1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tGIẢNG DẠY TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHO THÔNG

153 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung cuốn sách chia làm hai phần: phần đầu gồm những vấn đề lý luận chung về tác phẩm văn chương và phương pháp dạy -học văn; phần sau phân tích, bình giá cụ thể một số tác phẩm, tr

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

NGUY ỄN THỊ VIỆT HOA

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHO THÔNG

Trang 3

MỤC LỤC

M ỤC LỤC 3

M Ở ĐẦU 5

1 Lí do ch ọn đề tài 5

2.L ịch sử vấn đề 6

3.Nhi ệm vụ của đề tài 13

4.Phương pháp nghiên cứu 14

5.Đóng góp của luận văn 14

6 K ết cấu của luận văn 14

CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 16

1.1.NH ẬN XÉT VỀ PHẦN VĂN HỌC HIỆN ĐẠI VÀ TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM TRONG CHƯƠNG TRÌNH MÔN VĂN ở TRƯNG HỌC PHỔ THÔNG 16

1.2.V ẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TRUYỆN HIỆN ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 18

1.2.1.NHÌN LẠI MỘT SỐ KHUYNH HƯỚNG, PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY VĂN HỌC NÓI CHUNG, DẠY TRUYỆN NÓI RIÊNG TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY 18

1.2.1.1.V ề khuynh hướng giảng dạy văn chương 18

1.2.1.2.V ề phương pháp giảng dạy tác phẩm văn chương 21

1.2.1.3.Nh ận xét tổng quát 26

1.2.2.MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH, GIẢNG DẠY THỂ LOẠI TRUYỆN 29

1.2.2.1.M ột số đặc trưng cơ bản của thể loại truyện 29

1.2.2.2.Phân tích, gi ảng dạy truyện theo đặc trưng thể loại 32

Trang 4

1.2.2.3.Giáo án cho m ột bài giảng thuộc thể loại truyện 40

CHƯƠNG 2: GIẢNG DẠY TÁC PHẨM TRUYỆN TRONG SÁCH GIÁO KHOA MÔN VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 43

2.1.Nh ững truyện, trích đoạn truyện được giảng trong chương trình lớp 11 43

2.2.Nh ững truyện, trích đoạn truyện được giảng trong chương trình lớp 12 74

KẾT LUẬN 138

THƯ MỤC 141

PH Ụ LỤC 146

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Tiếp nhận văn học là một quá trình trong đó từng cá nhân tìm hiểu, khám phá giá trị đích

thực của tác phẩm, từ tác phẩm, đem lại cho mình chất dinh dưỡng tâm hồn Sự tiếp nhận tác

phẩm văn chương tùy thuộc vào từng cá nhân, vì vậy, sẽ có nhiều tiếng nói khác nhau về cùng

một tác phẩm Tuy nhiên, nói như thế không phải là không có tiếng nói chung trong quá trình

tiếp nhận một tác phẩm văn chương Theo Nguyễn Thanh Hùng: "Không có kết luận duy nhất

và chân lý tuyệt đối về tác phẩm văn chương nhưng vẫn tồn tại chân lý nghệ thuật của tác

phẩm" Nhiệm vụ của người thầy dạy Văn - người tiếp nhận và giới thiệu tác phẩm văn chương đến học sinh - là phải bảo đảm được chân lý nghệ thuật của tác phẩm đồng thời với việc giáo

dục cho học sinh năng lực tư duy và cảm thụ, thưởng thức cái hay, cái đẹp của tác phẩm, góp

phần quan trọng trong việc giáo dục nhân cách sống cho học sinh, bởi "Văn học là nhân học" (M Gorky) Dạy học vừa là khoa học vừa là nghệ thuật Người thầy có tri thức đồng thời phải

có phương pháp truyền thụ tốt thì mới giảng dạy tốt được Hiện nay trong nhà trường phổ thông, vấn đề nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy bộ môn trong đó có môn Văn -đang đặt

ra cấp thiết cho ngành và thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu giáo dục cũng như bản thân giáo viên trực tiếp giảng dạy Môn văn trong nhà trường là một thiết kế mang tính sư

phạm cho nên nó hàm chứa nội dung phương pháp Để đáp ứng được nhu cầu dạy và học theo hướng phát huy khả năng sáng tạo, tự học ở học sinh, trước hết người thầy phải nhận thức được

vấn đề "dạy cái gì, dạy như thế nào? Có một thực trạng là có những giáo viên không nắm vững phương pháp phân tích một tác phẩm được chọn giảng trong chương trình theo đặc trưng thể

loại của nó nên khai thác tác phẩm một cách chung chung, sơ lược, công thức, không đúng theo đặc trưng thể loại của tác phẩm Hiện nay trên thực tế giảng dạy tồn tại nhiều khuynh hướng phương pháp giảng dạy khác nhau: khuynh hướng cung cấp kiến thức có sẩn; khuynh hướng

mô tả lịch sử phát sinh, coi tác phẩm văn chương như một hiện tượng lịch sử xã hội; khuynh hướng coi tác phẩm văn chương như một hiện tượng tĩnh; khuynh hướng tách rời tác phẩm văn chương với ngôn ngữ.v.v Rơi vào một trong những khuynh hướng trên sẽ dẫn đến việc khai thác tác phẩm theo chiều hướng phiến diện, thiếu chuẩn xác Song đổi mới phương pháp dạy

Trang 6

như thế nào cho phù hợp? Đi vào từng mảng thể loại cụ thể phải vận dụng cách dạy thế nào cho phù hợp? Làm thế nào để dạy một tác phẩm trong giới hạn thời gian của phân phối chương trình mà vẫn truyền thụ được cho học sinh thấy giá trị của tác phẩm? Làm thế nào để giúp học sinh cảm thụ tốt tác phẩm? Và từ sự nhận thức về tác phẩm, học sinh có khả năng viết những bài luận thể hiện nhận thức và sáng tạo của mình? Đây là những trăn trở khiến tôi, một giáo viên trực tiếp giảng dạy, đi đến quyết định tìm hiểu, đưa ra một cách giải quyết sao cho hợp lý

nhất, sát thực với tình hình giảng dạy văn ở nhà trường phổ thông bởi phân tích, tìm hiểu, cảm

thụ một tác phẩm văn chương không thể như một vấn đề khoa học tự nhiên mà nó có đặc trưng riêng Xuất phát từ thực tế giảng dạy những năm qua, trước yêu cầu đổi mới phương pháp dạy

và học để nâng cao hiệu quả giảng dạy, giải quyết được phần nào những thực trạng nêu trên, đề

tài "Gi ảng dạy truyện hiện đại Việt Nam ở trường trung học phổ thông" mạnh dạn đề cập

một số vấn đề cụ thể về giảng dạy thể loại truyện hiện đại cho cấp học sinh trung học; từ đó, góp thêm một kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả giảng dạy văn trong nhà trường phổ thông

2 Lịch sử vấn đề

Giảng dạy văn học nói chung, giảng dạy truyện nói riêng là vấn đề thực sự thu hút được

sự chú ý của giới nghiên cứu văn chương, giáo viên và cán bộ giảng dạy ở các trường phổ thông và đại học Mọi người đều muốn đưa ra phương pháp giảng dạy và nội dung giảng dạy

cụ thể cho từng tác phẩm văn học được giảng dạy trong nhà ừường Từ trước đến nay đã có nhiều bài viết, nhiều công trình bàn về phương pháp dạy - học văn và giảng dạy truyện trong nhà trường phổ thông theo hai loại:

+ Dạng thứ nhất: gồm các bài viết có đối tượng tiếp cận hẹp

+ Dạng thứ hai: gồm các bài viết có đối tượng tiếp cận rộng

+ Hướng tiếp cận từ thi pháp

+ Hướng tiếp cận từ phương pháp giảng dạy

1 - T ừ góc độ của phạm vỉ đối tượng nghiên cứu

Trang 7

1.1: Dạng có đối tượng tiếp cận hẹp

Dạng này chỉ tập trung phân tích hay bình giảng một tác phẩm truyện cụ thể Ví dụ ở các bài viết trong sách Hướng dẫn giảng dạy môn Văn cho giáo viên của Bộ Giáo dục và Đào tạo:

tài liệu này hướng dẫn tất cả các bài sẽ giảng trong chương trình của lớp 11 về ừuyện hiện đại (gồm: "Hai đứa trê", "Chữ người tử tù", "Đời thừa", "Chí Phèo") và các truyện, trích đoạn truyện sẽ giảng ở lớp 12 (gồm: "Vi hành", "Đôi mắt", "Vợ nhặt", "Vợ chồng A Phủ", "Mùa

lạc", "Rừng xà nu", "Mảnh trăng cuối rừng") Các bài hướng dẫn ở sách này có tính chất định hướng và định lượng chung, thống nhất cho giáo viên về các vấn đề: mục đích yêu cầu của bài

giảng; tìm hiểu về tác phẩm, đoạn trích; nội dung và nghệ thuật cần đảm bảo.v.v Tuy nhiên, sách này chưa đi vào hướng dẫn cụ thể, chi tiết từng bước, từng công việc mà giáo viên phải làm trong quá trình giảng dạy bài đó về phương pháp cũng như về nội dung Trong tài liệu "Để

hội cho học sinh, bám sát các câu hỏi trong phần hướng dẫn chuẩn bị bài ở sách giáo khoa; song loại tài liệu này chủ yếu phục vu ừực tiếp cho học sinh Cuốn "Giảng văn Văn học Việt

lớp li và bảy bài của chương trình lớp 12 Tất cả các bài viết trong tài liệu này đều theo hướng tìm hiểu, phân tích, bình giảng các vấn đề về nội dung, nghệ thuật, thành công, hạn chế, đóng góp của truyện Mặc dù nội dung các bài viết khá sâu sắc, công phu, thể hiện sự đầu tư nghiên

cứu kỹ, rộng, có những phát hiện mới song các bài viết này cũng chỉ ở mức độ tham khảo kiến

thức cho giáo viên trong quá trình chuẩn bị bài giảng chứ chưa hình thành được một giáo án cụ

thể cho bài giảng thuộc thể loại truyện Bên cạnh một số tài liệu trên, một số bài viết ngắn in trong "Tạp chí Trung học Phổ thông", "Nghiên cứu giáo dục" cũng góp phần phục vụ cho giáo viên trong quá trình chuẩn bị bài giảng như: "Nghệ thuật miêu tả chân dung độc đáo của Nam

chân dung hai nhân vật Từ và Hộ: lúc thì nhân vật tự bộc lộ mình, lúc thì tác giả kể về nhân

vật, lúc thì nhân vật được miêu tả Ương ý thức của nhân vật khác; vì vậy, đời sống nội tâm của nhân vật được vẽ ra bằng chính sự tồn tại của nó, nhân vật "tìm thấy mình trong người khác và tìm thây người khác trong chính mình" (M.Bakhtin) Bài viết giúp cho giáo viên có thêm cơ sở

lý luận khi đánh giá nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc của Nam Cao Bài viết "Vi hành"

Trang 8

điểm thể hiện sự sáng tạo về nghệ thuật của lãnh tụ Nguyễn Ai Quốc nhằm mục đích vạch trần

bộ mặt thật của vua Khải Định và chế độ thuộc địa của thực dân Pháp, giúp cho giáo viên có

thể định hướng chính xác hơn cho bài giảng của mình Trong bài "Nghĩa hàm ẩn của những

trị nghĩa ẩn sau những câu trả lời gián tiếp của các nhân vật trong tác phẩm, giúp giáo viên hiểu thêm về vốn sống, tài năng của Nguyễn Khải trong việc sử dụng ngôn ngữ vào hoàn cảnh giao

tiếp cụ thể, tạo nên đặc sắc về nghệ thuật cho tác phẩm Năm 1994, Nhà xuất bản Trề đã cho ra

đời "Tiếng nói tri âm" tuyển chọn những bài viết đặc sắc của cuộc thi bình văn (đợt ì) do báo

kỳ" của Nguyễn Thành Thi, "Tính nghệ thuật của truyện ngắn Hai đứa trẻ" của Phan Huy Dũng, "Hai đứa trẻ trên một vũ trụ già" của Nguyễn Thị Thanh Xuân V.V.), hay những bài bình về "Vợ nhặt" như "Phẩm giá con người trong truyện ngắn Vợ nhặt" của Nguyễn Thanh

Vân, "Sự sống đối mặt với cái chết" của Nguyễn Thị Thanh Cảnh v.v đây là những bài viết

thể hiện sự cảm nhận riêng, có nhiều nét độc đáo của người bình về các tác phẩm

1.2: Dạng có đối tượng tiếp cận rộng

Các bài viết và công trình nghiên cứu có đối tượng tiếp cận rộng đã đi vào những vấn đề chung, những vấn đề mang ý nghĩa phương pháp luận trong việc phân tích tác phẩm văn chương Trong dạng này, có những công trình được chia làm hai phần: phần đầu là những vấn

