kế có hệ thống công trình ngầm hiện hữu rất dày đặc, gồm cáp điện trung hạ thế, cáp thông tin liên lạc của một số đơn vị, ống cấp thoát nước, …Việc điều tra khảo sát công trình thường không chính xác, do đó khi thi công phải có biện pháp thăm dò Mặc dù vậy đôi khi vẫn không xác định được hết và khi thi công thì chạm phải công trình ngầm hiện hữu gây sự cố Việc xử lý sự cố này xảy ra rất thường xuyên, gây mất thời gian, ảnh hưởng đến tiến độ thi công, ảnh hưởng đến vận hành của công trình hiện hữu và ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân
- Cấm ào: công trình đi qua một số đường giao thông cấm đào nên khi đào
đường tại các vị trí này phải tuân thủ qui trình xin phép đào đường riêng và thường gặp khó khăn hơn
- K ó ăn ừ n i dân: với dự án chỉnh trang đô thị, phần lớn người dân ủng
hộ nhiệt tình Tuy nhiên, còn một số người dân gây khó khăn, khiếu nại các vị trí lắp đặt công trình ngang qua lề đường trước nhà, mặc dù các thủ tục xây dựng công trình đã được các cơ quan, ban, ngành cấp
- Thi u kinh nghiệm sử dụng công nghệ m i: được biết công nghệ ống nhựa
soắn là công nghệ mới đã được lắp đặt nhiều tại Hàn Quốc và TP Hà Nội, nhận
Trang 30thấy việc sử dụng ống soắn có nhiều ưu thế so với ống thẳng, công trình đã sử dụng ống nhựa soắn Tuy nhiên, do kinh nghiệm lắp đặt, giám sát chưa có kinh nghiệm nên có một số khó khăn khi kéo cáp
Hình 1.7 Công trình ngầm ó ng Lê Thánh Tôn (theo gi i pháp cổ ển)[37]
Hình 1.8 Công trình ngầm theo gi i pháp cổ ển rất lộn xộn không có tr t tự[37]
Trên cơ sở đề án được phê duyệt, vào các năm 2011 - 2013, các ngành đã phối hợp thực hiện 31 dự án ngầm hóa với tổng khối lượng đạt 57,5 km lưới điện trung thế, 97,3 km lưới điện hạ thế và 2,7 km lưới 110kv Việc ngầm hóa đến đâu
tổ chức thu hồi trụ điện đến đó, góp phần đem lại diện mạo mỹ quan đô thị
Trong 02 năm 2014 - 2015 EVN HCM thực hiện 126 công trình với tổng khối lượng thực hiện ngầm hóa lưới điện là 426 km trung thế và 639 km hạ thế
Tuy nhiên cũng chính vì việc thực hiện một cách riêng lẻ nên công tác ngầm hóa các đường dây, cáp đi nổi tại TP.HCM chưa triệt để do mới chỉ ngầm hóa lưới điện, chưa kết hợp ngầm hóa dây thông tin và chiếu sáng nên tình trạng “mạng nhện” chưa được cải thiện
Trang 311.2.2 Quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi tại Thành phố
Đà Nẵng[11]
Thành phố Đà Nẵng là thành phố trực thuộc Trung Ương, với diện tích 1285km2 và nằm ở vị trí chiến lược của cả nước, Đà Nẵng được coi là một trong những thành phố quan tâm đầu tư, xây dựng theo quy hoạch phát triển kinh tế xã hội nói chung và quản lý đô thị nói riêng Đặc biệt trong vấn đề chỉnh trang cảnh quan kiến trúc đô thị, các đường phố sạch đ p và hiện đại, mà ở đó vấn đề hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi là một trong những nhiệm vụ cần phải được triển khai thực hiện Với nhận thức và tầm quan trọng của việc hạ ngầm các đường dây, cáp