đề lý luận chung; phần sau đi vào thiết kế những tác phẩm cụ thể, trong đó có tác phẩm truyện

Đó là các công trình và các bài viết như: "Hiểu văn, dạy văn" của Nguyễn Thanh Hùng Nội

dung cuốn sách chia làm hai phần: phần đầu gồm những vấn đề lý luận chung về tác phẩm văn chương và phương pháp dạy -học văn; phần sau phân tích, bình giá cụ thể một số tác phẩm, trích đoạn được giảng dạy trong trường phổ thông, trong đó có các bài viết về các truyện ngắn

"Chí Phèo", "Đôi mắt", "Mảnh trăng cuối rừng" Tuy nhiên, cuốn sách chỉ cung cấp cho giáo viên những vấn đề thuộc phạm vi rộng (lý luận chung) về dạy, học tác phẩm văn chương nói chung, còn đi vào phương pháp giảng dạy cụ thể cho thể loại truyện thì chưa có ơ các bài viết

về truyện ngắn cũng chỉ ở phạm vi nghiên cứu rộng chứ chưa phải là một giáo án với nội dung lên lớp cụ thể Trong "Thiết kế bài học tác phẩm văn chương" (Phan Trọng Luận chủ biến), nội

dung sách chia làm hai phần: phần đầu trình bày lý luận về vấn đề đổi mới phương pháp dạy

Trang 9

học tác phẩm văn chương ở trường phổ thông; phần sau thiết kế thể nghiệm một số bài được

chọn giảng ở phổ thông, trong đó có các bài: "Hai đứa trẻ", "Chữ người tử tù", "Chí Phèo" Các bài thiết kế thể nghiệm này đi theo hướng tương đối cụ thể, sát với thực tế giảng dạy ở bậc học

phổ thông, đưa ra được phương pháp giảng dạy cụ thể cho tiết học Trong "Rèn luyện tư duy

hai phần lớn: phần đầu (chiếm phần lớn) là những vấn đề lý luận chung về rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương; phần sau thiết kế thể nghiệm một số bài giảng trong chương trình, trong đó có bài "Mảnh trăng cuối rừng" Riêng bài viết về truyện ngắn

"Mảnh trăng cuối rừng" rất cụ thể, chi tiết từng công việc của giáo viên và học sinh trong giờ

học song vẫn cần bổ sung thêm một số nội dung cho đầy đủ hơn Tài liệu bồi dưỡng thường

bài giảng văn" của Lê Trí Viễn trình bày những vấn đề cơ bản chuẩn bị cho một bài giảng văn

và phụ lục giáo án về bài giảng "Hai đứa trẻ", song bài giảng này có lẽ trình bày ở đại học thì

hợp lý hơn

Tuy nhiên, việc nghiên cứu và giảng dạy truyện hiện đại không chỉ bó gọn trong phạm vi đối tượng nghiên cứu mà còn thể hiện ở hướng tiếp cận

Từ góc độ của hướng tiếp cận có thể thấy các công trình, các bài nghiên cứu về phương pháp giảng dạy văn và truyện hiện đại theo hai hướng:

2.1: Hướng tiếp cận từ thi pháp

Ớ hướng tiếp cận này, các tác giả sách bám sát vào thi pháp thể loại để trình bày vấn đề

Ta có thể thấy trong "Bình văn" (của Trần Hòa Bình - Lê Dy - Văn Giá), Văn Giá nêu lên đôi

điều tự ngẫm - như tác giả viết - khi đọc và bình tác phẩm văn xuôi: tìm tứ truyện, phân tích chi

tiết nghệ thuật và cuối cùng là người bình văn phải sống cùng tác phẩm Trên cơ sở đôi điều tự

ngẫm đó, Văn Giá đi vào bình một số tác phẩm giảng dạy trong nhà trường, trong đó có "Hai đứa ữẻ", "Chí Phèo", "Mảnh trăng cuối rừng" Bài viết của Văn Giá giúp ích cho giáo viên về hướng, phương pháp phân tích một tác phẩm văn xuôi chứ chưa phải là giáo án giảng dạy cụ

thể Trong "Văn học và văn hóa từ một góc nhìn" của Phùng Quí Nhâm có bài "Đặc trưng nghệ

thuật của truyện ngắn" giúp ích cho giáo viên nắm được đặc trứng của truyện ngắn, từ đó có đủ

Trang 10

lý luận để thiết kế bài giảng thể loại tryện Trong loạt bài, tài liệu viết về Nam Cao có thể thấy

mỗi bài viết ở một góc nhìn khác nhau tạo nên sự phong phú cho các vấn đề nghiên cứu về ông

Cuốn "Luận đề về Nam Cao" tập trung một số bài viết nghiên cứu, bài luận văn về Nam Cao

Đây là tài liệu cung cấp chủ yếu cho học sinh những kiến thức phổ thông về Nam Cao Trong

"Tìm hi ểu quan niệm nghệ thuật về con người trong các sáng tác của Nam Cao trước cách

sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng, trong đó có "Đời thừa" và "Chí Phèo", để từ đó rút ra

nhận xét: thông qua việc mô tả con người trong tác phẩm, Nam Cao tố cáo thực trạng phi nhân

đang tràn lan, loang rộng, đang bủa vây lấy từng số phận Nó di căn đến mọi tế bào của đời

Nam Cao còn có ý nghĩa đấu tranh chống lại thực trạng phi nhân đang tồn tại để mà giải

vào con người Bài viết giúp cho giáo viên có cách nhìn và đánh giá đúng về con người được

mô tả trong hai truyện ngắn "Đời thừa", "Chí Phèo"; đánh giá đúng về tác phẩm, tác giả từ đối

tượng tiếp nhận là học sinh trong nhà trường Trong bài "Vấn đề cải tạo hoàn cảnh sống cho

con người trong truyện của Nam Cao", Lê Thị Hải Vân phân tích về cái nhìn, quan điểm của

Nam Cao khi mô tả số phận con người trong các tác phẩm, trong đó có "Chí Phèo", để từ đó rút

ra nhận định: từ việc mô tả số phận con người, Nam Cao đặt ra vấn đề lớn lao, khẩn thiết: hãy

trước Cách mạng Ở bài "Điểm nhìn và cách nhìn trong truyện ngắn Nam Cao" của Đào Thị

Thu Hằng lại tìm hiểu về điểm nhìn của Nam Cao với vai trò người kể chuyện trong một số

truyện ngắn của ông - trong đó có "Đời thừa", "Chí Phèo", từ đó chỉ ra cách nhìn của nhà văn,

để đánh giá về quan điểm tư tưởng, lập trường, đánh giá nhận xét về đời, về người của nhà văn trong tác phẩm Tác giả Thu Hằng cho rằng: trong "Chí Phèo" cũng như "Đời thừa" đều chỉ có

một điểm nhìn song có nhiều cách nhìn của người kể chuyện; đây chính là một cách tân về

nghệ thuật của Nam Cao Bài viết này giúp cho giáo viên có thêm hiểu biết về giá trị nghệ thuật trong các truyện ngắn của Nam Cao được giảng dạy Bài "Qua truyện ngắn "Chí Phèo" bàn

Trang 11

giáo viên hiểu biết thêm về giá trị hiện thực của "Chí Phèo" nói riêng, cái nhìn hiện thực của Nam Cao nói chung Bài viết "Hướng tiếp cận thích hợp khỉ giảng truyện ngắn "Đời thừa" của

khi khai thác "Đời thừa" là: lấy việc tìm hiểu quan niệm nghệ thuật của tác giả làm mục đích chính khi phân tích tác phẩm, chỉ chăm chắm đi tới xác định đây là một trong những bản tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao Trên cơ sở đối tượng tiếp nhận là học sinh, Phạm Quang Trung đưa ra hướng tiếp cận tác phẩm này là phải lấy việc khai thác ý nghĩa xã hội - thẩm mỹ của tác

phẩm làm chính (sự bào mòn thậm chí hủy hoại tài năng và nhân cách của người trí thức do

hợp hơn khi phân tích truyện "Đời thừa" Từ góc độ chức năng giáo dục thẩm mỹ của văn học, bài viết "Về những tác động thẩm mỹ tiềm tàng trong tác phẩm của Nam Cao", Nguyễn Thị

Thanh Hương giới thiệu cho người đọc những tác động thẩm mỹ trong các sáng tác của Nam Cao, giúp người đọc có thể thấy rõ giá trị thẩm mỹ ương sáng tác của Nam Cao Viết về "Mảnh

trăng cuối rừng", Nguyễn Đức Hạnh có bài"Không gian nghệ thuật trong Mảnh trăng cuối

tiếp cận những giá trị chân xác của tác phẩm, bên cạnh những hướng tiếp cận khác của các tác

giả khác, qua đó nhằm khẳng định những thành công của Nguyễn Minh Châu trong "Mảnh trăng cuối rừng" Bài viết có nội dung khá phong phú song chỉ ở dạng bài nghiên cứu, chưa

phải là một bài giảng cho học sinh phổ thông Trên một số tạp chí của ngành cũng có đăng bài

viết nghiên cứu về tác phẩm của các tác giả từ góc độ thi pháp Có thể thấy như "Thế giới trẻ

thơ qua đôi mắt Thạch Lam" của Lê Tâm Chính Bài viết phân tích cái nhìn, tình cảm của

Thạch Lam về trẻ thơ trong một số truyện ngắn, đặc biệt trong "Hai đứa trẻ ": Đó là những trang viết chan chứa tình cảm âu yếm, nhẹ nhàng mà ám ảnh của một trái tim nhân hậu, yêu thương, hóa thân vào lũ trẻ của Thạch Lam trong hành trình "phát hiện những bí mật củạ tâm

hồn thơ trẻ " Bài viết còn đề cập đến một số hình thức nghệ thuật mà Thạch Lam sử dụng để chuyển tải cái nhìn nhân hậu về trẻ thơ trong "Hai đứa trẻ" cũng như trong một số truyện ngắn khác

2.2: Hướng tiếp cận từ phương pháp giảng dạy

Ở hướng tiếp cận này có thể thấy ở một số công trình như: "Một số vấn đề về phương

Trang 12

trình này trình bày một số vấn đề cơ bản về vị trí, nhiệm vụ, mục tiêu của môn văn trong nhà trường; sau đó là phần suy nghĩ, trao đổi và kinh nghiệm về giảng dạy và nghiên cứu văn học;

cuối cùng là phần viết về một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học văn Gông trình giúp cho giáo viên nắm được những vấn đề lý luận chung, cơ bản về phương pháp dạy học văn và

một số phương pháp, biện pháp cụ thể sử dụng trong giờ giảng văn như:một số suy nghĩ về

biện pháp phát vấn, các loại tình huống có vấn đề, phân tích từ ngữ trong giảng văn.v.v

"Phương pháp dạy học văn" (Phan Trọng Luận chủ biên) trình bày những vấn đề lý luận chung

về bộ môn, về phương pháp dạy học văn ở trường phổ thông và vị trí, vai trò, nhiệm vụ của

người giáo viên văn Cuốn "Phương pháp dạy -học văn chương theo hướng tích cực - hiện đại

ở nhà trưởng phổ thông trung học" (Trịnh Xuân Vũ) là giáo trình chuyên đề về phương pháp

dạy học văn theo hướng mới so với các phương pháp truyền thống tồn tại lâu nay Giáo trình

đưa ra mô hình dạy văn mới song cũng cần thời gian thử nghiệm mô hình này Tài liệu "Đổi

thường xuyên cho giáo viên văn THPT trình bày lý luận chung về đổi mới dạy học tác phẩm

văn chương và cụ thể về một biện pháp thể hiện việc đổi mới là đọc sáng tạo Theo Trần Đình

Sử ghi trong cuốn sách "Đọc văn học văn"', học văn trước hết phải đọc hiểu văn, mà đọc hiểu

văn thì không phải đơn giản như kiểu đọc chữ Có đọc hiểu văn rồi thì mới biết thế nào là văn

văn, Trần Đình Sử đã trình bày những đọc hiểu của mình về các tác phẩm tiêu biểu ở các giai

đoạn văn học, trong đó có những truyện ngắn: "Hai đứa trẻ", "Chí Phèo", "Đời thừa", "Đôi mát", "Vợ chồng A Phủ", "Vợ nhặt", "Vi hành", "Mảnh trăng cuối rừng"

văn và truyện hiện đại tương đối phong phú và đa dạng Mỗi công trình, mỗi bài viết đều thể

hiện những tìm tòi, khám phá của người viết, thể hiện những đóng góp quí báu cho công việc

giảng dạy đạt chất lượng và hiệu quả cao Những công trình, bài viết về phương pháp giảng dạy văn cung cấp cho giáo viên lý luận dạy học văn chương; so sánh các phương pháp để đưa ra phương pháp dạy văn mới là: phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, học sinh là chủ thể

tiếp nhận tác phẩm dưới sự dẫn dắt của thầy; đồng thời nêu lên một số biện pháp cụ thể để thực

hiện các phương pháp đó Một số bài thiết kế thể nghiệm và những bài viết cụ thể về phân tích

Trang 13

thể loại truyện viết khá sâu sắc, thể hiện sự cảm nhận, khám phá của người viết về giá trị tư tưởng cũng như nghệ thuật của tác phẩm, giúp cung cấp kiến thức cho giáo viên thêm phong phú Tuy nhiên, nhiều bài viết, công trình nghiên cứu thường chỉ đi vào những vấn đề lý luận chung của việc nghiên cứu phương pháp dạy văn và giảng dạy truyện hiện đại hoặc đi vào trình bày chi tiết phương pháp giảng dạy một tác phẩm cụ thể mà chưa có sự kết hợp một cách hài hòa, nhuần nhuyễn giữa các hướng tiếp cận Một số công trình trình bày sâu, rộng những lý

luận cơ bản, then chốt, theo từng vấn đề lớn của việc dạy học văn song chưa đưa ra một mô

tích cụ thể một truyện ngắn hoặc một trích đoạn truyện song cách viết, dàn bài chưa phù hợp

với việc giảng dạy cho học sinh phổ thông Vì vậy, luận văn này học tập, kế thừa thành tựu

3 Nhiệm vụ của đề tài

Đề tài của luận văn được triển khai nhằm thực hiện nhiệm vụ sau: + Tìm hiểu các truyện, đoạn trích truyện hiện đại Việt Nam trong chương trình Phổ thông Trung học hiện hành

+ Xác định dung lượng kiến thức cần có và phương pháp giảng dạy cụ thể cho thể loại truyện hiện đại nhằm tìm ra một hướng đi thích hợp nhất, một cách thức hiệu quả nhất phù hợp

với đặc trưng loại thể và thực trạng dạy, học để đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp

giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh

+ Góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy truyện hiện đại Việt Nam trong sách giáo khoa Văn THPT

Truyện hiện đại Việt Nam là một mảng khá phong phú trong kho tàng văn học Việt Nam,

nó vừa mang những đặc điểm chung của loại thể, vừa mang dấu ấn riêng của thời đại Vì vậy,

để học sinh có thể lĩnh hội được nhiều nhất, đầy đủ nhất, có tác dụng tốt nhất đối với mảng này, nhiệm vụ của luận văn là nặng nề và khó khăn và làm sao để có thể có tác dụng tốt nhất đối với

từng giáo viên khi giảng dạy thể loại này

Trang 14

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình triển khai luận văn, tác giả của luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:

luận văn đã vận dụng những thành tựu của những ngành kế cận như: lí luận văn học, ngôn ngữ

học, nghệ thuật học, lịch sử học, văn hóa học, thống kê học, mĩ học.v.v để tiếp cận giải quyết

vấn đề

5 Đóng góp của luận văn

Với đề tài này, luận văn sẽ góp một tiếng nói khiêm tốn vào việc xác lập phương pháp

giảng dạy truyện hiện đại Việt Nam một cách thích hợp với đặc trưng thể loại, đồng thời tìm

một hướng đi thiết thực để thực hiện có hiệu quả yêu cầu nâng cao chất lượng dạy, học môn Văn ở nhà trường phổ thông

6 Kết cấu của luận văn

Văn bản luận văn gồm ba phần với các chương và nhiệm vụ cụ thể như sau:

1- Lý do chọn đề tài

2 - Lịch sử vấn đề

3 - Nhiệm vụ của đề tài

4 - Phương pháp nghiên cứu

5 - Đóng góp của luận văn

Trang 15

6 - Kết cấu của luận văn

CHƯƠNG 1

TRƯỜNG TRƯNG HỌC PHỔ THÔNG

Chương này gồm hai phần:

A - về phần văn học hiện đại và truyện hiện đại Việt Nam trong chương trình Văn ở trường THPT

B - Vấn đề phương pháp giảng dạy truyện hiện đại trong chương trình Văn ở trường THPT

phương pháp giảng dạy truyện hiện đại Việt Nam ở trường THPT

CHƯƠNG 2

KHOA VĂN ở TRƯỜNG THPT

Ở chương này, người viết vận dụng cơ sở lý luận để làm rõ hướng phân tích và phương pháp giảng dạy truyện hoặc trích đoạn truyện hiện đại Việt nam trong sách giáo khoa môn Văn

Trang 16

CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 NHẬN XÉT VỀ PHẦN VĂN HỌC HIỆN ĐẠI VÀ TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM TRONG CHƯƠNG TRÌNH MÔN VĂN ở TRƯNG HỌC PHỔ THÔNG

Toàn bộ chương trình môn văn ở cấp THPT (trong phân phối chương trình ban hành năm 2000) của cả ba cấp lớp có 363 tiết, trong đó: phân môn giảng văn ở lớp 10 có 46 tiết giảng văn

học Việt Nam và 15 tiết giảng văn học nước ngoài; ở lớp 11 có 53 tiết giảng văn học Việt Nam

và 15 tiết giảng văn học nước ngoài; ở lớp 12 có 46 tiết giảng văn học Việt Nam và 12 tiết

giảng văn học nước ngoài, số tiết còn lại là dành cho các phân môn khác như : làm văn, lý luận văn học và tiếng Việt (ở lớp 10 và 11) Trong tổng số 145 tiết giảng văn học Việt Nam ở cả ba

khối lớp, có 17 tiết giảng văn học dân gian 49 tiết giảng văn học trung đại (giai đoạn từ thế kỷ

X đến hết thế kỷ XIX), có 79 tiết giảng văn học hiện đại (giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến 1975) Như vậy, tính trong tổng số tiết giảng văn học Việt Nam thì văn học hiện đại chiếm tỉ lệ 54,5% Nếu so sánh với chương trình cũ của năm 1998 thì chương trình của năm 2000 có giảm

đi một vài bài song một số bài có số tiết lại tăng lên nên tổng số tiết thực giảng vẫn như nhau Lây ví dụ: ở chương trình của lớp 12 (năm 2000) chuyển sang phần đọc thêm các bài: "Thời và thơ Tú Xương", "Huệ Chi trước lễ cưới", Những đứa con trong gia đình"; thay vào đó một số bài được tăng thời lượng giảng lên như : "Tay Tiến" (từ 1 tiết thành 2 tiết), "Đất nước" (từ 1 -> 2), "Vợ chồng A Phủ" (2 -> 3), "Rừng xà nu" (2 -> 3 ).v.v Một số bài được tăng thời lượng

giảng dạy là rất cần thiết và hợp lý Tuy nhiên, theo chúng tôi, ở phần văn xuôi của lớp 12 nên

giữ nguyên bài giảng "Những đứa con trong gia đình" để học sinh có nhận thức đầy đủ về chủ nghĩa anh hùng của con người Việt Nam ở các miền của đất nước, còn chuyển bài này sang

phần đọc thêm sẽ bất lợi vì sẽ có đa phần học sinh không đọc số tiết trong một tuần của lớp 12 cũng không nên cắt giảm còn ba tiết mà nên giữ nguyên 4 tiết một tuần để giáo viên có điều

kiện rèn kỹ năng làm văn cho học sinh; vả lại, trong các tác phẩm được chọn giảng, nhiều bài quá dài mà thời gian lại eo hẹp nên không có thời gian đủ cho học sinh cảm nhận, giáo viên

phải "chạy" để đảm bảo chương trình nên cả thầy và trò đều cảm thấy nặng nề Ví dụ: Ở chương trình lớp 12, chỉ tính thể loại truyện, một số bài chỉ phân phối 2 tiết là chưa hợp lý, ví

Trang 17

dụ: "Vợ nhặt", "Mùa lạc" đề nghị phân 3 tiết thì hợp lý hơn Đối với một số bài thơ dài chỉ

dạy trong một tiết; ở tình tình thực tế hiện nay về nội dung đề thi, thực trạng học sinh là không hợp lý ơ chương trình lớp 11 cũng vậy, bài "Chí Phèo" và "Đời thừa", mỗi bài chỉ được phân hai tiết là chưa hợp lý với hai tác phẩm được xem là đặc sắc và có nhiều vấn đề cần lĩnh

hội ("Hai đứa trẻ" và "Chữ người tử tù" được phân mỗi bài ba tiết) Sự phân chia chương trình các bài giảng văn ở ba khối lớp là chia theo tiến trình văn học sử Việt Nam; trong đó, bài đầu tiên giới thiệu khái quát giai đoạn văn học để học sinh nắm được những nét lớn, nét chung về

cả giai đoạn, sau đó mới đi vào giảng các tác phẩm cụ thể số lượng tác phẩm đọc thêm ở cả

phần thơ và văn xuôi đều tương đương với số lượng tác phẩm được trích giảng song số lượng tác phẩm thơ được chọn giảng lại nhiều hơn văn xuôi (ở cả hai khối lớp li và 12) Sự phân chia

của thể loại truyện cũng khá đồng đều: có 6 truyện hoặc trích đoạn truyện được chọn giảng ở

lớp li; có 7 truyện hoặc trích đoạn truyện ở lớp 12 và phần đọc thêm: 8 truyện đọc thêm ở lớp li

và 7 truyện đọc thêm ở lớp 12 Thể loại truyện được chọn ở cả hai chương trình lớp li và 12

hầu như là loại truyện ngắn Ở phần văn học viết, ngoại ứừ các tác gia được học đầy đủ về tiểu

sử cuộc đời, sự nghiệp văn chương, phong cách nghệ thuật, trích giảng tác phẩm của tác gia đó, còn lại, học sinh được học trực tiếp trích giảng tác phẩm và ở phần đầu mỗi bài là phần Tiểu

Bên cạnh phần giảng văn các tác phẩm hoặc trích đoạn tác phẩm, học sinh còn được học

một số bài về lý luận văn học như: "Văn học là gì?" (ở lớp 10), "Tác phẩm văn học", "Thể loại tác phẩm văn học" (ở lớp 11), "Sự phát triển lịch sử của văn học", "Các giá trị văn học và tiếp

nhận văn học" (ở lớp 12) để nâng cao nhận thức về văn học, giúp ích cho học sinh trong quá trình tiếp cận, phân tích tác phẩm Học sinh được học một số tiết về phương pháp làm bài luận theo kiểu bài cụ thể để rèn kỹ năng viết và vận dụng kiến thức đã học vào bài viết ơ lớp lo và

lớp li học sinh được học một số tiết tiếng Việt để trau dồi khả năng sử dụng ngôn ngữ tiếng

Việt cho các em Như vậy, nhìn tổng thể có thể thấy phân phối chương trình khá trọn vẹn song

việc phân tiết cho một bài giảng cụ thể ở một số bài chưa thật hợp lý Đây là một trong những khó khăn của giáo viên trực tiếp giảng dạy

Trang 18

1.2 VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TRUYỆN HIỆN ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.2.1 NHÌN LẠI MỘT SỐ KHUYNH HƯỚNG, PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY VĂN HỌC NÓI CHUNG, DẠY TRUYỆN NÓI RIÊNG TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY

Như chúng ta đã biết, quá trình giảng dạy một tác phẩm văn chương bao giờ cũng trải qua hai bước chủ yếu: bước tìm hiểu nội dung để tìm ra chất văn của tác phẩm (bước này là "dạy cái gì?") và tìm ra một phương pháp tốt nhất để chuyển tải nội dung đó đến với học sinh ("dạy như thế nào?") Vì vậy, nội dung giảng dạy và phương pháp giảng dạy gắn bó chặt chẽ và hỗ

trợ cho nhau Nhìn chung khi lên lớp người thầy thực hiện một số công đoạn giống nhau như: trước khi lên lớp, thầy chuẩn bị giáo án; lên lớp, thầy truyền thụ kiến thức cho học sinh (đó là

nội dung giảng dạy), kiến thức đó chủ yếu do thầy sao chép được từ tài liệu hướng dẫn giảng

dạy, từ sách giáo khoa, từ các bài nghiên cứu v.v Mục đích chính của người thầy là làm sao

học sinh có tỉ lệ đậu tương đối bởi họ luôn bị trói buộc bởi hiệu quả giảng dạy, còn phương pháp giảng dạy, tâm lý tiếp nhận tác phẩm, sự cảm thụ văn chương của học sinh như thế nào thì

họ chưa quan tâm đầy đủ Có giờ dạy văn mà giáo viên không hề quan tâm đến đặc trưng thể

loại của bản văn được giảng để có phương pháp phân tích phù hợp.Có những giáo viên quan

niệm dạy văn chỉ là sự rung động, sự cảm thụ của từng cá nhân học sinh dẫn tới tình trạng bài văn bị xé vụn ra theo sự gợi ý cho học sinh làm việc trên văn bản, liên tưởng nhân vật, minh

họa một cảnh trong bài văn, liên tưởng từ một chi tiết, một cảnh đời trong văn bản Có những

giờ giảng văn chủ yếu thiên về những rung cảm, xúc động của học sinh mà coi nhẹ những khái quát nghệ thuật, những nhận định tổng hợp quan trọng về bài văn Những biểu hiện này cần

phải xóa bỏ bằng việc trang bị cho giáo viên quan điểm, phương pháp dạy học văn mới Song

quan điểm, phương pháp mới cụ thể là gì? Có thể điểm qua một số khuynh hướng, phương

pháp giảng dạy văn chương tồn tại trong trường phổ thông để so sánh và đưa ra quan điểm, phương pháp thích hợp với quan điểm đổi mới dạy học hiện nay như sau:

1.2.1.1.1:Khuynh hướng coi tác phẩm văn chương trong nhà trường như một hiện tượng tĩnh: ở khuynh hướng này, người thầy phân tích tác phẩm mà không hề nắm chắc đối tượng

Trang 19

tiếp nhận tác phẩm; học sinh hầu như đứng ngoài quá trình giảng bài của giáo viên Công việc phân tích tác phẩm văn học chỉ thu hẹp trong mối liên hệ đơn phương giữa giáo viên và tác

phẩm Phương pháp chủ yếu của khuynh hướng này là độc thoại, diễn giảng Người thầy dùng ngôn từ của mình để giảng dạy, thầy áp đặt cho trò những gì mình biết, mình muốn, trò thụ động ghi chép về nhà học thuộc rồi trả bài cho thầy Trên lớp, thầy nói với mình nhiều hơn là nói với trò; thầy thuyết giảng thao thao những vấn đề kiến thức có sẩn mà thầy đọc được trong sách hướng dẫn giảng dạy, các bài viết nghiên cứu, các tài liệu học tập.v.vKhuynh hướng phương pháp này dẫn đến hậu quả là học sinh vô tình bị gạt ra ngoài quỹ đạo tác động trực tiếp

của tác phẩm; giáo viên là người cảm thụ tác phẩm hộ cho học sinh Do đó, hứng thú học tập

của học sinh bị hạ thấp và mai một dần; vai trò chủ thể của học sinh trong quá trình học văn bị xem nhẹ Có lẽ đây là một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng học sinh chán

học văn chương hiện nay

1.2.1.1 2:Khuynh hướng coi tác phẩm vấn chương đơn thuần như một hiện tượng lịch sử

trị của tác phẩm, vì thế, tác phẩm văn chương không được nhìn nhận như một sản phẩm nghệ thuật, một đối tượng nhận thức thẩm mỹ ơ khuynh hướng này, người thầy phân tích tác phẩm theo kiểu gò ép tác phẩm vào chủ điểm, chủ đề chính trị, xã hội, luân lý, đạo đức, thời sự; do

đó, bài văn bị biến thành bài chính trị hoặc đạo đức công dân Thầy đối chiếu tác phẩm với bối

cảnh của thời đại lúc tác phẩm ra đời hay những sự kiện trong tiểu sử tác giả để tìm tòi giá trị tác phẩm; thầy sơ đồ hóa nhân vật, cốt truyện của tác phẩm làm cho việc phân tích văn học không còn tính chất nghệ thuật và thẩm mỹ; tiếng nói tình cảm của nhà văn gởi gắm trong tác

phẩm bị mờ nhạt Khuynh hướng này dẫn đến tình trạng các giờ giảng văn chương na ná như nhau, cái độc đáo, đặc sắc của từng tác phẩm bị hòa tan trong một mớ nhận định đơn giản, sơ sài, vì thế, ít sức thuyết phục, không thu hút được học sinh Ví dụ khi giảng truyện "Hai đứa

trẻ" của Thạch Lam, có một số giáo viên trình bày chung chung về cuộc sống nghèo khổ của người dân nơi phố huyện nghèo qua các chi tiết tác giả mô tả trong tác phẩm để kết luận giá ừị

hiện thực của tác phẩm mà không phát hiện được những điểm nhấn của tác phẩm góp phần quan trọng làm nổi bật giá trị tư tưởng của tác phẩm, không thấy được ý đồ nghệ thuật của tác

giả gửi gắm trong tác phẩm

Trang 20

1.2.1.1.3:Khuynh hướng minh họa trong giảng dạy vấn chương: ở khuynh hướng này,

người thầy lấy tác phẩm văn chương để minh họa cho những nhận định khái quát về tác giả, về giai đoạn văn học và những vấn đề lý luận văn học Bài văn bị biến thành một thứ dẫn chứng,

tư liệu đơn thuần cho bài giảng lịch sử văn học hay lý luận văn học Như thế, hình tượng nghệ thuật của tác phẩm văn chương không được cảm nhận một cách đầy đủ; dẫn đến tình trạng

nhận thức phiến diện, chủ quan, méo mó về tác phẩm; làm cho giờ giảng văn nghèo nàn, khô khan

1.2.1.1.4:Khuynh hướng tách rời ngôn ngữ với văn học: ở khuynh hướng này, người thầy

mới chỉ chú tâm đến mặt nội dung tác phẩm mà bỏ quên giá trị nghệ thuật của tác phẩm - trong

đó ngôn ngữ là chất liệu hàng đầu Ta thấy trong giảng văn, mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ

và văn học giúp học sinh hiểu toàn diện về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm; vì thế, khi phân tích tác phẩm văn chương khổng thể quá nghiêng về nội dung mà bỏ quên đi nghệ thuật; song nếu chú trọng quá mức đến nghệ thuật mà xem nhẹ ý nghĩa nội dung của tác phẩm

sẽ rơi vào khuynh hướng hình thức chủ nghĩa; tính văn học và tính ngôn ngữ của tác phẩm vô hình chung bị tách rời Cũng cần nói thêm ở khuynh hướng này khi khai thác ngôn ngữ trong tác phẩm, người thầy cần khai thác "nghệ thuật ngôn từ" chứ không phải chỉ là ngôn ngữ của tác phẩm, như thế, trò mới có thể cảm nhận hết vẻ đẹp thẩm mĩ, vẻ đẹp văn chương của tác

phẩm

1.2.1.1.5:Khuynh hướng cung cấp kiến thức có sẵn: ở khuynh hướng này, thầy dùng phần

lổn thời gian tiết dạy để cung cấp kiến thức có sẩn cho trò Đây là loại kiến thức không phải

của thầy hay trò phát hiện ra mà là kiến thức có sẩn trong sách giáo khoa, sách hướng dẫn

giảng dạy, sách hay bài viết nghiên cứu tham khảo Khuynh hướng này biến học trò thành

những cái máy ghi chép, không còn khả năng cảm thụ, sáng tạo và dần trở nên lười biếng, tầm

gửi

Đây là khuynh hướng thể hiện sự đổi mới về phương pháp giảng dạy văn chương Thực

hiện phương pháp này, thầy đặt ra một hệ thống câu hỏi để vấn đáp suốt giờ học, trò trả lời câu

hỏi dưới sự dẫn dắt của thầy Kết hợp với hệ thống câu hỏi là những phương tiện trực quan, nếu

có, giúp học sinh thấy vấn đề rõ hơn Khuynh hướng này đã thể hiện được khát vọng của thầy

Trang 21

và trò là muốn thoát khỏi các phương pháp cũ kềm chế khả năng sáng tạo của trò song xét kỹ thì khuynh hướng này vẫn mang tính chất áp đặt của thầy cho trò chứ chưa thật sự xem trò là

từng cá thể - chủ thể tiếp nhận tác phẩm văn chương trong giờ học văn chương, vả lại, trong hệ

thống câu hỏi mà thầy đặt ra cho trò, nhiều khi thầy bị rơi vào chủ nghĩa hình thức, thầy chỉ chú trọng đến những câu hỏi vụn vặt không khêu gợi suy nghĩ của học sinh, những thao tác,

những biện pháp thuần túy hình thức bên ngoài như điệu bộ, cử chỉ, tranh ảnh, thậm chí nhiều khi rất giả tạo nhằm tạo nên một không khí có vẻ sôi nổi cho lớp học nhưng thực chất vẫn là

thụ động; học sinh thụ động chịu sự tác động từ bên ngoài (của người thầy) chứ thực chất không cảm, không chiếm lĩnh được tác phẩm

Hiện nay khó có thể xác định một cách chính xác phương pháp nào là phương pháp giảng

dạy duy nhất đối với văn chương Nhìn chung hiện nay, về phương pháp, tồn tại một số phương

pháp khác nhau như hệ thống phương pháp truyền thống gồm có giảng (diễn giảng, thuyết

trình, giảng thuật), đàm thoại (phát vấn, đặt câu hỏi) và hoạt động độc lập của học sinh (chuẩn

bị bài ở nhà); phương pháp nêu vấn đề để phát huy tính chủ động tích cực của học sinh Các

phương pháp này xuất phát từ một số phương pháp dạy học ở nhà trường Việt Nam từ trước đến nay như:

Nền giáo dục Hán học tồn tại ở nước ta từ thời Bắc thuộc cho đến đầu thế kỷ XX; được xây dựng trên cơ sở những quan điểm triết học và giáo hóa của Khổng Tử, chủ yếu dựa vào hai

bộ sách là "Tứ thư" và "Ngũ kinh", với hai phương pháp nổi bật là "phương pháp giảng sách"

và "phương pháp bình văn" Phương pháp "giảng sách" là phương pháp có nhiều đặc điểm mà

các nhà sư phạm ngày nay có thể kế thừa và phát huy trên cơ sở các thành tựu khoa học hiện đại Đây là phương pháp chú trọng đến từng cá thể trò, "đánh thức" những năng lực riêng và tài năng bẩm sinh đang tiềm ẩn trong họ "Phương pháp giảng sách" giảng dạy các bộ "Tứ thư",

"Ngũ kinh"; thiên về giảng giải ngữ nghĩa, chú trọng đi tìm "nghĩa lý trong các Kinh Truyện" theo lối học "huấn - hỗ" và "lý học" Mặt tích cực của lối học này là đi tìm "nghĩa lý" Thánh

hiền nhằm đào tạo nhân tài có đức hạnh, hữu ích cho đời nhưng hạn chế của nó là tạo lối học

"hư văn", "từ chương khoa cử" dẫn đến thiếu sáng tạo, Ỷ lại những gì đã có sẩn Phương pháp

Trang 22

"bình văn" là phương pháp dạy cho trò thực hành các kiểu bài văn có tính chất mô phỏng, chế tác theo thể thức, qui cách của các thể loại văn bản Hán văn kết hợp với việc sử dụng các hình thức phẩm bình, thưởng thức, khen chê để bình chọn và khích lệ trò trong quá trình học

tập Nhìn chung, hai phương pháp trên đến nay vẫn còn được sử dụng ở trường phổ thông tuy

mức độ, tính chất khác trước

Nhà trường Âu học xuất hiện ở Việt Nam từ những năm cuối thế kỷ 19, là loại nhà trường được tổ chức theo kiểu hiện đại do chính quyền thuộc địa Pháp đặt ra Phương pháp giảng văn

ở nhà trường Au học lúc đó có nguồn gốc trung cổ và do người Pháp đưa vào Việt Nam, các nhà sư phạm Việt Nam mô phỏng theo để mở ra con đường cho phương pháp giảng văn ở nhà trường nước ta Điểm qua có thể thấy các phương pháp sau:

phương pháp giảng văn theo kiểu Au học ở nhà trường nước ta (vào năm 1925) Đây là phương

pháp ph ỏng theo lối bình giảng Âu Tây, gồm hai quá trình:

a.l: Quá trình chuẩn bị của thầy và trò:

- Xem xét chú thích và tra cứu chữ khó, điển tích

- Trả lời câu hỏi của sách giáo khoa về ý tưởng của tác phẩm

- Trả lời câu hỏi của sách giáo khoa về lời văn của tác phẩm a.2: Quá trình giảng dạy trên

lớp của thầy:

- Giới thiệu tiểu sử tác giả

- Giới thiệu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

- Giới thiệu xuất xứ, đại ý, bố cục

- Giảng nghĩa về tiếng

- Giảng nghĩa về ý tưởng và văn pháp

- Nhận định giá trị tác phẩm

- Kết luận

Trang 23

Đây là mô hình thể hiện cách tiếp cận lịch sử phát sinh của tác phẩm văn chương Mô hình này trở nến quen thuộc, gắn bó với giáo viên ở nhà trường trung học từ đó đến nay