đi nổi Từ năm 2010 đến nay, thành phố Đà Nẵng đã triển khai thực hiện sắp xếp các đường dây, cáp trên 443 đoạn/tuyến đường với tổng chiều dài hơn 242km Riêng năm 2015, UBND thành phố Đà Nẵng đã chỉ đạo các sở, ban, ngành liên quan tiếp tục hạ ngầm 43 tuyến phố còn lại, cụ thể là các tuyến đường: Nguyễn Hoàng, Thanh Thủy, Phan Chu Trinh, Hoàng Diệu, Hoàng Diệu, Phan Chu Trinh,
Đỗ Thúc Tịnh, Trường Sơn, Trường Chinh, Lương Đình Của, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Phong Sắc, Lê Mai Ninh, Nguyễn Nhàn, Tố Hữu, Cách mạng tháng Tám, Bùi Vịnh, Huy Cận, Hà Huy Giáp, Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Phan Vinh, Trần Quang Khải, Nguyễn Văn Thoại, Dương Đình Nghệ, Hồ Nghinh, Dương Tự Minh,
Lê Hữu Trác, Nguyễn Duy Hiệu, Trần Đại Nghĩa, Khu vực Mân Quang, Phạm Như Xương, Âu Cơ, Nguyễn Bình Trọng, Vũ Trọng Phan, Đặng Dung, Tôn Đức Thắng, Cù Chính Lan, Kỳ Đồng, Nguyễn Đức Trung, Thái Thị Bôi, Bế Văn Đàn, Nguyễn Phước Nguyên, Huỳnh Ngọc Huệ, Nguyễn Tri Phương, Lê Trọng Tấn
UBND TP Đà Năng cũng công bố 119 tuyến đường không được treo mới cáp thông tin, đồng thời, yêu cầu các cơ quan, đơn vị liên quan xử lý nghiêm các hành vi kéo cáp treo trên địa bàn thành phố không đúng quy định Giao Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng, Báo Đà Nẵng phối hợp, thông báo kế hoạch việc sắp xếp, ngầm hóa cáp thông tin của thành phố năm 2015
Việc sắp xếp các đường dây, cáp đi nổi trong các hào kỹ thuật đã góp phần tạo nên mỹ quan đô thị của thành phố Đà Nẵng Cùng với đó, UBND thành phố Đà
Trang 32Nẵng đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn hướng dẫn và yêu cầu các doanh nghiệp, đơn vị sở hữu, sử dụng cáp thông tin tiếp tục thực hiện việc di dời, ngầm hóa đồng
bộ cáp thông tin tại các dự án, công trình cải tạo hoặc xây dựng mới;
1.2.3 Quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi tại thành phố Vũng Tàu và thành phố Bà Rịa tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu [10]
Thành phố Vũng Tàu có diện tích khoảng 141,1 km2; TP Vũng Tàu là thành phố du lịch của khu vực phía Nam Trong những năm gần đây TP Vũng Tàu tập trung đầu tư xây dựng về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là tổ chức triển khai việc ngầm hóa các đường dây, cáp đi nổi Hiện nay, trên địa bàn thành phố Vũng Tàu (không
kể xã đảo Long Sơn mới chỉ tập trung thực hiện việc hạ ngầm hệ thống điện trung thế, còn hệ thống điện hạ thế vẫn đi nổi trên các trụ bê tông cốt thép, chưa được hạ ngầm
Hệ thống cáp thông tin trên địa bàn do các doanh nghiệp quản lý bao gồm: Công ty Viễn thông Bà Rịa – Vũng Tàu (VNPT ; chi nhánh Viễn Thông Quân Đội; Công ty truyền hình cáp Sài Gòn tourist; chi nhánh Viễn Thông Miền Nam (FPT); Công ty truyền hình cáp Bà Rịa; Trung tâm viễn thông địa lực Bà Rịa – Vũng Tàu(EVN
Hình 1.9 Lắp ặt cáp ngầm trên tuy n ph Thành ph Bà Rịa [10]
Ngoài ra, trên một số tuyến đường còn hệ thống cáp thông tin của ngành Quân đội, công an phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh…
Trang 33Theo thông kê từ các doanh nghiệp quản lý hệ thống cáp thông tin trên đây cho 168 tuyến đường thuộc địa bàn thành phố Vũng Tàu thì tổng chiều dài đường dây, cáp là 1345,5 km các loại (không bao gồm hệ thống cáp thông tin của ngành quân đội, công an)