Khoảng năm 1950, khi giảng "Chinh phụ ngâm", Đặng Thai Mai đã đưa ra một tiến trình cho bài giảng văn như sau:

Mô hình bài giảng này cũng có nguồn gốc Ẩu Tây nên chưa có gì mới hơn phương pháp

của cụ Dương Quảng Hàm

1.2.1.2.3: Phương pháp giảng văn ở Sài Gòn trước năm 1975

Từ những năm 1950 đến 1975 nhóm những nhà giáo và sư phạm ở Sài gòn như Hà Như Chi với "Việt Nam thi văn giảng luận", Phạm Thế Ngũ với "Bài Việt văn kỳ thi tú tài", Phạm Văn Diêu với "Việt Nam văn học giảng bình", Thế Uyên với "Quốc văn" hay sách của các tác

giả như GS Nghiêm Toản, nhóm GS Thân Hữu v.v đã có nhiều sáng tạo trên cơ sở mô hình

giảng văn của Dương Quảng Hàm song chủ yếu vẫn là những biến thể của mô hình phương

pháp Dương Quảng Hàm

* Nh ận xét: Điểm qua một số phương pháp giảng dạy văn chương chủ yếu như trên ta

thấy rằng những phương pháp này là loại phương pháp chú trọng sử dụng cách tiếp cận lịch sử

nó, từ ý đồ sáng tác của tác giả để tìm giá trị (thường là giá trị hiện thực và nhân đạo), ý nghĩa, quan điểm triết lý, thẩm mỹ.v.v của tác giả, tác phẩm văn chương Như vậy, những phương pháp này mới chỉ chú ý nghiên cứu, giảng dạy lịch sử phát sinh của tác phẩm chứ chưa chú ý

đến lịch sử tiếp nhận văn học, chưa khai thác được các bình diện khác của tác phẩm văn

chương như mối liên hệ giữa tác phẩm với bạn đọc lịch đại và đồng đại, hệ thống cấu trúc của

Trang 24

tác phẩm Đồng thời ở những phương pháp này yêu cầu giáo viên khám phá bài văn thật sâu

sắc, tự mình rung cảm thật sự để từ đó truyền thụ tới học sinh sao cho hấp dẫn, để học sinh có

thể đồng cảm, ghi nhớ và biết làm theo khuôn mẫu cảm thụ, phân tích của thầy Những cảm

nhận, rung động vi tác phẩm của thầy tạo được không khí và tâm thế cảm nhận văn chương cho trò bởi trong giảng dạy văn chương, tạo được không khí văn chương là điều rất cần thiết, nó

quyết định phần lớn thành công của giờ giảng văn Song những phương pháp này dễ rơi vào tình trạng thầy áp đặt cho trò thái độ, cảm nhận của mình mà quên đi vai trò tự nhận thức của

học sinh Ngày nay, ở trường trung học phổ thông vẫn tồn tại phương pháp Dương Quảng Hàm

và những biến thể của nó và do áp lực về thi cử, học tập của học sinh (như đã trình bày ở phần

lý do chọn đề tài), các phương pháp này ngày càng chú trọng việc nhồi nhét cho học sinh kiến

thức có sẩn để thi cử, để đảm bảo hiệu quả giảng dạy chứ chưa thật sự chú tâm đến cá thể - trò

Vì thế, đổi mới phương pháp dạy, học văn ở trường THPT trước hết phải đổi mới trong quan điểm về đối tượng tiếp nhận tác phẩm văn chương, vấn đề này chúng tôi sẽ trình bày rõ hơn ở

phương pháp dạy học gợi mở, nêu vấn đề Phương pháp này đã đáp ứng được mục đích đổi

mới, phương pháp tiếp cận tác phẩm văn chương của học sinh Ở phương pháp này, người thầy

Trang 25

đóng vai trò dẫn dắt, gợi mở, hướng học sinh tích cực, chủ động tự khám phá, cảm thụ tác

phẩm, bởi vì "con đường đạt đến hiệu quả tự phát triển là sự vận động tự thân của mỗi chủ thể

học sinh" Phương pháp này chủ yếu dùng hệ thống câu hỏi - loại câu hỏi gợi lên những mâu thuẫn giữa cái đã biết với cái chưa biết, giữa cái cũ và cái mới trong nhận thức của học sinh

để tạo điều kiện cho hoạt động song phương giữa thầy và trò, đặc biệt là trong cảm nhận của trò

- đối tượng tiếp nhận trực tiếp, về tác phẩm văn chương Trong quá trình giảng văn, giáo viên

phải tạo ra một hệ thống tình huống có vấn đề; bằng hệ thống câu hỏi, kín đáo dẫn dắt trò vào

thế giới nghệ thuật của tác phẩm bằng các tình huống có vấn đề đó, giúp trò giải quyết được

mâu thuẫn trong các tình huống có vấn đề để từ đó trò có thể rút ra những kết luận về giá trị

của tác phẩm Để thực hiện phương pháp này, giáo viên có thể sử dụng những phương pháp

giảng dạy của bộ môn như: đọc sáng tạo, gợi tìm, nghiên cứu, tái tạo, so sánh, giảng bình Tóm lại, hiện nay phương pháp dạy học nêu vấn đề đang được xem là một trong số những

phương pháp tích cực, phục vụ khá tốt cho việc đổi mới dạy, học tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông bởi phương pháp này phát huy được khả năng tự nhận thức, cảm nhận, sáng tạo của học sinh; khắc phục được lối dạy, học theo kiểu từ chương của nền giáo dục Hán

học và khắc phục được những hạn chế về khả năng sáng tạo của học sinh trong lối giáo dục theo kiểu trung cổ nói trên Tuy nhiên, từ góc độ của một giáo viên trực tiếp giảng dạy, từ thực

trạng hiện nay của việc dạy và học, chúng tôi thấy rằng để thực hiện đúng và có hiệu quả phương pháp này không phải là điều dễ đối với giáo viên văn bởi họ còn bị lệ thuộc vào nhiều

yếu tố chủ quan lẫn khách quan như: thời gian cho một bài giảng, phân phối chương trình, nội dung và thể thức thi cử, áp lực về hiệu quả giảng dạy, cập nhật và nâng cao trình độ, tâm lý học

bộ môn và đầu tư cho bộ môn của học sinh.v.v Hơn nữa, việc vận dụng phương pháp dạy học

là linh hoạt, không nên cứng nhắc, độc tôn một phương pháp mà nên vận dụng các phương pháp, tạo thành một hệ thống phương pháp dạy học hỗ trợ nhau, đan xen vào nhau Không thể xóa bỏ hay lên án một khuôn mẫu xơ cứng để thay thế vào đó một khuôn mẫu khác, cho dù nó được xem là mới Trong một lớp học, trình độ của học sinh không đồng đều, vì vậy, giáo viên

phải biết vận dụng hợp lý các phương pháp giảng dạy để giờ dạy văn thực sự tạo được không khí cảm xúc, đồng cảm, cộng hưởng giữa nhà văn - giáo viên -học sinh Đây chính là mục tiêu

của phương pháp dạy học phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong giờ học tác phẩm văn chương

Trang 26

1.2.1.3 Nhận xét tổng quát

Hiện nay, sau chặng đường cải cách giáo dục, phương pháp dạy học văn phải thay đổi để phù hợp với mục đích, nội dung dạy, học văn theo hướng đổi mới Tiếp thu tinh thần của các công trình, các bài viết như "Phương pháp dạy học văn" (Phan Trọng Luận chủ biên), "Thiết kế

(Nguyễn Đức An), "Phương pháp dạy học văn chương theo hướng tích cực - hiện đại ở nhà

trường THPT" (Trịnh Xuân Vũ) có thể thấy điểm mấu chốt của việc vận dụng những phương

pháp dạy học văn mới là quan điểm về vai trò chủ thể của học sinh trong tiếp nhận tác phẩm

văn chương Mục đích cao nhất của giờ dạy tác phẩm văn chương bây giờ là làm sao để chủ thể

học sinh, dưới sự hướng dẫn của thầy, cảm nhận, khám phá, chiếm lĩnh được tác phẩm Học sinh vừa tìm hiểu tác phẩm, vừa được giáo viên hướng dẫn; giáo viên không cảm thụ hộ mà là người tổ chức chúng ta đã không coi trọng đúng mức vai trò chủ thể của học sinh, chúng ta coi

học sinh chủ yếu như một khách thể, một đối tượng thụ động chịu sự tác động của giáo viên;

mối quan hệ giữa tác phẩm và thầy trò là quan hệ đơn phương: giáo viên - tác phẩm, giáo viên -

học sinh, tác phẩm - học sinh Theo quan điểm của phương pháp dạy học văn mới: học sinh giữ

trò định hướng, dẫn dắt, gợi mở vấn đề cho học sinh; mối quan hệ bây giờ là quan hệ đa phương: tác phẩm - học sinh - giáo viên đan kết vào nhau Giáo viên sử dụng các biện pháp, phương tiện cụ thể để thực hiện bài giảng song các biện pháp, phương tiện đó phải tạo được sự

hoạt động và phát triển bên trong của học sinh, giúp học sinh tư duy, khám phá, tiếp nhận, sáng

tạo kiến thức, khơi dậy trí tuệ của học sinh để khắc phục những hạn chế của những phương pháp giảng dạy cũ chưa đạt được Tuy nhiên, coi học sinh là trung tâm trong dạy học ở nhà

trường tuyệt đối không được coi nhẹ, hạ thấp vai trò của giáo viên bởi giáo viên là người quyết

định toàn bộ quá trình hoạt động sáng tạo của học sinh trong giờ học, là người dẫn dắt tạo không khí văn chương cho lớp học; và như vậy, lao động của người thầy càng phức tạp và tinh

vi hơn, tài năng và nghệ thuật sư phạm của người thầy càng phải cao hơn Để thực hiện quá trình giúp học sinh chiếm lĩnh tác phẩm, giáo viên có thể sử dụng các phương pháp và biện pháp sau:

Trang 27

Là một phương pháp dạy học có tính truyền thống trong giảng dạy văn chương ở nhà

trường phương Đông cũng như phương Tây Đọc không phải là phương pháp mới ương giảng

dạy văn chương song cái mới của đọc là ở chỗ không chỉ đọc tái hiện mà còn đọc sáng tạo Các

giáo sư cũng như các giáo viên giàu kinh nghiệm đều khẳng định vai trò quan trọng của việc đọc sáng tạo, xem phương pháp đọc sáng tạo là một trong những phương pháp cơ bản trong

dạy học văn Con đường đi vào tác phẩm nhất thiết phải từ việc đọc, gắn liền với đọc bởi tiếng nói của nhà văn gửi đến bạn đọc thông qua hệ thống ngôn ngữ Đọc sẽ làm âm vang những tín

hiệu của cuộc sống mà nhà văn muốn gửi đến bạn đọc; làm kích thích quá trình tri giác, tưởng tượng và tái hiện hình ảnh; kích thích quá trình tâm lý cảm thụ tác phẩm Do vậy đọc giúp hiểu tác phẩm hơn và hiểu tác phẩm mà đọc đúng hơn Việc đọc tác phẩm có hai cấp độ:

+ Ở nhà: đọc là việc làm tối cần thiết cho học sinh trong quá trình chuẩn bị bài Học sinh

có thể đọc theo sự gợi ý, hướng dẫn trước của thầy để tìm hiểu tác phẩm Trong quá trình đọc,

học sinh cần đánh dấu những từ ngữ, những khái niệm, những chi tiết khó, không hiểu để lên

lớp hỏi giáo viên Đọc xong, học sinh cần tìm những chi tiết đặc sắc, những điểm nhấn, những nét nổi bật, đặc sắc về nghệ thuật của bài văn

+ Ở lớp: Đọc diễn cảm gắn bó với thầy và trò trong suốt giờ giảng văn làm cho tiếng nói

của nhà văn luôn gần gũi với học sinh Gắn việc đọc diễn cảm với các phương pháp khác sẽ tạo cho giờ giảng văn sinh động giúp học sinh thêm hứng thú trong cảm thụ, phân tích tác phẩm

Giọng đọc là thước đo mức độ rung cảm của người đọc với tác phẩm Bằng sức mạnh riêng của đọc diễn cảm, người thầy có thể dẫn dắt học sinh đi vào tác phẩm dễ dàng hơn Tùy yêu cầu mà giáo viên có thể đọc một đoạn hay cả bài; đọc ở đầu giờ hay trong quá trình phân tích từng ý hay cuối giờ; đọc để kích thích trí tưởng tượng hay để gây ấn tượng hoàn chỉnh về tác phẩm sau khi phân tích và cũng có thể đọc song song với quá trình bình giảng Tóm lại, đọc diễn cảm

là việc làm rất cần thiết trong quá trình giảng văn; là điều kiện, cơ sở và thúc đẩy hoạt động

cảm thụ, lĩnh hội văn chương của học sinh; đồng thời phương pháp đọc diễn cảm phải gắn với

các phương pháp khác mới có thể giúp học sinh nắm được tác phẩm một cách sâu sắc toàn

diện

Trang 28

- Trong giờ giảng văn, nên xây dựng một hệ thống câu hỏi hợp lý để phát huy được tính tích cực của các đối tượng học sinh Nên đặt câu hỏi từ dễ đến khó; từ tái hiện đến sáng tạo; kết

hợp câu hỏi gợi mở với câu hỏi tư duy, phân tích, tổng hợp Sự khác biệt cơ bản giữa câu hỏi trong giờ giảng văn cũ và mới là ở chỗ một bên có tính chất tái hiện, một bên có tính chất sáng

tạo; một bên nhằm mục đích thông tin, tiếp thụ, một bên nhằm mục đích tự khám phá, chiếm lĩnh của học sinh

- Câu hỏi phải gợi mở tìm tòi vấn đề, hướng vào vấn đề trọng tâm

- Phạm vi câu hỏi có khi rất hẹp: chỉ một từ, một câu hoặc một hình ảnh nhưng vẫn phải đòi hỏi sự suy nghĩ, nhận thức sáng tạo; có khi là một câu hỏi so sánh để làm sáng tỏ ý đồ của tác giả; có khi là một câu hỏi ở phạm vi rộng buộc ữò phải phân tích, tổng hợp nhiều vấn đề

nhỏ trong tác phẩm hoặc phải liên hệ so sánh vấn đề ngoài tác phẩm mới có thể trả lời đúng theo định hướng của giáo viên Tóm lại, câu hỏi phải làm cho học sinh suy nghĩ, tìm tòi, tổng

hợp, khái quát, tự tìm ra được câu trả lời

- Cảm thụ tác phẩm văn chương không chỉ dừng ở mức độ tái hiện, tìm tòi khám phá, nắm

cốt truyện hoặc hiểu từng chi tiết riêng lẻ của tác phẩm mà phải nắm được tư tưởng chủ đề của tác phẩm, phân tích được ý nghĩa khái quát của các yếu tố cụ thể và tổng hợp, đánh giá, rút ra

nhận định chung về tác phẩm Một tiêu chuẩn quan trọng về khả năng cảm thụ văn chương là

kết hợp được sự cảm thụ chi tiết với sức khái quát sâu sắc để thấy được giá trị tổng thể của tác

phẩm Hoạt động tái hiện, đưa học sinh vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm; hoạt động phân tích khái quát giúp học sinh cảm nhận sâu sắc, đầy đủ về nội dung, nghệ thuật, giá trị tác phẩm,

về ý đồ sáng tạo nghệ thuật và các quan điểm tư tưởng của tác giả Thực hiện đúng hoạt động phân tích khái quát sẽ giúp cho thầy tránh được việc chẻ vụn tác phẩm thành những mảnh lẻ rời

rạc, lãng phí thời gian cho những chi tiết, yếu tố vặt vãnh của tác phẩm Tập cho học sinh phân tích, khái quát, đánh giá là giúp cho học sinh rèn luyện kỹ năng phân tích, khái quát khi cảm

thụ văn chương, hình thành một năng lực cơ bản về văn, nâng dần trình độ tiếp nhận văn học cho học sinh Trong quá trình phân tích, giảng bình, có thể kết hợp phương pháp so sánh để làm nổi rõ hơn vấn đề đang phân tích

Trang 29

- Theo quan điểm dạy học mới, khi dạy một tác phẩm văn chương cho học sinh, giáo viên không chỉ dừng lại ở mức độ giúp học sinh nhìn thấy thế giới nghệ thuật, phát hiện được quan điểm, thái độ của nhà văn mà còn phải khơi dậy được cảm xúc, thái độ của học sinh đối với tác

phẩm, giúp cho học sinh tự bộc lộ thái độ đó Quá trình hướng dẫn trò chiếm lĩnh tác phẩm

phải là quá trình thầy theo dõi diễn biến tâm lí tình cảm của trò, nắm bắt và uốn nắn kịp thời giúp cho trò có tình cảm đúng đắn qua việc cảm thụ tác phẩm Từ việc quan tâm, phát huy năng

lực tự bộc lộ cho học sinh, thầy đã góp phần vào việc giáo dục phát triển nhân cách, cá tính cho các em

đ: Rèn luyện phương pháp ứng dụng thực hành

- Công việc dạy một bài văn không chỉ dừng ở việc cung cấp kiến thức, giáo dục nhận

thức cho học sinh mà còn phải dạy học sinh biết vận dụng những nhận thức đó vào bài tập thực hành (ở nhà trường), vào đời sống (khi tiếp xúc với một tác phẩm văn chương, một hoạt động văn hóa ) Vì thế, quá trình hướng dẫn trò chiếm lĩnh tác phẩm cũng chính là quá trình rèn luyện trình độ, phương pháp thực hành cho học sinh

* Tóm l ại, giảng dạy văn chương ở trường phổ thông hiện nay cần đầu tư nhiều cho nội

dung, phương pháp thích hợp để có thể thu hút thực sự học sinh, để học sinh có thể lĩnh hội tác

phẩm một cách trọn vẹn nhất Những thành tựu đã đạt được trong quá trình đổi mới dạy học tác

phẩm văn chương có sự đóng góp rất lớn của việc đổi mới phương pháp dạy học văn Những thành tựu này góp chung vào thành tựu của nền giáo dục Xã hội chủ nghĩa ở nước ta; là kết quả

của việc vận dụng linh hoạt cơ sở lý luận Mác -Lênin vào lý luận dạy học Trên cơ sở những quan điểm, phương pháp, biện pháp dạy học tác phẩm văn chương đã trình bày, chúng tôi đi sâu vào trình bày một số vấn đề về phương pháp giảng dạy truyện hiện đại Việt Nam ở nhà trường PTTH hiện nay

1.2.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH, GIẢNG DẠY THỂ LOẠI TRUYỆN

Lâu nay, người ta vẫn phân chia các tác phẩm ngôn từ nghệ thuật nói chung thành ba nhóm lớn là tự sự, trữ tình và kịch, trong đó, tự sự và kịch có nhiều thuộc tính chung khác với

Trang 30

loại trữ tình Ngoài việc phân chia theo cách trên, người ta còn có sự phân chia văn học thành hai loại là thơ và văn xuôi.Theo cách này, tác phẩm trữ tình thường bị đồng nhất với thơ ca, còn tác phẩm tự sự thì bị đồng nhất với văn xuôi Cách gọi như vậy là không chính xác bởi

"mỗi loại văn học đều bao hàm vừa các tác phẩm thơ (văn vần), vừa văn xuôi (không vần)" (G.N.Pôxpêlôp - "Dẫn luận nghiên cứu văn học") Có những tác phẩm thuộc loại hình tự sự nhưng được viết bằng thơ như "Truyện Kiều" của Nguyễn Du, truyện Nôm khuyết danh, "Lục Vân Tiên" của Nguyễn Đình Chiểu v.v.; ngược lại, có những tác phẩm thuộc loại trữ tình nhưng lại được viết bằng văn xuôi, gọi là loại thơ văn xuôi như bài thơ "Hỏi" của Giả Bình An (Trung Quốc), "Khách qua đường" của Lỗ Tấn, "Lúa mới" của Huy Cận, "Chào mừng" của

Chế Lan Viên

học, bao gồm các thể loại: truyện kể dân gian (thần thoại, cổ tích, ngụ ngôn v.v), truyện phiêu lưu, truyền kỳ, truyện kể hiện đại (gồm truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài) "Truyện có hai thành phần chủ yếu là cốt truyện và nhân vật, thủ pháp nghệ thuật chính là kể Truyện thừa

nhận vai trò rộng rãi của hư cấu và tưởng tượng" (theo "Từ điển Văn học" - trang 450, tập II) Truyện thể hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả bằng con đường tái hiện một cách khách quan các hiện tượng của đời sống xã hội Trong quá trình hình thành và phát triển, có hai yếu tố chi

phối thể loại truyện là đời sống xã hội và ý thức của con người thông qua sự diễn đạt bằng ngôn từ Truyện tái hiện đời sống thông qua việc miêu tả sự kiện Nếu tác phẩm trữ tình phản

ánh hiện thực bằng sự cảm nhận chủ quan của tác giả về nó thì tác phẩm tự sự lại tái hiện đời

sống trong toàn bộ tính khách quan của nó, được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó Tác

phẩm truyện phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống ương không gian, thời gian, qua các sự kiện, biến cố xảy ra ữong cuộc đời con người, những cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ của con người, có tác dụng phơi bày những mặt nhất định của bản chất con người Truyện

sở dĩ tồn tại được trong ký ức của mọi người và lưu hành trong xã hội bởi vì nó là truyện của con người, nói về con người Con người trong truyện không chỉ là cấu trúc xã hội tính "tổng hòa các mối quan hệ xã hội" như Mác nói mà còn là cấu trúc sự kiện tính (tâm lý, sinh lý, hành động) Tác giả miêu tả con người trong nhiều quan hệ phức tạp giữa nó và môi trường xung quanh, bị chi phối bởi hoàn cảnh và môi trường ấy Phương thức phản ánh hiện thực qua các sự

kiện, biến cố và hành vi của con người làm cho tác phẩm truyện có cốt truyện Gắn liền với cốt

Trang 31

truyện là một hệ thống nhân vật Mỗi ừuyện dù ngắn hay dài cũng đều là một hệ thống, trong

đó những sự kiện, hành động, tâm lý đều được tổ chức thành hệ thống và người kể là người lựa

chọn hệ thống đó Trong tác phẩm truyện, nhà văn thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình thông qua việc mô tả, thâm nhập vào sự kiện, hành động bên ngoài của con người, làm cho người đọc

có cảm giác rằng thế giới hiện thực được phản ánh trong tác phẩm không phụ thuộc vào tình

cảm, ý muốn của nhà văn Mặt khác, tác phẩm truyện hầu như không bị hạn chế bởi không gian

và thời gian; nó có thể kể về những khoảnh khắc, lại có thể kể các sự kiện xảy ra trong nhiều

thế hệ, trong khoảng thời gian rất dài Đặc điểm này giúp cho tác phẩm truyện có khả năng bao quát cuộc sống trong một phàm vi rộng lớn và làm cho tác phẩm truyện có cốt truyện khác hẳn

cốt truyện kịch, nhịp điệu của tác phẩm truyện nói chung khoa thai, trầm tĩnh hơn nhịp điệu của tác phẩm kịch Gắn với đặc điểm sự kiện và nhân vật, hệ thống chi tiết nghệ thuật của tác phẩm truyện cũng rất phong phú và đa dạng Sức mạnh của truyện là sức mạnh của các chi tiết - chi

tiết nghệ thuật Truyện càng hay càng có nhiều chi tiết hay và nhờ chi tiết hay mà truyện mới

có thể hay được Chi tiết trong truyện có ý nghĩa như "nhãn tự", "thần tự" trong thơ Ngoài ra, trong tác phẩm truyện, tác giả đóng vai người trần thuật để phân tích, nghiên cứu, khêu gợi,

bình luận, làm sáng tỏ mọi quan hệ giữa nhân vật và hoàn cảnh, tuy nhiên, không phải bao giờ người trần thuật cũng đồng nhất với tác giả Lời văn trong tác phẩm truyện luôn hướng người đọc ra thế giới đối tượng, lời nói của nhân vật có thể được miêu tả lại, xé lẻ ra để xen vào hoặc hóa thân vào lời trần thuật, nhờ thế, lời nói nhân vật và lời trần thuật thoải mái, bao quát Tóm

lại, tác phẩm ừuyện là loại văn học có khả năng phản ánh hiện thực sâu rộng nhất, có vị trí ngày càng quan trọng trong đời sông tinh thần của con người Một vấn đề đặt ra ở đây là các bài văn được trích giảng trong chương trình của lớp 11 và 12 (trừ những bài đọc thêm) đều thuộc loại truyện ngắn, vì thế, ta cũng nên đề cập vài đặc điểm về thể loại truyện ngắn và vài nét cơ bản về truyện vừa để có thể so sánh

+ Truy ện vừa: là thể loại văn xuôi cỡ trung bình, dung lượng thể hiện ở bình diện trần

thuật: so với tiểu thuyết, trần thuật của truyện vừa thường cô đọng, hàm súc hơn, bám sát sự phát triển của cốt truyện và đặc điểm nhân vật hơn Thế giới trong truyện vừa được tái hiện trong khoảng cách xa hơn tiểu thuyết, không được tái hiện chi tiết tường tận như trong tiểu thuyết mà thường tập trung vào các sự kiện, các cuộc đời đặc sắc khác thường hoặc các hiện