Hệ thống cáp điện không được quản lý chặt chẽ, một số doanh nghiệp đã “kéo chui” một cách tùy tiện, không được cấp phép, tiện đâu ngoắc đấy, buộc chằng sao cho đạt được mục đích Việc kéo chui vội vã không theo một tiêu chuẩn đã gây mất mỹ quan đô thị và mất an toàn cho dân cư sinh sống dưới tuyến cáp Hiện tượng treo cáp của các doanh nghiệp chủ yếu để giảm chi phí, thời gian triển khai nhanh
Một thực trạng nữa là các công trình trên được xây lắp đặt giao cắt chồng chéo lên nhau, đặc biệt còn có tình trạng sử dụng các tuyến cống, mương thoát nước để luồn, neo cáp trong lòng cống, mương gây cản trở dòng chảy thoát nước, ngập úng… ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của hệ thống thoát nước
Trước tình trạng các loại dây và cáp mắc chằng chịt trên cột điện, cây xanh đã làm ảnh hưởng mỹ quan đô thị và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn lưới điện, giao thông trên địa bàn Chính vì vậy UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định ứng dụng hào kỹ thuật bê tông cốt thép thành mỏng đúc sẵn của Công ty Busadco để ngầm hóa hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị trên địa bàn tỉnh tại thành phố Vũng Tàu Có các dự án xây dựng hào kỹ thuật phục vụ ngầm hóa các công trình hạ tầng
kỹ thuật đường Trần Hưng Đạo, đường Thùy Vân, hẻm 239 Lê Hồng Phong (TP.Vũng Tàu) Tại thành phố Bà Rịa thí điểm công trình hào kỹ thuật Busadco cho tuyến cáp ngầm trung thế, hạ thế, cáp quang đường Võ Văn Kiệt: Dự án cải tạo đường Hương Lộ 10, đường Nguyễn Tất Thành, đường trục chính Tân Hưng
1.2.4 Quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi tại Thành phố Hạ Long – tỉnh Quảng Ninh[4]
Thành phố Hạ Long là thành phố du lịch và cũng là Thành phố được tỉnh Quang Ninh đặc biệt chú trọng quan tâm về công tác phát triển đô thị nói chung và công tác hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi nói riêng
Trang 34Theo thống kê sơ bộ của Phòng Quản lý đô thị TP Hạ Long, hiện nay trên địa bàn thành phố có 2.134km đường dây điện và dây thông tin các loại, trong đó, đường dây, cáp đi nổi là 1.826km và đường dây ngầm là 308km, các tuyến cáp đi nổi hiện nay chủ yếu là treo, gá vào hệ thống cột điện, cây xanh Các đường dây không được treo thống nhất, thiếu ký hiệu riêng cho từng đơn vị dẫn đến chồng chéo gây mất mỹ quan đô thị Cũng theo thống kê, rà soát hiện đang có 8 đơn vị quản lý tuyến dây điện và cáp thông tin trên địa bàn thành phố gồm: Điện lực Quảng Ninh, Viễn thông Quảng Ninh; Công ty TNHH truyền hình cáp Alpha Quảng Ninh, Chi nhánh Viettel tại Quảng Ninh, Công ty TNHH truyền hình cáp SaigonTourist Quảng Ninh, Trong 8 đơn vị trên thì Công ty Điện lực Quảng Ninh hiện đang là đơn vị có số lượng đường dây lớn nhất lên tới 1.089km nhưng tỷ
lệ hạ ngầm của đơn vị gần như thấp nhất với 4,76%
UBND thành phố Hạ Long xác định việc thực hiện hạ ngầm, sắp xếp đường dây, cáp đi nổi tại một số tuyến đường trục chính trên địa bàn là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn 2012-2013 Do vậy, Thành phố đã từng bước thực hiện hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi để đáp ứng được tiêu chí đô thị loại I trong năm 2013, bảo đảm thành phố xanh - sạch - đ p Đồng thời việc đầu tư xây dựng hạ ngầm sẽ khắc phục tình trạng đầu tư chồng chéo giữa các công trình hạ tầng kỹ thuật tại các trục đường chính, tránh việc đào lấp nhiều lần gây lãng phí trong đầu tư và bức xúc trong nhân dân” Theo lộ trình trong kế hoạch đề ra, việc ngầm hoá sẽ được thực hiện ở 7 tuyến phố chính thuộc trung tâm thành phố với trên 12km đường dây và dự kiến sẽ mất khoảng trên 60 tỷ đồng được thực hiện từ 2013-2015 Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay khi tiến hành hạ ngầm các đường dây là do chi phí quá lớn, trung bình 1km hạ ngầm sẽ mất khoảng trên 5 tỷ đồng Mặt khác là do các tuyến đường dây này liên quan đến rất nhiều sở, ban, ngành mà hiện nay, sự phối hợp của các sở, ban, ngành thành phố và các doanh nghiệp viễn thông, truyền hình cáp chưa chặt chẽ, nên công tác hạ ngầm thiếu đồng bộ và hiện vẫn chưa được khởi động
Trang 35Hình 1.10 Công tác ngầm ó áp ện và cáp thông tin tại TP Hạ Long[4]
Thực tế cho thấy, so với lưới điện nổi, lưới điện ngầm đã được xây dựng không những nâng cao khả năng vận hành ổn định, hạn chế được phạm vi mất điện trên diện rộng khi cắt điện công tác, giảm thiểu tối đa việc mất điện do sự cố thiên tai, sét đánh, cây đổ… gây ra mà còn nâng cao tính an toàn sử dụng điện trong nhân dân, loại bỏ được các điểm mất an toàn do vi phạm hành lang an toàn lưới điện cao áp Bên cạnh những ưu điểm trên thì việc ngầm hoá lưới điện chính là một trong những dự án quan trọng, góp phần hoàn thiện cơ sở hạ tầng, giúp TP Hạ Long đạt chuẩn đô thị loại I
1.3 Thực trạng về quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi tại đô thị trung tâm Thành phố Hà Nội:
1.3.1 Giới thiệu về đô thị trung tâm Thành phố Hà Nội [35]
Trang 361.3.1.1 Chức năng: Là trung tâm chính trị hành chính hành chính, kinh tế, văn hóa, lịch sử, dịch vụ, y tế, đào tạo chất lượng cao của Thành phố Hà Nội và cả nước
1.3.1.2 Phân vùng phát triển[35]:
- Nội đô lịch sử 80 vạn dân, quản lý và bảo tồn;
- Nội đô mở rộng: 85 – 90 vạn dân: Cải tạo – phát triển;
- Khu vực mở rộng phía Nam sông Hồng: 1,2 -1,4 triệu dân; phát triển các trung tâm văn hóa, dịch vụ thương mại, tài chính của vùng
- Khu vực mở rộng phía bắc sông Hồng: Dân số 1,7 triệu dân; chức năng giao dịch quốc tế, công nghiệp kỹ thuật cao, giáo dục – y tế, du lịch sinh thái, giải trí gắn với bảo tồn khu di tích cổ loa, trung tâm trưng bày hội trợ; trung tâm dịch vụ triển lãm thương mại EXPO dịch vụ
1.3.1.3 R n :
Hình 1.11 Sơ ồ ị trung tâm thành ph Hà Nội [35]
Diện tích đô thị trung tâm TP Hà Nội khoảng 756 km2; được chia làm 6 khu vực để kiểm soát phát triển, gồm: Khu A: Khu vực nội đô lịch sử; Khu B: Khu vực
Trang 37nội đô mở rộng; Khu C: Chuỗi đô thị phía Bắc sông Hồng; Khu D: Chuỗi đô thị phía Đông đường vành đai 4; Khu E: Hành lang xanh sông Hồng; Khu F: vành đai xanh sông Nhuệ và các nêm xanh.
1.3.2 Thực trạng về quản lý xây dựng hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi tại
đô thị trung tâm Thành phố Hà Nội
Hình 1.12 Hình nh b o d ỡng và sửa chữ ện [nguồn: internet]
Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước Hà Nội là nơi thường xuyên tổ chức các sự kiện chính trị, văn hóa lớn, đồng thời là nơi thu hút hàng triệu khách du lịch mỗi năm Tuy nhiên hiện nay Hà Nội vẫn chưa được đ p
về kiến trúc cảnh quan, vẫn còn tồn tại những vấn đề cần nghiên cứu và giải quyết, trong đó hệ thống đường dây, cáp đi nổi là điều cần phải triển khai thực hiện ngay
Theo thống kê tại Hà Nội có khoảng 143.715km đường dây, cáp được bố trí, xây dựng tại các đường phố, trong đó đi nổi khoảng 87 và đi ngầm chỉ chiếm khoảng 13 Các đường dây, cáp đi nổi thường treo trên các cột treo cáp mà trong
đó có khoảng 30 đã hư hỏng hoặc không sử dụng Mạng lưới đường dây, cáp này
do quá nhiều cơ quan quản lý (khoảng 20 đơn vị hiện là chủ sở hữu [2]
Điều này đã không những gây mất mỹ quan, làm mất đi vẻ đ p của một đô thị ngàn năm văn hiến mà còn gây mất an toàn cho người dân và bức xúc lớn trong
xã hội; Bên cạnh hệ thống dây nổi, hệ thống công trình kỹ thuật ngầm như hệ thống cấp, thoát nước, các đoạn cáp điện lực, cáp quang, cáp chiếu sáng chôn ngầm diễn ra một cách manh mún, thiếu sự quản lí thống nhất và quy hoạch dẫn đến hiện tượng "mạnh ai nấy làm" và "đào lên, lấp xuống" diễn ra liên tục Hơn thế nữa, do thiếu quy hoạch và quản lí nên đa số các công trình ngầm này lại được
Trang 38bố trí ngay dưới lòng đường và trên vỉa hè gây ảnh hưởng lớn đến công tác tổ chức giao thông mỗi khi duy tu bảo dưỡng, sửa chữa Ngoài ra, do công tác lưu trữ hồ sơ không đầy đủ, thiếu chính xác đã gây khó khăn rất lớn cho công tác thi công các công trình công cộng khác Do vậy, mà một trong những nhiệm vụ quan trọng cần giải quyết để đạt được mục tiêu trên là phải ngầm hóa và tích hợp hệ thống dây với các tiện ích đô thị khác
Thành ủy Hà Nội đặc biệt quan tâm đến công tác hạ ngầm và đã chỉ đạo về việc ngầm hóa hệ thống dây nổi với tỷ lệ ngầm hóa triệt để hệ thống dây, cáp đi nổi cho các tuyến đường mới và các khu đô thị mới phát triển nhằm tạo dựng môi trường cảnh quan văn hóa Hà Nội đ p và hiện đại và từng bước xây dựng Hà Nội thành một thủ đô văn minh, hiện đại Để thực hiện yêu cầu này, ngày 4/6/2016, UBND Thành phố Hà Nội đã ký Biên bản ghi nhớ hợp tác đầu tư với 4 doanh nghiệp viễn thông và điện lực là Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam (VNPT), Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel), Tổng Công ty Viễn thông MobiFone và Tổng công ty Điện lực Thành phố Hà Nội (EVN Hà Nội Đây là cơ
sở cho việc phối hợp triển khai đồng bộ, hiệu quả hạ ngầm hệ thống đường dây viễn thông và đường dây điện lực trung, hạ áp trên địa bàn Thủ đô giai đoạn 2016-
2020 Theo đó, 4 doanh nghiệp sẽ triển khai hạ ngầm đồng bộ hệ thống đường dây viễn thông và đường dây điện lực trung, hạ áp tại các tuyến phố phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô Trong đó, ưu tiên việc sử dụng chung hạ tầng và chia sẻ cơ sở hạ tầng viễn thông, kết hợp với việc ngầm hóa, chỉnh trang đô thị, xây dựng Thủ đô văn minh, hiện đại Đồng thời, tổ chức quản lý, khai thác công trình ngầm hạ tầng kỹ thuật đô thị sử dụng chung theo đúng quy định và hiệu quả Tuy nhiên do thiếu cơ sở lý thuyết, định hình tuy nen, hào kỹ thuật và tính chất phức tạp, khó khăn của các công trình ngầm và những đặc thù rất riêng của đô thị cổ Hà Nội nên công tác triển khai thực tế gặp nhiều khó khăn
1.3.2.1 Hiện trạng hệ thống cấp điện thành phố Hà Nội
Trang 39a) Đặc điểm: Hệ thống điện cao thế 220kv và 110kv chủ yếu đi nổi trên cột thép; hệ thống điện trung áp gồm dây đi nổi trên cột bê tông và cáp ngầm (chôn trực tiếp và trong hào kỹ thuật)
Hệ thống điện cao thế 220KV & 110KV chủ yếu đi nổi trên cột thép Hệ thống điện trung, hạ áp gồm dây nổi đi trên cột bê tông và cáp ngầm (chôn trực tiếp, và trong hào kỹ thuật)
Chiều dài lưới điện cao áp (220KV & 110KV) hiện có: 301,8km
- Cáp ngầm: 18,4km, tỷ lệ ngầm hóa: 6% Cụ thể:
+ Cáp 220KV (ngầm/nổi): 7,2km/60,4km, tỷ lệ: 12%
+ Cáp 110KV (ngầm/nổi): 7,8km/240,8km, tỷ lệ 5%
- Hình thức và cấu tạo chôn ngầm điện cao áp
+ Chôn chung hoặc chôn riêng
+ Vị trí chôn: dải phân cách giữa, vỉa hè
+ Cấu tạo hào chôn B: 1m-3m; Sâu: 1,82,4m
Tỷ lệ ngầm hóa lưới trung áp đạt trên 33%
b) Cơ quan quản lý:
- S C n ơn à Nội: Quản lý việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát
triển hệ thống năng lượng (điện lực, năng lượng mới, năng lượng tái tạo, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trên địa bàn thành phố Hà Nội Tổ chức thực hiện Luật Điện lực, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Điện lực, Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và các văn bản pháp luật khác có liên quan; Thực hiện cấp, quản lý, kiểm tra, thu hồi giấy phép hoạt động điện lực theo quy định; Kiểm tra hoạt động điện lực và sử dụng điện, giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán điện theo Luật Điện lực và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Điện lực; Kiểm tra, giám sát việc thực hiện Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Thẩm định kế hoạch, chương trình, đề án, dự án, nhiệm vụ, công trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả của Thành phố;
- Tổn C n y l ện cao th Miền Bắc và Tổn C n y Đ ện lực Thành
ph Hà Nội: Quản lý và Phát điện, truyền tải điện, phân phối điện, bán buôn điện,
Trang 40bán lẻ điện; Sửa chữa vận hành và hạ ngầm các đường dây, cáp đi nổi khi có yêu cầu của UBND thành phố theo kế hoạch và lộ trình thực hiện; Giám sát lắp đặt thiết bị công trình, xây dựng hoàn thiện công trình điện dân dụng công nghiệp, đường dây tải điện và trạm biến áp; Sản xuất thiết bị điện; Lắp đặt hệ thống điện; Xây lắp các công trình điện; Thiết kế đường dây và trạm biến áp đến 110KV; Xây dựng đường dây và trạm biến áp không giới hạn quy mô cấp điện áp
Hình 1.13: L ện cao áp và trạm bi n áp hiện có tại Hà Nội[nguồn Viện QHXD]
Từ nhà máy thủy điện Hòa Bình và nhiệt điện Phả Lại có 5 đường dây 220
KV cấp điện cho khu vực Hà Nội
Lưới điện phân phối Hà Nội hiện nay tồn tại 3 cấp điện áp 35, 10 và 6 KV Đến nay hệ thống lưới điện 110, 220 KV Hà Nội đã phát triển đến mức hoàn chỉnh dựa trên 2 nguồn điện lớn là Hòa Bình và Phả Lại Lưới điện 35, 10-6 KV về lâu dài được xác định là chuyển đổi thành lưới 20 KV