Trang 32

tượng đời sống nổi bật Câu văn trong truyện vừa thường sáng rõ, tiến độ tường thuật thường cũng nhanh hơn tiểu thuyết

+ Truy ện ngắn: là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, nội dung bao trùm hầu hết các phương diện của

đời sống và thường hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hon cua con người Vì thế, trong truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp; mỗi nhân vật là một mảnh nhỏ của của thế giới và thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ hay ý thức xã hội cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một không gian, thời gian hạn chế; đề cập đến một vấn đề nào đó về cuộc đời hay tình người Kết cấu của truyện ngắn thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hay liên tưởng Khi đề cập đến truyện ngắn, một yếu tố không thể thiếu là tình huống: tình huống của câu chuyện và tình huống của nhân vật Chi tiết trong truyện ngắn phải tiêu biểu, xác thực, biểu trưng cho ý tưởng nghệ thuật của nhà văn Bút pháp nghệ thuật của truyện ngắn thường là chấm phá; chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý tạo cho tác phẩm

những chiều sâu chưa nói hết Thế giới nghệ thuật của truyện còn có cả giọng điệu của tác

phẩm: giọng tâm sự, giãi bày, giọng ừầm lắng, lạnh lùng, giọng buồn Tóm lại, truyện ngắn là

thể loại gần gũi với đời sống hàng ngày, dễ đọc, có khả năng phản ánh nhanh nhạy, kịp thời đời

sống

a- Phân bi ệt tác phẩm văn chương và tác phẩm văn chương trong nhà trường

Trước khi đi vào tìm hiểu phương pháp phân tích truyện, ta cần xác định rõ sự khác biệt

giữa tác phẩm văn chương và tác phẩm văn chương trong nhà trường Tác phẩm văn chương nói chung, tác phẩm truyện nói riêng, bao giờ cũng là lời nhắn gửi trực tiếp hay gián tiếp, kín đáo hay công khai của nhà văn về con người và cuộc sống Bằng sáng tạo ngôn ngữ nghệ thuật theo phong cách riêng của mình, nhà văn tạo nên một hình thức độc đáo, một nội dung nhất định cho tác phẩm , thông qua biểu hiện chủ quan của nhà văn về hiện thực khách quan; tạo sự tác động đặc biệt đến tâm hồn, tình cảm của người đọc Tác phẩm văn chương đem lại cho

cuộc sống một sức sống mới khi nghệ sỹ tạo ra được một thế giới nghệ thuật phong phú, độc đáo và dường như hoàn chỉnh trong tác phẩm của mình Đối với người đọc, kết thúc của tác

phẩm văn chương thực chất là lúc bắt đầu sự tiếp nối quá trình sống của tác phẩm ở mức độ

Trang 33

khác cao hơn Tác phẩm văn chương trong nhà trường (in trong Sách giáo khoa) trước hết phải

chịu sự lựa chọn của người viết sách, tuân theo những yêu cầu của cơ quan giáo dục Tác phẩm văn chương trong nhà trường thường được đặt trong hệ thống lịch sử chặt chẽ, vì thế, khi giảng

dạy, người giáo viên phải có ý thức về tính hệ thống của những tác phẩm, những bài văn trích

giảng cho học sinh trong nhà trường phổ thông Như vậy, tác phẩm văn chương trong nhà

trường phổ thông vừa cố tính chất của một sáng tác nghệ thuật, vừa là cơ sở để hình thành

khác, tác phẩm văn chương đến với học sinh thông qua vai trò trung gian của người thầy và quá trình tự nhận thức trên cơ sở hiểu biết cộng với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, vì thế, tác

dạy tác phẩm văn chương trong nhà trường là:

+ Phát huy sức mạnh riêng trong đặc điểm nội dung, hình thức tác phẩm văn chương để đào tạo, giáo dục nhân cách cho học sinh

+ Làm cho học sinh nhận ra giá trị nghệ thuật độc đáo trong cách trình bày cuộc sống theo

một quan điểm thẩm mỹ nhất định của nhà văn và vẻ đẹp chân chính, mới lạ của tác phẩm Từ

đó giúp học sinh tích lũy ngày càng nhiều kinh nghiệm về nghệ thuật để có thể tự đọc, hiểu và thưởng thức được các tác phẩm khác một cách độc lập

Từ mục đích như trên, trong dạy học văn, người ta thường nêu những yếu tố có liên quan

tới bài văn mà giáo viên cần chuẩn bị như sau:

+ Bản thân bài văn

+ Đặc điểm đối tượng học sinh

+ Mục đích của bài văn trong mối liên hệ với toàn chương

trình

+ Những vấn đề chính trị - xã hội có liên quan

* Tóm t ại, từ nhận thức về vấn đề như vậy ta sẽ có hướng tiếp cận và khai thác một cách

chính xác về tác phẩm văn chương nói chung, tác phẩm truyện nói riêng trong nhà trường phổ thông

Trang 34

b- Phương pháp phân tích truyện theo đặc trưng thể loại

Nhìn chung, phân tích một tác phẩm, một bài văn theo thể loại truyện vừa có những nét chung, vừa có đặc điểm riêng so với phương pháp phân tích một thể loại khác Như đã trình bày ở trên, thể loại truyện có những đặc trưng riêng và tiếp nhận tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông cũng có những yêu cầu cụ thể, vì vậy, xác định phương pháp phân tích

thể loại truyện là điều cần thiết cho mỗi giáo viên khi giảng dạy về vấn đề này đã có nhiều giáo sư, nhiều nhà sư phạm đề cập tới bằng các bài viết rất sâu sắc, giúp ích rất nhiều cho giáo viên trong quá trình giảng dạy song trình bày thành hệ thống lý luận cụ thể và vận dụng vào bài

giảng cụ thể phù hợp với tình hình giảng dạy và đối tượng học sinh thì chưa có Trên cơ sở các bài viết, các chuyên đề nghiên cứu về vấn đề này, người viết luận văn cố gắng tổng hợp từ các bài viết, các công trình nghiên cứu kết hợp với kinh nghiệm từ thực tế giảng dạy của bản thân, đồng nghiệp và từ những vấn đề lý luận trình bày ở trên để hình thành phương pháp phân tích,

giảng dạy truyện cho học sinh trung học phổ thông như sau:

tưởng, nghệ thuật, thành công, hạn chế của tác giả trong tác phẩm, bài học giáo dục Đây là bước định hướng chung cho người thầy trong quá trình giảng dạy bài văn đó

- Đây là hoạt động giúp cho học sinh có hiểu biết sơ khởi về tác phẩm, đoạn trích truyện được học Ở giai đoạn này, giáo viên đặt ra những câu hỏi gợi ý cho học sinh làm việc ở nhà (bước chuẩn bị bài) và ở lớp với những nội dung, yêu cầu cụ thể như sau:

* Tìm hiểu xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm

* Đọc diễn cảm tác phẩm

* Tóm tắt nội dung của tác phẩm để giúp học sinh nắm được cốt truyện

* Giải thích ý nghĩa hình ảnh, chi tiết "lạ", khó hiểu hoặc có tính chất địa phương, có tính

chất lịch sử.v.v.được tác giả sử dụng trong tác phẩm mà học sinh không hiểu Ví dụ: trong

"Mảnh trăng cuối rừng" có các chi tiết: "ngâm", "đánh tọa độ"

Trang 35

* Xác định đề tài, chủ đề tác phẩm

đoạn trích: đây là giai đoạn chủ yếu, quan trọng của bài giảng văn bao gồm các câu hòi tái hiện,

gợi mở, dẫn dắt học sinh phân tích, tìm hiểu cái hay, cái đẹp về nội dung cũng như nghệ thuật

biểu hiện trong tác phẩm ơ giai đoạn này, từ trước đến nay tồn tại nhiều cách dạy khác nhau (thầy thuyết giảng là chủ yếu, hoặc thầy đặt câu hỏi phát vấn, trò trả lời; hoặc kết hợp các phương pháp theo hướng gọi là "đổi mới phương pháp dạy học" v.v.) và có khuynh hướng cho

rằng phân tích tác phẩm tự sự chủ yếu là phân tích nhân vật tự sự Thực tế giảng dạy cho thấy, tùy theo từng bài để giáo viên vận dụng phương pháp nào, khai thác theo hướng nào là hợp lý Giai đoạn này gồm những yêu cầu cụ thể như sau:

thể nhận thấy khái quát sơ bộ về tư tưởng tác phẩm Ví dụ trong các bài giảng về thể loại truyện

ở lớp 12 có một số bài cần giải thích ý nghĩa nhan đề tác phẩm như: "Vi hành", "Đôi mắt", "Vợ

nhặt", "Mùa lạc", "Rừng xà nu", "Mảnh trăng cuối rừng"

hay nhiều kiểu kết cấu khác nhau, học sinh phải xác định được các kiểu kết cấu đó để thấy được ý đồ của tác giả trong việc thể hiện chủ đề, tư tưởng, cách tổ chức cốt truyện, tổ chức hệ

thống tính cách, điểm nhìn trần thuật của tác giả, tạo ra tính toàn vẹn của tác phẩm; bộc lộ nhận

thức, tài năng, phong cách của tác giả Ví dụ: tìm hiểu tác phẩm "Chí Phèo", học sinh phải thấy được Nam Cao đã vận dụng các kiểu kết cấu khác nhau:

+ Kết cấu khép kín với hình ảnh chiếc lò gạch cũ bỏ hoang xuất hiện ở đầu và cuối tác

phẩm gợi lên cho người đọc một ấn tượng về vòng đời luẩn quẩn không lối thoát của số phận Chí Phèo - nhân vật chính, điển hình cho nỗi bất hạnh, khổ đau và quyết liệt của người nông dân dưới chế độ thực dân phong kiến

+ Kiểu kết cấu thứ hai: mạch truyện bắt đầu từ đoạn giữa của cuộc đời Chí Phèo Với kiểu

kết cấu này, Nam Cao dựng lại cuộc đời và số phận Chí Phèo từ thời điểm quan trọng nhất: Chí Phèo bắt đầu manh nha ý thức làm người Thời điểm này gắn với những biến cố, những bước ngoặt lớn lao quyết định số phận của Chí Phèo Kiểu kết cấu này tô đậm được hình tượng trung tâm và những chặng đường tiêu biểu của Chí Phèo

Trang 36

+ Kiểu kết cấu thứ ba: khi dựng truyện, Nam Cao dựa vào kiểu kết cấu lắp ghép từng phiến đoạn với nhau; mỗi phiến đoạn có tính độc lập tương đối nhưng vẫn tuân theo mối liên

hệ nhân quả bên trong cốt truyện làm cho chỉnh thể nghệ thuật của tác phẩm không hề bị phá

vỡ Kiểu kết cấu này làm cho sự hồi hộp chờ đợi tăng lên nhiều hơn

+ Kiểu kết cấu theo sự diễn biến tâm lý nhân vật của tác phẩm Đây là kiểu kết cấu chính, kéo theo những kiểu kết cấu khác trong tác phẩm Sự kiện Chí Phèo đến gặp Bá Kiến lần thứ

nhất sau khi ra tù đã gợi cho Bá Kiến về những tên cố cùng bất trị đồng dạng với Chí Phèo để

Bá Kiến ngẫm về những bài học trị người Sự kiện Chí Phèo gặp Thị Nở, được săn sóc tận tình

đã gợi cho Chí ý thức về đời sống nhiều hơn là về mối tình với Thị Nở Sự kiện Chí Phèo giết

Bá Kiến rồi tự sát ở cuối tác phẩm đưa đến nhiều cách nhìn, cách nghĩ, cách đánh giá và sự

thỏa mãn khác nhau của dân làng Vũ Đại

- Phân tích truyện "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành cần chú ý hai loại kết cấu được

sử dụng: kết cấu vòng tròn của tác phẩm: mở đầu và kết thúc tác phẩm đều là hình ảnh rừng xà

đọc ý nghĩa điển hỉnh của rừng xà nu; kết cấu theo lối chuyện lồng trong chuyện: cuộc đời của Tnú - nhân vật chính - lồng trong câu chuyện về sự nổi dậy của dân làng Xô Man, được hiện ra qua lời kể của cụ Mốt trong không khí trang nghiêm, xúc động

Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy, tùy theo từng tác phẩm và thực tế để giáo viên có

thể khai thác kết cấu của tác phẩm ở mức độ nông hay sâu song không thể bỏ qua bước này

* Phát hi ện điểm nhấn, điểm sáng của bài văn: một câu chuyện bao giờ cũng được xây

dựng trên một cái tứ mà ta có thể gọi là tứ truyện (giống như cách gọi tứ thơ của một bài thơ)

Có thể nói tứ truyện dường như là một đầu mối then chốt chi phối toàn bộ tác phẩm, góp phần

tổ chức tác phẩm, quy định sự có mặt của nhân vật này, chi tiết kia v.v Lấy ví dụ khi phân tích truyện ngắn "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam, giáo viên hướng học sinh tìm được chi tiết đáng chú

ý là hình ảnh ánh sáng trong truyện biểu hiện qua quầng sáng ở ngọn đèn của chị Tý; đèn từng

hột sáng thưa thớt của chị em Liên; chấm lửa nhỏ, vàng lơ lửng ở bếp lửa của bác Siêu; ánh sáng của bầu trời sao xa xôi; ánh sáng từ toa tàu sáng trưng vụt qua Từ việc liệt kê các hình ảnh trên, giáo viên yêu cầu học sinh nhận xét, so sánh với hình ảnh đối lập: không gian bóng

tối bao trùm trong tác phẩm để thấy được hai vùng không gian nghệ thuật: không gian hiện

Trang 37

thực - cái hiện thực của đời thường tối tăm, nghèo nàn và không gian tâm tưởng, không gian khát vọng hướng tới những ước mơ của những con người nghèo khổ nơi phố huyện tối tăm kia,

từ đó thấy được cái nhìn đầy nhân ái của Thạch Lam

Tứ truyện có khi ăn sâu vào một chi tiết, một tình huống nghệ thuật nào đó; có khi bàng

bạc khắp tác phẩm Phát hiện ra tứ truyện sẽ giúp học sinh hiểu sâu, nắm chắc tác phẩm, cảm

nhận và đánh giá đầy đủ, chính xác về nó; thấy được dụng ý nghệ thuật của nhà văn

* Phân tích tình hu ống truyện: một ương những đóng góp tích cực cho sự thành công của

tác phẩm là việc xây dựng tình huống truyện Tình huống càng độc đáo, lạ thì tác dụng thuyết

phục càng cao, càng hấp dẫn người đọc Vì vậy, khi phân tích ứuyện - nhất là ở những tác

phẩm hay, đặc sắc mà người thầy bỏ qua việc phân tích tình huống truyện coi như đã bỏ mất

một phần giá trị của tác phẩm Ví dụ: khi phân tích "Vợ nhặt" của Kim Lân cần phân tích tình

huống Tràng lấy được vợ (đúng hơn là nhặt được vợ) và dám lấy vợ, dẫn vợ về nhà trong lúc

cái đói đang đe dọa tính mạng, miếng ăn trở thành vấn đề sinh mệnh con người Đây là tình

huống độc đáo, lạ, éo le gợi lên hoàn cảnh, số phận bi thảm nhưng cũng thâm đẫm tình người

của nhân vật; lôi cuốn sự chú ý của người đọc Tình huống này đã mở đầu cho sự phát triển của truyện và tác động đến diễn biến tâm trạng, hành động của những người có liên quan

* Phân tích chi ti ết đặc sắc của tác phẩm

Như trên đã trình bày, sức mạnh của truyện là sức mạnh của các chi tiết nghệ thuật, truyện càng hay thì càng có nhiều chi tiết hay Chi tiết nghệ thuật thể hiện thể hiện ở nhiều phương

diện: ở kết cấu, ở việc miêu tả nhân vật, ở ngôn ngữ của truyện Khi tìm hiểu, phân tích tác

phẩm giáo viên hướng học sinh phân tích cho được những chi tiết đắt giá để thấy rõ cái hay của tác phẩm Lấy ví dụ khi phân tích tác phẩm "Chí Phèo" của Nam Cao, phải chú ý đến chi tiết bát cháo hành của Thị Nở dành cho Chí Phèo bởi chi tiết này chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu xa làm nên sức sống của cả hai nhân vật, góp phần quyết định vào chiều hướng phát ừiển của mỗi nhân vật Trong truyện ngắn "Mảnh trăng cuối rừng" của Nguyễn Minh Châu, chi tiết Nguyệt

bị thương, máu đỏ ướt cả cánh tay áo xanh, khuôn mặt hơi tái nhưng vẫn tươi tỉnh, "từ đầu đến

chân cô ta ướt như một con công vừa tắm" là một chi tiết đáng chú ý, giàu ý nghĩa, gợi lên vẻ

đẹp đầy chất lãng mạn ở nhân vật này: Nguyệt vừa bước ra khỏi vùng bom đạn ác liệt của kẻ thù với cái chết treo lơ lửng trên đầu nhưng cô không hề bị vướng bẩn bởi bùn đất của sự hủy

Trang 38

diệt tàn bạo của kẻ thù Cái vẻ đẹp sạch sẽ, mát mẻ của Nguyệt được mô tả ở đầu tác phẩm, qua

chặng đường bom đạn ác liệt không hề bị mất đi mà còn ngời sáng hơn; vẻ đẹp ấy đã đè bẹp tội

ác man rợ của kẻ thù, đã vượt lên gian khổ, đã trải qua thử thách nên càng cao đẹp hơn, để lại trong lòng Lãm một "tình yêu Nguyệt gần như mê muội lẫn cảm phục"; để lại trong lòng người đọc sự thú vị, cảm phục về vẻ đẹp lý tưởng giàu chất lãng mạn của thế hệ trẻ Việt Nam thời

chống Mỹ cứu nước

Tóm lại, một trong những yêu cầu khi phân tích truyện là phải tìm cho được những chi

tiết đặc sắc của tác phẩm bởi chi tiết trong truyện cũng có vị trí và ý nghĩa tựa như nhãn tự,

* Phân tích n ội dung sự kiện, hiện tượng, quá trình hoạt động của nhân vật, tính cách

hoặc quá trình cảm xúc của nhân vật được miêu tả trong tác phẩm Đây là bước quan trọng của

tiết giảng văn bởi nhân vật là hình tượng trung tâm của tác phẩm tự sự Giáo viên đặt câu hỏi hướng học sinh vào việc tìm hiểu sự phân bổ nhân vật chính phụ, số phận nhân vật chính thông qua hành động và xung đột bởi xung đột tạo nên độ căng và tính hấp dẫn cho truyện và cũng chính xung đột tạo nên sự vận động, phát triển số phận và cuộc sống của nhân vật, tạo nên sự phát triển của kết cấu trong tác phẩm văn chương Trong tác phẩm văn, xung đột càng sâu, càng có ý nghĩa thì việc giải quyết nó càng đòi hỏi bản lĩnh, tài năng của nhà văn và càng có

sức thuyết phục với người đọc hơn Lấy ví dụ khi phân tích truyện ngắn "Chữ người tử tù" của Nguyễn Tuân, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh tìm và phân tích mối quan hệ giữa Huấn Cao và viên quản ngục; mối quan hệ giữa tài năng, tính cao ngạo, trọng nghĩa khinh lợi, không

chịu khuất phục trước cường quyền với việc cho chữ và khuyên quản ngục giữ thiện lương

trong sạch của Huấn Cao để thấy được ý đồ nghệ thuật, quan niệm sống mà Nguyễn Tuân gởi

gắm trong tác phẩm

Phân tích truyện ngắn "Rừng xà nu" nên chú ý phân tích nghệ thuật trình bày mâu thuẫn xung đột trong đoạn bọn giặc tra tấn dã man Đít, mẹ con Mai, Tnú và cách đối phó của họ và dân làng với bọn chúng để làm rõ tội ác dã man của kẻ thù và lý giải hành động vùng lên của dân làng Xô Man

Trong quá trình phân tích, giáo viên cần có những câu hỏi gợi ý xoáy vào sự phát triển,

vận động của hình tượng chủ đạo trong tác phẩm; chú ý bước ngoặt của số phận nhân vật và

Trang 39

viễn cảnh của hình tượng nhân vật - nơi thu hút các chi tiết nghệ thuật, nơi tập trung cách nhìn nghệ thuật sinh động, những phát hiện về cuộc sống, con người và sự đánh giá thẩm mỹ của nhà văn về cuộc sống, con người Ví dụ phân tích truyện "Mùa lạc" của Nguyễn Khải nên xoáy sâu vào sự biến đổi tâm trạng của Đào qua các giai đoạn: trước khi lên nông trường, khi mới lên nông trường, khi lao động bên cạnh Huân và cùng tập thể, khi nhận được thư ngỏ lời cầu hôn của Dịu, khi quyết tâm chọn nông trường Điện Biên là quê hương thứ hai và có những dự định tốt đẹp cho tương lai để thấy được thái độ của nhà văn đối với số phận của những con người nhỏ bé, bất hạnh

Trong bước này giáo viên cần giúp học sinh khái quát hóa được những đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm, từ đó làm sáng tỏ thế giới nghệ thuật chủ yếu của tác phẩm để thấy được thành công về nghệ thuật của tác phẩm và những thủ pháp nghệ thuật độc đáo thể hiện tài năng

của tác giả Đây cũng là bước khá quan trọng bởi mục đích của việc làm này là rèn luyện năng

lực khái quát hóa nghệ thật cho học sinh, từng bước giúp các em nâng cao hiểu biết về cái nhìn nghệ thuật riêng của từng tác giả, dần dần làm phong phú kiến thức văn học cho các em Ví dụ sau khi phân tích xong nội dung của truyện ngắn "Mùa lạc", giáo viên cho học sinh tổng hợp

những đặc điểm nổi bật về nghệ thuật của tác phẩm như: những nhận xét và cách miêu tả tâm

lý nhân vật sắc sảo, những đoạn văn giàu chất triết lý, bàn luận về cuộc sống của tác giả; sự

biến đổi linh hoạt của giọng điệu trần thuật Những nét nghệ thuật này biểu hiện cụ thể phong cách nghệ thuật của Nguyễn Khải, góp phần làm nên giá trị cho tác phẩm

những vấn đề đã phân tích, trên cơ sở đó rút ra những nhận xét, đánh giá chung những thành công và hạn chế về nội dung tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm và nhà văn; đồng thời xác định

ý nghĩa, đóng góp của tác phẩm cho xã hội và văn học Ở giai đoạn này giáo viên có thể cho

học sinh đối chiếu, so sánh với các tác phẩm khác của cùng tác giả, cùng thời, cùng chủ đề, cùng đề tài để khắc sâu hơn giá trị của tác phẩm được phân tích

Trên đây là một số việc làm cụ thể của thầy và trò trong giờ phân tích một bài giảng văn thuộc thể loại truyện Tuy nhiên trong thực tế, giáo viên bị lệ thuộc bởi nhiều yếu tố khác nhau trong quá trình giảng dạy - mà trước hết là thời gian của một bài dạy theo phân phối chương

Trang 40

trình của Bộ Giáo dục, vì thế, giáo viên phải định hướng phân tích, chọn lựa trọng tâm của bài cho phù hợp và đảm bảo được mục đích yêu cầu của tiết giảng Song hành với việc cung cấp

kiến thức văn chương cho học sinh, giáo viên cần có một yêu cầu thứ hai là giúp học sinh vận

dụng kiến thức đó để làm bài luận viết, vì thế, sắp xếp, lựa chọn nội dung các yêu cầu nêu trên trong bài giảng như thế nào cho hợp lý là công việc vất vả của mỗi giáo viên

Giáo án là bản kế hoạch dạy học bài văn, là sự chuẩn bị toàn diện, khoa học và kịp thời

của giáo viên nhằm thực hiện một tiết học theo hướng hoạt động song phương giữa thầy và trò

nhằm đảm bảo mối tương tác hữu cơ giữa nhà văn - giáo viên - học sinh diễn ra đúng qui luật Trên cơ sở những vấn đề cần đảm bảo cho một bài giảng thể loại truyện đã nêu ở trên, xin trình bày một mô hình giáo án chung nhất cho tiết giảng truyện như sau:

TÊN BÀI GI ẢNG

A – M ục đích yêu cầu xác định theo bốn yêu cầu về:

+ Giáo dưỡng (kiến thức về nội dung và nghệ thuật sẽ truyền thụ)

+ Giáo dục (tình cảm, tư tưởng, quan điểm sẽ bồi dưỡng)

+ Kỹ năng (các kỹ năng văn học sẽ rèn luyện)

+ Tư duy (các phương pháp tư duy sẽ được lĩnh hội) từ việc tìm hiểu, phân tích tác phẩm (Phần này chỉ cần trình bày ngắn gọn trong vài dòng)

B - Chu ẩn bị

1 - Tài liệu tham khảo: liệt kê những tài liệu sẽ sử dụng cho bài giảng

2 - Dụng cụ dạy học: tranh ảnh, sơ đồ hóa

3 - Chuẩn bị của học sinh: chuẩn bị ở nhà theo yêu cầu của giáo viên

trưng thể loại, hình tượng nghệ thuật và điều kiện giảng dạy để xác định phương hướng phân tích theo lối cắt ngang hay cắt dọc hay kết hợp cả hai và các phương pháp sẽ sử dụng trong bài

giảng

Ngày đăng: 22/05/2019, 22:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm